Chính vì vậy với khu rừng lớn liền kề rừng nguyên sinh và thứ sinh trong suốt một thời gian dài, rừng Thông mã vĩ tại Tam Đảo có thể đã có một số lượng lớn các loài cây tái sinh dưới tán
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ
Tam Đảo là một dãy núi cao, chạy dài trên 80 km và nằm độc lập ở Trung tâm miền Bắc Việt Nam Núi Tam Đảo có nhiều tài nguyên quý, nhiều tác dụng tốt phục vụ cho cuộc sống con người như bảo vệ môi trường sống, điều tiết và cung cấp nước, là môi trường sống của trên 2.000 loài thực vật và hàng ngàn loài động vật, côn trùng, là nơi phục vụ cho công tác nghiên cứu khoa học rất tốt Trong thời gian qua Nhà nước đã quan tâm đến công tác bảo
vệ rừng để bảo vệ môi trường sống, bảo vệ đa dạng sinh học Thể hiện qua chiến lược xây dựng hệ thống các khu rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, giảm thiểu việc khai thác gỗ rừng tự nhiên, thực hiện có hiệu quả chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng Vườn Quốc gia (VQG) Tam Đảo được thành lập với tổng diện tích tự nhiên là 36.883 ha và nằm trên địa bàn của 3 tỉnh Vĩnh Phúc, Thái Nguyên và Tuyên Quang
Rừng Thông mã vĩ là kiểu rừng trồng có quy mô khá lớn ở Vườn Quốc gia Tam Đảo với diện tích trên 1000 hectare được trồng từ những năm 1890 thời Pháp thuộc, trải qua nhiều năm sau diện tích rừng trồng Thông mã vĩ ngày càng được nhân rộng từ chân lên đến độ cao khoảng 800 m so với mực nước biển Đây là khu rừng tiếp nối với rừng nguyên sinh và thứ sinh trên đỉnh Vườn, nó có ý nghĩa rất quan trọng không những về giá trị môi trường
mà còn về giá trị nhân văn trên địa bàn Tam Đảo Từ khi Vườn được thành lập (1996) đến nay, rừng Thông mã vĩ cũng được bảo vệ nghiêm ngặt Chính
vì vậy với khu rừng lớn liền kề rừng nguyên sinh và thứ sinh trong suốt một thời gian dài, rừng Thông mã vĩ tại Tam Đảo có thể đã có một số lượng lớn các loài cây tái sinh dưới tán rừng, nhiều loài cây có thể là cây gỗ có giá trị cao về mặt kinh tế hay có giá trị cao về tính đa dạng sinh học, quá trình tái sinh như vậy là cơ sở quan trọng để chuyển hóa rừng trồng Thông thành rừng cây bản địa tự nhiên có giá trị cao hơn Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có các đề tài nghiên cứu sâu về quá trình tái sinh tự nhiên này tại Tam Đảo, vì vậy luận văn này được xây dựng nhằm giúp phần tìm hiểu kỹ hơn về quá trình tái sinh tự nhiên trên
Trang 2Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Trên thế giới
Tái sinh rừng là một quá trình sinh học mang tính đặc thù của hệ sinh thái rừng Biểu hiện đặc trưng của tái sinh rừng là sự xuất hiện một thế hệ cây con của những loài cây gỗ ở các nơi có hoàn cảnh rừng (hoặc mất rừng chưa lâu): dưới tán rừng, lỗ trống trong rừng, rừng sau khai thác, trên đất rừng sau làm nương đốt rẫy Vai trò lịch sử của thế hệ cây con này là thay thế thế hệ
cây gỗ già cỗi Vì vậy, tái sinh rừng, hiểu theo nghĩa hẹp, là quá trình phục hồi
lại thành phần cơ bản của rừng, chủ yếu là tầng cây gỗ
Sự xuất hiện lớp cây con là nhân tố mới làm phong phú thêm số lượng
và thành phần loài trong hệ sinh thái rừng (thực vật, động vật, vi sinh vật), đóng góp vào việc hình thành tiểu hoàn cảnh rừng và làm thay đổi cả quá trình
trao đổi vật chất và năng lượng diễn ra trong hệ sinh thái Do đó, tái sinh rừng
có thể hiểu theo nghĩa rộng là sự tái sinh của một hệ sinh thái rừng Tái sinh
rừng thúc đẩy việc hình thành cân bằng sinh học trong rừng, đảm bảo cho rừng tồn tại liên tục và do đó bảo đảm cho việc sử dụng rừng thường xuyên
Đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của loài cây tái sinh, điều kiện địa lý
và tiểu hoàn cảnh rừng là cơ sở tự nhiên quan trọng có tác dụng quyết định, chi phối sự hình thành nên những quy luật tái sinh rừng Ở các vùng tự nhiên khác nhau, tái sinh rừng diễn ra theo các quy luật khác nhau Tái sinh rừng nhiệt đới
tự nhiên là một vấn đề cực kỳ phức tạp Kinh nghiệm thực tiễn chỉ cho thấy việc
áp dụng máy móc các phương thức tái sinh kinh điển của các vùng ôn đới vào các nước nhiệt đới nói chung và Việt Nam nói riêng không thể mang lại kết quả mong muốn Ở đây, khẳng định lại một lần nữa, tái sinh rừng không chỉ là một
hiện tượng sinh học mà còn là một hiện tượng địa lí Những kiến thức về sinh
thái tái sinh rừng bao gồm mối quan hệ giữa loài cây tái sinh với hoàn cảnh sinh
Trang 3thái, đặc biệt là tiểu hoàn cảnh rừng, mối quan hệ sinh vật trong hệ sinh thái rừng
có ý nghĩa quan trọng trong việc nghiên cứu quy luật tái sinh trong từng loại hình rừng cụ thể và là cơ sở khoa học quan trọng cho việc đề xuất các biện pháp tái sinh rừng có hiệu quả
Do sự phát triển công nghiệp ở thế kỷ 19, trong lâm nghiệp đã hình thành xu hướng thay thế rừng tự nhiên bằng rừng trồng nhân tạo có năng suất cao đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế Nhưng sau những thất bại về tái sinh nhân tạo ở Đức và một số nước ở vùng nhiệt đới, nhiều nhà khoa học đã nêu khẩu hiệu “Hãy quay trở lại với tái sinh tự nhiên”
Đặc điểm tái sinh rừng được nhiều nhà khoa học quan tâm đến là thế hệ cây tái sinh có tổ thành giống hay khác biệt với tổ thành tầng cây cao (Mibbread, 1930; Richards, 1933[19]; Baur, 1964; Aubrerille, 1938)[16] Qua
đó đã làm sáng tỏ thêm khái niệm về tái sinh rừng, góp phần tạo cơ sở khoa học cho nghiên cứu tái sinh rừng
Với rừng nhiệt đới số lượng loài cây trên một đơn vị diện tích khá lớn,
tổ thành loài cây phức tạp, nên kinh doanh những loài cây đã rất khó có thể mang lại hiệu quả mong muốn Trong thực tiễn lâm sinh người ta chỉ tập trung nghiên cứu những loài đáp ứng được mục đính kinh doanh và nhu cầu của thị trường
Vấn đề tái sinh tự nhiên rừng nhiệt đới được thảo luận nhiều nhất là hiệu quả của các phương thức xử lý lâm sinh đến tái sinh rừng của các loài cây mục đích trong các kiểu rừng Qua đó các nhà lâm sinh học đã xây dựng thành công nhiều phương thức chặt tái sinh, công trình của Kennedy (1935), Lancaster (1953) Taylor (1854), Jones (1960), Foggie (1960), Rosevear (1974) ở Nigiêria và Gana, Schultz (1960) ở Xurinam với phương thức chặt dần tái sinh dưới tán rừng, Brooks (1941), Ayoliffe (1952) với phương thức chặt dần nhiệt đới (T.S.S) ở Trinidat Griffith (1947), Barnerji (1959) với
Trang 4phương thức chặt dần nâng cao vòm lá ở Andamann [20] Công trình của Bernard (1951-1954), Wyatt Smith (1961, 1963) với phương thức rừng đều tuổi
ở Malaysia, Nichalson (1958) ở Bắc Borneo, Donis và Maudova 1951)[32] với phương thức đồng nhất hoá tầng trên ở Zaia Chi tiết về các bước
(1954-xử lý cũng như hiệu quả của từng phương thức đối với tái sinh đã được Baur (1964) tổng kết trong tác phẩm “Cơ sở sinh thái học của kinh doanh rừng mưa”.[1]
Ở rừng nhiệt đới, hiện tượng tái sinh có nhiều điểm khác biệt Van Steenis (1956) [33] đã nêu hai đặc điểm tái sinh phổ biến Đó là tái sinh phân tán liên tục của các loài cây chịu bóng và kiểu tái sinh vệt của các loài cây ưa sáng
Ngoài ra theo nhận xét của A Obrevin (1938) khi nghiên cứu các khu rừng nhiệt đới ở Châu Phi, còn đưa ra lý luận bức khảm tuần hoàn hay lý luận tái sinh tuần hoàn, nhưng phần lý giải cho hiện tượng đó còn hạn chế Vì vậy,
lý luận của ông còn ít sức thuyết phục, chưa giúp ích cho thực tiễn sản xuất các biện pháp điều khiển tái sinh rừng theo mục tiêu kinh doanh đề ra
Với phương pháp điều tra tái sinh tự nhiên, nhiều tác giả đã sử dụng cách lấy mẫu ô vuông theo hệ thống của Lowdermilk (1972) [30] với diện tích ô đo đếm thông thường 1-4m2 Diện tích ô đo đếm nhỏ nên thuận lợi trong điều tra tuy nhiên số lượng ô phải đủ lớn mới phản ảnh được thực trạng của quá trình tái sinh Để giảm sai sót khi nghiên cứu thống kê tái sinh tự nhiên, Barnard (1950)[34] đã đề nghị một phương pháp điều tra chuẩn đoán
mà theo đó kích thước các ô đo đếm có thể thay đổi tùy theo giai đoạn phát triển của cây tái sinh ở các trạng thái rừng khác nhau
H.Lamprecht (1989)[31] căn cứ vào nhu cầu ánh sáng của các loài cây trong suốt quá trình sống để phân chia cây rừng nhiệt đới thành nhóm cây ưa sáng, nhóm cây trung sinh và nhóm cây chịu bóng Kết cấu của quần thụ lâm
Trang 5phần có ảnh hưởng đến tái sinh rừng ID.Yurkevich (1960) đã chứng minh độ tàn che tối ưu cho sự phát triển bình thường của đa số loài cây gỗ là 0,6-0,7
Các công trình nghiên cứu về phân bố tái sinh tự nhiên ở rừng nhiệt đới, đáng chú ý nhất là công trình nghiên cứu của P.W Richards (1952)[19]
Ở châu Phi, trên cơ sở số liệu thu thập được, Taylor (1954), Bennard (1955) xác định cây tái sinh trong rừng nhiệt đới thiếu hụt, cần phải bổ sung bằng cách trồng rừng Các tác giả nghiên cứu tái sinh rừng nhiệt đới châu Á như: Budowski (1956); Bara (1954); Catinot (1965) lại có nhận định rằng: Dưới tán rừng nhiệt đới, nhìn chung có đủ số lượng cây tái sinh có giá trị kinh tế,
do vậy các biện pháp lâm sinh đề ra cần thiết để bảo vệ cây tái sinh sẵn có dưới tán rừng, (Dẫn theo Nguyễn Duy Chuyên, 1996) [4]
Đối với rừng nhiệt đới các nhân tố sinh thái như ánh sáng, độ ẩm đất, kết cấu quần thụ, cây bụi, thảm tươi là những nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình tái sinh rừng, cho đến nay đã có nhiều công trình công bố về vấn đề này Baur G.N (1962)[1] cho rằng, sự thiếu hụt ánh sáng ảnh hưởng đến phát triển cây con còn đối với sự nảy mầm và phát triển cây mầm thì ảnh hưởng này thường không rõ ràng Nhìn chung ở rừng nhiệt đới, tổ thành và mật độ cây tái sinh thường khá lớn, nhưng số lượng loài cây có giá trị kinh tế thường không nhiều và được chú ý hơn, còn các loài cây có giá trị kinh tế thấp thường ít được nghiên cứu, đặc biệt là đối với tái sinh phục hồi sau nương rẫy
Độ khép tán của quần thụ có ảnh hưởng trực tiếp đến mật độ và sức sống của cây con Trong công trình nghiên cứu mối quan hệ qua lại giữa cây con và quần thụ V.G.Karpov (1990) đã chỉ ra đặc điểm phức tạp trong quan
hệ cạnh tranh về dinh dưỡng đất khoáng, độ ẩm và tính không thuần nhất của quan hệ giữa các thực vật, tùy thuộc đặc điểm sinh vật học, tuổi và điều kiện sinh thái của quần thể thực vật (Dẫn theo Nguyễn Văn Thêm, 2002)[26]
Trang 6Trong nghiên cứu tái sinh rừng người ta nhận thấy rằng tầng cỏ và cây bụi qua thu nhận ánh sáng, độ ẩm và các nguyên tố khoáng của tầng đất mặt
đã ảnh hưởng xấu đến cây con tái sinh của các loài cây gỗ Những quần thụ kín tán, đất khô và nghèo dinh dưỡng khoáng do đó thảm cỏ và cây bụi sinh trưởng kém nên ảnh hưởng của nó không đáng kể đến cây tái sinh Những lâm phần đã qua khai thác, thảm cỏ có điều kiện phát sinh mạnh là nhân tố ảnh hưởng xấu đến tái sinh rừng Ghent A W (1969) [30] đề nghị, thảm mục, chế độ thuỷ nhiệt, tầng đất mặt với tái sinh rừng cũng cần được làm rõ
Nghiên cứu khả năng tái sinh của thực vật sau nương rẫy từ 1-20 năm ở vùng Tây Bắc Ấn Độ, Ranmaksishnan (1981,1982) đã cho biết chỉ số đa dạng loài rất thấp Chỉ số loài ưu thế đạt đỉnh cao nhất ở pha đầu của quá trình diễn thế và giảm dần theo thời gian bỏ hóa Long Chun và cộng sự (1993) đã nghiên cứu đa dạng thực vật ở hệ sinh thái nương rẫy tại Xishhuang banna tỉnh Vân Nam, Trung Quốc nhận xét: Tại Baka khi nương rẫy bỏ hóa được 3 năm có 17 họ, 21 chi, 21 loài thực vật, bỏ hóa 19 năm thì có 60 họ, 134 chi,
167 loài thực vật (Dẫn theo Phạm Hồng Ban, 2000)[2]
Tái sinh tự nhiên của thảm thực vật sau nương rẫy được một số tác giả nghiên cứu Saldarriaga (1991) nghiên cứu tại rừng nhiệt đới Colombia và Venezuela nhận xét: sau khi bỏ hóa, số lượng loài thực vật tăng dần từ ban đầu đến rừng thành thục, thành phần của các loài cây phụ thuộc và tỷ lệ loài nguyên thủy mà nó được sống sót từ thời gian đầu của quá trình tái sinh, thời gian phục hồi khác nhau, phụ thuộc vào mức độ, tần số canh tác của khu vực
đó (Dẫn theo Phạm Hồng Ban, 2000)[2] Kết quả nghiên cứu của Lambertetal (1989), Waner (1991), Rouw (1991) [29] đều cho thấy quá trình diễn thế sau nương rẫy như sau: đầu tiên đám nương rẫy được các loài cỏ xâm chiếm, nhưng sau một năm loài cây gỗ tiên phong được gieo giống từ các vùng lân cận hỗ trợ cho việc hình thành quần thụ các loài cây gỗ, tạo ra tiểu hoàn cảnh
Trang 7thích hợp cho sinh trưởng của cây con Những loài cây gỗ tiên phong chết đi sau 5-10 năm và được thay thế dần bằng các loài cây mọc chậm, ước tính cần phải mất hàng trăm năm thì nương rẫy cũ mới chuyển thành loài hình rừng gấn với dạng nguyên sinh ban đầu
Các công trình nghiên cứu được trích dẫn trên đây, đã phần nào làm sáng tỏ đặc điểm tái sinh rừng tự nhiên ở rừng nhiệt đới, đó là những cơ sở để xây dựng các phương thức tái sinh Trong nghiên cứu, việc điều tra đánh giá tái sinh cần lựa chọn những phương pháp phù hợp với đối tượng nghiên cứu Cần phân chia các giai đoạn tái sinh và các nhân tố ảnh hưởng đến tái sinh tự nhiên Trong điều kiện nhất định, cần xác định đối tượng và giới hạn nghiên cứu cho từng loại hình rừng cụ thể
1.2 Ở Việt Nam
Nghiên cứu về quy luật tái sinh tự nhiên và diễn thế thứ sinh của các ưu hợp thực vật rừng nhiệt đới, Thái Văn Trừng (1963, 1970, 1978)[28] đã nhận định: Sự phát sinh các loại hình quần thể có thành phần loài cây khác nhau được nghiên cứu đầy đủ trước đây nên cho rằng trong rừng nhiệt đới không có quần hợp mà chỉ có những loài ưu thế, do đó đề nghị lấy kiểu thảm thực vật làm đơn vị
cơ bản của thảm thực vật
Đã có nhiều nghiên cứu về tái sinh tự nhiên dưới tán rừng trồng và rừng tự nhiên ở nước ta Kết quả nghiên cứu về tái sinh thường được đề cập trong các công trình nghiên cứu về thảm thực vật, trong các báo cáo khoa học và một phần được công bố trong các tạp chí
Ở miền Bắc nước ta từ 19621969, Viện điều tra quy hoạch rừng đã điều tra tình hình tái sinh tự nhiên theo các “loại hình thực vật ưu thế” rừng thứ sinh ở Yên Bái (1965), Hà Tĩnh (1966), Quảng Bình (1969) và Lạng Sơn (1969) Đáng chú ý là công trình điều tra tái sinh tự nhiên ở vùng Sông Hiếu (19621964) bằng phương pháp đo đếm điển hình Kết quả điều tra đã được
Trang 8Vũ Đình Huề (1975)[10] tổng kết trong báo cáo khoa học “Khái quát về tình hình tái sinh tự nhiên ở rừng miền Bắc Việt Nam” Theo báo cáo đó, tái sinh
tự nhiên ở rừng miền Bắc Việt Nam cũng mang những đặc điểm tái sinh của rừng nhiệt đới, cụ thể ở rừng nguyên sinh, tổ thành các loài cây tái sinh tương
tự như tầng cây gỗ, dưới tán rừng thứ sinh tồn tại nhiều loài cây gỗ mềm kém giá trị, hiện tượng tái sinh theo đám được thể hiện rõ nét tạo nên sự phân bố số cây không đồng đều trên mặt đất rừng Từ kết quả đó, tác giả đã xây dựng biểu đánh giá tái sinh áp dụng cho các đối tượng rừng lá rộng miền Bắc nước ta
Khi nghiên cứu về thảm thực vật rừng Việt Nam, Thái Văn Trừng (1978)[28] đã nhấn mạnh tới ý nghĩa của điều kiện ngoại cảnh đến các giai đoạn phát triển cây tái sinh Theo tác giả, ánh sáng là nhân tố sinh thái khống chế và điều khiển quá trình tái sinh tự nhiên cả ở rừng nguyên sinh lẫn rừng thứ sinh
Trần Ngũ Phương (1970) [18] khi nghiên cứu về kiểu rừng nhiệt đới mưa mùa lá rộng thường xanh đã có nhận xét “rừng tự nhiên dưới tác động của con người khai thác hoặc làm nương rẫy, lặp đi lặp lại nhiều lần thì kết quả cuối cùng
là sự hình thành đất trống, đồi núi trọc Nếu chúng ta để thảm thực vật hoang dã
tự nó phát triển lại, thì sau một thời gian dài trảng cây bụi, trảng cỏ chuyển dần lên những dạng thực bì cao hơn thông qua quá trình tái sinh tự nhiên và cuối cùng rừng có thể phục hồi dưới dạng gần giống trạng thái rừng ban đầu”
Ảnh hưởng của các biện pháp lâm sinh tới tái sinh tự nhiên của quần xã thực vật còn được một số tác giả nghiên cứu như Phùng Ngọc Lan (1984)[14], Hoàng Kim Ngũ [17] (1984), Nguyễn Duy Chuyên (1985), Nguyễn Ngọc Lung [15](1985)
Công trình nghiên cứu của Nguyễn Văn Trương (1983)[23] đã đề cập đến mối quan hệ giữa cấu trúc rừng với tái sinh tự nhiên trong rừng hỗn loài Hiện tượng tái sinh lỗ trống ở các rừng thứ sinh vùng Hương Sơn-Hà Tĩnh đã được Phạm Đình Tam (1987) [21] làm sáng tỏ Theo tác giả, số lượng cây tái
Trang 9sinh xuất hiện khá nhiều dưới các lỗ trống khác nhau Lỗ trống càng lớn, cây tái sinh càng nhiều và hơn hẳn những nơi kín tán Từ đó tác giả đề xuất áp dụng phương thức khai thác chọn, tái sinh tự nhiên
Nguyễn Duy Chuyên (1988)[3] khi nghiên cứu cấu trúc, tăng trưởng trữ lượng và tái sinh tự nhiên rừng thường xanh lá rộng hỗn loài cho ba vùng (Sông Hiếu, Yên Bái, Lạng Sơn), đã khái quát đặc điểm phân bố của nhiều loài cây có giá trị kinh doanh và biểu diễn bằng các hàm lý thuyết Từ đó làm
cơ sở định hướng giải pháp lâm sinh cho các vùng sản xuất nguyên liệu
Một số tác giả khác cũng đã có những công trình nghiên cứu về tái sinh tự nhiên mà đối tượng là nhóm loài cây hoặc một loài cây cụ thể Công trình nghiên cứu của Đinh Quang Diệp (1993)[6] nghiên cứu tiến trình tái sinh và ảnh hưởng của một số nhân tố đến từng giai đoạn tái sinh của nhóm loài cây họ Dầu, từ đó tác giả đề nghị một số nguyên tắc chính trong khai thác, xúc tiến, bảo vệ, nuôi dưỡng cây tái sinh cho các đối tượng rừng khộp vùng EaSúp ĐăkLăk
Dựa vào mật độ cây tái sinh, Vũ Đình Huề (1969) [9]đã phân chia khả năng tái sinh rừng thành 3 cấp, trong đó cấp tốt có mật độ cây tái sinh lớn hơn 12.000 cây/ha, cấp trung bình có mật độ từ 4.0008.000 cây/ha, cấp xấu có mật độ cây tái sinh từ 2.000 4.000 cây/ha Tuy nhiên, các nghiên cứu này mới chỉ chú trọng đến số lượng cây tái sinh
Khi bàn về vấn đề đảm bảo tái sinh trong khai thác, Phùng Ngọc Lan (1984) [14]đã nêu ra kết quả tra dặm hạt Lim xanh dưới tán rừng ở Lâm trường Hữu Lũng (Lạng Sơn) Ngay từ giai đoạn nẩy mầm, Bọ xít là nhân tố sinh vật đầu tiên gây ảnh hưởng đáng kể đến tỷ lệ nẩy mầm Tiếp theo đề tài trên, tác giả đã nghiên cứu tiếp và nêu lên sự cần thiết của việc bảo vệ và phát triển Lim xanh, đồng thời đề ra một số biện pháp kỹ thuật về xử lý hạt giống, gieo trồng loài cây này Theo tác giả đã kết luận là không nên trồng Lim xanh thuần loài
Trang 10Khi nghiên cứu về tái sinh tự nhiên trong rừng chặt chọn ở Lâm trường Hương Sơn - Hà Tĩnh Trần Xuân Thiệp (1995) [27]đã định lượng các cây tái sinh tự nhiên trong các trạng thái rừng khác nhau Để đảm bảo mức độ tái sinh vốn rừng ở Ngã Đôi cần giữ trữ lượng ở mức tối thiểu từ 170200m3/ha (trạng thái rừng IIIA3) Tác giả còn thống kê các cây tái sinh theo 6 cấp chiều cao, trong đó cây tái sinh có triển vọng là những cây có chiều cao 1,5m Khi nghiên cứu tái sinh tự nhiên sau khai thác chọn tại Lâm trường Hương Sơn -
Hà Tĩnh, Trần Cẩm Tú (1998) [24] cho rằng: áp dụng phương thức xúc tiến tái sinh tự nhiên có thể đảm bảo khôi phục vốn rừng, đáp ứng mục tiêu quản
lý, sử dụng tài nguyên bền vững Tuy nhiên, các giải pháp kỹ thuật lâm sinh tác động đều phải có tác dụng thúc đẩy cây tái sinh mục đích sinh trưởng và phát triển tốt, khai thác phải đồng nghĩa với tái sinh rừng, phải chú trọng và điều tiết tầng tán của rừng đảm bảo cho cây tái sinh phân bố đều trên toàn bộ diện tích Để cải thiện tổ thành rừng loại bỏ các loài cây phi mục đích cần phải thực hiện các giải pháp lâm sinh (chặt mở tán, phát dây leo, cây bụi ) trước khi khai thác và dọn vệ sinh rừng ngay sau khi khai thác
Nguyễn Minh Đức (1998)[7] đã nghiên cứu đặc điểm một số nhân tố sinh thái dưới tán rừng và ảnh hưởng của chúng đến tái sinh loài Lim xanh tại Vườn quốc gia Bến En - Thanh Hoá Theo tác giả việc tác động vào lớp cây tái sinh nói chung, cây tái sinh Lim xanh nói riêng phải dựa vào mối quan hệ giữa cường độ ánh sáng và độ ẩm dưới tán rừng thông qua việc điều chỉnh độ tàn che Từ đó, tác giả đề xuất biện pháp nuôi dưỡng và xúc tiến tái sinh loài Lim xanh
Trần Ngũ Phương (1999)[18] khi nghiên cứu các quy luật phát triển rừng tự nhiên ở miền Bắc Việt Nam, đã nhấn mạnh quá trình diễn thế thứ sinh của rừng tự nhiên Theo tác giả trong rừng tự nhiên có nhiều tầng, khi tầng trên già cỗi, tàn lụi rồi tiêu vong thì tầng kế tiếp sẽ thay thế hoặc cũng có thể
Trang 11một thảm thực vật trung gian khác xuất hiện thay thế nó, nhưng về sau, dưới thảm thực vật trung gian này sẽ xuất hiện một lớp cây con tái sinh lại rừng cũ
và sẽ thay thế thảm thực vật trung gian này trong tương lai, lúc bấy giờ rừng
Bùi Văn Chúc (1996) [5]đã nghiên cứu đặc điểm cấu trúc rừng phòng
hộ đầu nguồn tại lâm trường Sông Đà ở các trạng thái rừng IIA, IIIA1 và rừng trồng, tác giả cũng đã đề cập đến tái sinh nhưng mới chỉ xác định được tổ thành, mật độ
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về tái sinh trên đây mới chỉ đề cập đến một số nghiên cứu liên quan đến đề tài Những vấn đề này gần đây được nhiều tác giả quan tâm hơn Xu hướng nghiên cứu cũng chuyển dần từ định tính sang định lượng, từ nghiên cứu lý thuyết sang ứng dụng thực tiễn
Những nghiên cứu của đề tài này sẽ góp phần vào việc xác định cơ sở
lý luận cho các tác động lâm sinh, từ đó đưa ra những đề xuất cụ thể nhằm xúc tiến tái sinh tự nhiên, nuôi dưỡng rừng, đáp ứng mục tiêu kinh doanh, nâng cao năng lực và chất lượng phòng hộ của rừng, bảo vệ môi trường sinh thái trong khu vực và các vùng lân cận
Trang 12Chương 2 ĐIỀU KIỆN CƠ BẢN KHU VỰC NGHIÊN CỨU 2.1 Đặc điểm khu vực nghiên cứu
Ngày 06 - 03- 1996, Thủ tướng Chính phủ đã ra quyết định số 136/TTg
về việc phê duyệt “Dự án khả thi đầu tư xây dựng Vườn quốc gia Tam
Đảo” Ngày 15 - 05- 1996 Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp &PTNT đã có quyết
định số 601 NN- TCCB/QĐ về việc thành lập VQG Tam Đảo trực thuộc Bộ Nông nghiệp &PTNT Hiện nay VQG Tam Đảo có diện tích 34.995 ha, nằm trọn trong dãy núi Tam Đảo và trên địa bàn của 3 tỉnh Vĩnh Phúc, Thái Nguyên
và Tuyên Quang Vườn hiện có 26.163 ha rừng, chủ yếu là rừng tự nhiên mưa
ẩm thường xanh, độ che phủ chiếm trên 70% tổng diện tích toàn Vườn
2.1.1 Vị trí địa lý
Vườn Quốc gia Tam Đảo nằm trong khoảng 210 21’ đến 21042’ độ vĩ Bắc,
105023’ đến 105044’ độ kinh Đông Địa giới hành chính Vườn Quốc gia được giới hạn như sau:
- Phía Bắc là đường quốc lộ 13A từ Thái Nguyên đi Tuyên Quang qua Đèo Khế
- Phía Đông-Bắc bởi đường ô tô giáp chân núi từ xã Quân Chu đến gặp quốc lộ 13A tại xã Phú Xuyên huyện Đại Từ
- Phía Nam bởi ranh giới các huyện Tam Đảo, Mê Linh thuộc Vĩnh Phúc; Phổ Yên, Đại Từ thuộc Thái Nguyên
- Phía Tây-Nam bởi đường ô tô phía trái sông Phó Đáy nối từ đường 13A tại xã Kháng Nhật, qua mỏ thiếc Sơn Dương, dọc theo chân Tam Đảo gặp sông Bà Hanh tại xã Mỹ Khê bên hồ Đại Lải
Trang 13BẢN ĐỒ HIỆN TRẠNG THẢM THỰC VẬT
VƯỜN QUỐC GIA TAM ĐẢO
TỶ LỆ 1/50.000
Trang 142.1.2 Địa hình, địa mạo, địa chất
Vườn Quốc gia Tam Đảo chiếm giữ toàn bộ hệ núi Tam Đảo, có cấu tạo hình khối đồ sộ, nằm ở phía Bắc đồng bằng Bắc Bộ, chạy dài theo hướng Tây-Bắc –Đông-Nam Cả khối núi có đặc điểm chung là đỉnh nhọn, sườn rất dốc, độ chia cắt sâu và dầy Chiều dài khối núi gần 80km, có gần 20 đỉnh cao sàn sàn trên 1000m được nối với nhau bằng đường dông núi sắc, nhọn Đỉnh cao nhất là đỉnh Nord (1592m) là ranh giới địa chính của ba tỉnh Vĩnh Phúc, Tuyên Quang và Thái Nguyên Chiều ngang biến động trong khoảng 10-15km Núi cao, bề ngang lại hẹp nên sườn núi rất dốc, bình quân 25-350, nhiều nơi trên 350 nên rất hiểm trở và khó đi lại Dựa vào độ cao, độ dốc, địa mạo có thể phân chia dãy núi Tam Đảo thành bốn kiểu địa hình chính:
- Thung lũng giữa núi và đồng bằng ven sông suối: độ cao tuyệt đối
<100m, độ dốc cấp I (<70) Phân bố dưới chân núi và ven sông suối
- Đồi cao trung bình: Độ cao tuyệt đối 100-400m Độ dốc cấp II (80 – 150) trở lên Phân bố xung quanh chân núi và tiếp giáp với đồng bằng
- Núi thấp: Độ cao tuyệt đối 400 – 700m Độ dốc trên cấp III (160 – 260) Phân bố giữa hai kiểu địa hình đồi cao và núi trung bình
- Núi trung bình: Độ cao tuyệt đối >700m – 1590m Độ dốc >cấp III Phân bố ở phần trên của khối núi Các đỉnh và đường dông đều sắc và nhọn Như vậy có thể nói địa hình Tam Đảo cao và khá đều (cao ở giữa và thấp dần
về hai đầu nhưng độ chênh không rõ), chạy dài gần 80km theo hướng Bắc – Đông-Nam nên nó như một bức bình phong chắn gió mùa đông-bắc tràn về đồng bằng và trung du Bắc Bộ, vì vậy ảnh hưởng lớn đến chế độ khí hậu và thủy văn trong vùng (FIPI, 1992)[8]
Tây-Trong phạm vi toàn bộ dãy núi Tam Đảo, về mặt thổ nhưỡng được chia làm 4 loại đất chính, bao gồm:
Trang 151 Đất feralit mùn vàng nhạt trên núi trung bình: Diện tích 8968ha (17,1%) Phát triển trên đá Macma axit kết tinh chua riolit, dacit, granit Tầng đất rất mỏng Tầng mùn và thảm mục khá dày và chỉ xuất hiện nơi có độ dốc nhỏ Nơi độ dốc lớn tầng đất bị xói mòn trơ lại đá gốc Phân bố từ độ cao 700-1600m, chiếm hầu hết các đỉnh của dãy Tam Đảo
2 Đất feralit có mùn vàng đỏ trên núi thấp: Diện tích 9292ha (17,8%) Phát triển trên đá kết tinh chua Tầng đất mỏng, thành phần cơ giới nhẹ Tầng mùn mỏng hoặc không còn vì bị xói mòn, tầng đá lộ đầu trên 75% Phân bố xung quanh sườn Tam Đảo ở độ cao 400 – 700m
3 Đất feralit đỏ vàng phát triển trên vùng đồi: Diện tích 24641ha (47%) Đây là loại đất feralit điển hình vùng đồi, phát triển trên nhiều loại đá
mẹ khác nhau, do lớp thực bì bị mất nhưng độ dốc thấp nên tầng đất có dày hơn hai loại đất trên Đất ít đá nổi, đá lẫn, thành phần cơ giới trung bình đến nặng Phân bố trên các đồi cao và trung bình, cao 100-400m xung quanh dãy núi Tam Đảo
4 Đất phù sa và bồi tụ sông suối: Diện tích 9794ha (18,1%) Đất phù sa
và dốc tụ sông suối có màu nâu đen, tầng dày, thành phần cơ giới trung bình, màu mỡ, độ ẩm cao, được sử dụng để trồng lúa và hoa màu Phân bố trong các thung lũng hẹp giữa núi và ven các sông suôi suối lớn (FIPI, 1992)[8]
2.1.3 Khí hậu
Tam Đảo là dãy núi lớn, bao gồm một vùng lãnh thổ rộng và có sự phân hóa theo độ cao rất đa dạng, vì vậy khái quát hóa các đặc trưng khí hậu toàn vùng không phải là vấn đề đơn giản Các nhà lâm học (FIPI) dựa trên các
số liệu khí tượng của trạm Tam Đảo và các trạm xung quanh (Tuyên Quang, Vĩnh Yên, Đại Từ) để đưa ra các nhận định khái quát cho toàn vùng như sau:
Trang 16Thuộc chế độ khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa vùng cao Dựa vào các số liệu quan trắc bình quân nhiều năm của các đài khí tượng Đại Từ, Tuyên Quang, Vĩnh Yên, Tam Đảo (thị trấn Tam Đảo)
Bảng 2.1 Số liệu khí tượng của các trạm trong vùng
Tên yếu tố
Trạm Tuyên Quang
Trạm Vĩnh Yên
Trạm Đại Từ
Trạm Tam Đảo Nhiệt độ trung bình năm (0C) 22,9 23,7 22,9 18,0 Nhiệt độ tối cao trung bình (0C) 41,4 41,5 41,3 33,1 Nhiệt độ tối thấp trung bình (0C) 0,4 3,2 3,0 -0,2 Lượng mưa trung bình năm (mm) 1641,4 1603,5 1906,2 2630,9
Số ngày có mưa trong năm 143,5 142,5 193,4 193,7 Lượng mưa tối đa/ngày 350 284,0 352,9 295,5
Lượng bốc hơi nước (mm) 760,3 1040,1 985,5 561,5
Trạm Tuyên Quang và Vĩnh Yên đặc trưng cho khí hậu sườn phía Tây, trạm Đại Từ đặc trưng cho khí hậu sườn phía Đông; trạm Tam Đảo ở độ cao gần 900m trên mực nước biển đặc trưng cho khí hậu trên cao của khu bảo tồn
- Sườn Tây có vũ lượng trên 1600mm/năm, vào loại trung bình Sườn Đông có vũ lượng trên 1900mm/năm, vào loại nhiều; Đó là sườn đón được gió mang hơi ẩm thổi từ biển vào Trên đỉnh còn có lượng mưa trên 2600mm/năm, vào loại mưa rất nhiều vì ngoài lượng mưa giống như vùng thấp nó còn được hưởng lượng nước do mưa địa hình mang lại
Trang 17- Tổng lượng mưa trong mùa hè và thu rất cao (>90% tổng lượng mưa năm), mùa mưa kéo dài hơn 7 tháng (suốt từ tháng 4 đến tháng 10).Về mùa đông
và xuân lượng mưa không đáng kể, chỉ chiếm dưới 10% lượng mưa năm
- Số ngày mưa khá nhiều, sườn Tây trên 140 ngày/năm, sườn Đông và vùng đỉnh trên 190 ngày/năm
- Cường độ mưa rất lớn, có nhiều trận mưa trên 350mm/ngày
- Tần suất xuất hiện những trận mưa to và rất to trong mùa mưa trên 20%, tập trung vào các tháng 6, 7, 8, 9; cao nhất là các tháng 8 và 9 (đỉnh mưa đều nằm trong tháng 8), xói mòn và những trận lũ lớn đều xảy ra vào những thời gian này
- Hàng năm có trên 60 ngày dông tại trạm và một trận bão đi qua với tốc độ gió trên cấp 8 Vì thế khi xây dựng các công trình trong vùng đều có hệ thống chống sét và gió giật cẩn thận, điển hình là cột phát sóng truyền hình trên đỉnh Tam Đảo
- Do điều kiện địa hình, địa mạo đã chi phối mạnh mẽ đặc điểm khí hậu trong vùng nên nhiệt độ vùng thấp biến động từ 22,90C đến 23,70C, tháng lạnh nhất trên 150C (tháng 1), tháng nóng nhất trên 280C (tháng 7) Riêng vùng đỉnh có nền nhiệt độ thấp hơn cả, bình quân 180C, lạnh nhất là 10,80C (tháng 1), nóng nhất 230C (tháng 7) Vùng thấp số giờ nắng đều trên 1600 giờ/năm, lượng bức xạ dồi dào; Riêng Tam Đảo chỉ có 1200 giờ/năm vì thường có mây che phủ trong mùa xuân – hè
- Đầu mùa đông thường có dạng thời tiết khô hanh, cộng với gió mùa đông - bắc mạnh làm cho lượng bốc hơi tăng Sang xuân có mưa phùn (vùng thấp có 20 ngày/năm, vùng cao số ngày mưa phùn lên đến trên 46 ngày) làm giảm đáng kể lượng bốc hơi Lượng bốc hơi, vì vậy, có sự khác biệt rõ rệt giữa vùng thấp (xấp xỉ 1000mm/năm) và vùng cao (Tam Đảo chỉ có 560mm/năm)
Trang 18- Độ ẩm bình quân vùng thấp >80%, vùng cao >87% Mùa mưa, nhất là khi có thời tiết mưa phùn độ ẩm lên tới trên 90%, nhưng mùa khô chỉ còn 70-75%, cá biệt có ngày chỉ 6%, vì vậy thời tiết rất khô hanh, dễ gây ra cháy rừng (FIPI, 1992)[8]
Đặng Trung Thuận và cộng sự (2006) cho rằng Tam Đảo nói riêng, cũng như Vĩnh Phúc nói chung nằm trong khu vực khí hậu gió mùa chí tuyến,
có mùa đông lạnh, khô Dựa vào chuỗi số liệu các đặc trưng khí hậu giai đoạn 1975-2004 tại trạm khí tượng Tam Đảo đã nêu ra các nhận định như sau:
Nhiệt độ không khí: Bình quân nhiều năm khoảng 18,30C, nhiệt độ không khí trung bình cao nhất nhiều năm là 21,40C Nhiệt độ không khí trung bình thấp nhất nhiều năm là 16,40C Nhiệt độ cao nhất tuyệt đối là 33,40C, nhiệt độ thấp nhất tuyệt đối là 00C Chênh lệch nhiệt độ ngày đêm khá lớn, khoảng 10-150C
Lượng mưa năm: Trung bình nhiều năm là 2355mm, cao hơn nhiều so với lượng mưa bình quân cả nước (1960mm/năm) và của tỉnh Vĩnh Phúc (1500-1800mm/năm) Lượng mưa ngày lớn nhất đạt 318,6mm Bình quân hàng năm có khoảng 203 ngày mưa, tập trung chủ yếu trong tháng 6 Mùa mưa ở Tam Đảo kéo dài hơn so với các nơi khác của tình Vĩnh Phúc (5 tháng) Mỗi năm xuất hiện bình quân 60 ngày có dông Một vài năm còn xuất hiện hiện tượng mưa đá
Độ ẩm: Độ ẩm tương đối bình quân nhiều năm là 87,7%; độ ẩm tương đối trung bình thấp nhất bình quân nhiều năm là 76,2%; độ ẩm tương đối thấp nhất tuyệt đối là 6% Độ ẩm tuyệt đối trung bình là 19,1%
Sương mù: Hàng năm bình quân có 118 ngày có hiện tượng sương mù Tổng lượng mây: Trung bình nhiều năm bằng 8
Số giờ nắng: Một năm bình quân có 1212 giờ
Tổng lượng bốc hơi: Bình quân nhiều năm là 512mm, là khá thấp so với bình quân bốc hơi toàn quốc
Trang 19Tốc độ gió: Bình quân là 3,0m/s; tốc độ gió cực đại đến 30m/s (Dẫn theo Đặng Trung Thuận, 2006)[22]
2.1.4 Phân vùng sinh thái VQG Tam Đảo
Qua công tác khảo sát và đánh giá điều kiện tự nhiên, các nhà lâm học (FIPI, 1992) phân chia khu bảo tồn thiên nhiên Tam Đảo thành bốn vùng sinh thái khác nhau, kết quả được thể hiện qua bảng 2.2
2.1.5 Cấu trúc các hệ sinh thái chính VQG Tam Đảo
Vườn Quốc gia Tam Đảo có các kiểu rừng chính sau:
- Kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới
- Kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới núi thấp
- Kiểu rừng lùn trên đỉnh núi
- Một số kiểu rừng khác
21.5.1 Rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới
Kiểu rừng này thường phân bố ở độ cao dưới 800m, nhưng do ảnh hưởng của độ dốc, hướng phơi mà loại rừng này có thể phân bố ở độ cao 900 - 1000m Kiểu rừng này bao phủ phần lớn dãy núi Tam Đảo với những loài cây
có giá trị kinh tế như Chò chỉ (Shoera chinensis), Giổi (Michelia sp ), Re (Cinnamomum sp.)…Do sự gia tăng dân số quá nhanh và nhu cầu về gỗ củi của
nhân dân trong vùng cũng tăng theo, nên kiểu rừng này cũng bị khai thác, lợi dụng nhiều trong những năm từ 1970 - 1995 Diện tích kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới nguyên sinh còn lại rất ít, đa phần đã bị tàn phá với hình thức chặt chọn làm kết cấu tổ thành loài và tầng thứ thay đổi nhiều
Trang 20Bảng 2.2 Các vùng sinh thái VQG Tam Đảo
Các tiêu chí và đơn vị
Vùng 1 Vùng núi cao trung bình Tam Đảo (Vùng đỉnh)
Vùng 2 Vùng núi thấp và đồi cao sườn Tây Tam Đảo
Vùng 3 Vùng núi thấp
và đồi cao sườn Đông Tam Đảo
Vùng 4 Thung lũng và đồng bằng chân Tam Đảo
Khí hậu
Nhiệt độ trung bình/ năm ( 0 C)
Nhiệt độ trung bình tháng lạnh nhất ( 0 C)
Lượng mưa bình quân/năm (mm)
Số ngày mưa /năm (ngày)
Số tháng khô (tháng)
15-19 10-14
> 2500 >190 không
20-24 15-19 1500-2000 > 140 3-4
20-24 15-19
2000-2500 >190
3
20-24 15-19
1500-2000 140-190 3-4 Địa hình Núi cao trung bình 700-1700m Độ dốc* cấp V
Đồi cao và núi thấp >100 đến 700m Độ dốc cấp III-IV
Đồi cao và núi thấp
>100 đến 700m Độ dốc cấp IV
Thung lũng và đồng bằng ven sông < 100m
Độ dốc cấp I Địa chất Rionit cứng rắn khó phong hóa Nhóm đá axit cứng, khó phong hóa Nhóm đá axit cứng, khó phong hóa Sản phẩm xung tích bồi tụ cấp hạt mịn Thổ nhưỡng Đất feralit màu vàng nhạt trên núi, tầng đất rất mỏng, đá lộ >75%
Đất feralit vàng đỏ hay
đỏ vàng, tầng đất mỏng đến trung bình, thị nhẹ
Đất feralit vàng đỏ hay
đỏ vàng, tầng đất mỏng đến trung bình, thị nhẹ
Đất dốc tụ hoặc phù sa, thịt trung bình, giàu dinh dưỡng
Thảm thực vật Rừng lá rộng thường xanh - Rừng lùn đỉnh núi
Rừng kín lá rộng thường xanh vùng đồi và núi thấp
Rừng kín lá rộng thường xanh vùng đồi
Đặc trưng cho hệ động vật phía Bắc Các loài quý hiếm bị săn bắn nhiều, hiện nay không thấy xuất hiện
Chủ yếu là vật nuôi trong gia đình (gia súc, gia cầm)
Ảnh hưởng xã hội con người Rừng cũng bị con người tác động song còn ở mức độ nhẹ không có
dân ở
Rừng đã bị tác động nặng nề, khai thác, làm rẫy nhưng chưa có dân ở trong vùng
Rừng đã bị tác động nặng nề khai thác, làm rẫy nhưng chưa có dân
ở trong vùng
Là nơi định cư của nhân dân trong vùng, toàn bộ đất đai đã được khai phá làm ruộng
Trang 21Nhìn chung quần hệ thực vật kiểu rừng này gồm nhiều tầng có chiều cao tới 25m, tán kín rậm với những loài cây lá rộng thường xanh hợp thành
- Tầng vượt tán hình thành bởi một số loại cây họ Dầu (Dipterocarpaceae) như: Chò nâu (Dipterocarpus petusus), Táu muối (Vatica fleuryana), Giổi (Michelia sp.), và Trường mật (Paviesia annamensis)…
- Tầng ưu thế gồm một số loài cây thuộc họ Re (Lauraceae), họ Dẻ (Fagaceae), họ Sim (Myrtaceae), họ Cà phê (Rubiaceae),
- Tầng dưới tán gồm một số loài cây mọc rải rác dưới tán rừng thuộc các họ
Máu chó (Myristicaceae), họ Na (Annonaceae)
- Dưới nữa còn tầng cây bụi có các loài thuộc họ Cà phê (Rubiaceae), Đơn nem (Myrsinaceae), họ Trúc đào (Apocynaceae) cuối cùng là tầng cỏ Quyết,
ở những nơi khe ẩm có xuất hiện loài Quyết thân gỗ
2.1.5.2 Rừng kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới núi trung bình
Rừng kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới núi thấp ở Tam Đảo phân bố
từ độ cao 800m trở lên nhưng đôi khi phân bố trên 900m Quần hệ thực vật
của kiểu rừng này không còn các loài thuộc họ Dầu (Dipterocarpaceae) Thực vật bao gồm các loài họ Re (Lauraceae), họ Dẻ (Fagaceae), họ Chè (Theaceae), họ Mộc lan (Magnoliaceae), họ Sau sau (Hamamelidaceae) Đây
là vành đai của những loài cây thuộc khu hệ á nhiệt đới, còn được gọi là vành đai mây Không khí luôn ở tình trạng bão hoà hơi nước, nên tạo điều kiện thuận lợi cho Rêu và Địa y phát triển Ngoài những cây thuộc các họ kể trên,
từ độ cao 1000, trở lên xuất hiện một số loài cây thuộc ngành Hạt Trần như
Thông nàng (Dacrycarpus imbricatus), Pơ mu (Fokienia hodginsii), Thông tre (Podocarpus neriifolius) Ngoài ra, còn thấy các loài Thông Yên Tử (Podocarpus pilgeri), và Kim giao (Nageia fleuryi)
Ở một vài nơi trên sườn Đông núi Tam Đảo thuộc huyện Đại Từ, mật
độ cây Hạt trần dày hơn, chủ yếu là Pơ mu (Fokienia hodginsii) tạo nên một
quần thể hỗn hợp giữa các loài cây lá rộng và lá kim còn gọi là kiểu phụ hỗn
Trang 22hợp lá rộng, lá kim Dưới tán rừng á nhiệt đới thường có Vầu đắng Lên cao
hơn nữa là Sặt gai (Arundinaria giffithiana) mọc dày đặc dọc theo các dông
núi Ven theo các sườn núi thường có các loài cây bụi thuộc họ Cà phê
(Rubiaceae), họ Đơn nem (Myrsinaceae), họ Thầu dầu (Euphorbiaceae)…
2.1.5.3 Rừng lùn trên đỉnh núi
Rừng lùn trên đỉnh núi là một kiểu phụ đặc thù của rừng kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới núi thấp được hình thành trên các đỉnh dông dốc hay các đỉnh núi cao đất xương xẩu, nhiều nắng gió, mây mù thường xuyên bao phủ Cây cối ở đây thường thấp bé, phát triển chậm, thân và cành được Địa y và Rêu bao phủ Đất dưới tầng rừng khá mỏng nhưng có tầng thảm mục khá dày (ở một số nơi như đỉnh Rùng Rình, tầng thảm mục có thể dày hơn 1m) Thực vật chủ
yếu là các loài cây thuộc họ Đỗ quyên (Ericaceae), Giổi nhung (Michelia
faveolata), Hồi núi (Illicium griffithii) Từ các đỉnh cao của Tam Đảo xuống thấp
hơn, các loài thuộc họ Đỗ quyên giảm dần, các loài thuộc họ Re (Lauraceae), họ Hồi (Illiciaceae), họ Thích (Aceraceae) tăng lên về số lượng cá thể
2.1.5.4 Rừng tre nứa
Khi rừng thuộc hai loại trên bị phá thì các loài Tre, nứa mọc xen vào hoặc chuyển hẳn thành rừng tre, nứa Ở đai cao hơn 800m, loài tre tiêu biểu là Vầu và Sặt gai Đai trung bình là Giang (ở độ cao từ 500 - 800m), còn thấp hơn (dưới 500m) là Nứa
2.1.5.5 Rừng phục hồi sau nương rẫy
Vườn Quốc gia Tam Đảo có 23 xã vùng đệm nằm trên địa bàn 3 tỉnh Vĩnh Phúc, Thái Nguyên và Tuyên Quang bao quanh Rừng ở đây trước những năm 80 bị tác động mạnh bởi hoạt động khai thác gỗ của các Lâm trường đóng trên địa bàn giáp ranh với Vườn và canh tác nương rẫy của nhân dân vùng đệm Sau khi thành lập Vườn Quốc gia Tam Đảo, việc đốt nương làm rẫy đã giảm xuống rõ rệt Do tác động mạnh của con người, thành phần thực vật ở đây ít nhiều có biểu hiện cho thực vật rừng thứ sinh được phục hồi
Trang 23sau khi đất được sử dụng cho canh tác nương rẫy hoặc phục hồi sau khi rừng được khai thác Sau khi khai thác, làm nương rẫy rừng được khôi phục bởi
các loài như Bục trắng (Mallotus apelta), Bục bạc (Mallotus paniculatus), Ba soi (Macaranga denticulata), Bồ cu vẽ (Breynia fruticosa), Thẩu tấu (Aporosa dioica), Dền (Xylopia vielana), Dung (Symplocos sp.), Màng tang (Litsea cubeba), … Loại hình rừng này thường mọc thành các chòm rải rác
thuộc các xã như Quân Chu, Phú Xuyên, La Bằng thuộc huyện Đại Từ và các
xã Hợp Hoà, Kháng Nhật thuộc huyện Sơn Dương
Trên các loài đất Feralit đỏ vàng, đỏ nâu, vàng, có rừng thứ sinh với thành phần loài cây phong phú hơn cụ thể là các loài cây tiên phong ưa sáng
mọc nhanh trong đó đáng lưu ý nhất là Mán đỉa (Pithecolobium clypearia), Chẹo tía (Engelhardtia sp.), Dung (Symplocos sp.), Lim xẹt (Peltophorum
ptorocarpum)…Rừng phục hồi ít bị tác động được thấy ở các xã thuộc huyện
Sơn Dương Do các diện tích đó được giao khoán cho người dân chăm sóc Vì vậy, các loài thực vật rừng có giá trị còn tồn tại khá phong phú, trong đó Lim
xanh (Erythrophloeum fordii), Trâm (Syzygium sp.), Mán đỉa (Pithecolobium
clypearia), Côm (Elaeocarpus silvetris), Trám (Canarium spp.), các loài họ
Xoan (Meliaceae), đại diện các loài Ficus spp (họ Moraceae), Thôi chanh (Alangium chinense), Sòi tía (Sapium discolor), Sau sau (Liquidambar
formosana), một số loài cây bụi và thảo thuộc họ Mua (Melastomataceae),
như Melastoma, Mememcylon, Medinilla… hoặc Dương xỉ thân gỗ Cyathea,
và các loài thuộc Dương xỉ
2.1.5.6 Rừng trồng
Rừng trồng Tam Đảo đã có từ thời kỳ Pháp thuộc Đó là những diện
tích rừng Thông đuôi ngựa (Pinus massoniana) được trồng dọc hai ven đường
lên thị trấn Tam Đảo để tạo cảnh quan đẹp cho khu du lịch Tam Đảo, cải thiện môi trường sinh thái và rừng Lim xanh rất tươi tốt chạy dọc theo dải đồi thấp
từ xóm Thông đến gần đồi Giếng Do con người chặt phá nên hiện nay rừng
Trang 24đó chỉ có khoảng 190 ha ở Phù Mây với mật độ 300 cây/ha Loài dứa hoa được trồng dưới tán rừng Lim xanh sinh trường phát triển rất tốt cho năng suất cao và chất lượng quả ngon Năm 1962, công tác trồng rừng mới được bắt đầu trở lại ở Tam Đảo Loài cây trồng chủ yếu là những loài cây nhập nội như Thông, Bạch đàn và gần đây là Keo lá tràm và Keo tai tượng
2.1.5.7 Trảng cây bụi
Thành phần thực vật trảng cây bụi không phong phú nhưng số lượng
cá thể lại nhiều Nguyên nhân chính là do sự thoái hoá của đất, thành phần dinh dưỡng nghèo, độ ẩm thấp, xói mòn xảy ra mạnh mẽ Đây là những vùng núi đất phát triển trên đá sa thạch, phiến thạch sau nhiều lần rừng bị khai phá làm nương hoặc chặt trắng hoặc bị đốt cháy thường xuyên hoặc sau khai thác
mỏ (mỏ thiếc Sơn Dương, mỏ thiếc than núi Hồng, Đại Từ) các loại trảng được hình thành, sau đó các loại cây bụi ưa sáng mọc nhanh cũng xuất hiện
và phát triển tốt Thành phần các loài cây bụi ở đây là các cây ưa sáng, chịu
hạn, nhiều khi có cả lá cứng và có gai Phổ biến là Thẩu tấu (Aporosa dioica), Thổ mật (Bridelia tomentosa), Thao kén (Helicteres spp.), Bồ cu vẽ (Breynia
fruticosa), Me rừng (Phyllanthus emblica), Mua rừng (Melastoma soptemnervium), Sim (Rhodomyrtus tomentosa), Màng tang (Litsea cubeba),
Sầm (Memexylon edule), Chổi xuể (Baeckea frutescens), Lau (Saccharum),
Tơ xanh (Casytha filiormis), Bòng bong (Lygodium sp.), Kim cang (Smilax
sp.), cỏ tranh (Imperata cylindrica), Seo gà (Pteris multifida)…, Số cá thể
nhiều thường tập trung vào một số họ như họ Mua (Melastomaceae), họ Sim (Myrtaceae), họ Hoà Thảo (Poaceae)
2.1.5.8 Trảng cỏ
Thành phần thực vật trảng cỏ được hình thành trên các kiểu rừng đã bị khai thác, đất bị thoái hoá mạnh do đốt nương hàng năm, có thể phân biệt bằng hai loại hình sau:
Trang 25- Trảng cỏ cao: thường gồm các loài cỏ cao khoảng 2m mọc thành từng
bụi như Lách (Saccharum spontaneum), Cỏ chít (Thysanolema maxima), mọc chung với cỏ Lào (Chromolaena odorata), rải rác trên trảng cỏ này có các cây bụi như: Thao kén (Helicteres spp.), Chổi xuể (Baeckea frutescens), Thẩu tấu (Aporosa dioica), Bùm bụp (Mallotus barbatus), Bồ cu vẽ (Breynia
fruticosa)… Trảng cỏ cao phân bố rải rác ở độ cao dưới 400m ở các bãi trống
ven đường Tam Đảo 1
- Trảng cỏ thấp: Thường gồm các loài cỏ thấp hơn 1m, mọc thành thảm
cỏ dày đặc hoặc rải rác Thành phần loài tương đối nghèo nàn, cỏ tranh
(Imperata cylindrica) chiếm ưu thế Ngoài ra còn có cỏ đắng (Paspalum
scrobiculatum), cỏ sâu róm (Setaria viridis), …
2.2 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là các loài cây rừng tái sinh dưới tán rừng Thông
mã vĩ (Pinus massoniana Lamb) ở 5 cấp độ tuổi là: 21 tuổi; 28 tuổi; 40 tuổi;
47 tuổi và 70 tuổi
2.3 Phạm vi nghiên cứu
2.3.1 Giới hạn về địa điểm nghiên cứu
Địa điểm nghiên cứu trong khuôn khổ luận văn này giới hạn tại khu vực vùng đệm của Vườn Quốc gia Tam Đảo Số liệu được thu thập tại các ô tiêu chuẩn của rừng Thông mã vĩ tại các tuổi khác nhau, độ cao khác nhau và các yếu
tố lập địa khác nhau (độ dốc, hướng phơi, độ dày tầng đất A, …)
2.3.2 Giới hạn về nội dung nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu những ảnh hưởng của các yếu tố tự nhiên đến đặc điểm tái sinh dưới tán rừng Thông mã vĩ
Trang 26Chương 3 MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Mục tiêu nghiên cứu
3.1.1 Về lý luận
Góp phần tìm hiểu đặc điểm tái sinh tự nhiên dưới tán rừng Thông mã
vĩ (Pinus massoniana Lamb) tại Vườn Quốc gia Tam Đảo
3.1.2 Về thực tiễn
- Đánh giá được đặc điểm tái sinh tự nhiên dưới tán rừng Thông mã vĩ
- So sánh được đặc điểm tái sinh dưới tán rừng Thông mã vĩ và đặc điểm tái sinh dưới tán rừng tự nhiên
- Đánh giá được ảnh hưởng của một số nhân tố đến tái sinh tự nhiên dưới rừng Thông mã vĩ
3.2 Nội dung nghiên cứu
3.2.1 Một số đặc điểm cấu trúc rừng Thông mã vĩ
Độ tàn che
Mật độ hiện tại
Sinh trưởng D1.3 và Hvn
Phân bố N/D1.3
3.2.2 Đặc điểm tái sinh tự nhiên dưới tán rừng Thông mã vĩ
Tổ thành cây tái sinh
Mật độ cây tái sinh
Phân bố chiều cao cây tái sinh
Một số chỉ tiêu đa dạng sinh học (ĐDSH) về cây tái sinh
3.2.3 Tổ thành rừng tự nhiên
Tổ thành cây tái sinh dưới tán rừng tự nhiên
Một số chỉ tiêu đa dạng sinh học cây tái sinh dưới tán rừng tự nhiên
So sánh tái sinh dưới tán rừng tự nhiên và dưới tán rừng Thông mã vĩ
Trang 273.2.4 Một số nhân tố ảnh hưởng đến tái sinh tự nhiên dưới tán rừng Thông
mã vĩ
Địa hình: Hướng phơi, độ dốc, độ cao
Nguồn giống: khoảng cách đến rừng tự nhiên
Độ tàn che của tán rừng
3.3 Phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Trình tự các bước nghiên cứu
Hình 3.1 Mô tả các bước nghiên cứu
3.3.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể
Điều tra thực vật
Rừng trồng Thông mã vĩ Rừng tự nhiên
Mô tả các đặc điểm rừng trồng thông
(tuổi, khoảng cách tới rừng tự nhiên,
Tìm hiểu các nhân tố ảnh hưởng đến
các loài cây tái sinh dưới tán rừng
Trang 283.3.2.1 Đối với cấu trúc rừng Thông mã vĩ
Lập 50 ô tiêu chuẩn (OTC) có diện tích 1000m2 (25m x 40m ), mỗi cấp tuổi 10 OTC để nghiên cứu về đặc điểm cấu trúc của Thông mã vĩ Trong các OTC tiến hành đo đếm tất cả các cây theo các chỉ tiêu :
Bảng 3.1 Phiếu điều tra rừng Thông mã vĩ
Code: ……… …… Vị
trí:………
Ngày điều tra: ……… Người điều tra:………
Đường kính ngang ngực được đo bằng thước dây để đo chu vi, từ chu
vi tính ra đường kính bằng công thức chuyển đổi trên máy tính Chiều cao (Hvn) xác định bằng thước Vertex III điện tử
Đường kính tán được đo bằng thước dây theo hình chiếu tán trên mặt phẳng nằm ngang Đo hai chiều Đông Tây và Nam Bắc rồi tính trị số bình quân
Trang 29Các thông tin quan trọng khác cũng được thu thập như vị trí ô tiêu chuẩn, khoảng cách ô đến rừng tự nhiên, độ cao, độ dốc, hướng phơi và tầng đất
Phương pháp xác định khoảng cách từ rừng trồng đến rừng tự nhiên đề tài đã sử dụng máy GPS xác định tọa độ OTC của rừng trồng và rừng tự nhiên, sau đó xác định tọa độ trên bản đồ tỷ lệ 1/10000 để xác định khoảng cách
3.3.2.2 Đối với tái sinh dưới tán rừng Thông mã vĩ
Trong mỗi OTC thiết lập thành 10 ô dạng bản có diện tích 100m2 Trong mỗi ô dạng bản tiến hành điều tra cây gỗ tái sinh và cây bụi:
+ Đối với cây gỗ tái sinh, điều tra các chỉ tiêu:
- Loài cây: Hầu hết các loài thực vật được xác định tên tại rừng với chuyên gia thực vật và kiến thức bản địa của người dân Loài nào chưa xác định được tên ngay sẽ được lấy mẫu (lá, hoa, quả) và chụp ảnh để xác định sau
- Số lượng cây của từng loài: Chỉ tiêu này được tổng hợp sau khi tất cả các loài đã được giám định tên
Bảng 3.2 Phiếu điều tra cây tái sinh dưới tán rừng Thông mã vĩ
Trang 30- Chiều cao cây tái sinh: Được đo bằng thước sào có khắc vạch, từ số liệu thu thập được về chiều cao của cây tái sinh đề tài chia chúng thành các cấp như sau: cấp 1(H<1m), Cấp 2 (1≤H<2m), Cấp 3 (2≤H<3m), Cấp 4 (3≤H<4m), Cấp 5 (4≤H<5m), Cấp 6 (5≤H<6m), Cấp 7 (6≤H<7m) và Cấp 8 (H>7m) Số liệu thu thấp được ghi lại theo mẫu bảng 3.2:
Bảng 3.3 Phiếu điều tra cây bụi thảm tươi
Ngày điều tra:……… Người điều tra:………
+ Đối với cây bụi tái sinh dưới tán rừng cũng điều tra các chỉ tiêu như đối với cây gỗ tái sinh, riêng chiều cao cây bụi chia làm 4 cấp:Cấp 1(H<1m), Cấp 2 (1≤H<2m), Cấp 3 (2≤H<3m), Cấp 4 (H≥4m) Số liệu thu thấp được ghi lại theo mẫu bảng 3.3
3.3.2.3 Đối với rừng tự nhiên
Lập 5 OTC có diện tích 1000m2 trên đó bố trí các ô dạng bản (100m2)
để điều tra về tái sinh dưới tán rừng Nội dung điều tra được tiến hành như với rừng trồng Thông mã vĩ
3.3.3 Xử lý số liệu
Việc chỉnh lý số liệu, lập các dẫy phân bố thực nghiệm, tính toán các đặc trưng mẫu được xử lý đồng bộ trên máy vi tính theo chương trình ứng
STT Loài cây tái
Trang 31dụng phần mềm "Xử lý thống kê kết quả nghiên cứu thực nghiệm trong Nông nghiệp trên máy vi tính" của Nguyễn Hải Tuất và Ngô Kim Khôi Phần mềm SPSS 13.5 [25]
Lâm-3.3.3.1 Tính mật độ
Mật độ cho biết số lượng cá thể trung bình của loài nghiên cứu trên mỗi
ô tiêu chuẩn (quadrat), được tính theo công thức sau đây (Oosting, 1958; Rastogi, 1999; Sharma, 2003)
3.3.3.2 Về cấu trúc của rừng trồng Thông mã vĩ
Các chỉ tiêu sinh trưởng bao gồm D1,3; Hvn và Dt được tính toán cụ thể như sau:
Các đặc trưng mẫu của các chỉ tiêu định lượng:[12]
1 i i
x n
- Xác định phân bố số cây theo đường kính và mô hình hóa quy luật cấu
trúc tần số Căn cứ vào phân bố thực nghiệm, tiến hành mô hình hóa quy luật câu trúc tần số theo những phân bố lý thuyết khác nhau
+ Phân bố giảm (hàm phân bố mũ) Trong lâm nghiệp thường dùng hàm Mayer để mô phỏng quy luật cấu trúc tần số số cây theo cấp đường kính Hàm Mayer có dạng: [22]
Trang 32Trong đó: ft là tần số quan sát, x là cỡ kính
α, β là hai tham số của hàm Mayer
+ Phân bố Wiebull: Là phân bố xác xuất của biến ngẫu nhiên liên tục với miền giá trị (0, +∞), hàm có dạng:
Trong đó: α, là hai tham số của phân bố Wiebull Tham số đặc trưng cho độ nhọn của phân bố, tham số α biểu thị cho độ lệch của phân bố
Nếu α =1 thì phân bố có dạng giảm
Nếu α = 3 thì phân bố có dạng đối xứng
Nếu α>3 thì phân bố có dạng lệch phải
Nếu α <3 thì phân bố có dạng lệch trái
Tham số được ước lượng theo phương pháp tối đa hợp lý bằng công thức:
Kiểm tra giả thuyết của luật phân bố: Cho giả thuyết H 0: F(x) = F0(x), trong
đó F0(x) là một hàm hoàn toàn xác định Để kiểm tra giả thuyết H0, người ta dùng tiêu chuẩn phù hợp 2 của Pearsion, công thức tính như sau:
Trong đó: ft là trị số thực nghiệm; flt là trị số lý thuyết
Nếu 2 tính ≥ 205 tra bảng với bậc tự do k=m-r-1 thì phân bố lý thuyết không phù hợp với phân bố thực nghiệm
3.3.3.3 Xác định tổ thành
- Xác định tổ thành loài theo số cá thể của mỗi loài Công thức tổ thành loài
có dạng: k i a i = k 1 a 1 + k 2 a 2 +….+k m a m ( với i =1 đến m)
i = 1 đến m là số loài có mặt trong công thức tổ thành
a i là tên loài i tham gia vào công thức tổ thành
Trang 33k i là hệ số tổ thành của loài i
Trong đó: ni là số cây của loài thứ i
N: Tổng số cây điều tra
Hệ số tổ thành biểu diễn bằng hệ số 10, những loài có ki <0.05 thì không tham gia vào công thức tổ thành loài cây
3.3.3.4 Xác định mật độ cây tái sinh
Mật độ cây tái sinh được xác định tương tự như mật độ tầng cây cao nhưng được tính riêng cho từng loài và gộp chung lại cho toàn bộ diện tích nghiên cứu
3.3.3.5 Một số chỉ tiêu đa dạng sinh học
Chỉ số đa dạng (H) (Shannon and Weiner ’ Index)[10]
Chỉ số đa dạng sinh học được tính theo phương pháp của Shannon và Weiner (1963) Theo công thức [11]
Trong đó :
H là chỉ số đa dạng sinh học hay chỉ Shannon Weiner
Ni = Số lượng cá thể loài thứ i
N = Tổng số số lượng cá thể của tất cả các loài trong hiện trường
Chỉ số mức độ chiếm ưu thế (Concentration of Dominance-Cd):[11]
Chỉ số này được tính toán theo Simpson (1949) như sau:
Trong đó: Cd = Chỉ số mức độ chiếm ưu thế hay còn gọi là chỉ số Simpson,
Ni = Số lượng cá thể thứ i
N = Tổng số số lượng cá thể của tất cả các loài trong hiện trường
Trang 34 Chỉ số tương đồng SI (Index of similarity hay Sorensen ’ Index) [11]
SI = 2C/ (A + B)
Trong đó: C là số loài xuất hiện ở cả hai quần thể A&B
A,B là số lượng loài của quần thể A, quần thể B
3.3.3.9 Các nhân tố ảnh hưởng đến cây tái sinh
Ảnh hưởng của độ dốc: Đề tài chia độ dốc thành 5 cấp: Cấp 1: <50; Cấp 2: 5-100; Cấp 3: 10-200; Cấp 4: 20-300; Cấp 5> 300 Độ dốc đươc xác định bằng địa bàn cầm tay
Ảnh hưởng của độ cao: Đề tài chia độ cao thành 4 cấp: Cấp 1: 200m; Cấp 2: 200-300m; Cấp3: 300-400m; Cấp 4: >400m Độ cao của các OTC được xác định bằng máy GPS cầm tay
100-Ảnh hưởng của khoảng cách đến rừng tự nhiên: đề tài cũng chia thành
4 cấp: Cấp 1: <100m; Cấp 2: 100-300m; Cấp 3: 300-500m; Cấp 4: >500m Khoảng cách từ các OTC đến rừng tự nhiên được xác định trên bản đồ thông qua tọa độ được xác định ngoài thực tế bằng máy GPS
Ảnh hưởng của hướng phơi: Đề tài đánh giá theo các hướng của các ô tiêu chuẩn
Trang 35Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 4.1 Đặc điểm cấu trúc rừng Thông mã vĩ
Đề tài nghiên cứu ở 5 cấp tuổi của rừng Thông mã vĩ trên 50 ô tiêu chuẩn, mỗi cấp tuổi 10 OTC, kết quả được thể hiện chi tiết ở bảng 4.1, phụ lục số 01, 02 Qua bảng 4.1 cho thấy:
- Vị trí các OTC:
Rừng Thông mã vĩ 21 tuổi: độ cao OTC trung bình so với mực nước biển của rừng Thông mã vĩ 21 tuổi là 133m, độ dốc là 21.30; độ dày tầng đất
là 6cm; khoảng cách tới rừng tự nhiên là 510m
Rừng Thông mã vĩ 28 tuổi: độ cao so với mực nước biển là 127m; độ dốc
là 14.20; độ dầy tầng đất là 6.6cm; khoảng cách tới rừng tự nhiên là 144m
Rừng Thông mã vĩ 40 tuổi: độ cao so với mực nước biển là 128m; độ dốc
là 11.90; độ dầy tầng đất là 8.55cm; khoảng cách tới rừng tự nhiên là 123m
Rừng Thông mã vĩ 47 tuổi: độ cao so với mực nước biển là 295m; độ dốc là 180; độ dầy tầng đất là 7.5cm; khoảng cách tới rừng tự nhiên là 255m
Rừng Thông mã vĩ 70 tuổi: độ cao so với mực nước biển là 409m; độ dốc là 5.90; độ dầy tầng đất là 16.1cm; khoảng cách tới rừng tự nhiên là 87m
Một số đặc điểm cấu trúc của rừng trồng Thông mã vĩ tại VQG Tam đảo:
- Về mật độ: Rừng trồng 28 tuổi có mật độ cao nhất 658 cây/ha, thấp nhất là rừng 47 tuổi 200 cây/ha Như vậy, ở đây mật độ không tuân theo quy luật về mối quan hệ giữa mật độ và tuổi Nguyên nhân là rừng trồng thường xuyên được con người tác động và đã tác động trực tiếp vào mật độ cây
- Về các đại lượng điều tra :
Đường kính 1.3m của rừng Thông nhìn chung tăng theo tuổi của cây, đường kính lớn nhất thuộc về rừng 70 tuổi (42.9cm), thấp nhất là rừng trồng 28 tuổi (24.6cm) Như vậy, đường kính của rừng trồng 28 tuổi thấp hơn đường
Trang 36kính của rừng trồng 21 tuổi Nguyên nhân là do sự tác động của con người đến cấu trúc của rừng và rừng trồng 28 tuổi thường xuyên có hoạt động chăn thả gia súc Hệ số biến động về đường kính ngang ngực cao nhất ở tuổi 70 (28.7%), thấp nhất ở tuổi 47 (22%)
Chiều cao vút ngọn (Hvn) tăng theo tuổi của cây, cao nhất ở rừng 70 tuổi (34.1m) và thấp nhất ở rừng 28 tuổi (16.1m) Hệ số biến động chiều cao lớn nhất ở rừng 21 tuổi (19.3%) và thấp nhất ở rừng 47 tuổi (16.2%)
Độ tàn che: Rừng Thông mã vĩ 70 tuổi có độ tàn che cao nhất (0.51) và thấp nhất là rừng 21 tuổi (0.29)
Quy luật biến đổi thể tích thân cây theo tuổi cũng như đại lượng đường kính và chiều cao, ở rừng trồng 70 tuổi cây có thể tích thân lớn nhất (2.78m3), thấp nhất là rừng 28 tuổi (0.506m3) Hệ số biện động thể tích thân cây ở các tuổi khá lớn, cao nhất là rừng tuổi 28 (63.1%), thấp nhất là rừng trồng 40 tuổi (51.9%)
Đường kính tán cây cũng tuân theo quy luật tương tự như đường kính, chiều cao và thể tích, tức là cũng tăng theo tuổi của cây, rừng 70 tuổi của đường kính tán bình quân lớn nhất (2.3m), thấp nhất là rừng trồng 21 tuổi (1.3m) hệ số biến động đường kính tán cao nhất ở rừng trồng 28 tuổi (42.3%)
và thấp nhất ở rừng 21 tuổi (29.7%)
Trang 37nhau
T
T Tuổi
Độ tàn che
Độ cao
TB (m)
Hướng phơi
Độ dốc
TB (o)
Độ dày tầng đất
A (cm)
Khoảng cách tới rừng tự nhiên (m)
Đường kính D1.3 (cm)
Chiều cao Hvn (m)
5.9 16.1 87 42.9 12.
3 28.7 34.1 5.7 16.6 2.78 1.74 62.6 6.8 2.3 33.4 262
Ghi chú: TB = trung bình; S = sai tiêu chuẩn; W = hệ số biến động
Trang 38Quy luật phân bố N/D 1.3
Mật độ và đường kính cây rừng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, thông qua quy luật phân bố số cây theo đường kính giúp chúng ta xác định được cây rừng đang trong giai đoạn sinh trưởng nào để đề xuất biện pháp tác động hợp lý nhất, mang lại hiệu quả kinh doanh cao nhất trong trồng rừng, đồng thời cũng là
cơ sở để đưa ra các xử lý lâm sinh cho tái sinh tự nhiên dưới tán rừng trồng Đề tài
đã tiến hành nắn phân bố số cây theo đường kính ở các cấp tuổi rừng trồng Thông
mã vĩ tại VQG Tam Đảo, kết quả được thể hiện qua bảng 4.2; (phụ lục số 03)
Bảng 4.2 Kết quả mô phỏng và kiểm tra giả thuyết bằng hàm Weibull về phân bố N/D 1.3 rừng trồng Thông mã vĩ tại VQG Tam Đảo
Trang 39Hình 4.2 Phân bố N/D 1.3 rừng trồng Thông mã vĩ 28 tuổi
Hình 4.3 Phân bố N/D 1.3 rừng trồng Thông mã vĩ 40 tuổi
Hình 4.4 Phân bố N/D 1.3 rừng trồng Thông mã vĩ 47 tuổi
Trang 40Hình 4.5 Phân bố N/D 1.3 rừng trồng Thông mã vĩ 70 tuổi
Qua kết quả bảng 4.2 và các biểu đồ phân bố N/D1.3 cho thấy, phân bố
số cây theo đường kính D1.3m của rừng Thông mã vĩ được mô tả tốt bằng hàm Weibull Các biểu đồ của biểu diễn số cây theo đường kính ở các tuổi đều lệch trái Điều đó chứng tỏ ở mỗi tuổi, số lượng cây có cấp kính nhỏ chiếm ưu thế
4.2 Đặc điểm tái sinh dưới tán rừng Thông mã vĩ
4.2.1 Tổ thành thực vật dưới tán rừng trồng Thông mã vĩ 21 tuổi
Kết quả về tái sinh dưới tán rừng Thông mã vĩ 21 tuổi được tổng hợp chi tiết trong phụ lục số 04, và bảng 4.3
Qua bảng 4.3 cho thấy, dưới tán rừng Thông mã vĩ 21 tuổi đề tài đã xác định được 106 loài thực vật, với mật độ 12.060 cây/ha Tham gia vào công thức tổ thành có 5 loài, chiếm 42.7% số cây dưới tán rừng Hệ số tổ thành cao nhất là Ba chạc (1.5), tiếp đến là Lấu (1.00), Trọng đũa gỗ (0.66), Trám chim (0,57) và Cọc rào (0,54)