Ngành Giáo dục và Đào tạo cũng đã có nhiều cuộc hội thảo và cũng đã đưa ra nhiều phương pháp dạy họctích cực hơn… nhưng hiện tại không ít giáo viên vẫn sử dụng cách dạyhọc theo kiểu “đọc
Trang 1LỜI CÁM ƠN Xin chân thành cám ơn Phòng Giáo dục, Ban giám hiệu, Banchấp hành Công đoàn Trường,Tổ tự nhiên, nhóm Lý -Công nghệ đã trựctiếp giúp đỡ, hướng dẫn và đóng góp những ý kiến chủ đạo cho nộidung đề tài sáng kiến kinh nghiệm này.
Những nội dung đã học tập và kinh nghiệm tích lũy được từ đềtài “Sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học Vật lý ở trường THCS” này sẽ
là hành trang vô cùng quý báu cho quá trình đổi mới phương pháp dạyhọc Vật lý của bản thân chúng tôi trong thời gian sắp tới
Phương Trung, ngày 09 tháng 04 năm 2017
Người thực hiện,
Nguyễn Thị Thanh Tâm
“SỬ DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY HỌC VẬT LÝ Ở TRƯỜNG THCS”
PHẦN I.ĐẶT VẤN ĐỀ
Trang 21 Lý do chọn đề tài, thuận lợi và khó khăn
Từ lâu, dạy học theo kiểu “đọc – chép” được coi là một phươngpháp dạy học để truyền tải kiến thức cho học sinh và được sử dụng phổbiến ở nhiều trường trong cả nước Ngành Giáo dục và Đào tạo cũng đã
có nhiều cuộc hội thảo và cũng đã đưa ra nhiều phương pháp dạy họctích cực hơn… nhưng hiện tại không ít giáo viên vẫn sử dụng cách dạyhọc theo kiểu “đọc – chép”
Phải nói rằng trong một tiết dạy, cũng có lúc giáo viên cần phảiđọc cho học sinh chép như môn chính tả ở bậc Tiểu học, đọc hoặc ghilên bảng các công thức toán học, bảng cửu chương, một sự kiện lịch sử,một số yếu tố địa lý, đoạn thơ, các khái niệm ở bậc Trung học, điều nàykhông có nghĩa là giáo viên đã sử dụng phương pháp “đọc – chép”
Với cách dạy này, người thầy đã máy móc, rập khuôn trong dạyhọc, dễ có tư tưởng phó mặc, không hứng thú trong cập nhật kiến thức,không sáng tạo trong việc tìm kiếm các phương án thiết kế bài dạy phùhợp với mọi đối tượng học sinh trong lớp mình phụ trách để kết quả giảngdạy đạt mức tối ưu Người học theo cách này sẽ trở nên thụ động, chỉbiết thu nhận kiến thức một chiều, không động não suy nghĩ, không biết
tự mình chiếm lĩnh tri thức, trở nên thui chột về tư duy, khó vận dụngkiến thức vào cuộc sống
Hơn nữa, đã dạy theo kiểu “đọc – chép” thì đề thi phải ra theokiểu học thuộc Học sinh khi học, chép được điều gì thì lúc thi, lại chépnhững điều ấy vào bài làm, không có khả năng sáng tạo, học sinh hiểubài một cách máy móc không sáng tạo, không thể hiện được “cái riêng”của mình hoặc không dám thể hiện “cái riêng” của mình Bài dạy học đọc– chép tất yếu phải được tổ chức theo phương thức diễn dịch, do đó tiếtdạy “đọc – chép” sẽ nhàm chán và mang tính áp đặt
Việc giáo viên sử dụng cách dạy học theo kiểu đọc – chép, có thể
kể ra một số nguyên nhân sau:
Do một số bài học của chương trình có lượng kiến thức nhiều,trong một tiết học chỉ có 45 phút, mà đã mất 10 đến 15 phút ổn định tổchức, kiểm tra bài cũ, dặn dò học, làm bài tập ở nhà…Như vậy, chỉ cònkhoảng 30 phút để giảng bài mới nên giáo viên chọn cách “đọc – chép”
Học sinh hiện nay khả năng tự ghi bài là rất chậm, rất hạn chế,
Trang 3thụ động trong học tập nên cũng có thầy cô chọn cách đọc bài, học tròchép bài Học sinh về nhà chỉ cần học thuộc nội dung đã được ghi, khikiểm tra bài chỉ cần đọc đúng, ghi đúng là được điểm cao…
Cũng còn một số giáo viên không chịu khó đầu tư cho việc thiết
kế bài dạy sao cho phù hợp với từng đối tượng học sinh mình đang phụtrách, sợ mất sức, cứ sẵn giáo án mẫu đọc cho học sinh chép, khi cầnthỉnh thoảng mới dừng lại ghi vài chữ lên bảng Như thế, vừa không sợsai kiến thức cơ bản, lại vừa không tốn sức
Trang thiết bị và các phòng học chức năng không đủ hoặc không
có để đáp ứng nhu cầu dạy học theo hướng đổi mới, hiện đại hóa, họcsinh không có nhiều điều kiện để thực hành hoặc học theo phương pháptrực quan sinh động
Khắc phục tình trạng đọc – chép là một yêu cầu cần thiết để nângcao chất lượng dạy học đối với tất cả các môn học Đó là một nhiệm vụ
vô cùng khó khăn phức tạp trong điều kiện hiện nay của nhiều trường.Thực hiện tốt việc chống dạy học theo kiểu “đọc – chép” là cả một quátrình lâu dài với sự cố gắng của nhiều đối tượng khác nhau trong đó sựtận tâm của thầy cô giáo là điều hết sức quan trọng mới có thể có kếtquả
Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Chỉ thị bắt đầu từnăm học này (2011 – 2012) chấm dứt việc dạy học chủ yếu qua đọc chép
và nhìn chép ở bậc trung học phổ thông,trung học cơ sở
Đây là chủ trương phù hợp với tiến trình đổi mới và nâng cao chấtlượng giáo dục, đáp ứng sự mong đợi bấy lâu nay của nhiều giáo viêntâm huyết với giáo dục, giúp học sinh chủ động học tập và sáng tạo
Có thể nói, nhiều năm qua việc giáo viên đọc cho học sinh chépbài đã trở thành thói quen của phần lớn thầy – trò bậc phổ thông, kể cảđại học Nhiều nhà nghiên cứu giáo dục và dư luận lên tiếng không đồngtình, thậm chí phản đối gay gắt và đề nghị chấm dứt việc dạy học theokiểu đọc chép, nhưng có lẽ do còn nhiều việc phải giải quyết, nên mãiđến năm học này, Bộ Giáo dục và Đào tạo mới có ý kiến chính thức bằngvăn bản
Dạy theo kiểu “đọc cái có sẵn cho học sinh chép vào vở” cứ lặp đilặp lại nhiều năm, khiến công việc của các nhà giáo trở nên nhàm chán,
Trang 4không có động lực để đổi mới Còn với học sinh, dẫu biết rằng phải chépbài của thầy đọc từ sách giáo khoa, cái mà các em có thể tự đọc – là một
sự miễn cưỡng Nhưng biết làm sao, khi thầy yêu cầu trả bài phải đúng,thậm chí đúng nguyên văn những lời thầy đọc
Đã có những bài thi ngây ngô đến mức khó tin, bởi thiếu phươngpháp tư duy, rập khuôn máy móc do việc học lệ thuộc hoàn toàn vàothầy, còn thầy thì lệ thuộc sách giáo khoa Cách dạy và học này còn tiếptay cho nạn quay cóp, gian lận trong thi cử, tạo ra sự thiếu công bằnggiữa những người học nghiêm túc và những người thầy thực sự muốn đổimới cách dạy học
Thầy đọc, trò chép trên lớp, cộng với việc học quá tải liên miênkhiến các em không đủ thời gian suy ngẫm và tự học, thì lấy đâu ra việctìm tòi, suy luận để có kiến thức thực sự? Nhưng vấn đề đặt ra, thế nào làthầy không đọc, trò không chép? Không đọc kiến thức đã có sẵn trongsách giáo khoa, thì thầy sẽ nói gì để các em ghi lại và phát triển tư duy?
Chỉ thị không đọc – chép trên lớp sẽ thực hiện từ năm học này.Nếu không chuẩn bị kỹ lưỡng với một tinh thần hưởng ứng nhiệt tình, cóthể xảy ra tình trạng, giáo viên photo bài giảng và bộ câu hỏi rồi phátcho học sinh tự đọc, tự trả lời để tránh tiếng “thầy đọc, trò chép” Vàcũng không loại trừ xảy ra chuyện, thầy cứ giảng, trò muốn ghi gì cũngđược mà không biết đâu là nội dung chính để tập trung học hỏi Rồi khithi kiểm tra chất lượng, thầy có chấp nhận nội dung bài thi khác với ýcủa mình hay không
Đội ngũ giáo viên hiện nay phần lớn cũng được đào tạo bằngphương pháp “đọc – chép” nên để thay đổi cách giảng dạy cũng khó cóthể đạt kết quả một sớm một chiều Trong khi đó, bộ sách giáo khoa bậcphổ thông đang tiếp tục được thay đổi và nội dung còn khá nặng nề cũng
là một lực cản trong quá trình nói không với “đọc – chép”
Thực tế những năm qua có nhiều giáo viên (kể cả bậc đại học) đã
áp dụng phương pháp giảng dạy không đọc chép cho học sinh, sinh viên
và đem lại hiệu quả rõ nét Nhưng vì không có động lực, thiếu sự khuyếnkhích, động viên và tiêu chí rõ ràng, nên cách làm này chỉ có tính tự phát
ở một số ít người
Chấm dứt tình trạng không đọc chép sẽ trở thành hiện thực nếu
Trang 5đội ngũ giáo viên được coi trọng, nếu đội ngũ giáo viên có động lực và sựđánh giá nghiêm túc, công bằng từ các cơ quan quan quản lý.
Trong giai đoạn hiện nay, xu hướng dạy học hiện đại với sự kếthợp những thành tựu công nghệ thông tin đã và đang diễn ra một cáchkhá phổ biến ở các ngành học, cấp học Công nghệ thông tin với tư cách
là một phương tiện hỗ trợ cho việc dạy học đang chứng tỏ những ưu thế
và hiệu quả trong quá trình dạy học nói chung và đối với bộ môn Vật lýnói riêng
Trong năm học 2007 – 2008 Sở GD&ĐT đã triển khai cho cácTrường THCS trong tỉnh thực hiện dạy học theo “Sơ đồ tư duy” và mỗitrường cử một giáo viên dự lớp tập huận đổi mới phương pháp dạy họctheo phương pháp mới do Microsoft tài trợ, nhưng hiện nay chưa triểnkhai hết đối với giáo viên
Đầu năm học 2016 – 2017 Hiệu trưởng Trường THCS tôi triển khaichỉ thị năm học mới của Bộ GD&ĐT trong đó có nêu lên chỉ thị “chấp dứthoàn hoàn việc đọc – chép hoặc nhìn – chép ở trường THCS” và cô Hiệutrưởng có giới thiệu một phương pháp giảng dạy mà từ lâu các nước tiêntiến trên thế giới đã áp dụng trong dạy học đó là sử dụng sơ đồ tư duy và
đã cho giáo viên xem một số hình ảnh minh họa các “sơ đồ tư duy” màhọc sinh các trường đã thực hiện
Sự việc này đã làm tôi liên tưởng đến lớp học của chương trìnhđổi mới phương pháp dạy học do chương trình Microsoft tài trợ và huấnluyện mà tôi đã tham dự, tôi hỏi thăm một số thầy cô đã được cử đi tậphuấn ở Singapor và được biết các trường học ở Singapor cũng đã thựchiện cách dạy này rồi Tôi đến các lớp hỏi thăm học sinh có biết ghi bàibằng sơ đồ tư duy hay không thì các em trả lời các em cũng đã được dạyrồi
Từ đó tôi mới tìm hiểu và áp dụng theo phương pháp “Sử dụng sơ
đồ tư duy trong dạy học Vật lý ở trường THCS” và bài trả lời cho câu hỏilàm thế nào để đổi mới phương pháp dạy học “không đọc – chép ; khôngnhìn – chép” theo chỉ thị của Bộ Giáo dục và Đào tạo mà tôi trăn trở bănkhoăn bấy lâu nay đã có cách để giải quyết
Qua một năm học áp dụng cho học sinh lớp 10 và lớp 12 ở TrườngTHPT Dĩ An do tôi phụ trách ở bộ môn lịch sử, tôi nhận thấy đây là cách
Trang 6dạy mang lại hiệu quả cao nếu giáo viên biết vận dụng các kĩ năng CNTTvào tiêt dạy thì sẽ giúp học sinh hứng thú, yêu thích tiết học lịch sử hơn
so với một tiết dạy bằng giáo án điện tử thông thường
2 Mức độ nghiên cứu đề tài
Năm học 2011 – 2012 là năm học đầu tiên Bộ GD – ĐT triển khaithực hiện “Chấm dứt hoàn toàn việc đọc – chép; nhìn – chép ở các trườngTHCS,THPT”
Vì trong năm học này tôi chỉ được phân công giảng dạy Vật lý lớp
7 và lớp 8 nên tôi chỉ tập trung nghiên cứu hai khối lớp của mình phụtrách Trong phạm vi nghiên cứu đề tài này, mức độ nghiên cứu chỉ giớihạn trong vấn đề lớn : “Hướng dẫn học sinh ghi bài theo sơ đồ tư duy”
3 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu
+ Đối tượng nghiên cứu : “Soạn giảng bộ môn Vật lý 7 và 8 theo sơ đồ tưduy và chuẩn KTKN được điều chỉnh giảm tải trong năm học 2011 –2012”
+ Khách thể nghiên cứu : Môn Vật lý lớp 7 và lớp 8 ở trường THCS
+ Phạm vi nghiên cứu : Hướng dẫn học sinh ghi bài theo sơ đồ tư duy
4 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Trang 7Cuộc vận động chấm dứt cách dạy học “đọc chép” nếu thànhcông, sẽ góp phần nâng cao chất lượng giáo dục Theo GS – TS ĐinhQuang Báo, nguyên Hiệu trưởng trường Đại học Sư phạm Hà Nội, đểcuộc vận động này thành công, thì đội ngũ giáo viên là yếu tố quyếtđịnh Do vậy ngay từ khâu đào tạo giáo viên ở các trường đại học, caođẳng phải đào tạo họ biết cách “không đọc chép”
Vấn đề càng tỏ ra bức xúc hơn khi Bộ trưởng Giáo dục – Đào tạoNguyễn Thiện Nhân phát động chiến dịch “Nói không với đọc chép” cùngvới việc “Nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích tronggiáo dục” Nói thì dễ nhưng làm thật khó Nhiều đồng nghiệp đã nhậnthức được sự tai hại của việc dạy học theo lối đọc chép, nhưng quả thực
để “Nói không với đọc chép”, có người chưa biết nên bắt đầu từ đâu, làmnhư thế nào, thậm chí còn rất ái ngại, vì thay đổi một tập quán không dễ
gì nếu thiếu một quyết tâm và sự định hướng
Để góp phần tạo nên sự chuyển biến trong dạy học bộ môn, đápứng yêu cầu phát triển xã hội, và để “Nói không với đọc chép”, giáo viêncần lưu ý một số điểm sau đây:
Trước hết, giáo viên phải nhận thức đúng đắn tầm quan trọng củaviệc dạy học Vật lý là phải cung cấp cho học sinh một hệ thống kiến thức
cơ bản về Vật lý, qua đó giáo dục tư tưởng, tình cảm, đạo đức, truyềnthống cho học sinh Nghĩa là phải vừa khai trí vừa khai tâm cho các em.Hai nhiệm vụ này luôn gắn chặt và tương hỗ với nhau Phải giúp cho các
em am tường và biết cách vận dụng những tri thức Vật lý vào cuộcsống.Trong sách giáo khoa, các nội dung sự kiện được trình bày một cách
cô đọng vốn đã rất cần sự phân tích diễn giải, minh hoạ, so sánh, đốichiếu để giúp học sinh hiểu vấn đề một cách thấu đáo Nếu dạy theo lốiđọc chép, có nghĩa giáo viên một lần nữa tóm tắt sách giáo khoa, đọccho các em chép rồi buộc các em phải học thuộc lòng Giáo viên làm nhưvậy, bộ môn Vật lý hay bất cứ môn học nào cũng sẽ trở nên giáo điều,nhồi nhét, vì học sinh chẳng thể nào hiểu nổi một vấn đề, một sự kiện vànhư vậy việc học tập trên lớp trở nên vô bổ, thậm chí làm cho các em cócảm giác như bị “tra tấn” trong học tập bộ môn
Để “Nói không với đọc chép”, đòi hỏi giáo viên phải có tâm huyếtvới nghề nghiệp, phải luôn thấy được trách nhiệm và uy tín cá nhân của
Trang 8mình trước hết là đối với học sinh Cần phải tích cực đầu tư chuyên môn
và không ngừng học tập nâng cao trình độ nghiệp vụ Việc đầu tư chuyênmôn đòi hỏi phải tiếp cận với thông tin khoa học chuyên ngành Điềukiện sách vở, tài liệu tham khảo và các nguồn thông tin cần thiết hiệnnay không đến nổi quá khó khăn Khi đã có sự hiểu biết sâu sắc vềchuyên môn, giáo viên dễ dàng lựa chọn phương pháp để giảng dạy, vìphương pháp là sự vận động của tri thức
Mỗi phương pháp dạy học có một giá trị riêng, tuỳ theo nội dungkiến thức và đối tượng mà lựa chọn phương pháp cho phù hợp nhằm tạobiểu tượng, hình thành khái niệm, khắc sâu kiến thức cơ bản… cho họcsinh Để phát huy tính tích cực của học sinh trong học tập, phương phápdạy học sử dụng sơ đồ tư duy tỏ ra có ưu thế Mỗi bài học chứa đựng một
số vấn đề cơ bản của lịch sử, bằng sự hiểu biết của mình, giáo viên nêuvấn đề, tổ chức cho học sinh giải quyết bằng cách sáng tạo thành sơ đồ
tư duy nhằm phát huy tính tích cực và huy động bộ não các em làm việchết công suất cho mỗi bài học, sẽ không còn tình trạng học sinh ngồi imthụ động chỉ có vài em được phát biểu và làm việc với giáo viên trong tiếthọc
Việc học sinh tham gia trực tiếp vào việc giải quyết những yêucầu của bài học vừa có tác dụng phát triển tư duy vừa gây hứng thú họctập Tất nhiên vai trò dẫn dắt của người thầy là hết sức quan trọng Dạyhọc là một nghệ thuật, bằng tâm hồn, sự hiểu biết và nghệ thuật củagiáo viên, những “phần xác” Vật lý sẽ được “phả hồn” vào một cách sinhđộng và đẹp đẽ, giúp các em cảm nhận tốt hơn, yêu thích hơn bộ mônVật lý
Phương tiện dạy học bằng sơ đồ tư duy ngày càng trở nên phóngphú và được các nước tiên tiến trên thế giới sử dụng đạt hiệu quả cao.Nếu biết khai thác tốt sơ đồ tư duy sẽ hỗ trợ đắc lực cho giáo viên trongquá trình giảng dạy Cùng với sự kết hợp các phương pháp, phương tiệntrực quan và kỹ thuật sẽ góp phần đẩy lùi hiện tượng “đọc chép” mộtcách có hiệu quả.Việc sử dụng sơ đồ tư duy cùng phương tiện trực quan
và kỹ thuật đòi hỏi giáo viên phải có sự đầu tư công sức và trí tuệ cho bàigiảng Rõ ràng làm tốt công việc này sẽ góp phần nâng cao chất lượng,hiệu quả giờ dạy và hiên tượng “đọc chép” sẽ không có cơ hội để tồn tại
Trang 9Lý luận dạy học đã chỉ ra rằng, học sinh vừa là đối tượng, vừa làchủ thể của quá trình dạy học Dạy học theo lối đọc chép có nghĩa giáoviên đã thủ tiêu mất vai trò chủ thể của học sinh, đưa các em vào trạngthái hoàn toàn thụ động, bị nhồi nhét một cách đáng thương Việc tạo ra
mô hình dạy học sử dụng sơ đồ tư duy trong đó học sinh có điều kiện traođổi với thầy với bạn, sẽ phát huy tốt tính tích cực, chủ động của các em,giúp các em vươn lên chiếm lĩnh tri thức.Thay đổi mô hình dạy học theo
sơ đồ tư duy là một yêu cầu không thể thiếu được Nó vừa phát huy tốt
ưu thế của bộ môn, vừa tạo được sự hấp dẫn, hứng thú đối với học sinh.Cần chú ý mô hình dạy Vật lý theo sơ đồ tư duy, giảm dần tính biên niêntrong dạy học
Khả năng vận dụng tri thức đã học vào cuộc sống là cái đích củaviệc dạy học bộ môn Khả năng đó có được từ nghệ thuật truyền dạy và
tổ chức rèn luyện của giáo viên cho các em Học Vật lý mà không liên hệđược thực tế, không làm bài tập thực hành, sẽ không thể nào có đượcnăng lực vận dụng và như vậy sự học trở nên vô bổ Cuộc sống đang đặt
ra vô vàn những vấn đề phức tạp, hiểu sâu sắc Vật lý để lý giải nhữngvấn đề của cuộc sống hiện tại một cách khoa học là vô cùng cần thiết, nó
tỏ rõ ưu thế của bộ môn Không làm tốt điều này xem như giáo viên Vật
lý chưa hoàn thành nhiệm vụ
Dạy học “đọc chép” sẽ phải kiểm tra đánh giá theo kiểu “đọcchép” và ngược lại Đó là lẽ đương nhiên Đổi mới phong cách dạy họcphải đi liền với việc thay đổi cách thức kiểm tra đánh giá Giáo viên phảibiết trăn trở, lựa chọn hình thức và nội dung kiểm tra để đánh giá đúngthực lực học sinh, đồng thời tự kiểm tra năng lực giảng dạy của mình mộtcách chính xác Phải hết sức nghiêm túc trong kiểm tra đánh giá thì mớitạo được sự chuyển biến về chất lượng đào tạo và mới có thể “Nói khôngvới tiêu cực trong thi cử”
5 Kết cấu của đề tài sáng kiến kinh nghiệm
Ngoài phần đặt vấn đề, kết luận, tài liệu tham khảo, đề tài gồm có
3 phần :
-Phần I : Đặt vấn đề
-Phần II : Mô tả và giới thiệu các nội dung, biện pháp chính
-Phần III : Kết quả, bài học kinh nghiệm và kiến nghị
Trang 10NỘI DUNGPhần I Nêu thực trạng của vấn đề
1 Thuận lợi khi thực hiện đề tài SKKN
Năm học 2011 – 2012 Bộ Giaó dục và Đào tạo giảm tải nội dungsách giáo khoa tạo điều kiện thuận lợi cho giáo viên trong việc dạy vàhọc hơn nững năm qua
Tôi được tham dự lớp tập huấn “Phương pháp dạy học mới” vànhững năm qua đã soạn giảng khá tốt bộ giáo án điện tử lớp 7 và lớp 8
Trang 11nên có thuận lợi hơn khi áp dụng đề tài hướng dẫn học sinh bậc THCSthực hiện ghi bài theo sơ đồ tư duy.
Trường THCS nơi tôi đang giảng dạy được Sở GD&ĐT đâu tư xâydựng thành đơn vị Trường THCS chất lượng cao của huyện và tiến tớisang năm lên trường chuẩn quốc gia, đã xây dựng xong phòng học bộmôm theo chuẩn,trang bị đủ máy chiếu để giáo viên giảng dạy tại lớp.Mỗi giáo viên chỉ cầng dùng một USB ghi nội dung bài dạy và đến lớp để
sử dụng ngay trong tiêt dạy tại lớp nên rất thuận tiện cho giáo viên vàhọc sinh khi áp dụng phương pháp giảng dạy mới sử dụng sơ đồ tư duy
Học sinh các lớp bước đầu đã được làm quen với cách ghi bài theo
sơ đồ tư duy nên các em tiếp thu cách học mới dễ dàng hơn ở bậc THPT
Một số phần mềm sơ đồ tư duy được phổ biến rộng rãi nên đã hỗtrợ cho giáo viên và học sinh khi trình bày sơ đồ tư duy trên máy chiếu
2 Khó khăn khi thực hiện đề tài SKKN
Khi dự giờ các tiết dạy giáo viên còn theo bảng chấm điểm cũ,hầu như đa số giáo viên của các trường THCS đều chưa giảng dạy họcsinh theo phương pháp sử dụng sơ đồ tư duy vào trong một tiết dạy
Giáo viên ở các trường THCS không hướng dẫn kỹ cách thực hiệncho học sinh và chưa nêu rõ tầm quan trọng của việc dạy học theophương pháp mới này nên tôi phải cho học sinh lớp 7 và lớp 8 xem phimminh họa, hướng dẫn học sinh cách sử dụng phần mềm, cách vẽ sơ đồ tưduy lại từ đầu
Trang 12Phần II Mô tả và giới thiệu các nội dung, biện pháp chính
“SỬ DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY HỌC VẬT LÝ
Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ”
1 Thực trạng và giải pháp:
1.1 Giảng dạy theo sơ đồ tư duy tăng cường tính tích cực của học sinh
Năm học 2011-2012 là năm đầu tiên ngành Giáo dục và Đào tạotriển khai giảng dạy theo sơ đồ tư duy ở bậc học THPT Qua thực tế chothấy việc giảng dạy này đã tạo hứng thú cho học sinh Mỗi học sinh cóthể tự lập sơ đồ tư duy cho mình dưới sự hướng dẫn của giáo viên để bàihọc trở nên dễ thuộc, dễ hiểu, dễ nhớ hơn Cùng một nội dung nhưng các
em có thể thêm nhánh, thêm chú thích dưới dạng hình vẽ nhiều màu sắc
Trang 13tùy vào cách hiểu, cách lĩnh hội kiến thức trong bài học của mình
Ngay từ đầu năm học, sau khi đăng kí đề tài SKKN tôi đã tìm hiểu,
áp dung dạy học lịch sử bằng sơ đồ tư duy Từ đó tôi tự lập kế hoạchgiảng dạy cho từng tiết học Nếu không sử dụng phần mềm, giáo viên cóthể linh động sử dụng hình vẽ tay với những màu sắc, hình ảnh, từ ngữdiễn đạt khác nhau nhằm giúp học sinh có thể nắm bắt và nhớ đượcphần cốt lõi của bài giảng ngay tại lớp học
Sơ đồ tư duy đặc biệt chú trọng về màu sắc, hình ảnh với từ ngữngắn gọn thể hiện qua mạng liên tưởng (các nhánh trong bài giảng) Từphần nội dung chính, giáo viên vẽ ra từng nhánh nhỏ theo từng tiểu mụcchính của bài giảng và chú thích, giảng giải theo một ngôn ngữ dễ hiểu
và gần gũi với học sinh
Như vậy, thay vì phải học thuộc lòng các khái niệm, định nghĩahay cả bài giảng đọc chép như lúc trước, giờ đây học sinh có thể hiểu vànắm được khái niệm qua hình vẽ Chính sự liên tưởng theo hướng dẫncủa giáo viên cũng giúp các em nhớ được phần trọng tâm của bài giảng
Cách học này còn phát triển được năng lực riêng của từng học sinhkhông chỉ về trí tuệ, vẽ, viết gì trên sơ đồ tư duy, hệ thống hóa kiến thứcchọn lọc những phần nào trong bài để ghi, thể hiện dưới hình thức kếthợp hình vẽ, chữ viết, màu sắc, vận dụng kiến thức được học qua sách vởvào cuộc sống
Để giảng dạy theo sơ đồ tư duy, giáo viên có thể chủ động vẽ hìnhtrên bảng rồi cho học sinh tiếp tục lên phân nhánh sơ đồ hay để học sinhchia thành từng nhóm nhỏ rồi tự vẽ sơ đồ theo cách hiểu của mình sau
đó giáo viên định hướng lại từng nội dung cho học sinh
Sơ đồ tư duy thực chất là một sơ đồ mở không theo một khuônmẫu hay tỷ lệ nhất định mà là cách hệ thống kiến thức tạo ra một tiếthọc sinh động, đầy màu sắc và thực sự hiệu quả Giảng dạy theo sơ đồ tưduy phát huy tính tích cực nhiều nhất trong các giờ ôn tập Khi học sinhtrở thành chủ thể thành nhân vật trung tâm trong mỗi tiết học, các em sẽtrở nên hào hứng và hăng say hơn trong học tập
1.2 Giáo viên trở thành người hướng dẫn, hỗ trợ
Trước đây, giáo viên vẫn thường sử dụng sơ đồ để hệ thống kiếnthức cho học sinh nhưng học sinh vẫn là người tiếp thu một cách thụ
Trang 14động Với việc giảng dạy bằng sơ đồ tư duy, nhất là cho học sinh tựphát huy khả năng sáng tạo của mình bằng cách tự vẽ, tự phân bố vàthể hiện nội dung bài học qua sơ đồ sau đó yêu cầu các bạn khác bổsung những phần còn thiếu Kết thúc bài giảng, thay vì phải ghi chéptheo cách truyền thống, học sinh có thể tự “vẽ” bài học theo cách hiểucủa mình với nhiều màu sắc và hình ảnh khác nhau Đến tiết học sau, chỉcần nhìn vào sơ đồ, các em có thể nhớ được những phần trọng tâm củabài học Giảng dạy theo sơ đồ tư duy mang tính khả thi cao vì có thể vậndụng được với bất kỳ điều kiện cơ sở vật chất nào của các nhà trường, cóthiết kế trên giấy, bìa, bảng bằng cách sử dụng bút chì màu, phấn màuhoặc cũng có thể thiết kế trên phần mềm sơ đồ tư duy đã được triển khaiđến từng trường Việc vận dụng sơ đồ tư duy trong dạy học sẽ dần hìnhthành cho học sinh tư duy mạch lạc, hiểu biết vấn đề một cách sâu sắc,
có cách nhìn vấn đề một cách hệ thống, khoa học
Sơ đồ tư duy hay bản đồ tư duy (Mind Map) là hình thức ghi chép
sử dụng màu sắc, hình ảnh nhằm tìm tòi đào sâu, mở rộng một ý tưởng,tóm tắt những ý chính của một nội dung, hệ thống hoá một chủ đề Nó làmột công cụ tổ chức tư duy được tác giả Tony Buzan (Anh) nghiên cứu kỹlưỡng và phổ biến rộng khắp thế giới
Tony Buzan sinh năm 1942, chuyên gia hàng đầu thế giới vềnghiên cứu hoạt động của bộ não và là cha đẻ của Mind Map
Phương pháp tư duy của ông được dạy và sử dụng ở khoảng 500tập đoàn, công ty hàng đầu thế giới; hơn 250 triệu người sử dụng phươngpháp Mind Map của Tony Buzan; khoảng hơn 3 tỷ người đã từng xem vànghe chương trình của ông (ông đã từng sang Việt Nam năm 2007 để nóichuyện về lĩnh vực nghiên cứu của mình)
Trang 15Trong dạy
học: Việc sử dụng
sơ đồ tư duy huy
động tối đa tiềm
năng của bộ não,
giáo viên giúp
học sinh có thói quen tự tay ghi chép hay tổng kết một vấn đề, một chủ
đề đã đọc – đã học, theo cách hiểu của học sinh với dạng sơ đồ tư duy
Sau khi cho học sinh làm quen với một số sơ đồ tư duy có sẵn,giáo viên đưa ra một chủ đề chính, đặt chủ đề này ở vị trí trung tâm bảng(hoặc vào trang vở, tờ giấy/ bìa) rồi đặt câu hỏi gợi ý để học sinh vẽ tiếpcác nhánh cấp 1, cấp 2, cấp 3 Mỗi bài học được tự vẽ kiến thức trọngtâm trên một trang giấy, giúp học sinh dễ ôn tập, dễ xem lại kiến thứckhi cần
Đối với học sinh: Học sinh thường xuyên tự lập sơ đồ tư duy sẽphát triển khả năng thẩm mỹ do việc thiết kế nó phải bố cục màu sắc,các đường nét, các nhánh sao cho đẹp, sắp xếp các ý tưởng khoa học,súc tích… Và đó chính là để học sinh “Học cách học”: Học sinh được học
để tích lũy kiến thức, nhưng từ trước đến nay học sinh chưa biêt cách họccách để lĩnh hội những kiến thức bộ môn lịch sử một cách hiệu quả
Khái niệm của sơ đồ tư duy: Nguyên lý hoạt động theo nguyên tắcliên tưởng “ý này gợi ý kia” của bộ não Học sinh có thể tạo một sơ đồ tưduy ở dạng đơn giản theo nguyên tắc phát triển ý: từ một chủ đề tạo ranhiều nhánh lớn, từ mỗi nhánh lớn lại tỏa ra nhiều nhánh nhỏ và cứ thế
mở rộng ra vô tận (Cách vẽ cũng rất giản đơn và còn rất nhiều tiện ích
Trang 16khác khiến cho sơ đồ tư duy ngày càng trở nên phổ biến toàn cầu).
1.3 Những lưu ý học sinh khi sử dụng sơ đồ tư duy
Màu sắc cũng có tác dụng kích thích bộ não như hình ảnh Tuynhiên, học sinh cũng không cần phải sử dụng quá nhiều màu sắc Họcsinh có thể chỉ cần dùng một hai màu nếu thích và muốn tiết kiệm thờigian
Nếu học sinh thấy mất quá nhiều thời gian để tô đậm màu trongmột nhánh, thì học sinh có thể gạch chéo, đánh dấu cộng, hay chấm bitrong đó – rất mới mẻ và tốn ít thời gian
Vẽ nhiều nhánh cong hơn là đường thẳng để tránh sự buồn tẻ, tạo
sự mềm mại, cuốn hút
Khi học sinh sử dụng những từ khóa riêng lẻ, mỗi từ khóa đềukhông bị ràng buộc, do đó nó có khả năng khơi dậy các ý tưởng mới, cácsuy nghĩ mới
Nếu trên mỗi nhánh học sinh viết đầy đủ cả câu thì như vậy họcsinh sẽ dập tắt khả năng gợi mở và liên tưởng của bộ não Não của họcsinh sẽ mất hết hứng thú khi tiếp nhận một thông tin hoàn chỉnh Vì vậy,trên mỗi nhánh học sinh chỉ viết một, hai từ khóa mà thôi Khi đó, họcsinh sẽ viết rất nhanh và khi đọc lại, não của học sinh sẽ được kích thíchlàm việc để nối kết thông tin và nhờ vậy, thúc đẩy năng lực gợi nhớ vàdần dần nâng cao khả năng ghi nhớ của học sinh
Giáo viên nên thường xuyên cho học sinh sử dụng sơ đồ tư duykhi làm việc nhóm và hệ thống kiến thức đã học trong môn học Vật lý,đặc biệt là khi ôn tập cho các kỳ thi (dù là thi , học , đều sử dụng tốt) Sơ
đồ tư duy cũng giúp các học sinh và các thầy cô tiết kiệm thời gian làmviệc ở nhà và trên lớp rất nhiều với các phần mềm sơ đồ tư duy trên máytính học sinh có thể làm tại nhà và gửi email cho các thầy cô chấm chữatrước khi lên lớp
2 Giảng dạy và học tập với công cụ sơ đồ tư duy
2.1 Giới thiệu đôi nét về sơ đồ tư duy
Việc phát triển tư duy cho học sinh và giảng dạy kiến thức về thếgiới xung quanh luôn là một trong những ưu tiên hàng đầu của nhữngngười làm công tác giáo dục Nhằm hướng học sinh đến một phươngcách học tập tích cực và tự chủ, giáo viên không những cần giúp học sinh
Trang 17khám phá các kiến thức mới mà còn phải giúp học sinh hệ thống đượcnhững kiến thức đó Việc xây dựng được một “hình ảnh” thể hiện mối liên
hệ giữa các kiến thức sẽ mang lại những lợi ích đáng quan tâm về cácmặt: ghi nhớ, phát triển nhận thức, tư duy, óc tưởng tượng và khả năngsáng tạo…Một trong những công cụ hết sức hữu hiệu để tạo nên các
“hình ảnh liên kết” là sơ đồ tư duy
2.2 Nguyên lý và ứng dụng sơ đồ tư duy trong dạy học
Sơ đồ tư duy (Mind Map) là một hình thức ghi chép sử dụng màusắc và hình ảnh, để mở rộng và đào sâu các ý tưởng Kỹ thuật tạo ra loại
sơ đồ này được gọi là Mind Mapping và được phát triển bởi Tony Buzanvào những năm 1960
Ở vị trí trung tâm sơ đồ là một hình ảnh hay một từ khóa thể hiệnmột ý tưởng hay khái niệm chủ đạo Ý trung tâm sẽ được nối với các hìnhảnh hay từ khóa cấp 1 bằng các nhánh chính, từ các nhánh chính lại có
sự phân nhánh đến các từ khóa cấp 2 để nghiên cứu sâu hơn Cứ thế, sựphân nhánh cứ tiếp tục và các khái niệm hay hình ảnh luôn được nối kếtvới nhau Chính sự liên kết này sẽ tạo ra một “bức tranh tổng thể” mô tả
về ý trung tâm một cách đầy đủ và rõ ràng
Những yếu tố đã làm cho sơ đồ tư duy có tính hiệu quả cao vànền tảng của chúng là:
Sơ đồ tư duy đã thể hiện ra bên ngoài cách thức mà não bộ chúng
ta hoạt động Đó là liên kết, liên kết và liên kết Mọi thông tin tồn tạitrong não bộ của con người đều cần có các mối nối, liên kết để có thểđược tìm thấy và sử dụng Khi có một thông tin mới được đưa vào, đểđược lưu trữ và tồn tại, chúng cần kết nối với các thông tin cũ đã tồn tạitrước đó
Việc sử dụng các từ khóa, chữ số, màu sắc và hình ảnh đã đem lạimột công dụng lớn vì đã huy động cả bán cầu não phải và trái cùng hoạtđộng Sự kết hợp này sẽ làm tăng cường các liên kết giữa 2 bán cầu não,
và kết quả là tăng cường trí tuệ và tính sáng tạo của chủ nhân bộ não
Sơ đồ tư duy là một công cụ hữu ích trong giảng dạy và học tập ởtrường phổ thông cũng như ở các bậc học cao hơn vì chúng giúp giáoviên và học sinh trong việc trình bày các ý tưởng một cách rõ ràng, suynghĩ sáng tạo, học tập thông qua biểu đồ, tóm tắt thông tin của một bài
Trang 18học hay một cuốn sách, bài báo, hệ thống lại kiến thức đã học, tăngcường khả năng ghi nhớ, đưa ra ý tưởng mới, v.v…
ᄃ
2.3 Giới thiệu một số phần mềm dùng để tạo sơ đồ tư duy
Một sơ đồ tư duy có thể được thực hiện dễ dàng trên một tờ giấyvới các loại bút màu khác nhau, tuy nhiên, cách thức này có nhược điểm
là khó lưu trữ, thay đổi, chỉnh sửa Một giải pháp được hướng đến là sửdụng các phần mềm để tạo ra sơ đồ tư duy Một số phần mềm tiêu biểutrong thể loại “phần mềm mind mapping” (mind mapping software)
Phần mềm Buzan’s iMindmap™: một phần mềm thương mại, tuynhiên có thể tải bản dùng thử 30 ngày Phần mềm do công ty BuzanOnline Ltd thực hiện Trang chủ tại www.imindmap.com
Phần mềm Inspiration: sản phẩm thương mại của công tyInspiration Software, Inc Sản phẩm có phiên bản dành cho trẻ em (các
em từ mẫu giáo đến lớp 5) rất dễ dùng và nhiều màu sắc Có thể dùngthử 30 ngày Trang chủ tại www.inspiration.com
Phần mềm Visual Mind: sản phẩm thương mại của công ty MindTechnologies Phần mềm dễ sử dụng và linh hoạt trong sắp xếp các nútchứa từ khóa Có thể dùng thử 30 ngày Trang chủ tại www.visual-mind.com
Phần mềm FreeMind: sản phẩm hoàn toàn miễn phí, được lập
Trang 19trình trên Java Các icon chưa được phong phú, tuy nhiên chương trình cóđầy đủ chức năng để thực hiện mind mapping Trang chủ tại:
http://freemind.sourceforge.net/wiki/index.php/Main_Page
Ngoài ra, chúng ta còn có thể tham khảo một danh sách các phầnmềm loại mind mapping tại địa chỉ sau:
http://en.wikipedia.org/wiki/List_of_mind_mapping_software
Mind mapping – Sơ đồ tư duy
Trước nay, chúng ta ghi chép thông tin bằng các ký tự, đường thẳng, con
số Với cách ghi chép này, chúng ta mới chỉ sử dụng một nửa của bộ não – não trái, mà chưa hề sử dụng kỹ năng nào bên não phải, nơi giúp chúng ta xử lý các thông tin về nhịp điệu, màu sắc, không gian và sự mơ mộng Hay nói cách khác, chúng ta vẫn thường đang chỉ sử dụng 50%
Trang 20khả năng bộ não của chúng ta khi ghi nhận thông tin Với mục tiêu giúp
chúng ta sử dụng tối đa khả năng của bộ não, Tony Buzan đã đưa ra sơ
đồ tư duy để giúp mọi người
3 Tiến trình một tiết dạy theo sơ đồ tư duy
Trước khi áp dụng phương pháp "Sử dụng sơ đồ tư duy trong dạyhọc Vật lý ở trường THCS” giáo viên giới thiệu cho học sinh xem một sốđoạn phim ngắn (có gửi kèm theo đĩa CD gắn chung với SKKN) cho họcsinh thấy hiệu quả của việc sử dụng sơ đồ tư duy khi ghi bài, học bài vàhướng dẫn học sinh cách vẽ sơ đồ tư duy gồm nội dung cả bài học trênmột trang giấy rất dễ học, dễ thực hiện và học sinh sẽ rất thích thú vớimỗi tác phẩm sơ đồ tư duy của mình (Xem phim hướng dẫn phần mềm
sơ đồ tư duy đính kèm trong dĩa CD)
Sơ đồ tư duy là một công cụ tổ chức tư duy Đây là phương pháp
dễ nhất để chuyển tải thông tin vào bộ não của học sinh rồi đưa thông tin
ra ngoài bộ não Nó là một phương tiện ghi chép đầy sáng tạo và rất hiệuquả theo đúng nghĩa của nó là “Sắp xếp” ý nghĩ của học sinh
Với cách thể hiện gần như cơ chế hoạt động của bộ não, Bản đồ
tư duy sẽ giúp học sinh:
• Sáng tạo hơn
• Tiết kiệm thời gian
• Ghi nhớ tốt hơn
• Nhìn thấy bức tranh tổng thể
• Tổ chức và phân loại suy nghĩ của học sinh
• và nhiều vấn đề khác trong quá trình học tập…
Lập sơ đồ tư duy (hoặc sơ đồ ý tưởng) là việc bắt đầu từ một ýtưởng trung tâm và viết ra những ý khác liên quan tỏa ra từ trung tâm.Bằng cách tập trung vào những ý tưởng chủ chốt được viết bằng từ ngữcủa học sinh, sau đó tìm ra những ý tưởng liên quan và kết nối giữanhững ý tưởng lại với nhau hình thành nên một sơ đồ tư duy Tương tự,nếu học sinh lập một sơ đồ kiến thức, nó sẽ giúp học sinh hiểu và nhớnhững thông tin mới và nắm kiến thức sâu hơn
Hướng dẫn học sinh sử dụng những đường thẳng, màu sắc, mũitên, nhánh rẽ hoặc những cách khác để thể hiện kết nối giữa những ýtưởng được đưa ra trong bản đồ tư duy của học sinh Những mối quan hệ