1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu điều kiện lập địa cho cây trồng keo lai (a mangium x a auriculiformis) tại một số nơi ở vùng đông bắc bộ

70 210 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 70
Dung lượng 1,62 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do đó đề tài thực hiện nhằm: Nghiên cứu mối tương quan giữa sinh trưởng của Keo lai với một số tính chất đất tại một số lâm trường ở vùng Đông Bắc Bộ làm cơ sở cơ sở cho việc phân hạng đ

Trang 1

Tr-ờng đại học lâm nghiệp

Ngô Thế Long

xây dựng các mô hình cấu trúc, sinh tr-ởng

và hình dạng thân cây làm cơ sở đề xuất các ph-ơng pháp xác định trữ l-ợng, sản l-ợng cho lâm phần keo tai t-ợng (Acacia mangium) tại khu vực

hàm yên - tuyên quang

NGUYỄN THỊ HIấN

NGHIấN CỨU ĐIỀU KIỆN LẬP ĐỊA CHO GÂY TRỒNG KEO LAI

(A.mangium x A.auriculiformis) TẠI MỘT SỐ NƠI Ở VÙNG

ĐễNG BẮC BỘ

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP

HÀ NỘI - 2010

Trang 2

NGUYỄN THỊ HIÊN

NGHIÊN CỨU ĐIỀU KIỆN LẬP ĐỊA CHO GÂY TRỒNG KEO LAI

(A.mangium x A.auriculiformis) TẠI MỘT SỐ NƠI Ở VÙNG ĐÔNG

BẮC BỘ

Chuyên ngành: Lâm học

Mã số: 60.62.60

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS TS NGÔ ĐÌNH QUẾ

HÀ NỘI - 2010

Trang 3

MỞ ĐẦU

Trong thực tiễn trồng rừng sản xuất, bên cạnh những thành công thì vẫn

có một số nơi bị thất bại, do đó việc gây trồng ở điều kiện lập địa nào cho phù hợp với đặc tính của loài cây (đất nào cây ấy) để đạt được năng suất và hiệu quả cao là vấn đề cần được quan tâm Những năm gần đây, nhu cầu về gỗ ngày càng tăng trong khi nguồn gỗ từ rừng tự nhiên ngày càng cạn kiệt Vì vậy, việc lựa chọn các loài cây mọc nhanh đã trở thành xu hướng tất yếu ở các vùng trong cả nước nói chung và Đông Bắc Bộ nói riêng

Các loài Keo được đưa vào nước ta từ những năm 1960, là loài cây sinh trưởng và phát triển nhanh, đồng thời lại có khả năng cải tạo đất Với những

ưu điểm đó, cây Keo đã nhanh chóng trở thành cây trồng rừng chủ lực cho ngành lâm nghiệp, đặc biệt là cho trồng rừng sản xuất nguyên liệu giấy, chế biến ván nhân tạo Trong đó Keo lai và Keo tai tượng được coi là hai loài có triển vọng nhất cho trồng rừng đa mục đích: Phòng hộ, cải tạo đất, cung cấp nguyên liệu

Ở nước ta đã có nhiều nghiên cứu về các loài Keo nhưng phần lớn mới chỉ tập trung vào khâu tuyển chọn giống mà ít có những nghiên cứu về mối tương quan giữa tính chất đất với khả năng sinh trưởng của cây đặc biệt là ở cấp độ vi mô Bên cạnh đó công tác quy hoạch trồng rừng lại phần lớn thực hiện ở cấp vĩ mô nên khi áp dụng cụ thể vào một địa phương, một đơn vị sản xuất cụ thể đã có một vài nơi thất bại do không xác định được các yếu tố hạn chế về điều kiện đất đai cụ thể của địa phương Do đó đề tài thực hiện nhằm: Nghiên cứu mối tương quan giữa sinh trưởng của Keo lai với một số tính chất đất tại một số lâm trường ở vùng Đông Bắc Bộ làm cơ sở cơ sở cho việc phân hạng đất trồng rừng cấp vi mô

Trang 4

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Các nghiên cứu về phân hạng, đánh giá đất và thích hợp cây trồng

Phân hạng và đánh giá đất là một trong những chuyên ngành nghiên cứu quan trọng và rất gần gũi với các nhà quy hoạch và người sử dụng đất Trong hoàn cảnh hiện nay, dân số ngày một tăng nhanh, diện tích đất đai bình quân đầu người ngày một giảm kết hợp với tình trạng đang suy thoái dần những vùng đất canh tác thích hợp là những vấn đề mang tính nóng bỏng không chỉ ở nước ta mà trên toàn thế giới Để giải quyết, các nhà tổ chức quốc

tế cùng các nhà khoa học nhiều quốc gia tiến hành điều tra và đánh giá tài nguyên đất không chỉ trên quy mô quốc gia mà còn trên phạm vi toàn cầu làm

cơ sở cho việc xây dựng các chương trình phát triển và tối ưu hóa sử dụng đất đai ở mức độ quốc tế

Trong nông nghiệp các yếu tố dùng để phân hạng thường là loại đất, các tính chất quan trọng liên quan năng suất cây trồng như: Độ pH, hàm lượng chất hữu cơ, các chất dễ tiêu N, P, K, v.v Cách phân hạng thường dựa vào phương pháp cho điểm theo thang 10 điểm hoặc 50, 100 điểm [15]

Trong Lâm nghiệp các yếu tố phân hạng đất thường là loại đất, độ dày tầng đất, thành phần cơ giới, độ pH, thực bì chỉ thị cho độ phì hoặc mức độ thoái hóa đất [15]

Điều quan trọng trong phân hạng đất đai là cần phải có tư liệu về năng suất cây trồng để từ đó tìm hiểu mối quan hệ của chúng với các tính chất đất đai

1.1.1 Trên thế giới

Việc phân hạng đất và đánh giá đất đai đã được thực hiện từ khá lâu ở nhiều nước trên thế giới Từ những năm 1950, việc đánh giá khả năng sử dụng đất được xem như là bước kế tiếp của công tác nghiên cứu đặc điểm đất Tùy vào trình độ phát triển của từng quốc gia riêng lẻ, phương pháp đánh giá

Trang 5

đất đai đã được nhiều nhà khoa học và các tổ chức Quốc tế quan tâm Ngày nay công việc này càng cần thiết hơn và đã trở thành một lĩnh vực nghiên cứu quan trọng của các nhà quy hoạch, hoạch định chính sách và người sử dụng [4] Tùy theo mục đích cụ thể mà mỗi quốc gia sẽ đề gia nội dung, phương pháp đánh giá đất của mình [23]

Ở Mỹ, đánh giá đất đai được thực hiện với các phương pháp là:

- Phương pháp tổng hợp: Lấy năng suất cây trồng nhiều năm làm tiêu

chuẩn và phân hạng cho từng cây trồng cụ thể, trong đó lấy cây lúa mì là đối tượng chính

- Phương pháp yếu tố: Bằng cách thống kê các yếu tố tự nhiên, kinh tế

để so sánh, trong đó lấy lợi nhuận tối đa là 100 điểm (hoặc 100%) để làm mốc

vi thủy lợi

+ Tiềm năng đất đai (Land Capability) do Clingebiel và Naontgomery

thuộc Vụ bảo tồn đất đai - Bộ Nông nghiệp cũng đưa ra (năm 1964) trong công tác đánh giá đất đai ở Hoa Kỳ Trong đánh giá này các đơn vị bản đồ đất đai (Land Mapping Units) được nhóm lại dựa vào khả năng sản xuất một loại cây thực vật tự nhiên nào đó, chỉ tiêu chung là các hạn chế của lớp phủ thổ

Trang 6

nhưỡng đối với mục tiêu canh tác được đề nghị Hệ thống đánh giá đất đai này mang tính sơ lược, gắn đất với hiện trạng sử dụng đất hay còn gọi là

“Loại hình sử dụng đất”

Ở Liên Xô và các nước Đông Âu dựa vào thuyết phát sinh đất của

V.V Docuchaev, trong đó chỉ ra việc hình thành đất là một quá trình phức tạp

do tác động của 5 yếu tố tự nhiên là: Đá mẹ, địa hình, khí hậu, thời gian và sinh vật [4].

- Những thập niên 1960, việc phân hạng và đánh giá đất đai được thực hiện bao gồm ba bước là: 1) so sánh các hệ thổ nhưỡng theo tính chất tự nhiên (đánh giá lớp phủ thổ nhưỡng); 2) đánh giá tiềm năng sản xuất của đất đai và 3) đánh giá kinh tế đất (chủ yếu đánh giá tiềm năng sản xuất hiện tại của đất)

- Tuy nhiên phương pháp này mới chỉ thuần túy quan tâm đến khía cạnh tự nhiên của đối tượng đất đai mà chưa xem xét đầy đủ đến khía cạnh kinh tế - xã hội của việc sử dụng đất đai

Ở Ấn Độ và các nước vùng nhiệt đới ẩm Châu Phi thường áp dụng

phương pháp tham biến để xác định mối quan hệ giữa các yếu tố đất đai và cây trồng, các mối quan hệ này được biểu thị dưới dạng phương trình toán học Kết quả phân hạng được thể hiện dưới dạng % hoặc điểm [11]

Ở nhiều nước Châu Âu việc phân hạng và đánh giá đất đai được thực

hiện theo 2 hướng là:

- Phân hạng định tính: Dựa trên các kết quả nghiên cứu các yếu tố tự

nhiên để xác định tiềm năng sản xuất của đất đai

- Phân hạng định lượng: Dựa vào kết quả nghiên cứu các yếu tố kinh

tế để xác định sức sản xuất thực tế của đất đai[4]

Những năm 1970 nhiều quốc gia ở Châu Âu đã cố gắng phát triển các

hệ thống đánh giá đất đai của họ, kết quả là các nhà nghiên cứu nhận thấy

Trang 7

rằng cần phải có một nỗ lực quốc tế để đạt được sự thống nhất và tiêu chuẩn hóa vào việc đánh giá đất đai [17]

Phương pháp đánh giá đất đai của FAO: Được hệ thống do 2 Ủy ban

nghiên cứu ở Hà Lan và FAO - Roma thực hiện vào năm 1972, được công bố đầu tiên vào năm 1976 và được chỉnh lý vào năm 1983 [11], trong đó:

Đề xuất định nghĩa về đánh giá đất đai là: Đánh giá đất đai là quá trình

so sánh, đối chiếu những tính chất của vạt đất cần đánh giá với những tính chất đất đai mà loại hình sử dụng đất yêu cầu phải có Đánh giá đất đai là quá trình thu thập thông tin, xem xét một cách toàn diện các yếu tố đất đai với cây trồng để phân định ra mức độ thích hợp cao hay thấp

Đã đưa ra một số nội dung hoặc khái niệm được xác định cụ thể như sau:

- Đánh giá tiềm năng sử dụng đất đai (land capability): Đó là việc

phân chia hay phân hạng đất đai thành các nhóm dựa trên các yếu tố thuận lợi hay hạn chế trong sử dụng như độ dốc, độ dày tầng đất, đá lẫn, tình trạng xói mòn, úng ngập, khô hạn, mặn hóa… Trên cơ sở đó có thể lựa chọn những kiểu sử dụng đất phù hợp

Việc đánh giá tiềm năng đất sử dụng đất thường áp dụng trên qui mô lớn, trong phạm vi một nước, một tỉnh hay một huyện

Thí dụ: Ở Mỹ đã sử dụng các yếu tố hạn chế là những yếu tố hầu như không thay đổi được là: độ dốc, độ dày tầng đất và khí hậu để phân chia đất đai toàn quốc thành 8 nhóm với các yếu tố hạn chế tăng dần từ nhóm I tới nhóm VIII Trong đó nhóm I là nhóm thuận lợi nhất trong sử dụng, có ít yếu

tố hạn chế nhất, nhóm VIII là nhóm có nhiều yếu tố hạn chế nhất trong sử dụng Yếu tố hạn chế được thể hiện chủ yếu qua chữ viết tắt như xói mòn là e,

dư thừa nước là w, v.v, [15]

- Đánh giá mức độ thích hợp đất đai (land suitability): Là quá trình

xác định mức độ thích hợp cao hay thấp của các kiểu sử dụng đất cho một

Trang 8

đơn vị đất đai và tổng hợp cho toàn khu vực dựa trên so sánh yêu cầu kiểu sử dụng đất với đặc điểm các đơn vị đất đai [15]

Hệ thống đánh giá được thể hiện theo 4 cấp:

- Phân thành 2 cấp lớn: Kiểu sử dụng đất hay loài cây trồng thích hợp (Viết tắt là S- Suitable) hay không thích hợp (Viết tắt là N- Not suitable) với điều kiện đất đai

- Mức độ thích hợp (S) phân chia thành 3 mức:

+ Thích hợp cao (S1): Đất hầu như không có hạn chế đáng kể khi thực

hiện canh tác

+ Thích hợp trung bình (S2): Đất có hạn chế nhất định làm giảm năng

suất cây trồng hoặc nâng cao chi phí canh tác nhưng vẫn thích hợp cho cây trồng hoặc kiểu sử dụng đất

+ Thích hợp kém (S3): Đất có hạn chế đáng kể làm giảm mạnh năng

suất và tăng cao chi phí canh tác rõ rệt, hiệu quả kinh tế bị suy giảm đáng kể

Nhìn chung quá trình đánh giá đất đai của FAO được tiến hành thông qua một số bước sau:

- Xác định mục tiêu sử dụng

- Thu thập thông tin liên quan

- Đánh giá mức độ thích hợp của các loại hình sử dụng đất

- Xem xét môi trường tác động của tự nhiên, kinh tế xã hội

- Xác định các loại hình sử dụng đất thích hợp

Ngoài những tài liệu cơ bản của FAO về đánh giá đất đai, FAO cũng đưa ra những hướng dẫn khác nhau về đánh giá đất đai cho các đối tượng riêng biệt như:

- Đánh giá đất đai cho nền nông nghiệp nhờ mưa (Guieline for land Evaluation for Rainfed Agriculture - FAO, 1983) [24]

Trang 9

- Đánh giá đất đai cho trồng trọt cỏ quảng canh (Land Evaluation for extensive grazing - FAO, 1990) [25]

- Đánh giá đất đai và phân tích hệ thống canh tác cho quy hoạch sử dụng đất (Land Evaluation and farming system analysis for land planning - FAO, 1992) [26]

Trên thế giới cũng có nhiều công trình nghiên cứu về mối quan hệ giữa đặc điểm đất đai với sinh trưởng của cây trồng Với các kết quả nghiên cứu đã đạt được, nhiều nhà khoa học đã cho rằng: Đối với các vùng ôn đới, phản ứng của đất, hàm lượng CaCO3 và các chât BaZơ khác, thành phần cấp hạt và điện thế ôxy hóa khử (Eh) của đất là những yếu tố quan trọng nhất Quan điểm này đã xem xét các yếu tố hóa học đất quan trọng hơn yếu tố vật lý Đối với vùng nhiệt đới thì các tác giả cho rằng: Các yếu tố có khả năng giữ nước, độ sâu của đất và

độ thoáng khí là những yếu tố giữ vai trò chủ đạo Điều này có nghĩa là: Yếu tố vật lý đất quan trọng hơn yếu tố hóa học đất Các kết quả này dựa trên các nghiên cứu về đất đồi núi và đất nông nghiệp [11]

Thời gian gần đây, Trung tâm lâm nghiệp Quốc tế (CIFOR) đã tiến hành nghiên cứu về quản lý lập địa và sản lượng rừng cho rừng trồng ở các nước nhiệt đới như: Ấn Độ, Trung Quốc, Indonesia, Nam Phi, Conggo, Brazil Kết quả nghiên cứu cho thấy: Các biện pháp xử lý lập địa khác nhau và các loài cây trồng khác nhau đã có ảnh hưởng khác nhau đến độ phì đất, cân bằng nước, sự phân hủy thảm mục và chu trình dinh dưỡng khoáng [22], [23]

Phân hạng đất, đánh giá đất trong những năm gần đây đã có những công trình nghiên cứu cụ thể song mới chỉ nghiên cứu cho từng đối tượng cây trồng cụ thể Ở vùng ôn đới các nghiên cứu đã đề cập về ảnh hưởng của rừng

tự nhiên, rừng trồng đến độ phì đất Nghiên cứu về rừng mưa nhiệt đới ở Australia, Week (1970) đã khẳng định sinh trưởng của thực vật phụ thuộc vào các yếu tố là: Đá mẹ, độ ẩm của đất, thành phần cơ giới, CaCO3, hàm lượng mùn và đạm

Trang 10

- Trần An Phong (1994) [10] đã đưa ra kết quả đánh giá hiện trạng sử dụng đất ở nước ta theo quan điểm sinh thái và phát triển bền vững Phương pháp đánh giá này đặt trong mối quan hệ biện chứng giữa các yếu tố: Tính chất của đất, hiện trạng sử dụng đất, tính thích nghi đất đai, vùng sinh thái

- Đánh giá tiềm năng sử dụng đất Lâm nghiệp của từng vùng sinh thái

và trong toàn quốc của Đỗ Đình Sâm và cộng sự (2000) là phương pháp ứng dụng phần mềm GIS trên máy tính để xây dựng các bản đồ đánh giá tiềm năng sử dụng đất lâm nghiệp Phương pháp này cho phép lợi dụng được các thông tin sẵn có và có ý nghĩa là mang tính chiến lược và dự báo [14]

Cho đến nay, các công trình nghiên cứu về đất đai ở Việt Nam có khá nhiều tập trung chủ yếu dựa vào các nội dung chính sau:

- Nghiên cứu cơ bản về hình thành và tính chất lý, hóa học của đất

- Điều tra, phân loại, xây dựng bản đồ đất với các tỷ lệ khác nhau

- Đánh giá tiềm năng sản xuất đất

- Biện pháp cải tạo một số loại đất có vấn đề

- Bảo vệ và chống suy thoái tài nguyên đất

Năm 1960, F.R Moormann đã xuất bản Bản đồ thổ nhưỡng ở miền Nam Việt Nam với tỷ lệ 1/1.000.000 và kèm theo bảng phân loại đất dùng

Trang 11

cho bản đồ này Năm 1969 V.M Fridland cùng một số nhà khoa học Việt Nam cũng đã xuất bản Bản đồ thổ nhưỡng miền Bắc Việt Nam tỷ lệ 1/1.000.000 và bản chú giải phân loại Đặc điểm của 2 bảng phân loại này là theo 2 phương pháp khác nhau Bảng phân loại đất dùng cho sơ đồ thổ nhưỡng miền Bắc là theo hướng phân loại phát sinh của Liên Xô Bảng phân loại đất của Moormann theo hướng phân loại của Mỹ trước kia, một phần theo hướng phân loại phát sinh và một phần theo tính chất thực dụng [4].

- Tôn Thất Chiểu và Hoàng Ngọc Toàn (1980-1985) đã tiến hành nghiên cứu phân hạng đất đai tổng quan trên toàn quốc, với nhiều đối tượng cây trồng, nhiều vùng chuyên canh khác nhau trên cơ sở phân hạng định lượng của FAO Đối tượng chính của nghiên cứu này là đất nông nghiệp và đất đồi núi [4]

- Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đã ban hành tiêu chuẩn ngành 10 TCN 343-98 về Quy trình đánh giá đất đai phục vụ nông nghiệp, trên cơ sở vận dụng nội dung, phương pháp đánh giá đất của FAO theo điều kiện và tiêu chuẩn cụ thể của Việt Nam [4]

- Kết quả điều tra tổng hợp của Viện quy hoạch thiết kế Nông nghiệp năm 1995 đã xác định 9 vùng sinh thái nông nghiệp trên toàn quốc Phương pháp tổng hợp là căn cứ vào 7 yếu tố với các chỉ tiêu phân cấp là: Loại đất, độ dày tầng đất, độ dốc, thủy văn mặt nước, tưới tiêu, lượng mưa và nhiệt độ Mặc dù đã có sự cố gắng gộp nhóm và đơn giản các yếu tố, chỉ tiêu tham gia xây dựng đơn vị đất đai nhưng kết quả tổ hợp vẫn cho ra số lượng đơn vị đất đai toàn quốc khá lớn Trên bản đồ tỷ lệ 1/1.000.000 toàn quốc có tới 373 đơn

Trang 12

tại để đánh giá khái quát tiềm năng đất đai của vùng và đã phân chia đất theo

4 hạng riêng cho từng cây trồng [4]

- Trong quy trình điều tra xây dựng bản đồ lập địa phục vụ công tác trồng rừng cho các dự án như: KFW1, KFW3, ADB, Lâm nghiệp xã hội Sông Đà… của tác giả Ngô Đình Quế, đã dựa vào các yếu tố là: Loại đất, độ dày tầng đất, độ dốc và thực bì để xác định dạng lập địa

Các nghiên cứu phân hạng đất lâm nghiệp thực hiện chủ yếu đối với một số cây trồng quan trọng và có ý nghĩa đối với thực tiễn sản xuất Đó là các rừng trồng Bồ đề cung cấp nguyên liệu giấy được gây trồng mạnh ở vùng Trung tâm vào những năm 1960-1970, rừng trồng Thông nhựa gây trồng phổ biến trên đất trống đồi núi trọc trong toàn quốc, rừng trồng Thông ba lá và một số rừng cây đặc sản như: Quế, Hồi…[15]

Tác giả Hoàng Xuân Tý (1997) [21], tiến hành nghiên cứu mối quan hệ giữa sinh trưởng của rừng trồng Bồ đề (Styrax tonkinensis) tự nhiên, rừng trồng với các yếu tố lập địa và điều kiện gây trồng Tác giả đã đề xuất 3 tiêu chuẩn quan trọng để xác định trồng rừng Bồ đề là: Loại đất, độ dày tầng đất

và độ thoái hóa đất, thực bì chỉ thị Đồng thời tác giả cũng đưa ra bảng phân hạng đất trồng rừng Bồ đề với 4 mục tiêu là:

- Phản ánh được độ màu mỡ hiện tại của đất;

- Phản ánh được cơ cấu cây trồng và sản lượng;

- Phản ánh được biện pháp kỹ thuật và giá thành;

- Đơn giản, dễ áp dụng trong điều kiện rừng núi của lâm nghiệp Năm 1990 trên cơ sở nghiên cứu đặc điểm đất rừng Thông nhựa, tác giả Ngô Đình Quế đã thấy rằng yếu tố quyết định đến việc trồng

3,5-5,5), độ xốp (> 40%), độ sâu tầng kết cứng (5-10cm) và yếu tố thực

bì chỉ thị tốt nhất là tế guột dày [12]

Trang 13

Kết quả nghiên cứu của Hà Quang Khải (1999) [9], cho thấy sự thay đổi tính chất của đất gần và xa gốc của rừng trồng Thông mã vĩ và Keo tai tượng thể hiện tương đối rõ, nhất là các tính chất về lý tính, mối tương quan giữa sinh trưởng và từng tính chất đất là không rõ ràng Tuy nhiên mối tương quan lại tương đối chặt giữa sinh trưởng với tổng hợp một số tính chất đất

1.2 Các nghiên cứu về Keo lai

1.2.1 Đặc điểm hình thái

Keo lai là tên gọi tắt của giống lai tự nhiên giữa Keo tai tượng

(A.mangium) và Keo lá tràm (A.auriculiformis) Cây gỗ nhỡ, cao 25-30m,

đường kính 30-40 cm, thân thẳng, cành nhánh nhỏ, tỉa cành khá, tán dày và rậm Các đặc tính khác có tính trung gian giữa hai loài bố mẹ

Từ khi hạt nảy mầm tới hơn một tháng hình thái lá biến đổi theo 3 giai đoạn, lá mầm, lá thật và lá giả Lá giả mọc cách tồn tại mãi, Keo lai có lá rộng hơn Keo lá tràm nhưng nhỏ hơn lá Keo tai tượng

Hoa tự bông, mọc từng đôi ở nách lá Mùa hoa tháng 3 -4, quả chín tháng 7 -8 Quả Keo lai có đầu dẹt, khi non thẳng khi già cuộn hình xoắn ốc,

vỏ quả cứng, khi chín màu xám và nứt Mỗi quả có 5- 7 hạt màu nâu đen, bóng Rễ Keo lai có nhiều nốt sần có tác dụng cải tạo đất nhờ khả năng cố định đạm

1.2.2 Phân bố

Trên thế giới Keo lai được Messrs Herburn và Shim phát hiện lần đầu tiên vào năm 1972 trong số những cây Keo tai tượng được trồng ven đường ở Sook Telupid thuộc bang Sabah của Malaysia Sau này Tham (1976) cũng coi

đó là giống lai Đến tháng 7 năm 1978, sau khi xem xét các mẫu tiêu bản thực vật ở Queensland (Australia) được gửi từ tháng 1 năm 1977 Pedgley đã xác nhận đó là giống lai tự nhiên giữa Keo tai tượng và Keo lá tràm Keo lai cũng

Trang 14

được tìm thấy ở khu trồng Keo tai tượng tại Quảng Châu -Trung Quốc, dẫn theo Lê Đình Khả (1999) [7]

Ở Việt Nam, theo Lê Đình Khả (1999), Keo lai được phát hiện vào năm

1982 ở Ba Vì, với nguồn gốc cây mẹ là Keo tai tượng có xuất xứ Daintree (thuộc bang Queensland của Australia) và cây bố là Keo lá tràm xuất xứ Darwin (thuộc bang Northern Territory của Australia) Năm 1984 Keo lai cũng được tìm thấy ở vùng Đông Nam Bộ, với cây mẹ là Keo tai tượng xuất

xứ Mossman (bang Queensland của Australia) và cây bố Keo lá tràm xuất xứ Oenpelli (bang Northern Territory của Australia) [7] Như vậy, các giống Keo lai ở Việt Nam mặc dù lấy từ miền Bắc hay miền Nam về cơ bản đều có cây

bố, mẹ thuộc các vùng sinh thái tương đối giống nhau

Vùng trồng Keo lai thích hợp ở Việt Nam là các tỉnh từ Bắc Trung Bộ đến Nam Bộ và Tây Nguyên, đặc biệt là các tỉnh Nam Bộ Keo lai cũng sinh trưởng được ở vùng thấp các tỉnh Bắc Bộ

sự biến thiên về nhiệt độ tối cao và nhiệt độ tối thấp trong năm tương đối lớn

Vì thế nó có khả năng sinh trưởng, phát triển ở nhiều vùng khác nhau với nhiệt độ trung bình năm từ 21 – 270C, nhiệt độ tối cao tuyệt đối 42,10C, tối thấp tuyệt đối < 100C

Keo lai cũng có thể sinh trưởng ở những nơi có sương giá trong mùa đông lạnh, trong điều kiện nhiệt độ không khí thấp nó vẫn có thể sống được nhưng sinh trưởng kém hơn rõ rệt

Trang 15

- Lượng mưa

Cũng như Keo tai tượng, Keo lai sinh trưởng tốt ở vùng ẩm Tuy Keo lai có khả năng chịu hạn cao hơn nhưng nhu cầu về nước cũng ở mức trung bình đến khá, do đó những nơi có mùa khô hạn kéo dài thường không thích hợp vì cây sinh trưởng, phát triển chậm

Keo lai sinh trưởng rất tốt ở những nơi có lượng mưa hàng năm 1.400 – 2.400mm, lượng bốc hơi 540 – 1.200mm

Các nghiên cứu cũng cho thấy sinh trưởng của cây Keo lai đời F1 là tốt nhất, cây tương đối đồng nhất với nhiều đặc trưng ưu việt Đến đời F2 Keo lai

có biểu hiện thoái hóa và phân ly, cây sinh trưởng không đồng đều, có khi còn kém hơn cả sinh trưởng của cây bố mẹ Như vậy, để phát triển giống Keo lai vào sản xuất phải áp dụng phương pháp nhân giống bằng hom hoặc nuôi cấy

mô phân sinh

Nguồn giống Keo lai: Chỉ được sử dụng cây hom đời F1 của các dòng tốt nhất đã được công nhận để trồng rừng như: BV5, BV10, BV16, BV32,, TB05, TB07, TB08, TB09….[3]

Trang 16

1.2.5 Lập địa

Keo lai có thể mọc trên nhiều loại đất khác nhau, đất nghèo chất khoáng, đất bị xói mòn, đất đồi

Lê Đình Khả, Ngô Đình Quế, Nguyễn Đình Hải (2000) nghiên cứu về

“nốt sần và khả năng cải tạo đất của Keo lai và các loài keo bố mẹ” cho thấy ảnh hưởng của Keo lai đến độ phì đất là rất rõ so với Keo lá tràm và Keo tai tượng Đất dưới rừng trồng Keo lai 5 tuổi đã có những biến đổi rõ nét về lý tính, hóa tính và vi sinh vật đất so với đất dưới rừng Keo lá tràm, rừng Keo tai tượng và đặc biệt là đất trống [6]

Năm 2001, tác giả Vũ Tấn Phương khi đi nghiên cứu mối quan hệ giữa sinh trưởng của Keo lai (Acacia hybrid) với một số tính chất đất ở Bà Vì, Hà Tây đã thấy rằng sinh trưởng của Keo lai có quan hệ với từng tính chất đất và tổng hợp một số tính chất đất [11]

Tác giả Ngô Đình Quế (2001) cũng tiến hành thực hiện đề tài nghiên cứu theo dõi, đánh giá diễn biến độ phì của đất dưới các loại rừng trồng thử nghiệm Keo và Bạch đàn ở Đá Chông và Cẩm Quỳ, Ba Vì, Hà Tây

Keo lai sinh trưởng tốt trên đất có thành phần cơ giới từ thịt nhẹ đến sét nhẹ, tầng đất dày trên 50 -60cm, độ chưa pHKCl từ 3,5 -5,0 Mùn từ trung bình đền giàu, trên 2% ở tầng mặt [3] Keo lai sinh trưởng phát triển nhanh hơn nhiều so với hai loài keo bố mẹ

Trong luận án tiến sĩ Nông nghiệp của Đoàn Hoài Nam (2006), đã nghiên cứu một số cơ sở khoa học về khí hậu, đất đai để trồng rừng Keo lai và

đề xuất các biện pháp kỹ thuật trồng rừng thâm canh cung cấp gỗ nguyên liệu

Triệu Văn Hùng và Dương Tiến Đức (2004 – 2006), đã nghiên cứu một

số biện pháp kỹ thuật trồng rừng nguyên liệu trong đó có Keo lai ở Tây Nguyên cho thấy: Với điều kiện lập địa là đất cát pha, đất chua thì dòng Keo

Trang 17

lai BV10 có khả năng sinh trưởng, phát triển tốt Tại Đắc tơve trên đất xám bạc màu dòng Keo lai BV32 lại có triển vọng hơn Tại Đắcblao – Đắk Nông, trên đất bazan thoái hóa dòng TB15 là phù hợp

Nghiên cứu sinh trưởng Keo lai trồng trên hai loại đất khác nhau ở vùng Đông Nam Bộ, Phạm Thế Dũng và cộng sự (2004), cho thấy mặc dù được áp dụng các biện pháp kỹ thuật thâm canh như nhau, trên đất nâu đỏ sinh trưởng Keo lai tốt hơn trên đất xám phù sa cổ

Qua những kết quả nghiên cứu trên, cho thấy Keo lai có khả năng sinh trưởng, phát triển khác nhau trên những lập địa khác nhau Vì vậy, muốn trồng Keo lai có năng suất cao thì phải nghiên cứu, lựa chọn đất đai phùhợp

Trang 18

Chương 2 MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Xác định các tiêu chuẩn và xây dựng được bảng phân hạng đất cấp vi

mô cho rừng trồng Keo lai nhằm sử dụng bền vững tài nguyên đất và nâng cao hiệu quả kinh doanh rừng tại vùng Đông Bắc Bộ

2.1.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của đề tài là rừng trồng Keo lai (A.mangium x A.auriculiformis)

- Phạm vi nghiên cứu: Tại một số lâm trường trồng rừng sản xuất tại một số tỉnh ở vùng Đông Bắc Bộ (Bắc Giang, Thái Nguyên, Lạng Sơn và Quảng Ninh)

2.2 Nội dung nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu đề tài thực hiện những nội dung là:

2.2.1 Điều tra thu thập các thông tin ngoài hiện trường

- Thu thập các thông tin cần thiết ở địa phương: Số liệu chung, năng suất rừng…

- Xác định các chỉ tiêu sinh trưởng như chiều cao, đường kính cây và năng suất rừng trồng

- Đào phẫu diện và lấy mẫu đất để phân tích một số các chỉ tiêu lý, hóa tính của đất trong phòng thí nghiệm

Trang 19

2.2.2 Nội nghiệp phân tích mẫu đất và xử lý số liệu

- Phân chia mức độ thích hợp về điều kiện khí hậu, đất đai cho việc trồng rừng Keo lai và xây dựng bản đồ phân cấp mức độ thích hợp cấp vĩ mô cho việc trồng rừng Keo lai tại khu vực nghiên cứu

- Phân tích các mẫu đất với một số chỉ tiêu chủ yếu như: Hữu cơ, đạm tổng số, độ chua đất (pHKCl), các chất dễ tiêu (P2O5, K2O5), dung trọng và thành phần cơ giới…

- Xác định cấp năng suất rừng trồng và mối tương quan giữa năng suất với các yếu tố lập địa

- Đề xuất bảng phân hạng đất cấp vi mô cho trồng rừng Keo lai

2.2.3 Đánh giá hiệu quả kinh tế của trồng rừng Keo lai

- Thu thập các tài liệu từ khi trồng đến khi khai thác tại các lâm trường như: Hồ sơ thiết kế trồng, chăm sóc và bảo vệ rừng; Hồ sơ thiết kế khai thác rừng; Lãi suất của nguồn vốn đầu tư trồng rừng; Giá cả của sản phẩm…

- Xử lý các số liệu thu thập được và tính toán hiệu quả kinh tế theo các chỉ tiêu NPV (giá trị hiện tại thuần); IRR (tỷ suất hoàn vốn nội bộ); BCR(hiệu suất đầu tư)

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Phương pháp luận và cách tiếp cận

- Dùng không gian thay cho thời gian để bố trí và thu thập số liệu thí nghiệm ngoài hiện trường

- Khí hậu và đất đai là hai yếu tố chính để phân hạng đất

- Do địa điểm nghiên cứu rộng nên chỉ tiến hành nghiên cứu trên những điểm đại diện đặc trưng cho loài

- Dùng phương pháp điều tra so sánh năng suất rừng trồng (rừng đã định hình trên 3 tuổi) xác định các yếu tố đất đai có ảnh hưởng rõ rệt đến sinh trưởng của rừng

Trang 20

Sơ đồ các bước tiếp cận của đề tài

Tổng hợp, phân tích xử lý số liệu bằng phần mềm Exel và SPSS

Thiết lập mối tương quan và xác định các yếu tố đất đai có quan

hệ với sinh trưởng cây Keo lai

Đề xuất bảng phân hạng đất cấp vi mô cho trồng rừng Keo lai tại vùng Đông Bắc Bộ

Lựa chọn phương pháp thu thấp số liệu

Trang 21

b Điều tra ngoại nghiệp

- Chọn địa điểm nghiên cứu, lập tuyến điều tra, khảo sát hiện trạng khu vực rừng trồng hiện có Căn cứ vào bản đồ ở các khu vực nghiên cứu, mở các tuyến khảo sát theo nguyên tắc đi qua các kiểu địa hình, loại đất, cây trồng ở các tuổi khác nhau Thông qua hệ thống tuyến khảo sát, tiến hành thu thập các thông tin theo nội dung đã định

- Điều tra các chỉ tiêu sinh trưởng D1.3 và Hvn của cây rừng, mô tả thực

bì dưới rừng trồng

+ Diện tích ô tiêu chuẩn là 20m x 20m = 400m2

+ Đo đường kính ngang ngực (D1.3) bằng thước kẹp kính và đo chiều cao (Hvn) bằng thước Blumeleiss

- Ngoài ra trong các ô tiêu chuẩn điển hình, tiến hành đào phẫu diện đất

và mô tả đặc điểm đất, lấy mẫu phân tích các tính chất lý, hóa học của đất trong phòng thí nghiệm

Vị trí đào phẫu diện: Đào ở vị trí trung tâm của ô tiêu chuẩn

c Phương pháp nội nghiệp

- Xây dựng bản đồ phân cấp mức độ thích hợp cấp vĩ mô trên cơ sở kế thừa kết quả nghiên cứu về tiêu chuẩn phân chia độ thích hợp cây trồng của Trung tâm Nghiên cứu sinh thái và Môi trường rừng

- Phân tích các mẫu đất trong phòng thí nghiệm: Các mẫu đất lấy về được phân tích các chỉ tiêu lý, hóa tính theo các phương pháp đang được áp dụng phổ biến hiện nay:

+ Dung trọng: Sử dụng ống đong có thể tích V = 100cm3 + Thành phần cơ giới: Theo phương pháp 3 cấp của Mỹ

+ Mùn tổng số: Theo Walkley-Black

+ Đạm tổng số: Theo Kjendhall + pHKCl của đất: Dùng pH metter (Đức)

Trang 22

+ P2O5 dễ tiêu: Trắc quang (Bray II)

+ K2O5 dễ tiêu: Theo Maslova (đo trên quang kế ngọn lửa)

- Tổng hợp và xử lý số liệu bằng chương trình Excel và phần mềm SPSS:

+ Ứng dụng xử lý thống kê trên máy tính bằng phần mềm SPSS để loại

bỏ những trị số đặc thù về D1.3 và Hvn có thể sai sót trong quá trình quan sát,

đo đếm Việc loại bỏ những trị số này chủ yếu là căn cứ vào mức độ chênh lệch giữa chúng với trị số trung vị của dãy quan sát Những trị số về đường kính và chiều cao quá lớn hoặc quá bé so với trị số trung vị thì ta có thể loại

bỏ trong quá trình tính toán số liệu

+ Năng suất rừng trồng hàng năm được tính toán theo công thức sau:

NS = M/T với M = G*H*F

Trong đó:

NS - Năng suất rừng trồng (m3/ha/năm)

M - Trữ lượng rừng trồng (m3/ha)

G - Diện tích thiết diện ngang cây ở độ cao 1,3m (m2)

D1.3 - Đường kính ngang ngực của cây (cm)

H - Chiều cao vút ngọn của cây (m)

F - Hệ số hình thon cây (≈ 0,5)

T - Tuổi của rừng (năm)

+ Xây dựng mối tương quan giữa sinh trưởng Keo lai với một số tính chất đất bằng chương trình SPSS

Tổng hợp các số liệu phân tích đất, năng suất trung bình năm của rừng Keo lai Thực hiện phân tích, xử lý số liệu trên phần mềm SPSS để xác định mức độ phụ thuộc giữa sinh trưởng của Keo lai với từng tính chất đất

Sử dụng hệ số xác định R2 để lựa chọn hàm tương quan Hệ số xác định

là khái niệm để đánh giá mức độ phụ thuộc giữa hai đại lượng và nó nằm giữa

Trang 23

0 và 1 Trong trường hợp tuyến tính đơn giữa 2 biến thì hệ số xác định cũng chính là hệ số tương quan (R) bình phương

Phân tích thống kê với 28 mẫu (n = 28) để lựa chọn hàm tương quan, chọn hàm có R2 lớn nhất Các hàm có tương quan là các hàm đều có xác suất của trị số F (trị số kiểm tra sự tồn tại của hệ số xác định R2), nếu Sig F < 0,05 thì tồn tại R2 và ngược lại Một phương trình tương quan chỉ có ý nghĩa khi hệ

số của phương trình tồn tại Hệ số phương trình tồn tại đều có xác xuất của trị

số t (trị số kiểm tra sự tồn tại của các hệ số a, b) Nếu Sig t < 0,05 thì các hệ

số tồn tại và ngược lại Phương trình tương quan được thiết lập sau khi đã kiểm tra sự tồn tại của hệ số b Ở đây việc kiểm tra sự tồn tại của hệ số b là đồng nhất với việc kiểm tra sự tồn tại của hệ số tương quan R (chi tiết xem phần phụ lục)

- Xác định các yếu tố có ảnh hưởng rõ rệt đến sinh trưởng của rừng trồng Keo lai làm cơ sở đề xuất bảng phân hạng đất cấp vi mô

d Phương pháp đánh giá hiệu quả kinh tế của rừng Keo lai

Đánh giá hiệu quả kinh tế của trồng rừng Keo lai dựa trên một số chỉ tiêu sau:

- Chỉ tiêu giá trị hiện tại thuần NPV (Net Pressent Value): Là hiệu số của

giá trị hiện tại dòng doanh thu (cash inflow) trừ đi giá trị hiện tại dòng chi phí (cash outflow) tính theo lãi suất chiết khấu lựa chọn Công thức tính như sau:

r

C B

NPV

Trong đó:

t - thời gian tính dòng tiền

n - tổng thời gian thực hiện dự án

r - tỉ lệ chiết khấu

Ct - dòng chi phí tại thời gian t

Trang 24

Bt - Dòng doanh thu tại thời gian t

- Chỉ tiêu tỷ suất hoàn vốn nội bộ IRR: Là chỉ tiêu cho biết khả năng

thu hồi vốn đầu tư, phản ánh mức độ quay vòng của vốn và xác định thời điểm hoàn trả vốn đầu tư Nó cho phép so sánh và lựa chọn các phương án, quy mô và kết cấu đầu tư khác nhau Phương án nào có IRR lớn hơn thì được lựa chọn Công thức tính chỉ tiêu này là:

t

IRR

C IRR

n - Tổng số năm trong một chu kỳ kinh doanh rừng trồng

Ct - Chi phí cho rừng trồng trong năm thứ t

Bt - Thu nhập từ rừng trồng trong năm thứ t

- Chỉ tiêu đánh giá hiệu suất đầu tư BCR: Là thương số giữa toàn bộ

thu nhập so với toàn bộ chi phí sau khi đã triết khấu đưa về giá trị hiện tại BCR được tính theo công thức là:

n t

t t

r C r

B BCR

1

1

1

Trong đó: Ct - Chi phí cho rừng trồng trong năm thứ t

Bt - Thu nhập từ rừng trồng trong năm thứ t

Trang 25

Chương 3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ-XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU 3.1 Điều kiện tự nhiên

3.1.1 Vị trí địa lý

Vùng Đông Bắc Việt Nam gồm 6 tỉnh: Bắc Giang, Thái Nguyên, Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Quảng Ninh với tổng diện tích tự nhiên là 3.203.652 ha

Vị trí địa lý: 20050’ - 23010’vĩ độ Bắc

104020’ – 108000’ kinh độ Đông Ranh giới hành chính như sau:

- Phía Bắc giáp Trung Quốc

- Phía Tây giáp Hà Giang, Tuyên Quang, Phú Thọ, Vĩnh Phúc

- Phía Nam giáp tỉnh Hải Dương, Hòa Bình, Hải Phòng và Hà Nội

- Phía Đông giáp với biển Đông

3.1.2 Đặc điểm khí hậu

Vùng Đông Bắc nằm trong vành đai khí hậu nhiệt đới gió mùa, có mùa đông lạnh Mùa đông trời rét có xuất hiện nhiều xương muối ở các tỉnh Cao Bằng, Bắc Cạn Do ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc nên từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau nhiệt độ trung bình thấp hơn hẳn so với các tháng trong mùa

hè Nhiệt độ bình quân năm biến động từ 18,70C đến 22,70C

Biên độ nhiệt giữa các mùa rất lớn, trong từng mùa nhiệt độ của các vùng cũng chênh lệch nhiều, điều này làm ảnh hưởng đến thời vụ và cơ cấu cây trồng của từng nơi trong vùng

Lượng mưa không phân bố đều, thường tập trung từ tháng 5 đến tháng

10 trong năm, chiếm 70-80% lượng mưa cả năm và không phân bố đều giữa các tỉnh trong vùng Do lượng mưa phân bố không đều nên đã tạo nên các mùa khô hạn và lũ lụt

Trang 26

Các dạng địa hình chủ yếu trong vùng:

- Dạng địa hình núi đá vôi:

Nằm dọc theo biên giới Việt Trung từ huyện Bảo Lạc qua huyện Thông Nông, Trùng Khánh, Thạch An của tỉnh Cao Bằng nối liền với phía Tây và Tây Nam của tỉnh Lạng Sơn Đây là hệ thống núi đá vôi có dạng khối lớn liên tục, có nhiều đỉnh cao trên 1.000m, xen kẽ là những thung lũng Do có hiện tượng castơ nên ở đây xảy ra tình trạng khan hiếm nước đặc biệt Ở tỉnh Bắc Cạn các dãy núi đá vôi tập trung nhiều ở các huyện Na Rì, Chợ Rã, Chợ Đồn

và Bạch Thông Những dãy núi này thuộc hai cánh cung Ngân Sơn và Bắc Sơn, có độ cao trung bình từ 500 - 800m, cao nhất là ngọn Khan Nan 885m

- Dạng địa hình núi trung bình:

Đây là kiểu địa hình tương đối phổ biến ở các tỉnh vùng Đông Bắc, bao gồm các huyện Sơn Động, Lục Ngạn, Lục Nam (Bắc Giang); Đông Chiều, Móng Cái (Quảng Ninh); Đại Từ (Thái Nguyên) có địa hình bị chia cắt mạnh xen kẽ là những thung lũng

- Dạng địa hình núi thấp và đồi:

Đại bộ phận nằm trong vùng trung du và hạ lưu các hệ sông Hồng, sông Chảy, sông Lô Gâm, và một số tỉnh vùng thấp như Bặc Kạn, Thái

Trang 27

Nguyên, Lạng Sơn, Bắc Giang, và một phần diện tích của tỉnh Quảng Ninh Đồi thường có dạng tròn hoặc bầu dục, sườn lồi hoặc lõm Các đồi thường đứng riêng lẻ dạng bát úp hoặc liên kết lại thành các dãy đồi Giữa đồi và các dãy đồi là các thung lũng rộng Vùng tiếp giáp với các dãy núi cánh cung là các đồi cao hơn, nằm sát nhau hơn nên các thung lũng thường sâu và hẹp hơn

Đây là dạng địa hình chủ yếu, tập trung phần lớn rừng trồng và rừng tự nhiên tái sinh

3.1.4 Đất và đá mẹ

Bên cạnh nhóm nhân tố khí hậu, nhóm nhân tố đá mẹ, đất cũng tham gia quyết định vào quá trình phát sinh quần thể thực vật

Đá mẹ: Các loại đá mẹ thường gặp phổ biến trong vùng là granit, đá

phiến mica, đá cuội kết, phiến thạch sét Ngoài ra còn có những khối đá vôi lớn và hình thành nên một loại đất trên núi đá vôi

Các nhóm đất chính của vùng Đông Bắc:

- Đất nâu vàng trên phù sa cổ: Loại đất này phổ biến ở các vùng có địa hình tương đối bằng phẳng như vùng gò đồi thấp ở các tỉnh Thái Nguyên, Bắc Giang, Lạng Sơn và Quảng Ninh Phần lớn diện tích đất này được sử dụng để trồng rừng công nghiệp

- Đất vàng đỏ trên đá macma acid: Là loại đất có tầng đất khá sâu, độ

ẩm trung bình, thành phần cơ giới thịt trung bình hoặc nặng Loại đất này phát triển chủ yếu trên các loại đá mẹ như phiến thạch sét, sa thạch, micasit và có tiềm năng lớn cho việc phát triển các loài cây trồng như Mỡ, Bồ đề

- Đất đỏ vàng trên đá sét và đá biến chất: Loại đất này tương tự như đất vàng đỏ trên đá macma acid

- Đất nâu vàng trên đá macma bazơ và trung tình: Có thành phần cơ giới từ nhẹ đến trung bình, ít đá lẫn, tầng đất sâu Là một loại đất tốt cho các loại cây trồng nhưng diện tích không tập trung

Trang 28

- Đất mùn vàng trên núi trung bình: Độ cao phân bố trên 600m, có tầng đất dày, độ sâu trung bình, khả năng giữ nước khá Loại đất này phần lớn đã qua các hoạt động nương rẫy và các loài cây phục hồi phát triển mạnh như Hu đay (Trema orientalis), Màng tang (Litsea cubeta), Bồ đề (Styraxtonkinensis), Chẹo (Engelhardtia sp)

- Đất nâu đỏ và đất đen trên nền đá vôi: Đất có độ phì cao, có ở Cao Bằng, Bắc Kạn và Lạng Sơn

Rừng tự nhiên (ha)

Nguồn: Bộ Nông nghiệp và PTNT – 2009

Như vậy, rừng tự nhiên vùng Đông Bắc chiếm 69,2% diện tích đất có rừng, đây cũng là nơi phân bố của các loài cây gỗ quí như: Lim xanh; Lát hoa; Giổi; Đinh; Trai; Nghiến… Tuy nhiên do bị khai thác quá mức nên trữ lượng các loài này đã bị suy giảm trầm trọng Diện tích rừng trồng chiếm 30,8% diện tích đất có rừng, là vùng có tiềm năng phát triển rừng trồng cung cấp gỗ trụ mỏ cho vùng than và gỗ nguyên liệu cho Công ty giấy Bãi Bằng

Trang 29

3.2 Tình hình kinh tế - xã hội

Đông Bắc Bộ Là vùng có nhiều dân tộc sinh sống như: Kinh, Tày, Nùng, Mông, Sán dìu,… Dân số phân bố không đều, chủ yếu tập trung ở vùng đồng bằng và khu vực thị xã, có nơi mật độ lên tới 1.260 người/km2 (thành phố Thái Nguyên), có nơi thì mật độ lại chỉ có 28 người/km2 (vùng núi cao của tỉnh Bắc Cạn), người dân chủ yếu sống bằng nghề nông

Là địa bàn cư trú của các đồng bào dân tộc ít người, tình trạng du canh

du cư vẫn còn ở các vùng cao, nạn chặt phá rừng làm nương rẫy, trồng lúa, ngô phục vụ nền kinh tế tự cung tự cấp làm tổn hại diện tích rừng, tăng cường quá trình xói mòn, thoái hóa đất Cuộc sống của người dân các vùng cao còn rất nhiều khó khăn, thiếu thốn mọi mặt

Sự nghiệp phát triển văn hóa, giáo dục, y tế vùng cao trong những năm gần đây đã nhận được sự quan tâm rất nhiều của các cấp lãnh đạo và đã đạt được nhiều thành tích Song chưa đáp ứng được nhu cầu ngày càng lớn của quá trình phát triển, những khó khăn về kinh tế, cơ sở hạ tầng yếu kém, tình trạng học sinh bỏ học, học sinh đến tuổi đến trường nhưng không đi học đang

là vấn đề cần được quan tâm, đặc biệt đối với các vùng cao (vùng dân tộc thiểu số) Bên cạnh đó các cơ ở y tế vẫn còn rất thiếu thốn và gặp nhiều khó khăn, giao thông đi lại còn rất khó khăn nhất là vào mùa mưa lũ

Diện tích đất lâm nghiệp tập trung chủ yếu ở miền núi, nơi có điều kiện khó khăn về mọi mặt, đồng thời lâm nghiệp có chu kỳ kinh doanh dài, giá cả, thị trường tiêu thụ sản phẩm không ổn định Vì vậy, lâm nghiệp chưa thực sự phát triển và nhận được sự quan tâm nhiều của người dân Việc sử dụng đất theo phương thức canh tác nông lâm kết hợp đã được áp dụng nhưng chưa thực sự đem lại hiệu quả kinh tế, do việc sử dụng đất không hợp lý, khai thác rừng bừa bãi đã làm tăng diện tích đất trống, đồi núi trọc

Trang 30

Những năm gần đây Chính phủ đã xây dựng và chỉ đạo thực hiện nhiều chiến lược phát triển ngành lâm nghiệp lồng ghép với các Chương trình mục tiêu Quốc gia như Chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn; Chiến lược tăng trưởng toàn diện và xóa đói giảm nghèo; Chiến lược phát triển lâm nghiệp; Dự án PAM; dự án 327; Dự án trồng mới 5 triệu hecta rừng; các dự

án phát triển công nghiệp chế biến lâm sản; Dự án giao đất giao rừng… đã làm giảm đáng kể diện tích đất trống đồi núi trọc, tăng diện tích rừng trồng, rừng khoanh nuôi xúc tiến tái sinh góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng đất Các biện pháp kinh tế đa dạng, đa ngành cùng với việc trồng cây cho từng vùng sinh thái cụ thể đang từng bước góp phần ổn định đời sống của người dân Tuy nhiên những khó khăn về vốn, thị trường tiêu thụ sản phẩm lâm nghiệp vẫn đang là vấn đề cần được quan tâm, tháo gỡ

Trang 31

Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 4.1 Đánh giá mức độ thích hợp cây trồng cấp vĩ mô cho Keo lai ở vùng Đông Bắc Bộ

Dựa vào các kết quả nghiên cứu của một số tác giả về đặc điểm khí hậu, đất đai và yêu cầu sinh thái của cây Keo lai để tiến hành xác định mức độ thích hợp của cây Keo lai tại vùng Đông Bắc Bộ ở cấp vĩ mô

- Về yếu tố khí hậu:

Các yếu tố được lựa chọn để xác định mức độ thích hợp cây Keo lai ở cấp vĩ mô là: Nhiệt độ bình quân năm, nhiệt độ bình quân tháng thấp nhất và lượng mưa hàng năm

Bảng 4.1: Chỉ tiêu thích hợp khí hậu của cây Keo lai

Mức độ thích hợp

Yếu tố

S1 Rất thích hợp

S2 Thích hợp

S3

Ít thích hợp

S4/N Không thích hợp

Nhiệt độ bình quân

Năm (t 0 C) > 25 23 - 25 20 - 22 < 20 Nhiệt độ TB tháng

thấp nhất (t 0 C) > 18 14 - 18 12 - 14 < 12 Lượng mưa năm (mm)

> 1.800 1.600- 1.800 1.200- 1.600 < 1.200

Nguồn: Trung tâm NC sinh thái và Môi trường rừng - Viện KHLN Việt Nam

- Về yếu tố địa hình và đất đai:

Sử dụng 03 yếu tố là: Độ dốc, loại đất và độ dày tầng đất để xác định mức độ thích hợp của cây Keo lai, cụ thể như sau:

Trang 32

Bảng 4.2: Chỉ tiêu thích hợp đất đai của cây Keo lai

Mức độ thích hợp

Yếu tố

S1 Rất thích hợp

S2 Thích hợp

S3

Ít thích hợp

S4/N Không thích hợp

Độ cao so với mặt nước

Trang 33

Hình 4.1: Bản đồ thích hợp đất của cây Keo lai ở vùng Đông Bắc Bộ

Hình 4.2: Bản đồ thích hợp khí hậu của cây Keo lai ở vùng Đông Bắc Bộ

Hình 4.2: Bản đồ thích nghi đất của cây Keo lai ở vùng Đông Bắc Bộ

Hình 4.3: Bản đồ thích hợp khí hậu, đất đai của cây Keo lai ở vùng Đông

Bắc Bộ

Trang 34

Hình 4.1: Bản đồ thích hợp khí hậu của cây Keo lai ở vùng Đông Bắc Bộ

Ngày đăng: 31/08/2017, 14:30

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 4.2: Chỉ tiêu thích hợp đất đai của cây Keo lai - Nghiên cứu điều kiện lập địa cho cây trồng keo lai (a mangium x a auriculiformis) tại một số nơi ở vùng đông bắc bộ
Bảng 4.2 Chỉ tiêu thích hợp đất đai của cây Keo lai (Trang 32)
Hình 4.1: Bản đồ thích hợp đất của cây Keo lai ở vùng Đông Bắc Bộ. - Nghiên cứu điều kiện lập địa cho cây trồng keo lai (a mangium x a auriculiformis) tại một số nơi ở vùng đông bắc bộ
Hình 4.1 Bản đồ thích hợp đất của cây Keo lai ở vùng Đông Bắc Bộ (Trang 33)
Hình 4.1: Bản đồ thích hợp khí hậu của cây Keo lai ở vùng Đông Bắc Bộ - Nghiên cứu điều kiện lập địa cho cây trồng keo lai (a mangium x a auriculiformis) tại một số nơi ở vùng đông bắc bộ
Hình 4.1 Bản đồ thích hợp khí hậu của cây Keo lai ở vùng Đông Bắc Bộ (Trang 34)
Hình 4.2: Bản đồ thích hợp đất đai của cây Keo lai ở vùng Đông Bắc Bộ - Nghiên cứu điều kiện lập địa cho cây trồng keo lai (a mangium x a auriculiformis) tại một số nơi ở vùng đông bắc bộ
Hình 4.2 Bản đồ thích hợp đất đai của cây Keo lai ở vùng Đông Bắc Bộ (Trang 36)
Hình 4.3: Bản đồ thích hợp khí hậu - đất đai của cây Keo lai ở vùng - Nghiên cứu điều kiện lập địa cho cây trồng keo lai (a mangium x a auriculiformis) tại một số nơi ở vùng đông bắc bộ
Hình 4.3 Bản đồ thích hợp khí hậu - đất đai của cây Keo lai ở vùng (Trang 38)
Bảng 4.4: Sinh trưởng của Keo lai trên các loại đất khác nhau ở vùng Đông Bắc Bộ - Nghiên cứu điều kiện lập địa cho cây trồng keo lai (a mangium x a auriculiformis) tại một số nơi ở vùng đông bắc bộ
Bảng 4.4 Sinh trưởng của Keo lai trên các loại đất khác nhau ở vùng Đông Bắc Bộ (Trang 42)
Bảng 4.6: Đặc điểm hóa tính đất dưới rừng trồng Keo lai tốt xấu khác nhau - Nghiên cứu điều kiện lập địa cho cây trồng keo lai (a mangium x a auriculiformis) tại một số nơi ở vùng đông bắc bộ
Bảng 4.6 Đặc điểm hóa tính đất dưới rừng trồng Keo lai tốt xấu khác nhau (Trang 46)
Hình 4.4: Đồ thị tương quan giữa sinh trưởng Keo lai với độ dày tầng đất - Nghiên cứu điều kiện lập địa cho cây trồng keo lai (a mangium x a auriculiformis) tại một số nơi ở vùng đông bắc bộ
Hình 4.4 Đồ thị tương quan giữa sinh trưởng Keo lai với độ dày tầng đất (Trang 50)
Đồ thị dưới đây thể hiện tương quan giữa sinh trưởng của Keo lai với  dung trọng đất - Nghiên cứu điều kiện lập địa cho cây trồng keo lai (a mangium x a auriculiformis) tại một số nơi ở vùng đông bắc bộ
th ị dưới đây thể hiện tương quan giữa sinh trưởng của Keo lai với dung trọng đất (Trang 50)
Hình 4.6: Đồ thị tương quan giữa sinh trưởng Keo lai với hàm lượng - Nghiên cứu điều kiện lập địa cho cây trồng keo lai (a mangium x a auriculiformis) tại một số nơi ở vùng đông bắc bộ
Hình 4.6 Đồ thị tương quan giữa sinh trưởng Keo lai với hàm lượng (Trang 51)
Hình 4.7: Đồ thị tương quan giữa sinh trưởng Keo lai với chỉ số pH KCl - Nghiên cứu điều kiện lập địa cho cây trồng keo lai (a mangium x a auriculiformis) tại một số nơi ở vùng đông bắc bộ
Hình 4.7 Đồ thị tương quan giữa sinh trưởng Keo lai với chỉ số pH KCl (Trang 52)
Hình 4.8: Đồ thị tương quan giữa sinh trưởng Keo lai  với hàm lượng mùn - Nghiên cứu điều kiện lập địa cho cây trồng keo lai (a mangium x a auriculiformis) tại một số nơi ở vùng đông bắc bộ
Hình 4.8 Đồ thị tương quan giữa sinh trưởng Keo lai với hàm lượng mùn (Trang 53)
Hình 4.9: Đồ thị tương quan giữa sinh trưởng Keo lai với hàm lượng - Nghiên cứu điều kiện lập địa cho cây trồng keo lai (a mangium x a auriculiformis) tại một số nơi ở vùng đông bắc bộ
Hình 4.9 Đồ thị tương quan giữa sinh trưởng Keo lai với hàm lượng (Trang 54)
Bảng 4.10: Thu nhập từ rừng trông Keo lai tại các điểm nghiên cứu - Nghiên cứu điều kiện lập địa cho cây trồng keo lai (a mangium x a auriculiformis) tại một số nơi ở vùng đông bắc bộ
Bảng 4.10 Thu nhập từ rừng trông Keo lai tại các điểm nghiên cứu (Trang 59)
Bảng 4.11: Hiệu quả kinh tế của rừng trồng Keo lai - Nghiên cứu điều kiện lập địa cho cây trồng keo lai (a mangium x a auriculiformis) tại một số nơi ở vùng đông bắc bộ
Bảng 4.11 Hiệu quả kinh tế của rừng trồng Keo lai (Trang 61)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm