1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

giáo án ngữ văn 9 tổng hợp 6

32 129 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 205 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

phân tích, cảm thụ, bình giá các tác phẩm trữ tình Kiểu văn bản biểu cảmthông qua đặc trưng nghệ thuật của nó thì các em cũng có thể dễ dàng cảmnhận vẻ đẹp của yếu tố trữ tình trong các

Trang 1

sự phát triển toàn diện về kinh tế - văn hoá - xã hội của toàn đất nước Trướcvấn đề đó, Đảng và nhà nước ta rất quan tâm tới văn hoá giáo dục bởi giáodục là quốc sách hàng đầu Với mục tiêu trên, bộ giáo dục và đào tạo.

Chính vì điều đó trong quá trình giảng dạy giữa giáo viên và học sinh,giữa học sinh với nhau cần gây hứng thú, phát huy tính tích cực chủ động vàsáng tạo trong học tập

Hơn nữa đây là năm học tiếp tục hưởng ứng “Đổi mới công tác quản lý

và nâng cao chất lượng giáo dục”Vì một nền giáo dục không ngừng đổi mới

và nâng cao chất lượng, trường THCS An Hải đã và đang chỉ đạo một cáchtích cực hướng tới hoàn thiện đổi mới phương pháp dạy học nhằm nâng dầnchất lượng giáo dục huyện nhà Đối với mỗi giáo viên cần xác định vài tròtrách nhiệm của mình luôn năng động, sáng tạo tìm những giải pháp tốt nhất

để góp phần nâng dần chất lượng của nhà trường ngày một tốt hơn Trongchương trình THCS thì môn Ngữ Văn góp phần không nhỏ trong sự pháttriển tư duy, sáng tạo và hình thành nhân cách của học sinh, là môn học tạotiền đề để học sinh học những môn học khác tốt, bởi cách lập luận tốt trongkhi nói, viết, sự cảm thụ trong văn chương và những vấn đề trong cuộc sống.-Về Mục tiêu môn học: Môn Ngữ văn THCS có vị trí đặc biệt trong việc thựchiện mục tiêu chung của trường THCS: Góp phần hình thành những conngười có trình độ học vấn, có ý thức tự tu dưỡng, biết thương yêu, quý trọng

Trang 2

gia đình, bè bạn, có lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, biết hướng tớinhững tư tưởng, tình cảm cao đẹp như lòng nhân ái, tinh thần tôn trọng lẽphải, sự công bằng, lòng căm ghét cái ác, cái xấu Đó là những con người biếtrèn luyện để có tính độc lập, có tư duy sáng tạo, bước đầu có năng lực cảmthụ các giá trị chân - thiện - mỹ trong nghệ thuật, trước hết là trong văn học

- Từ mục tiêu đó cần rèn luyện cho học sinh năng lực cảm thụ, bình giácác tác phẩm văn chương là điều vô cùng quan trọng Chỉ có con đường nàymới giúp các em tích cực, chủ động trong hoạt động học, hoạt động tự học.Học sinh THCS chỉ có thể thấy, hiểu, hứng thú với môn học khi đã biết cách

tự cảm nhận nó tự thấy giá trị của tác phẩm chứ không phải là “buộc”

Qua thực tế giảng dạy trong trường, khi gặp phải các tác phẩm trữ tình,đặc biệt là thơ, học trò thường mắc một lỗi rất cơ bản, rất sơ đẳng: Hầu hếtcác em đều diễn xuôi tác phẩm hoặc suy luận một cách nặng lý trí, chủ quan

để tìm ra giá trị nội dung tư tưởng của tác phẩm

- Một lần nữa đã thôi thúc bản thân tôi thấy đây là một vấn đề cần phảiđược đề cập là: Chất lượng thực của học sinh học môn Ngữ văn THCS

Xuất phát từ những lý do trên mà bản thân tôi luôn có ý thức rènluyện cho học sinh, kỹ năng phân tích, bình giá tác phẩm thơ trữ tình trong

giờ học tác phẩm trữ tình Đó cũng là lí do mà bản thân tôi chọn đề tài: “ Rèn luyện kĩ năng phân tích, bình giá tác phẩm thơ trữ tình trong giờ học ngữ văn khối 9 ”

Trang 3

giúp học sinh biết cách cảm thụ tác phẩm thơ trữ tình một cách sâu sắc về nộidung và nghệ thuật tác phẩm một cách tốt nhất.

1.2.2 Phạm vi nghiên cứu:

Qúa trình thực hiện đổi mới phương pháp dạy học và nâng dần chấtlượng của nhà trường cụ thể là việc dạy trên lớp chính thức, dạy bồi dưỡnghọc sinh giỏi và dạy phụ đạo cho học sinh yếu kém trong trường THCS

1.1 Quan điểm lý luận về khoa học văn chương:

Các nhà lý luận văn học đều cho rằng: Một “Tác phẩm văn học là mộtchỉnh thể nghệ thuật- nghệ thuật của ngôn từ” Chỉnh thể ấy được xây dựngdựa trên nhiều yếu tố vừa mang tính chất đặc trưng lại vừa rất riêng theophong cách cá nhân Mỗi tác phẩm văn học là một sáng tạo độc đáo Vì vậynhà văn phản ánh tất cả các góc cạnh của cuộc sống xã hội, thiên nhiên, conngười trong tác phẩm của mình Những cuộc sống ấy luôn được phản ánhqua lăng kính của nhà văn Người đọc, “đồng sáng tạo”với nhà văn, ngườiđọc “sáng tạo lại” tác phẩm Chỉ có qua bạn đọc thì tác phẩm văn chươngmới có cuộc sống thực của nó Đúng như nhà phê bình văn học Hoài Thanh

có nói: “ Văn chương gây cho ta những tình cảm ta không có, luyện cho ta những tình cảm ta sẳn có ”.

Một tác phẩm văn chương luôn mang một tư tưởng của con người (nhàvăn) Trong cái chỉnh thể hoàn chỉnh trong cái nghệ thuật ngôn từ ấy bao hàmnhiều yếu tố: Nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật Muốn hiểu tư tưởng

Trang 4

của nhà văn, hiểu nội dung (có tình cảm, cảm xúc) của tác phẩm thì bạn đọcphải cần rất nhiều tri thức, kỹ năng: Tri thức về lịch sử - xã hội, tri thức về tácgiả, tri thức xuất xứ tác phẩm và nói chung tri thức trong và ngoài văn bảntác phẩm, còn kỹ năng thì phải có: Kỹ năng đọc, đọc hiểu, phân tích, so sánh,tổng hợp, khái quát, liên hệ, tưởng tượng Và điều đặc biệt quan trọng làphải có kiến thức về nghệ thuật văn chương, có kỹ năng khai thác vẻ đẹp củanghệ thuật trong tác phẩm văn chương Nghệ thuật cái làm cho tư tưởng, nộidung của tác phẩm thăng hoa, lấp lánh Nói vậy tức là thơ, đặc biệt là thơ trữtình luôn được tạo ra cảm xúc, tình cảm, rung động mãnh liệt của tác giảtrước cuộc sống, thiên nhiên và con người Do đó thơ là những tác phẩm vănchương được tổ chức ngôn từ vô cùng đặc biệt và đẹp đẽ Chỉ có thể hiểuđược cảm xúc, rung động của tác giả, thì mới đồng cảm và yêu mến tác phẩmđược.

1.2 Quan điểm của chương trình, sách giáo khoa ngữ văn mới:

Trong chương trình môn Ngữ văn có một nội dung rất lớn trong số cácvăn bản được dựa vào là các tác phẩm trữ tình Có thể nói, sự kế thừa chươngtrình sách giáo khoa Ngữ văn cũ, cùng với sự đổi mới, chọn lọc của chươngtrình, sách giáo khoa mới, đã giữ được những tác phẩm thơ trữ tình độc đáo,

có giá trị nghệ thuật cao, tiêu biểu và phù hợp với học sinh Đặc biệt: Chươngtrình Ngữ văn THCS mới được xây dựng theo kết cấu hai vòng: Vòng 1- lớp

6 - 7; Vòng 2 - lớp 8- 9 Ở vòng 1 chỉ có kiểu văn thuyết minh (có các vănbản văn học và văn bản nhật dụng tương ứng), là học sinh chưa được tiếp xúc

và làm quen, còn tất cả 5 kiểu văn bản: Tự sự, miêu tả, biểu cảm, lập luận,điều hành học sinh đã được rèn luyện những kỹ năng cơ bản về nghe - đọc -nói - viết; đã được rèn luyện kỹ năng và tri thức tạo lập và lĩnh hội 5 kiểu vănbản này Trong chương trình Ngữ văn lớp 7, có rất nhiều các tác phẩm vănhọc phục vụ cho việc dạy và học về văn bản biểu cảm Các tác phẩm đó đều

là những tác phẩm thuộc thể loại trữ tình Vậy thì: Nếu học sinh có kỹ năng

Trang 5

phân tích, cảm thụ, bình giá các tác phẩm trữ tình (Kiểu văn bản biểu cảm)

thông qua đặc trưng nghệ thuật của nó thì các em cũng có thể dễ dàng cảmnhận vẻ đẹp của yếu tố trữ tình trong các văn bản thuộc phương thức biểu đạtkhác Đặc biệt học sinh lớp 9 - lớp cuối cấp bắt buộc phải có những kiếnthức, kỹ năng cơ bản, nền tảng về phân tích, cảm thụ, bình giá thơ trữ tình.Muốn đem đến cho học sinh sự hứng thú khi học các bài thơ trữ tình này,muốn cho các em hiểu thấu và yêu mến giá trị tư tưởng của các tác phẩm đó,trước hết phải cho các em có kỹ năng bình giá các giá trị nghệ thuật làm nên

vẻ đẹp ấy Chúng ta phải cho các em thấy các tác phẩm đó đẹp một phần lớn

là do được tạo ra của các nhà thơ Các tác phẩm này là những thành tựu thơ

ca của nhiều thời đại văn học Các tác phẩm thơ trữ tình này có tác dụng vôcùng to lớn trong việc rèn luyện kỹ năng cảm thụ văn chương cho học sinh,trong việc bồi đắp tình yêu văn chương và làm phong phú tâm hồn các em.Nhưng đã là tác phẩm có giá trị thì luôn luôn có những đặc điểm nghệ thuậtrất đặc sắc Đây là những điểm vô cùng khó khăn đối với hầu hết học sinhtrong việc cảm thụ tác phẩm văn chương Đối với học sinh giỏi, với yêu cầucao hơn thì điều này càng phức tạp Bởi vậy, việc cung cấp cho học sinh kiếnthức đầy đủ về nghệ thuật thơ trữ tình và rèn luyện cho các em kỹ năng pháthiện, cảm thụ vẻ đẹp, thấy giá trị của các hình thức nghệ thuật này trong việcbộc lộ tư tưởng, tình cảm, cảm xúc của tác giả (Hay nhân vật trữ tình) là điều

vô cùng cần thiết

Xuất phát từ quan điểm lý luận về khoa học văn chương từ quan điểmcủa chương trình sách giáo khoa mới là rèn luyện cho học sinh có kỹ nănghọc tập và thực hành các tác phẩm thơ trữ tình đặc biệt trong thực tế giảngdạy ở trường THCS, vấn đề dạy học văn chương cho đối tượng học sinh trongchương trình mới thì việc phải rèn luyện cho học sinh có kỹ năng cơ bản đểcảm thụ văn chương nghệ thuật chính là nhiệm vụ mà bất kỳ thầy cô giáo nào

Trang 6

khi dạy bộ môn Ngữ văn trong nhà trường đều phải chú trọng Đây cũngchính là nhiệm vụ mà sáng kiến kinh nghiệm tôi đề cập tới.

2.THỰC TRẠNG

2.1.Thực trạng công tác dạy và học tác phẩm trữ tình ở trường thcs hiện nay:

Như phần trên đã nêu: “ Sáng kiến kinh nghiệm ” này được xây dựng

dựa trên quan điểm đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn mà cụ thểlĩnh vực đề cập ở đây là: Học sinh học Ngữ văn để biết nghe, đọc, nói, viếttốt; biết sử dụng thành thạo Tiếng Việt của dân tộc, đồng thời, rất quan trọng

là các em phải được rèn luyện kỹ năng cảm thụ nghệ thuật văn chương Họcsinh chủ động học tập môn Ngữ văn, tự cảm thụ tác phẩm theo sự sáng tạonội dung của mình khi được trao phương tiện và phương pháp tiếp cận tácphẩm Trong quá trình giảng dạy môn Ngữ văn, việc quan tâm đầu tư, chútrọng đúng mức tới việc rèn luyện kỹ năng cho học sinh của giáo viên chưathực sự có tính chiều sâu

2.2 Những yếu tố chủ quan và khách quan:

Đơn vị Trường THCS An Hải là một trường có nhiều thầy cô giáo trẻ,

có rất nhiều nỗ lực, cố gắng của các cấp, chính quyền, đoàn thể và nhân dân ởđịa phương, song do mặt bằng kinh tế của nhân dân còn thấp ( số hộ trên địabàn xã vẫn còn nhiều hộ nghèo) nên việc đầu tư cho việc học tập và giáo dụccon em còn rất hạn chế Một vài năm trở lại đây, có sự thay đổi căn bản, có sựquan tâm chu đáo của các cấp, nhà trường đã có tiến bộ nhất định nhưng côngtác giáo dục nâng dần chất lượng còn gặp rất nhiều khó khăn

Trang 7

- Về phía giáo viên: Giáo viên nhiệt tình, năng nổ có kinh nghiệm đượcgiảng dạy theo đúng chuyên ngành đào tạo, luôn có ý thức học hỏi đặc biệttrong vấn đề đổi mới phương pháp nâng cao kết quả học tập của học sinh

- Về phía học sinh: Do điều kiện kinh tế và trình độ dân trí còn hạn chế,

đa số học sinh các em ít có điều kiện tiếp xúc và giao lưu với bên ngoài nênchưa ý thức được vai trò và ý nghĩa của việc học tập với bản thân, nên ngoàithời gian học tập trên lớp, khi về nhà hầu hết các em không có ý thức tự học.Đây chính là nguyên nhân dẫn đến đa số học sinh còn thiếu về kỹ năng tổ

chức, tư duy phân tích và bình giá tác phẩm văn học dẫn tới việc cảm thụ

nghệ thuật, kỹ năng tự giải quyết vấn đề, kỹ năng giao tiếp xã hội hạn chế

Có thể nói, bên cạnh một số học sinh có thể và bước đầu đã đáp ứngđược yêu cầu, mục tiêu học tập của bộ môn thì rất nhiều học sinh hạn chế về

kỹ năng bình giảng và phân tích thơ trữ tình trong giờ học Ngữ văn và mắccác lỗi khi phân tích và cảm thụ thơ trữ tình

Qua quan sát thực tế, học sinh ở tất cả các khối lớp nói chung và đặcbiệt là lớp 9 nói riêng, có thể nhận thấy rằng: Hứng thú học tập bộ môn Ngữvăn của các em học sinh là ít Các kỹ năng cơ bản, cần thiết và các kỹ năngđược rèn luyện thông qua môn học thì nhiều học sinh chưa rèn luyện được.Chưa thể đáp ứng yêu cầu, mục tiêu môn học đề ra, chưa biết cách khai tháccác yếu tố nghệ thuật của tác phẩm văn học

- Trong quá trình nghiên cứu như đã nói ở trên, việc dạy học và học tậpđối với môn Ngữ văn cần được nhìn nhận sâu sắc và nghiêm túc Thể hiện ởkết quả điều tra khảo sát thực tiễn cụ thể sau đây:

2.3 Kết quả khảo sát trước khi nghiên cứu, áp dụng:

Khảo sát trên đối tượng học sinh của lớp 9D trường THCS An Hải cho thấy

2.3.1 Kĩ năng phân tích, bình giá:

Trang 8

số học

sinh

Thời điểm khảo sát

Sai lỗi phân tích, bình giảng

Phân tích, bình giảng đúng

Phân tích, bình giảng

thích Thích

Rất thích

Bình thường

3

12 %

2

8 %

2.3.3 Quan điểm bản thân:

Từ thực tế tình hình trên tôi mạnh dạn đưa ra một số quan điểm và một

số vấn đề cần giải quyết sau:

Đối với giáo viên dạy Ngữ văn, phải làm sao qua từng bài, từng tiết,từng tác phẩm cụ thể có thể đúc rút được phương pháp rèn kỹ năng cho họcsinh thật nhẹ nhàng, phù hợp, thiết thực và hiệu quả Người giáo viên phảibiết được kỹ năng mình và kỹ năng của trò Muốn thế phải thật sự đổi mớiphương pháp dạy trên lớp Thầy thật sự là người thiết kế hệ thống các hoạtđộng, học trò thi công và cuối cùng thầy và trò cùng kiểm tra, đánh giá kiếtquả Dạy Ngữ văn theo tinh thần mới (trong đó có việc rèn kỹ năng phân tích,cảm thụ, bình giá tác phẩm thơ trữ tình) phải triệt để quán triệt quan điểm tíchhợp (tích hợp ngang, tích hợp dọc, tích hợp đồng tâm…); tận dụng ưu thế củaphương pháp đọc - hiểu văn bản; vận dụng thật sáng tạo hệ thống câu hỏiđọc- hiểu văn bản

2.3.4 Nhiệm vụ cần giải quyết:

Trang 9

Trước hết phải thấy việc nâng cao nhận thức của học sinh về các yếu

tố nghệ thuật thơ trữ tình Thơ trữ tình chỉ trở nên có giá trị nội dung tư tưởng

và cả giá trị nghệ thuật, chỉ có thể hay, đẹp, thậm chí trở thành kiệt tác khi nó

có được các yếu tố hình thức nghệ thuật sâu sắc, độc đáo để biểu đạt nộidung Những hình thức đó là: Từ ngữ, hình ảnh, hình tượng, tu từ, câu, vần,nhịp, không gian, thời gian … học sinh phải nắm được kiến thức cơ bản cótính chất nền tảng và sâu sắc về các yếu tố nghệ thuật này

Từ đó, học sinh phải có được hai nhóm kỹ năng cần thiết sau: Kỹ năngnhận biết biểu hiện của các yếu tố nghệ thuật thơ trữ tình qua văn bản vàngoài văn bản Kỹ năng cảm nhận tác dụng (giá trị nghệ thuật) của các yếu tốnghệ thuật này Trong hai nhóm này thì nhóm thứ hai có vai trò quan trọngđặc biệt Đây là nhóm kỹ năng có ý nghĩa quyết định đến việc cảm thụ giá trịcủa tác phẩm thơ trữ tình

Dưới đây sẽ là giải pháp cụ thể để giải quyết được các vấn đề cơ bản đưa ratrong báo cáo sáng kiến kinh nghiệm:

- Các yếu tố hình thức nghệ thuật cần chú ý khi phân tích thơ trữ tình

+ Đặc trưng của thơ trữ tình và các lỗi cần tránh khi phân tích và cảm thụ thơ trữ tình.

+ Một số yếu tố hình thức nghệ thuật cần chú ý khi cảm thụ phân tích thơ trữ tình.

3.CÁC BIỆN PHÁP ĐÃ TIẾN HÀNH ĐỂ GIẢI QUYẾT

VẤN ĐỀ:

Đứng trước thực trạng về giảng dạy của giáo viên và học tập của các họcsinh đối với môn Ngữ văn ở THCS như đã nói trên; lấy lí luận khoa học giáodục và đặc trưng nghệ thuật văn chương soi vào thực tiễn ấy Bản thân tôithấy cần thiết đặt vấn đề này thành vấn đề cần xem xét thật nghiêm túc Trên

Trang 10

cơ sở mạnh dạn đưa ra các giải pháp khoa học - Nghệ thuật, áp dụng vàongay việc giảng dạy hàng ngày của một giáo viên Ngữ Văn, bản thân tôimong muốn cho việc dạy và học thơ trữ tình đạt kết quả cao, đúng đặc trưngcủa loại hình văn chương phổ biến này Dưới đây là các giải pháp mới bảnthân tôi đã áp dụng vào giảng dạy phân môn Ngữ văn lớp 9 ở trường THCS ,

Từ hồi về thành phố

Quen ánh điện cửa gương

Vầng trăng đi qua ngõ

Như người dưng qua đường

(Ánh trăng - Nguyễn Duy) “Vầng trăng đi qua ngõ - như người dưng qua đường” câu thơ viết nhưkhông mà nghe xót xa, nghẹn ngào Cái sự quên sự nhớ ấy xưa trong thơ đãnói nhiều, nếu như hoàn cảnh sống làm cho con người quên đi cái vầng trăng

Trang 11

tình nghĩa những năm ở rừng ấy thì cũng là điều tự nhiên, tạo điều kiện chotác giả suy ngẫm lại.

-3.1.2 Các lỗi cần tránh khi cảm thụ và phân tích thơ trữ tình:

Khi đã nắm được các đặc trưng cơ bản của thơ trữ tình như trên, sẽgiúp học sinh (cả giáo viên) tránh các lỗi cơ bản sau:

- Chỉ phân tích và cảm thụ nội dung tư tưởng được phản ánh trong bàithơ, bỏ qua tác dụng của hình thức nghệ thuật Đây thực chất chính là việcdiễn văn xuôi lại bài thơ mà thôi

- Có chú ý đến nghệ thuật, nhưng đã tách rời nó khỏi nội dung tư tưởngcủa tác phẩm Tức là người phân tích đưa nghệ thuật phân tích tất cả trướchoặc sau khi đã phân tích một nội dung

3.2 Một số yếu tố hình thức nghệ thuật cần chú ý khi cảm thụ, phân tích thơ trữ tình:

Khi phân tích thơ trữ tình, khi rèn cho học sinh kỹ năng phân tích thơtrữ tình qua hình thức nghệ thuật của nó, cần thấy rõ các yếu tố cơ bản sau:

3.2.1 Nhịp điệu thơ:

Nhịp điệu có vai trò đặc biệt quan trọng đối với thơ trữ tình, nó giúpnhà thơ bộc lộ tốt hơn, rõ ràng hơn về tình cảm, cảm xúc Nếu biết khai tháctốt tác dụng của nhịp điệu trong thơ trữ tình thì việc cảm thụ và phân tích cótác dụng rất lớn

Trang 12

Muốn nắm bắt nhịp điệu từng bài thơ, cần phải đọc rõ, ngân vang để làmtoát lên nhịp điệu và hình ảnh thơ Sau đó, điều quan trọng nữa là nắm chắccách ngắt và tạo nhịp từng thể loại thơ: Thơ lục bát nhịp thường mềm mại,uyển chuyển, thanh thoát; thơ thất ngôn bát cú nhịp trang trọng, hài hoà, chặtchẽ, nhịp thơ tự do lại đa dạng và phong phú, thơ 7 chữ lại khoa trương tạonên cảm hứng lãng mạn, vừa mạnh mẽ vừa khoáng đạt Bằng âm điệu nhẹnhàng trong sáng, nhiều câu thơ thể hiện một thứ ngôn ngữ đậm chất vănxuôi với giọng điệu rất riêng biệt:

Không có kính, ừ thì có bụi

… Chưa cần rửa, phì phèo châm điếu thuốc

Không có kính, ừ thì ướt áo … ( Phạm Tiến Duật )Cần phải hiểu rõ: Nhịp điệu thơ được chi phối bởi tâm trạng của tácgiả Tâm trạng vui, sôi nổi, phấn khởi thì nhịp điệu thơ sôi nổi, rạo rực chứađựng niềm tin và hi vọng

Trong khi phân tích các bài thơ trữ tình, ta cần đặc biệt quan tâm tớicách ngắt nhịp trong mối quan hệ với cảm xúc tác giả Thấy được tác dụngcủa nhịp điệu cũng chính là ta đã thấy được tâm trạng và hiểu được cõi lòngtác giả Cần chú ý tới tất cả các loại dấu câu để có thể tìm ra và cảm nhậnđược vẻ đẹp trong nhịp thơ

3.2.2 Vần thơ:

Tiếng Việt của chúng ta rất giàu nhạc tính - hệ thống vần điệu và thanhđiệu là những yếu tố cơ bản tạo nên nhạc tính đó của Tiếng Việt nói chung vàVăn học Tiếng Việt nói riêng, đặc biệt là trong thơ Vần hiểu một cách đơngiản và chính xác là một âm không có thanh điệu hoặc do nguyên âm kết hợpvới phụ âm tạo nên Ví dụ ”Tan”, ”lan”, ”tràn” đều có chung vần ”an”, ”lete”, ”lập loè”, ”nhè” đều có chung vần ”e” như vậy, trong thơ, gieo vần tức

là lặp lại một vần hoặc một cái vần nghe giống nhau giữa các tiếng ở những

Trang 13

vị trí nhất định Đó là sự phối hợp âm thanh trong từng câu hoặc cả bài, đó là

sự cộng hưởng âm của các từ có cùng vần và thanh (Bằng hoặc trắc)

Căn cứ vào vị trí hiệp vần mà người ta chia ra vần chân và vân lưng:Vần lưng là nói hiệp vần đứng giữa câu; vần chân là nối hiệp vần đứng cuốicâu

Bên cạnh vần điệu, Tiếng Việt còn đa dạng về thanh điệu, với sáuthanh, chúng ta có thể nâng cao, hạ thấp giọng làm cho lời nói trầm bổng vàhấp dẫn Loại vần bằng luôn cho thanh “huyền” và thanh “không” đảm nhận.Vần trắc là do các thanh còn lại tạo nên nguyên tắc, trong câu thơ, bài thơ thìcác vần bằng- trắc đan xen liên tục theo cách nào đó Nhưng khi muốn diễnđạt một cung bậc tình cảm nào đó nhà thơ lại dùng liên tiếp một vần

3.2.3 Từ ngữ và các biện pháp tu từ:

Đây là yếu tố cơ bản và cực kỳ quan trọng trong hình thức nghệ thuậtcủa thơ trữ tình Bởi vì mọi nội dung đều phải được biểu lộ qua từ ngữ màkhông có con đường nào khác

a Từ ngữ

Trước hết, khi phân tích một tác phẩm văn học, ta phải chú ý đầu tiên tới

từ ngữ Trước tiên cần phải có một vốn từ phong phú, nắm được nghĩa của từ

và đặc biệt câu hỏi:

+ Tại sao tác giả dùng từ này mà không dùng từ khác ?

+ Tại sao từ này lại xuất hiện nhiều ?

+ Có thể thay thế từ ấy bởi từ khác không ?

+ Cần phân tích từ nào, chữ nào trong câu ấy ?

Khi phân tích, ngoài việc hiểu ý nghĩa của câu, cả đoạn và cả bài thơ, thìchúng ta cần phải hiểu lựa chọn các từ ngữ điển hình để phân tích Tránhphân tích tất cả - từ không đặc sắc cũng phân tích, từ đặc sắc lại phân tích quáít; hoặc nghiêm trọng hơn là không chú ý phân tích từ ngữ

Trang 14

Khi phân tích thơ trữ tình cần hiểu rõ: Từ ngữ Tiếng Việt rất giàu hìnhảnh, mang màu sắc tu từ hoc và cực kỳ đa dạng về nghĩa từ loại, chỉ có khaithác hết từ ngữ thì mới thấy được những cảm xúc, tâm trạng sâu kín của tácgiả Chẳng hạn trong đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích”, tác giả Nguyễn

Du dã sử dụng một hệ thống từ láy: Thấp thoáng, xa xa, man mác, dầu dầu,xanh xanh, ầm ầm, tạo nên âm điệu hiu hắt trầm buồn ghê sợ

“Buồn trông cửa bể chiều hôm

Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa

Buồn trông ngọn nước mới sa

Hoa trôi man mác biết là về đâu

Buồn trông nội cỏ rầu rầu

Chân mây mặt đất một màu xanh xanh”

Trang 15

Chẳng hạn, đây là lối ẩn dụ rất độc đáo trong bài thơ: Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ.

“Mặt trời của bắp thì nằm trên đồi

Mặt trời của mẹ em nằm trên lưng”

Hình ảnh ”Mặt trời” ở câu thơ thứ hai có ý nghĩa tượng trưng hoá Con làmặt trời của mẹ Con là hạnh phúc vừa ấm áp vừa thiêng liêng của đời mẹ.Chính con đã góp phần sưởi ấm lòng tin yêu, ý chí của mẹ trong cuộc sống.Mặt trời con cứ trẻ trung cứ ngày một rực rỡ trên thế gian này

Hoặc là, lối so sánh độc đáo trong bài thơ: Ánh trăng

“Vầng trăng đi qua ngõ

Như người dưng qua đường

3.2.4 Không gian và thời gian trữ tình trong thơ:

Đây là yếu tố khá quan trọng và có tác dụng lớn, không thể xem nhẹhay bỏ qua trong quá trình phân tích thơ trữ tình bởi vì: Không gian và thờigian là nơi nhân vật trữ tình xuất hiện và bộc lộ cảm xúc

Học sinh có thể nhận các tín hiệu về thời gian, không gian qua từ ngữ Tuyvậy nếu không thể hiểu trực tiếp thì lại cần huy động kiến thức ngoài từ ngữ,

Trang 16

thậm chí là ngoài văn bản Thời gian, không gian có thể xác định rõ (sớm,chiều, đêm, bến đò, trong rừng, vườn hoa…).

Hoặc không xác định rõ cụ thể (Bây giờ, bao giờ, bao năm, ở đâuđó…) Bởi vậy khi đọc câu thơ, người đọc cần chú ý xem xét, xem nhà vănmiêu tả đó của nhà thơ có dụng ý gì đặc biệt, không gian, thời gian ấy có ýnghĩa gì và nói được nội dung sâu sắc gì?

3.2.5 Các yếu tố khác:

- Dấu câu, cách dùng câu:

Thông thường, các loại dấu câu và cách dùng câu trong thơ ngoài tácdụng diễn đạt là chính, nếu được vận dụng sáng tạo lại có tác dụng biểu cảmcao

Dấu câu trong thơ trữ tình được sử dụng thật đa dạng và sáng tạo Các

em cần biết đặt dấu câu trong mối quan hệ với các tín hiệu nghệ thuật khác,với các câu, ý đoạn và nội dung toàn bài, để hiểu rõ tác dụng biểu cảm củanó

Ví dụ : Bài thơ “ Đồng chí” nếu như sáu dòng đầu có thể xem là sự lí giải củatình đồng chí thì dòng thứ bảy có cấu trúc hết sức đặc biệt ( chỉ một từ dấu

chấm than “Đồng chí!”) như một phát hiện, một lời khẳng định sự kết tinh

tình cảm giữa những người lính

Về cách dùng câu: Trong thơ trữ tình được sử dụng kết hợp với các loại dấu

câu sáng tạo để biểu lộ cảm xúc Nhà thơ sáng tạo câu theo từng trạng tháicảm xúc

- Hình ảnh, hình tượng

Hình ảnh, hình tượng trong một tác phẩm trữ tình là điều độc đáo vàsáng tạo rất riêng của từng tác giả, trong tác phẩm cụ thể Người ta hay nói:Ngôn ngữ thơ giàu hình ảnh, có tính hình tượng Điều đó nghĩa là: Một bài

Ngày đăng: 31/08/2017, 11:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w