Giải pháp chủ yếu để phát triển kinh tế du lịch ở vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc trong hội nhập quốc tế đến năm 2020, DANH MỤC CÔNG TRÌNH LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN ĐÃ ĐƯỢC CÔNG BỐ 151...
Trang 1ĐOÀN THỊ TRANG
KINH TẾ DU LỊCH Ở VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM
PHÍA BẮC TRONG HỘI NHẬP QUỐC TẾ
LUẬN ÁN TIẾN SĨ CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ CHÍNH TRỊ
HÀ NỘI - 2017
Trang 2ĐOÀN THỊ TRANG
KINH TẾ DU LỊCH Ở VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM
PHÍA BẮC TRONG HỘI NHẬP QUỐC TẾ
LUẬN ÁN TIẾN SĨ CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ CHÍNH TRỊ
Mã số: 62 31 01 02
HÀ NỘI - 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan công trình nghiên cứu này là của riêng tôi Các số liệu trong luận án là trung thực Những kết luận trong luận án chưa từng được công bố ở bất cứ công trình nào khác
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Đoàn Thị Trang
Trang 4Trang
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN
KINH TẾ DU LỊCH Ở VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM TRONG
1.1 Các công trình nghiên cứu có liên quan đến những khía cạnh
chung của kinh tế du lịch 8 1.2 Các công trình nghiên cứu liên quan về kinh nghiệm phát
triển kinh tế du lịch ở các nước và giải pháp phát triển du lịch
1.3 Kết quả nghiên cứu ở các công trình đã công bố và những
vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu 27
Chương 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ KINH TẾ DU LỊCH Ở
VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM TRONG HỘI NHẬP QUỐC TẾ 31 2.1 Kinh tế du lịch và các tiêu chí đánh giá hiệu quả của kinh tế
du lịch ở vùng kinh tế trọng điểm trong hội nhập quốc tế 31 2.2 Mối quan hệ giữa kinh tế du lịch ở vùng kinh tế trọng điểm
2.3 Kinh nghiệm về phát triển kinh tế du lịch ở một số quốc gia -
bài học cho Việt Nam và vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc 64
Chương 3 THỰC TRẠNG KINH TẾ DU LỊCH Ở VÙNG KINH TẾ TRỌNG
ĐIỂM PHÍA BẮC TRONG HỘI NHẬP QUỐC TẾ GIAI ĐOẠN
3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và tiềm năng phát triển
kinh tế du lịch ở vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc 73 3.2 Thực trạng kinh tế du lịch ở vùng kinh tế trọng điểm phía
Bắc trong hội nhập quốc tế giai đoạn 2011 - 2015 83 3.3 Đánh giá chung về kinh tế du lịch ở vùng kinh tế trọng điểm
phía Bắc trong hội nhập quốc tế giai đoạn 2011 - 2015 và
Chương 4 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU ĐỂ PHÁT TRIỂN
KINH TẾ DU LỊCH Ở VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM PHÍA BẮC TRONG HỘI NHẬP QUỐC TẾ ĐẾN NĂM 2020, TẦM
4.1 Phương hướng phát triển kinh tế du lịch ở vùng kinh tế trọng
điểm phía Bắc trong hội nhập quốc tế đến năm 2020, tầm
4.2 Giải pháp chủ yếu để phát triển kinh tế du lịch ở vùng kinh tế
trọng điểm phía Bắc trong hội nhập quốc tế đến năm 2020,
DANH MỤC CÔNG TRÌNH LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN ĐÃ ĐƯỢC CÔNG BỐ 151
Trang 5APEC: Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương ASEAN: Hiệp hội các nước Đông Nam Á
FDI: Đầu tư trực tiếp nước ngoài
OECD: Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế
PATA: Hiệp hội Du lịch châu Á - Thái Bình Dương
PCLĐ: Phân công lao động
SWOT: Điểm mạnh, điểm yếu, thời cơ, thách thức
UNESCO: Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hợp Quốc UNWTO: Tổ chức du lịch thế giới
WTO: Tổ chức thương mại thế giới
Trang 6Trang Bảng 3.1: Tỷ lệ lao động qua đào tạo của cả nước và các vùng
kinh tế trọng điểm (2011-2014) 76
Bảng 3.2: Số lượng lao động trực tiếp trong ngành du lịch ở vùng
kinh tế trọng điểm phía Bắc (2011 - 2015) 85
Bảng 3.3: Cơ sở lưu trú của các tỉnh trong vùng kinh tế trọng điểm
Bảng 3.4: Số khách sạn được xếp hạng từ 1 đến 5 sao tại vùng
kinh tế trọng điểm phía Bắc năm 2015 91
Bảng 3.5: Các doanh nghiệp lữ hành của các tỉnh trong vùng kinh
tế trọng điểm phía Bắc năm 2015 92
Bảng 3.6: Doanh thu của các cơ sở lưu trú và cơ sở lữ hành ở
trong vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc 105
Bảng 3.10: Tổng thu từ khách du lịch của các tỉnh trong vùng kinh
tế trọng điểm phía Bắc (2011 - 2015) 107
Bảng 4.1: Một số chỉ tiêu chủ yếu trong lĩnh vực du lịch ở vùng
kinh tế trọng điểm phía Bắc đến năm 2030 122
Trang 7Trang
Biểu đồ 3.1: So sánh lượng khách quốc tế đến vùng kinh tế trọng điểm
phía Bắc với các vùng khác trong nước (2011-2015) 97
Biểu đồ 3.2: So sánh lượng khách nội địa đến vùng kinh tế trọng điểm
phía Bắc với các vùng khác trong nước (2011-2015) 99
Biểu đồ 3.3: So sánh tổng thu từ khách du lịch ở vùng kinh tế trọng
điểm phía Bắc với các vùng khác trong nước (2011-2015) 108
Biểu đồ 3.4: Giá trị gia tăng GDP du lịch của các tỉnh trong vùng kinh
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay, kinh tế du lịch (KTDL) trở thành ngành mới, hiệu quả cao
và ngày càng phát triển ở mỗi quốc gia KTDL là ngành kinh tế tổng hợp, có tính liên ngành, liên vùng và xã hội hóa cao Phát triển KTDL không chỉ đáp ứng nhu cầu du lịch ngày càng tăng của người dân mà còn đóng vai trò quan trọng trong “xuất khẩu tại chỗ” các sản phẩm hàng hóa và dịch vụ ra nước ngoài KTDL không chỉ đóng góp vào tăng trưởng kinh tế của đất nước, mà còn tạo động lực phát triển các ngành kinh tế khác, tạo nhiều cơ hội việc làm
và thu nhập cho người dân, là phương tiện quảng bá hình ảnh của quốc gia trong bối cảnh hội nhập
Trong những năm qua, ngành Du lịch Việt Nam đã có bước phát triển
rõ rệt và đạt được những kết quả quan trọng, năm 2016 đóng góp trực tiếp đạt 6,8% GDP, cả gián tiếp và lan tỏa đạt 14% GDP của cả nước Đối với Việt Nam, du lịch ngày càng có vị trí quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội và luôn nhận được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước Ngày 16/01/2017, Bộ
Chính trị đã ra Nghị quyết số 08-NQ/TW về phát triển du lịch trở thành
ngành kinh tế mũi nhọn với 5 quan điểm và 8 nhóm giải pháp cụ thể
Trong bối cảnh hội nhập ngày càng sâu rộng của Việt Nam, phát triển KTDL ở các vùng kinh tế trọng điểm (KTTĐ) nói chung, vùng KTTĐ phía Bắc nói riêng là điều tất yếu nhằm tạo sức lan tỏa, thúc đẩy sự phát triển kinh
tế - xã hội ở địa phương, các vùng lân cận và cả nước
Vùng KTTĐ phía Bắc là một trong bốn vùng KTTĐ của Việt Nam, nằm ở vị trí trung tâm của sự giao lưu giữa vùng Đông Bắc và vùng Tây Bắc, giữa vùng núi phía Bắc với miền Trung và các tỉnh phía Nam Do vị trí địa lý
tự nhiên, vùng KTTĐ phía Bắc vừa là khu vực hướng ra biển Đông, vừa là cửa ngõ của các tỉnh/thành phía Bắc, có hai hành lang và một vành đai kinh tế
Trang 9trong quan hệ Việt Nam - Trung Quốc Do vậy, vùng có một vị trí đặc biệt quan trọng trong phát triển kinh tế, chính trị và quốc phòng - an ninh Đây là trung tâm kinh tế năng động và là đầu tàu kinh tế quan trọng của miền Bắc và Việt Nam
So với các khu vực khác, vùng KTTĐ phía Bắc có điều kiện thuận lợi nổi bật để phát triển KTDL, là nơi tập trung nhiều di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh của Việt Nam, vành đai vùng hình thành tam giác tăng trưởng kinh tế Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh với cửa ngõ ra biển Đông, đến với các nước trong khu vực và trên thế giới; vùng bao gồm thủ đô Hà Nội - trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa và khoa học, công nghệ (KHCN) của cả nước với các cơ quan Trung ương, các trung tâm điều hành tổ chức kinh tế lớn, các
cơ sở đào tạo, nghiên cứu và triển khai KHCN quốc gia, đang giữ vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình phát triển đất nước Chính vì vậy, phát triển KTDL ở vùng KTTĐ phía Bắc là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế của vùng nói riêng và của Việt Nam nói chung
Trong những năm qua, KTDL ở vùng KTTĐ phía Bắc đã có những bước phát triển đáng kể, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch
cơ cấu kinh tế theo hướng tiến bộ, tạo nhiều cơ hội việc làm và thu nhập cho người lao động và bảo đảm an sinh xã hội Tuy nhiên, sự phát triển hiện nay của KTDL ở vùng KTTĐ phía Bắc trong bối cảnh hội nhập quốc tế (HNQT) còn mờ nhạt, chưa thể hiện được sự liên kết vùng và nội vùng để trở thành ngành kinh tế mũi nhọn; chưa phát huy được tiềm năng, thế mạnh của vùng trước yêu cầu HNQT Một số địa phương trong vùng bước đầu có sự phát triển về KTDL nhưng đã gây ra những bức xúc về xã hội và môi trường, thiếu tính bền vững KTDL ở vùng KTTĐ phía Bắc có xu hướng manh mún, thiếu gắn kết, không đúng với mục tiêu phát triển trọng tâm của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội toàn vùng Đây là những vấn đề hết sức cấp bách ảnh hưởng lớn đến sự phát triển kinh tế - xã hội của vùng KTTĐ phía Bắc nói
Trang 10riêng và của cả nước nói chung, cần được nghiên cứu, tổng kết và đề xuất giải pháp khắc phục
Xuất phát từ thực tế nêu trên, nghiên cứu sinh lựa chọn đề tài: “Kinh tế
du lịch ở vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc trong hội nhập quốc tế” làm luận
án tiến sĩ chuyên ngành kinh tế chính trị Tác giả mong muốn góp phần vào việc khẳng vai trò quan trọng của KTDL đối với sự phát triển kinh tế - xã hội, làm rõ thực trạng KTDL ở vùng KTTĐ phía Bắc trong bối cảnh HNQT, chỉ ra những hạn chế, nguyên nhân, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp khắc phục
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở những kết quả nghiên cứu về mặt lý luận và thực tiễn, luận
án đề xuất một số giải pháp thiết thực để phát triển KTDL ở vùng KTTĐ phía Bắc trong HNQT
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa, bổ sung và làm rõ hơn cơ sở lý luận về KTDL ở vùng KTTĐ trong bối cảnh HNQT
- Tìm hiểu kinh nghiệm phát triển KTDL ở một số quốc gia trên thế giới trong HNQT Từ đó rút ra bài học cho vùng KTTĐ phía Bắc của Việt Nam
- Đánh giá thực trạng KTDL ở vùng KTTĐ phía Bắc trong bối cảnh HNQT
- Đề xuất giải pháp chủ yếu để phát triển KTDL ở vùng KTTĐ phía Bắc trong HNQT
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1 Đối tượng nghiên cứu của luận án
Có nhiều hướng tiếp cận để nghiên cứu chuyên sâu về KTDL vùng Từ cách tiếp cận của chuyên ngành kinh tế chính trị, đối tượng nghiên cứu của luận án được xác định là nội dung KTDL ở vùng KTTĐ phía Bắc bao gồm:
hệ thống những hoạt động kinh tế của các chủ thể thuộc KTDL; kết cấu hạ tầng phục vụ KTDL; tài nguyên du lịch và các sản phẩm du lịch của vùng
Trang 11KTTĐ phía Bắc Trong đó nhấn mạnh đến mối quan hệ lợi ích giữa các chủ thể thuộc KTDL ở vùng KTTĐ phía Bắc trong HNQT
3.2 Phạm vi nghiên cứu của luận án
- Về nội dung: Tiếp cận dưới góc độ kinh tế chính trị, KTDL có thể
được nghiên cứu ở nhiều khía cạnh khác nhau Tuy nhiên, luận án xác định phạm vi nghiên cứu chủ yếu theo ba nhóm vấn đề trong bối cảnh HNQT:
Một là, các hoạt động kinh tế của các chủ thể trong KTDL và mối quan
hệ lợi ích giữa các chủ thể đó
Hai là, kết cấu hạ tầng phục vụ KTDL và tài nguyên du lịch
Ba là, các sản phẩm du lịch
- Về không gian: Trong luận án này, “Vùng kinh tế trọng điểm phía
Bắc” được xét trong phạm vi của vùng KTTĐ Bắc Bộ theo Quyết định số
747/TTg ngày 11/9/1997 của Thủ tướng Chính phủ bao gồm: thành phố Hà Nội, Hải Phòng và các tỉnh Quảng Ninh, Hưng Yên, Hải Dương Trong Hội nghị các tỉnh vùng KTTĐ Bắc Bộ ngày 14-15/7/2003, Thủ tướng Chính phủ
đã quyết định mở rộng ranh giới vùng KTTĐ Bắc Bộ, sau đó Văn phòng Chính phủ đã ra thông báo số 108/TB-VPCP ngày 30/7/2003 về kết luận của Thủ tướng Chính phủ tại Hội nghị, trong đó có quyết định “đồng ý bổ sung 3 tỉnh: Hà Tây, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc vào vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ” thì Vùng có 8 tỉnh, thành phố Sau khi Quốc hội quyết định mở rộng địa giới thành phố Hà Nội (sáp nhập Hà Tây vào Hà Nội) thì vùng KTTĐ Bắc Bộ bao gồm 7 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương là: Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Hải Dương, Hưng Yên, Vĩnh Phúc và Bắc Ninh Như vậy, không gian nghiên cứu của luận án được xác định là toàn bộ lãnh thổ của 07 tỉnh và thành phố, bao gồm: Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Hải Dương, Hưng Yên, Vĩnh Phúc và Bắc Ninh
- Về thời gian: Các số liệu được sử dụng, trình bày và phân tích đánh
giá trong giai đoạn từ năm 2011 đến năm 2015, dự báo đến năm 2020, tầm
Trang 12nhìn đến năm 2030 Với lý do là tính từ thời điểm này, số liệu đảm bảo tính
ổn định và thống nhất của Hà Nội mới (khi có sự sáp nhập của Hà Tây) với các tỉnh trong vùng KTTĐ Bắc Bộ
4 Câu hỏi nghiên cứu của luận án
Câu hỏi 1: Nội hàm và đặc thù của KTDL ở vùng KTTĐ trong HNQT
tiếp cận theo góc độ nghiên cứu của chuyên ngành kinh tế chính trị?
Câu hỏi 2: Tiêu chí nào thể hiện hiệu quả của KTDL ở vùng KTTĐ xét
trong bối cảnh hội nhập?
Câu hỏi 3: Thực trạng KTDL ở vùng KTTĐ phía Bắc thể hiện như thế
nào trong HNQT?
Câu hỏi 4: Những giải pháp cơ bản để phát triển KTDL ở vùng KTTĐ
phía Bắc trong HNQT?
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
- Cơ sở lý luận: Luận án nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận
của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác - Lênin, kết hợp với tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam, chính sách, pháp luật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về KTDL
- Phương pháp nghiên cứu của luận án: Để đạt được mục đích đề ra,
luận án sử dụng một hệ thống các phương pháp nghiên cứu bao gồm: phương pháp trừu tượng hóa khoa học, phương pháp phân tích thống kê, so sánh, nghiên cứu tài liệu, phương pháp tổng hợp, quy nạp, diễn dịch, phương pháp
mô hình hóa, phương pháp phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức (SWOT)
+ Phương pháp trừu tượng hóa khoa học: Đây là phương pháp đặc thù của kinh tế chính trị được sử dụng cơ bản trong các chương, các tiết của luận
án KTDL trong HNQT đã được nghiên cứu trong nhiều công trình khoa học các cấp và các luận án tiến sĩ Vì vậy, những vấn đề được bàn luận, bản luận
Trang 13án này không nhắc lại, mà căn cứ vào mục đích, nhiệm vụ, phạm vi và đối tượng nghiên cứu, luận án chỉ tập trung phân tích, đánh giá dựa trên tư duy khoa học rút ra những kết luận để hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
“Kinh tế du lịch ở vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc trong hội nhập quốc tế”
+ Phương pháp nghiên cứu tài liệu, tổng hợp: Luận án đã nghiên cứu một số công trình trong nước và nước ngoài có liên quan đến KTDL từ đó xây dựng khung lý thuyết, đồng thời cũng nghiên cứu kinh nghiệm phát triển KTDL ở một số quốc gia và rút ra bài học cho vùng KTTĐ phía Bắc
+ Phương pháp phân tích, thống kê, so sánh, mô hình hóa: Luận án đã
sử dụng những nguồn tài liệu thứ cấp đáng tin cậy được thu thập từ Viện Nghiên cứu và Phát triển Du lịch, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du Lịch, Tổng cục Thống kê và các số liệu, tư liệu từ khảo sát các tỉnh/thành phố ở vùng KTTĐ phía Bắc với phương pháp phân tích, thống kê, mô hình hóa dưới các dạng bảng, biểu đồ để đánh giá thực trạng KTDL ở vùng KTTĐ phía Bắc, kết hợp với phương pháp so sánh để đánh giá mức độ phát triển KTDL ở vùng KTTĐ phía Bắc so với các vùng khác trong cả nước
+ Phương pháp phân tích về điểm mạnh, điểm yếu, thời cơ, thách thức (SWOT): Từ thực trạng về KTDL ở vùng KTTĐ phía Bắc, luận án đã sử dụng phương pháp phân tích SWOT để đánh giá một cách tổng thể, chỉ ra những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của KTDL ở vùng KTTĐ phía Bắc trong HNQT
+ Phương pháp quy nạp, diễn dịch: Trên cơ sở khung lý thuyết và thực trạng đã phân tích, luận án sử dụng phương pháp quy nạp và diễn dịch để xây dựng quan điểm, dự báo phương hướng và đề xuất một số giải pháp có tính khách quan, khoa học, khả thi nhằm đạt được mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
6 Đóng góp mới của luận án
- Góp phần làm rõ hơn cơ sở lý luận về KTDL ở vùng KTTĐ trong HNQT Trong đó, luận án phân tích rõ mối quan hệ tác động qua lại giữa
Trang 14KTDL ở vùng KTTĐ và HNQT; xây dựng các tiêu chí đánh giá hiệu quả KTDL ở vùng KTTĐ trong HNQT
- Đánh giá thực trạng và chỉ rõ những vấn đề đặt ra đối với KTDL ở vùng KTTĐ phía Bắc trong HNQT
- Xây dựng quan điểm và đề xuất những giải pháp chủ yếu để phát triển KTDL ở vùng KTTĐ phía Bắc trong HNQT, trong đó có giải pháp đổi mới tư duy, nhận thức về phát triển KTDL, đặc biệt là tư duy liên kết vùng
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án được kết cấu gồm 4 chương 11 tiết:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến kinh tế du
lịch ở vùng kinh tế trọng điểm trong hội nhập quốc tế
Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn về kinh tế du lịch ở vùng kinh tế
trọng điểm trong hội nhập quốc tế
Chương 3: Thực trạng kinh tế du lịch ở vùng kinh tế trọng điểm phía
Bắc trong hội nhập quốc tế giai đoạn 2011 - 2015
Chương 4: Phương hướng và giải pháp chủ yếu để phát triển kinh tế du
lịch ở vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc trong hội nhập quốc tế đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030
Trang 15Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN KINH TẾ DU LỊCH Ở VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM
TRONG HỘI NHẬP QUỐC TẾ
Kinh tế du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của nhiều quốc gia và
đã góp phần không nhỏ vào sự phát triển kinh tế thế giới Hiện nay, KTDL là một trong những ngành phát triển sôi động và ngày càng được nhiều quốc gia chú trọng đầu tư Do đó, việc nghiên cứu về KTDL ngày càng thu hút sự quan tâm của của nhiều tổ chức, các chuyên gia ở trong và ngoài nước Sau đây là một số công trình nghiên cứu có liên quan tới chủ đề của luận án:
1.1 CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN NHỮNG KHÍA CẠNH CHUNG CỦA KINH TẾ DU LỊCH
1.1.1 Những nghiên cứu liên quan đến vai trò của kinh tế du lịch trong nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế
- Công trình “Tourism as a driver of economic growth and development
in the EU-27 and ASEAN regions” “Du lịch là một động lực thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế trong khu vực EU 27 và ASEAN”, của tác giả
Anna Athanasopoulou [70] Nội dung nghiên cứu nổi bật của công trình vai trò và tầm quan trọng của KTDL đối với sự phát triển kinh tế - xã hội Đây là hướng tiếp cận theo chuyên ngành kinh tế chính trị Dựa theo số liệu của Tổ chức Du lịch thế giới (UNWTO), Hội đồng Du lịch và Lữ hành thế giới, tác giả đã phân tích sự đóng góp rất lớn của du lịch vào GDP, việc làm, đầu tư và xuất khẩu ở Liên minh Châu Âu EU 27 và ASEAN năm 2013 Tuy nhiên, bên cạnh những tác động tích cực thì phát triển KTDL cũng có những tác động tiêu cực như: hoạt động du lịch có thể hủy hoại môi trường tự nhiên, hủy hoại các di sản quốc gia, ảnh hưởng tới văn hóa địa phương và các làng nghề truyền thống; tính cạnh tranh cao có thể gây khó khăn cho người dân và các doanh nghiệp địa phương hay sự gia tăng thất nghiệp trong các giai đoạn mà
Trang 16du lịch chưa vào vụ… Do vậy, kế hoạch phát triển KTDL trong tương lai phải đảm bảo các yếu tố về môi trường, văn hóa và xã hội
- Công trình “Economic Impacts of Tourism Industry” “Các tác động
về mặt kinh tế của ngành du lịch” của tiến sĩ Fateme Tohidy Ardahaey được
đăng trên International Journal of Business and Management [75] Bài báo bàn về các tác động kinh tế của ngành công nghiệp du lịch, đặc biệt là ở các nước đang phát triển; các tác động bao gồm trực tiếp trong ngành du lịch và tác động gián tiếp đối với những ngành khác có liên quan KTDL có thể làm thay đổi giá cả, số lượng, chất lượng hàng hóa, dịch vụ, mức thuế ở nơi có hoạt động du lịch so với thời kỳ chưa xuất hiện hoạt động này Nội dung bài nghiên cứu đã nâng tầm du lịch trở thành ngành kinh tế ngang tầm với ngành công nghiệp
- Cuốn sách “Dynamic Model of Economic Growth in a Small Tourism
Driven Economy” “Mô hình tăng trưởng kinh tế năng động trong một nền kinh nhỏ dựa vào du lịch” của hai tác giả Stefan F Schubert và Juan G Brida,
[81] Trong cuốn sách này, các tác giả đã khẳng định du lịch quốc tế là một trong những ngành công nghiệp tăng trưởng nhanh nhất, chiếm 10% tổng thương mại quốc tế và chiếm gần một nửa tổng số thương mại dịch vụ Nó có thể được xem như một trong những ngành xuất khẩu lớn nhất thế giới Ở nhiều nước, thu nhập ngoại tệ từ du lịch thậm chí còn cao hơn cả thu nhập từ tất cả các ngành khác cộng lại Vì vậy, du lịch là một hình thức khác của xuất khẩu Đối với các nền kinh tế nhỏ nhưng có tiềm năng về du lịch, việc biến du lịch trở thành một ngành xuất khẩu đặc biệt, chuyên cung cấp các dịch vụ du lịch và lữ hành chuyên nghiệp chính là một mô hình kinh tế thông minh để phát triển đất nước
- Công trình “Tourism and Sustainable Economic Development” “ Du
lịch và phát triển kinh tế bền vững” của hai tác giả Amedeo Fossati và
Giorgio Panella [69] Đối với nhiều quốc gia, du lịch là một ngành công
Trang 17nghiệp có ý nghĩa kinh tế to lớn, nó được xem như một công cụ chủ yếu để phát triển vì nó kích thích các hoạt động kinh tế và thương mại khác Du lịch
có tác động tích cực về kinh tế đối với cán cân thanh toán, việc làm, tổng thu nhập và sản xuất, nhưng nó cũng có những tác động tiêu cực, đặc biệt đối với vấn đề môi trường và xã hội Câu hỏi đặt ra là liệu có thể tiếp tục phát triển một khu vực nhất định mà không ảnh hưởng tiêu cực tới môi trường và xã hội hay không? Các tác giả cung cấp một khuôn khổ lý thuyết cho vấn đề này Cuốn sách bao gồm hai phần Phần đầu trình bày những quan điểm chung về
du lịch và phát triển kinh tế bền vững, lấy ví dụ điển hình ở một số vùng và liên vùng cụ thể để chứng minh Một số nội dung về mối quan hệ giữa du lịch
và môi trường và những vấn đề tiềm ẩn trong phát triển bền vững được xem xét trong mối quan hệ với phát triển vùng, đô thị và nông thôn Phần hai tập trung vào các chiến lược và các công cụ chính sách nhằm giúp cho việc phát triển du lịch và môi trường được hài hòa
- Công trình “Tourism and regional integration in Southeast Asia” “Du
lịch và hội nhập khu vực ở Đông Nam Á” của tác giả Vannarith Chheang [81]
Trong công trình này, tác giả đã phân tích khái niệm về KTDL, chủ nghĩa khu vực trong KTDL, tầm quan trọng của phát triển du lịch trong giai đoạn hội nhập khu vực Đông Nam Á Mối quan hệ gắn kết giữa du lịch và hội nhập khu vực cũng được làm rõ: Phát triển du lịch không chỉ mang lại lợi ích kinh tế to lớn cho các quốc gia mà còn thúc đẩy cho quá trình xây dựng cộng đồng ASEAN trở nên nhanh chóng và bền vững hơn Ngược lại, chủ nghĩa khu vực cũng thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của ngành du lịch ở mỗi nước thông qua việc xóa bỏ các rào cản về thủ tục xuất nhập cảnh, giúp cho công dân của các nước thành viên ASEAN có thể đi lại dễ dàng ở các quốc gia này, từ đó gia tăng số lượng lớn khách du lịch cho mỗi quốc gia thành viên, thúc đẩy giao lưu văn hóa, kết nối cộng đồng, hỗ trợ giảm đói nghèo Ngoài ra, tác giả cũng phân tích chính sách phát triển du lịch của 10 quốc gia thành viên ASEAN và cho
Trang 18thấy rằng, tất cả các chính sách phát triển du lịch của các nước này đều coi trọng việc hợp tác trong phát triển du lịch ở khu vực và do đó, ngành du lịch của mỗi nước cần điều chỉnh sao cho phù hợp với xu thế chung của hội nhập
- Cuốn sách “Handbook of Tourism Economics: Analysis, New
Applications and Case Studies” “Cẩm nang Kinh tế Du lịch: Phân tích, ứng dụng mới và các nghiên cứu tình huống” của tác giả Clement A Tisdell [74]
Cuốn sách cung cấp những nội dung mới nhất về những chủ đề quan trọng trong KTDL như: nhu cầu trong du lịch, sự cung cấp các dịch vụ trong du lịch, các phân khúc cụ thể trong ngành công nghiệp du lịch, chi phí cơ hội trong KTDL Ngoài ra, một số nghiên cứu chuyên sâu về sự đóng góp của du lịch vào phát triển kinh tế ở một số nước gồm: Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, Australia và Bồ Đào Nha cũng được giới thiệu trong nội dung cuốn sách
Tóm lại, ngoài những nội dung chuyên sâu đã được trình bày, ở các
công trình có điểm chung là đều khẳng định vai trò, tầm quan trọng của KTDL đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; KTDL là một trong những ngành xuất khẩu lớn nhất và có mức tăng trưởng nhanh nhất KTDL không chỉ mang lại lợi ích cho các quốc gia mà còn thúc đẩy quá trình hội nhập nhanh chóng và bền vững
1.1.2 Những nghiên cứu về các yếu tố cấu thành của kinh tế du lịch trong nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế
- Nghiên cứu “Economics of Tourism” “Kinh tế du lịch” của các tác
giả Larry Dwyer, Peter Forsyth và Andreas Papatheodorou [77] Công trình nghiên cứu về các lý thuyết áp dụng cho việc phân tích nội dung và các nhân
tố ảnh hưởng đến KTDL Bằng việc sử dụng các phương pháp đo lường kinh
tế để phân tích các mô hình cung - cầu du lịch, công trình đưa ra những dự báo về xu hướng phát triển KTDL đến năm 2020 và những tác động của toàn cầu hóa, khu vực hóa đối với KTDL thế giới; đồng thời, công trình cũng nghiên cứu dưới góc độ kinh tế học vĩ mô, kinh tế học vi mô về ảnh hưởng của thay đổi khí hậu theo mùa đến phát triển KTDL
Trang 19- Bài viết “Hoàn thiện mối quan hệ giữa các bên liên quan nhằm
phát triển hoạt động du lịch tại Việt Nam” của tác giả Trần Thị Minh Hòa
[32] Bài báo đề cập đến bốn bên liên quan và mối quan hệ giữa các bên trong hoạt động du lịch bao gồm: các cơ quan quản lý nhà nước về du lịch, các nhà cung ứng dịch vụ du lịch, khách du lịch và cộng đồng dân cư; tác giả cũng làm rõ thực trạng của các mối quan hệ này tại Việt Nam, phân tích một số bài học kinh nghiệm quốc tế trong việc tạo ra các mối quan hệ tốt giữa các bên liên quan trong hoạt động du lịch, từ đó đề xuất một số giải pháp để hoàn thiện các mối quan hệ này nhằm phát triển bền vững hoạt động du lịch tại Việt Nam
- Luận án tiến sĩ “Vai trò của chính quyền địa phương cấp tỉnh trong
phát triển du lịch bền vững tỉnh Ninh Bình” của tác giả Nguyễn Mạnh Cường
[16] Luận án đã hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản liên quan đến phát triển du lịch bền vững, trong đó vai trò của chính quyền địa phương cấp tỉnh được đánh giá hết sức quan trọng, cụ thể: (i) Vai trò của chính quyền địa phương cấp tỉnh trong việc xây dựng chiến lược phát triển du lịch của tỉnh theo tiêu chí phát triển bền vững; (ii) Vai trò của chính quyền địa phương cấp tỉnh trong việc tạo dựng hành lang pháp lý cho phát triển du lịch của tỉnh theo tiêu chí phát triển bền vững; (iii) Vai trò của chính quyền địa phương cấp tỉnh trong việc xây dựng tổ chức bộ máy quản lý và phát triển du lịch của tỉnh theo tiêu chí phát triển bền vững; (iv) Vai trò của chính quyền địa phương cấp tỉnh trong thanh tra, kiểm tra công tác tổ chức, quản lý và kinh doanh du lịch của tỉnh theo tiêu chí phát triển bền vững Từ việc khẳng định chính quyền địa phương cấp tỉnh với tư cách là một chủ thể có vai trò hết sức quan trọng trong phát triển KTDL bền vững, trên cơ sở phân tích thực trạng về vai trò của chính quyền cấp tỉnh trong phát triển du lịch bền vững của tỉnh Ninh Bình, luận án đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao vai trò của chính quyền địa phương cấp tỉnh trong phát triển du lịch của tỉnh này
Trang 20- Luận án tiến sĩ “Đánh giá điều kiện địa lý và tài nguyên phục vụ tổ
chức lãnh thổ du lịch tỉnh Vĩnh Phúc” của tác giả Lương Chi Lan [39] Tác
giả luận án đã khẳng định điều kiện địa lý và tài nguyên có vai trò đặc biệt quan trọng, là yếu tố đầu vào có ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả kinh tế của hoạt động du lịch Để du lịch phát triển bền vững thì việc đánh giá các điều kiện địa lý và tự nhiên là hoạt động cần thiết Theo đó, tác giả đã trình bày tổng quan những vấn đề lý luận và thực tiễn nghiên cứu trên thế giới cũng như ở Việt Nam về điều kiện địa lý và tài nguyên du lịch, các phương pháp đánh giá điều kiện địa lý và tài nguyên, tổ chức lãnh thổ du lịch; phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới tổ chức lãnh thổ du lịch của tỉnh Vĩnh Phúc; đánh giá điều kiện địa lý và tài nguyên du lịch theo các tiểu vùng đã được phân chia; phân tích thực tiễn phát triển du lịch của tỉnh Vĩnh Phúc để đề xuất định hướng phát triển du lịch theo từng tiểu vùng và định hướng tổ chức lãnh thổ
du lịch tỉnh Vĩnh Phúc
Như vậy, các công trình nghiên cứu đã đề cập đến các yếu tố cấu thành
của KTDL trong nền kinh tế thị trường hiện đại và HNQT bao gồm: các bên tham gia hoạt động của KTDL (khách du lịch, các cơ quan quản lý về du lịch, các nhà cung ứng dịch vụ du lịch và cộng đồng địa phương) cùng các điều kiện như: tài nguyên du lịch cùng các yếu tố thuộc cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch Việc nghiên cứu các công trình này có ý nghĩa lớn trong quá trình xây dựng khung lý thuyết của luận án
1.1.3 Những nghiên cứu về các tiêu chí đánh giá hiệu quả kinh tế -
xã hội của kinh tế du lịch trong hội nhập quốc tế
- Đề tài nghiên cứu khoa học khoa học cấp ngành “Đánh giá hiệu quả
xã hội của hoạt động du lịch - lấy ví dụ tại trung tâm du lịch thành phố Hạ Long” của Phạm Trung Lương [41] Đề tài đã chỉ rõ cùng với sự phát triển
chung của các ngành kinh tế thì du lịch đã đạt được những bước tiến đáng kể
và ngày càng có tác động tích cực hơn tới nhiều lĩnh vực kinh tế - xã hội của
Trang 21đất nước Song song với hiệu quả kinh tế thì hiệu quả xã hội cũng là một tiêu chí hết sức quan trọng để đánh giá hiệu quả của hoạt động du lịch Luận án đã đánh giá một số tác động tích cực về mặt xã hội của hoạt động du lịch như: (i) Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo hiệu quả kinh tế cao cho xã hội; (ii) Tạo việc làm, thúc đẩy sản xuất, tăng thu nhập, nâng cao chất lượng đời sống của dân cư; (iii) Nâng cao trình độ nhận thức, trình độ văn hóa, hiểu biết xã hội; (iv) Bảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc; (v) Góp phần phát triển cơ sở
hạ tầng, dịch vụ địa phương Bên cạnh đó, luận án cũng chỉ ra các tác động tiêu cực về mặt xã hội như: (i) Làm biến đổi các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc; (ii) Tác động đối với các tài nguyên du lịch; (iii) Tác động đến đời sống của cộng đồng dân cư địa phương; (iv) Các hiện tượng quá tải sức chứa (giao thông, nước sạch, thực phẩm…); (v) Các tệ nạn xã hội Từ đó, luận
án đề xuất một số giải pháp tăng cường hiệu quả xã hội của hoạt động du lịch
ở Hạ Long bao gồm: (i) Giải pháp về tổ chức quản lý; (ii) Giải pháp về cơ chế chính sách; (iii) Giải pháp về đào tạo và nâng cao nhận thức
- Công trình“Đề xuất tiêu chí đánh giá thương hiệu kinh doanh du lịch
Việt Nam” do Nguyễn Quốc Hưng chủ nhiệm [35] Đề tài tập trung vào việc
sử dụng các lý thuyết về giá trị thương hiệu để đánh giá, bình xét thương hiệu
du lịch Việt Nam trong bối cảnh HNQT và khu vực, từ đó hướng dẫn, định hướng các doanh nghiệp du lịch Việt Nam nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ du lịch, đồng thời khuyến khích doanh nghiệp hướng đến các giá trị tốt đẹp mang tính bền vững, tiêu chuẩn hóa hình ảnh thương hiệu của du lịch Việt Nam Đề tài đã đề xuất 5 nhóm tiêu chí để đánh giá thương hiệu kinh doanh du lịch của Việt Nam gồm: (i) Nhóm tiêu chí về định vị nhận diện trong tâm trí khách du lịch, (ii) Nhóm tiêu chí về năng lực quản trị thương hiệu, (iii) Nhóm tiêu chí về quản trị và phát triển nguồn nhân lực, (iv) Nhóm tiêu chí về chất lượng sản phẩm và dịch vụ, (v) Nhóm tiêu chí về kết quả hoạt động kinh doanh
Trang 22- Luận án tiến sĩ “Phát triển kinh doanh lưu trú du lịch tại vùng du lịch
Bắc Bộ của Việt Nam” của tác giả Hoàng Thị Lan Hương [37] Nội dung của
luận án hướng vào việc làm rõ cơ sở lý luận về kinh doanh lưu trú du lịch, phát triển bền vững kinh doanh lưu trú du lịch, đặc biệt, luận án đã xây dựng được hệ thống chỉ tiêu đánh giá mức độ phát triển kinh doanh lưu trú du lịch bền vững mang tính đặc thù theo 3 nhóm cơ bản: (i) Các chỉ tiêu đánh giá sự phát triển bền vững về kinh tế (chỉ tiêu về cơ sở vật chất kỹ thuật, chỉ tiêu về khách du lịch sử dụng dịch vụ lưu trú, chỉ tiêu từ doanh thu kinh doanh lưu trú, chỉ tiêu về lao động làm việc trong lĩnh vực kinh doanh lưu trú); (ii) Chỉ tiêu đánh giá sự phát triển bền vững về môi trường (mức độ tiết kiệm và khả năng quản lý tiêu thụ năng lượng điện, nước hiệu quả, mức độ tái sử dụng và
xử lý rác thải); (iii) Chỉ tiêu đánh giá sự phát triển bền vững về xã hội (mức
độ đầu tư, mức độ đóng góp và chia sẻ lợi ích về kinh tế và xã hội với cộng đồng địa phương của cơ sở lưu trú) Tác giả cũng đánh giá một cách khái quát
sự phát triển của các doanh nghiệp du lịch kinh doanh lưu trú du lịch tại vùng
du lịch Bắc Bộ của Việt Nam và thực trạng công tác quản lý nhà nước về du lịch, kinh doanh lưu trú du lịch Từ đó, tác giả đề xuất một số giải pháp có tính đột phá, khả thi cao đối với các cơ sở kinh doanh lưu trú du lịch và các chủ thể quản lý nhà nước tại vùng du lịch Bắc Bộ
Tóm lại, KTDL là ngành kinh tế dịch vụ, tổng hợp mang tính chất liên
ngành, đa lĩnh vực khó đo lường định lượng, nhưng ở mỗi khía cạnh cụ thể thuộc về nội dung của KTDL có thể đánh giá hiệu quả của KTDL dựa trên một
số tiêu chí cụ thể như: mức độ tăng trưởng GDP; lượng khách du lịch qua các năm; công suất sử dụng số phòng khách sạn theo mùa vụ; sự góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo việc làm, tăng thu nhập cho người lao động; nâng cao trình độ nhận thức, trình độ văn hóa cho người dân; bảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc… Những tiêu chí này là nguồn tài liệu quý để tác giả luận án tham khảo đánh giá thực trạng về KTDL ở vùng KTTĐ phía Bắc ở chương 3
Trang 231.1.4 Những nghiên cứu về vùng kinh tế trọng điểm, kinh tế du lịch theo khu vực và vùng kinh tế của Việt Nam
- Bài viết “Xây dựng mô hình hợp tác và liên kết vùng trong phát triển
vùng kinh tế trọng điểm miền Trung” của tác giả Lê Thế Giới [28] Bài viết đề
cập đến sứ mệnh của vùng KTTĐ miền Trung là: xây dựng vùng kinh tế trọng điểm miền Trung trở thành vùng kinh tế năng động với tốc độ tăng trưởng nhanh và bền vững; phát triển một cơ cấu kinh tế vùng hợp lý, đa dạng với thế mạnh của công nghiệp lọc dầu, hoá chất và dịch vụ chất lượng cao; đẩy mạnh vai trò trung tâm thương mại và giao dịch quốc tế của Đà Nẵng, Huế, Quy Nhơn để đảm nhận chức năng dịch vụ thương mại và trung tâm du lịch của khu vực miền Trung và Tây Nguyên Mặc dù vùng KTTĐ miền Trung đã đạt được những thành quả phát triển nhưng vẫn còn rất nhiều rào cản phải vượt qua để sự hợp tác, liên kết vùng thực sự đi vào chiều sâu và phát huy hiệu quả Bài viết tập trung làm rõ những hạn chế trong quá trình hợp tác, liên kết nội bộ vùng Dựa trên khuôn khổ phân tích, bài viết đã luận giải các căn cứ
khoa học và thực tiễn để thiết kế Mô hình phát triển sự hợp tác và liên kết
vùng, bao gồm: (i) Phát triển tầm nhìn và mục tiêu của sự hợp tác và liên kết
vùng, (ii) Làm rõ cơ sở khoa học và thực tiễn của liên kết vùng (nội bộ vùng
và liên vùng), (iii) Quy hoạch phát triển vùng dựa trên sự hợp tác và liên kết, (iv) Xác lập cơ chế đảm bảo sự phối hợp và liên kết vùng bền vững, (v) Xây dựng các chính sách và giải pháp để thực hiện liên kết vùng, (vi) Tổ chức thực hiện, hiệu chỉnh và kiểm tra quá trình liên kết vùng
- Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ "Cơ sở khoa học phát triển du lịch
đảo ven bờ vùng du lịch Bắc Trung Bộ" của tác giả Phạm Trung Lương [42]
Đề tài trình bày cơ sở lý luận cho phát triển du lịch đảo vùng ven bờ; đánh giá
vị trí và vai trò của du lịch đảo ven bờ trong chiến lược phát triển du lịch, kinh tế - xã hội và an ninh quốc phòng ở vùng ven biển Bắc Trung Bộ trong phát triển du lịch Hành lang kinh tế Đông Tây; đánh giá thực trạng phát triển
Trang 24du lịch trên các đảo ven bờ vùng du lịch Bắc Trung Bộ; xác định những nội dung định hướng phát triển du lịch gắn với hoạt động bảo tồn cảnh quan và đảm bảo an ninh quốc phòng, phát triển phát triển du lịch gắn với xóa đói giảm nghèo; từ đó, đề tài đề xuất các giải pháp, kiến nghị nhằm khai thác có hiệu quả tiềm năng du lịch đảo ven bờ, góp phần tích cực vào sự nghiệp phát triển du lịch miền Trung - Tây Nguyên nói riêng, du lịch Việt Nam nói chung
- Luận án tiến sĩ “Phát triển kinh tế du lịch ở vùng du lịch Bắc Bộ và
tác động của nó tới quốc phòng - an ninh” của tác giả Nguyễn Đình Sơn [49]
Tác giả luận án đã khái quát lý luận chung về phát triển kinh tế du lịch kết hợp với củng cố quốc phòng - an ninh; phân tích những đặc điểm cơ bản của KTDL, thực trạng KTDL ở vùng Bắc Bộ trong mối quan hệ với củng cố quốc phòng - an ninh Sau khi chỉ rõ những hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế của KTDL vùng Bắc Bộ, tác giả đã đề xuất phương hướng, mục tiêu và những giải pháp cơ bản để phát triển KTDL ở vùng Bắc Bộ kết hợp với tăng cường củng cố quốc phòng - an ninh
- Bài viết “Phát triển du lịch nông thôn ở vùng Đồng bằng sông Cửu
Long: Đường đến cơ cấu kinh tế dịch vụ - nông - công nghiệp” của các tác
giả viết Đoàn Thị Mỹ Hạnh, Bùi Thị Quỳnh Ngọc [29] Bài viết tiếp cận theo
hướng sử dụng hiệu quả nguồn lực của vùng bằng cách chuyển từ việc cung ứng các sản phẩm nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp sang tổ chức cung cấp các sản phẩm dịch vụ du lịch Vùng đồng bằng sông Cửu Long với những nguồn tài nguyên hiện có hoàn toàn có thể đi theo con đường ưu tiên phát triển ngành dịch vụ trên cơ sở phát triển du lịch xanh, du lịch nông thôn Khi
du lịch phát triển sẽ kéo theo các ngành dịch vụ khác phát triển như vận tải, viễn thông Ngoài lợi ích trực tiếp là làm thay đổi bộ mặt nông thôn, cải thiện đời sống cho người nông dân, du lịch còn mang lại những lợi ích khác như giảm di dân về thành thị, giảm khoảng cách giàu nghèo giữa thành thị và nông thôn
Trang 25- Bài viết “Các vùng kinh tế trọng điểm: Thực trạng và các giải pháp
phát triển nhanh và bền vững giai đoạn 2012-2020” của tác giả Nguyễn Văn
Cường [15] Bài viết khẳng định các vùng KTTĐ là những khu vực có vị trí kinh tế, địa lý đặc biệt, có khả năng phát triển nhanh hơn so với các vùng khác, sự phát triển của các vùng KTTĐ có sức lan tỏa tới sự phát triển của các khu vực khác và của cả nước Để phát triển nhanh và bền vững các khu vực này, tác giả bài viết đã đề xuất các giải pháp như: (i) Tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo, đổi mới bộ máy tổ chức và điều phối hoạt động điều hành của Ban Điều phối các vùng KTTĐ; (i) Nâng cao chất lượng xây dựng, điều chỉnh, bổ sung và phê duyệt quy hoạch các vùng KTTĐ; (iii) Tăng cường đầu
tư, đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng nhanh tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ; (iv) Tập trung đầu tư, phát triển đồng bộ kết cấu hạ tầng kinh
tế - xã hội, đổi mới cơ chế thu hút nguồn vốn trong và ngoài nước cho phát triển; (v) Đầu tư phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng nhu cầu phát triển; (vi) Chú trọng phát triển kinh tế cùng với các vấn đề an sinh xã hội, nâng cao đời sống của người dân
- Báo cáo “Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch vùng Đồng bằng sông
Hồng và Duyên hải Đông Bắc đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030” của
Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch [2] Báo cáo tập trung vào những nội dung
chủ yếu: Thứ nhất, đánh giá các yếu tố nguồn lực và hiện trạng phát triển du
lịch vùng đồng bằng sông Hồng và Duyên hải Đông Bắc giai đoạn 2000 -
2011 về: đặc điểm tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội, tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn, hệ thống kết cấu hạ tầng cơ sở, vật chất kỹ thuật phục vụ
du lịch và các nguồn lực khác Trên cơ sở phân tích hiện trạng và kết quả thực hiện quy hoạch phát triển du lịch của vùng giai đoạn 2000 - 2011, báo cáo đã
chỉ ra những cơ hội và thách thức đối với phát triển du lịch của vùng Thứ hai,
quy hoạch phát triển du lịch vùng Đồng bằng sông Hồng và Duyên hải Đông Bắc đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 Từ việc đưa ra những quan điểm,
Trang 26mục tiêu, dự báo chỉ tiêu chủ yếu để phát triển du lịch, báo cáo đã chỉ rõ định hướng phát triển sản phẩm du lịch, tổ chức không gian phát triển du lịch, đầu
tư du lịch và định hướng bảo vệ môi trường du lịch Thứ ba, báo cáo đề xuất
một số giải pháp và tổ chức thực hiện quy hoạch, cụ thể: (i) Giải pháp về đầu
tư, (ii) Giải pháp về phát triển nguồn nhân lực, (iii) Giải pháp về xúc tiến, quảng bá, (iv) Giải pháp phát triển thị trường và sản phẩm, (v) Giải pháp về tổ chức quản lý quy hoạch, (vi) Giải pháp về ứng dụng khoa học và công nghệ, (vii) Giải pháp về liên kết phát triển du lịch, (viii) Giải pháp về bảo vệ tài nguyên và môi trường du lịch, (ix) Giải pháp đảm bản an ninh, quốc phòng
- Báo cáo: “Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch vùng Bắc Trung Bộ
đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030” của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
[3] Nội dung báo cáo đã tập trung vào một số vấn đề chủ yếu như: đánh giá các yếu tố nguồn lực và hiện trạng phát triển du lịch vùng Bắc Trung Bộ; xác định cơ hội và thách thức đối với phát triển du lịch của vùng; quy hoạch phát triển du lịch vùng Bắc Trung Bộ đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 Trên
cơ sở đưa ra quan điểm, mục tiêu và dự báo các chỉ tiêu phát triển du lịch, báo cáo đã đưa ra một số định hướng phát triển du lịch, các giải pháp và tổ chức thực hiện quy hoạch
- Luận án tiến sĩ “Kinh tế du lịch ở các tỉnh Bắc Trung Bộ trong hội
nhập kinh tế quốc tế” của tác giả Nguyễn Thị Hồng Lâm [40] Nội dung
chính của luận án hướng vào hệ thống hóa một số vấn đề lý luận cơ bản liên quan đến phát triển KTDL trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế như: KTDL - đặc điểm và các bộ phận cấu thành; mối quan hệ giữa KTDL với sự phát triển kinh tế - xã hội; những yếu tố tác động đến KTDL trong hội nhập kinh tế quốc tế Luận án đã nêu và phân tích kinh nghiệm phát triển KTDL ở một số quốc gia như: Trung Quốc, Thái Lan, Singapore và rút ra sáu bài học kinh nghiệm cho Việt Nam Ngoài ra, tác giả luận án cũng phân tích, đánh giá thực trạng về KTDL ở các tỉnh Bắc Trung Bộ trong hội nhập kinh tế quốc tế,
Trang 27từ đó đề xuất phương hướng và một số giải pháp nhằm thúc đẩy phát triển KTDL tại khu vực này
Tóm lại, với việc sử dụng các phương pháp nghiên cứu khác nhau, cách
tiếp cận phong phú, các công trình nghiên cứu trên đã khảo sát thực tế, đánh giá tiềm năng, thế mạnh để phát triển KTDL ở một số vùng của Việt Nam, đồng thời phân tích, đánh giá thực trạng về KTDL ở các vùng, chỉ ra những bất cập, hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế; từ đó đề xuất các quan điểm, giải pháp trước mắt và lâu dài để phát triển KTDL ở vùng theo mục tiêu, định hướng đã đặt ra
Đây là nguồn tư liệu phong phú để tác giả luận án tham khảo, tìm thêm
hướng đi mới trong nghiên cứu
1.2 CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN VỀ KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN KINH TẾ DU LỊCH Ở CÁC NƯỚC VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN
DU LỊCH TRONG HỘI NHẬP QUỐC TẾ
1.2.1 Những nghiên cứu liên quan về kinh nghiệm phát triển kinh
tế du lịch ở một số nước
- Cuốn sách “Japanese Tourism: Spaces, Places and Structures” “Du
lịch Nhật Bản: Không gian, Địa điểm và Cấu trúc” của các tác giả Carolin
Funck, Malcolm Cooper [72] Cuốn sách đưa ra các góc nhìn đa chiều về sự phát triển của Du lịch Nhật Bản, đem đến cho người đọc những đặc điểm chính trong phong cách du lịch của người Nhật Từ một nước chịu thiệt hại vì thua trận sau Chiến tranh thế giới thứ 2, nước Nhật chuyển mình vực dậy nền kinh tế trong đó Du lịch được coi là hướng đi mới và đầy tiềm năng Điều đầu tiên người Nhật làm chính là khuyến khích người dân đi du lịch trong nước, đây là cách quảng bá hết sức hiệu quả vì không chỉ tác động tới người Nhật
mà cả những người nước ngoài đang làm việc hoặc theo học tại Nhật Bên cạnh đó, chính phủ Nhật Bản coi việc đào tạo con người là một yếu tố quan trọng để nâng cao chất lượng dịch vụ, nổi bật trong tinh thần phục vụ của người Nhật chính là "omotenashi" (sự tiếp đón nồng hậu) và "omoiyari" (luôn
Trang 28đặt mình trong địa vị đối phương để cư xử) Người Nhật yêu thiên nhiên và ý thức được tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường, vì thế các cửa hàng đều sử dụng túi giấy để gói đồ cho khách Đối với người Nhật, mọi thứ luôn ở ngưỡng "đủ" Ngoài ra, dịch vụ Du lịch của Nhật Bản không dừng lại ở việc khách du lịch ngắm nhìn cảnh đẹp, mà còn là trải nghiệm văn hóa Nhật Bản một cách đa dạng: từ việc tham gia các lễ hội truyền thống tới việc theo học các lớp trà đạo, dạy mặc kimono; từ việc ăn sushi tại các cửa hàng đến việc tận tay bắt cá để chế biến sushi, tất cả đã cho du khách những cái nhìn mới
về cuộc sống và con người Nhật
- Cuốn sách “Travel and Tourism Management” “Lữ hành và Quản trị
du lịch” của tác giả Barkat Ali Md Abu [78] Cuốn sách này đem đến cái
nhìn tổng quát về toàn bộ ngành công nghiệp du lịch và dịch vụ ở Ấn Độ, đồng thời so sánh các mô hình phát triển KTDL của Ấn Độ với các nước láng giềng Mặc dù là quốc gia có nhiều tiềm năng về du lịch như lịch sử, tôn giáo, văn hóa… nhưng ngành du lịch của Ấn Độ đang đứng trước rất nhiều thách thức, đặc biệt là vấn đề về an ninh ở các thành phố lớn Mặt khác, các hiện tượng trộm cắp, cưỡng hiếp… ngày càng gia tăng khiến cho Ấn Độ mang một hình ảnh không đẹp trong mắt của khách du lịch khắp nơi trên thế giới Ngoài
ra, tình trạng yếu kém về cơ sở hạ tầng, dịch vụ và sự lơi lỏng trong công tác quản lý các khu di tích ở một số tỉnh thành đang đặt ra vấn đề lớn cho các nhà hoạch định chính sách và các nhà quản lý địa phương Từ đó, yêu cầu Nhà nước Ấn Độ cần cải thiện môi trường chính trị và hoàn thiện hành lang pháp
lý để tạo điều kiện cho du lịch phát triển
- Báo cáo tổng hợp đề tài nghiên cứu khoa học cấp ngành “Nghiên cứu
và vận dụng kinh nghiệm phát triển du lịch của một số nước có ngành du lịch phát triển vào du lịch Việt Nam” của tác giả Phạm Quang Hưng [33] Nhóm
tác giả của đề tài đã khái quát tình hình phát triển của du lịch Việt Nam, du lịch khu vực Châu Á và du lịch toàn cầu; tập hợp các kinh nghiệm phát triển
Trang 29du lịch ở một số nước có ngành du lịch phát triển, từ đó đề xuất hướng áp dụng để phát triển du lịch Việt Nam giai đoạn 2005-2015 trên các khía cạnh: (i) Cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển du lịch; (ii) Phát triển sản phẩm, nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch; (iii) Tuyên truyền, quảng bá du lịch; (iv) Đầu
tư du lịch; (v) Sự tham gia của cộng đồng vào hoạt động du lịch; (vi) Hội nhập và khai thác lợi ích từ việc tham gia các tổ chức quốc tế
- Luận án tiến sĩ “Phát triển dịch vụ lữ hành du lịch trong điều kiện hội
nhập kinh tế quốc tế: Kinh nghiệm của một số nước Đông Á và gợi ý chính sách cho Việt Nam” của tác giả Nguyễn Trùng Khánh [38] Luận án đã hệ
thống hóa một số vấn đề lý luận cơ bản liên quan đến phát triển dịch vụ lữ hành du lịch trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế; xác định phạm vi của dịch vụ lữ hành du lịc, đồng thời khẳng định tính chất dịch vụ thương mại của hoạt động lữ hành du lịch và chỉ ra các điều kiện phát triển dịch vụ lữ hành du lịch, bao gồm các điều kiện về cung và cầu Tác giả luận án cũng chỉ ra một
số kinh nghiệm về phát triển dịch vụ lữ hành du lịch trong hội nhập kinh tế quốc tế của một số nước Đông Á mà Việt Nam có thể tham khả, cụ thể: kinh nghiệm về chiến lược phát triển, marketing, cung cấp dịch vụ, kinh nghiệm về xây dựng kết cấu hạ tầng, đảm bảo an ninh, kinh nghiệm về phát triển nguồn nhân lực và bảo vệ môi trường
- Công trình “Hiện trạng và giải pháp phát triển các khu du lịch biển
quốc gia tại vùng du lịch Bắc Trung Bộ”, đề tài nghiên cứu khoa học của Bộ
Văn hóa, Thể thao và Du lịch do Nguyễn Thu Hạnh chủ nhiệm [30] Đề tài đã khẳng định tài nguyên du lịch biển là một trong những thế mạnh cạnh tranh của du lịch Việt Nam so với các nước khác trong khu vực Tuy nhiên, thực tế khai thác tài nguyên và phát triển du lịch tại các khu du lịch biển Việt Nam nói chung và tại vùng du lịch Bắc Trung Bộ nói riêng chưa thực sự hiệu quả
và còn nhiều hạn chế Để giải quyết vấn đề này, đề tài đã xây dựng cơ sở lý luận về phát triển khu du lịch biển; trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm phát triển
Trang 30của một số khu du lịch quốc gia nước ngoài, đề tài đã đưa ra được 10 bài học kinh nghiệm: (i) Tổ chức phát triển và quản lý khu du lịch phải đặt trong chiến lược phát triển du lịch bền vững của đất nước; (ii) Xác định rõ thị trường, đối tượng và nhu cầu du lịch của hệ thống các khu du lịch; (iii) Lựa chọn vị trí phù hợp để thu hút khách du lịch; (iv) Tổ chức hình thành khu du lịch phải gắn với mạng lưới giao thông và gắn với các thị trường về du lịch; (v) Ứng dụng công nghệ, thành tựu khoa học trong việc tổ chức, quản lý khách sạn trong khu du lịch; (vi) Thực hiện đồng bộ nhiều biện pháp để kéo dài vòng đời hấp dẫn của khu du lịch như: có kế hoạch khai thác đúng mức, ứng dụng KHCN, hoàn thiện, đổi mới sản phẩm du lịch, nắm bắt nhu cầu, thị hiếu của thị trường; (vii) Hình thành và phát triển các khu du lịch không mùa
để khai thác quanh năm; (viii) Tổ chức nghiên cứu thị trường cho hệ thống các khu du lịch; (ix) Gắn kết hợp giữa khu du lịch với các điểm, khu tham quan, khu vui chơi giải trí công cộng; (x) Quan tâm giải quyết yếu tố tiêu cực ảnh hưởng tới môi trường, xã hội
Kết quả nghiên cứu của các công trình trên đã cung cấp cách nhìn tổng thể về quá trình phát triển KTDL ở một số vùng và quốc gia có điều kiện tương đồng và khác biệt so với vùng KTTĐ phía Bắc Đồng thời, những công trình này đã rút ra những bài học kinh nghiệm về phát triển KTDL một cách toàn diện cả mặt thành công cũng như chưa thành công Đây thực sự là nguồn
tư liệu quý giá để luận án kế thừa
1.2.2 Những nghiên cứu về giải pháp phát triển du lịch trong hội nhập quốc tế
- Báo cáo tổng hợp kết quả đề tài nghiên cứu khoa học cấp ngành
“Thực trạng và giải pháp chủ yếu phát triển du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn” của Nguyễn Thế Thắng do Văn phòng Tổng cục Du
lịch chủ trì [52] Báo cáo đã nghiên cứu một số vấn đề lý luận và thực tiễn về
du lịch, ngành du lịch và hệ thống ngành du lịch; lý luận về ngành kinh tế mũi
Trang 31nhọn và đưa ra các tiêu chí để du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn Báo cáo cũng làm rõ tổng quan sự hình thành và phát triển của du lịch Việt Nam; đánh giá thực trạng phát triển của du lịch Việt Nam trong giai đoạn 2001-2005 theo các yếu tố cấu thành của hệ thống ngành du lịch và theo các giải pháp chiến lược phát triển du lịch Việt Nam giai đoạn 2001-2005; phân tích những thuận lợi và khó khăn, cơ hội và thách thức của du lịch Việt Nam trong lộ trình phát triển trở thành ngành kinh tế mũi nhọn Từ đó, Báo cáo đã
đề ra một số giải pháp chủ yếu để phát triển du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, cụ thể là: (i) Nhóm giải pháp về thị trường, khách du lịch; (ii) Nhóm các giải pháp về nâng cao năng lực cung ứng; (iii) Nhóm giải pháp
về nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ du lịch; (iv) Nhóm giải pháp về khai thác, phát triển nguồn tài nguyên du lịch; (v) Nhóm giải pháp về môi trường du lịch
- Báo cáo “The Role of Tourism Sector in Expanding Economic
Opportunity” “Vai trò của du lịch trong mở rộng cơ hội phát triển kinh tế”
của các tác giả Caroline Ashley, Peter De Bride, Amy Lehr và Hannah Wilde [71] Công trình này tập trung nghiên cứu cách thức để các công ty du lịch có thể tăng cường sự đóng góp của mình vào sự phát triển kinh tế ở các nước đang phát triển thông qua liên kết phát triển du lịch với các vùng kinh tế đặc thù của các nước Công trình cũng chỉ ra các tác động tích cực từ sự phát triển của ngành du lịch, đặc biệt là sự đóng góp trong việc xóa đói giảm nghèo Bên cạnh đó, công trình này cũng phân tích những giải pháp để phát triển trong kinh doanh du lịch như: (i) Nâng chất lượng phục vụ, cung cấp các loại hình dịch vụ đa dạng, độc đáo, cải thiện thái độ giao tiếp và tương tác giữa người dân địa phương với khách du lịch; (ii) Xây dựng thượng hiệu và tăng cường quảng bá; (iii) Giảm thiểu chi phí vận hành; (iv) Tăng nguồn tài chính; (v) Hợp tác tích cực và hiệu quả hơn với chính phủ, (vi) Phát triển nguồn nhân lực
Trang 32- Luận án tiến sĩ “Năng lực cạnh tranh điểm đến của du lịch Việt Nam”
của tác giả Nguyễn Anh Tuấn [60] Tác giả luận án đã tập trung nghiên cứu khái quát một số vấn đề lý luận cơ bản về cạnh tranh điểm đến trong phát triển du lịch như: cạnh tranh, năng lực cạnh tranh, điểm đến và năng lực cạnh tranh điểm đến; luận án đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh điểm đến của ngành du lịch Việt Nam, đồng thời chỉ ra những mặt mạnh, mặt yếu, cơ hội và
áp lực đối với ngành du lịch Việt Nam cũng như nguyên nhân của hạn chế về năng lực cạnh tranh điểm đến của ngành du lịch Việt Nam; từ đó đề xuất quan điểm và giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh điểm đến của ngành du lịch Việt Nam, cụ thể: (i) Xác định đúng vị trí, vai trò của du lịch, đổi mới hoàn hiện hệ thống luật pháp và chính sách liên quan đến du lịch và tổ chức quản lý điểm đến hiệu quả; (ii) Coi trọng nghiên cứu thị trường, tiếp thị Việt Nam thành điểm đến du lịch quốc tế; (iii) Đẩy mạnh phát triển sản phẩm du lịch mới, đa dạng hóa khác biệt; (iv) Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động du lịch; (v) Coi trọng bảo vệ môi trường và phát triển du lịch bền vững; (vi) Đầu tư phát triển nguồn nhân lực du lịch theo hướng chuyên nghiệp; (vii) Đẩy mạnh hợp tác quốc tế, chủ động và tích cực hội nhập vào ngành Du lịch toàn cầu và khu vực
- Luận án tiến sĩ Thị trường du lịch Quảng Ninh trong hội nhập kinh tế quốc
tế” của tác giả Trần Xuân Ảnh [1] Tác giả luận án đã làm rõ cơ sở lý luận và
thực tiễn về thị trường du lịch trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế; phân tích thực trạng về thị trường du lịch của tỉnh Quảng Ninh trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế trên những thành tựu cũng như những vấn đề cần khắc phục để mở rộng thị trường du lịch Quảng Ninh đến năm 2015, tầm nhìn đến năm 2020; luận án đã nêu rõ xu hướng phát triển của thị trường du lịch quốc
tế và quốc gia, đồng thời đề xuất 4 nhóm giải pháp phát triển thị trường du lịch Quảng Ninh trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế là: (i) Nhóm giải pháp tạo lập nguồn cung hàng hóa, dịch vụ; (ii) Nhóm giải pháp kích cầu; (iii)
Trang 33Nhóm giải pháp điều tiết giá cả; (iv) Nhóm giải pháp tạo lập môi trường du lịch trong hội nhập kinh tế quốc tế
- Luận án tiến sĩ “Khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp du lịch
lữ hành quốc tế Việt Nam sau khi Việt Nam ra nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO)” của tác giả Nguyễn Quang Vinh [66] Trên cơ sở xác định
những nhân tố cấu thành nên khả năng cạnh tranh, xây dựng hệ thống chỉ tiêu
và mô hình xác định khả năng cạnh tranh của một doanh nghiệp lữ hành quốc
tế, luận án đã phân tích hiện trạng môi trường cạnh tranh, đánh giá khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp lữ hành quốc tế ở Việt Nam cũng như các tác động của việc Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại thế giới tới khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp lữ hành quốc tế Từ đó, luận án đề xuất các giải pháp góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp lữ hành quốc tế của Việt Nam sau khi Việt Nam gia nhập WTO như sau: (i) Củng cố tăng cường nguồn lực của doanh nghiệp; (ii) Tăng cường các hoạt động phát triển thị trường; (iii) Đa dạng hóa và nâng cao chất lượng sản phẩm; (iv) Duy trì và nâng cao hiệu quả kinh doanh; (v) Nâng cao khả năng quản lý; (vi) Tăng cường khả năng liên kết và hợp tác
Như vậy, các công trình này đã tập trung nghiên về KTDL ở các khía cạnh khác nhau như: vai trò của du lịch trong mở rộng cơ hội phát triển kinh
tế, thị trường du lịch, khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp lữ hành du lịch cũng như cạnh tranh những điểm đến của du lịch Việt Nam… Bên cạnh
đó, các công trình đều đề xuất những giải pháp cơ bản để phát triển KTDL trong bối cảnh HNQT, có thể khái quát thành các nhóm sau: Tăng cường khả năng liên kết và hợp tác; Nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ du lịch; Cải thiện môi trường chính trị và hoàn thiện hành lang pháp lý; Tăng cường quảng bá và đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch; Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Đây là những nội dung quan trọng để tác giả tham khảo trong quá trình hoàn thành luận án
Trang 341.3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU Ở CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN TIẾP TỤC ĐƯỢC NGHIÊN CỨU
1.3.1 Những vấn đề đã được đề cập
Khái quát kết quả nghiên cứu của những công trình trên đã thể hiện nhiều góc độ tiếp cận khác nhau về KTDL Các công trình đã luận giải khá rõ khung lý thuyết về KTDL, phát triển KTDL, phát triển du lịch bền vững trong bối cảnh nền kinh tế thị trường hiện đại, HNQT và khu vực Một số công trình
đi sâu nghiên cứu về thị trường du lịch, tính cạnh tranh trong thị trường du lịch, phát triển sản phẩm du lịch, thu hút đầu tư cho du lịch, kinh nghiệm phát triển du lịch, trong khi một số công trình khác lại đi sâu vào nghiên cứu về xu hướng phát triển của KTDL để đưa ra các dự báo làm căn cứ cho hoạch định chính sách vĩ mô và vi mô Nhìn chung, các công trình nghiên cứu ở trong nước và nước ngoài liên quan đến chủ đề KTDL đã được nêu trên tập trung vào những nội dung chủ yếu sau đây:
- Thứ nhất, các công trình nghiên cứu đã trình bày rõ nét các khái niệm
về du lịch và KTDL dưới góc độ các lý thuyết về kinh tế, qua đó cho thấy rõ các đặc điểm của KTDL và thị trường du lịch
- Thứ hai, các nghiên cứu cho thấy vai trò quan trọng của KTDL trong
phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và sự cần thiết phải gắn kết du lịch với thương mại, giao thông vận tải cũng như cần phải tăng cường khả năng liên kết giữa các vùng, các địa phương lân cận với nhau để tạo ra một khu vực du lịch đồng bộ và chuyên nghiệp
- Thứ ba, các nghên cứu đã phân tích các yếu tố tham gia trong hoạt
động của KTDL bao gồm: các chủ thể hoạt động sản xuất - kinh doanh; cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch, sản phẩm và dịch vụ du lịch; tài nguyên du lịch;
chiến lược và kế hoạch kinh doanh Đặc biệt các công trình trên trình bày và
phân tích khá chuyên sâu về điều kiện đảm bảo phát triển KTDL như: nguồn nhân lực trong hoạt động du lịch, cơ sở vật chất - kỹ thuật, chất lượng dịch vụ
Trang 35và các vấn đề quản lý như: quy hoạch phát triển du lịch, tổ chức và quản lý
của ngành Du lịch
Thứ tư, các công trình nghiên cứu đã đem đến một bức tranh đa dạng
về ngành công nghiệp du lịch ở nhiều quốc gia trên thế giới Qua đó, các công trình cho thấy những bài học kinh nghiệm quan trọng trong việc phát triển du lịch bền vững, xây dựng hình ảnh và sản phẩm du lịch thu hút khách du lịch quốc tế
- Thứ năm, một số công trình nghiên cứu đã đề cập tới thực trạng về
KTDL và thị trường du lịch ở một số vùng và địa phương ở Việt Nam như: vùng Bắc Trung Bộ, khu vực phía Nam, đồng bằng sông Cửu Long… Trong
đó, các tác giả phân tích những thành công, hạn chế và đề xuất các giải pháp
để phát triển KTDL ở các khu vực này Ở một số công trình nghiên cứu khác, các tác giả cũng đã đề xuất những phương hướng, mục tiêu và các nhóm giải pháp nhằm phát triển du lịch, thị trường du lịch và kinh doanh du lịch như: Nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch để thu hút khách du lịch; Tăng cường
cơ chế chính sách thu hút, nâng cao hiệu quả nguồn vốn đầu tư để phát triển KTDL; Chuyên nghiệp hóa cách thức vận hành các nguồn lực du lịch, nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực du lịch trong quá trình HNQT
Như vậy, các tác giả đã phản ánh khá đầy đủ, chi tiết và rõ nét về khái niệm, vị trí, vai trò của KTDL, coi KTDL là một ngành công nghiệp mũi nhọn đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Tuy nhiên, về mặt lý luận các công trình khoa học đã công bố chưa làm rõ khái niệm KTDL dưới góc độ kinh tế chính trị, những đặc trưng, đặc thù của KTDL so với các ngành kinh tế khác, chưa phân tích có hệ thống các yếu tố cấu thành KTDL trong HNQT Cần nhấn mạnh rằng vấn đề HNQT chưa được đề cập sâu và có tính hệ thống
ở các công trình trên trong khi vấn đề này đang đặt ra bức thiết Đồng thời, các công trình nghiên cứu nội dung KTDL trong bối cảnh của các nước có điều kiện kinh tế, văn hóa và xã hội không giống những điều kiện của Việt
Trang 36Nam nên các bài học và các kết luận rút ra chỉ mang tính chất tham khảo và
bổ sung kinh nghiệm cho Việt Nam Do đó, đây là những nguồn tài liệu tham khảo thứ cấp cho nghiên cứu sinh Vì vậy, đề tài mà nghiên cứu sinh lựa chọn nghiên cứu không trùng tên và nội dung với các công trình đã công bố mà nghiên cứu sinh được biết cho đến nay
1.3.2 Những vấn đề đặt ra cần tiếp tục được nghiên cứu
Mặc dù các tác giả nêu trên với những công trình của mình đã phản ánh khá rõ nét về một số khía cạnh nhất định của KTDL nhưng chưa có những nghiên cứu chuyên sâu chỉ ra những thuận lợi, khó khăn thách thức của KTDL khi quá trình hội nhập đang diễn ra ngày một sâu rộng, do đó, chưa cho thấy được thuận lợi và khó khăn của Việt Nam nói chung cũng như của vùng KTTĐ phía Bắc nói riêng trong phát triển KTDL thời kỳ hội nhập
Về mặt thực tiễn, các công trình đã công bố chưa nêu bật được thực trạng phát triển KTDL ở các tỉnh của vùng KTTĐ phía Bắc, chưa cho thấy được những tiềm năng, thuận lợi cũng như những khó khăn, thách thức của phát triển KTDL ở vùng này Trong khi quá trình HNQT đang làm thay đổi từng ngày bộ mặt của đất nước thì nó cũng đồng thời đem đến những thời cơ
và thách thức cho tất cả các ngành nghề lĩnh vực của quốc gia Tuy nhiên, các công trình đã công bố chưa đề cập đến những ảnh hưởng này một cách hệ thống và cụ thể Nhận thức được các vấn đề còn tồn tại chưa được làm sáng
tỏ, nghiên cứu sinh chọn đề tài “Kinh tế du lịch ở vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc trong hội nhập quốc tế” làm đề tài nghiên cứu Đây là đề tài mới,
có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cấp thiết
Đề tài nghiên cứu sinh chọn sẽ tập trung làm rõ những nội dung như sau:
- Một là, làm rõ hơn các khía cạnh lý luận về KTDL ở vùng KTTĐ
trong quá trình HNQT dưới góc độ của kinh tế chính trị Theo đó, luận án sử dụng các phương pháp khoa học làm rõ khái niệm KTDL ở vùng KTTĐ; đặc điểm, nội hàm của KTDL ở vùng KTTĐ trong HNQT; mối quan hệ lợi ích
Trang 37giữa các chủ thể tham gia hoạt động KTDL, vai trò của KTDL trong HNQT
và tác động của HNQT đối với KTDL
- Hai là, xây dựng các tiêu chí cơ bản để đánh giá hiệu quả của KTDL
ở vùng KTTĐ trong HNQT
- Ba là, nghiên cứu những kinh nghiệm phát triển KTDL trong HNQT
ở một số quốc gia như Malaysia, Thái Lan, Singapore, Trung Quốc, Indonesia Qua đó, rút ra bài học về phát triển KTDL đối với vùng KTTĐ phía Bắc
- Bốn là, phân tích thực trạng về KTDL ở vùng KTTĐ phía Bắc cả về
thành tựu cũng như hạn chế, đặc biệt là mối liên kết giữa các tỉnh/thành phố trong vùng Từ đó tìm ra nguyên nhân của những bất cập, hạn chế cản trở quá trình phát triển KTDL của vùng để đề xuất các giải pháp phù hợp
Trang 38Chương 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ KINH TẾ DU LỊCH
Ở VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM TRONG HỘI NHẬP QUỐC TẾ
2.1 KINH TẾ DU LỊCH VÀ CÁC TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA KINH TẾ DU LỊCH Ở VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM TRONG HỘI NHẬP QUỐC TẾ
2.1.1 Một số vấn đề chung về kinh tế du lịch
2.1.1.1 Khái niệm về kinh tế du lịch
Lâu nay du lịch không chỉ là hoạt động mang tính chất giải trí đơn thuần mà đã trở thành một ngành kinh tế góp phần to lớn vào sự phát triển kinh tế - xã hội của các quốc gia và vùng, lãnh thổ trên thế giới Khái niệm KTDL không còn xa lạ trong các môn khoa học nghiên cứu về kinh tế Tuy nhiên, để hiểu rõ khái niệm này cần phân biệt khái niệm KTDL và du lịch
- Quan niệm về du lịch
Tại điểm 2, Điều 4, của Luật Du lịch Việt Nam (2005), Du lịch được định nghĩa “là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định” [48, tr.2]
Như vậy, nội hàm của khái niệm du lịch không bao hàm các nội dung
về lợi ích kinh tế hay các quan hệ trao đổi về kinh tế Du lịch là khái niệm để chỉ hình thức di chuyển tạm thời từ vùng này sang vùng khác, từ nước này sang nước khác mà không thay đổi nơi cư trú hay nơi làm việc của khách du lịch với mục đích tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng
- Quan niệm về kinh tế du lịch
Kinh tế du lịch là kết quả tất yếu từ quá trình phát triển của lực lượng sản xuất (LLSX) và phân công lao động xã hội đã đạt đến trình độ nhất định Trước đây, con người thường sinh sống ở địa phương của mình hoặc đi khai hoang, tìm kiếm chỗ ở mới để tiến hành hoạt động lao động sản xuất Sau
Trang 39này, khi LLSX phát triển, nhu cầu tham quan, du ngoạn của con người đã nảy sinh, từ đó xuất hiện các hoạt động kinh doanh du lịch và các quan hệ kinh tế trong hoạt động này
Theo tác giả Nguyễn Thị Hồng Lâm: KTDL là một quan hệ kinh tế trong lĩnh vực cung ứng sản phẩm du lịch, bao gồm các quan hệ ngành, nghề như: kinh doanh lữ hành, kinh doanh lưu trú du lịch, kinh doanh vận chuyển khách du lịch, kinh doanh phát triển khu du lịch, điểm du lịch và kinh doanh dịch vụ du lịch khác, nhằm thỏa mãn nhu cầu tinh thần của du khách, đem lại lợi ích kinh tế, chính trị, xã hội thiết thực cho nước làm du lịch và bản thân doanh nghiệp du lịch [40, tr.36]
Tác giả Nguyễn Đình Sơn lại cho rằng: KTDL là phạm trù phản ánh bước tiến của LLSX trong quá trình tổ chức khai thác các tài nguyên du lịch của đất nước thành sản phẩm du lịch nhằm thu hút khách du lịch trong và ngoài nước, tổ chức buôn bán, xuất khẩu tại chỗ hàng hóa và dịch vụ thỏa mãn nhu cầu ngày càng tăng cho du khách, góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho con người, thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển [49, tr.23]
Dưới góc độ nghiên cứu của kinh tế chính trị, tác giả luận án cho rằng:
KTDL là một hệ thống phức hợp những quan hệ và hoạt động kinh tế của các chủ thể bao gồm các cơ quan quản lý nhà nước về du lịch, các đơn vị cung ứng sản phẩm du lịch, khách du lịch và cộng đồng dân cư tại điểm du lịch trong hoạt động tổ chức sản xuất, cung ứng và tiêu dùng những sản phẩm, dịch vụ du lịch với điều kiện nhất định về hạ tầng và tài nguyên du lịch nhằm thỏa mãn nhu cầu của du khách, đem lại lợi ích kinh tế - xã hội thiết thực cho đất nước, địa phương, tổ chức và cá nhân những người làm du lịch
Có thể thấy rằng, du lịch và KTDL là hai khái niệm rất khác nhau Nếu như khái niệm du lịch thiên về các hoạt động tham quan, nghỉ ngơi, giải trí thì KTDL lại mang nội dung của một ngành kinh tế, trong đó có các quan hệ sản xuất, trao đổi, mua bán các sản phẩm và dịch vụ du lịch Nói cách khác,
Trang 40KTDL là một ngành kinh tế sản xuất ra các sản phẩm và dịch vụ du lịch nhằm thu được các lợi ích về kinh tế, xã hội
Như vậy, du lịch với tư cách là một ngành kinh tế, để phát triển ngành kinh tế này cần đảm bảo được một số điều kiện cơ bản như: nguồn nhân lực
du lịch; tài nguyên du lịch; thời gian rảnh rỗi và thu nhập của khách du lịch; vai trò quản lý của Nhà nước; môi trường chính trị ổn định, an toàn cho khách
du lịch; năng lực quản lý của các doanh nghiệp kinh doanh du lịch; trình độ phát triển của cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch; trình độ phát triển của các ngành
có liên quan; mức độ hội nhập quốc tế của ngành du lịch và quốc gia
- Quan niệm về vùng
Vùng là một thuật ngữ thông dụng và được định nghĩa dưới nhiều góc
độ khác nhau Khoa học địa lý coi vùng là một đơn nguyên địa lý bề mặt của trái đất Kinh tế học lại hiểu vùng là một đơn nguyên kinh tế tương đối hoàn chỉnh trên phương diện kinh tế Chính trị học coi vùng là đơn nguyên hành chính thực hiện quản lý hành chính Xã hội học coi vùng là khu vực tụ cư có đặc trưng xã hội tương đồng của một cộng đồng người, có thể là tương đồng
về ngôn ngữ, tôn giáo, dân tộc hoặc văn hóa Tựu chung lại, nói đến vùng là nói đến một lãnh thổ nhất định
Theo từ điển tiếng Việt (2016), vùng là phần đất đai, hoặc nói chung là
không gian tương đối rộng có những đặc điểm nhất định về tự nhiên hay xã hội, phân biệt với các phần khác ở xung quanh [47]
Như vậy, vùng được hiểu là một lãnh thổ thường được phân chia trong phạm vi một quốc gia dựa trên các yếu tố tương đồng về điều kiện địa lý hoặc lịch sử, văn hóa, kinh tế, xã hội hay điều kiện thiên nhiên
+ Quan niệm về vùng kinh tế
Vùng kinh tế là một lãnh thổ có vị trí địa lý, ranh giới hành chính rõ rệt, trong đó chứa đựng những mối quan hệ qua lại được đo bằng khối lượng hàng hóa thường xuyên sản xuất ra ở nơi đó và những mối quan hệ kinh tế -