Để ngành nông nghiệp phát triển bền vững và tạo ra những bước tiến trong quá trình sản xuất đòi hỏi chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác nông nghiệp từ trung ương đến địa phương ngày c
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Sau 2 năm phấn đấu vượt qua nhiều khó khăn để học tập, với sự ủng hộ, động viên của gia đình, sự quan tâm tạo điều kiện thuận lợi của cơ quan nơi tôi công tác, của nhà trường và sự dạy dỗ tận tình của quý thầy cô giáo cùng với sự
nỗ lực của bản thân, tôi đã hoàn thành chương trình đào tạo cao học Kinh tế nông nghiệp và hoàn thành luận văn này
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tôi đã nhận được sự hướng dẫn và giúp
đỡ tận tình, đầy tinh thần trách nhiệm của người hướng dẫn khoa học, thầy giáo tiến sỹ Trần Hữu Dào, cũng như sự giúp đỡ tạo điều kiện thuận lợi của các cơ quan, ban ngành đặc biệt là Huyện ủy, UBND huyện Cẩm Khê, Ban Tổ chức, Văn phòng huyện ủy, Phòng Nội vụ, Phòng NN&PTNT, chi cục Thống kê, Trạm khuyến nông, Trạm thú y và một số Phòng, Ban khác của huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ cùng bạn bè, đồng nghiệp, gia đình đã tận tình giúp đỡ động viên tôi hoàn thành đề tài Nhân đây, bằng tất cả tấm lòng chân thành và kính trọng của mình, tôi xin được trân trọng cảm ơn các thầy cô giáo, nhà trường, quý cơ quan, quý anh chị, các đồng nghiệp và gia đình đã dạy dỗ, hướng dẫn, giúp đỡ, tạo điều kiện và động viên để tôi hoàn thành chương trình của khóa học này
Tôi xin cam đoan luận văn này là kết quả của quá trình nghiên cứu khoa học thật sự nghiêm túc của bản thân tôi, những số liệu báo cáo trong luận văn này là số liệu điều tra thực tế và trung thực, các thông tin được trích dẫn rõ ràng
Tác giả
Trần Xuân Sơn
Trang 2MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cảm ơn i
Danh mục các từ viết tắt v
Danh mục các bảng vi
Danh mục các hình viii
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN VỀ CÁN BỘ CẤP XÃ, CÁN BỘ CẤP XÃ LÀM CÔNG TÁC NÔNG NGHIỆP 5
1.1 Cơ sở lý luận 5
1.1.1 Một số khái niệm, quan điểm về cán bộ và công tác cán bộ 5
1.1.2 Tiêu chuẩn cán bộ cấp xã làm công tác nông nghiệp 10
1.1.3 Vai trò của cán bộ cấp xã làm công tác nông nghiệp 11
1.1.4 Những nhiệm vụ cơ bản của cán bộ cấp xã làm công tác nông nghiệp 11
1.1.5 Các tiêu chí đánh giá chất lượng cán bộ cấp xã làm công tác nông nghiệp 13
1.1.6 Sự cần thiết phải nâng cao chất lượng cán bộ cấp xã làm công tác nông nghiệp 20
1.1.7 Các yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng và kết quả công việc của cán bộ làm công tác nông nghiệp 21
1.2 Cơ sở thực tiễn 25
1.2.1 Kinh nghiệm đào tạo và sử dụng đội ngũ cán bộ nông nghiệp phục vụ phát triển KT-XH nông thôn của một số nước trên thế giới 25
1.2.2 Kinh nghiệm đào tạo và sử dụng đội ngũ cán bộ nông nghiệp phục vụ phát triển kinh tế - xã hội nông thôn ở Việt nam 28
Trang 31.3 Một số công trình nghiên cứu có liên quan 30
Chương 2 ĐẶC ĐIỂM HUYỆN CẨM KHÊ VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32
2.1 Đặc điểm của huyện Cẩm Khê 32
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên 32
2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 36
2.1.3 Những thuận lợi và khó khăn trong phát triển KT - XH của huyện 42
2.2 Phương pháp nghiên cứu 44
2.2.1 Phương pháp tiếp cận 44
2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu 46
2.2.3 Phương pháp phân tích số liệu 47
2.2.4 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 48
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 50
3.1 Thực trạng chất lượng của đội ngũ cán bộ cấp xã làm công tác nông nghiệp huyện Cẩm Khê 50
3.1.1 Đặc điểm đội ngũ cán bộ cấp xã làm công tác nông nghiệp huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ 50
3.1.2 Kiến thức, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ 52
3.1.3 Kỹ năng hoạt động nông nghiệp 60
3.1.4 Kết quả hoạt động 70
3.1.5 Phẩm chất đạo đức 81
3.1.6 Đánh giá của nông dân về chất lượng đội ngũ cán bộ cấp xã làm công tác nông nghiệp 85
3.1.7 Đánh giá của cán bộ, công chức cấp huyện, xã về chất lượng đội ngũ cán bộ cấp xã làm công tác nông nghiệp 86
3.1.8 Đánh giá chung về chất lượng đội ngũ cán bộ cấp xã làm công tác nông nghiệp huyện Cẩm Khê 87
Trang 43.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng của đội ngũ cán bộ cấp xã làm công
tác nông nghiệp huyện Cẩm Khê 89
3.2.1 Giới 90
3.2.2 Độ tuổi, kinh nghiệm, sức khoẻ 90
3.2.3 Trình độ chuyên môn, kỹ năng nghiệp vụ 91
3.2.4 Tinh thần, thái độ làm việc 91
3.2.5 Điều kiện làm việc 92
3.2.6 Một số yếu tố khác 94
3.3 Các giải pháp chủ yếu nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ cấp xã làm công tác nông nghiệp huyện Cẩm Khê 95
3.3.1 Quy hoạch đội ngũ cán bộ cấp xã làm công tác nông nghiệp 95
3.3.2 Đào tạo bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, phương pháp, kỹ năng cho cán bộ cấp xã làm công tác nông nghiệp 96
3.3.3 Tăng cường, bổ sung trang thiết bị, cải thiện điều kiện làm việc cho cán bộ cấp xã làm công tác nông nghiệp 98
3.3.4 Cơ chế chính sách 99
KẾT LUẬN - KIẾN NGHỊ 101
1 Kết luận 101
2 Kiến nghị 103 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
1 CBNLNTS Cán bộ nông lâm nghiệp,thủy sản
7 CNH-HĐH Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
2.2 Tình hình đất đai và sử dụng đất của huyện Cẩm Khê năm 2013 41
3.1 Số lượng cán bộ làm công tác nông nghiệp huyện Cẩm Khê
3.4 Kinh nghiệm hoạt động trong nông nghiệp của cán bộ cấp xã
3.5 Đánh giá chất lượng cán bộ cấp xã làm công tác nông nghiệp
3.6 Tình hình đào tạo các kỹ năng: Lập kế hoạch, thuyết trình, phân
tích, đánh giá của cán bộ cấp xã làm công tác nông nghiệp 71 3.7 Tỷ lệ cán bộ cấp xã làm công tác nông nghiệp phối hợp với các
3.8 Đánh giá chất lượng đội ngũ cán bộ cấp xã làm công tác nông
3.9 Các mức chất lượng xây dựng mô hình trình diễn của cán bộ
3.10 Tỷ lệ cán bộ cấp xã làm công tác nông nghiệp thực hiện các kỹ
Trang 73.11 Các mức chất lượng tập huấn nông dân của cán bộ cấp xã làm
3.12 Các mức chất lượng về khả năng truyền thông của cán bộ cấp
3.13 Tỷ lệ cán bộ cấp xã làm công tác nông nghiệp tổ chức các hoạt
3.14 Các mức chất lượng tư vấn, dịch vụ của cán bộ cấp xã làm công
3.15 Mức độ hài lòng của cán bộ cấp xã làm công tác nông nghiệp 92 3.16 Đánh giá của người dân về cán bộ cấp xã làm công tác nông
3.17 Đánh giá của cán bộ công chức cấp huyện,xã về cán bộ cấp xã
Trang 83.2 Tỷ lệ cán bộ cấp xã làm công tác nông nghiệp nắm bắt và sử
dụng phương pháp giáo dục người lớn tuổi
67
3.3 Yêu cầu và chất lượng thực tế về kiến thức của cán bộ cấp xã
làm công tác nông nghiệp
73
3.4 Mức độ thuyết trình của cán bộ cấp xã làm công tác nông
nghiệp trước đám đông
3.7 Tỷ lệ cán bộ cấp xã làm công tác nông nghiệp đã được đào tạo
kỹ năng viết tin bài và tham gia viết tin bài
78
3.8 So sánh giá yêu cầu và kỹ năng thực tế của cán bộ cấp xã làm
công tác nông nghiệp
86
3.9 Tỷ lệ cán bộ cấp xã làm công tác nông nghiệp tham gia cung
cấp thông tin thị trường, giá cả cho nông dân
93
3.10 Nguyên nhân làm cho cán bộ cấp xã làm công tác nông nghiệp
chưa bằng lòng với công việc
Trang 9ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Tính cấp thiết của đề tài
Kinh tế Việt Nam gồm công nghiệp, nông nghiệp, thương mại và dịch vụ; trong đó nông nghiệp là một ngành rất quan trọng có ảnh hưởng trực tiếp tới nền kinh tế và đời sống đại đa số người dân; nó có sức lan tỏa lớn nhất, có tính kết nối rất cao với nhiều ngành kinh tế khác Nông nghiệp cung cấp đầu vào cho công nghiệp chế biến thực phẩm, chế biến xuất khẩu, đồng thời sử dụng sản phẩm của các ngành công nghiệp và dịch vụ khác như nhiên liệu, phân bón, hóa chất, máy móc cơ khí, năng lượng, tín dụng, bảo hiểm… Ngoài
ra nông nghiệp còn liên quan mật thiết với sức mua của dân cư và sự phát triển của thị trường trong nước Hiện nay, ngành nông nghiệp tạo ra gần 20% GDP cho cả nước, với hơn 50% lực lượng lao động đang làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp nên nông nghiệp Việt Nam đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong đảm bảo an ninh lương thực, tạo điều kiện việc làm cho dân cư, là nhân
tố quyết định xóa đói giảm nghèo, góp phần phát triển kinh tế và ổn định chính trị - xã hội của đất nước Vì vậy ngành nông nghiệp được ưu tiên hàng đầu trong các chính sách phát triển của quốc gia Để ngành nông nghiệp phát triển bền vững và tạo ra những bước tiến trong quá trình sản xuất đòi hỏi chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác nông nghiệp từ trung ương đến địa phương ngày càng phải được nâng cao, đảm bảo đủ yêu cầu để điều hành một ngành nông nghiệp ngày càng phát triển và hiện đại hóa trong thị trường mở cửa hiện nay
Đặc biệt đối với cấp xã, thị trấn là cấp thấp nhất, gần dân nhất, giữ vị trí hết sức quan trọng, là nền tảng của hệ thống chính trị, là cấp trực tiếp tổ chức, vận động nhân dân thực hiện chủ trương đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, chăm lo đời sống của nhân dân, là “ cầu nối” giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân Vì vậy,
Trang 10việc chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ cấp xã làm công tác nông nghiệp có đủ phẩm chất, năng lực là nhiệm vụ thường xuyên, có ý nghĩa hết sức quan trọng
cả trước mắt cũng như lâu dài trong sự nghiệp phát triển ngành nông nghiệp của đất nước
Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác nông nghiệp để phát triển nông nghiệp, nông thôn là một trong những chính sách vô cùng quan trọng của Đảng và Nhà nước trong quá trình đổi mới nhằm nâng cao hiệu quả của việc phát triển nông thôn ngày nay Trong những năm vừa qua, đội ngũ cán bộ nông nghiệp đã ngày càng khẳng định vị trí, vai trò của mình trong cộng đồng, xã hội Với nhiệm vụ truyền bá kiến thức về phát triển nông nghiệp, nông thôn cho nông dân, tuyên truyền phổ biến những tiến bộ kỹ thuật mới về nông - lâm - ngư nghiệp cho nông dân, hướng dẫn nông dân
về quy trình kỹ thuật thâm canh các loại cây trồng vật nuôi mới; xây dựng các mô hình cho cộng đồng tham quan học tập ., cán bộ nông nghiệp đã đem "nguyên liệu" thông tin khoa học đến, bày vẽ cách làm cho người dân,
là chất "xúc tác" thổi bùng ngọn lửa canh tân trong từng hộ, trong cả cộng đồng, để người người, nhà nhà và toàn thể cộng đồng tự chủ, giải quyết tốt những công việc của chính mình Tuy nhiên, nhìn chung chất lượng đội ngũ cán bộ cấp xã làm công tác nông nghiệp còn nhiều mặt hạn chế, cơ cấu đội ngũ còn chưa thật sự cân đối, cơ chế hoạt động còn thiếu đồng bộ Công tác tổ chức cán bộ chưa theo kịp tình hình phát triển đất nước Chính sách đối với cán bộ làm công tác nông nghiệp mặc dù đã có nhiều đổi mới song vẫn còn nhiều bất cập, chưa thật sự tạo động lực tốt cho lực lượng này làm việc
và cống hiến…
Cũng như vai trò của đội ngũ cán bộ cấp xã làm công tác nông nghiệp trên cả nước; trong những năm vừa qua, đội ngũ cán bộ nông nghiệp cấp xã trên địa bàn huyện Cẩm Khê- tỉnh Phú Thọ đã góp phần không nhỏ vào quá
Trang 11trình phát triển kinh tế xã hội của huyện nói chung và của ngành nông nghiệp huyện nói riêng Tuy nhiên, bên cạnh những vai trò không thể phủ nhận thì chất lượng của đội ngũ cán bộ cấp xã làm công tác nông nghiệp trên địa bàn huyện Cẩm Khê hiện nay vẫn còn nhiều tồn tại, hạn chế do hình thành từ nhiều nguồn, cơ cấu chưa đồng bộ, trình độ, phẩm chất, năng lực của một bộ phận chưa đáp ứng được yêu cầu đòi hỏi của thực tiễn Việc đánh giá, tổng kết một cách có hệ thống chất lượng đội ngũ cán bộ cấp xã làm công tác nông nghiệp trên địa bàn huyện chưa được tiến hành thường xuyên và chưa có giải pháp đồng bộ Nên việc nghiên cứu về nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ cấp xã làm công tác nông nghiệp trên địa bàn huyện Cẩm Khê nhằm phát huy mọi tiềm năng về trí tuệ, trình độ chuyên môn và nhiệt huyết nghề nghiệp của lực lượng này để đưa sự nghiệp phát triển nông nghiệp nông thôn của tỉnh Phú Thọ nói chung và của huyện Cẩm Khê nói riêng ngày càng phát triển đi lên là một
việc làm cần thiết Xuất phát từ thực tế trên, tôi nghiên cứu đề tài: “Giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ cấp xã làm công tác nông nghiệp tại huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ”
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở đánh giá thực tra ̣ng chất lượng đội ngũ cán bộ nông nghiệp cấp
xã, thị trấn thuộc huyê ̣n Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ Từ đó đề ra các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng cho đội ngũ cán bộ nông nghiệp cấp xã, thị trấn trong thời gian tới
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hoá những vấn đề lý luâ ̣n cơ bản và thực tiễn về đội ngũ cán
bộ cấp xã làm công tác nông nghiệp, chất lượng và nâng cao chất lượng của đội ngũ cán bộ cấp xã làm công tác nông nghiệp
Trang 12- Đánh giá thực tra ̣ng chất lượng và chỉ ra được các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đội ngũ cán bộ cấp xã làm công tác nông nghiệp tại huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ
- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng cho đội ngũ cán bộ cấp xã làm công tác nông nghiệp trên địa bàn huyện Cẩm Khê tỉnh Phú Tho ̣ trong thời gian tới
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đố i tươ ̣ng nghiên cứu của đề tài là chất lượng và các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đội ngũ cán bộ cấp xã làm công tác nông nghiệp trên đi ̣a bàn huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ Đội ngũ cán bộ cấp xã, thị trấn làm công tác nông nghiệp trên địa bàn huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ, bao gồm 04 đối tượng: Phó chủ tịch UBND cấp xã phụ trách kinh tế - nông nghiệp (trưởng ban nông nghiệp xã); Cán bộ nông lâm nghiệp, thủy sản - tổ trưởng tổ khuyến nông cơ sở (Cán bộ NLNTS); Cán bộ chăn nuôi, thú y - Tổ phó tổ khuyến nông cơ sở (Cán bộ CNTY) và Công chức địa chính (CC địa chính)
Trang 13Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN VỀ CÁN BỘ CẤP XÃ,
CÁN BỘ CẤP XÃ LÀM CÔNG TÁC NÔNG NGHIỆP
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Một số khái niệm, quan điểm về cán bộ và công tác cán bộ
1.1.1.1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin
Trong bất cứ thời đại nào, giai đoạn cách mạng nào thì vai trò của cán
bộ và công tác cán bộ cũng đều hết sức quan trọng Từ chủ trương, đường lối chính trị đến việc tổ chức thực hiện những nhiệm vụ công việc cụ thể, đội ngũ cán bộ đều đóng vai trò quyết định Chính đội ngũ cán bộ là người đưa đường lối chính sách của Đảng đi vào cuộc sống, thực hiện thành công mục tiêu, lý tưởng của Đảng thông qua hành động cách mạng của đông đảo quần chúng nhân dân Nhận thức được vấn đề này, các lãnh tụ của giai cấp vô sản thế giới C.Mác Ph.Ăng ghen, V.I Lênin đều đặt vai trò của đội ngũ cán bộ lên hàng đầu.[4]
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác, "nếu không có những hoạt động thực tiễn có mục đích thì những tư tưởng dù tốt đẹp bao nhiêu cũng chẳng đem lại kết quả mong muốn nào cả", C.Mác khẳng định: "Muốn thực hiện tốt những tư tưởng thì cần phải có những con người vận dụng một lực lượng thực tiễn".Cũng theo chủ nghĩa Mác, vấn đề cán bộ hoàn toàn xuất phát từ thực tiễn khách quan, do lịch sử đỏi hỏi Mỗi thời kỳ phát triển của xã hội đều phải có một đội ngũ cán bộ tương ứng, thích ứng với điều kiện khách quan của xã hội.[3]
Bất kỳ giai cấp nào trong lịch sử, muốn trở thành giai cấp lãnh đạo xã hội cũng phải đào tạo được đội ngũ cán bộ tiêu biểu cho giai cấp mình Khi nói về vai trò của cán bộ trong sự nghiệp cách mạng, V.I Lê nin vị lãnh tụ vĩ đại của giai cấp vô sản thế giới chỉ rõ: "Trong lịch sử chưa hề có một giai cấp
Trang 14nào giành được quyền thống trị nếu nó không tạo ra được trong hàng ngũ của mình lãnh tụ chính trị, những đại biểu tiên phong có đủ khả năng tổ chức và lãnh đạo phong trào".[5]
Dựa vào tư tưởng của C.Mác và Ăng ghen, nghiên cứu phong trào công nhân Nga, ngay từ khi chưa giành được chính quyền VI.Lênin cũng đã nhấn mạnh đến việc đào tạo, rèn luyện những cán bộ hoạt động chuyên nghiệp để lãnh đạo phong trào cách mạng vô sản Khi Đảng Cộng sản Nga giành được chính quyền, Lênin lại tiếp tục khẳng định rằng cán bộ là then chốt, quyết định thực hiện thành công đường lối chính trị của Đảng Theo Lê nin, vấn đề cán bộ và bộ máy tổ chức cán bộ phải được đặt ra, nhìn nhận theo cách mới Trong đó có thể nêu ra các ý như sau[4]:
- Một là: Sự nghiệp xây dựng CNXH là công việc của toàn dân, tuy
nhiên sự nghiệp đó đòi hỏi phải có một đội ngũ cán bộ đóng vai trò tổ chức các hoạt động thực tiễn làm sao có hiệu quả Trong đó tầm quan trọng bậc nhất là công tác tổ chức cán bộ trong lĩnh vực kinh tế
- Hai là: Cách mạng phải đào tạo ra một đội ngũ cán bộ đủ sức để gánh
vác nhiệm vụ lịch sử mới, phải làm sao nhiệm vụ chiến lược của Đảng và chính quyền Xô viết là "giáo dục những đảng viên trẻ đó một cách hết sức nhanh chóng, hết sức có hiệu quả và hết sức thiết thực, giúp đỡ cho việc rèn luyện họ trở thành những cốt cán xây dựng CNCS, giác ngộ nhất, có khả năng đảm nhiệm những chức vụ trọng trách nhất, nhưng đồng thời liên hệ rất chặt chẽ với quần chúng, tức là với đa số công nhân và những nông dân"
- Ba là: Mỗi khi cách mạng chuyển giai đoạn, cần thiết phải có sự thay
đổi, bổ sung yêu cầu về cơ cấu và tiêu chuẩn cán bộ cho phù hợp
- Bốn là: Cần đề phòng các nguy cơ bộ máy công kềnh, quan liêu, cán
bộ không thạo việc, bận bịu vào công việc giấy tờ, bệnh kiêu ngạo cộng sản
và thoái hoá biến chất
Trang 151.1.1.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ và công tác cán bộ
Ngay từ thời kỳ đầu thành lập nước và trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành nhiều thời gian
và công sức để huấn luyện và đào tạo cán bộ cho cách mạng Không những thế người còn luôn quan tâm đến việc nêu ra một số vấn đề có tính lý luận và thực tiễn để xây dựng những tiêu chuẩn cụ thể làm cơ sở cho Đảng ta lựa chọn cán bộ Những tư tưởng đó được Bác nêu ra trong nhiều tài liệu huấn luyện cán bộ, như “phép dùng người của Khổng Minh”, “phép dùng binh của Tôn Tử”, “sửa đổi lề lối làm việc” được Bác ứng dụng để giáo dục, rèn luyện cán bộ Như chúng ta đều biết, một trong những tư tưởng về công tác cán bộ
mà Bác nêu ra, đó là: "Cán bộ là cái gốc của mọi công việc và huấn luyện cán
bộ là công việc của Đảng" Từ đó Bác nêu ra những tiêu chuẩn cơ bản để lựa chọn cán bộ là:[1]
+ Những người đã tỏ ra rất trung thành và hăng hái trong công việc, trong lúc đấu tranh
+ Những người liên lạc mật thiết với dân chúng Như thế thì dân chúng mới tin cậy cán bộ và nhận cán bộ đó là người lãnh đạo của họ
+ Những người có thể phụ trách và giải quyết các vấn đề trong những hoàn cảnh khó khăn Ai sợ phụ trách và không có sáng kiến thì không phải là người lãnh đạo Người lãnh đạo đúng đắn cần phải: khi thất bại không hoang mang, khi thắng lợi không kiêu ngạo khi thi hành thì kiên quyết, gan góc, không sợ khó khăn
+ Những người luôn giữ đúng kỷ luật
Đó là những khuôn khổ để lựa chọn cán bộ, chúng ta phải theo cho đúng Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến đội ngũ cán bộ, động viên cán bộ hăng hái thi đua thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị Bác nói: "Cán bộ là những người đem đường lối, chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích
Trang 16cho dân hiểu rõ và thi hành, đồng thời đem tình hình của dân báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ để đặt chính sách cho đúng Vì vậy cán bộ là cái gốc của mọi công việc" Khi xem xét mọi vấn đề liên quan đến cán bộ và công tác cán bộ phải gắn với nhiệm vụ cách mạng Điều đó khác với quan niệm làm cán bộ là làm quan cách mạng, cốt để "thăng quan phát tài"…[1]
Theo Hồ Chí Minh, vai trò của người cán bộ được thể hiện trong bốn mối quan hệ: Một là, với đường lối chính sách; hai là, với bộ máy (các cơ quan lãnh đạo, quản lý); ba là, với công việc; bốn là, với quần chúng Bất cứ người cán bộ nào cũng đều ràng buộc trong bốn mối quan hệ đó, chỉ cần những điều đó và chỉ khi nào hoàn thành được sứ mệnh do các quan hệ đó đòi hỏi thì người cán bộ đó mới thể hiện được vai trò của mình
Do nhận thức được vai trò và tầm quan trọng của công tác cán bộ, Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu đã dày công xây dựng được một đội ngũ cán bộ vừa hồng vừa chuyên Trong những năm qua, đội ngũ cán bộ của Đảng đã thể hiện được vai trò tiên phong gương mẫu, là nhân tố quyết định sự thành công và thắng lợi của cách mạng Việt Nam trong mọi thời kỳ Đó là một thực tế không thể nào phủ nhận
1.1.1.3 Quan điểm của Đảng ta về cán bộ và công tác cán bộ
Tổng kết qua các thời kỳ cách mạng, Đảng ta đã chỉ ra rằng: "Trong xây dựng Đảng ở bước ngoặt lịch sử, đội ngũ cán bộ càng có vai trò đặc biệt quan trọng, thúc đẩy hoặc kìm hãm" Công tác cán bộ bố trí đúng người đúng việc, nội bộ đoàn kết; ngược lại đánh giá sử dụng sai thì tai hại không lường cho cả trước mắt và mãi mãi mai sau Trong chiến tranh người cầm quân ra trận nếu có tài mưu lược nhà binh sẽ đánh đâu thắng đấy; ngược lại, nếu bất tài sẽ dẫn đến bại trận, nướng quân Trong xây dựng hoà bình, nếu cán bộ không đủ năng lực điều hành thì sự nhiệt tình cộng với sự dốt nát sẽ trở thành người phá hoại "khuynh gia bại sản"[17]
Trang 17Như vậy con thuyền cách mạng cập bến vinh quang hay trôi dạt nơi phương trời góc bể là do vai trò của đội ngũ cán bộ, vai trò của người cầm lái
Bước vào thời kỳ cách mạng mới Nghị quyết Đại hội VI đã nhấn mạnh: ""Đổi mới đội ngũ cán bộ có nghĩa là đánh giá lựa chọn, bố trí đi đôi với đào tạo, bồi dưỡng để có được một đội ngũ cán bộ có đủ những tiêu chuẩn
về phẩm chất và năng lực lãnh đạo, quản lý ngang tầm nhiệm vụ " [18]
Đại hội VII (năm 1991) xác định tiêu chuẩn cơ bản cho mọi cán bộ, trong giai đoạn đổi mới là : "Có bản lĩnh chính trị vững vàng có tinh thần trách nhiệm và tinh thần đổi mới, trung thực và thẳng thắn, có tinh thần học tập để không ngừng nâng cao trình độ, có lối sống lành mạnh, được nhân dân tín nhiệm".[19]
Đại hội VII đã chỉ ra phương hướng và nhiệm vụ của công tác cán bộ trong thời gian tới: "Mục tiêu của công tác cán bộ là xây dựng đội ngũ cán bộ đồng bộ và có chất lượng, mà nòng cốt là đội ngũ cán bộ chủ chốt các ngành, các cấp và cơ sở, trước hết là đội ngũ cán bộ chiến lược, có đủ phẩm chất và năng lực đảm bảo thực hiện thắng lợi những nhiệm vụ của những năm tới và
sự vững vàng của Đảng trước mọi khó khăn thử thách, đồng thời tích cực chuẩn bị cán bộ cho những năm tiếp theo ".[22]
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII cũng đã khẳng định nước ta đã chuyển sang thời kỳ phát triển mới: Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Tình hình và nhiệm vụ mới đặt ra rất nhiều yêu cầu cho công tác cán bộ, đòi hỏi "Toàn Đảng phải hết sức chăm lo xây dựng thật tốt đội ngũ cán bộ, chú trọng đội ngũ cán bộ kế cận vững vàng, đủ bản lĩnh về các mặt Sớm xây dựng cho được một chiến lược cán bộ của thời kỳ mới."[20]
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã chỉ rõ mục tiêu của công tác cán bộ là: "Xây dựng đội ngũ cán bộ, trước hết là đội ngũ cán bộ lãnh đạo và quản lý ở các cấp, vững vàng về chính trị, gương mẫu về đạo đức,
Trang 18trong sạch về lối sống, có trí tuệ, kiến thức và năng lực hoạt động thực tiễn, gắn bó với nhân dân."[26]
Đại hội lần thứ X của Đảng nhấn mạnh: "Mục tiêu chung là xây dựng đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức, lối sống lành mạnh, không quan liêu, tham nhũng, lãng phí ", "Đổi mới mạnh mẽ, triển khai đồng bộ các khâu: đánh giá, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển,
bố trí, sử dụng, xây dựng và thực hiện chính sách cán bộ ", " Xây dựng và thực hiện chính sách phát triển và trọng dụng nhân tài " [21]
Từ những quan điểm trên đây chúng ta thấy rõ rằng trong tất cả các giai đoạn cách mạng, Đảng ta luôn coi trọng và đặt công tác cán bộ lên hàng đầu, coi cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ là yếu tố quyết định sự thành công hay thất bại của đường lối
1.1.1.4 Một số khái niệm
- Cán bộ nông nghiệp: Là những người làm công tác nghiệp vụ chuyên
môn trong một cơ quan hoặc một tổ chức quan hệ trực tiếp đến sản xuất và các ngành khoa học kỹ thuật trong nông nghiệp.[15]
- Cán bộ cấp xã làm công tác nông nghiệp: Là những người trực tiếp
chỉ đạo hoặc trực tiếp làm công tác trong lĩnh vực nông nghiệp trên địa bàn cấp xã Đây là những người trực tiếp tiếp cận với nông dân và tổ chức chỉ đạo hoặc triển khai các hoạt động nông nghiệp cho nông dân .[15]
Ở đây Cán bộ cấp xã làm công tác nông nghiệp được chia làm 2 loại: Cán bộ lãnh đạo, quản lý (Phó chủ tịch UBND xã phụ trách kinh tế-nông nghiệp); Cán bộ chuyên môn nông nghiệp cấp xã (Công chức địa chính xã; Cán bộ NLNTS xã; Cán bộ CNTY xã) .[11]
1.1.2 Tiêu chuẩn cán bộ cấp xã làm công tác nông nghiệp [11]
- Có tinh thần thực sự yêu mến quê hương, biết thương yêu, quý trọng mọi người đặc biệt là người nông dân;
Trang 19- Có trình độ hiểu biết và đã được kinh qua đào tạo nghiệp vụ, có chuyên môn về một trong những ngành cơ bản sản xuất nông nghiệp ở địa phương như trồng trọt, chăn nuôi, thú y, lâm nghiệp, thuỷ sản
- Có đạo đức, tác phong lành mạnh, khiêm tốn, kiên trì, chịu khó học hỏi kinh nghiệm của những bậc lão nông tri điền, các kinh nghiệm hay của người khác;
- Biết làm giàu cho bản thân gia đình mình và có tinh thần thương yêu, giúp đỡ những người xung quanh mình cũng làm giàu;
- Biết vận động và tổ chức nông dân thực hiện đúng các yêu cầu của chương trình dự án nông nghiệp
1.1.3 Vai trò của cán bộ cấp xã làm công tác nông nghiệp [11]
Cán bộ cấp xã làm công tác nông nghiệp: chịu trách nhiệm cung cấp thông tin giúp nông dân hiểu biết được và ra quyết định về một vấn đề cụ thể (ví dụ áp dụng một cách làm ăn mới, gieo trồng một loại giống mới) Khi nông dân đã quyết định làm theo, cán bộ cấp xã làm công tác nông nghiệp chuyển giao kiến thức, kỹ năng cần thiết để họ áp dụng thành công cách làm mới đó Như vậy vai trò của cán bộ cấp xã làm công tác nông nghiệp là đem lại kiến thức cho dân và giúp họ sử dụng kiến thức đó một cách có hiệu quả
Cán bộ cấp xã làm công tác nông nghiệp phải biết giúp người nông dân phát triển sản xuất trên những điều kiện, nguồn lực sẵn có của họ Muốn vậy cán bộ cấp xã làm công tác nông nghiệp phải thường xuyên hỗ trợ và động viên nông dân phát huy những tiềm năng và sáng kiến của họ để chủ động giải quyết những vấn đề trong cuộc sống
1.1.4 Những nhiệm vụ cơ bản của cán bộ cấp xã làm công tác nông nghiệp [11,12]
- Cung cấp kiến thức KHKT và huấn luyện nông dân, biến những kiến
Trang 20thức, kỹ năng đó thành những kết quả cụ thể trong sản xuất đời sống
- Thúc đẩy các ý tưởng, sáng kiến mới trong sản xuất và tư vấn, hỗ trợ giúp nông dân thực hiện thành công các ý tưởng sáng kiến đó
- Truyền thông: Tìm kiếm, xử lý lựa chọn các thông tin cần thiết, phù hợp từ nhiều nguồn khác nhau để phổ biến cho nông dân, giúp họ cùng nhau chia sẻ và học tập
- Hỗ trợ nông dân giải quyết các vấn đề khó khăn: gặp gỡ, trao đổi với nông dân giúp họ phát hiện nhận biết và phân tích được các vấn đề khó khăn trong sản xuất và đời sống, từ đó tìm ra biện pháp giải quyết phù hợp
- Hỗ trợ nông dân, cộng đồng thành lập các tổ chức của nông dân như tổ hợp tác trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nhằm thúc đẩy sản xuất phát triển, nâng cao thu nhập cho nông dân
- Xây dựng, giám sát đánh giá hoạt động nông nghiệp: Phối hợp vớichính quyền địa phương, các tổ chức, đoàn thể triển khai các hoạt động nông nghiệp; theo dõi, giám sát tình hình thực hiện; tổ chức sơ kết, tổng kết rút kinh nghiệp, đánh giá kết quả và hiệu quả các hoạt động nông nghiệp,
từ đó khuyến cáo phát triển, nhân rộng ra sản xuất Trong quá trình thực hiện, người cán bộ cấp xã làm công tác nông nghiệp cần khuyến khích người dân tham gia một cách chủ động, tự nguyện, các hoạt động nông nghiệp cần được cộng đồng hưởng ứng, ủng hộ và làm theo, phát huy tinh thần dân chủ
cơ sở
Ngoài những nhiệm vụ nêu trên, cán bộ cấp xã làm công tác nông nghiệp thường phải tham gia các nhiệm vụ khác như chỉ đạo sản xuất, phòng chống các dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi, theo dõi, thống kê tình hình sản xuất tại địa phương Do đó công việc của một cán bộ cấp xã làm công tác nông nghiệp là khá nặng nề vất vả, đòi hỏi phải có sự cố gắng cũng như “lòng yêu nghề” mới có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao
Trang 211.1.5 Các tiêu chí đánh giá chất lượng cán bộ cấp xã làm công tác nông nghiệp.[6,7]
Các tiêu chí cơ bản đánh giá chất lượng đội ngũ cán bộ cấp xã làm công tác nông nghiệp bao gồm: Phẩm chất chính trị, đạo đức, năng lực, khả năng hoàn thành nhiệm vụ được giao
* Về phẩm chất chính trị: Phẩm chất chính trị là tiêu chí quan trọng
nhất, quyết định đến chất lượng của mỗi cán bộ Phẩm chất chính trị là động lực tinh thần, là kim chỉ nam để đi ̣nh hướng và thúc đẩy cán bộ các cấp thực hiện xuất sắc nhiệm vụ được giao Phẩm chất chính trị cũng là yêu cầu cơ bản nhất đối với cán bộ Đó là nhiệt tình cách mạng, tuyệt đối trung thành với Chủ nghĩa Mác-Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lý tưởng của Đảng Cô ̣ng sản Viê ̣t Nam, tinh thần tận tuỵ với công việc, hết lòng hết sức phục vụ nhân dân Bản thân mỗi cán bộ phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với Chủ Nghĩa Xã Hô ̣i, cương quyết đấu tranh chống lại các biểu hiện lệch lạc mơ hồ, trái với đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và kiên quyết đấu tranh chống lại các hành vi xâm phạm quyền lợi chính đáng, hợp pháp của nhân dân cũng như quyền và lợi ích của quốc gia, dân tộc
* Về đạo đức: Hoạt động nông nghiệp là một công việc mang tính xã
hội, lợi ích gắn liền với cộng đồng, xã hội Do đó, để có thể hoàn thành tốt công việc cấp xã làm công tác nông nghiệp cần phải có những phẩm chất đạo đức tốt, đó là:
+ Chịu đựng gian khổ, sẵn sàng làm việc ở những vùng nông thôn xa xôi, hẻo lánh, điều kiện khó khăn với tinh thần vì nhân dân
+ Thật thà, thẳng thắn và nhiệt tình, là niềm tin, chỗ dựa cho người nông dân trong sản xuất cũng như đời sống Người cán bộ nông nghiệp không
Trang 22những được cán bộ cấp trên tín nhiệm mà còn được nông dân tin tưởng khi đưa ra những lời khuyên.
+ Hoà nhã, cần cù, giản dị, khiêm tốn, người cán bộ cấp xã l à m
c ô n g t á c n ô n g n g h i ệ p cần là những tấm gương tốt trong sản xuất cũng như trong đời sống để người dân noi theo
+ Có lòng nhân đạo, tình cảm yêu mến đối với bà con nông dân và tính hài hước nhẹ nhàng trong công việc Cán bộ nông nghiệp cần biết thông cảm với những ước muốn và tình cảm của người dân, đồng thời khi làm việc cũng phải biết tôn trọng và lắng nghe ý kiến của họ
+ Tin tưởng vào năng lực của chính mình và quyết tâm làm được một điều gì đó để góp phần vào sự nghiệp phát triển nông thôn, không tin tưởng vào chính bản thân mình và không có lòng quyết tâm thì khó có thể làm tốt vai trò của người cán bộ nông nghiệp
* Về trình độ đào tạo: (trình độ học vấn, lý luận chính trị, chuyên môn
nghiệp vụ, quản lý Nhà nước)
- Trình độ học vấn: Học vấn không phải là yếu tố duy nhất quyết định chất lượng và hiệu quả hoạt động của cán bộ cấp xã làm công tác nông nghiệp nhưng đây là tiêu chí quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả hoạt động quản lý của đội ngũ này Nó là tiền đề, là nền tảng cho việc nhận thức tiếp thu và đưa đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước vào cuộc sống Hạn chế về trình độ học vấn sẽ dẫn đến hạn chế về khả năng nhận thức và năng lực tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách, các qui định của pháp luật, cản trở việc thực hiện chức trách nhiệm vụ được giao Vì vậy trình độ học vấn là tiêu chí quan trọng để đánh giá chất lượng đội ngũ cán bộ cấp xã làm công tác nông nghiệp
- Trình độ lý luận chính trị: Trình đô ̣ lý luận chính trị là cơ sở xác đi ̣nh quan điểm lập trường giai cấp công nhân của cán bộ nói chung và cán bộ cấp
Trang 23xã làm công tác nông nghiệp nói riêng Thực tế cho thấy nếu cán bộ có lập trường chính trị vững vàng, hoạt động vì mục tiêu, lý tưởng cách mạng thì sẽ được nhân dân kính trọng, tin yêu và họ sẽ có sức thuyết phu ̣c nhân dân trong quá trình tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiê ̣n các chủ chương của Đảng, chính sách pháp luâ ̣t của Nhà nước Khi được nhân dân kính trọng tin yêu, thì ho ̣ là những ha ̣t nhân tích cực góp phần lớn vào quá trình phát triển kinh tế – xã hô ̣i trong thời kỳ hô ̣i nhâ ̣p và phát triển
Ngược lại, nếu cán bộ nào lập trường chính trị không vững vàng, lý luận chính tri ̣ non yếu hoă ̣c hoạt động vì lợi ích cá nhân, thoái hoá biến chất
sẽ mất lòng tin ở nhân dân Bản thân cán bô ̣ đó hoa ̣t đô ̣ng không đa ̣t hiệu quả
mà công việc đòi hỏi, thâ ̣m chí còn gây ha ̣i cho Nhà nước và nhân dân Chính
vì thế, để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ cấp xã làm công tác nông nghiệp cần phải nâng cao trình độ lý luận cho họ
- Trình độ chuyên môn nghiệp vụ: Trình độ chuyên môn nghiệp vụ được hiểu là những kiến thức chuyên sâu về một lĩnh vực nhất định được biểu hiện qua những cấp độ: sơ cấp, trung cấp, cao đẳng, đại học, sau đại học Đây
là những kiến thức mà cán bộ cấp xã làm công tác nông nghiệp phải có ở mô ̣t trình đô ̣ nhất đi ̣nh để giải quyết công việc theo chức năng, nhiệm vụ được giao Nếu thiếu kiến thức này thì cán bộ sẽ lúng túng và chắc chắn sẽ khó hoàn thành nhiệm vụ
- Trình độ quản lý Nhà nước: Quản lý nhà nước là hệ thống tri thức khoa học về quản lý xã hội mang tính quyền lực Nhà nước Đó là những kiến thức đòi hỏi các nhà quản lý phải có để giải quyết các vụ việc cụ thể đặt ra trong quá trình quản lý điều hành Quản lý vừa là hoạt động khoa học, vừa là hoạt động nghệ thuật, tứ c là hoa ̣t đô ̣ng quản lý vừa phải tuân theo các quy luâ ̣t khách quan dướ i ánh sáng của các khoa ho ̣c trên cơ sở pháp luâ ̣t của Nhà nước đồng thời vừa phải linh hoa ̣t, uyển chuyển, hợp lý hợp tình người để đa ̣t
Trang 24đươ ̣c các mu ̣c tiêu đã đề ra với hiê ̣u quả cao nhất, mang la ̣i lợi ích cao nhất cho Nhà nước và nhân dân trong điều kiê ̣n nguồn lực có ha ̣n Như vâ ̣y, yêu cầu cán bộ cấp xã làm công tác nông nghiệp phải am hiểu sâu sắc về kiến thức quản lý và phải vận dụng linh hoạt các kiến thức đó vào giải quyết những vụ việc cụ thể, đó là yêu cầu cơ bản và rất bức thiết Thực tiễn cho thấy, trong quá trình quản lý nếu chỉ dựa vào kinh nghiệm thôi chưa đủ mà còn phải được trang bị đầy đủ kiến thức và kỹ năng quản lý nhà nước để qua
đó nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ cấp xã làm công tác nông nghiệp Hiện nay, hạn chế lớn nhất của đội ngũ cán bộ cấp xã làm công tác nông nghiệp là trình độ quản lý nhà nước Để nâng cao năng lực quản lý nhà nước thì cần phải có kế hoạch đào ta ̣o bồi dưỡng kiến thức về quản lý nhà nước cho cán bộ cấp xã làm công tác nông nghiệp một cách bài bản, tích cực, hiệu quả và ki ̣p thờ i
+ Kiến thức về kinh tế - xã hội và cuộc sống nông thôn: Cán bộ cấp
xã làm công tác nông nghiệp cần có các kiến thức về kinh tế (như lập kế hoạch sản xuất kinh doanh, tổ chức quản lý sản xuất, hạch toán kinh tế, hợp đồng kinh tế, lập dự án đầu tư ) để có thể tư vấn hỗ trợ nông dân Ngoài ra Cán bộ cấp xã làm công tác nông nghiệp cần hiểu được cả những
Trang 25vấn đề liên quan đến xã hội và đời sống nông thôn địa bàn mình đang công tác, đặc biệt là các phong tục tập quán, truyền thống văn hoá và những giá trị tinh thần của người dân
+ Kiến thức về các quy định, chính sách của nhà nước về nông nghiệp: Cán bộ cấp xã làm công tác nông nghiệp phải nắm được những chủ trương, chính sách của nhà nước về sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là những chính sách cụ thể áp dụng đối với địa phương nơi phụ trách
+ Kiến thức về giáo dục người lớn tuổi: Cán bộ cấp xã làm công tác nông nghiệp phải biết cách tiếp cận và có phương pháp phù hợp để giáo dục người lớn tuổi, đặc biệt là phải biết cách vận động, lôi cuốn nông dân tham gia vào các chương trình, dự án nông nghiệp
+ Kỹ năng truyền thông: Cán bộ cấp xã làm công tác nông nghiệp phải
có khả năng nói và viết tốt, bởi vì họ sẽ phải sử dụng thường xuyên những
kỹ năng này để giao tiếp với nông dân và các cá nhân, tổ chức khác trong quá trình hoạt động nông nghiệp Cán bộ cấp xã làm công tác nông nghiệp phải có khả năng nói trước đám đông, biết cách chuyển tải những thông tin, kiến thức của mình cho nông dân để họ hiểu và áp dụng vào sản xuất
+ Kỹ năng phân tích và đánh giá: Cán bộ cấp xã làm công tác nông nghiệp phải có năng lực phân tích, đánh giá các tình huống gặp phải hàng ngày, nhận thức và hiểu rõ được các vấn đề để có thể đề xuất được các giải pháp kịp thời và hợp lý cho nông dân
Trang 26+ Kỹ năng lãnh đạo: Cán bộ cấp xã làm công tác nông nghiệp phải tự tin và biết tin tưởng vào những đối tượng mình đang phục vụ, phải gương mẫu trước quần chúng và có khả năng lãnh đạo quần chúng thực hiện thành công các hoạt động nông nghiệp
+ Kỹ năng sáng tạo: Cán bộ cấp xã làm công tác nông nghiệp thường phải làm việc trong các điều kiện độc lập và đối mặt với nhiều tình huống
có thể xảy ra, vì vậy cần có khả năng sáng tạo, linh hoạt, chủ động chứ không phải lúc nào cũng dựa vào sự chỉ đạo, hỗ trợ của cấp trên
+ Kỹ năng viết báo cáo: Cũng như nói trước quần chúng, viết báo cáo là một kỹ năng cần thiết mà Cán bộ cấp xã làm công tác nông nghiệp phải rèn luyện cho mình Viết báo cáo ở đây không chỉ mang nghĩa hẹp là viết báo cáo cho cấp trên theo quy định mà bao hàm cả các loại tin bài đưa tin, hướng dẫn
kỹ thuật cho nhiều đối tượng khác nhau Qua các báo cáo, tin bài của cán bộ nông nghiệp, thông tin, tiến bộ kỹ thuật sẽ được phổ biến, truyền bá tới người nông dân, tới các nhà quản lý
+ Kỹ năng tiếp cận và làm việc với lãnh đạo địa phương: Một Cán bộ cấp xã làm công tác nông nghiệp giỏi phải luôn biết cách tiếp cận và tranh thủ những nguồn lực sẵn có ở địa phương để tổ chức các hoạt động nông nghiệp Cán bộ cấp xã làm công tác nông nghiệp cần biết động viên, khuyến khích các nhà lãnh đạo địa phương tham gia công tác trong nông nghiệp và phát triển cộng đồng, xây dựng thành mạng lưới cộng tác viên nông nghiệp (các cán bộ chính quyền, cán bộ đoàn thể ở địa phương, những người có kinh nghiệp sản xuất giỏi, có uy tín ) Đây là những người mà cán bộ cấp xã làm công tác nông nghiệp cần tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ và
sử dụng ảnh hưởng của họ vào công tác của mình
Vai trò và mối quan hệ của cán bộ cấp xã làm công tác nông nghiệp với nông dân có ảnh hưởng quan trọng đến kết quả và hiệu quả các hoạt động
Trang 27nông nghiệp Kinh nghiệm hoạt động nông nghiệp cho thấy, để đáp ứng được yêu cầu của sản xuất của nông dân, cán bộ cấp xã làm công tác nông nghiệp cần phải đáp ứng được 4 yêu cầu sau:
Biết dành thời gian rèn
luyện những kỹ năng cho
mình để giúp đỡ nông dân
có hiệu quả hơn chứ
không chỉ biết tập trung
ở văn phòng như một nhân viên hành chính
Biết khuyến khích nông dân phát huy tinh thần tự lực cánh sinh chứ không phải chỉ áp đặt cho nông dân những cách làm
ăn theo bài có sẵn
Biết hướng tới
sự phát triển bền vững và lâu dài chứ không phải chỉ tìm kiếm những thành công nhất thời
Ở nước ta hiện nay, cán bộ cấp xã làm công tác nông nghiệp do chính quyền địa phương tuyển chọn, quản lý và sử dụng Có 5 yêu cầu mà các
tổ chức thường đặt ra khi tuyển chọn cán bộ cấp xã làm công tác nông nghiệp là:
(1) Có trình độ từ trung cấp trở lên, được đào tạo một trong những chuyên ngành như nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản, thuỷ lợi nắm vững những kiến thức, kỹ năng cần thiết trong hoạt động nông nghiệp
(2) Có sức khoẻ tốt, có khả năng vận động, tập hợp quần chúng tổ chức các hoạt động nông nghiệp tại địa phương
(3) Được đào tạo về phương pháp tiếp cận, điều tra đánh giá nhu cầu của nông dân
(4) Có khả năng làm việc độc lập, làm việc theo nhóm
(5) Có khả năng và sẵn sàng tham gia các nhiệm vụ về chỉ đạo sản xuất, theo dõi nắm bắt tình hình sản xuất ở địa phương, tham gia công tác
Trang 28quản lý nhà nước về nông nghiệp, nông thôn
* Kết quả thực thi công vụ:
Là tiêu chí đánh giá đầu ra của quá trình thực thi nhiệm vụ, là tiêu chí đánh giá cơ bản phản ánh chất lượng về người cán bộ Kết quả thực hiện nhiệm vụ bao gồm kết quả thực hiện nhiệm vụ riêng của cá nhân, kết quả thực hiện nhiệm vụ chung của tập thể Kết quả thực hiện nhiệm vụ còn được xem xét trên nhiều khía cạnh khác nhau ví dụ như kết quả thực hiện một việc cụ thể, kết quả thực hiện nhiệm vụ trong ngày, kết quả thực hiện nhiệm vụ trong tháng, trong năm,
Hoạt động nông nghiệp vốn rất đa dạng và phong phú, nó bao gồm nhiều nội dung như: Chăn nuôi, trồng trọt Chính vì vậy, đánh giá kết quả của hoạt động nông nghiệp cũng hết sức đa dạng Có sản phẩm được làm ra trong thời gian ngắn, ví dụ như trồng cây hoa màu ngắn ngày, nhưng cũng có những sản phẩm phải đến một năm, thậm chí phải một thời gian dài mới có thể đánh giá được kết quả, ví dụ như trồng cây lâu năm, nuôi trồng thủy hải sản
Thông thường việc đánh giá kết quả thực thi nhiệm vụ đối với một cán
bộ, công chức được thực hiện trong một năm
1.1.6 Sự cần thiết phải nâng cao chất lượng cán bộ cấp xã làm công tác nông nghiệp
Trình độ sản xuất của nông dân nước ta còn thấp, kỹ thuật canh tác lạc hậu, năng suất và hiệu quả còn c h ư a c a o Để ngành nông nghiệp tăng trưởng và phát triển nhanh, bền vững cần phải nhanh chóng đưa KHKT vào sản xuất, áp dụng những công nghệ tiên tiến hiện đại Đó là nhiệm vụ của công tác trong nông nghiệp, trong cán bộ cấp xã làm công tác nông nghiệp là lực lượng chủ đạo, trực tiếp và quyết định đến kết quả và hiệu quả hoạt động của toàn bộ hệ thống nông nghiệp
Trang 29Các hoạt động nông nghiệp là cầu nối giữa khoa học và sản xuất,
là nhân tố quan trọng để tạo ra mối quan hệ liên kết giữa 4 nhà (nhà quản lý, nhà khoa học, doanh nghiệp và nhà nông), qua đó góp phần thúc đẩy sản xuất, lưu thông và tiêu dùng Tăng cường sự liên kết giữa sản xuất, lưu thông
và tiêu dùng, góp phần đưa nông nghiệp phát triển bền vững
Nghị quyết VII khoá X của Đảng về nông nghiệp - Nông dân - nông thôn
đã khẳng định nông nghiệp, nông dân, nông thôn có vai trò, vị trí chiến lược trong quá trình CNH - HĐH đất nước, đảm bảo nền kinh tế xã hội phát triển ổn định, bền vững Và một trong những nhiệm vụ trong thời gian tới là phải phát triển nhanh nghiên cứu, chuyển giao và ứng dụng khoa học công nghệ để hiện đại hóa nông nghiệp, công nghiệp hóa nông thôn Để làm được như vậy, một trong những giải pháp đặt ra là phải tăng cường chất lượng của đội ngũ cán bộ nông nghiệp các cấp, đặc biệt là cấp cơ sở
1.1.7 Các yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng và kết quả công việc của cán
bộ làm công tác nông nghiệp [14]
* Yếu tố bên trong
Tuổi tác và số năm kinh nghiệm làm việc: Tuổi tác và số năm kinh
nghiệm có ảnh hưởng khá nhiều tới chất lượng và hiệu quả công tác của cán
bộ Là cán bộ cấp xã làm việc trực tiếp với người dân, cán bộ ngoài kinh nghiệm chuyên môn còn cần có kinh nghiệm giao tiếp, ứng xử với người dân và hiểu rõ phong tục, tập quán địa phương Cán bộ có càng nhiều năm kinh nghiệm trong lĩnh vực hoạt động sẽ có chất lượng tốt hơn các cán bộ khác và dễ dàng thành công trong công việc hơn
Giới tính và sức khỏe: Cán bộ cấp xã làm công tác nông nghiệp với
đặc điểm công việc được triển khai trên phạm vi rộng, thường xuyên phải xuống cơ sở và không nhất thiết làm việc theo thời gian hành chính Do đó, nam giới thường có ưu thế hơn nữ giới trong hầu hết các công việc có tính
Trang 30chất như vậy, cụ thể là công chức địa chính, Cán bộ NLNTS và Cán bộ CNTY Điều này thấy rõ ràng hơn cả ở các khu vực địa hình trải rộng và khó khăn như các vùng sâu xa, miền núi Tương tự như vậy, đối với các vị trí lãnh đạo, quản lý, nam giới cũng có ưu thế hơn
Trình độ văn hóa: Cán bộ có trình độ văn hóa cao hơn thường có khả
năng tiếp cận nhanh hơn với các thông tin, kiến thức, phục vụ tốt hơn cho công việc của họ Bên cạnh đó, trình độ văn hóa cao hơn cũng là cơ sở để cán bộ được tham gia đào tạo nhiều hơn, nâng cao năng lực cho chính bản thân họ Trình độ văn hóa cao hơn cũng có thể tác động tới hành vi và ứng xử của cán bộ
- một yếu tố rất quan trọng khi giao tiếp với người dân địa phương
Chuyên môn đào tạo: Trình độ chuyên môn của cán bộ gắn liền với
công việc chuyên môn cán bộ đảm nhận Nhìn chung cán bộ có trình độ chuyên môn cao sẽ có khả năng đảm nhận công việc tốt hơn các cán bộ khác
Tinh thần học và tự học: Phát triển nông thôn là cả một quá trình
và người cán bộ phải luôn thay đổi để đáp ứng với đòi hỏi của sự phát triển Bên cạnh đó, hoàn cảnh bên ngoài (kinh tế, xã hội, tự nhiên ) luôn thay đổi, do vậy cán bộ luôn cần tự học và đổi mới Ngoài các lớp đào tạo, bồi dưỡng được tổ chức, cán bộ còn tự học từ kinh nghiệm thực tế của chính
họ và đồng nghiệp Điều này sẽ giúp họ nâng cao được chất lượng, hiệu quả khi thực hiện công việc
Sự yêu nghề và gắn bó với nghề: Đây chính là một trong những
động lực quan trọng nhất giúp người cán bộ cấp xã thường xuyên học hỏi và
tự đổi mới để nâng cao năng lực của bản thân Cán bộ không yêu và gắn bó với nghề nghiệp của họ sẽ dễ dàng chuyển sang các công việc khác hoặc
họ chỉ làm việc chờ thời cơ để được thuyên chuyển Nhìn chung các cán bộ không gắn bó với nghề sẽ không cố gắng phát huy những khả năng sẵn có của mình
Trang 31* Yếu tố bên ngoài
Quy hoạch, bố trí và sử dụng cán bộ: Một cán bộ có chuyên môn tốt,
được đào tạo bài bản song nếu được bố trí làm công việc không sử dụng đến chuyên môn của họ thì cũng không thể phát huy đ ư ợ c k h ả
n ă n g của họ trong thực hiện công việc Do vậy, cấp trên cần quan tâm
bố trí cán bộ theo đúng chuyên môn nhằm tránh lãng phí nguồn nhân lực
Kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ: Cán bộ cấp xã thường ít có
cơ hội và phương tiện để tiếp xúc và học hỏi những kiến thức mới, những thay đổi về khoa học, công nghệ Tại nhiều nơi do thiếu trầm trọng nguồn nhân lực, nhiều cán bộ xã còn chưa qua đào tạo Do vậy, công tác đào tạo và bồi dưỡng cho các đối tượng này cần được đặc biệt chú trọng Công tác đào tạo bồi dưỡng kịp thời sẽ giúp nâng cao chất lượng của nguồn cán bộ
cơ sở Kế hoạch đào tạo cần gắn với công tác quy hoạch, hạn chế việc đề bạt, bố trí trước rồi mới đào tạo bồi dưỡng sau, gây lãng phí nguồn lực và cán bộ không phát huy được khả năng của mình
Chế độ chính sách: Chế độ, chính sách nhằm đảm bảo lợi ích vật chất cho đội ngũ cán bộ cấp xã bao gồm như: tiền lương, phụ cấp, tiền thưởng, bảo hiểm Đây chính là một trong những yếu tố thúc đẩy sự tận tụy, tận lực phục
vụ nhân dân cũng như là động lực, điều kiện đảm bảo để họ phấn đấu nâng cao hiệu quả trong thực hiện công việc được giao Khi chế độ, chính sách đối với đội ngũ cán bộ cấp xã được hợp lý, đảm bảo được lợi ích vật chất sẽ tạo nên những tiền đề và động lực sau: Thứ nhất, khuyến khích cán bộ tập trung cao trong công việc và “giữ chân” được các cán bộ có năng lực; Thứ hai, đây
là tiền để để mỗi cán bộ có điều kiện học tập, nâng cao trình độ; Thứ ba, đây
là mục tiêu, động lực phấn đấu, cạnh tranh của nhiều người nhằm cố gắng nâng cao chất lượng công tác
Trang 32Đặc điểm địa bàn hoạt động: Địa hình trải rộng và giao thông khó
khăn sẽ hạn chế điều kiện tiếp xúc của cán bộ với người dân và thông tin không được kịp thời Bên cạnh đó, trình độ dân trí cũng ảnh hưởng tới kết quả công việc của cán bộ, đặc biệt trong công tác khuyến nông, thú y Ở những nơi nông dân có trình độ dân trí còn thấp, việc thuyết phục họ chuyển đổi cây trồng, vật nuôi hoặc tiếp thu tiến bộ kỹ thuật mới sẽ khó khăn hơn Ngoài ra các cơ sở hạ tầng như đường, thông tin liên lạc, sự phát triển của thị trường cũng ảnh hưởng tới các kết quả công việc của các cán bộ Những nơi có cơ sở hạ tầng phát triển, thông tin nhanh chóng sẽ thuận tiện cho cán bộ khi triển khai các chương trình phát triển nông thôn
Cơ sở vật chất phục vụ cho công việc: Đây là yếu tố trực tiếp
ảnh hưởng tới kết quả công việc của cán bộ Cơ sở vật chất không đảm bảo
sẽ hạn chế sự phát huy năng lực của cán bộ Ví dụ như cán bộ NLNTS, cán bộ CNTY cần được trang bị các thiết bị dụng cụ tác nghiệp cơ bản Đã
có những trường hợp cán bộ kiểm lâm không thể hoàn thành nhiệm vụ
vì phương tiên di chuyển quá cũ không thể theo kịp được lâm tặc Hay cán bộ CNTY xã không có bàn làm việc tại xã, không có chỗ tiếp dân nên rất không tự tin khi tiếp xúc với nhiều người dân
Sự phối kết hợp với các ban ngành liên quan: Do đặc điểm của cán
bộ cơ sở làm việc trực tiếp với người dân nên rất cần sự phối hợp của nhiều bên
Lấy ví dụ cán bộ nông lâm nghiệp, thủy sản cần sự hỗ trợ của hội phụ nữ, thanh niên, trưởng thôn và lãnh đạo xã; cán bộ chăn nuôi, thú y cần
có sự phối hợp của chính quyền thôn xã khi thực hiện các chương trình tiêm chủng Ở đâu có sự phối hợp tốt giữa các ban ngành liên quan thì ở
đó, cán bộ được hỗ trợ nhiều hơn và có khả năng phát huy tốt hơn khả năng công tác của mình
Trang 33Công tác khen thưởng: Khen thưởng là sự khích lệ và động viên rất
cần thiết cho cán bộ cơ sở Hầu hết cán bộ cơ sở có mức thu nhập không cao song khối lượng công việc đảm nhận khá lớn Khen thưởng hợp lý, kịp thời
sẽ là động lực cho cán bộ phát huy khả năng của mình để hoàn thành tốt hơn nữa công việc được giao
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Kinh nghiệm đào tạo và sử dụng đội ngũ cán bộ nông nghiệp phục vụ phát triển KT-XH nông thôn của một số nước trên thế giới [35] )
* Mỹ: là nước có điều kiện tự nhiên cực kỳ thuận lợi để phát triển nông
nghiệp Vùng Trung Tây của nước này có đất đai màu mỡ nhất thế giới Lượng mưa vừa đủ cho hầu hết các vùng của đất nước; nước sông và nước
ngầm cho phép tưới rộng khắp cho những nơi thiếu mưa
* Nhật Bản: Là nước đầu tiên thực hiện công nghiệp hoá ở các vùng
Châu Á, công nghiệp hoá ở Nhật được bắt đầu xuất hiện ở cuối thế kỷ thứ XIX và phát triển ở thế kỷ thứ XX Tiến hành CNH - HĐH từ một nền nông nghiệp cổ truyền tự cấp tự túc sản xuất manh mún với những hộ nông dân quy mô nhỏ Chính phủ Nhật đã quan tâm đến đội ngũ cán bộ KHKT Họ có những chính sách sử dụng cán bộ và cơ cấu ngành nghề hợp
lý, luôn quan tâm đến quá trình bồi dưỡng KHKT Do đó, Nhật đã nhanh chóng trở thành cường quốc thứ 2 về kinh tế trên thế giới với công nghiệp và nông nghiệp hiện đại, kinh tế giữa thành thị và nông thôn đều phát triển thành công của công nghiệp hoá nói chung và công nghiệp hoá ở Nhật nói riêng đã
áp dụng quá trình công nghiệp hoá cổ điển mà các nước phương Tây đã trải qua nhưng có sáng tạo Đi đôi với việc xây dựng các khu công nghiệp lớn
ở đô thị, họ còn coi trọnghích đáng đến việc hình thành các xí nghiệp vừa
và nhỏ ở các thị trấn, thị xã và đặc biệt mở ra các ngành nghề mới, dịch vụ kinh tế kỹ thuật ở nông thôn nhằm tập trung những lao động dư thừa và hoạt
Trang 34động ngoài nông nghiệp để nâng cao thu nhập của họ, thúc đẩy công nghiệp hoá nông nghiệp nông thôn
Nội dung phát triển kinh tế - xã hội của Nhật Bản bao gồm nhiều mặt cùng ứng dụng những thành tựu KHKT tiến bộ như giống cây trồng, vật nuôi, hoá chất phục vụ nông nghiệp, các công nghệ tiên tiến như thuỷ lợi hoá Nhật Bản đã nhanh chóng ứng dụng thiết bị và cơ giới hoá, họ tích cực
du nhập máy móc nông nghiệp vào thử nghiệm rồi chế tạo máy móc vừa
và nhỏ phù hợp với đặc điểm ngành nông nghiệp của Nhật Bản Hàng loạt các máy móc của Nhật ra đời cho lao động thủ công, rồi hầu hết toàn bộ các khâu của quá trình sản xuất lúa, cây trồng chủ yếu của Nhật Bản Lực lượng lao động dư thừa của Nhật được chuyển sang các ngành công nghiệp dịch vụ, tỷ lệ lao động này của Nhật chỉ chiếm 6,3% vào những năm 1990 Cơ cấu kinh tế của các trang trại của Nhật Bản đã chuyển sang cơ cấu kinh tế công nghiệp - nông nghiệp - dịch vụ Thu nhập bình quân của các trang trại, các gia đình chủ yếu là thu nhập ngoài nông nghiệp
* Đài Loan: Khi tiến hành CNH - HĐH để phát triển kinh tế - xã
hội đất nước thì nguồn nhân lực chủ yếu chỉ có đất đai và lao động bình quân đất đai trên đầu người thấp Công nghiệp hoá ở Đài Loan bắt đầu từ nông nghiệp Họ kết hợp chặt chẽ giữa nông nghiệp và công nghiệp, đồng thời phát triển công nghiệp ở cả thành thị và nông thôn Công nghiệp phân tán ở nông thôn có chính sách đầu tư và khuyến khích đội ngũ cán bộ KHKT ở khu vực này tạo điều kiện để kinh tế xã hộ ở nông thôn phát triển Từ đó
đã thu hút lực lượng lao động dư thừa làm cho nhiều hộ gia đình trở thành
hộ vừa làm nông nghiệp vừa làm công nghiệp và dịch vụ
Công nghiệp chế biến phát triển nhanh, tạo điều hiện tăng sản phẩm nông nghiệp và xuất khẩu Quá trình công nghiệp hoá nông nghiệp
ở Đài Loan trước hết là quan tâm đến nguồn nhân lực đặc biệt là đội ngũ
Trang 35cán bộ KHKT có trình độ, bố trí sử dụng cán bộ ở những ngành trong nông thôn một cách hợp lý, thường xuyên quan tâm đến bồi dưỡng cán bộ KHKT, tạo ra sự đột phá trong lĩnh vực công nghệ sinh học và công nghệ gen tạo ra giống cây trồng và vật nuôi làm cho năng suất tăng rõ rệt
* Hàn Quốc: Cuối thập niên 60 của thế kỷ XX, GDP bình quân đầu
người của Hàn Quốc chỉ có 85 USD; phần lớn người dân không đủ ăn; 80% dân nông thôn không có điện thắp sáng và phải dùng đèn dầu, sống trong những căn nhà lợp bằng lá Là nước nông nghiệp trong khi lũ lụt và hạn hán lại xảy ra thường xuyên, mối lo lớn nhất của chính phủ khi đó là làm sao đưa đất nước thoát khỏi đói, nghèo
Phong trào Làng mới (SU) ra đời với 3 tiêu chí: cần cù (chăm chỉ), tự lực vượt khó, và, hợp tác (hiệp lực cộng đồng) Năm 1970, sau những dự án thí điểm đầu tư cho nông thôn có hiệu quả, Chính phủ Hàn Quốc đã chính thức phát động phong trào SU và được nông dân hưởng ứng mạnh mẽ Họ thi đua cải tạo nhà mái lá bằng mái ngói, đường giao thông trong làng, xã được
mở rộng, nâng cấp; các công trình phúc lợi công cộng được đầu tư xây dựng Phương thức canh tác được đổi mới, chẳng hạn, áp dụng canh tác tổng hợp với nhiều mặt hàng mũi nhọn như nấm và cây thuốc lá để tăng giá trị xuất khẩu Chính phủ khuyến khích và hỗ trợ xây dựng nhiều nhà máy ở nông thôn, tạo việc làm và cải thiện thu nhập cho nông dân
* Ấn Độ: Là một nước ở Châu Á giai đoạn đầu thực hiện phát
triển kinh tế xã hội đất nước không mấy thành công Họ tiến hành công nghiệp hoá theo mô hình thay thế nhập khẩu, xây dựng các ngành then chốt
ở các khu đô thị Nền nông nghiệp không được chú ý nên luôn ở tình trạng nghèo nàn, lạc hậu Đến năm 1970 Ấn Độ chú trọng đến công nghiệp hoá nông nghiệp nông thôn, liên tiếp qua các cuộc cách mạng “cách mạng xanh” sau đó là cuộc “cách mạng trắng” coi đây là một bước đột phá để
Trang 36phát triển đất nước Trong những năm đầu của thập kỷ 90 Chính phủ Ấn Độ tiếp tục có chính sách cải thiện mức sống cho dân cư vùng nông thôn và phát triển nguồn nhân lực đó là xúc tiến công nghiệp nhỏ ở nông thôn theo chương trình công nghiệp hoá với một đất nước gần 1 tỷ dân trong đó 75% dân số sống bằng nghề nông
1.2.2 Kinh nghiệm đào tạo và sử dụng đội ngũ cán bộ nông nghiệp phục vụ phát triển kinh tế - xã hội nông thôn ở Việt nam
Chúng ta đang bước vào thời kỳ phát triển mới - Đấy mạnh CNH -HĐH đất nước, phấn đấu năm 2020 đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp, để thực hiện nhiệm vụ đó hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương khoá VIII đã khẳng định “Cùng với giáo dục - đào tạo khoa học công nghệ là quốc sách hàng đầu, động lực phát triển kinh tế - xã hội, là điều kiện cần thiết để giữ vững độc lập dân tộc và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội” Nói đến nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là nói đến nâng cao trí lực “Trình độ văn hoá chuyên môn kỹ thuật”, nâng cao thể lực
“Sức khoẻ điều kiện chăm sóc sức khoẻ” và nâng cao phẩm chất đạo đức, tác phong làm việc và sinh hoạt của người lao động nhằm đáp ứng yêu cầu của một nước công nghiệp Theo kết quả điều tra lao động, việc làm từ năm 1996 - 1999 với 33,86 - 37,784 triệu người lao động trong cả nước thì tỷ lệ người chưa biết chữ chiếm tỷ lệ cao, cụ thể: năm 1996 chiếm 5,75%; năm 1998, chiếm 3,84% và năm 1999 chiếm 4,1% tỷ lệ này phân
bổ giữa các vùng trong cả nước, vùng đồng bằng sông Hồng chiếm 18%, vùng đồng bằng sông Cửu Long chiếm 33% và vùng Đông Bắc chiếm 19% tổng số lao động trong cả nước
Bên cạnh đó, tỷ lệ chưa tốt nghiệp hết cấp 1 chiếm tỷ lệ cao: năm
1996 chiếm 20,92%; năm 1997, chiếm 20,26% và năm 1999 chiếm 18% số người tốt nghiệp phổ thông trung học chỉ chiếm 13-14% các năm 1996 -
Trang 371997 và năm 1998 - 1999 chiếm 16-17% Từ số liệu trên ta thấy trình độ văn hoá của người lao động đã khá lên sau 10 năm, tỷ lệ người biết chữ tăng lên
rõ rệt từ 84% năm 1989 tăng lên 96% năm 1999 với mức tăng bình quân qua các năm là 12%, trình độ văn hoà bình quân của người lao động là lớp 4/12 và 7/12 trong năm 1999, mục tiêu phấn đấu của Đảng và Nhà nước đặt ra là nhanh chóng đẩy mạnh công tác bổ túc văn hoá cho người lao động trong độ tuổi bằng cách mở rộng mạng lưới bổ túc văn hoá trên khắp mọi miền đất nước, có cơ chế hợp lý, thực hiện sắp xếp thời gian học cho mọi người vừa làm vừa học, nâng cao trình độ chuyên môn của người lao động
Theo kết quả điều tra lao động - việc làm ở Việt Nam năm 1996 - 1999 với gần 40 triệu lao động, tỷ lệ lực lượng lao động không có chuyên môn
kỹ thuật trong tổng số lao động được điều tra ngày càng giảm qua các năm
Năm 1996 chiếm tỷ lệ 87,6% đến năm 1999 còn 83,16%; tuy nhiên tốc độ giảm còn chậm, ở nhiều vùng không có chuyên môn kỹ thuật còn chiếm tỷ lệ khá cao, năm 1999 số không có chuyên môn nghiệp vụ ở vùng Tây Bắc là 92,63% ở vùng đồng bằng Sông Cửu Long là 91,17% dù tỷ lệ tăng không cao năm 1996 là 12,3% năm 2000 là 18% sự phân bổ lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật không hợp lý giữa các vùng, các ngành, riêng ngành nông nghiệp còn thiếu lao động có trình độ khoa học kỹ thuật
Song với tổng lực lượng lao động có chuyên môn kỹ thuật năm 1999 trình độ lao động được phân bố như sau: Sơ cấp chiếm 11%, công nhân
kỹ thuật chiếm 34%, trung học chuyên nghiệp chiếm 30%, cao đẳng - đại học chiếm 25%, trên đại học chỉ tập trung ở các thành phố, đô thị và các khu công nghiệp Việc đào tạo và sử dụng lao động có kỹ thuật còn mất cân đối giữa đào tạo đại học, cao đẳng, THCN và công nhân kỹ thuật Theo tính toán của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội năm 1996 tỷ lệ đào tạo
Trang 38của nước ta là 1 -1,7 - 2,4 nghĩa là một lao động có trình độ đại học thì lao động có trình độ cao đẳng là 1,7 và lao động có trình độ trung học chuyên nghiệp là 2,4 đến năm 2000 cấu trúc là 1 - 1,2 - 1,7 riêng lao động THCN
có xu hướng giảm Qua đây chúng ta có thể thấy được rằng việc đào tạo còn quá mất cân đối “thừa thầy thiếu thợ” Đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng chưa hợp lý số sinh viên khi ra trường không muốn trở về quê lao động mà muốn kiếm việc ở thành phố lớn, gây ra tình trạng nơi thừa, nơi thiếu, theo tính toán thống kê chưa đầy đủ thì gần 30% sinh viên ra trường là làm việc không đúng ngành nghề Điều này càng làm cho tình trạng thất nghiệp trở nên trầm trọng Trong khu vực giáo dục phổ thông tình trạng xuống cấp nghiêm trọng cả về số lượng và chất lượng Đặc biệt số lượng đang là mối quan tâm của chính phủ, tình trạng tái mù chữ, thất học, bỏ học vẫn còn phổ biến Việc xây dựng kế hoạch đào tạo là một vấn đề báo động ở khu vực nông thôn, nhất là vùng sâu vùng xa Điều đó dẫn đến việc thiếu nghiêm trọng đội ngũ cán bộ KHKT phục vụ trực tiếp sản xuất nông nghiệp, từ đó làm hạn chế việc đẩy mạnh quá trình CNH - HĐH nông nghiệp nông thôn Cho nên Nhà nước phải có chính sách cụ thể cho việc sử
dụng đội ngũ cán bộ KHKT phục vụ nông nghiệp
1.3 Một số công trình nghiên cứu có liên quan
- Đề tài: ‘‘Giải pháp nâng cao năng lực công tác cho đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn huyện Hạ Hòa tỉnh Phú Thọ" của tác giả
Nguyễn Hoàng Long thực hiện năm 2013 Trong công trình nghiên cứu này, tác giả cơ bản đã khái quát được các nội dung về cán bộ cấp xã; đã đánh giá được thực trạng năng lực của đội ngũ cán bộ cấp xã thuộc huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ; đã chỉ ra được những tồn tại, hạn chế cũng như những nguyên nhân, điều kiện để nảy sinh những tồn tại, hạn chế đó Từ những đánh giá khách quan, chính xác như trên, tác giả Nguyễn Hoàng Long đã đi đến kết luận về
Trang 39năng lực của đội ngũ cán bộ cấp xã thuộc huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ hiện nay đồng thời đề ra các giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao năng lực công tác của đội ngũ cán bộ này trong thời gian tới
- Đề tài: Giải pháp nhằm nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ khuyến nông trên địa bàn huyện Địch Hóa, tỉnh Thái Nguyên của tác giả Ma Thị Thư thực hiện năm 2011 Công trình nghiên cứu này đã có những đánh giá cơ bản khái quát về cán bộ khuyến nông; năng lực của đội ngũ cán bộ khuyến nông huyện Địch Hóa, tỉnh Thái Nguyên; những yếu tố ảnh hưởng tới năng lực của đội ngũ cán bộ khuyến nông huyện Địch Hóa, tỉnh Thái; những tồn tại, hạn chế của đội ngũ cán bộ khuyến nông huyện Địch Hóa, tỉnh Thái Nguyên Từ
đó tác giả đã có kết luận khách quan, chính xác về năng lực công tác của đội ngũ cán bộ này Đồng thời từ đó chỉ ra các biện pháp, phương pháp, những kiến nghị để khắc phục những hạn chế còn tồn tại nhằm đưa chất lượng đội ngũ cán bộ khuyến nông huyện Địch Hóa ngày càng được nâng cao
- Đề tài: Giải pháp nâng cao năng lực cho đội ngũ khuyến nông viên cơ sở tỉnh Bắc Giang của tác giả Nguyễn Bá Tiến thực hiện năm 2009 Công trình nghiên cứu này đã có những đánh giá cơ bản khái quát về cán bộ khuyến nông viên cơ sở; thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ khuyến nông viên cơ sở tỉnh Bắc Giang; những mặt tích cực và những mặt còn tồn tại, hạn chế của đội ngũ cán bộ này Từ đó tác giả đã có những quan điểm cụ thể như đề ra các biện pháp , giải pháp, các kiến nghị với các ngành, các cơ quan chức năng để từng bước nâng cao năng lực cho đội ngũ khuyến nông viên cơ sở tỉnh Bắc Giang
Trang 40Chương 2 ĐẶC ĐIỂM HUYỆN CẨM KHÊ VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đặc điểm của huyện Cẩm Khê [37]
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên
2.1.1.1 Vị trí địa lý
Cẩm Khê là huyện miền núi nằm phía Tây Bắc của tỉnh Phú Thọ, có tọa độ 21015’-20019‘ vĩ Bắc và 103013‘ kinh Đông Phía Đông giáp huyện Thanh Ba ranh giới tự nhiên là dòng sông Hồng, phía Tây giáp huyện Yên Lập, phía nam giáp huyện Tam Nông và phía Bắc giáp huyện Hạ Hòa Cẩm Khê có 31 đơn vị hành chính, trong đó có 1 thị trấn và 31 xã Trung tâm kinh
tế xã hội của huyện là thị trấn Sông Thao nằm trên đường Quốc lộ 32C cách Thành phố Việt Trì trung tâm kinh tế xã hội của tỉnh là 50km
Tổng diện tích đất tự nhiên là 23.464,82ha trong đó 2/3 là đồi núi với địa hình đa dạng đã chia huyện làm hai vùng chính là vùng đồi gò và vùng ven sông Hồng Chiều dài toàn huyện khoảng 40 km, chiều ngang bình quân 10 km
Huyện Cẩm Khê có hệ thống giao thông tương đối thuận lợi: ngoài tuyến đường thủy trên sông Hồng còn có đường cao tốc Nội Bài- Lao Cai, quốc lộ 32 C đi Yên Bái chạy qua suốt chiều dài phía đông của huyện và tỉnh
lộ 313B và 313C chạy dọc chiều dài phía Tây là những huyết mạch giao thông quan trọng của huyện
Tuy nằm tương đối xa trung tâm của tỉnh nhưng nhờ hệ thống giao thông khá thuận lợi mà huyện Cẩm Khê có lợi thế tương đối so với các huyện khác trong tỉnh cùng nằm ở phía hữu ngạn sông Hồng
2.1.1.2 Địa hình, địa mạo
- Địa hình vùng núi: Tập trung chủ yếu ở phía Tây huyện, đây là dãy núi thấp đoạn cuối của dãy Hoàng Liên Sơn, chạy suốt chiều dài huyện theo