Ở Việt Nam, rừng cộng đồng đã tồn tại lâu đời, gắn liền với sự sinh tồn của cộng đồng dân cư sống dựa vào rừng, cùng với việc thực hiện chính sách giao khoán rừng và đất lâm nghiệp tron
Trang 1-
VŨ QUANG HƯNG
LẬP KẾ HOẠCH QUẢN LÝ RỪNG; XÂY DỰNG QUY ƯỚC VÀ QUY
CHẾ QUẢN LÝ QUỸ BẢO VỆ PHÁT TRIỂN RỪNG CHO CỘNG ĐỒNG
TẠI XÃ CÔNG SƠN - HUYỆN CAO LỘC - TỈNH LẠNG SƠN
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
HÀ NỘI, 2010
Trang 2-
VŨ QUANG HƯNG
LẬP KẾ HOẠCH QUẢN LÝ RỪNG; XÂY DỰNG QUY ƯỚC VÀ QUY
CHẾ QUẢN LÝ QUỸ BẢO VỆ PHÁT TRIỂN RỪNG CHO CỘNG ĐỒNG
TẠI XÃ CÔNG SƠN - HUYỆN CAO LỘC - TỈNH LẠNG SƠN
Trang 3ĐẶT VẤN ĐỀ
Quản lý tài nguyên rừng và đất rừng dựa vào cộng đồng là một phương thức quản lý rừng dựa vào kiến thức kinh nghiệm truyền thống và nguyện vọng của cộng đồng, hướng đến việc nâng cao năng lực và tăng cường sự hợp tác chia sẻ kinh nghiệm cho cộng đồng và bên liên quan nhằm quản lý các nguồn tài nguyên bền vững và góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, văn hoá của các cộng đồng
dân tộc sống trong và gần rừng
Thời gian trước đây dân số ít, nhu cầu sinh kế của người dân chưa lớn, chưa
đa dạng vì thế nguồn tài nguyên rừng về cơ bản có thể đáp ứng được Bên cạnh đó, trong các cộng đồng dân tộc thiểu số việc quản lý tài nguyên rừng có sự trợ giúp đắc lực của các định chế, luật tục truyền thống trong cộng đồng và trong một thời gian dài trước đây chúng đã phát huy hiệu quả tốt do vậy mà tài nguyên rừng được bảo vệ một cách tương đối tốt Nhưng hiện nay, nhu cầu của người dân tăng cao, sự phát triển mạnh về dân số, vấn đề di dân tự do, khai phá đất rừng trồng cây công nghiệp đã làm suy giảm cả về số lượng và chất lượng tài nguyên rừng Chính điều
đó đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường sống, đến nhận thức, cách đối xử của người dân với tài nguyên rừng
Theo quyết định số 106/2006/QĐ – BNN về việc ban hành bản hướng dẫn quản lý rừng cộng đồng dân cư thôn thì khái niệm Rừng cộng đồng được hiểu là rừng được Nhà nước giao cho cộng đồng dân cư thôn để sử dụng rừng ổn định, lâu dài vào mục đích lâm nghiệp
Ở Việt Nam, rừng cộng đồng đã tồn tại lâu đời, gắn liền với sự sinh tồn của
cộng đồng dân cư sống dựa vào rừng, cùng với việc thực hiện chính sách giao khoán rừng và đất lâm nghiệp trong một vài năm gần đây cộng đồng dân cư đã thực
sự trở thành người chủ rừng và từ đó đã nâng cao được ý thức bảo vệ rừng để sử dụng hợp lý nhằm đóng góp cho việc nâng cao đời sống của chính những người dân nơi đây
Trang 4Tuy nhiên trên thực tế có nhiều địa phương sau khi cộng đồng được giao đất giao rừng nhiều năm mà vẫn không hề có các biện pháp quản lý bảo vệ hay tác động nào đề phát triển rừng hay sử dụng rừng một cách hợp lý và bền vững Do đó, nguồn tài nguyên rừng vẫn tiếp tục bị suy giảm và chưa trở thành nguồn lực đóng góp cho mục tiêu xóa đói giảm nghèo tại địa phương
Nguyên nhân chủ yếu của tình trạng này ngoài lý do nội lực của cộng đồng còn hạn chế thì việc thiếu những hướng dẫn quản lý rừng cho cộng đồng sau khi giao, không giúp họ lập được kế hoạch quản lý, xây dựng được quy ước Bảo vệ và phát triển rừng và thiết lập được quỹ Bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng của thôn thì cộng đồng dân cư thôn sau khi nhận đất sẽ lúng túng và không thực hiện được mục tiêu giao rừng cho cộng đồng của Nhà nước đó là: quản lý bền vững tài nguyên rừng và góp phần cải thiện cuộc sống cho người dân
Để góp phần xây dựng những tài liệu nhằm hướng dẫn các hoạt động trên tôi
tiến hành thực hiện đề tài: “Lập kế hoạch quản lý rừng, xây dựng Quy ước và Quy
chế quản lý Quỹ bảo vệ và phát triển rừng cho cộng đồng ta ̣i xã Công Sơn huyện Cao Lộc tỉnh Lạng Sơn” Vấn đề nghiên cứu này được triển khai trên địa bàn rừng
cộng đồng của ba thôn đã được huyện Cao Lộc giao rừng gắn với đất lâm nghiệp để
quản lý là Đông Chắn, Lục Bó và Pắc Đây
Trang 5Khái niệm cộng đồng thường được hiểu là nhóm người sống trên cùng một khu vực, và thường cùng nhau chia sẽ các mục tiêu chung, các luật lệ xã hội chung
có thể có quan hệ gia đình với nhau (D'arcy Davis Case, 1990) Còn quản lý tài nguyên trên cơ sở cộng đồng là quản lý tài nguyên mà trong đó phát huy được năng lực nội sinh của cộng đồng cho hoạt động quản lý Những giải pháp quản lý tài nguyên trên cơ sở cộng đồng luôn chứa đựng những sắc thái của phong tục, tập quán, ý thức tôn giáo, nhận thức, kiến thức của người dân, đặc điểm quan hệ gia đình, họ hàng, làng xóm, của chính sách, luật pháp v.v Trong khi các nước công nghiệp phát triển đề cao vai trò của cá nhân, thì các nước đang phát triển mà đặc biệt
là ở vùng Châu á - Thái Bình Dương, gia đình và cộng đồng được đánh giá cao Trong nhiều trường hợp, quản lý tài nguyên thiên nhiên trên cơ sở cộng đồng đã đem lại những hiệu quả to lớn cho phát triển kinh tế xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái
Don Gilmour và Fischer [10] cho rằng quản lý rừng cộng đồng là các hoạt động kiểm soát và quản lý các nguồn tài nguyên rừng do người dân địa phương thực hiện, những người này sử dụng chúng cho các mục đích của cộng đồng và nó là một
bộ phận hữu cơ của hệ thống canh tác
Quản lý rừng trên cơ sở cộng đồng đó là hình thức quản lý các diện tích rừng của Nhà nước giao cho cộng đồng quản lý
Trang 6Hình thức quản lý rừng cộng đồng đã xuất hiện từ rất lâu trong quá trình sản xuất nông lâm nghiệp của loài người Tuy nhiên sự thống trị của chế độ thực dân của người Châu Âu diễn ra trên diện rộng và kéo dài cho tới thế kỷ 20 đã có những ảnh hưởng tiêu cực đối với hệ thống quản lý cây và rừng cổ truyền ở nhiều địa phương Chính sách thực dân đã đập tan các hệ thống quản lý cổ truyền về tài nguyên ở các địa phương cùng với những nguồn kiến thức bản địa về tài nguyên và
hệ sinh thái nơi đó Trong thời gian hậu thuộc địa, nhiều nhà quản lý sử dụng rừng vẫn chịu ảnh hưởng của những lực lượng từ bên ngoài và cũng góp phần không nhỏ trong việc làm suy giảm tài nguyên rừng trên thế giới [16]
Một thực tế mà chúng ta có thể kết luận rằng, khi mà các cộng đồng dân cư không phải là nhân tố tham gia thực hiện quản lý rừng, họ không thấy được trách nhiệm và quyền hạn của mình trong việc quản lý tài nguyên rừng thì ở đó tài nguyên rừng bị suy giảm nghiêm trọng Khi chính phủ của các quốc gia giao quyền quản lý những khu rừng và tạo cơ hội cho người dân, cộng đồng được hưởng lợi từ rừng, khi đó những vấn đề như đói nghèo, suy thoái tài nguyên dần dần được đẩy lùi và cộng đồng địa phương sẽ nhận ra trách nhiệm của chính họ trong việc bảo vệ
và quản lý tài nguyên rừng, thúc đẩy cho sự phát triển của các cộng đồng dân cư sống phụ thuộc vào rừng
Tính đến thời điểm hiện nay LNCĐ đã trải qua ba giai đoạn: Giai đoạn thứ nhất phần lớn những người bên ngoài cuộc xác định vấn đề và đề ra quyết định để giải quyết vấn đề đó Kết quả đạt được đều không đáng khích lệ, sự quan tâm của cộng đồng thường theo thời gian mà lắng xuống Rất ít các cộng đồng tiếp tục các hoạt động sau khi những người ngoài cuộc rút lui, và tất nhiên tính bền vững không đạt được Giai đoạn thứ hai những người ngoài cuộc xác định vấn đề và đề ra phần lớn quyết định, nhưng họ đã bắt đầu tham khảo ý kiến của những người trong cộng đồng, thông qua các cuộc phỏng vấn Kết quả là những người ngoài cuộc đã bắt đầu nhận thức được rằng những người trong cộng đồng có khá nhiều hiểu biết và thường có cách giải quyết vấn đề phù hợp và hiệu quả hơn Giai đoạn thứ ba những người ngoài cuộc chỉ là những người hỗ trợ và thúc đẩy, còn những người trong
Trang 7cộng đồng là những những tích cực xác định vấn đề và đề ra các giải pháp Cách làm này đã mang lại những kết quả đáng khuyến khích làm cho người dân trong cộng đồng tự nhận thức được vấn đề và chủ động trong việc đề ra các giải pháp mà
họ có thể thực hiện được
Thực tế trên thế giới cho thấy đã có rất nhiều các nghiên cứu về các khía cạnh cải tiến chính sách, thể chế, cách tiếp cận, áp dụng công nghệ trên cơ sở kiến thức bản địa để phát triển quản lý dựa vào rừng cộng đồng Đây là những kinh nghiệm tốt có thể kế thừa và vận dụng vào điều kiện cụ thể của từng quốc gia
Ở một số nước như Ấn Độ, Thái Lan đã đạt được nhiều thành tựu trong công tác xây dựng các chương trình đồng quản lý các khu rừng bảo vệ Các cộng đồng dân cư có đời sống phụ thuộc vào tài nguyên rừng thường rất thành thạo khi đóng vai trò là người bảo vệ hoặc tham gia quản lý khu bảo tồn Với những đặc điểm độc đáo về kinh tế, văn hóa và thể chế truyền thống của cộng đồng người dân địa phương trong quản lý sử dụng tài nguyên đã mang lại những hiệu quả to lớn trong việc bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng
- Ấn Độ đã coi cộng đồng như một đối tác quản lý những vùng đất rừng của chính phủ Chính phủ cho phép các cộng đồng được sử dụng tất cả những sản phẩm không phải là gỗ, còn việc phân chia quyền lợi cây gỗ thì có sự khác nhau giữa các bang theo một tỷ lệ hợp lý Vấn đề cốt lõi nhất là các biện pháp thu hút người dân
và lợi ích của người tham gia Để tiến tới việc quản lý tài nguyên sở hữu công cộng bền vững chính phủ Ấn Độ cần dành ưu tiên cao cho việc sửa đổi chính sách và các
sự yếu kém, sai sót của các luật lệ hiện hành cũng như hạn chế việc khuyến khích tiếp tục tư nhân hóa.Vào đầu những năm 1970, Chính phủ ban hành nhiều chính sách nhằm khuyến khích phát triển lâm nghiệp làng bản để giảm sức ép đối với việc tàn phá rừng Trong khoảng 15 năm, Chính phủ đã đầu tư khoảng 400 triệu USD cho chương trình cộng đồng
Mục đích của các chương trình lâm nghiệp xã hội tại Ấn Độ tập trung giải quyết một số vấn đề như: giúp đỡ dân nghèo và cố nông được quyền hưởng thụ các
Trang 8tài sản công cộng của thôn bản và đất đai của cơ quan lâm nghiệp trên đó họ có thể trồng các loài cây rừng và các loài cỏ thích hợp; Tuyển chọn các biện pháp kỹ thuật
có hiệu quả kinh tế cho từng khu sinh thái cụ thể; Tổ chức các cộng đồng địa phương để tiến hành phát triển có hiệu quả công tác lâm nghiệp xã hội
Theo lịch sử ở Ấn Độ có nhiều loại rừng lăng miếu và chúng phục vụ nhiều mục đích tinh thần và tôn giáo Những rừng này đều được các tổ chức tôn giáo hoặc nhóm cộng đồng địa phương quản lý, đồng thời người dân địa phương ở Ấn Độ đã bảo vệ được các đám rừng có diện tích từ 0.5 – 10 ha dưới dạng lùm cây thiêng để thờ các vị thần của lùm cây Việc thờ cúng tại những lùm cây thiêng đó hình thành
từ những xã hội chuyên săn bắt và hái lượm và việc lấy bất kỳ một sản phẩm nào ra đều là cấm kỵ và nó cũng đã góp phần vào việc duy trì và mở rộng tài nguyên rừng
- Tại Nepan việc quản lý và bảo vệ rừng cộng đồng trong đó có rừng và các tài sản khác thường gắn với các thôn bản nhỏ và hiu quạnh Khi tìm hiểu tính chất của việc quản lý tài nguyên rừng ở cấp thôn bản thì thấy chúng đều có những nét chung và chúng thường có hiệu lực, đặc biệt là về mặt bảo vệ Các chỉ tiêu về quy chế tổ chức, phần nào dựa trên sự thống nhất ý kiến của những người sử dụng là phần quan trọng nhất của tất cả những hệ thống quản lý rừng bản địa Và những hệ thống quản lý rừng bản địa này chỉ mới được xây dựng từ năm 1950 Từ năm đó tới nay Chính phủ Nepan đã có một thay đổi mạnh mẽ về thái độ đối với rừng vùng đồi, đây là một sự chuyển biến sâu sắc do nạn tàn phá rừng ngày càng rõ nét và ảnh hưởng của nó tới đời sống nông thôn ngày nay Đầu tiên là việc thi hành luật bảo vệ phát triển rừng thông qua hệ thống pháp luật của chính phủ, nhưng việc đó đã thất bại Sau đó đã có nhiều thay đổi về chính sách, luật lệ chuyển việc quản lý rừng cho chính những người sử dụng chúng ở thôn bản
Arnold (1986) [16] đã trình bày những tiến bộ mà chính phủ Nepan đạt được khi tổ chức LNCĐ tại vùng đồi của Nepan thông qua dự án phát triển lâm nghiệp cộng đồng qua báo cáo “Quản lý tập thể rừng vùng đồi ở Nepan: Dự án phát triển lâm nghiệp cộng đồng” Mục tiêu của dự án này là tăng thêm nguồn cung cấp củi,
Trang 9thức ăn gia súc, cỏ và gỗ thông qua việc trao trách nhiệm rộng hơn về quản lý và bảo vệ rừng cho các cộng đồng địa phương Tài liệu này có nói tới một sáng kiến của Nepan đã đưa ra một khuôn khổ có khả năng vận dụng được để phát triển các
hệ quản lý rừng sản xuất địa phương thích hợp với các nhu cầu hiện nay, khuôn khổ
đó xây dựng trên các truyền thống và phương thức địa phương để quản lý rừng cộng đồng Số liệu điều tra cho thấy rằng rừng được ảnh hưởng tốt khi có sự quản lý tích cực của người sử dụng địa phương Rừng được cải thiện rõ khi có sự kiểm tra thu hoạch của địa phương do các cộng đồng đề ra những quy định thời gian và các diện tích có hạn chế và các công cụ được phép sử dụng, ngược lại rừng tiếp tục bị thoái hóa khi chỉ có chính phủ đề ra cách kiểm tra theo thường lệ như lệ phí mà người sử dụng phải trả và bài cây để chặt hạ Mặc dù những kinh nghiệm của chương trình này đến nay vẫn còn hạn chế nhưng những việc đã làm được của chương trình này cũng coi là một sự khởi đầu đáng phấn khởi
Hobley (1987) Lâm nghiệp cộng đồng không nên được định nghĩa bằng quy
mô hoặc sản phẩm cuối cùng mà ở chỗ là quyền đề xuất quyết định nằm ở đâu Sự tham gia và kiểm tra của dân trong việc thành lập, duy trì, hưởng lợi và phân phối các lợi ích là những lợi ích tiên quyết cho một chương trình LNCĐ đúng đắn Kết quả điều tra cụ thể tại hai thôn bản của Nepan thông qua Dự án lâm nghiệp song phương giữa Nepan và Australia là dân bản luôn luôn coi rừng là tài sản sở hữu của cộng đồng, tuy nhiên LNCĐ muốn có được những thành công thì cần phải có sự thay đổi sâu sắc về mặt xã hội tại Nepan [23]
Theo Gilmour, D.A King, G.C và Hobley (1989) [16] đã mô tả hai kiểu động
cơ khác nhau nhưng song song tồn tại bên nhau trong phát triển lâm nghiệp ở Nepan đó là: “Phát triển lâm nghiệp hướng về Trung Ương” và “Phát triển lâm nghiệp hướng về người dân” Để nâng cao việc quản lý rừng công cộng có hiệu quả một số chương trình của Chính phủ Nepan đã phát triển theo hình mẫu “hướng về rừng” để khắc phục hiện tượng tàn phá rừng do sự tác động cộng hưởng của chính sách lâm nghiệp không hoàn chỉnh, áp lực của dân số và sự ô nhiễm môi trường
Trang 10Qua báo cáo của Leuschner, tác giả đã khẳng định rằng việc hợp tác giữa cư dân địa phương với cán bộ cấp huyện là rất quan trọng để thành công trong các dự án phát triển lâm nghiệp cộng đồng và nó có thể trở nên dễ dàng bằng cách thu hút các nhóm người dân đó vào việc lập kế hoạch phát triển địa phương Tiêu chuẩn chính cho sự thành công của dự án lâm nghiệp cộng đồng đó chính là việc quan tâm đến
sự thích nghi một hệ thống quản lý cộng đồng với các điều kiện và nhu cầu của người dân địa phương
Guha (1989), Rừng núi không yên ổn: Thay đổi sinh thái và sự chống đối của nông dân tại Himalaya [22] cách đây trên một trăm năm, tại vùng đồi Himalaya phong trào quần chúng “ôm giữ lấy cây” (chipko) như là một cố gắng nổi bật của người dân địa phương để cứu vãn tài nguyên rừng đang bị suy sụp và chống lại chính sách của Chính phủ đã cho phép những người ngoài cuộc tới chặt hạ cây cối theo mục đích thương mại của họ
Theo Basu, N.G (1987)[3] đề nghị chính phủ cần có một chính sách lâm nghiệp mới cùng với một cách nhìn mới để ngăn chặn quá trình phát triển đồi trọc
và để lôi cuốn nhân dân tham gia vào phong trào tái sinh rừng
- Tại Indonesia, người dân ở vùng Kalimanta có tập quán canh tác du canh, lúc ban đầu du canh được tiến hành tại các khu rừng tự nhiên, sau đó các diện tích rừng thứ sinh cũng được sử dụng, từng bước các hộ gia đình đã bắt đầu đòi hỏi quyền được sở hữu nương rẫy và đất bỏ hóa Với áp lực dân số ngày càng gia tăng những quyền lợi đó được mở rộng cho thế hệ tiếp theo Những nguồn lâm sản phụ như song mây, gỗ trầm hương và tổ ong đã có sự cạnh tranh và không thỏa hiệp về lợi ích giữa người dân địa phương và những người bên ngoài Tại miền Nam và Tây Sumatra, các thành viên cộng đồng có quyền thu hái lâm sản và mở nương làm nông nghiệp trên đất rừng của làng, trong đó một số đám rừng được giữ lại và không ai được đụng chạm tới chúng [16]
Tại Bolivia, mô hình phát triển quản lý tài nguyên rừng đều tập trung vào việc tổ chức các hợp tác xã lâm nghiệp, người ta đã tiến hành xây dựng thêm các
Trang 11xưởng cưa để tạo thêm lợi tức, kết hợp với việc quản lý rừng nhằm đạt được tính sản xuất bền vững Mặc dầu cây rừng được tập thể quản lý, người ta vẫn cần có giấy phép khai thác do các nhà đương cục của chính phủ Bolivia cấp phát hàng năm Cộng đồng dành lại những loài cây nhập nội và có giá trị cao đề xây dựng một quỹ tiết kiệm chỉ được dùng tới khi rất cần thiết [16]
- Tại Peru, Chương trình quản lý tài nguyên Selva Trung ương, năm 1980 được phát triển, chương trình này nhằm vào việc quản lý tài nguyên rừng đặc biệt là rừng đầu nguồn với mục tiêu là tạo ra nguồn công ăn việc làm và lợi tức bằng tiền cho các thành viên cộng đồng, đồng thời bảo tồn các rừng tự nhiên của cộng đồng được quản lý [16]
- Tại Braxin, việc nghiên cứu nhóm người Indieng Kapor tại miền đông Amazon, Braxin đã chứng minh rằng các nhóm bản địa đã xử lý hệ động thực vật và cuối cùng đã làm tăng được tính đa dạng sinh học Điều đó góp phần vào việc duy trì và nâng cao khả năng cung ứng của rừng cho con người trong thời gian dài
- Tại Mexico sự tham gia của nông dân vào việc quản lý, bảo vệ và nâng cao tài nguyên rừng được thực hiện theo một chính sách có tên là “Kinh tế lâm nghiệp thôn xã” đã cho thấy sự tham gia trực tiếp của người dân địa phương đã là chìa khóa cho sự thành công của các chương trình mong muốn phát triển tài nguyên rừng cộng đồng [16]
- Ở Nhật bản, không phải là cường điệu khi nói rằng văn hoá Nhật Bản phát triển trong mối quan hệ mật thiết của gỗ và rừng, tiêu biểu là những toà nhà bằng gỗ đền "Horyn" và nhiều cây gỗ linh thiêng còn lại xung quanh những đền, miếu và điện thờ Từ sự đam mê và quan tâm đến văn hoá, người Nhật đã học được cách cải tiến việc sử dụng bền vững và bảo tồn nguồn tài nguyên rừng rất lớn Vì vậy, thực tế các mục tiêu chính trong luật pháp rừng và quản lý tài nguyên ở Nhật Bản đều được công bố rõ ràng để đẩy mạnh phát triển bền vững dựa trên cơ sở lợi ích cộng đồng ngay từ những năm 1800 [21]
Trang 121.2 Ở Việt Nam
Tính cộng đồng của các dân tộc Việt Nam đã là yếu tố quan trọng tạo nên cơ
sở cho những thành quả đã đạt được trong công cuộc bảo vệ tài nguyên thiên nhiên
Vì vậy, vấn đề phát huy vai trò của các cộng đồng để quản lý nguồn tài nguyên này
là vấn đề vừa mang ý nghĩa phát huy truyền thống, vừa có thể tạo ra một cách quản
lý tài nguyên có hiệu quả hơn, bền vững hơn, phù hợp với những xu hướng phát triển của thế giới [14]
Khi nghiên cứu kiến thức bản địa của đồng bào vùng cao trong nông nghiệp
và quản lý tài nguyên thiên nhiên nhiều tác giả đã khẳng định tầm quan trọng của kiến thức bản địa trong quản lý tài nguyên thiên nhiên [20] Chính những cộng đồng địa phương là những người hiểu biết sâu sắc nhất về tài nguyên thiên nhiên nơi họ sinh sống, về cách thức giải quyết những mối quan hệ kinh tế - xã hội trong cộng đồng của họ Họ biết, phát triển những loài cây trồng, vật nuôi cho hiệu quả cao và bền vững trong hoàn cảnh sinh thái của địa phương
Người ta nhận thấy rằng, sự tham gia của các cộng đồng góp phần làm giảm những mâu thuẫn về lợi ích trong sử dụng tài nguyên Nghiên cứu ở vùng lòng hồ Hòa Bình cho thấy, thiếu sự tham gia của các cộng đồng đã không giải quyết hợp lý được mối quan hệ về lợi ích giữa quốc gia và cộng đồng dân cư địa phương Sự thất bại của dự án 747 “ổn định dân cư phát triển kinh tế xã hội vùng chuyển dân sông Đà” trong những năm đầu triển khai và thực hiện dự án có một phần quan trọng là thiếu sự tham gia của cộng động trong việc xây dựng những giải pháp quản lý tài nguyên thiên nhiên Bản thân những tranh chấp về tài nguyên giữa các cá thể trong cộng đồng cũng chỉ có thể giải quyết tốt trên cơ sở các luật tục, hương ước cũng như những mối quan hệ làng bản ở từng địa phương Ngoài ra, một số chính sách Nhà nước có thể không được thực thi một cách triệt để, khi thiếu sự tham gia của các cộng đồng [30] Những người dân địa phương là những người thực hiện và giám sát hiệu quả nhất các chương trình, dự án triển khai trên địa bàn của họ [9]
Ngày nay ở Việt Nam, quản lý tài nguyên trên cơ sở cộng đồng đã được nhận thức như một trong những giải pháp hiệu quả để quản lý tài nguyên thiên nhiên
Trang 13vùng cao Đó là cách quản lý mà mọi thành viên cộng đồng đều được tham gia vào quá trình phân tích đánh giá thực trạng, xác định nguyên nhân và hình thành giải pháp để phát huy mọi nguồn lực của địa phương cho bảo vệ, phát triển và sự dụng tối ưu các nguồn tài nguyên thiên nhiên vì sự phồn thịnh của mỗi gia đình và cộng đồng
Tuy nhiên, các giải pháp để khuyến khích cộng đồng tham gia quản lý tài nguyên thiên nhiên ở mỗi hoàn cảnh cụ thể sẽ khác nhau Nó phụ thuộc vào đặc điểm của nguồn tài nguyên hiện có, vào chính sách, luật pháp Nhà nước, vào những quy định của cộng đồng, làng xóm, những phong tục, tập quán, ý thức tôn giáo, nhận thức và kiến thức, kinh nghiệm và trình độ của người dân v.v Trong nhiều trường hợp ở nước ta, sự phụ thuộc này vẫn chưa được làm sáng tỏ đầy đủ Đây là
lý do vì sao việc nghiên cứu nhằm xây dựng giải pháp quản lý tài nguyên thiên nhiên trên cơ sở cộng đồng ứng với mỗi nhóm dân tộc cùng toàn bộ phức hệ các điều kiện tồn tại của họ vẫn đang được đặt ra như một trong những nhiệm vụ cấp bách ở Việt Nam
Tính đến 31 tháng 12 năm 2007 [7][13] cả nước có 10.006 cộng đồng dân cư thôn, chủ yếu là các cộng đồng các đồng bào dân tộc ít người, đang quản lý và sử dụng 2.792.946,3 ha rừng và đất trống đồi trọc (gọi chung là đất lâm nghiệp) để xây dựng và phát triển rừng, trong đó: 1.916.169,2 ha đất có rừng (chiếm 68,6%) và 876.777,1 ha đất trống đồi trọc (chiếm 31,4%) Diện tích đất lâm nghiệp do cộng đồng quản lý nêu trên chiếm 17,20% diện tích đất quy hoạch cho mục đích lâm nghiệp trên toàn quốc (16,24 triệu ha); diện tích đất lâm nghiệp có rừng do cộng đồng quản lý chiếm 15% tổng diện tích rừng của cả nước (12.873.815 ha) Trong diện tích đất lâm nghiệp có rừng do cộng đồng quản lý và sử dụng thì rừng tự nhiên chiếm tuyệt đại đa số lên đến 96%, rừng trồng chỉ chiếm có 4% Cộng đồng quản lý chủ yếu rừng phòng hộ, đặc dụng (71%), rừng sản xuất chỉ chiếm 29% Cộng đồng quản lý và sử dụng đất lâm nghiệp nêu trên với 3 hình thức sau:
- Thứ nhất, rừng và đất rừng sử dụng vào mục đích lâm nghiệp được cơ quan
Nhà nước có thẩm quyền giao cho cộng đồng quản lý, sử dụng ổn định lâu dài (có
Trang 14quyết định hoặc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và rừng, sau đây gọi tắt là giao) với diện tích 1.643.251,2 ha tương đương 58,8% diện tích đất lâm nghiệp do cộng đồng quản lý và sử dụng
- Thứ hai, rừng và đất rừng do cộng đồng tự công nhận và quản lý từ lâu đời
nhưng chưa được Nhà nước giao (chưa có bất kỳ một loại giấy tờ hợp pháp nào, gọi tắt là chưa giao) với diện tích 247.029,5 ha tương đương 8,9% Đó là các khu rừng thiêng, rừng ma, rừng mó nước, những khu rừng cung cấp lâm sản truyền thống cho cộng đồng
- Thứ ba, rừng và đất rừng sử dụng vào mục đích lâm nghiệp của các tổ chức nhà nước (Lâm trường, Ban quản lý rừng đặc dụng và rừng phòng hộ…) được các
cộng đồng nhận khoán bảo vệ, khoanh nuôi và trồng mới theo hợp đồng khoán rừng lâu năm, 50 năm, gọi tắt là nhận khoán với diện tích 902.662,7 ha tương đương 32,3%
Ngoài ra, hiện nay còn có một hình thức hình thành rừng và đất rừng cộng đồng ở Việt Nam khác nữa đó là các hộ gia đình trong một thôn tự nguyện góp rừng
và đất lâm nghiệp đã được giao của hộ gia đình trở thành rừng và đất rừng dưới hình thức quản lý của cộng đồng nhằm thực hiện các dự án do chính phủ hoặc nước ngoài hỗ trợ Hình thức này ban đầu cũng được coi là hình thức quản lý rừng cộng đồng nhưng cộng đồng ở đây bao gồm những thành viên có rừng và đất rừng tham gia đóng góp tự nguyện
1.2.1 Cơ sở pháp lý tác động đến quản lý rừng cộng đồng tại Việt Nam
Tiến trình phát triển chính sách Lâm nghiệp cộng đồng ở Việt Nam [24]:
- Trước năm 1954: Thừa nhận sự tồn tại của rừng cộng đồng
Lâm nghiệp thuộc địa, phong kiến thừa nhận rừng cộng đồng truyền thống Quản lý rừng cộng đồng dựa trên các hương ước và luật tục truyền thống
- Giai đoạn 1954-1975
+ Không quan tâm đến rừng cộng đồng nhưng tôn trọng cộng đồng đang quản lý những khu rừng theo truyền thống
Trang 15Miền bắc, thực hiện chính sách cải cách ruộng đất và hợp tác hóa, tập trung phát triển lâm nghiệp quốc doanh (Lâm trường quốc doanh) và lâm nghiệp tập thể (Hợp tác xã nông - lâm nghiệp) Mặc dù không quan tâm lâm nghiệp hộ gia đình và Lâm nghiệp cộng đồng, nhưng về cơ bản, Nhà nước vẫn tôn trọng cộng đồng vùng cao quản lý rừng theo phong tục truyền thống, lâm nghiệp hộ gia đình được xác định là kinh tế phụ Trong khi đó, ở miền nam, giống thời kỳ trước năm 1954
Quyết định 184 của Hội đồng Bộ trưởng năm 1982 và Chỉ thị 29 của Ban bí thư năm 1983 về giao đất giao rừng cho các thành phần kinh tế quốc doanh và tập thể, bắt đầu chú ý đến hợp đồng khoán rừng cho hộ gia đình
- Giai đoạn 1993-2002
+ Tăng cường quá trình phi tập trung hoá trong quản lý rừng, quan tâm đến xã
hội hóa nghề rừng nhưng chính sách đối với LNCĐ chưa rõ ràng
Trang 16Ở các địa phương thực hiện nhiều mô hình quản lý rừng cộng đồng nhưng ở mức độ tự phát hoặc mang tính chất thí điểm Bộ NN&PTNT thành lập Tổ công tác Quốc gia về LNCĐ để triển khai một số nghiên cứu và tổ chức nhiều hội thảo quốc gia về LNCĐ Nhiều chương trình, dự án quốc tế quan tâm đến phát triển LNCĐ Nhưng về cơ bản LNCĐ chưa được thể chế hóa rõ ràng
Luật đất đai (sửa đổi) năm 1993, Nghị định 02/CP năm 1994 và Nghị định 163/CP năm 1999 về giao đất lâm nghiệp đều không quy định rõ ràng cho đối tượng cộng đồng Luật Dân sự năm 1995 không quy định cộng đồng dân cư là một chủ thể kinh tế có tư cách pháp nhân Trong giai đoạn này nhiều địa phương đã vận dụng một số văn bản của Nhà nước và của ngành cho phát triển LNCĐ như Nghị định 01/CP năm 1995 về giáo khoán đất lâm nghiệp, Nghị định số 29/CP năm 1998 về Quy chế thực hiện dân chủ ở xã, Quyết định 245/1998/QĐ-TTg về việc thực hiện trách nhiệm của nhà nước của các cấp về rừng và đất lâm nghiệp, Thông tư 56/TT năm 1999 của Bộ NN&PTNT về hướng dẫn xây dựng quy ước bảo vệ phát triển rừng trong cộng đồng, Quyết định 08/2001/QĐ-TTg năm 2001 về quy chế quản lý 3 loại rừng, Quyết định 178/2001/QĐ-TTg năm 2001 về quyền hưởng lợi và nghĩa vụ khi tham gia quản lý rừng
- Từ 2003 đến nay: hình thành khung pháp lý cơ bản cho LNCĐ
Theo Luật Đất đai mới năm 2003, cộng đồng dân cư thôn được Nhà nước giao đất hoặc công nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp với tư cách là người sử dụng đất
Luật BV&PTR mới năm 2004 có một mục riêng quy định về giao rừng cho cộng đồng dân cư thôn; quyền và nghĩa vụ của cộng đồng dân cư thôn được giao rừng
Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Thủ tướng Chính phủ về thi hành Luật đất đai (Nghị định 181) quy định cộng đồng dân cư thôn được giao đất rừng phòng hộ với các quyền chung như hộ gia đình và cá nhân được giao đất lâm nghiệp nhưng cộng đồng dân cư thôn không được chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, tặng cho quyền sử dụng đất; không được thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử đụng đất
Trang 17Luật Dân sự năm 2005 thừa nhận khái niệm sở hữu chung của cộng đồng Theo đó, cộng đồng dân cư thôn có quyền sở hữu đối với tài sản được hình thành theo tập quán, tài sản do các thành viên trong cộng đồng đóng góp và cùng quản lý,
sử dụng theo thoả thuận vì lợi ích của cộng đồng
- Các Quyết định, Nghị định và thông tư của Bộ NN&PTNT:
+ Quyết định số 106/2006/QĐ-BNN của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về việc ban hành bản hướng dẫn quản lý rừng cộng đồng dân cư thôn Trong
đó có hướng dẫn cụ thể về các căn cứ, điều kiện và trình tự thủ tục giao rừng cho cộng đồng (chương II), quyền lợi và nghĩa vụ của cộng đồng được Nhà nước giao rừng (chương V), việc lập kế hoạch quản lý rừng cộng đồng, xây dựng quy ước bảo
vệ và phát triển rừng cộng đồng, xây dựng quỹ bảo vệ và phát triển rừng cộng đồng,
tổ chức quản lý và giám sát đánh giá việc thực hiện (Chương III,IV,VI,VII)
+ Thông tư số 38/2007/ TT – BNN ngày 24/5/2007 của Bộ trưởng Bộ nông nghiệp và Phát triển nông thôn về hướng dẫn trình tự, thủ tục giao rừng, cho thuê rừng, thu hồi rừng cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng dân cư thôn
Cụ thể là ở mục II phần 5 có hướng dẫn trình tự, thủ tục giao rừng cho cộng đồng dân cư thôn Cộng đồng dân cư thôn tiến hành họp thôn để thông qua và thống nhất đơn đề nghị Nhà nước giao rừng cho cộng đồng, thông qua kế hoạch quản lý khu rừng sau khi được Nhà nước giao rừng Cộng đồng dân cư thôn nộp hồ sơ tại Ủy ban nhân dân xã, Ủy ban nhân dân xã sau khi nhận được hồ sơ của cộng đồng dân
cư thôn có trách nhiệm thẩm tra điều kiện giao rừng cho cộng đồng dân cư thôn, kiểm tra thực địa khu rừng dự kiện giao, xác nhận đơn của cộng đồng dân cư thôn
và chuyển lên cơ quan chức năng cấp huyện Cơ quan cấp huyện sau khi nhận được
hồ sơ từ xã chuyển lên có trách nhiệm xác định đặc điểm khu rừng, lập tờ trình trình
Ủy ban nhân dân huyện về việc giao rừng cho cộng đồng dân cư thôn Ủy ban nhân dân cấp huyện xem xét và quyết định giao rừng cho cộng đồng dân cư thôn Ủy ban nhân dân cấp xã và cộng đồng dân cư thôn có trách nhiệm thực hiện quyết định giao rừng
Trang 18+ Công văn số 2324/ BNN – LN ngày 21/8/2007 của Cục Lâm nghiệp về hướng dẫn các chỉ tiêu kỹ thuật và thủ tục khai thác rừng cộng đồng
+ Quyết định số 434/QĐ –QLR ngày 11/4/2007 của Cục trưởng Cục Lâm nghiệp ban hành bản hướng dẫn xây dựng quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng cấp
xã và Hướng dẫn giao rừng gắn với giao đất lâm nghiệp cho cộng đồng dân cư thôn Trong đó nêu rõ nguyên tắc giao rừng cho cộng đồng; căn cứ vào điều kiện giao rừng cho cộng đồng; khu rừng và loại rừng giao cho cộng đồng, trình tự và thủ tục giao rừng cho cộng đồng
Như vậy, đến nay Việt Nam đã có khung pháp lý và chính sách cơ bản cho quản lý rừng cộng đồng, được thể hiện trong 2 bộ luật lớn, đó là Luật Đất đai năm
2003, Luật BV&PTR năm 2004 và các văn bản chính sách khác Khung pháp lý và chính sách này thể hiện các điểm căn bản sau đây:
- Thứ nhất, cộng đồng dân cư là chủ rừng, người sử dụng rừng có tư cách
pháp nhân đầy đủ hoặc không đầy đủ tuỳ theo từng điều kiện của mỗi cộng đồng và đối tượng rừng được giao hay nhận khoán
- Thứ hai, cộng đồng được giao đất, giao rừng, nhận hợp đồng khoán rừng lâu dài khi đáp ứng các quy định của pháp luật và chính sách hiện hành như: Khu
rừng hiện cộng đồng dân cư thôn đang quản lý sử dụng có hiệu quả; Khu rừng giữ nguồn nước phục vụ trực tiếp cho lợi ích chung của cộng đồng; Khu rừng giáp ranh giữa các thôn, xã, huyện không thể giao cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân mà cần giao cho cộng đồng dân cư thôn để phục vụ lợi ích của cộng đồng
- Thứ ba, cộng đồng được hưởng các quyền khi tham gia quản lý rừng theo quy định của pháp luật như: Được công nhận quyền sử dụng rừng ổn định, lâu dài
phù hợp với thời hạn giao rừng; Được khai thác, sử dụng lâm sản và các lợi ích khác của rừng vào mục đích công cộng và gia dụng cho thành viên trong cộng đồng; Được sản xuất lâm nghiệp - nông nghiệp, ngư nghiệp kết hợp; Được hưởng thành quả lao động, kết quả đầu tư trên diện tích rừng được giao; Được hướng dẫn
về kỹ thuật, hỗ trợ về vốn theo chính sách của nhà nước để bảo vệ và phát triển rừng và được hưởng lợi ích do các công trình công cộng bảo vệ, cải tạo rừng mang lại; Được bồi thường thành quả lao động, kết quả đầu tư để bảo vệ và phát triển rừng khi nhà nước có quyết định thu hồi rừng
Trang 19- Thứ tư, cộng đồng thực hiện nghĩa vụ khi tham gia quản lý rừng theo quy định của pháp luật như: Xây dựng quy ước bảo vệ và phát triển rừng; Tổ chức bảo
vệ và phát triển rừng, định kỳ báo cáo cơ quan nhà nước có thẩm quyền về diễn biến tài nguyên rừng và các hoạt động liên quan đến khu rừng; Thực hiện nghĩa vụ tài chính và các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật; Giao lại rừng khi Nhà nước có quyết định thu hồi rừng hoặc khi hết thời hạn giao rừng; Không được phân chia rừng cho các thành viên trong cộng đồng dân cư thôn; Không được chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng cho, cho thuê, thế chấp, bảo lãnh, góp vốn kinh doanh bằng giá trị quyền sử dụng rừng được giao
Nhìn chung các cơ sở pháp lý trên đây đã thể hiện sự quan tâm của Nhà nước đối với việc quản lý rừng cộng đồng tại Việt Nam Các cơ sở pháp lý trên đã góp phần rất tích cực trong việc hỗ trợ và tạo ra một hành lang pháp lý đảm bảo cho các hoạt động quản lý rừng cộng đồng
1.2.2 Những chương trình, dự án về quản lý rừng cộng đồng ở Việt Nam
- Bộ Lâm nghiệp (nay là Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn) năm 1998
đã cho biên dịch tài liệu về Lâm nghiệp cộng đồng và Sổ tay cẩm nang của Lâm nghiệp cộng đồng do tổ chức nông lương liên hiệp quốc (FAO-UNDP) xuất bản về các vấn đề cơ bản có liên quan đến Lâm nghiệp cộng đồng, như: “Khái niệm, phương pháp, công cụ phục vụ luận chứng, kiểm tra, đánh giá có sự tham gia của người dân trong LNCĐ”; “Thẩm định nhanh quyền hưởng dụng đất và cây rừng của cộng đồng” … rất hữu ích cho việc nghiên cứu phát triển LNCĐ ở Việt Nam trong giai đoạn tiền phát triển Theo các tài liệu này thì LNCĐ là mọi hoạt động lâm nghiệp được những cá nhân trong cộng đồng thực hiện nhằm tăng các lợi ích mà họ cho là có giá trị
Trong hoạt động LNCĐ, người trong cuộc được hiểu là những người cùng được xác định và nằm trong cộng đồng và có mối quan hệ phụ thuộc vào cộng đồng; người ngoài cuộc là những người có thể tham gia vào một cộng đồng trong một thời gian, nhưng không được xác định với cộng đồng hoặc được cộng đồng xác nhận là thành viên của họ Sự tham dự tích cực của những người trong cuộc và
Trang 20người ngoài cuộc vào tất cả các quyết định có liên quan tới mục tiêu và hoạt động được gọi là sự tham gia Mục đích cơ bản của sự tham gia là khuyến khích cộng đồng tự quyết, từ đó nuôi dưỡng và phát triển bền vững tài nguyên rừng Thông qua các chương trình, dự án người trong cuộc hoặc cả người trong cuộc và người ngoài cuộc cùng nhau góp sức để đạt được mục đích đã đề ra
- Chương trình hợp tác lâm nghiệp Việt Nam - Thụy Điển đã cho xuất bản các tài liệu rất hữu ích cho quản lý rừng cộng đồng như: “Điều tra đánh giá nông thôn có sự tham gia của nông dân, xây dựng kế hoạch ở thôn bản”, “ Phát triển Quỹ thôn bản” và tổng quan đào tạo về: “Lập kế hoạch cấp thôn/bản và hộ gia đình”
- Một trong những dự án lớn nhất về lâm nghiệp cộng đồng có lẽ phải kể tới
Dự án Phát triển Lâm nghiệp xã hội Sông Đà Bắt đầu vào năm 1993, bên cạnh những điểm hạn chế, cho tới nay dự án đã thu được những thành công và những bài học kinh nghiệm quý báu Chương trình hợp tác với Cộng hòa liên bang Đức cho xuất bản tài liệu “Bộ công cụ PRA cho cho thôn bản lập kế hoạch phát triển thôn bản” năm 2006 Trong bộ công cụ này có 12 công cụ hướng dẫn từng bước cho người dân địa phương đánh giá được thực trạng, thế mạnh trong sản xuất, những trở ngại, đồng thời thảo luận và tìm ra hướng khắc phục những hạn chế trong điều kiện của thôn bản mình giúp lập kế hoạch và thực hiện kế hoạch phát triển thôn bản
Dự án này đã chú ý làm việc với “nhóm sử dụng rừng” hơn là với các đơn vị quản lý hành chính lâm nghiệp Tại những nơi người H'Mông sinh sống thì “nhóm
sử dụng rừng” cũng chính là “nhóm bảo vệ rừng” và đó cũng chính là “cấp” để dự
án can thiệp Trong khi đó, nơi người Thái sinh sống thì “nhóm bảo vệ rừng” không đại diện cho “nhóm sử dụng rừng” và ở đó những can thiệp của dự án tập trung vào cấp bản, bắt đầu bằng những hoạt động ký hợp đồng bảo vệ rừng cho cả bản Dự án
đã tiến hành những thu xếp về tổ chức khi thực hiện quy hoạch sử dụng đất và giao đất có người dân tham gia, sau đó tiến hành lập những “nhóm bảo vệ rừng” và hỗ trợ dân bản xây dựng những quy chế bảo vệ rừng Những quy chế này dựa vào việc quản lý, bảo vệ rừng của cộng đồng để nâng cao sự tự giác của dân bản và tăng cường sự kiểm soát của dân bản tránh sự phá hoại rừng từ những bản bên cạnh
Trang 21Những Ban quản lý thôn bản mà ít nhất có một thành viên chịu trách nhiệm về lâm nghiệp trong bản được thiết lập khi tiến hành lập kế hoạch phát triển thôn bản hàng năm Trong quá trình xây dựng kế hoạch dự án sử dụng 4 tiêu chí chính để giới thiệu và tăng cường thực thi quản lý LNCĐ đó là: Quyền sử dụng, nghiên cứu địa phương, khả năng của cộng đồng và điều kiện địa lý khu vực
- Chương trình tài trợ các dự án nhỏ quản lý rừng bền vững rừng nhiệt đới (SGP PTF/UNDP) cho xuất bản Sổ tay hướng dẫn quản lý rừng cộng đồng - 2007 trong đó có phân tích và hướng dẫn chi tiết về những điều kiện cơ bản trong quản lý rừng cộng đồng; những cơ sở pháp lý và luật tục tác động đến quản lý rừng cộng đồng và các hoạt động trong quản lý rừng cộng đồng
- Chương trình hỗ trợ ngành Lâm nghiệp và đối tác xuất bản tài liệu “Cẩm nang ngành Lâm nghiệp – Chương Lâm nghiệp cộng đồng” năm 2006 Trong đó có trình bày khái quát kinh nghiệm về lâm nghiệp cộng đồng của một số nước Châu Á, tại Việt Nam cẩm nang này cũng đã trình bày, phân tích về các khái niệm, đặc trưng, các tiêu chí nhận biết LNCĐ, hiện trạng phát triển, các hình thức quản lý rừng cộng đồng, kinh nghiệm quản lý rừng cộng đồng, khuôn khổ pháp lý, điều kiện và các yếu tố tác động đến LNCĐ và các chỉ tiêu, phương pháp đánh giá LNCĐ ở Việt Nam
- Dự án “Chương trình thí điểm Lâm nghiệp cộng đồng” – do Cục Lâm nghiệp chủ trì đã ban hành hàng loạt các văn bản pháp lý hỗ trợ 40 xã thuộc vùng
dự án trong Quản lý rừng cộng đồng Bên cạnh đó cũng đã biên soạn nhiều tài liệu tập huấn và tổ chức các lớp tập huấn với các cấp độ khác nhau nhằm thúc đẩy nhanh và có chất lượng các hoạt động quản lý rừng bền vững cho 90 thôn bản thuộc vùng dự án phát triển như: Tài liệu đào tạo tiểu giáo viên về Quản lý rừng cộng đồng; tài liệu tập huấn hiện trường về Quản lý rừng cộng đồng và tài liệu Sổ tay hướng dẫn quản lý rừng cộng đồng Các tài liệu này đang phát huy được giá trị của
nó trong việc hỗ trợ và thúc đẩy các cộng đồng xây dựng các hoạt động trong quản
lý rừng của mình sau khi được giao rừng; đồng thời các tài liệu này cũng đã đóng góp lớn trong việc nâng cao kiến thức và kỹ năng cho các cán bộ quản lý lâm
Trang 22nghiệp địa phương cũng như, cán bộ xã, thôn về xây dựng các hoạt động Quản lý rừng cộng đồng
Các chương trình, dự án trên được coi là các cơ sở kỹ thuật quan trọng trong việc hướng dẫn quản lý rừng cộng đồng tại Việt Nam
Tóm lại, những cơ sở pháp lý và cơ sở kỹ thuật về quản lý rừng cộng đồng ở Việt Nam ở trên có vai trò hết sức quan trọng trong việc quản lý rừng cộng đồng nhằm mục tiêu bền vững
- Xu hướng phát triển phương thức quản lý rừng cộng đồng là khách quan trong phát triển Lâm nghiệp ở nhiều quốc gia nhằm định hướng thu hút sự tham gia của cộng đồng để đóng góp vào tiến trình quản lý rừng bền vững
- Tại Việt Nam, dựa vào kinh nghiệm của các dự án lớn về LNCĐ như dự án SFDF sông Đà, dự án “Chương trình thí điểm Lâm nghiệp cộng đồng” cho thấy kế hoạch quản lý rừng là công cụ quan trọng bậc nhất để cộng đồng quản lý rừng Kế hoạch quản lý rừng cần phải được thể chế hoá đầy đủ về nội dung kỹ thuật, trình tự thủ tục và tính bắt buộc cho cộng đồng quản lý rừng Kế hoạch quản lý rừng cộng đồng là cơ sở cho cơ quan quản lý nhà nước về lâm nghiệp đối với đối tượng là rừng do cộng đồng quản lý Riêng đối với rừng tự nhiên, kế hoạch quản lý rừng được thừa nhận như là phương án điều chế rừng của cộng đồng dựa vào đó cộng
Trang 23đồng kinh doanh rừng tự nhiên theo đúng quy định pháp luật hiện hành về quản lý rừng tự nhiên
- Phương pháp lập kế hoạch quản lý rừng cộng đồng trong một số năm gần đây đã có những bước phát triển và được ứng dụng vào một số dự án LNCĐ tại Việt Nam Tuy nhiên mỗi phương pháp lại có những ưu và khuyết điểm riêng
- Đánh giá tài nguyên rừng cộng đồng nhằm mục đích cung cấp số liệu cho lập kế hoạch quản lý rừng cộng đồng Với trình độ hiểu biết và năng lực của người dân còn hạn chế thì đây là công việc tương đối phức tạp Trên thực tế, cộng đồng dân cư thôn kiểm kê và quản lý tài nguyên rừng cộng đồng của mình bằng số cây có trong từng lô rừng vì cách tính này đơn giản Tuy nhiên, khi xác định các lô rừng đạt tiêu chuẩn khai thác và lập kế hoạch khai thác thì cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xem xét và phê duyệt kế hoạch khai thác lại căn cứ vào số m3 gỗ có trong lâm phần
Xuất phát từ nhu cầu thực tế, đề tài kế thừa, tổng hợp những phương pháp đã
đề xuất trước đây, lập kế hoạch quản lý rừng cộng đồng dân cư thôn sử dụng
phương pháp điều tra đánh giá tài nguyên rừng cộng đồng bằng ô tiêu chuẩn điển hình đơn vị tính là bằng số cây và trữ lượng được đánh giá là khắc phục được nhược điểm của 2 phương pháp trên
Địa điểm nghiên cứu tại ba thôn Đông Chắn, Lục Bó và Pắc Đây, huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn là ba thôn có diện tích rừng cộng đồng đã được huyện Cao Lộc giao Trên diện tích ba thôn này đã tiến hành các hoạt động lập Kế hoạch, xây dựng Quy ước bảo vệ và phát triển rừng tuy nhiên mới chỉ là các hoạt động tập huấn hiện trường để cộng đồng có thể lập Kế hoạch quản lý rừng và xây dựng Quy ước bảo vệ phát triển rừng cộng đồng Từ đó đề tài tiếp tục nghiên cứu hỗ trợ để cộng đồng ba thôn lập được Kế hoạch quản lý rừng, xây dựng được Quy ước và Quỹ bảo vệ phát triển rừng cộng đồng để họ có thể quản lý tốt được tài nguyên rừng đã được giao
Trang 24Chương 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG NỘI DUNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
- Về lý luận: Góp phần xây dựng các căn cứ khoa học hỗ trợ cộng đồng quản lý bền vững rừng và đất rừng tự nhiên, cải thiện sinh kế của người dân sau khi nhận đất, nhận rừng
- Về thực tế: Đề xuất các hoạt động quản lý rừng phù hợp với trình độ, phong tục tập quán của cộng đồng dân cư 3 thôn Đông Chắn, Lục Bó, Pắc Đây xã Công Sơn Mục tiêu cụ thể:
+ Xác định được cơ sở pháp lý và điều kiện cơ bản của 3 thôn Đông Chắn, Lục Bó, Pắc Đây xã Công Sơn làm cơ sở cho việc đề xuất các hoạt động trong quản
lý rừng cộng đồng của thôn
+ Đánh giá được hiện trạng tài nguyên rừng cộng đồng của 3 thôn Đông Chắn, Lục Bó, Pắc Đây xã Công Sơn làm cơ sở để xác định khả năng cung cấp lâm sản của rừng cộng đồng
+ Lập được Kế hoạch quản lý rừng cộng đồng hàng năm và 5 năm cho 3 thôn Đông Chắn, Lục Bó, Pắc Đây xã Công Sơn giai đoạn 2011 – 2015
+ Xây dựng được quy ước và quy chế quản lý quỹ bảo vệ và phát triển rừng cộng đồng cho 3 thôn Đông Chắn, Lục Bó, Pắc Đây xã Công Sơn
2.2 Đối tượng, giới hạn nghiên cứu
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu
1 Tài nguyên rừng của cộng đồng và nhu cầu lâm sản của 3 thôn Đông Chắn, Lục Bó, Pắc Đây xã Công Sơn
2 Các văn bản và tài liệu có liên quan đến quản lý rừng cộng đồng dân cư thôn nói chung và công đồng dân cư thôn Đông Chắn, Lục Bó, Pắc Đây xã Công Sơn nói riêng
3 Truyền thống và kiến thức bản địa của cộng đồng dân cư thôn Đông Chắn, Lục Bó, Pắc Đây xã Công Sơn trong quản lý và sử dụng tài nguyên rừng
Trang 252.2.2 Giới hạn nghiên cứu
* Về không gian: tiến hành trên phạm vi diện tích rừng và đất rừng đã giao cho 3 thôn Đông Chắn, Lục Bó, Pắc Đây (Không bao gồm toàn bộ diện tích rừng và đất rừng của thôn mà đã giao cho hộ gia đình)
* Các giải pháp quản lý rừng cộng đồng chỉ tập trung vào các hoạt động
quản lý rừng theo kế hoạch và thiết lập được các thỏa thuận về quyền lợi, trách nhiệm của cộng đồng dân cư thôn khi thực hiện các hoạt động trong quản lý rừng
Cụ thể gồm có các hoạt động sau: lập Kế hoạch quản lý rừng cộng đồng hàng năm
và 5 năm, xây dựng Quy ước và Quỹ bảo vệ và phát triển rừng cộng đồng cho 3
thôn Đông Chắn, Lục Bó, Pắc Đây
- Trong điều tra hiện trạng tài nguyên rừng cộng đồng: chỉ tiến hành điều tra cho những lô rừng đạt tiêu chuẩn khai thác
- Đánh giá nhu cầu lâm sản của người dân chỉ bao gồm gỗ gia dụng không bao gồm nhu cầu thương mại
- Lập kế hoạch quản lý rừng cộng đồng trong 5 năm
2.3 Nội dung nghiên cứu
Để đạt được các mục tiêu đặt ra về lý luận cũng như thực tiễn, đề tài tập trung nghiên cứu theo các nội dung sau:
- Phân tích đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội và tài nguyên rừng của 3 thôn
- Đánh giá nhu cầu lâm sản của cộng đồng 3 thôn Đông Chắn, Lục Bó, Pắc Đây
- Cân đối cung – cầu lâm sản trong cộng đồng 3 thôn Đông Chắn, Lục Bó, Pắc Đây
- Lập Kế hoạch QLRCĐ hàng năm và 5 năm của 3 thôn
- Xây dựng Quy ước bảo vệ và phát triển rừng cộng đồng cho 3 thôn
- Thành lập Quỹ bảo vệ và phát triển rừng cộng đồng cho 3 thôn
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp kế thừa có chọn lọc các tài liệu liên quan sẵn có
- Luật: Luật Dân sự năm 1995, Luật Đất đai năm 2003, Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004
Trang 26- Các văn bản dưới Luật liên quan, Nghị định 02/CP, Nghị định 163/CP, Nghị định 01/CP, Quyết định 08/2001/QĐ-TTg, Quyết định 178/2001/QĐ-TTg, Thông tư Liên tịch số 80/2003/TTLT/BTC/BNN&PTNT và các văn bản liên quan khác
- Nghiên cứu các báo cáo tham luận và tài liệu trong hội thảo về lâm nghiệp cộng đồng năm 2000, 2001, 2004, 2008, 2010
- Các tài liệu kế thừa như điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của 3 thôn, các văn bản liên quan đến việc giao đất giao rừng cho cộng đồng 3 thôn, các loại bản đồ địa hình, bản đồ hiện trạng tài nguyên rừng
- Các số liệu tài liệu kế thừa phải đảm bảo được các yêu cầu sau: chính
thống, cập nhật và đầy đủ cũng như độ chính xác theo yêu cầu của chủ đề nghiên cứu
2.4.2 Phương pháp, công cụ thu thập số liệu hiện trường
- Phỏng vấn hộ gia đình: mỗi thôn phỏng vấn 5 – 7 hộ
2.4.3 Phương pháp lập Kế hoạch quản lý rừng cộng đồng, xây dựng Quy ước và Quỹ bảo vệ và phát triển rừng cộng đồng
2.4.3.1 Lập kế hoạch quản lý rừng cộng đồng dân cư thôn
(1) Đánh giá tài nguyên rừng cộng đồng dân cư thôn
Đánh giá tài nguyên rừng cộng đồng nhằm mục đích cung cấp số liệu cho lập
kế hoạch quản lý rừng cộng đồng Với trình độ hiểu biết và năng lực của người dân còn hạn chế thì đây là công việc tương đối phức tạp
Trang 27Trên thực tế, cộng đồng dân cư thôn kiểm kê và quản lý tài nguyên rừng cộng đồng của mình bằng số cây có trong từng lô rừng vì cách tính này đơn giản Tuy nhiên, khi xác định các lô rừng đạt tiêu chuẩn khai thác và lập kế hoạch khai thác thì cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xem xét và phê duyệt kế hoạch khai thác lại căn cứ vào số m3 gỗ có trong lâm phần
Xuất phát từ thực tế như vậy, phương pháp điều tra đánh giá tài nguyên rừng cộng đồng bằng ô tiêu chuẩn điển hình đơn vị tính là bằng số cây và trữ lượng được đánh giá là khắc phục được nhược điểm của 2 phương pháp trên Trong phương pháp này số cây trong mô hình rừng mong muốn được xác định là số cây ở mức gần với số cây của lô rừng thực tế nhất Căn cứ vào số cây trong mô hình rừng mong muốn (được xây dựng ở sổ tay hướng dẫn lập kế hoạch quản lý rừng cộng đồng), so sánh với mô hình rừng thực tế, tính số cây chênh lệch ở từng cỡ kính Số cây khai thác được xác định bằng từ 1/2 đến 2/3 số cây dư ra trong mô hình rừng mong muốn vì số cây dư ra còn lại là số cây để bù cho số cây bị thiếu hụt ở cỡ kính bên cạnh Tra biểu thể tích một nhân tố cho các cỡ đường kính có số cây dư, từ đó tính toán trữ lượng khai thác cho tất cả các cấp kính trên ha và từ đó tính được tổng trữ lượng khai thác
Xác định lượng khai thác căn cứ nhu cầu gỗ và lâm sản của cộng đồng và lượng khai thác vừa được tính toán xong Lượng khai thác được xác định là lượng
gỗ đáp ứng được tối đa nhu cầu của cộng đồng và là cơ sở để điều chỉnh sản lượng của mô hình rừng thực tế nhanh chóng tiếp cận với mô hình rừng mong muốn Như vậy lượng khai thác được xác định được tính trên cả hai đơn vị là số cây và trữ lượng Cụ thể phương pháp như sau:
Bước 1: Nhận biết lô rừng ngoài hiện trường, làm mốc lô và mô tả lô
- Sử dụng bản đồ giao rừng cho thôn, tới hiện trường rừng xác định ranh giới của các lô rừng giao cho cộng đồng, đối chiếu với lô rừng trên bản đồ để nhận biết ranh giới và vị trí lô trên thực địa và trên bản đồ
- Khi đã xác định được từng lô rừng trên bản đồ và trên thực địa, tiến hành làm mốc phân biệt các lô ở cạnh nhau ngoài hiện trường
Trang 28- Mô tả lô: Sử dụng phương pháp mô tả lô theo tuyến, trên bản đồ giao rừng cùng với người dân thiết kế các tuyến đi mô tả lô
Bước 2: Xác định các lô rừng gỗ đạt tiêu chuẩn khai thác
Chỉ áp dụng đối với các lô rừng có cây đạt cấp kính khai thác (26 hoặc 30cm tuỳ theo vùng)
- Sử dụng thước Bitteclích đo tổng tiết ngang trên ha của từng lô rừng để xác định lô rừng đó có đạt tiêu chuẩn khai thác hay không Trên tuyến đi mô tả lô, tiến hành quay 3 điểm Bitteclích, điểm quay đầu cần cách điểm xuất phát của tuyến là 50m, điểm quay thứ hai cách điểm quay đầu và điểm quay thứ ba mỗi điểm 50m
- Căn cứ “Công văn số 2324/BNN-LN ngày 21/8/2007 của Bộ NN & PTNT
về Hướng dẫn các chỉ tiêu kỹ thuật và thủ tục khai thác rừng cộng đồng”
Bảng 2.1: Tiêu chuẩn kỹ thuật khai thác theo Công văn 2324/BNN-LN
ngày 21/8/2007 của Bộ NN & PTNT
(∑G TT /ha)
Trữ lượng tối thiểu/ha (M TT /ha)
Đường kính khai thác tối thiểu (D KT min )
Duyên hải Nam Trung
- Từ đó xác định lô rừng đạt tiêu chuẩn khai thác Cụ thể: lô rừng đạt tiêu chuẩn khai thác phải có: tổng tiết diện ngang trên ha bằng 21m2 và có 5 cây đạt đường kính bằng 26cm trở lên trong 3 điểm quay
Bước 3: Điều tra rừng đối với các lô rừng gỗ đạt tiêu chuẩn khai thác và điều tra rừng tre nứa
- Điều tra rừng gỗ
+ Lập các tuyến hệ thống trên lô, bố trí các ô đo đếm trên tuyến và tiến hành
đo đếm trên các ô đo đếm Tuyến hệ thống được đặt cách đều nhau và chạy từ cạnh trên xuống cạnh dưới
Trang 29+ Khi xác định các lô rừng đạt tiêu chuẩn khai thác bố trí các ô đo đếm trên các tuyến điều tra Ô đo đếm có diện tích 500m2, dạng hình chữ nhật có cạnh 20 x 25m Đo đường kính cây gỗ, sử dụng thước dây ghi cm để đo chu vi thân cây tại vị trí ở độ cao 1.3m và chỉ đo các cây có đường kính bằng 6cm trở lên Thước dây sử dụng là thước đã được quy đổi chu vi ra đường kính Khi đo đường kính cây cần xác định tên cây và căn cứ vào đường kính đo được tiến hành ghi vào các cỡ đường kính trong biểu điều tra cây đứng, cỡ đường kính ghi trong biểu đo đếm là 4cm
- Điều tra rừng tre, nứa, luồng, lồ ô (không điều tra rừng nứa tép)
Đối với rừng tre, nứa, luồng… tiến hành đo đếm trên ô có diện tích là 100m2, mỗi lô lập 3 ô đo đếm Đếm số cây trên ô và tính số cây/ ha Đối với tre nứa mọc bụi tiến hành điều tra khi gặp bụi thứ 5 và đo cự ly của 6 bụi liền kề Đếm số cây có đường kính lớn hơn 2cm trong mỗi bụi Tiến hành tính cự ly trung bình của 6 bụi Tính số bụi/ ha và số cây/ ha
Bước 4: Xác định số mức số cây trong mô hình rừng mong muốn; Tính toán số cây chênh lệnh; Xác định số cây khai thác trong từng cỡ kính, tính toán lượng khai thác và xác định lượng khai thác
- Dựa vào mô hình mong muốn trong sổ tay hướng dẫn lập kế hoạch rừng cộng đồng của Cục Lâm Nghiệp, xác định trạng thái rừng và mức số cây trong từng
cỡ kính Từ đó xác định mô hình rừng thực tế gần với mức của mô hình rừng mong
Trang 30- So sánh mô hình rừng thực tế với mô hình mong muốn, tính toán được số cây chênh lệch trong từng cỡ kính
- Số cây khai thác là số cây dư ra khi so sánh với mô hình rừng mong muốn
Số lượng cây khai thác được xác định bằng 1/2 đến 2/3 lượng cây dư ra trong từng
cỡ, tra biểu thể tích một nhân tố áp dụng cho vùng Trung du và Vùng núi phía bắc
có được thể tích trung bình của một cây cho từng cỡ kính Lượng khai thác được tính toán là số cây khai thác ở từng cỡ nhân với thể tích bình quân của một cây trong cỡ đó Lượng khai thác được xác định bao gồm số cây khai thác và trữ lượng
gỗ trong từng cỡ kính, nhằm điều chỉnh sản lượng đưa mô hình rừng thực tế nhanh chóng tiếp cận mô hình rừng mong muốn
Bước 5: Đánh giá nhu cầu lâm sản của cộng đồng hàng năm và 5 năm
Sử dụng phương pháp phỏng vấn hộ gia đình để xác định nhu cầu lâm sản và tiến hành cân đối cung cầu lâm sản cho cộng đồng theo cả đơn vị là số cây và số m3
(nếu có thiết kế khai thác)
Bước 6: Lập kế hoạch khai thác hàng năm và năm năm
* Kế hoạch khai thác gỗ
Tính toán lượng khai thác, địa điểm khai thác, phương thức khai thác cho từng năm và năm năm theo số cây và số m3 gỗ (nếu có thiết kế khai thác)
* Kế hoạch khai thác tre nứa
- Căn cứ vào kết quả điều tra tre nứa và nhu cầu tre nứa tiến hành lập kế hoạch khai thác tre nứa Nếu tre nứa khai thác hàng năm thì sản lượng lấy ra chỉ nên bằng 1/5 tổng số cây tre, nứa trong lô Nếu luân kỳ khai thác 2 năm thì sản lượng được phép lấy ra là từ 1/3 đến 1/2 tổng số cây của rừng nứa và từ 1/5 đến 1/4 tổng
số cây của rừng tre Nếu luân kỳ khai thác 3 năm thì sản lượng được phép lấy ra là
từ 1/2 đến 2/3 tổng số cây của rừng nứa và từ 1/5 đến 1/4 tổng số cây của rừng tre
* Kế hoạch khai thác lâm sản ngoài gỗ
Căn cứ vào kết quả khảo sát lâm sản ngoài gỗ được thể hiện trong biểu Mô tả
lô đất trống và Biểu Mô tả lô rừng, tiến hành bố trí khai thác lâm sản ngoài gỗ hàng năm
Trang 31Bước 7: Lập kế hoạch trồng rừng, khoanh nuôi xúc tiến tái sinh kết hợp trồng bổ sung, nuôi dưỡng rừng, bảo vệ rừng và bố trí thời gian, địa điểm thực hiện kế hoạch
- Căn cứ vào hiện trạng tài nguyên rừng cộng đồng, căn cứ vào kết quả cân
đối cung cầu lâm sản của cộng đồng, tiến hành lập kế hoạch trồng rừng, khoanh nuôi xúc tiến tái sinh kết hợp trồng bổ sung, nuôi dưỡng rừng, bảo vệ rừng cho các
lô rừng cộng đồng đã điều tra
2.4.3.2 Xây dựng quy ước bảo vệ và phát triển rừng cộng đồng dân cư thôn
Sử dụng phương pháp có tham gia của người dân, cán bộ lâm nghiệp địa phương là người hỗ trợ, thúc đẩy và cộng đồng dân cư thôn là người xây dựng Quy ước
Trình tự các bước xây dựng và tổ chức thực hiện Quy ước bảo vệ và phát triển rừng cộng đồng dân cư được thể hiện qua bảng sau:
- Khái quát về tiến trình các bước xây dựng và tổ chức thực hiện Quy ước bảo vệ và phát triển rừng cộng đồng dân cư
Tổ chức họp xã =>Họp cán bộ chủ chốt (cuộc họp 1) => Thu thập và nghiên
cứu tài liệu liên quan => Kết quả họp
Bước 2: Họp thôn (cuộc họp 2): Tập trung họp toàn thôn =>Thảo luận
nhóm =>Tập trung họp toàn thôn => Thông qua kết quả thảo luận
Trang 32Nội dung thảo luận: Mục tiêu xây dựng Quy ước; Các vấn đề khó khăn
trong bảo vệ và phát triển rừng; Các quy định về bảo vệ rừng của cộng đồng và của các đối tượng khác và thành lập tổ hoặc nhóm hay hộ gia đình bảo vệ rừng; Lợi ích của cộng đồng và chia sẻ lợi ích; Việc phổ biến Quy ước để đảm bảo Quy ước của
dân; Các nội dung giám sát, đánh giá thực hiện Quy ước
Bước 3: Dự thảo, hoàn chỉnh và phê duyệt Quy ước
Căn cứ vào biên bản của cuộc họp đại diện thôn (bước 2) và thực tế của cộng
đồng dân cư thôn, trưởng ban quản lý bảo vệ rừng thảo luận với thành viên trong ban quản lý rừng, cán bộ hỗ trợ, tiến hành dự thảo Quy ước và báo cáo trưởng thôn sau khi dự thảo Quy ước cơ bản được hoàn chỉnh Tổ chức cuộc họp toàn thôn
(cuộc họp 3) để thông qua dự thảo Quy ước
Bước 4: Phổ biến , giám sát, đánh giá thực hiện Quy ước
Tổ chức cuộc họp toàn thôn (cuộc họp 4) để phổ biến Quy ước
- Phổ biến Quy ước: Trưởng thôn tổ chức họp toàn thể nhân dân trong cộng
đồng dân cư thôn để thông báo Quyết định công nhận Quy ước của Chủ tịch Uỷ ban
nhân dân huyện, phổ biến toàn thể nội dung Quy ước
- Giám sát thực hiện Quy ước: Các nội dung giám sát gồm: tình trạng vi
phạm Quy ước; việc xử lý vi phạm; việc chia sẻ lợi ích…
- Đánh giá thực hiện Quy ước: tiến hành định kỳ hàng năm, xem xét toàn
diện về tính phù hợp và hiệu quả của các quy định trong Quy ước
2.4.3.3 Phương pháp thành lập; Quản lý và sử dụng Quỹ bảo vệ và phát triển rừng cộng đồng dân cư thôn
Quỹ bảo vệ và phát triển rừng của cộng đồng do cộng đồng tự thành lập nhằm mục đích chủ yếu là phục vụ cho các hoạt động về lâm nghiệp của cộng đồng như: bảo vệ rừng, trồng rừng, chăm sóc rừng, khoanh nuôi tái sinh rừng, làm giàu rừng, khai thác lâm sản, quản lý rừng
Cộng đồng dân cư thôn bản sẽ tự bầu ra một Ban quản lý để quản lý Quỹ Ban quản lý rừng cộng đồng có thể làm cả nhiệm vụ của Ban quản lý Quỹ; trường hợp nguồn vốn trong quỹ lớn có thể thành lập Ban quản lý Quỹ riêng
Trang 331 Trình tự các bước thành lập Quỹ thôn
Bầu Ban quản lý Quỹ thôn và Tổ kiểm soát Quỹ thôn => Dự thảo Quy chế quản lý Quỹ thôn => Tổ chức họp thôn thông qua quy chế quản lý Quỹ thôn => Công khai quy chế
2 Xây dựng kế hoạch thu chi quỹ thôn hàng năm
Xem xét Kế hoạch quản lý rừng cộng đồng, Quy ước bảo vệ và phát triển
rừng cộng đồng để xác định các mức thu, chi => Tổ chức họp thôn trao đổi góp ý
=> Hoàn chỉnh kế hoạch thu chi quỹ thôn hàng năm gửi Ban quản lý Quỹ xã xem xét thông qua hay phê duyệt => Công bố công khai Kế hoạch thu chi quỹ thôn hàng năm
3 Công tác kế toán tại Ban quản lý Quỹ thôn
Các nguồn thu cho Quỹ thôn trong đó có khoản hỗ trợ của dự án theo phân
bổ của Quỹ xã được coi là một phần của Quỹ thôn, do vậy công tác kế toán Quỹ thôn của Ban quản lý Quỹ thôn thực hiện bằng việc ghi chép các loại sổ sách, mẫu biểu sau: Sổ ghi biên bản họp Ban quản lý Quỹ thôn, Sổ nhật ký hoạt động, Sổ theo dõi thu chi Quỹ thôn
Định kỳ cuối tháng, quý, 6 tháng và năm Ban quản lý Quỹ thôn tổng hợp và báo cáo kế hoạch thu chi Quỹ thôn, báo cáo tình hình theo dõi thu chi Quỹ thôn cho Quỹ xã Công khai Quỹ thôn
4 Giám sát và Báo cáo
- Ban quản lý Quỹ thôn: định kỳ theo quý, 6 tháng và năm Ban quản lý Quỹ thôn có báo cáo bằng văn bản gửi cho: Ban Phát triển rừng xã, Cộng đồng thôn bản
- Tổ kiểm soát Quỹ thôn: hàng tháng, Tổ kiểm soát Quỹ thôn phân công tiến hành giám sát thường xuyên các hoạt động của Quỹ thôn như: các tổ, nhóm, hộ được giao thực hiện nhiệm vụ có ghi chép Sổ nhật ký ghi chép hoạt động hay không, nội dung ghi chép có cụ thể không Các hoạt động khai thác lâm; Những người được hỗ trợ có nhận được đủ mức hỗ trợ không, Sổ sách ghi chép các khoản thu chi Quỹ thôn có rõ ràng không Hàng tháng tổ kiểm soát Quỹ thôn có báo cáo hàng tháng bằng văn bản công khai kết quả kiểm soát
Trang 34Ghi chú:
Các khoản đóng góp: Các khoản chi hỗ trợ:
Hình 2.2: Sơ đồ tổ chức Quỹ bảo vệ và phát triển rừng cộng đồng
Người dân tham gia các hoạt động bảo vệ và phát triển rừng cộng đồng:
hưởng lợi từ rừng cộng đồng, và đóng góp xây dựng quỹ
Tài khoản Quĩ BV&PTRCĐ xã tại Ngân hàng NN&PTNT
Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng cộng đồng
của thôn (Quỹ thôn)
Ban quản lý Quỹ thôn
Trưởng ban
Kế toán Thủ quỹ Thành viên khác
Nguồn kinh phí do thôn thu
Trang 35Hình 2.3: Sơ đồ quản lý Quỹ xã và Quỹ thôn
xã
3 BQL Quỹ xã gửi
Kế hoạch thu chi hàng năm của Quỹ xã cho BQL quỹ các thôn
6 BQL Quỹ
xã chuyển tiền cho BQL Quỹ thôn theo yêu cầu
7 BQL Quuỹ thôn cấp kinh phí cho các hoạt động BVPTRCĐ
8 Gửi báo cáo thực hiện, chứng
từ hoá đơn mua bán (nếu có)
9 BQL Quỹ thôn gửi Báo cáo thực hiện Quỹ thôn cho BQL Quỹ xã
11.Đánh giá, quyết toán
10 Kiểm tra, thanh toán
Ban quản lý Quỹ xã
Trang 36Chương 3 ĐẶC ĐIỂM KHU VỰC NGHIÊN CỨU
3.1 Điều kiện cơ bản của xã Công sơn, huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn
3.1.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên
3.1.1.1 Vị trí địa lý
Xã Công Sơn nằm ở phía Đông Nam của huyện Cao Lộc, có toạ độ địa lý như sau: từ 1060 52' - 106 0 57' Kinh độ Đông và từ 210 50' - 210 53' Vĩ độ Bắc
- Phía Bắc giáp xã Cao Lâu
- Phía Nam giáp huyện Lộc Bình
- Phía Đông giáp xã Xuất Lễ và xã Công Sơn
- Phía Tây giáp xã Hải Yến và xã Gia Cát
3.1.1.2 Địa hình, địa thế, đặc điểm đất đai
- Địa hình: Xã Công Sơn thuộc xã vùng cao có địa hình phức tạp, nhiều đồi núi cao, độ cao trung bình trên 300m, độ dốc lớn và chia cắt mạnh Với điều kiện chủ yếu là đồi núi như vậy xã Công Sơn có điều kiện tương đối thuận lợi cho phát triển sản xuất lâm nghiệp
- Đất đai chủ yếu của xã Công Sơn được hình thành chủ yếu do quá trình phong hóa đá mẹ, ngoài ra còn có một phần diện tích được hình thành do sản phẩm dốc tụ và đất phù xa sông suối Theo kết quả điều tra, đất đai xã được chia thành các loại đất theo phát sinh như sau:
- Đất feralit trên núi cao (FQ): gồm đơn vị đất phụ là đất vàng đỏ trên đá sét (FQs) và đất vàng nhạt trên đá cát (FQq) Đất feralit mùn vàng nhạt trên núi (FH)
* Khí hậu thời tiết
- Khí hậu: Công Sơn nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình hàng năm là 210c, nhiệt độ cao nhất trong năm từ 37-380c tập trung vào tháng 5, tháng 6, nhiệt độ thấp nhất trong năm là 00c có năm xuống dới - 20c tập trung vào tháng 12 đến tháng 1 năm sau
Trang 37- Lượng mưa: trung bình năm 1392 mm, số ngày ma trung bình 134 ngày/năm, tập trung từ tháng 5 đến tháng 9, chiếm 70% lượng mưa
- Độ ẩm không khí: bình quân hàng năm là 82%, cao nhất là 88% tập trung vào các tháng 3,4 và thấp nhất là 77% tập trung vào tháng 12
- Chế độ gió: Công Sơn chịu ảnh hưởng của 2 loại gió chính là gió mùa Đông Bắc xuất hiện từ tháng 11 đến tháng 4 và gió mùa Đông Nam từ tháng 5 đến tháng 10 Ngoài ra, hàng năm vào mùa đông (khoảng tháng 12, tháng 1) có xuất hiện sương muối Hiện tượng này ảnh hưởng nhiều đến cây trồng và vật nuôi
Đặc điểm chung của khí hậu là có mùa đông lạnh kéo dài, nhiệt độ thấp
và có sương muối Mùa hè nóng ẩm, mưa nhiều, khí hậu thích hợp với nhiều loại cây trồng, đặc biệt là các cây đặc sản (Hồi, Trẩu, Sở ) và một số loại cây ăn quả (Đào Công Sơn )
Thuỷ văn: Hệ thống thuỷ văn của xã chịu ảnh hưởng của hệ thống các con suối nhỏ chảy qua xã là nguồn cung cấp nước sinh hoạt và sản xuất chính của xã
3.1.2 Điều kiện dân sinh, kinh tế - xã hội
3.1.2.1 Dân số và lao động
- Theo số liệu niên giám thống kê năm 2007, xã Công Sơn có tổng số dân là 1.295 người, với 228 hộ gia đình Trong đó, số người trong độ tuổi lao động là 218 người chiếm 40%, lao động chủ yếu là sản xuất nông lâm nghiệp
3.1.2.2 Y tế, giáo dục
- Y tế: Công tác y tế đã được chú trọng hơn trong những năm qua, toàn
xã có 1 trạm y tế với đội ngũ y tế thôn bản duy trì chế độ khám, điều trị cho nhân
53 cháu Công tác giáo dục của xã, thôn đã được chú trọng đầu tư và quan tâm hơn
Trang 38trong những năm gần đây tuy nhiên tỷ lệ người dân biết đọc và biết viết vẫn còn thấp Đây là điều kiện rất khó khăn cho công tác tuyên truyền chế độ chính sách và chuyển giao khoa học kỹ thuật
3.1.2.3 Cơ sở hạ tầng
- Giao thông: đường giao thông trong xã hoàn toàn là đường đất, giao thông
đi lại khó khăn nên việc đi lại trong xã cũng như trong các thôn gặp nhiều khó khăn, làm hạn chế sự phát triển và trao đổi hàng hoá trong thôn và với các địa phương lân cận
- Điện: Xã đã có đường điện cao thế, tuy nhiên chỉ có 2 thôn có điện với 29,7% số hộ được sử dụng điện lưới Quốc gia Như vậy, chỉ một phần ba người dân được tiếp cận thông tin nhanh, còn lại các hộ vẫn dùng đèn dầu cho sinh hoạt
- Thuỷ lợi: Nước tưới tiêu chủ yếu lấy từ suối, nguồn nước tương đối ổn định
- Nước sinh hoạt: Trong xã có khoảng 50% số hộ được sử dụng nước sạch Các hộ còn lại chủ yếu sử dụng nước suối
Để đảm bảo nguồn nước sinh hoạt cho cộng đồng cũng như phục vụ sản xuất thì việc xây dựng phương án giao rừng để cộng đồng dân trong thôn nhằm quản lý sử dụng rừng một cách bền vững là cần thiết và phù hợp với điều kiện thực
tế hiện nay của địa phương
Nhìn chung, điều kiện kinh tế xã hội của thôn tương đối khó khăn do vậy cần
có những chính sách và chương trình dự án, đặc biệt là dự án về lâm nghiệp nhằm cải thiện và nâng cao cuộc sống của đồng bào dân tộc vùng núi
3.1.2.4 Tình hình sản xuất nông, lâm nghiệp
Ngành nghề chủ yếu của người dân trong xã là sản xuất nông, lâm nghiệp, thu nhập thấp, cuộc sống còn gặp nhiều khó khăn Cộng đồng dân cư trong các thôn nhiều năm gắn bó với rừng, trong đó rừng cũng là nguồn cung cấp nhiên liệu củi đốt, vật dụng đồ gia dụng và thu hái các loại lâm sản phụ để phục vụ cuộc sống hàng ngày
Trang 39Trong xã, cây nông nghiệp chủ yếu là cây Lúa, Ngô, Sắn Tổng sản lượng lương thực có hạt (Lúa, Ngô) là 404,5 tấn Bình quân lương thực đầu người: 312,36 kg/người/năm Trong đó, năng suất Lúa đạt 33 tạ/ha/năm, Ngô đạt 43,9 tạ/ha/năm, Khoai lang đạt 45 tạ/ha/năm,
Một số cây ăn quả được trồng trên địa bàn xã là cây Đào, Hồng, Cam, Quýt nhưng với diện tích nhỏ Sản lượng Cam đạt 28,1 tạ/ha/năm, Hồng đạt 27,3 tạ/ha/năm, Đào đạt 32,5 tạ/ha/năm, Mận đạt 41,7 tạ/ha/năm
Cây công nghiệp trồng trên địa bàn xã chủ yếu là cây Hồi và cây chè Trong
đó, diện tích trồng Hồi tương đối lớn và phần lớn các hộ trong xã đều tham gia gây trồng Sản lượng Hồi đạt 22,9 tạ/ha/năm, sản lượng Chè đạt 30,8 tạ/ha/năm Đây là những cây đặc sản cho thu nhập tương đối cao và phù hợp với điều kiện khí hậu của vùng Do vậy, cần có những biện pháp khuyến khích các hộ dân tham gia gây trồng nhằm nâng cao thu nhập cải thiện cuộc sống
Đàn gia súc trong xã Công Sơn có khoảng 583 con trâu, 111 con bò và có
820 con lợn, gia cầm có 4.190 con Gia xúc chủ yếu phục vụ sức kéo cho sản xuất nông, lâm nghiệp Do không có vốn đầu tư nên việc phát triển đàn gia súc, gia cầm không được thực hiện
Thu nhập bình quân trên đầu người trong năm của xã Công Sơn rất thấp, toàn xã có 38 hộ đói, tỷ lệ hộ nghèo theo tiêu chuẩn mới là 64%
Vì vậy, nâng cao thu nhập từ rừng là một trong những giải pháp quan trọng nhất để lồng ghép mục tiêu phát triển kinh tế với bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường
ở địa phương Việc giao rừng cộng đồng nhằm thu hút đầu tư của các chương trình
dự án sẽ tạo thêm việc làm, tăng thu nhập cho cộng đồng người dân trong thôn cũng
là một trong những giải pháp thiết thực nhằm thực hiện mục tiêu phát triển
3.2 Hiện trạng sử dụng đất đai, hiện trạng rừng xã Công Sơn, huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn
3.2.1 Hiện trạng sử dụng đất đai xã Công Sơn
Theo thống kê tổng diện tích tự nhiên của xã Công Sơn là 3.431,79ha, trong
đó chủ yếu là diện tích đất nông nghiệp, chiếm tới 99,07% với tổng diện tích là
Trang 403.399,81ha Tuy nhiên, diện tích đất sản xuất nông nghiệp thấp, chỉ có 345,77ha, chiếm tỷ lệ 10,08% Trong khi đó diện tích đất sản xuất lâm nghiệp là 3.054,04ha chiếm tới 88,99% Cho nên tình trạng thiếu lương thực xẩy ra hàng năm, điều này dẫn đến tình trạng phá rừng làm nương rẫy, gây sức ép không nhỏ đến diện tích rừng hiện có trong toàn xã
Hiện trạng sử dụng đất đai của xã Công Sơn được thể hiện dưới bảng sau:
Bảng 3.1: Hiện trạng sử dụng đất đai xã Công Sơn
3.2.2 Hiện trạng rừng xã Công Sơn
Trên cơ sở kết quả rà soát quy hoạch 3 loại rừng tỉnh Lạng Sơn năm 2007, hiện trạng rừng của xã Công Sơn thể hiện qua biểu sau: