Một trong những biện pháp quan trọng để kiểm soát xói mòn là trồng rừng hay phục hồi lại rừng đã mất, Dự án RENFODA là tên gọi tắt của Dự án phục hồi rừng đầu nguồn tự nhiên bị suy thoá
Trang 1LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS NGÔ ĐÌNH QUẾ
Hà Nội, 2010
Trang 2ĐẶT VẤN ĐỀ
Vùng đầu nguồn sông Đà là vùng phòng hộ có vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước ta Trong những năm qua, cùng với việc xây dựng đập Hoà Bình là việc khai thác rừng bừa bãi, tập quán đốt nương làm rẫy và phương thức sử dụng đất không hợp lý Rừng nơi đây đang đứng trước nguy cơ bị suy thoái nghiêm trọng gây ảnh hưởng xấu đến môi trường sinh thái, kinh tế xã hội và đời sống cộng đồng trong khu vực Hậu quả
là tài nguyên rừng bị cạn kiệt, lượng xói mòn đất, rửa trôi lắng đọng xuống lòng hồ ngày càng gia tăng Do vậy việc phục hồi, bảo vệ và phát triển rừng phòng hộ đầu nguồn khu vực xung yếu ở Việt Nam nói chung và ở khu vực vùng lòng hồ sông Đà nói riêng đang là vấn đề cấp bách trong những năm gần đây
Theo Đặng Huy Huỳnh (1990), diện tích lưu vực hồ Hoà Bình là 2.567.000 ha trong đó diện tích rừng trên lưu vực chỉ còn 266.000 ha Lượng bùn cát lắng đọng hàng năm do mưa, bão, trượt lở trung bình khoảng 83,6 triệu tấn Với tốc độ đó sau 25 năm lòng hồ thuỷ điện Hoà Bình sẽ mất 60% dung tích chính
Theo TS Lưu Danh Doanh thuộc Trung tâm quản lý và khảo sát môi trường, thì “Lưu vực sông Đà và hồ chứa Hoà Bình thuộc khu vực có cường
độ xói mòn vào loại mạnh nhất so với các lưu vực sông khác ở nước ta Trung bình hàng năm trên 1km2 bị mất đi khoảng 20.000 - 40.000 tấn đất màu Mức
độ bồi lắng của hồ Hoà Bình thuộc loại nghiêm trọng”
Như ta đã biết, để hình thành nên 1mm đất mặt thì phải mất một khoảng thời gian là 100 năm Do vậy kiểm soát sự mất đất do xói mòn
là một việc làm trở nên vô cùng cần thiết Các nghiên cứu xói mòn đất
ở nước ta được tiến hành từ những năm 1960 Từ những nghiên cứu đơn giản ban đầu tới những công trình nghiên cứu có nội dung phong phú
và định lượng hơn đã đóng góp nhiều hơn cho thực tiễn sản xuất thông qua
Trang 3việc kiểm soát dinh dưỡng đất Một trong những biện pháp quan trọng để kiểm soát xói mòn là trồng rừng hay phục hồi lại rừng đã mất, Dự án
RENFODA là tên gọi tắt của Dự án phục hồi rừng đầu nguồn tự nhiên bị suy
thoái tại miền Bắc Việt Nam do Chính phủ Nhật Bản tài trợ thông qua cơ
quan hợp tác quốc tế Nhật Bản JICA (Japan International Cooporation
Agency) được thực hiện để giải quyết vấn đề này và đã, đang có những tác
động nhất định tới môi trường rừng đầu nguồn sông Đà Để tìm hiểu sâu vấn
đề này chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu : “Nghiên cứu diễn biến một số yếu
tố môi trường rừng dưới tác động của các công thức sử dụng đất thuộc dự
án RENFODA khu vực xung yếu vùng ven hồ sông Đà”
Trang 4Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Rừng có hai chức năng cơ bản là: Cung cấp nguyên liệu và phòng hộ môi trường Trên phạm vi thế giới cũng như Việt Nam, trong những năm gần đây chức năng cải thiện môi trường của rừng ngày càng trở nên quan trọng và được chú ý đến nhiều hơn Vì vậy, rất nhiều chương trình của nhà nước và các tổ chức Quốc tế về phát triển lâm nghiệp đều hướng tới phục hồi rừng, phủ xanh đất trống đồi núi trọc nhằm cải thiện môi trường sinh thái ở Việt Nam Mặc dù nhà nước đã có những chuyển đổi rất lớn về chiến lược phát triển rừng theo hướng phòng hộ và cải thiện môi trường, song các nghiên cứu
cơ bản về tác động môi trường của các trạng thái rừng còn rất hiếm hoi Đây cũng là tình trạng chung của các nước kém phát triển ở vùng nhiệt đới trong khi các nước ôn đới đã có khá nhiều nghiên cứu cơ bản về vấn đề này, tuy nhiên ít có thể áp dụng trong điều kiện kinh tế, tự nhiên ở các nước nhiệt đới cũng như ở Việt Nam
Do thiếu các nghiên cứu cơ bản của ảnh hưởng rừng đến các yếu tố môi trường, nên các Dự án và chương trình trồng rừng của nước ta từ trước tới nay rất thiếu cơ sở cho việc chọn cơ cấu cây trồng và các phương thức kinh doanh lâm nghiệp, chưa phát huy được chức năng phòng hộ và cải thiện môi trường của mình, nhiều nơi, đã ảnh hưởng xấu đến môi trường và phòng hộ
Chính vì vậy mà việc nghiên cứu diễn biến của một số yếu tố môi trường rừng đến các các công thức sử dụng đất là một vấn đề hết sức cần thiết góp phần xây dựng luận cứ khoa học và đề xuất giải pháp cải tạo rừng một cách có hiệu quả
1.1.Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Ở các nước phát triển trên thế giới việc nghiên cứu ảnh hưởng của rừng trồng đến môi trường đã được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu Vai
Trang 5trò và lợi ích của rừng trong việc phòng hộ và cải thiện môi trường được giới thiệu trong các tài liệu khoa học và diễn đàn Quốc tế
Mấy chục năm gần đây, do nhu cầu về gỗ giấy, gỗ củi, các loài cây gỗ mọc nhanh như: Bạch đàn, Thông, Keo đã được gây trồng trên những diện tích lớn ở các nước nhiệt đới Việc thay thế các rừng rậm nhiệt đới bằng các rừng thuần loài, mọc nhanh, với chu kỳ khai thác ngắn đã gây ra những lo ngại về sự thoái hoá đất và giảm năng suất ở các luân kỳ sau
Nghiên cứu của Keeves (1966) đã bước đầu cho thấy sự thoái hoá lập địa
do khai thác rừng Thông Pinus radiata với chu kỳ ngắn ở Úc Theo tác giả, có
tới 90% chất dinh dưỡng trong sinh khối bị lấy đi khỏi rừng khi khai thác
Turvey (1983) cũng cho rằng sự thay thế rừng Bạch đàn tự nhiên ở Úc
bằng rừng trồng Thông Pinus radiata với chu kỳ chặt 15 - 20 năm (400m3/ha) cũng làm giảm độ phì đất do khai thác gỗ Mặt khác tầng thảm mục dày và khó phân giải của Thông cũng làm chậm sự quay vòng các nguyên tố khoáng và đạm
ở các lập địa này
Tại Ấn Độ, việc trồng Bạch đàn trên những vùng rộng lớn đã gây ra nhiều cuộc tranh luận kéo dài về tác dụng xấu của Bạch đàn đến đất Ghosh (1978) đã đánh giá ảnh hưởng của Bạch đàn đến chế độ nước và chất dinh dưỡng trong đất tại Ấn Độ và nhiều vùng trên thế giới nhưng chưa có những kết luận khẳng định Tuy nhiên Ghosh đã nhấn mạnh là các lời ca thán về tác hại của các loài Bạch đàn đến đất tại Ấn Độ là quá đáng Các mối lợi về kinh
tế do Bạch đàn đưa lại còn lớn hơn nhiều so với mặt hại nếu có
Theo Smith.C.T (1994) thì việc trồng rừng có thể đem lại những ảnh hưởng tích cực khi mà độ phì đất được cải thiện Ngược lại nó đem lại ảnh hưởng tiêu cực nếu nó làm mất cân bằng hay cạn kiệt nguồn dinh dưỡng trong đất Nhìn chung việc trồng rừng cải thiện các tính chất vật lý đất Tuy nhiên việc sử dụng cơ giới hoá trong xử lý thực bì, khai thác, trồng rừng là nguyên nhân dẫn đến sự suy giảm sức sản xuất của đất
Trang 6Trong vùng nhiệt đới, rừng cây mọc nhanh ảnh hưởng đến đất không chỉ ở việc tiêu thụ dinh dưỡng Một yếu tố quan trọng hơn là có sự đảo lộn quá trình trao đổi vật chất giữa rừng và đất khi thay các hệ sinh thái tự nhiên
đa dạng, bằng một hệ sinh thái nhân tạo độc canh
Theo Lee Soo-hwa (2007) cho rằng đất rừng tốt có thể thấm được khoảng 250 mm nước mưa trong một giờ Tuy nhiên, cũng theo ông thì rừng không qua tác động cải thiện cấu trúc sẽ không tốt cho cải thiện nguồn nước thậm chí còn làm tăng sự thiếu nước do làm cho một lượng lớn bị ngăn giữ từ các tầng tán và bốc hơi Ngược lại, khi rừng được cải thiện tầng tán thì sẽ tạo điều kiện cho nước mưa thấm vào đất nhiều hơn, sự chiếu sáng sẽ làm cho các
vi sinh vật đất như giun hoạt động tốt hơn vì vậy có tác dụng duy trì nguồn nước và cải thiện nguồn nước tốt hơn Các khu rừng được cải thiện cấu trúc tốt đã được chứng minh là có tác dụng ngang bằng và đôi khi còn nhỏ hơn cả các đập nước trong việc làm giảm các vấn đề do nước gây ra dù đó là lũ lụt hây hạn hán (Lee-Soo-hwa, 2007, http://www.korea.net/news/news)
Theo Nisbet (2001), bản thân rừng có thể có tác dụng làm giảm dòng chảy mặt và chống xói mòn tốt, tuy nhiên các hoạt động trồng rừng và tác động vào rừng như: Làm đường, làm đất trồng rừng, khai thác có thể làm tăng dòng chảy mặt và xói mòn cho lưu vực
Theo Farley và cộng sự (2005) đã chỉ ra rằng khi đất trảng cỏ và đất cây bụi chuyển sang rừng trồng thì sản lượng dòng chảy năm giảm đi 44% và 31% Trong đó, rừng Bạch đàn làm giảm dòng chảy ở mức cao nhất (75%) trong khi rừng thông chỉ giảm 44% Tác động làm giảm dòng chảy kiệt của rừng trồng còn thể hiện rõ hơn cả lượng dòng chảy trung bình năm Vì vậy tác giả đã đề nghị việc nghiên cứu trồng rừng cố định CO2 phải xem xét tác động làm giảm nguồn nước của rừng trồng
Trang 7Theo Zhang và cộng sự (2007)[33] cho rằng nếu các chỉ số về trạng thái thảm thực vật rừng (cấu trúc, loại đất, địa hình ) có ảnh hưởng đến dòng chảy của lưu vực thì phân bố không gian của rừng cũng ảnh hưởng quan trọng, nhất là khi rừng được phân bố ở những khu vực tiếp nối trực tiếp với hệ thống tích nước của thuỷ vực như sông, suối, hồ Những khoảng trống ở phần trên sườn dốc có thể gây ra ảnh hưởng đối với sản lượng nước thấp hơn
ở phần dưới sườn dốc (Chang,2003) Vì vầy cần ưu tiên lựa chọn vùng trồng rừng cho hợp lý trên quản điểm quản lý nguồn nước
Theo Zhang và cộng sự (2007)[33], rừng trồng có ảnh hưởng đối với dòng chảy mặt và dòng chảy ngầm cho nên nó gây ảnh hưởng đối với độ mặn của nước sông suối trong lưu vực Ở những nơi lượng muối phân bố nhiều ở tầng lớp đất mặt thì ảnh hưởng đó sẽ thể hiện rõ chỉ trong vòng 2 - 5 năm sau khi trồng rừng Tuy nhiên, đối với vùng mà sự phân bố nguồn mặn chủ yếu ở tầng nước ngầm thì ảnh hưởng đó sẽ chậm hơn rất nhiều thuỳ thuộc vào đặc điểm của hệ thống nước ngầm nơi đó Đối với hệ thống dòng chảy ngầm có chiều dài 50km có thể đòi hỏi hàng trăm năm để biến đổi trước tác động của các loại hình sử dụng đất
Theo M Guardiola và cộng sự (2010), việc thay thế các rừng cây bản địa bằng rừng Cao su ở Nam Keng (Trung Quốc) và ở Pang Khum (miền Bắc Thái Lan) đã làm tăng lượng bốc thoát hơi nước và vì vậy làm giảm dòng chảy cũng như lượng nước được tích trữ trong lưư vực Tổng sản lượng nước hàng năm của lưu vực tăng lên khi tăng tỷ lệ khai thác rừng, và sản lượng nước lớn nhất ứng với phương thức chặt trắng toàn diện Mặc dù việc trồng rừng và những biện pháp bảo tồn đất có những tác dụng nhất định trong việc giảm đỉnh lũ nhưng ít có trường hợp nào cho thấy các biện pháp đó có tác dụng làm tăng dòng chảy kiệt (Bruijnzieel, 2004)[29]
Trang 8Nhiều nghiên cứu khác cũng cho thấy việc trồng rừng đã làm giảm sản lượng nước bình quân và dòng chảy trong mùa khô của lưu vực Trong không
ít trường hợp, dòng chảy kiệt bị giảm đáng kể sau trồng rừng Tuy nhiên, trong một số trường hợp nó lại tăng dòng chảy ngầm và dòng chảy kiệt nhờ
có việc làm tăng tính thấm nước của đất (Van Dijk và Keenan, 2007) Trung bình, sự giảm sản lượng dòng chảy do trồng rừng biến động trong khoảng từ
50 mm/năm đối với vùng khô cho đến 300 mm/năm đối với vùng ẩm ướt Điều đó có thể làm giảm sản lượng nước tương đối năm ở mức 20 - 40% (Ge Sun và cộng sự, 2005)[30]
Sự ảnh hưởng của rừng trồng tới dòng chảy không chỉ ở diện tích mà còn sự phân bố của nó và các biện pháp tác động vào rừng (Zhang và cộng sự, 2007)[33] Ảnh hưởng sự phấn bố không gian của rừng tới nguồn nước đã được nghiên cứu một cách khá hệ thống trong công trình của Carsten và cộng
sự (2007) Công trình này đã chỉ ra rằng ảnh hưởng của rừng tới nước trên quy mô rộng vẫn cần phải được nghiên cứu nhiều hơn nữa Đồng thời các tác giả đã đề nghị hướng nghiên cứu nên tập trung giải quyết các vấn đề còn bỏ ngỏ như: Xác định những tính chất quan trọng về trạng thái cấu trúc của rừng
để chúng ta có thể căn cứ vào đó mà điều khiển số lượng và chất lượng nước trong lưu vực; xác định vị trí, quy mô và sự phân bố không gian tốt nhất của rừng để tối ưu hoá các ảnh hưởng tốt đến chất chất lượng và sản lượng nước; xây dựng các mô hình mô phỏng tốt nhất những tác động của rừng tới nguồn nước trong lưu vực Các tác giả cũng cho thấy từ lâu nhiều nhà thuỷ văn lưu vực và thuỷ văn rừng đã thừa nhận vai trò của rừng đối với việc cải thiện nguồn nước và chu trình vật chất Kết quả nghiên cứu của Phùng Văn Khoa (2006)[32] đã cho thấy các lưu vực của Mỹ, các nhân tố môi trường ảnh hưởng rõ rệt nhất đến sản lượng ion trong nước dòng chảy của lưu vực đó là lượng mưa, nền địa chất (đá mẹ) và thảm thực vật rừng (Phùng Văn Khoa, 2006)
Trang 9Trong những năm gần đây Trung tâm Lâm nghiệp quốc tế (CIFOR) đã tiến hành nghiên cứu về quản lý lập địa và sản lượng rừng cho rừng trồng ở các nước nhiệt đới CIFOR đã tiến hành nghiên cứu trên các đối tượng là Bạch đàn, Thông, Keo trồng thuần loài tại các dạng lập địa ở các nước Brazil, Công gô, Nam phi, Indonesia, Trung quốc, Ấn Độ và nay bắt đầu nghiên cứu
ở Việt Nam Kết quả nghiên cứu cho thấy các biện pháp xử lý lập địa khác nhau và các loài cây trồng khác nhau đã có ảnh hưởng rất khác nhau đến độ phì đất, cân bằng nước, sự phân huỷ thảm mục và chu trình dinh dưỡng khoáng
1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Ở Việt Nam, vấn đề về môi trường rừng đã được khởi động từ rất lâu Tuy nhiên do nhiều lý do các nghiên cứu về môi trường rừng chưa được chú ý xứng đáng với vị trí của nó Những năm gần đây, vấn đề môi trường rừng mới được xem xét nghiêm túc trở lại Tuy nhiên do điều kiện kinh tế của nước ta cũng như khó khăn chung của toàn xã hội Vấn đề nghiên cứu môi trường nói chung và môi trường rừng nói riêng vẫn còn rất nhiều bất cập và cần thiết phải có nhiều các công trình nghiên cứu tiếp theo Một số công trình nghiên cứu trước đây được tóm tắt như sau:
Nghiên cứu đánh giá tác động của rừng tới môi trường, đặc biệt là rừng
tự nhiên ở nước ta cũng đã được quan tâm chú ý từ đầu những năm 1970 với
cơ sở ban đầu do Liên Xô cũ giúp đỡ, nội dung nghiên cứu tập trung vào khả năng chống xói mòn và điều tiết nước của các trạng thái rừng; các nội dung nghiên cứu khác như vai trò điều tiết tiểu khí hậu, đất đai cũng được quan tâm nhưng chưa nhiều và hệ thống
Từ năm 1973 đến năm 1981 Viện Nghiên cứu Lâm nghiệp đã xây dựng các khu nghiên cứu thuỷ văn rừng định vị ở Núi tiên (Hữu Lũng) và Tứ Quận (Hà Tuyên) Các công trình nghiên cứu trong thời gian này tập trung chủ yếu
Trang 10vào nghiên cứu một số các nhân tố khí hậu rừng, khả năng ngăn cản nước mưa của tán rừng, ảnh hưởng của độ tàn che rừng tới khả năng giữ đất và điều tiết dòng chảy mặt của rừng như công trình của Bùi Ngạnh và Nguyễn Danh
Mô (1977)[16], của Bùi Ngạnh và Nguyễn Ngọc Đích (1985)[15], Đây là những công trình nghiên cứu khởi điểm rất quan trọng, tạo lập được một số cơ
sở khoa học cho việc xây dựng rừng giữ nước, bảo vệ đất ở nước ta đồng thời cũng mở ra một hướng nghiên cứu mới, định lượng về thuỷ văn rừng
Trong những năm 1980 các công trình nghiên cứu đã tập trung vào xói mòn đất và khả năng giữ nước của một số thảm cây trồng nông nghiệp và công nghiệp, đặc biệt là ở các vùng Tây Nguyên Trong thời gian này nhiều khu nghiên cứu quan trắc định vị đã được xây dựng kiên cố bằng gạch và xi măng, gỗ, kim loại,… Hàng loạt các công trình mang nhiều sắc thái và đi vào định lượng một cách vững chắc như công trình nghiên cứu của Nguyễn Quang Mỹ, Lê Thạc Cán (1983)[13], của Nguyễn Quang Mỹ, Quách Cao Yêm, Hoàng Xuân Cơ (1984)[14],… Những công trình nghiên cứu này đã làm rõ ảnh hưởng của nhân tố địa hình tới xói mòn, vai trò phòng hộ về chống xói mòn của một số thảm thực vật nông nghiệp, đã chú ý tới độ che phủ gắn liền với các giai đoạn phát triển của cây trồng, định hướng cho việc xây dựng các giải pháp phòng chống xói mòn trên đất dốc
Đầu những năm 1990, khi nước ta thực hiện chương trình 327 với đối tượng chủ yếu là rừng phòng hộ, nghiên cứu thuỷ văn và xói mòn đất rừng cũng được đẩy mạnh một bước Nghiên cứu của Võ Đại Hải (1996)[6], Nguyễn Ngọc Lung và Võ Đại Hải (1997) đã xây dựng 20 khu nghiên cứu định vị ở Tây Nguyên, dưới các dạng thảm thực vật có cấu trúc khác nhau Đây là những công trình nghiên cứu tương đối toàn diện về xói mòn đất và khả năng điều tiết nước của rừng ở nước ta, đặc biệt là đã làm rõ vai trò phòng hộ chống xói mòn đất và điều tiết nước của các dạng cấu trúc rừng Kết
Trang 11quả nghiên cứu này bước đầu đã xây dựng được một số cơ sở khoa học cho việc xây dựng rừng phòng hộ giữ nước, giữ đất ở nước ta trong thời gian qua
Một số tác giả đã tập trung nghiên cứu vai trò điều tiết nước, xói mòn của rừng, ảnh hưởng của thảm thực vật đến dòng chảy của các con sông, suối như công trình của Nguyễn Viết Phổ (1992), Vũ Văn Tuấn (1977, 1981) Những nghiên cứu này đã cho ta thấy vai trò điều tiết nước đặc biệt hữu hiệu của thảm thực vật rừng, đặc biệt là việc cung cấp nước cho các con sông, suối vào mùa khô, dòng chảy kiệt ở những vùng có rừng cao hơn những vùng không có rừng
Các nghiên cứu của Võ Đại Hải (1996)[6] cho thấy khi giảm độ tàn che
từ 0,7 - 0,8 xuống mức 0,3 - 0,4 thì dòng chảy mặt tăng 30,4% đối với rùng tự nhiên và 33,8% đối với rừng Le (Võ Đại hải, 1996) Khi độ dốc tăng lên thì lượng dòng chảy cũng tăng lên Chẳng hạn khi độ dốc tăng lên 2 lần thì lượng dòng chảy mặt tăng lên 58,1% (Võ Đai hải, 1996)
Theo Nguyễn Quang Mỹ (1990)[12] thì vật rơi rụng ở trạng thái thô có thể hút được lượng nước bằng 1,38 lần trọng lượng khô của nó, nếu đã bị phân huỷ 30 - 40% thì có thể hút được lượng nước gấp 3,21 lần trọng lượng khô Về giá trị tuyệt đối , lớp thảm mục có thể hút được 35,840 lít nước trên
1 ha rừng tự nhiên, tương đương với một trận mưa 3,6 mm (Nguyễn Quang
Mỹ, 1990)[12] Tuy nhiên theo Phạm Văn Điển (2006) thì tỷ lệ % lượng nước hữu hiệu của vật rơi rụng thấp hơn tỷ lệ % lượng giữ nước tối đa của nó Nhìn chung, lượng nước hữu hiệu của vật rơi rụng chỉ đạt từ 2,5 - 83,2 mm/ha.năm, tương đương với mức 0,1 - 4,6% tổng lượng mưa Như vậy khả năng giữ nước của vật rơi rụng rất hạn chế (Phạm Văn Điển, 2006)[5]
Các nghiên cứu của Vũ Thanh Te, Trần Quốc Thưởng, Phạm Anh Tuấn (2005) về tác động của lớp phủ thực vật đến khả năng gây xói mòn đất và vận chuyển bùn cát trên lưu vực sông chợ Lèn đã nhận thấy lớp phủ thực vậy càng
Trang 12dày thì khả năng làm chậm dòng chảy trên bề mặt sườn dốc càng tăng (từ 7 -
11 lần) (Lại Thị Loan, 2009)[10]
Khi so với lượng mưa, dòng chảy mặt biến động rất lớn và thường dao động trong khoảng từ 3 - 5% đối với rừng Thông (Phùng Văn Khoa, 1997), 5,2 - 28,7% - trong đó cao nhất ở trảng cỏ đến thảm cây bụi, rừng trồng và thấp nhất ở rừng tự nhiên (Phạm Văn Điển, 2006) Lượng dòng chảy mặt phụ thuộc vào nhân tố lượng mưa, địa hình, tính chất đất, cấu trúc thảm thực vật
và cả phương pháp quan trắc Hệ số dòng chảy mặt thường có liên hệ chặt chẽ với các nhân tố độ dốc mặt đất, hệ số xói mòn đất, độ giao tán hoặc độ tàn che tầng cây cao, độ che phủ của thảm tươi cây bụi và độ che phủ của rừng (Phạm Văn Điẻn, 2006)
Trong nghiên cứu về vai trò bảo vệ nguồn nước của 4 dạng thảm thực vật (thảm cây bụi cao, thảm cây bụi thấp, rừng trồng Keo và rừng trồng Bạch đàn), Nguyễn Thế Hưng 2008 đã cho thấy khả năng giữ nước của các thảm thực vật giảm dần từ thảm cây bụi cao đến rừng trồng Keo, rừng trồng Bạch đàn và thấp nhất là thảm cây bụi thấp, với tổng lượng nước hàng năm giữ được trong các thảm thực vật tương ứng là 988,97 tấn/ha, 639,07 tấn/ha, 724,58 tấn/ha và 660,62 tấn/ha (Lại Thị Loan, 2009)[10]
Việc phá rừng đầu nguồn gây ra những tác động nghiêm trọng, đặc biệt
là hiện tượng xói mòn và bồi lắng Theo Đặng Huy Huỳnh (1990), diện tích lưu vực hồ Hoà Bình là 2.568.000 ha, trong đó rừng trên lưu vực (chủ yếu là rừng nghèo kiệt) chỉ còn 266.000 ha Lượng bùn cát lắng đọng ở hồ Hoà Bình trung bình hàng năm là khoảng 83,6 triệu tấn Với tốc độ này sau 25 năm lòng
hồ thuỷ điện Hoà Bình sẽ mất 60% dung tích chính
Theo TS Lưu Danh Doanh thuộc Trung tâm quản lý và khảo sát môi trường, thì “Lưu vực sông Đà và hồ chứa Hoà Bình thuộc khu vực có cường
độ xói mòn vào loại mạnh nhất so với các lưu vực sông khác ở nước ta Trung
Trang 13bình hàng năm trên 1km2 bị mất đi khoảng 20.000 - 40.000 tấn đất màu Mức
độ bồi lắng của hồ Hoà Bình thuộc loại nghiêm trọng”
Vai trò của rừng trong việc giữ nước là rất quan trọng Nghiên cứu của
Võ Minh Châu (1993) cho thấy sự suy giảm diện tích rừng đầu nguồn sông Ngàn Mọ từ 23,971 ha xuống còn 6.000 ha đã làm cho nước hồ Kẻ Gỗ giảm
đi đáng kể, giảm từ 340 triệu m3 nước xuống còn 60 triệu m3, do đó không đảm bảo nước cho sản xuất nông nghiệp trên diện tích 6.000 ha
Phương pháp nghiên cứu xói mòn theo các mô hình định lượng được phát triển mạnh trong những năm gần đây nhờ công nghệ tin học và GIS Ưu điểm của phương pháp này là nhanh, độ chính xác cao; tuy vậy trước khi ứng dụng cần kiểm nghiệm khả năng và điều kiện ứng dụng vào các điều kiện cụ thể ở nước ta
Ở Việt Nam đã có một số tác giả áp dụng phương pháp nghiên cứu này
ở các mức độ khác nhau như: Phạm Ngọc Dũng - trường Đại học Nông nghiệp I Hà Nội, Nguyễn Quang Mỹ - Đại học Tổng hợp, Võ Đại Hải - Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam; Lại Huy Phương - Viện Điều tra Quy hoạch Rừng
Một số công trình nghiên cứu về sử dụng đất dốc, hạn chế xói mòn và tăng độ phì của đất cho một số vùng với những đối tượng cụ thể Việc thiết lập băng cây xanh theo đường đồng mức nhằm cắt dòng chảy bề mặt có hiệu quả cao, lượng nước trôi có thể giảm từ 31% - 42%, lượng đất trôi có thể giảm 49% - 52% và năng suất cây trồng tăng 41% - 43% (Đậu Cao Lộc và các cộng tác viên, 1998) Mặc dù hàng rào cây xanh họ đậu chiếm khoảng 10% diện tích, song năng suất cây trồng vẫn tăng 15 - 25% so với không làm băng xanh (Nguyễn Tử Xiêm và Thái Phiên, 1999)[22]
Số liệu nghiên cứu của Nguyễn Quang Mỹ (1984)[14] ở Tây Nguyên cho thấy độ tàn che của thảm cây trồng có ảnh hưởng rất lớn tới độ vẩn đục
Trang 14của dòng chảy (hay còn gọi là dòng rắn), thảm cây trồng có độ che phủ yếu thì nồng độ đậm đặc của dòng chảy chiếm tỉ lệ cao hơn
Nghiên cứu của Trần Quang Bảo (1999)[1] tại Cẩm Xuyên – Hà Tĩnh cho thấy cường độ xói mòn đất dưới tán rừng Bạch đàn trắng phụ thuộc vào mật độ rừng trồng và độ xốp, độ dốc, độ dày tầng đất
Thí nghiệm xói mòn dưới các thảm thực vật nông nghiệp khác ở Tây nguyên được Nguyễn Quang Mỹ nghiên cứu vào những năm 1980 cho thấy rằng lượng nước tạo dòng và tổn thất về đất phụ thuộc vào đặc điểm che phủ của các thảm cây trồng Trong những điều kiện như nhau về đất, vi khí hậu, địa hình, kỹ thuật canh tác,… nhưng khác nhau về thảm cây trồng thì lượng nước tạo dòng và xói mòn đất ở đó khác nhau Hay nói cách khác đi , ở đâu
có độ che phủ đất kém thì dòng chảy mặt và đất xói mòn lớn hơn Cụ thể đất khai hoang chiếm 20%; đất trồng lạc chiếm 19%; đất trồng sắn và ngô chiếm 14%; đất trồng lúa chiếm 13,5%; đất trồng cỏ 12%; đất trồng khoai lang 5,5%; đất trồng cafe lâu năm tán che kín thì lượng nước tạo dòng còn lại 2%
Nghiên cứu về quan hệ rừng Bạch đàn tới môi trường có khá nhiều các công trình của các tác giả như: Thái Văn Trừng, Vũ Đình Phương, Hoàng Chương, Hoàng Xuân Tý, Nguyễn Ngọc Bình, Đỗ Đình Sâm Do trước đây Bạch đàn được du nhập vào nước ta với những đặc tính được cho là rất tốt với Việt Nam lúc đó như năng suất cao, ít sâu bệnh, gỗ xử dụng vào nhiều mục đích Tuy nhiên sau một thời gian sử dụng loài cây Bạch đàn gần như cây trồng rừng chính áp dụng cho mọi vùng, mọi điều kiện lập địa Có nhiều ý kiến trái ngược nhau xung quanh mối tương tác giữa loài cây này và môi trường Nhiều nghiên cứu cũng đã được triển khai xung quanh các vấn đề liệu Bạch đàn có làm tăng dòng chảy bề mặt, tăng xói mòn đất hay không hoặc là
có làm giảm độ phì đất hay không, có làm cho đất chua thêm hay không? Ngoài ra cũng có những ý kiến cho rằng Bạch đàn làm khô và gây độc cho
Trang 15đất Tuy nhiên những kết quả nghiên cứu còn chưa tập trung hẳn vào vấn đề môi trường của loài cây này Đa số kết luận còn chưa dứt khoát Theo Bùi Thị Huế (1996), mặc dù Bạch đàn có cường độ thoát hơi nước mạnh nhưng do tổng diện tích lá nhỏ nên vẫn có lượng thoát hơi nước nhỏ hơn so với rừng Keo cùng tuổi từ 1,5 đến 3,3 lần Hiệu suất sử dụng nước của Bạch đàn cao hơn Keo từ 1,7 đến 2,8 lần Bên cạnh đó tác giả cũng thấy rằng nếu trồng Bạch đàn ở lập địa tốt thì sau 3 năm trồng rừng, lượng mùn trong lớp đất mặt giảm đi khoảng 12,1 tấn so với trước khi trồng rừng Đạm cũng bị giảm đi khoảng 123 kg/ha Nhưng nếu trồng tại lập địa xấu, đất đồi trơ trọc sỏi đá như tại Thanh Vân - Phú thọ, sau 3 năm lượng mùn tăng lên được 2,8 tấn/ha còn đạm tăng lên được 10 kg/ha
Nói chung xu hướng cho rằng Bạch đàn có thể gây hại cho một số lập địa, tuy nhiên nhiều lập địa khác thì vẫn phù hợp với loài cây này và không tìm thấy bằng chứng cho thấy Bạch đàn gây hại đến đất đai và môi trường Vấn đề này cần phải nghiên cứu chuyên sâu hơn
Hiện nay ở Việt Nam trồng chủ yếu 3 loài Keo là: Keo lá tràm, Keo tai tượng và Keo lai các loài Keo này được nhiều nghiên cứu ghi nhận là cây có ảnh hưởng tốt với môi trường như: Có khả năng cố định đạm, cải thiện độ xốp của đất Do sinh khối lớn, sinh trưởng nhanh nên lượng rơi rụng, phân giải chất hữu cơ dưới rừng trồng Keo hàng năm là khá lớn đảm bảo cân bằng dinh dưỡng trong đất
Nghiên cứu về mối liên hệ giữa rừng trồng Keo và môi trường: Có các công trình của Đỗ Đình Sâm, Ngô Đình Quế [19] nghiên cứu về diễn biến độ phì của đất dưới các rừng trồng Keo ở các cấp tuổi Trong đố đề cập đến ảnh hưởng của rừng đến các yếu tố như: Độ xốp của đất, biến đổi hàm lượng mùn, N,P,K, yếu tố thảm thực vật dưới tán, số lượng vi sinh vật trong đất Trong
Trang 16thời gian tới cần bổ sung một số nghiên cứu về ảnh hưởng của rừng Keo tới thảm thực vật dưới tán và khả năng hấp thụ khí nhà kính
Nhìn chung, một số công trình nghiên cứu ở trong nước cho thấy các công trình nghiên cứu về tác động của rừng đến môi trường được khởi đầu khá muộn so với nhiều lĩnh vực khác nhưng lại không được tiến hành liên tục
và toàn diện cả về nội dung, không gian và đối tượng nghiên cứu, vì vậy cho tới nay còn khá nhiều câu hỏi chưa có lời giải đáp Mặc dù vậy, các kết quả nghiên cứu cũng đã tạo ra những cơ sở khoa học cho xây dựng rừng phòng hộ
ở nước ta trong những năm qua Do vậy việc nghiên cứu diễn biến về môi trường rừng dưới tác động của các công thức thí nghiệm khác nhau về sử dụng đất là một vấn đề đặt ra hết sức cấp bách và cần thiết cho việc xây dựng các mô hình trồng rừng phục vụ cho công tác trồng rừng phòng hộ khu vực ven hồ Hoà Bình đạt hiệu quả cao
Trang 17Chương 2 MỤC TIÊU, NỘI DUNG, ĐỐI TƯỢNG, GIỚI HẠN VÀ PHƯƠNG
2.2 Nội dung nghiên cứu
2.2.1 Nghiên cứu về sinh trưởng của cây rừng tại các công thức thí nghiệm 2.2.2 Diễn biến về thảm thực vật rừng
2.2.3 Ảnh hưởng của các công thức thí nghiệm đến xói mòn đất
2.2.4 Ảnh hưởng của các công thức thí nghiệm tới dòng chảy bề mặt 2.2.5 Ảnh hưởng của các công thức thí nghiệm tới tính chất đất
2.2.6 Ảnh hưởng của các công thức thí nghiệm đến sự rửa trôi các chất dinh dưỡng trong nước
2.2.7 Ảnh hưởng của các công thức đến lượng rơi rụng
2.3 Đối tượng nghiên cứu
Thảm thực vật, môi trường đất, nước trong các công thức thí nghiệm thuộc dự án dự án RENFODA từ năm 2006 đến năm 2009
Các công thức thí nghiệm được nghiên cứu gồm có:
+ Công thức T2: Trồng Keo lai và cây bản địa cùng một lúc
+ Công thức T3: Trồng cốt khí xen cây bản địa
Trang 18+ Công thức T4: Trồng cây bản địa thuần loài
+ Công thức L1: Giữa 2 hàng Luồng trồng một hàng cây bản địa thuần loài + Công thức L2: Giữa 2 hàng Luồng trồng 2 hàng cây bản địa
+ Công thức đối chứng không trồng rừng (đất trống)
2.4 Giới hạn của đề tài
2.4.1 Về không gian
Đề tài chỉ nghiên cứu ở khu vực xung yếu vùng lòng hồ sông Đà nằm trên địa bàn xã Bình Thanh, huyện Cao Phong, tỉnh Hoà Bình Thuộc dự án Phục hồi rừng đầu nguồn tự nhiên bị suy thoái tại miền Bắc Việt Nam (RENFODA) do tổ chức JICA tài chợ
2.4.2 Về thời gian
Do thời gian điều tra còn ngắn nên đề tài chỉ có thể đánh giá được bước đầu hiệu quả của một số công thức sử dụng đất đến khả năng chống xói mòn, rửa trôi các chất dinh dưỡng trong đất từ năm 2004 - 2009
Trang 192.5 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp chung
Diê
Hình 2.1: Sơ đồ tổng quát các bước tiếp cận của đề tài
Nghiên cứu diễn biến một số yếu tố môi trường dưới tác động của các
về thảm thực vật rừng
Ảnh hưởng của các công thức
sử dụng đất đến dòng chảy
bề mặt
Ảnh hưởng của các công thức
Sử dụng đấtđến tính chất đất
Ảnh hưởng của các công thức sử dụng đất đến sự rửa trôi các chất dinh dưỡng trong nước
Ảnh hưởng của các công thức sử dụng đến lượng rơi rụng
Ảnh hưởng của các công thức
sử dụng đất đến xói mòn đất
Đề xuất một số giải pháp cải tạo và phục hồi rừng đầu nguồn vùng ven hồ
sông Đà Tổng hợp phân tích đánh giá ảnh hưởng của các công thức sử dụng đất
đến xói mòn đất
Trang 202.5.1 Phương pháp ngoại nghiệp (Phương pháp bố trí thí nghiệm và giải pháp kỹ thuật của dự án)
2.5.1.1 Đối Với nội dung 1
(1) Với công thức T2
- Trồng Keo lai (Acacia hybrid) và cây bản địa cùng một lúc (gồm
những loài cây như: Lim xanh (Erythrophleum fordii), Lim xẹt (Pentophorum
pterocarpum), Giẻ đỏ (Lithocarpus ducampii), Re gừng (Cinamomum obtusifolium), Sao đen (Hopea odorata) Diện tích 1,8 ha
- Mỗi công thức thí nghiệm được lặp lại 3 lần với diện tích 0,6 ha/ô, giữa các ô thí nghiệm được chừa 2m làm gianh giới
+ Giải pháp kỹ thuật
- Xử lý thực bì: Phát dọn thực bì toàn diện, xếp dọn thực bì đã phát thành từng giải theo đường đồng mức (giữa 2 hàng cây)
- Làm đất: làm đất theo phương thức cục bộ, đào và lấp hố trước khi trồng 1 tháng, kích thước hố trồng keo là 40 x 40 x 40 cm, hố trồng cây bản địa có kích thước 50 x 50 x 50 cm
- Mật độ trồng: Keo lai 830 cây/ ha (6 x 2m) Cây bản địa 660 cây/ ha trồng xen giữa 2 hàng Keo (6 x 2,5m)
Các loài cây trồng trên có tiêu chuẩn như sau:
- Keo: được gieo từ hạt trong bầu PE , có chiều cao H 0,4m, Do 0,4
cm, cân đối, sinh lực tốt không sâu bệnh
- Cây bản địa: được giao từ hạt trong bầu PE, cây con đạt trên 20 tháng tuổi với H 0,6 - 0,75 m, Do 0,5 – 0,7 cm, cân đối, sinh lực tốt không sâu bệnh
- Thời vụ trồng vào vụ xuân hè (tháng 5 - 6)
- Bón phân: bón lót 200g phân vi sinh sông gianh và 200g NPK 5:10:3/
hố Bón thúc 150g NPK 5:10:3
+ Chăm sóc:
Trang 21+ Năm thứ nhất chăm sóc 2 lần, lần 1 vào tháng 6 - 7 và tháng 10 - 11 + Năm thứ 2 + 3 chăm sóc 3 lần vào các tháng 3 - 4, 7 - 8, 10 - 11 + Năm thứ 4 + 5 chăm sóc 2 lần vào các tháng 3 - 4, 9 - 10 với nội dung: Luỗng phát dây leo, bụi rậm, đánh gốc Lau, Chít, Chè vè, xới cỏ, vun gốc, bón phân
- Theo dõi thu thập số liệu định kỳ một năm 2 lần vào tháng 6 và tháng 12
(2) Với công thức T3 và T4
- Công thức T3: Trồng cây bản địa (cây mục đích) xen cây Cốt khí (cây phù trợ) gồm có 5 loài là: Lim xanh, Lim xẹt, Giẻ đỏ, Re hương, Sao đen và cây cốt khí
- Công thức T4: Trồng cây bản địa thuần loài gồm 5 loài: Lim xanh, Lim xẹt, Giẻ đỏ, Re hương, Sao đen
- Công thức thí nghiệm được bố trí lặp lại 3 lần theo khối ngẫu nhiên đầy đủ, trong mỗi khối chọn được sự đồng nhất tương đối về điều kiện lập địa Mỗi ô thí nghiệm có diện tích 0.6 ha, các ô được bố trí theo phương pháp bốc thăm ngẫu nhiên, tổng diện tích xây dựng mô hình 2 công thức T3 và T4
- Mật độ trồng: Công thức T3: Cây bản địa (cây mục đích) 1000 cây/ha (4 x 2.5m) Cốt khí được gieo từ hạt với số lượng 60kg/ha Công thức T4: Cây bản địa (cây mục đích) 1100 cây/ha (3 x 3m)
- Phương thức trồng: Tạo các băng Cốt khí dọc theo đường đồng mức Giữa các băng Cốt khí trồng cây bản địa hỗn giao theo hàng
Trang 22- Tiêu chuẩn cây trồng:
- Hạt Cốt khí: Hạt mẩy, đều, không có mầm bệnh
- Cây bản địa: Được gieo từ hạt trong bầu PE loại 10 x15, từ 20 tháng tuổi trở lên, có H = 0,6 - 0,75m, D = 0,5 - 0,7cm trở lên (tuỳ theo từng loài cây cụ thể), cân đối, sinh lực tốt, không sâu bệnh
- Năm thứ nhất chăm sóc 2 lần, lần 1 vào tháng 6 - 7 và tháng 10 - 11
- Năm thứ 2 + 3 chăm sóc 3 lần vào các tháng 3 - 4, 7 - 8, 10 - 11
- Năm thứ 4 + 5 chăm sóc 2 lần vào các tháng 3 - 4, 9 - 10 với nội dung: Luỗng phát dây leo, bụi rậm, đánh gốc Lau, Chít, Chè vè, xới cỏ, vun gốc, bón phân
(3) Với công thức L1 và L2
L1: Trồng 1 hàng Luồng xen một hàng cây bản địa thuần loài
L2: Trồng 1 hàng Luồng xen 2 hàng cây bản địa hỗn giao theo hàng
Mô hình nghiên cứu có tổng diện tích là 1,5 ha và được trồng hỗn giao theo hàng Các công thức thí nghiệm được bố trí theo khối ngẫu nhiên đầy đủ với 3 lần lặp, mỗi lần lặp có diện tích 0,25 ha Loài cây được gây trồng gồm
có 4 loài gồm: Luồng Thanh Hóa (Dendrocalamus membranaceus), Lim xanh (Erythrophleum fordii), Giẻ đỏ (Lithocarpus ducampii) và Re hương (Cinamomum parthenoxylum) và các công thức được bố trí trồng như sau:
Trang 23- Công thức L2: Giữa hai hàng Luồng trồng 2 hàng cây bản địa Mật độ trồng cây Luồng là 150 hố/ha (Hàng cách hàng 13m, cây cách cây 5m) và trồng 2 cây/hố Mật độ trồng cây bản địa 513 cây/ha (Hàng cách hàng 3m, cây cách cây 3m)
+ Tiêu chuẩn cây trồng:
- Cây Luồng: được làm từ hom thân, có 12 tháng tuổi trở lên, có mầm
và rễ cấp 2, cân đối, sinh lực tốt, không sâu bệnh
- Cây bản địa: Được gieo từ hạt trong bầu PE loại 10x15 cm Cây con đạt trên 20 tháng tuổi với H = 0,6 - 0,75m, Do = 0,5 - 0,7 cm trở lên (tuỳ theo từng loài cây cụ thể), cân đối, sinh lực tốt, không sâu bệnh
+ Bón phân:
- Luồng: Mỗi hố bón lót 10 kg Vi sinh và 0,5 kg NPK
- Cây bản địa: Mỗi hố bón lót 3kg phân chuồng và 0,2 kg NPK
+ Kiểm tra, nghiệm thu và trồng dặm sau khi trồng một tháng
Trang 24+ Chăm sóc:
- Năm thứ nhất chăm sóc 2 lần, lần 1 vào tháng 8, lần 2 vào tháng 11 Nội dung chăm sóc gồm: luỗng phát dây leo, bụi rậm, đánh gốc Lau, Chít, xới cỏ vun gốc và bón phân
- Năm thứ 2, 3, 4 và 5 chăm sóc 3 lần, lần 1 vào tháng 3, lần 2 vào tháng 7 và chăm sóc lần 3 vào tháng 11 Nội dung chăm sóc gồm luỗng phát dây leo, bụi rậm, vun gốc và điều chỉnh không gian dinh dưỡng cho các loài cây sinh trưởng thông qua viêc điều tiết thảm thực bì
Thu thập số liệu sinh trưởng (phương pháp chung)
Trên mỗi ô thí nghiệm lập một ô tiêu chuẩn, tuỳ từng công thức thí nghiệm mà diện tích ô được lập khác nhau sao cho dung lượng đo đếm mỗi loài cây là 30 cây Các cây được đánh số thứ tự trong quá trình đo đếm và được quan sát thu thập số liệu hàng năm Các chỉ tiêu đo đếm là: Tỷ lệ sống (%), chỉ tiêu sinh trưởng (D0, Hvn), Chất lượng cây trồng, sâu bệnh hại
- Tỷ lệ sống được xác định bằng phương pháp đếm số cây chết trong ô tiêu chuẩn
- Đo đường kính gốc (D0): Dùng thước kẹp kính có độ chính xác đến (mm), đo theo hai chiều Đông tây và Nam bắc tại vị trí gốc, sau đó lấy trung bình giữa hai lần đo
- Đo chiều cao vút ngọn (Hvn): Dùng sào có khắc vạch chính xác đến (cm)
- Chất lượng cây trồng được xác định bằng phương pháp phân loại cây tốt, trung bình và cây xấu Chỉ tiêu phân loại dựa vào hình thái sinh trưởng và phát triển của các loài cây trong mô hình Cây tốt là cây sinh trưởng nhanh và
có hình thái phát triển cân đối, không bị sâu bệnh; Cây trung bình là cây sinh trưởng trung bình và có hình thái phát triển không cân đối, ít bị sâu bệnh; cây xấu là cây sinh trưởng kém, còi cọc
- Sâu bệnh hại được xác định thông qua việc giám định tại rừng bằng mắt thường và kính núp
Trang 25+ Đối với loài Luồng đo đếm số cây/khóm, chất lượng, tỷ lệ sống và chỉ đo sinh trưởng về đường kính và chiều cao cây thế hệ 2 (măng) do cây giống Luồng thế hệ 1 (cây mẹ) trước khi mang trồng đã bị phát ngọn nên ở thế hệ này cây không sinh trưởng và phát triển
- Theo dõi thu thập số liệu định kỳ một năm 2 lần vào tháng 6 và tháng 12
2.5.1.2 Đối với nội dung 2
- Điều tra trạng thái thực vật bằng phương pháp lập ô định vị với diện tích 1000m2 (40 x 25m) Các ô dạng bản được lập trong ô tiêu chuẩn điển hình với diện tích 16 m2 (4 x 4m), số lượng ô dạng bản là 5 ô Các ô dạng bản được
bố trí tại 4 góc và trung tâm ô tiêu chuẩn điển hình Sau đó ta tiến hành điều tra các chỉ tiêu như: Tên loài, độ che phủ, và tần số xuất hiện các loài mới
2.5.1.3.Đối với nội dung 3
- Số liệu xói mòn (lượng đất mất do xói mòn) được thu thập theo đợt mưa và căn cứ vào Trạm Khí tượng đặt tại Trạm Nghiên cứu môi trường và rừng phòng hộ sông Đà
- Lượng xói mòn thu thập dựa vào ô định vị có diện tích là 200m2 (10mx20m), được xây dựng bằng gạch cao 10cm, có tác dụng tránh lượng nước chảy từ ngoài vào Xung quanh thành ô được lát máng chống thấm nước Dưới ô định vị có hai bể hứng lượng mưa chảy từ ô định vị vào Trên
bể có đặt một đồng hồ đo nước Bể 1 có kích thước là 2mx1mx1m, Xung quanh thành bể được đặt 10 ống xả nước có tác dụng khi bể một tràn thì nước
sẽ tràn sang bể 2 Bể 2 có kích thước là 0,5m x 0,5m x 0,5m
- Khi thu thập số liệu, ta lấy hết lượng đất trên máng và trong bể lọc rồi đem cân Ngoài ra, tháo hết nước ở bể, để lắng đọng sau đó đem cân lượng đất lắng đọng đó Tổng lượng đất ở hai lần cân sẽ là lượng đất bị mất do xói mòn
2.5.1.4 Đối với nội dung 4
Trong mỗi ô định vị ta dùng phương pháp ghi chỉ số nước chảy qua đồng hồ đo nước lắp trên bể hứng Số liệu dòng chảy bề mặt theo đợt mưa chính là chỉ số cuối của đồng hồ ( chỉ số theo dõi lần trước) trừ đi chỉ số đầu
Trang 26(chỉ số tạm thời tại thời điểm theo dõi) Trong trường hợp cả đợt mưa có lượng mưa nhỏ hơn 50mm ta có thể coi như không có dòng chảy mặt và khi
đó chưa xảy ra hiện tượng xói mòn đất (Trần trung Thành, 2005)
2.5.1.5 Đối với nội dung 5
Điều tra đất cũng được thực hiện trên một số ô tiêu chuẩn điển hình tại mỗi công thức thí nghịêm Các chỉ tiêu điều tra đất được thực hiện trên phẫu diện đất Phẫu diện đất được chọn điển hình cho khu vực (về độ dốc, hiện trạng thực bì, độ che phủ )
Kích thước phẫu diện như sau: Rộng 0,8m, dài 1,5m, sâu từ 1,0- 1,2m tuỳ vào độ sâu tầng đất
Các chỉ tiêu thu thập gồm: Mô tả phẫu diện, màu sắc đất ở các tầng, độ chặt, độ ẩm, độ đá lẫn, tỷ lệ rễ
Lấy mẫu phân tích: Mẫu đất lấy ở 5 điểm khác nhau từ 0 - 10cm; 10 - 20cm; 20 - 30cm; 30 - 40cm; 40 - 50cm sau đó trộn đều các tầng với nhau Mẫu được cho vào túi nilon với trọng lượng là 0,7 kg/mẫu và ghi đầy đủ các thông tin địa điểm, thời gian lấy mẫu Mẫu đất lấy về được tiến hành phân tích tại phòng thí nghiệm của Trung tâm nghiên cứu sinh thái và Môi trường rừng
2.5.1.6 Đối với nội dung 6
- Trước khi lấy mẫu ở mỗi ô định vị ta phải khuấy đều nước ở trong bể, sau đó dùng chai nhựa có thể tích 0,5ml để lấy nước Mẫu thu được được phân tích tại phòng thí nghiệm Trung tâm nghiên cứu Sinh thái và Môi trường rừng - Viện khoa học lâm nghiệp Việt Nam
2.5.1.7 Đối với nội dung 7
Số liệu lượng rơi rụng thu thập dựa vào ô dạng bản với diện tích 1m2
(1m x 1m) Cứ 1 tháng ta tiến hành thu thập số liệu một lần bằng cách vơ toàn
bộ vật rơi rụng sau đó dùng cân để bàn để cân và đem về sấy bằng tủ sấy ở nhiệt độ 70oC trong 6 giờ
Trang 272.5.2 Phương pháp nội nghiệp
2.5.21 Phương pháp kế thừa tài liệu
- Kế thừa tài liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của xã Bình Thanh huyện Cao Phong tỉnh Hoà Bình
- Kế thừa các tài liệu đã có của dự án RENFODA về thiết kế thí nghiệm, các số liê ̣u thu thâ ̣p trong các năm trước đây, các báo cáo của dự án,
- Kế thừa số liệu về diễn biến tỷ lệ sống của các loài cây trong mô hình
2.5.2.2.Phương pháp xử lý số liệu
Sau khi điều tra đo đếm ngoài thực địa, xử lý số liệu trên máy tính thông dụng với sự hỗ trợ của của phần mềm Exel 5.0 và sử dụng phần mềm SPSS để xử lý số liệu và tính toán giá trị trung bình của đường kính gốc, chiều cao vút ngọn, đường kính tán
Bước tiếp theo của việc xử lý số liệu ta tính:
- Tỷ lệ sống của các loài cây bản địa được tính theo công thức sau:
X% =
N
n
*100 Trong đó: X% là tỷ lệ sống của loài cây
n là số cây sống của mỗi loài trong tổng các loài cây đo đếm
N là tổng số cây trồng ban đầu của mỗi loài trong tổng các loài cây đo đếm
- Tính các giá trị trung bình của đường kính gốc, chiều cao vút ngọn và đường kính tán
- Lượng tăng trưởng bình quân năm (t) của các loài cây trồng tính theo công thức: T =
a
t
t a o
, Với ta là nhân tố sinh trưởng tại tuổi a, to là nhân
tố sinh trưởng lúc mới trồng
- Sử dụng phần mềm SPSS (dùng phương pháp phân tích phương sai để
So sánh sinh trưởng các loài cây giữa các công thức thí nghiệm với nhau) Kết quả so sánh nếu Sig > 0,05 thì không có sự sai khác giữa các công thức thí nghiệm Nếu Sig < 0,05 thì giữa các công thức có sự sai khác
Trang 28Phương pháp phân tích lý hoá tính đất cụ thể như sau:
- Độ ẩm: Sấy 105oC trong 6 giờ
- Dung trọng: Dùng ống đóng ống có V = 100cm3
- Thành phần cơ giới: theo 3 cấp (cát, thịt, sét) của Mỹ
- Mùn tổng số: theo Walkley & Black
- Đạm tổng số: theo Kjendal
- pH của đất: Dùng pH met M25 của Đức
- Đạm thuỷ phân: Kapen
- AL+3 và H+: Socolov
- Ca, Mg trao đổi: Đẩy bằng clorua natri chuẩn độ bằng Triron B
- P2O5 dễ tiêu: Theo Bray 2
- K2O dễ tiêu: Maslova và đo trên quang kế ngọn lửa
Phương pháp phân tích mẫu nước cụ thể như sau:
CScuối: Chỉ số cuối của đồng hồ
CSđầu: Chỉ số đầu của đồng hồ
200: Diện tích ô định vị đo đếm xói mòn 10000: Diện tích tính cho 1 ha
Trang 29Chương 3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI
KHU VỰC NGHIÊN CỨU
3.1 Vài nét về đă ̣c điểm khu vực phòng hộ Sông Đà và thủy điện Hoà Bình
Khu phòng hộ sông Đà đã được thành lập trên phạm vi 3 tỉnh Tây Bắc
là Lai Châu, Sơn La và Hoà Bình, trong đó diện tích lưu vực Sông Đà tại Hòa Bình là 159.860 ha
Theo Quyết định số 219-CT thì vùng kinh tế phòng hộ xung yếu ven hồ Hoà Bình gồm 2 dải đất chạy dọc ven hồ có chiều dài 200 km tính từ đập chính công trình thuỷ điện Hoà Bình đến Tạ Bú (Sơn La), chiều rộng mỗi dải bình quân 2 km tính từ mép nước hồ lên Phạm vi đất đai vùng dự án đầu tư xây dựng vùng kinh tế phòng hộ xung yếu ven hồ Hoà Bình nằm trong địa phận các huyện: Đà Bắc, Tân Lạc, Cao Phong, Mai Châu, thành phố Hoà Bình (tỉnh Hoà Bình) và các huyện: Mường La, Mai Sơn, Bắc Yên, Mộc Châu, Phù Yên (tỉnh Sơn La)
Vùng phòng hộ sông Đà tỉnh Hoà Bình bao gồm 20 xã thuộc 4 huyện
và thành phố Hoà Bình với tổng diện tích tự nhiên là 70.619 ha, trong đó:
- Huyện Đà Bắc có 12 xã với diện tích 46.899 ha gồm các xã: Đồng Nghê, Suối Nánh, Mường Tuổng, Mường Chiềng, Đồng Chum, Đồng Ruộng, Yên Hoà, Tân Dân, Tiền Phong, Vầy Nưa, Hiền Lương, Toàn Sơn
- Huyện Mai Châu có 3 xã là Tân Mai, Phúc Sạn, Ba Khan với tổng diện tích là 8.764 ha
- Huyện Tân Lạc có 2 xã là Trung Hoà và Ngòi Hoa với diện tích 7.182 ha
- Huyện Cao Phong có 2 xã là Bình Thanh, Thung Nai, diện tích 6.162 ha
- Thành phố Hoà Bình có 1 xã là Thái Thịnh với diện tích 1.630 ha
Trang 30Ba ̉ ng 3.1: Diê ̣n tích các loại đất vùng xung yếu sông Đà tỉnh Hòa Bình
Huyện,
xã
Tổng diện tích (ha)
Loại đất ( ha) Đất nông
nghiệp
Đất ở và vườn tạp
Đất chuyên dùng
Đất chưa
sử dụng
Đất lâm nghiê ̣p
V TP Hoà Bình 1630,0 22,7 27,8 635,5 67,1 876,9
1 Thái Thịnh 1630,0 22,7 27,8 635,5 67,1 876,9
(Nguồn: Đoàn điều tra quy hoạch rừng Hòa Bình, 2007)
Chi tiết diện tích các loa ̣i đất vùng phòng hô ̣ xung yếu sông Đà tỉnh
Hò a Bình được trình bày ở bảng 3.1
Trang 31Diện tích rừng tự nhiên hiê ̣n có ở khu vực này chủ yếu là ở tra ̣ng thái nghèo, rừng đã qua khai thác kiê ̣t và hiê ̣n nay đang ở trong giai đoa ̣n phu ̣c hồi khác nhau, các tra ̣ng thái rừng chủ yếu là IIA, IIB và IIIA1 Mô ̣t số diê ̣n tích
là rừng nứa phân bố chủ yếu ven khe suối, tập trung ở các xã Đồng Chum, Vầy Nưa, Toàn Sơn, Hiền Lương, Tân Mai, Bình Thanh Rừng hỗn giao gỗ nứa, nứa gỗ: Nguồn gốc phát sinh chủ yếu là rừng phục hồi sau nương rẫy hoặc rừng gỗ bị khai thác kiệt, phân bố trong hầu khắp các xã Diê ̣n tích rừng trồ ng chủ yếu là luồng trồng thuần loài hoă ̣c trồng hỗn giao với mô ̣t số loài cây khác như Lát hoa, các loa ̣i Keo, Muồng đen, nhưng diê ̣n tích không nhiều
3.2 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu
3.2.1 Điều kiện tự nhiên
Về mặt địa giới: + Phía Bắc giáp xã Thái Bình và xã Vầy Nưa
+ Phía Nam giáp xã Thung Nai và xã Bắc Phong + Phía Đông giáp xã Thái Bình
+ Phía Tây giáp xã Thung Nai
3.2.1.2 Địa hình
Khu vực nghiên cứu thuộc kiểu địa hình đồi núi thấp, nằm gọn trong 2 dãy núi chính theo hướng Đông - Tây, độ cao trung bình khoảng 360 m, cao nhất là đỉnh Ông Ngoa (558 m), thấp nhất là vùng tiếp giáp với mép nước lòng hồ Hòa Bình (120 m) Độ dốc tương đối lớn, trung bình từ 16 - 250, có nơi dốc đứng ở vách các núi đá Tuy địa hình ít bị chia cắt nhưng do độ dốc lớn, đặc biệt là phần phía Tây xã nên có ảnh hưởng rất lớn đến tổ chức sản
Trang 32xuất kinh doanh trên địa bàn, đặc biệt là canh tác nông nghiệp Về mùa mưa thường xảy ra xói mòn và rửa trôi đất, gây ảnh hưởng trực tiếp đến lòng hồ
3.2.1.3 Khí hậu
Hoà Bình là tỉnh có đặc thù khí hậu bị chia cắt thành nhiều tiểu vùng khác nhau, nên có cả tính khí hậu của vùng núi, vùng trung du và đồng bằng Diễn biến thời tiết, khí hậu không theo quy luật chung của vùng nào cụ thể mà tuỳ theo thời gian trong năm có thể biến đổi theo xu thế của vùng Tây Bắc, Đông Bắc và Trung Du hoặc đồng bằng Bắc Bộ
Do vị trí địa lý và điều kiện địa hình nên khí hậu xã Bình Thanh mang tính chất nhiệt đới vùng lòng hồ, chịu ảnh hưởng của gió mùa Tây Bắc và gió Tây Nam, ảnh hưởng của bão không đáng kể
Kết quả quan trắc khí tượng của trạm khí tượng tỉnh Hòa Bình cho thấy:
- Nhiệt độ không khí trung bình 22,50; nhiệt độ mùa hè ít thay đổi; cao nhất vào tháng 6 (40,70C) và thấp nhất vào tháng 1 (140C)
- Độ ẩm không khí từ 80 - 95%
- Lượng mưa hàng năm ít thay đổi và dao động trên dưới 1900 mm, mùa mưa tập trung từ tháng 4 đến tháng 10, chiếm 70% tổng lượng mưa cả năm
- Lượng bốc hơi bình quân năm từ 520 - 900 mm
Nhìn chung, điều kiện khí hậu ở đây rất phù hợp cho sinh trưởng và phát triển của nhiều loài cây trồng nông, lâm, công nghiệp và cây ăn quả
3.2.1.4 Sông suối, thủy văn
Xã Bình Thanh nằm ở phía tả ngạn Sông Đà - đường thuỷ nối liền xã với lòng hồ Hòa Bình Trong phạm vi xã không có sông suối lớn nhưng do tiếp giáp với mép nước sông Đà nên mực nước ngầm tương đối cao, rất thuận tiện cho sản xuất nông nghiệp và cung cấp nước sinh hoạt Do địa hình dốc mạnh nên hệ thống suối nhỏ trên địa bàn xã không có khả năng giữ nước quanh năm, vì vậy việc phát triển thuỷ lợi, thuỷ điện rất hạn chế
Trang 333.2.1.5 Địa chất, thổ nhưỡng
Theo kết quả điều tra của trường Đại học Lâm nghiệp cho thấy trên địa bàn xã loại đất phổ biến nhất là đất feralit phát triển trên đá mácma Bazơ và trung tính Loại đất này thường có tầng dày, thành phần cơ giới từ thịt nặng đến sét trung bình, tỉ lệ đá lẫn ít Các loại đất feralit trên sản phẩm dốc tụ của
đá vôi, đất trên đá vôi của địa hình karstơ, chiếm một tỉ lệ ít, phân bố chủ yếu ở độ cao dưới 170 m, phân bố ở chân dốc, ven suối, độ dốc thấp, đất tương đối màu mỡ Nói chung, đất đai trong khu vực còn tốt, phù hợp cho việc phát triển cây lâm nghiệp, cây lương thực, ăn quả và cây công nghiệp
3.2.1.6 Tài nguyên rừng
Bình Thanh trước đây vốn là một xã có diện tích rừng tương đối lớn so với tổng diện tích tự nhiên, độ che phủ chiếm tới 85%, trữ lượng lớn, chất lượng chủng loại tốt và tập trung, trước năm 1987 nhân dân trong xã chủ yếu tập trung vào việc khai thác gỗ và các lâm sản khác mà không chú ý đến quản
lý, bảo vệ và xây dựng, phát triển vốn rừng Chính vì lẽ đó mà tài nguyên rừng bị phá hoại nghiêm trọng, quần thể thực vật rừng vốn rất phong phú trước kia như các loại họ Xoan, Giẻ, Bồ đề, Dầu, Tre, Nứa, nay chỉ còn lại chủ yếu là rừng tre nứa nhỏ và cây ưa sáng mọc nhanh không có giá trị cao
- Trên toàn xã hiện không còn rừng kín và rừng trung bình
- Rừng thưa cây gỗ và rừng non phục hồi còn lại rất ít với tổ thành chủ yếu là các loài cây ưa sáng, giá trị kinh tế thấp như Nanh chuột, Chấu, Ngát,
Cà ổi, Vàng chanh, Sung, Giẻ các loại, Gội gác, Xoan đào, Lim xẹt,
- Rừng núi đá chủ yếu là các lùm cây bụi, dây leo, rải rác còn sót lại một số cây gỗ quý như Chò chỉ, Trai, Nghiến, với số lượng không đáng kể
- Diện tích rừng trồng một vài năm gần đây cũng đã tăng lên nhưng các loài cây trồng cũng chủ yếu là Bạch đàn, Keo tai tượng và gần đây là Luồng Các loài cây bản địa như Lát hoa, Giổi, Trám, Sấu, chưa được gây trồng trên diện rộng, hiện mới chỉ có các mô hình nghiên cứu thử nghiệm
Trang 343.2.2 Điều kiê ̣n kinh tế - xã hội
3.2.2.1 Những tác động của hồ chứa Hoà Bình tới đời sống kinh tế - xã hội
và môi trường vùng ven hồ
Việc đắp đập ngăn sông Đà, xây dựng hồ chứa Hoà Bình làm ngập những vùng đất thấp ven sông đã gây nên những tổn thất lớn về tài nguyên trong vùng: 813,1 ha rừng gỗ; 795,71 ha rừng tre nứa và một lượng đáng kể các thảm cỏ, thảm thực vật khác đều bị ngập Hơn 1.608 ha lúa hai vụ, 1.341
ha lúa một vụ và hàng nghìn ha hoa mầu, cây ăn quả bị vĩnh viễn ngập chìm dưới nước đồng thời nhiều động vật quý hiếm bị mất đi Một số cơ sở hạ tầng khác bị chìm dưới nước như: 107.308 m2 nhà ở, 156 đập nước và hồ thuỷ lợi,
153 km kênh mương, 655 km đường ô tô, 30 km đường dây điện thoại
Tác động trực tiếp của hồ chứa là làm thay đổi toàn bộ hệ sinh thái, ảnh hưởng đến đời sống và các hoạt động kinh tế - xã hội trong vùng Do vùng đất màu mỡ ven sông bị ngập vì vậy gần 50.000 dân (8.451 hộ) thuộc 2 tỉnh Hoà Bình và Sơn La phải di chuyển đi xây dựng nơi ở mới Điều này đã gây nên một sự xáo trộn trong đời sống của người dân, không những chỉ có chỗ ở mà còn kéo theo cả diện tích đất và phương thức canh tác
3.2.2.2 Dân số, dân tộc và lao động
- Dân số: Tổng dân số trên địa bàn xã là 2.271 người, trong đó:
+ Phân theo giới tính: Nam: 1.122 người, chiếm 49% dân số; Nữ: 1.150 người, chiếm 51% dân số
+ Phân theo dân tộc: Kinh: 117 người, chiếm 5% dân số; Mường: 1.953 người, chiếm 86% dân số; Dao: 202 người, chiếm 5% dân số
Tỷ lệ phát triển dân số toàn xã bình quân 1,2% Đây là một chỉ số tương đối thấp do bà con đã thực hiện tốt công tác kế hoạch hoá gia đình
- Dân tộc: Trên địa bàn xã hiện có 3 dân tộc chính là Mường, Dao và Kinh
- Lao động: Tổng số lao động toàn xã là 1.173 người, chiếm 52% dân
số Lực lượng lao động chủ yếu là sản xuất nông lâm nghiệp chiếm 95% và lao động khác chiếm 5% số lao động
Trang 35Số liệu điều tra tháng 2 năm 2004 cho thấy: trên toàn xã hiện có 515 hộ gia đình sinh sống trên 7 xóm, với 2.272 khẩu, trung bình 4-5 khẩu/hộ Số lao động là 1.173 người (chiếm 52% tổng dân số toàn xã), tuy nhiên tiềm năng lao động này chưa được sử dụng và khai thác hợp lý, bình quân mỗi năm một lao động chỉ trực tiếp sản xuất khoảng 100 - 150 ngày công Do vậy, hiện tượng dôi thừa lao động diễn ra khá phổ biến đặc biệt là vào những lúc nông nhàn
Thu nhập của người dân địa phương còn thấp, chủ yếu từ canh tác trên đất nương rẫy và từ chăn nuôi lợn, gà, trâu, bò; thu nhập từ kinh tế vườn không đáng kể; nghề phụ đơn giản và ít, thu nhập không cao; số hộ đói nghèo của xã lên tới 41%
3.2.2.3 Kết cấu cơ sở hạ tầng
Giao thông: Trong xã có tuyến đường giao thông 435 dài 6 km, rải nhựa,
chất lượng tốt, chạy qua địa bàn 6 thôn trong xã, trong xã còn có hệ thống đường liên xóm dài 13,5 km đi qua 7 thôn Ngoài ra, trên địa bàn còn có hệ thống đường thuỷ là hồ thuỷ điện Hoà Bình rất thuận lợi cho vận chuyển bằng đường thuỷ của nhân dân
Thuỷ lợi: Trên toàn xã có 5 công trình thuỷ lợi xây dựng từ lâu, chỉ đáp ứng
yêu cầu cung cấp nước tưới tiêu diện tích đất canh tác cho khoảng 200 hộ dân
Giáo dục: Cả xã có một trường phổ thông cơ sở xây dựng kiên cố từ năm
2002, có 4 trường tiểu học ở 4 thôn (Thôn Tráng, Lòn, Cáp, Mỗ) và 4 trường mầm non Với 262 học sinh tiểu học, 226 học sinh phổ thông cơ sở, 76 học sinh mầm non với tổng số giáo viên là 50 người Nhìn chung hệ thống trường lớp đã đảm bảo nhu cầu phục vụ học tập cho các cháu trong độ tuổi đến trường
3.3 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội xã Bình Thanh
Thuâ ̣n lợi
- Điều kiện tự nhiên xã có vị trí thuận lợi hơn so với các xã trong huyện Cao Phong, có trục đường 435 nối với thị xã Hoà Bình Tài nguyên đất đai tương đối tốt, thích nghi với cây trồng nông lâm nghiệp, nhất là đối với cây
Trang 36bản đi ̣a và nhóm cây thuô ̣c họ tre nứa như Luồng,… Điều kiện khí hậu thời tiết thuận lợi cho sinh trưởng và phát triển của thực vật
- Điều kiện dân sinh, kinh tế - xã hội có nhiều thuận lợi, cơ sở hạ tầng như điện, đường, trường, trạm tương đối đầy đủ đảm bảo phục vụ nhu cầu phúc lợi của nhân dân trong địa bàn
- Các hoạt động sản xuất nông lâm nghiệp đã có nhiều tiến bộ, bà con định canh định cư, sản xuất lương thực và chăn nuôi đã biết áp dụng tiến bộ khoa học
kỹ thuật Sản xuất nghề rừng đã chuyển hướng theo mô hình lâm nghiệp xã hội, công tác giao đất khoán rừng, quản lý bảo vệ rừng được chú trọng hạn chế được nạn chặt phá rừng làm nương rẫy, khai thác lâm sản trái phép
Khó khăn
- Địa hình trong khu vực khá phức tạp, độ dốc lớn nên ảnh hưởng nhiều đến tổ chức sản xuất kinh doanh, đặc biệt là tổ chức sản xuất nông lâm nghiệp, vào mùa mưa thường xảy ra xói mòn và rửa trôi mạnh, làm giảm độ phì đất
- Trình độ dân trí thấp, chủ yếu là dân tộc Mường chiếm 80%, phân bố không tập trung, nên chuyển giao khoa học kỹ thuật khó khăn Mặt khác, còn tồn tại tập quán canh tác nương rẫy nên vẫn gây áp lực lên tài nguyên rừng
- Canh tác chủ yếu là quảng canh, năng suất thấp nên thu nhập không cao, chủ yếu là sản xuất theo kiểu tự cung tự cấp, chưa phát triển sản xuất hàng hoá, sống dựa vào nguồn tài nguyên tại chỗ, đời sống còn nhiều khó khăn
- Đất canh tác thiếu nên không đảm bảo an toàn lương thực, dân số thì đông, đời sống bà con không ổn định và thực tế hiện nay đang đặt ra rất nhiều vấn đề cần phải giải quyết
Từ những phân tích về khó khăn và thuận lợi trên đây chúng ta thấy xã Bình Thanh có điều kiện để phát triển lâm nghiệp, đặc biệt là rừng phòng hộ đầu nguồn Viê ̣c nghiên cứu thành công kỹ thuật xây dựng rừng phòng hộ có ý nghĩa to lớn không chỉ đối với vùng lòng hồ Hoà Bình mà còn mở ra khả năng ứng dụng cho cả các vùng khác có điều kiê ̣n tượng tự .
Trang 38Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 Tình hình sinh trưởng của cây rừng tại các công thức thí nghiệm
Re gừng 82,2 92,7 92,5 91,1 88,9 88,5 Sao đen 82,2 97,2 96,6 96,3 94,4 94,4
T3
(cây phù
trợ Cốt khí)
Lim xanh 93,7 100 97,8 96,7 96,7 96,3 Lim xẹt 91,0 100 98,9 97,8 97,2 96,3 Giẻ đỏ 95,0 93,6 79,3 75,6 75,0 75,0
Re gừng 96,5 96 90,4 88,9 87,8 87,2 Sao đen 93,6 100 100 98,9 97,8 97,5
Re gừng 83,7 98,9 98,9 94,4 91,1 90,7 Sao đen 97,8 97,0 97,0 96,5 96,3 95,8 L1
(1 Luồng x
1bản địa )
Lim xanh 85,0 98,2 96,7 92,9 91,0 91,0 Giẻ đỏ 70,0 98,8 82,0 80,0 73,6 73,0
Re gừng 72,0 93,2 92,7 88,0 87,8 85,5 L2
(1 Luồng x
2 bản địa )
Lim xanh 84,3 90,3 86,7 85,8 85,2 82,2 Giẻ đỏ 80,5 78,9 78,3 77,9 72,0 72,0
Re gừng 78,0 84,2 72,7 71,5 71,3 71,3
Trang 39Qua điều tra cho thấy hiện nay loài Keo lai trong công thức T2 trồng cây Keo lai làm cây phù trợ còn rất ít nhưng do sinh trưởng nhanh nên loài cây này đang có xu hướng lấn áp về không gian dinh dưỡng các loài cây trồng bản địa trồng dưới tán do vậy nó có ảnh hưởng rất lớn đến sự sinh trưởng và phát triển của cây bản địa Ngoài ra ở công thức L1 và L2 tỷ lệ sống của cây Luồng là kém hơn so với các loài cây khác
Từ số liê ̣u bảng 4.1 cho thấy trong năm đầu các loài cây bản địa có tỷ lệ sống cao, phần lớn đều đạt trên 80%, chỉ có loài Giẻ đỏ có tỷ lệ sống thấp hơn (công thức trồng cây phù trợ Keo lai T2 chỉ đạt 67,7%) Vào đầu vụ xuân năm sau, mô hình được bổ sung trồng dặm nên tỷ lệ sống của các loài cây được tăng lên, nhiều loài cây có tỷ lệ sống cao như: Lim xẹt, Sao đen ở công thức T3 trồng cây phù trợ Cốt khí đạt 100%
Qua điều tra thực tế tháng 12 năm 2009 cho thấy tỷ lệ sống hiện tại của các loài trong mô hình tại tuổi 6 đều đạt trên 71%, loài cây có tỷ lệ sống cao nhất
là Sao đen đạt 97,5% ở công thức T3 cây phù trợ Cốt khí, sau đó đến loài Lim xanh đạt 96,3% ở các công thức T3 cây phù trợ Cốt khí và T4 không có cây phù trợ, tiếp đến là các loài Lim xẹt, Re gừng và Giẻ đỏ Các loài cây khác nhau với đặc điểm sinh thái khác nhau sẽ thích nghi với điều kiện môi trường sống khác nhau nên khi chúng được trồng ở điều kiện đồng nhất thì sẽ có sự chênh lệch về
tỷ lệ sống
Tại công thức T2 tỷ lệ sống cao nhất là loài cây Sao đen đạt 94,4% và thấp nhất là loài Giẻ đỏ đạt 73,1% Với công thức T3 trồng cây bản địa xen Cốt khí tỷ
lệ sống các loài khá cao, tỷ lệ sống cao nhất là loài Sao đen đạt 97,5% tiếp đến là
hai loài Lim xanh và Lim xẹt đều đạt 96,3%, Re gừng là 87,2% và Giẻ đỏ là 75%
Ở công thức T4 trồng cây bản địa thuần loài, Lim xanh có tỷ lệ sống đạt cao nhất
Trang 40là 96,3%, tiếp đến là Sao đen đạt 95,8%, Re gừng đạt 90,7%, Lim xẹt đạt 82% và thấp nhất vẫn là Giẻ đỏ chỉ đạt 78,5% Với công thức L1 trồng cây bản địa xen 1 hàng Luồng tỷ lệ sống của loài cây Lim xanh là cao nhất đạt 91%, tiếp đó là loài Re gừng đạt 85,5% và thấp nhất là loài Giẻ đỏ chỉ đạt 73% Ở công thức L2 trồng 2 hàng cây bản địa xen với 1 hàng Luồng tỷ lệ sống cao nhất vẫn là loài Lim xanh, tiếp đó đến loài Re gừng và thấp nhất vẫn là loài Giẻ đỏ Tương ứng với tỷ lệ sống lần lượt là: 82,2%, 72,% và 71,3%
Tỷ lệ sống của các loài cây trồng tại tuổi 6 của các công thức thí nghiệm được thể hiện rõ hơn thông qua biểu đồ dưới đây
Re gừng Sao đen
Hình 4.1: Biểu đồ diễn biến tỷ lệ sống của các loài trong từng công thức
Biểu đồ trên thể hiện tỷ lệ sống của các loài cây bản địa tại tuổi 6, nhìn chung tỷ lệ sống của các loài cây bản địa khá cao, thể hiện sức sống của chúng
rất tốt và bước đầu cho thấy sự thành công của mô hình
4.1.2 Chất lượng các loài cây trồng trong các công thức thí nghiệm
Chất lượng các loài cây trồng được đánh giá theo 3 cấp: tốt, trung bình và xấu Chất lượng cây trồng trong mô hình được thống kê tại bảng 4.2