Những hạn chế và yếu kém trong hệ thống chính sách và tổ chức kinh doanh rừng trồng ở Việt Nam hiện nay có rất nhiều nguyên nhân khác nhau, nhưng nguyên nhân cội nguồn có thể được xuất p
Trang 1-
Nguyễn Thu Thuỳ
NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP CHÍNH SÁCH VÀ
KINH TẾ - XÃ HỘI TẠO ĐỘNG LỰC PHÁT TRIỂN TRỒNG
RỪNG GỖ LỚN Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành: Lâm học
Mã số: 60.62.60
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS.Trần Văn Con
Hà Nội – 2010
Trang 2ĐẶT VẤN ĐỀ
Nhu cầu gỗ nguyên liệu ngày càng tăng trong khi tiềm năng cung cấp của rừng tự nhiên ngày càng giảm, thực tế này đã thúc đẩy các quốc gia, đặc biệt là các nước đang phát triển ở khu vực nhiệt đới gia tăng diện tích rừng trồng Ở Việt Nam, diện tích rừng trồng hiện nay đã có trên 2,3 triệu ha và đang gia tăng với tốc độ khá nhanh, trong đó rừng trồng công nghiệp cây mọc nhanh cũng có xu hướng gia tăng kể cả để cung cấp nguyên liệu giấy và cung cấp gỗ lớn Trồng rừng gỗ lớn mọc nhanh là một xu hướng đang được quan tâm nghiên cứu ở Việt Nam Tuy nhiên, có rất nhiều vấn đề và nghịch lý tiềm
ẩn trong đó cần phải được làm sáng tỏ Ngoài các vấn đề liên quan đến khía cạnh kỹ thuật, các vấn đề về chính sách và tổ chức sản xuất cũng có vai trò hết sức quan trọng trong việc phát triển rừng trồng gỗ lớn mọc nhanh
Những hạn chế và yếu kém trong hệ thống chính sách và tổ chức kinh doanh rừng trồng ở Việt Nam hiện nay có rất nhiều nguyên nhân khác nhau, nhưng nguyên nhân cội nguồn có thể được xuất phát từ những nhận thức và quan niệm sai lầm hoặc thiếu chính xác về đối tượng và bản chất triết học của quá trình sản xuất lâm nghiệp Quan niệm về nội dung lâm nghiệp đã, đang và
sẽ thay đổi theo từng giai đoạn phát triển của xã hội tuỳ vào trình độ nhận thức, nhu cầu và xu thế phát triển của từng thời kỳ (Trần Văn Con, 2006) Đối tượng của ngành lâm nghiệp là đất rừng và các hệ sinh thái rừng (HSTR) Nhận thức khác nhau về rừng sẽ dẫn đến các quan niệm khác nhau về chiến lược tổ chức và phát triển nghề rừng Ví dụ nếu quan niệm rừng là “kho tài nguyên thiên nhiên bất tận” thì chiến lược quản lý rừng chỉ chú trọng đến khâu khai thác tài nguyên (cũng như các nguồn tài nguyên khoáng sản khác) Nhưng nếu quan niệm rừng là một hệ sinh thái (một cơ thể sống) có các qui luật phát sinh, phát triển và suy thoái thì việc kinh doanh rừng phải cân đối được cả khâu khai thác và xây dựng tái tạo lại hệ sinh thái đó Chế độ sở hữu, quyền sử dụng, quyền kinh doanh rừng và đất rừng là những vấn đề lớn mà
Trang 3mỗi quốc gia phải quan tâm giải quyết Liên quan đến quyền sở hữu, quyền sử dụng, quyền kinh doanh rừng và đất lâm nghiệp, ở Việt Nam đang diễn ra hai quá trình có vẻ như trái ngước lẫn nhau, đó là: (i) Quá trình ly tán (chia nhỏ ruộng đất) theo chủ trương giao rừng, giao đất lâm nghiệp cho các tổ chức, cá nhân và hộ gia đình sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích lâm nghiệp; quá trình này được thể chế hoá trong các văn bản pháp luật: luật đất đai, luật bảo
vệ và phát triển rừng, Nghị định 02/CP ngày 15/01/1994 của Chính phủ và sau đó là Nghi định 163/1999/CP ngày 16/11/1999 (ii) Quá trình tích tụ (tập trung ruộng đất) do nhu cầu của sản xuất kinh tế thị trường ở qui mô lớn, nhu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong sản xuất lâm nghiệp và cũng là xu thế khách quan của quá trình sản xuất lâm nghiệp Về mặt pháp lý thì hiện chưa
có những qui định riêng cho quá trình tích tụ ruộng đất, nhưng cũng đã có nhiều qui định trong các văn bản pháp luật về đất đai tạo tiền đề pháp lý cho quá trình này
Trong khuôn khổ của một luận văn thạc sỹ, PGS.TS.Trần Văn Con đã
định hướng tôi chọn đề tài: “Nghiên cứu đề xuất các giải pháp chính sách
và kinh tế - xã hội tạo động lực phát triển trồng rừng gỗ lớn ở Việt Nam”
với mong muốn đóng góp một phần nhỏ bé vào việc phân tích các cơ sở lý luận và thực tiễn để đề xuất khung chính sách và các mô hình tổ chức tạo động lực phát triển rừng trồng gỗ lớn mọc nhanh ở Việt Nam phù hợp với mục tiêu chiến lược phát triển ngành Lâm nghiệp giai đoạn 2006-2020
Trang 4Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Theo từ điển Bách khoa Việt Nam, thuật ngữ chính sách được định nghĩa : “…là những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ Chính sách được thực hiện trong một thời gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể nào đó Bản chất, nội dung và phương pháp của chính sách tuỳ thuộc tính chất của đường lối, nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội” Chính sách lâm nghiệp (CSLN) là một loại chính sách chuyên ngành Theo FAO “chính sách lâm nghiệp là một hệ thống gồm những yếu tố có quan hệ chặt chẽ với nhau, tạo nên một cấu trúc, trong đó, chính phủ trình bày rõ những mục tiêu của chương trình lâm nghiệp cuả mình, hướng dẫn, kiểm tra dân chúng sử dụng tài nguyên rừng” Nói cách khác, những hoạt động bị ảnh hưởng hoặc tác động bởi CSLN là những hoạt động có liên quan tới bảo tồn, bảo vệ, quản lý nhà nước về rừng, quản lý và sử dụng tài nguyên rừng (FAO, 1985) So sánh những khái niệm về thuật ngữ CSLN của FAO và của các nước, Lê Du Phong
và Tô Đình Mai (2007) [9]nhận thấy khái niệm và nội dung thuật ngữ chính sách ở mỗi quốc gia có những điểm khác nhau và lưu ý những điểm khác nhau đó trong khi sử dụng thuật ngữ CSLN:
- Nhiều quốc gia thường dùng khái niệm CSLN với ý nghĩa là văn kiện chính phủ quy định tổng quát đường lối, phương châm, mục tiêu phát triển lâm nghiệp và các giải pháp, quy tắc hành động để thực hiện những nội dung nói trên Theo nghĩa này thì CSLN gần giống với khái niệm chiến lược phát triển lâm nghiệp mà chúng ta đang sử dụng
- Một số quốc gia, trong đó có Việt Nam cho rằng, phạm vi tác động của CSLN cần bao gồm 2 mặt : (i) Quản lý, bảo vệ, xây dựng và phát triển tài nguyên rừng ; (ii) Phát triển lâm nghiệp (nghề rừng) Trong khi đó, một số quốc gia khác cho rằng, CSLN chỉ nên bao gồm những nội dung về quản lý,
Trang 5bảo vệ, xây dựng và phát triển tài nguyên rừng, không nên bao gồm những vấn đề phát triển sản xuất lâm nghiệp, phát triển nghề rừng
- Ở Việt Nam, thuật ngữ CSLN có thể hiểu là một hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) của chính phủ quy định về những nguyên tắc hành động và giải pháp cụ thể để điều chỉnh hành vi của các bên liên quan nhằm thực hiện mục tiêu của chiến lược phát triển lâm nghiệp, trong đó mục tiêu chủ yếu là quản lý, bảo vệ, xây dựng, phát triển rừng bền vững và phát triển nghề rừng bền vững
- Khi nhận thức về khái niệm và nội dung của thuật ngữ CSLN ở nước
ta, cần lưu ý những vấn đề sau : (i) CSLN là một loại chính sách chuyên ngành, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành theo những quy định về VBQPPL (ii) Mục tiêu chủ yếu của CSLN là xây dựng phát triển tài nguyên rừng và nghề rừng bền vững (iii) Đối tượng tác động chủ yếu của CSLN là các hoạt động của các bên có liên quan đến rừng và nghề rừng ; (iv) Hệ thống chính sách lâm nghiệp được thể hiện ở các loại văn bản như : (a) Đường lối, phương châm phát triển lâm nghiệp của Đảng và nhà nước; (b) Chiến lược phát triển lâm nghiệp ; (c) Chính sách vĩ mô của chính phủ có tác động đến rừng và nghề rừng ; (d) Các chính sách để tăng cường nguồn lực đầu vào và khai thông đầu ra của sản xuất và kinh doanh lâm nghiệp ; (v) Trên thực tế, nội dung của CSLN được nghiên cứu bao gồm những quy định của nhà nước
về các quy tắc và căn cứ hành động đối với các yếu tố về : (a) Rừng và đất lâm nghiệp ; (b) Các nguồn lực chủ yếu được sử dụng trong quá trình sản xuất, kinh doanh các loại sản phẩm và dịch vụ lâm nghiệp ; (c) Tiêu dùng và thị trường lâm sản ; (d) Các chính sách ở các lĩnh vực khác nhưng có gắn kết chặt chẽ với sự tồn vong của rừng và nghề rừng
Trong chương này, chúng tôi sẽ tổng quan các nghiên cứu về chính sách và hệ thống chính sách hiện hành liên quan đến phát triển trồng rừng gỗ lớn, mọc nhanh ở Việt Nam
Trang 61.1 Trên thế giới
1.1.1 Các xu hướng phát triển chính sách lâm nghiệp ở nước ngoài
Kể từ hội nghị thượng đỉnh Rio 1972, khái niệm “phát triển bền vững”
đã trở thành một biệt ngữ bị lạm dụng quá nhiều nhưng ít được hiểu một cách đúng đắn Thật vậy, trong thời đại hôm nay, ít có một khái niệm nào lại có nhiều định nghĩa và được tranh luận rộng rãi như vậy Rất nhiều người có thể kiếm sống bằng cách nói về phát triển bền vững hơn là thực hiện nó Cũng như vậy, khái niệm “quản lý rừng bền vững” (QLRBV) được tạo ra và trở thành một sự bắt buộc khi nói đến một nền “lâm nghiệp tốt” Trong thực tế, rất ít quốc gia đạt được thành công trong việc thực hiện QLRBV; thậm chí nhà lâm nghiệp được gán nhãn hiệu là những người tàn phá màu xanh, huỷ hoại môi trường; điều đó buộc họ phải trở về với gốc rễ để nhận thức lại rằng: nhà lâm nghiệp trước hết phải là những người bảo vệ môi trường Đạo lý và các chuẩn mực của thực tiễn một nền lâm nghiệp tốt đã bị thay chỗ trước các vấn đề cấp bách như sa mạc hoá, sự nóng lên của trái đất, suy giảm đa dạng sinh học (ĐDSH) và thu hút được sự chú ý của các nhà khoa học, của công chúng và của các nhà chính khách Nói cách khác, nhà lâm nghiệp đã nhận thức được rằng suy giảm rừng là hệ quả của một thực tiễn sai lầm và thất bại Trách nhiệm nghề nghiệp của các nhà lâm nghiệp là phải tìm ra các biện pháp hành động để sữa chữa những sai lầm đó và phát triển các chuẩn mực mới cho thực tiễn lâm nghiệp Quan niệm lâm nghiệp của chúng ta trước đây (và còn
cả ngày nay) đã lỗi thời thể hiện ở sự bất lực của nó trong việc xử lý vấn đề tiếp tục phát triển ngành lâm nghiệp và khủng hoảng môi trường sinh thái Vì vậy, thay đổi quan niệm về lâm nghiệp là chìa khoá để xử lý cuộc khủng hoảng nhằm đạt được một ngành lâm nghiệp và quản lý tài nguyên môi trường bền vững Việc thay đổi quan niệm về lâm nghiệp có thể được thúc đẩy thông qua việc đổi mới các thể chế phù hợp, mà sự đổi mới này được tạo
Trang 7điều kiện thông qua sự nhất trí cao của các cơ quan lãnh đạo, các tổ chức tài trợ và sự ủng hộ cao của công chúng
Các luận cứ trên đây không chỉ phản ánh sự cần thiết phải coi tài nguyên rừng là một bộ phận của tài nguyên thiên nhiên mà còn hàm chứa sự cần thiết của việc quản lý tổng hợp mà tất cả các đối tác phải quan tâm trong các hoạt động quản lý ngay từ khi thiết lập các dự án
Tổng quan về sự thay đổi tư duy kinh doanh rừng trên thế giới có thể nêu lên các tư duy điển hình đang được phát triển ở một số nước như sau (Lê
Du Phong và Tô Đình Mai, 2007) [9]
- Nước Áo: đang phát triển và thịnh hành tư duy về xây dựng nông nghiệp, lâm nghiệp xã hội và sinh thái hài hoà với tự nhiên
- Ba Lan: đang thực thi “mô hình mới về kinh doanh rừng” với mục tiêu là thực hiện công tác bảo vệ và kinh doanh rừng không dẫn đến tình trạng phá hoại môi trường và cân bằng sinh thái
- Thụy Điển: áp dụng mô hình “lâm nghiệp dựa vào điều kiện lập địa”
và cho rằng ngành lâm nghiệp hợp lý là ngành lâm nghiệp có kết hợp với nhiệm vụ bảo vệ cảnh quan và những khu vực tự nhiên quy mô nhỏ
- CHLB Đức thực hiện tư duy về “lâm nghiệp chính xác” với nội dung xây dựng những phương pháp kinh doanh nhất trí với những quy tắc lâm học
đã có cơ sở khoa học và được thực tiễn chứng minh, đồng thời bảo đảm nâng cao bền vững năng suất sản xuất sinh thái và năng suất kinh tế của đất rừng
Nhìn chung, mục tiêu và trọng điểm kinh doanh rừng của các nước có
sự khác nhau nhưng đều có xu hướng chuyển dần từ lâm nghiệp truyền thống
(lấy kinh doanh gỗ làm mục tiêu chính) thành lâm nghiệp theo hướng bền vững và đa chức năng, từ khai thác tài nguyên rừng đến quản lý HST
Quản lý tài nguyên thiên nhiên dựa trên lý thuyết về HST là một cách tiếp cận nhằm giải quyết sự phân tán của các hệ thống quản lý tài nguyên
Trang 8thiên nhiên để đạt được mục tiêu phát triển bền vững đã được tăng cường một cách ý nghĩa trong quản lý tài nguyên thiên nhiên ở các nước trong khu vực Châu Á thái bình dương Chương trình nghị sự 21 (Agenda 21) [3] đã phản ánh sự đồng thuận và cam kết của các cấp cao nhất về việc làm thế nào để đạt được phát triển bền vững ở các khía cạnh xã hội, kinh tế và môi trường Nó bao gồm bảo vệ sinh quyển, tiếp cận tổng hợp để qui hoạch và quản lý tài nguyên đất, chống suy thoái tài nguyên rừng, quản lý các hệ sinh thái nhạy cảm: chống sa mạc hoá và khô hạn và phát triển bền vững khu vực miền núi, thúc đẩy phát triển nông nghiệp và nông thôn bền vững, bảo tồn ĐDSH, quản
lý công nghệ sinh học, bảo vệ và quản lý tài nguyên biển, bảo vệ và quản lý nuồn nước ngọt và hỗ trợ khoa học kỹ thuật cho phát triển bền vững (Shlaepfer, 1997 dẫn theo APAFRI [16]) Khái niệm quản lý HST đã được
nhiều nhà sinh thái học định nghĩa Baker et al (1995)[17] đã kể đến một số định nghĩa của Gordon (1993), Wood (1994), Grambine (1994), Christenson
et al (1996) trong báo cáo EPA Dựa trên các định nghĩa của các tác giả này
có thể hiểu quản lý HST trong tình hình hiện nay như sau: “Quản lý HST là một tiếp cận hướng đich nhằm phục hồi và bền vững hoá cấu trúc, chức năng
và giá trị của hệ sinh thái bằng các ứng dụng các khoa học tiến tiến nhất đồng thời với các kiến thức bản địa Nó đòi hỏi sự hợp tác giữa chính quyền trung ương, các bộ tộc và chính quyền địa phương, các nhóm cộng đồng, các chủ đất tư nhân, và các đối tác khác nhằm phát triển một tầm nhìn cho điều kiện các HST mong đợi trong tương lai Tầm nhìn này nhất thể hoá các nhân
tố sinh thái, kinh tế và xã hội ảnh hưởng đến các đơn vị quản lý được xác định bằng ranh giới sinh thái chứ không phải ranh giới hành chính Mục đích
là khôi phục và bảo toàn chất lượng các HST đồng thời với việc cung cấp cho kinh tế và văn hoá xã hội của các cộng đồng và toàn xã hội.” Hiện tại quản lý
HST đã được ứng dụng trong quản lý tài nguyên thiên nhiên ở các nước phát
Trang 9triển và đang phát triển và không chỉ cho các HST cạn mà còn cho các HST biển, bờ biển và kể cả các lưu vực đầu nguồn
Theo nhận thức ngày nay thì bản chất và nội dung của ngành lâm nghiệp là ở chỗ: tạo ra sự tối ưu cho sức sản xuất tổng hợp của HST rừng phù hợp với các nhu cầu của xã hội loài người Sức sản xuất tổng hợp của các HST rừng bao gồm 5 hợp phần sau đây:
(1) Chức năng sản xuất (hay chức năng kinh tế): thể hiện ở khả năng sản xuất ra các lâm sản (gỗ và lâm sản ngoài gỗ) có giá trị thương mại và giá trị sử dụng vật chất
(2) Chức năng phòng hộ: thể hiện ở khả năng bảo vệ không gian sống, không gian sản xuất trước các nguy cơ của thiên tai lũ lụt, hạn hán, sạt
(5) Chức năng bảo tồn đa dạng sinh học: thể hiện ở khả năng bảo vệ
và duy trì đa dạng sinh học bảo đảm cho sự bền vững của quá trình tiến hoá
Các chức năng riêng biệt này của HST rừng không thể thay thế lẫn nhau Về thứ tự tầm quan trong của mỗi chức năng thì phụ thuộc vào điều kiện kinh tế-xã hội của từng vùng, từng quốc gia, từng giai đoạn phát triển Ở nước ta trong giai đoạn trước mắt thì chức năng kinh tế có tầm quan trọng thứ nhất Tuy nhiên tầm quan trong của các chức năng sẽ thay đổi theo sự phát triển của đất nước Có thể sắp xếp vị trí tầm quan trọng của 5 chức năng trên đây từ việc suy ngược lại về hậu quả của việc mất chúng đối với sự phát triển của loài người:
Trang 10- Mối đe doạ lớn nhất cho sự tiến hoá bền vững của xã hội loài người
là mối đe doạ về suy giảm đa dạng loài dẫn đến rối loạn cơ chế điều chỉnh chức năng hệ thống của chúng => Cần chức năng bảo tồn đa dạng sinh học
- Mối đe doạ lớn nhất cho sự tồn tại của loài người là mối đe doạ mất
và suy giảm các yếu tố cơ bản của sự sống: nước, không khí, khí hậu, đất đai=> Cần chức năng môi sinh
- Mối đe doạ lớn nhất đối với sự tự do của con người là mối đe doạ mất không gian sống => Cần chức năng bảo vệ/phòng hộ
- Mối đe doạ lớn nhất với tinh thần con người và do đó là sự phát triển của họ là mối đe doạ về sức khoẻ và trí tưởng tượng => cần chức năng giải trí, nghỉ ngơi
- Mối đe doạ lớn nhất đối với mức sống của con người là mối đe doạ
về suy giảm tiềm năng và năng suất sản xuất dẫn đến đói nghèo => Cần chức năng kinh tế
(Nguồn: Trần Văn Con, 2008)[7]
Lê Du Phong và Tô Đình Mai (2007)[9]đã nghiên cứu tình hình phát triển lâm nghiệp của 16 nước, trong đó có 10 nước châu Á (có 8 nước đang phát triển); thu thập, nghiên cứu tổng quan về tiến trình và xu thế phát triển rừng, quản lý rừng và lâm nghiệp thế giới trong thời kỳ gần đây Từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm cho vấn đề hoạch định CSLN Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá Đây là công trình có giá trị tham khảo rất tốt cho đề tài của chúng tôi, do đó chúng tôi sẽ tóm lược các kết quả và bài học chính mà các tác giả đã rút ra liên quan đến hoạch định CSLN ở Việt Nam
(1) Từ những phân tích về những biến đổi trong tư tưởng, lý luận kinh doanh rừng và chiến lược phát triển lâm nghiệp trên thế giới, CSLN của Việt
Nam trong giai đoạn hiện nay phải được xuất phát từ việc nhận thức đúng đắn
vị trí và nội dung quản lý lâm nghiệp bền vững Quản lý lâm nghiệp bao gồm
hai nội dung chính là quản lý rừng và quản lý hoạt động sản xuất lâm nghiệp
Trang 11Các VBQPPL cần phải làm cho các bên liên quan và toàn xã hội hiểu đúng bản chất khái niệm rừng và nghề rừng; vai trò và vị trí của nó trong các chức năng kinh tế, môi trường và xã hội Các vấn đề cụ thể cần được xác định ở đây là : (i) xác định và tổ chức lâm phận quốc gia ổn định ; (ii) Phân biệt quyền sở hữu và quyền kinh doanh rừng ; (iii) xác định rõ nội dung quản lý rừng của chủ rừng và quản lý nhà nước về rừng ; (iv) Xác định chế độ sử dụng rừng và cơ chế quản lý rừng sao cho thực sự linh hoạt, không quy định một cách thống nhất, máy móc
(2) Trên cơ sở tìm hiểu kỹ các xu hướng và nội dung quản lý rừng
trên thế giới để nâng cao chất lượng quản lý nhà nước về rừng Cụ thể: (i) Nâng cao nhận thức và đổi mới tư duy về nghề rừng và quản lý nghề rừng trên cơ sở tiếp cận quản lý rừng bền vững, đa chức năng và tiếp cận quản lý
hệ sinh thái ; (ii) Xác định đúng tầm quan trọng của rừng tự nhiên và lựa chọn phương thức quản lý rừng, giải pháp lâm sinh phù hợp ; (iii) Phát triển rừng trồng các loài cây cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến gỗ và các loài cây khác có giá trị kinh tế cao trên đất lâm nghiệp, nhất là trên đất rừng sản xuất ; (iv) Xây dựng và ban hành các chỉ tiêu đánh giá tài nguyên rừng bền vững trên cơ sở lồng ghép các CSLN với chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn miền núi
(4) Đẩy mạnh phát triển kinh tế tư nhân, kinh tế hợp tác và phát triển nhiều thành phần kinh tế trong kinh doanh rừng và nghề rừng
(5) Xác định rõ vai trò và sự can thiệp của nhà nước
1.1.2 Các xu thế tổ chức và thể chế lâm nghiệp
Lâm nghiệp bao gồm hai lĩnh vực thống nhất biện chứng với nhau, đó
là: xây dựng rừng và sử dụng rừng
Xét về khía cạnh phân công nhiệm vụ giữa hai lĩnh vực này, về cơ bản
có hai mô hình tổ chức quản lý lâm nghiệp:
Mô hình thứ nhất, tách hai lĩnh vực: xây dựng rừng và sử dụng rừng
riêng biệt và giao cho hai loại tổ chức khác nhau đảm nhiệm Trong mô hình
Trang 12này, khái niệm lâm nghiệp được hiểu theo nghĩa hẹp và chỉ bao gồm các hoạt động lâm sinh (xây dựng rừng) như trồng rừng, chăm sóc, nuôi dưỡng và bảo
vệ rừng Sản phẩm cuối cùng của các cơ quan quản lý lâm nghiệp là cây đứng Việc khai thác và sử dụng rừng được giao cho các cơ quan khác và xếp vào ngành công nghiệp rừng, họ mua rừng cây đứng đã thành thục của các cơ quan lâm nghiệp và tiến hành khai thác theo thiết kế, sau đó giao lại rừng đã khai thác cho các cơ quan lâm nghiệp Mô hình này đã được áp dụng ở Liên
Xô (củ), ở Mỹ và ở Pháp Việt Nam cũng đã từng áp dụng mô hình tổ chức này
Mô hình thứ hai, cơ quan quản lý lâm nghiệp được giao thực hiện cả
hai lĩnh vực xây dựng và sử dụng rừng một cách thống nhất Trong mô hình này thì lâm nghiệp được hiểu theo nghĩa rộng hơn, bao gồm tất cả các hoạt động lâm sinh và các hoạt động khai thác, vận xuất, vận chuyển lâm sản đến tại bãi hai Sản phẩm cuối cùng là gỗ và các lâm sản (chứ không chỉ là rừng cây đứng như ở mô hình 1) Các nước thực hiện mô hình này là Đức, Áo và một số nước Đông Âu khác
Xét về phương diện quản lý và tổ chức kinh doanh thuộc sở hữu nhà nước cũng có hai mô hình:
Mô hình 1: Hợp nhất chức năng quản lý nhà nước về rừng và chức
năng của xí nghiệp kinh doanh rừng và giao cho một tổ chức thực hiện Như vậy, cơ quan quản lý nhà nước được giao nhiệm vụ trực tiếp tổ chức và quản
lý kinh doanh rừng nhà nước Đặc điểm chủ yếu của loại hình tổ chức này là toàn bộ rừng của nhà nước được tổ chức thành một hệ thống, do một cơ quan lãnh đạo và quản lý thống nhất từ các yếu tố: nhân lực, tài chính, vật tư, sản xuất, cung ứng, tiêu thụ Mô hình này đang được áp dụng ở Mỹ, Nhật và một
số nước khác
Mô hình 2: Tách chức năng quản lý kinh doanh rừng nhà nước ra khỏi
nhiệm vụ của cơ quan quản lý nhà nước về rừng để thành lập một tổ chức kinh doanh rừng riêng và thực hiện chế độ hạch toán như xí nghiệp kinh
Trang 13doanh Các nước Thụy Điển, CHLB Đức, Pháp, Áo, Canada, New Zealand,
Ấn Độ, … đang thực hiện mô hình này
Đối với rừng thuộc sở hữu tư nhân, hiện tại có ba mô hình tổ chức kinh doanh như sau:
Mô hình 1: Tổ hợp rừng tư nhân, các chủ rừng hợp tác với nhau để tổ
chức thành tổ hợp rừng, xây dựng thành các hình thức liên hợp kinh doanh giữa các chủ rừng, tạo điều kiện nâng cao qui mô kinh doanh rừng tư nhân cả
về phương diện diện tích và sản lượng sản phẩm
Mô hình 2: Tổ chức hiệp hội các chủ rừng, nhiệm vụ của hiệp hội là tổ
chức hợp tác, cung ứng dịch vụ, tiêu thụ kinh doanh gỗ và chế biến gỗ
Mô hình 3: Tổ chức rừng công ty: là rừng do các công ty chế biến gỗ
đầu tư trồng để ổn định nguyên liệu và thuộc quyền sở hữu của công ty
Tất cả các hình thức tổ chức này cần được nghiên cứu tham khảo để
áp dụng cho việc tổ chức kinh doanh rừng trong điều kiện cụ thể ở Việt Nam
1.2.3 Các vấn đề liên quan đến trồng rừng gỗ lớn mọc nhanh
Trong vài thập kỷ gần đây, việc gia tăng diện tích rừng trồng cây gỗ mọc nhanh đã làm bùng nổ nhiều cuộc tranh luận liên quan đến nhiều vấn đề rất khác nhau Trong những tranh luận này, có hai quan điểm trái ngược nhau khi đánh giá tác động của sự gia tăng về diện tích rừng trồng, đặc biệt là rừng trồng cây mọc nhanh luân kỳ ngắn Quan điểm thứ nhất cho rằng rừng trồng ảnh hưởng tốt đến môi trường bằng cách chuyển hoá CO2, ánh sáng và nước thành gỗ và O2, điều tiết nguồn nước, chống xói mòn trên đất dốc, hạn chế lũ lụt,… đóng góp vào phát triển kinh tế - xã hội thông qua cung cấp gỗ, củi và các lâm sản khác; họ cho rằng phát triển rừng trồng sẽ làm giảm áp lực vào rừng tự nhiên và do đó bảo vệ được ĐDSH Ngược lại, quan điểm thứ hai lo ngại rằng phát triển rừng trồng thâm canh sẽ thay thế các HST rừng tự nhiên
và do đó làm ảnh hưởng đến hệ động vật, mất ĐDSH, ảnh hưởng đến nguồn nước và độ phì của đất ; về mặt xã hội họ cho rằng rừng trồng phát triển sẽ
Trang 14chiếm hết đất đai của các cộng đồng địa phương, nơi là nguồn sống chủ yếu của họ
Vấn đề gỗ mọc nhanh đã đặt các chính phủ, các chủ rừng trồng và các công ty nguyên liệu đối lập với những người nông dân địa phương ở các nước như Brazil và Indonesia Đã xảy ra các cuộc xuống đường để phản đối vì lý
do môi trường ở Chile, Ấn độ, Thổ Nhĩ Kỳ và Thái Lan Điều đó đã thúc ép các công ty phát triển phải nhìn nhận lại chính sách của họ và ở một số nước
đã dẫn đến xung đột giữa các nhà chức trách và cộng đồng địa phương Việc gia tăng diện tích rừng trồng, đặc biệt là rừng trồng cây mọc nhanh là vấn đề không có gì đáng ngạc nhiên Phát triển dân số và gia tăng tiêu dùng bình quân đầu người về gỗ và các sản phẩm của gỗ như giấy, và các sản phẩm dựa vào gỗ ở thành thị dẫn đến việc gia tăng nhu cầu về gỗ nguyên liệu mà chỉ có rừng trồng cây mọc nhanh mới có thể cung cấp đủ Thương mại quốc tế trong các sản phẩm gỗ mọc nhanh như bột giấy cũng đang gia tăng liên tục và phần lớn giấy được sản xuất ở các nước như Brazil và Chile đang xâm nhập thị trường các nước đang phát triển Nâng cao thu nhập và tăng trưởng dân số, đặc biệt ở thế giới đang phát triển dẫn đến việc mở rộng đất canh tác nông nghiệp và chăn thả và việc mất rừng tự nhiên Rõ ràng, các ngành công nghiệp và chính phủ gia tăng việc tìm kiếm các giải pháp nhằm đáp ứng các nhu cầu gia tăng về gỗ nguyên liệu bằng việc thiết lập các rừng trồng cây mọc nhanh Hơn một nữa thế kỷ qua, trồng rừng cung cấp gỗ cho các ngành công nghiệp đã trở thành thương vụ lớn và việc mở rộng rừng trồng cây mọc nhanh phát triển rất mạnh ở một số nước cả các nước phát triển và đang phát triển Khoảng 30 năm trước, Brazil trở thành nước thứ nhất ở Nam Mỹ thiết lập diện tích lớn rừng trồng cây mọc nhanh Tiếp theo đó là các nước Chile, Argentina và Uruguay Ngày nay, bốn nước này có khoảng 2 triệu ha rừng trồng Bạch đàn thâm canh nguyên liệu giấy, trong khi Brazil có thêm 2 triệu
ha rừng Bạch đàn trồng cho sản xuất than công nghiệp Cũng trong giai đoạn này, Thổ Nhĩ Kỳ và Tây Ban Nha đã thiết lập hơn 1 triệu ha Bạch đàn nguyên
Trang 15liệu giấy, khoảng 2/3 diện tích rừng này được xác định là mọc nhanh Những
gì đã xẩy ra ở Nam Mỹ và Nam Âu cũng đã diễn ra trong khoảng 10 năm trở lại đây ở Đông Nam Á, cụ thể là ở Indonesia với hơn một triệu ha rừng rừng
trồng nguyên liệu giấy, phần lớn là rừng Keo tai tượng (Acacia mangium) Có
thể ước lượng rằng, hiện tại có gần 10 triệu ha rừng trồng cây mọc nhanh trên phạm vi toàn cầu; mỗi năm diện tích này gia tằng khoảng 0,8 đến 1,2 triệu ha;
và việc mở rộng rừng trồng cây mọc nhanh sẽ tiếp tục trong tương lai gần Ngành công nghiệp giấy tiếp tục có nhu cầu rất lớn nguyên liệu giấy sợi mà phần lớn được đáp ứng từ rừng trồng cây mọc nhanh Việc tái sử dụng giấy phế thải đang được các nhà môi trường và các chính phủ khuyến khích sẽ vẫn không đáp ứng được nhu cầu về giấy
Tương tự, công nghiệp luyện thép vẫn tiếp tục có nhu cầu rất lớn về than công nghiệp, một sản phẩm khác của rừng cây mọc nhanh Phần lớn việc
mở rộng rừng trồng cây mọc nhanh sẽ được chờ đợi ở Nam Mỹ và Đông Á,
cụ thể là Trung Quốc Rừng trồng gỗ mọc nhanh sẽ phát triển một cách hiển nhiên ở đây, cho dù chúng ta muốn hay không Việc đánh giá lại các quan điểm ủng hộ và phản đối rừng trồng cây gỗ mọc nhanh là một chủ đề rất phức tạp Thỉnh thoảng, trồng rừng là một cách sử dụng đất tuyệt vời, thỉnh thoảng lại không phải như vậy Ở một địa phương nào đó, rừng trồng có thể có những tác động tiêu cực đến đời sống động vật, hoặc giảm lượng nước cho các mục đích sử dụng khác Còn một rừng trồng tương tự ở một địa phương khác lại có thể không ảnh hưởng hoặc ảnh hưởng rất ít Một diện tích rừng trồng Thông mọc nhanh có thể cung cấp các lợi ích kinh tế và xã hội nhưng cũng có những diện tích tương tự như vậy ở đâu đó lại có thể dẫn đến những thay đổi tổn thương cho cộng đồng dân địa phương Ngoài ra khi xem xét tác động của rừng trồng cây mọc nhanh đến đời sống động vật, nước và đất, chúng ta cũng
có thể kiểm tra những đánh giá cho rằng rừng trồng cây mọc nhanh có khả năng sản xuất một khối lượng lớn gỗ giấy sợi trong một thời gian tương đối ngắn và giúp cho việc giảm áp lực vào rừng tự nhiên Chúng ta cũng có thể
Trang 16chi tiết hiệu quả mong đợi của việc sử dụng tiền công để khuyến kích trồng rừng gỗ mọc nhanh Trong một số trường hợp, chúng ta cần phải đưa ra được các phát hiện khoa học với sự chấp thuận của công chúng và nhấn mạnh các
cơ sở khoa học về mặt chính sách Nhưng khoa học không thể giải quyết tất
cả các vấn đề phức hợp liên quan đến tất cả các khía cạnh về đạo lý, chính trị
và xã hội Khoa học chỉ cung cấp các thông tin và chúng ta cố gắng hết sức mình để vận dụng các thông tin đó như là công cụ để đưa ra các quyết định tốt hơn Chúng tôi hy vọng rằng, đề tài này sẽ đóng góp tích cực vào cuộc tranh luận về trồng cây mọc nhanh và cung cấp một hướng dẫn hữu ích cho các nhà làm chính sách Kết quả cuối cùng rất quan trọng là việc xác định một cách chính xác gỗ mọc nhanh là gì và tìm cách để phân biệt sự khác nhau của nó với các loại rừng trồng khác Rừng trồng được thiết lập dưới các dạng và mục đích khác nhau Một số rừng trồng được thiết lập để che bóng, cung cấp thức
ăn cho gia súc, một số khác để cung cấp củi và gỗ làm đồ mộc, và công nghiệp xây dựng Thỉnh thoảng nó cũng được trồng để tạo nơi ở cho động vật hoặc khu du lịch giải trí Rừng trồng cũng có thể thiết lập để cung cấp các dịch vụ môi trường cho các thành phố, đặc biệt ở các vùng khô hạn, rừng trồng để giữ nước Mục tiêu thương mại của rừng trồng thì ngược lại, nhằm sản xuất khối lượng lớn gỗ nguyên liệu với giá thành cạnh tranh và thời gian đạt sản phẩm cuối cùng càng nhanh càng tốt, nó phải có năng suất tối thiểu 15m3/ha/năm Tuy rừng trồng cây mọc nhanh có thể cung cấp nhiều loại sản phẩm, nhưng chủ yếu chúng chỉ có một chức năng thương mại Một số cung cấp gỗ để sản xuất ván sàn; một số để sản xuất than; một số ít cung cấp gỗ xẻ;
và quan trọng nhất là sản xuất nguyên liệu cho ngành công nghiệp giấy Đặc điểm có tính đặc trưng nhất của rừng trồng cây mọc nhanh và ảnh hưởng của
nó mà chúng tôi muốn nhấn mạnh ở đây là rừng trồng có chu kỳ ngắn, thuần loài với quy mô lớn và các loài chủ yếu là Bạch đàn, Keo, Thông và Bạch dương Các rừng trồng này tạo thành phương thức sử dụng đất chủ yếu hoặc ít
ra thì cũng chiếm ưu thế trong một vùng cảnh quan Chúng được sở hữu bởi
Trang 17một công ty hoặc của nhiều hộ gia đình trồng rừng để bán cho các công ty với cường độ kinh doanh cao Những nhóm người có thái độ phản đối việc gia tăng diện tích rừng trồng cây mọc nhanh là các nhóm đang vận động cho việc bảo vệ rừng mưa Các nhóm môi trường khác cũng phê phán việc trồng cây mọc nhanh ở vùng nhiệt đới bao gồm tổ chức hoà bình xanh, cơ quan nghiên cứu môi trường, mạng lưới rừng bản địa và mạng lưới hành động rừng mưa Một số nhóm khác có thái độ ủng hộ mặc dầu họ không dành nhiều thời gian cho việc tuyên truyền các luận điểm của họ Không có các vận động hành lang tích cực nhằm khuyến khích rừng trồng cây mọc nhanh ở quy mô quốc
tế Tuy nhiên, các tập đoàn công nghiệp dẫn đầu cũng đã tiến hành các vận động cho trồng rừng cây mọc nhanh Ở nhiều nước, nhiều công ty, nhà lâm nghiệp hàn lâm, các cơ quan phát triển và các tổ chức khác cũng tin tưởng rằng lâm nghiệp cây mọc nhanh rất hữu ích cho xã hội
Chúng tôi không có ý định bày tỏ quan điểm ủng hộ hay phản đối rừng trồng cây mọc nhanh Ở khía cạnh nào đó thì các luận điểm của cả hai nhóm ủng hộ và phản đối rừng trồng cây mọc nhanh đều có cơ sở đúng đắn của họ Vấn đề chính yếu là phát triển rừng trồng cây mọc nhanh ở đâu và trên cơ sở chính sách như thế nào và đó cũng chính là lý do và mục tiêu mà chúng tôi thực hiện đề tài này
1.2 Trong nước
1.2.1 Quan niệm về lâm nghiệp
Theo Trần Văn Con (2008) [5] thì lâm nghiệp bao gồm tất cả những mục tiêu và biện pháp mà xã hội loài người (và nền kinh tế tương ứng với mỗi Nhà nước của xã hội đó) đặt ra và tác động vào đối tượng Rừng Nó bao gồm hai lĩnh vực thống nhất với nhau: xây dựng rừng và sử dụng rừng Lâm nghiệp là một khoa học tổng hợp của sự nhất thể về sinh thái - kinh tế - kỹ thuật dựa trên nền tảng đạo lý và các chuẩn mực của xã hội Bằng cách xem xét rừng như là một HST, một nhân tố cảnh quan, một nhân tố kinh tế và cũng
là một nhân tố tâm linh, lâm nghiệp còn là hoạt động ứng dụng của con người
Trang 18nhằm đáp ứng các nhu cầu của xã hội và của nền kinh tế Thông qua các mục tiêu và biện pháp thích hợp của việc bảo vệ, tái tạo rừng để hướng sự phát triển của rừng theo những mong muốn của con người và do đó đạt được sự tối
ưu về lợi ích đối với con người và đối với thiên nhiên Có nghĩa là hướng tới một hệ thống rừng bền vững và đa chức năng
Tầm quan trọng của việc xây dựng phát triển rừng ngày nay không chỉ
là để duy trì việc kinh doanh rừng, mà còn nhiều hơn, quan trọng hơn là việc nhất thể hoá các chức năng của rừng với các khía cạnh kinh tế, xã hội và môi trường sinh thái trong tổng thể phát triển
Chúng ta phải thừa nhận hệ thống quản lý rừng của chúng ta hiện nay đang bị khủng hoảng hoặc bị lỗi thời Ít nhất có thể nhấn mạnh ba khía cạnh của sự khủng hoảng trong quan niệm về ngành lâm nghiệp hiện nay:
Thứ nhất, rừng ngày càng bị suy giảm kéo theo các hậu quả nghiêm
trọng về môi trường sinh thái, lũ lụt, hạn hán, sa mạc hoá gia tăng; ĐDSH suy giảm; xói mòn đất đai; thay đổi khí hậu theo chiều hướng không có lợi cho sự tồn tại của con người
Thứ hai, cơ chế chính sách của nhà nước thiếu đồng bộ, không nhất
quán, thậm chí không minh bạch tạo ra sự lộn xộn trong quản lý đất đai giữa các cộng đồng dân bản địa, các nông, lâm trường và đất đai cá nhân
Thứ ba, những thử nghiệm mới trong quản lý tài nguyên rừng như
quản lý rừng dựa vào cộng đồng, nhất thể hoá thực tiễn bảo tồn ĐDSH trong quản lý rừng phòng hộ và rừng sản xuất và thực hiện quản lý có sự tham gia trong các lưu vực đầu nguồn đã mang lại nhiều hứa hẹn và thuyết phục được nhiều đối tác
Tất cả những khía cạnh đó là dấu hiệu cho thấy quan niệm lâm nghiệp hiện nay của chúng ta cần phải được thay đổi để làm cơ sở cho việc hoàn thiện hệ thống CSLN
Trần Văn Con (2008) [5] đã thảo luận về các vấn đề liên quan đến CSLN trong ba lĩnh vực sau đây:
Trang 19(1) Trong kinh tế doanh nghiệp
Hệ thống tổ chức lâm nghiệp của chúng ta đang nằm trong tiến trình đổi mới Theo tinh thần của quyết định 187/1999/QĐ-TTg ngày 16/9/1999 của Thủ tướng Chính phủ thì các lâm trường quốc doanh sẽ được sắp xếp lại thành hai hình thức tổ chức với cơ chế hoạt động khác nhau: (i) Các lâm trường quản lý rừng sản xuất và rừng phòng hộ ít xung yếu hoạt động theo cơ chế kinh doanh; và (ii) Các ban quản lý rừng phòng hộ/rừng đặc dụng hoạt động theo cơ chế đơn vị sự nghiệp có thu Nguyên tắc tổ chức được qui định phải bảo đảm quyền tự chủ trong sản xuất kinh doanh; doanh nghiệp phải là chủ rừng thực sự; lợi ích của người lao động, của doanh nghiệp, của địa phương và của nhà nước phải được giải quyết hài hoà Nhưng làm thế nào để đạt được điều đó trong thực tế? Những bất cập gì cần được vượt qua?
Bất kỳ một khu rừng nào cũng có khả năng cung cấp lợi ích kinh tế và lợi ích sinh thái Về nguyên tắc thì lợi ích kinh tế và lợi ích sinh thái không mâu thuẫn nhau, nếu giữa kinh tế quốc dân và kinh tế doanh nghiệp không tạo
ra các hệ thống độc lập lẫn nhau và những trách nhiệm cũng như hậu quả không bị nhập nhằng giữa các cấp, các ngành Những tư duy mới, những định hướng mới trong chính sách và kinh doanh lâm nghiệp là tiền đề cần thiết để đổi mới hệ thống quản lý rừng theo hướng bền vững Kinh doanh lâm nghiệp chịu sự ràng buộc của sản phẩm có thể bán trên thị trường Đối với một doanh nghiệp lâm nghiệp, hầu như sản phẩm hàng hoá có thể bán được là các lâm sản (chủ yếu là gỗ) Các sản phẩm phi vật chất (các dịch vụ từ rừng) mặc dầu mang lại rất nhiều lợi ích cho cộng đồng và xã hội, cho đến nay và cả trong một thời gian nữa vẫn chưa được thị trường hoá Đặc điểm cơ bản riêng có
của ngành lâm nghiệp so với các ngành sản xuất khác là ở chỗ: rừng vừa là đối tượng, vừa là tư liệu sản xuất Sự ràng buộc trong lợi ích kinh tế của
quản lý rừng sẽ dẫn đến:
- Các doanh nghiệp được quản lý rừng có tài nguyên (rừng giàu) sẽ có nhiều lợi thế trong kinh doanh Vì lợi nhuận của họ phụ thuộc vào thị trường
Trang 20lâm sản vốn rất biến động Hậu quả có thể dẫn đến là: (i) Khai thác quá mức cho phép các loài cây có giá trị thương mại cao (ii) Vi phạm nguyên tắc bền vững theo nghĩa đa chức năng, đa dạng về loài (phát triển theo chiều hướng từ HST rừng tự nhiên thành các HST rừng nhân tạo cao sản, đơn giản về tổ thành loài)
- Các doanh nghiệp quản lý rừng nghèo và đất chưa có rừng buộc phải đầu tư rất lớn cho công tác trồng rừng, cải tạo, làm giàu rừng Đó là những đầu tư cần thời gian rất dài mới thu hồi được vốn Điều này buộc họ phải chọn những loài cây sinh trưởng nhanh, có giá trị kinh tế cao và do đó lại vi phạm nguyên tắc bền vững xét về mặt ĐDSH và các dịch vụ khác của rừng
- Các ban quản lý rừng phòng hộ và rừng đặc dụng phụ thuộc vào kinh phí sự nghiệp do Nhà nước cấp, nguồn kinh phí này rất hạn chế và sẽ không thể duy trì được lâu dài nếu như bản thân những giá trị của những khu rừng phòng hộ và đặc dụng không được hạch toán và thị trường hoá
- Trong trường hợp rừng được giao cho người dân thì các hậu quả của
sự ràng buộc trong lợi ích kinh tế lại càng phức tạp hơn Người dân không thể vay vốn để đầu tư cho các công việc mà trong đời họ có thể chưa được thu hồi Nguy cơ của việc khai thác quá tải tài nguyên là rất lớn
Giải pháp duy nhất để vượt qua các vấn đề này là đẩy mạnh sản xuất lâm sản hàng hoá và thị trường hoá các giá trị phi vật chất của rừng; các giá trị xã hội, môi trường cảnh quan, phòng hộ của rừng đối với cộng đồng và
xã hội cần được tính toán ít nhất là theo một thanh giá trị tương đối
(2) Trong kinh tế quốc dân và chính sách lâm nghiệp
Có các nhóm quyền lợi khác nhau đang cạnh tranh xung quanh việc sử dụng tài nguyên rừng và trách nhiệm quản lý rừng Trong khi đó khung pháp
lý và hệ thống chính sách thể chế (chẳng hạn như sự phân quyền giữa Nhà nước và các cộng đồng dân địa phương), các hình thức tổ chức (ví dụ các lâm trường, các ban quản lý, hợp tác xã, hội ), các phương pháp phân loại và đánh giá các chức năng của rừng, các hình thức sử dụng và nguyên tắc phân
Trang 21phối quyền lợi tỏ ra hoàn toàn không thích hợp với tình hình thực tế Một CSLN thích hợp cần phải giải quyết hài hoà mối quan hệ giữa lợi ích kinh tế quốc dân (hướng theo các mục tiêu xã hội) và lợi ích của doanh nghiệp ( hướng theo mục tiêu kinh doanh của chủ rừng) Hiệu quả của các giải pháp quản lý rừng ngắn hạn, trung hạn và dài hạn phải được đánh giá dựa trên mối quan hệ này Nếu khung chính sách không làm rõ ràng mối quan hệ này, người chủ rừng bắt buộc phải có những quyết định riêng vì lợi ích của họ Những khả năng quyết định và hành động; và vì vậy, mức quan trọng của công tác quản lý tài nguyên rừng phụ thuộc vào mức độ mà CSLN lượng giá các chức năng của rừng trong việc đáp ứng các nhu cầu khác nhau của xã hội
Ví dụ, nếu chính sách lâm nghiệp chỉ hạn chế tầm quan trọng kinh tế quốc dân của lâm nghiệp ở chức năng kinh tế (sản xuất gỗ) và không lượng giá các chức năng phi vật chất của rừng thì các quyết định và không gian hành động của công tác xây dựng rừng sẽ thu hẹp đáng kể Tuy nhiên, CSLN của chúng
ta cần phải hướng tới nguyên tắc đa chức năng (nhiều lợi ích khác nhau) và bền vững (bắt chước thiên nhiên)
(3) Trong đối tượng rừng
Những hạn chế trong tổ chức và quản lý/kinh doanh rừng của chúng ta hiện nay có thể bắt đầu từ những nhận thức và quan niệm sai lầm hoặc thiếu chính xác về đối tượng Quan niệm về nội dung của lâm nghiệp đã, đang và sẽ thay đổi theo từng giai đoạn của phát triển xã hội tuỳ vào trình độ nhận thức, nhu cầu và xu thế phát triển của từng thời kỳ Thông thường, lâm nghiệp được hiểu là một ngành kinh tế kỹ thuật lấy tài nguyên rừng làm đối tượng để khai thác gỗ và các lâm sản đáp ứng các nhu cầu xã hội Ở nghĩa hẹp hơn, người ta hiểu lâm nghiệp chỉ bao gồm những hoạt động lâm sinh như trồng, tu bổ, chăm sóc, bảo vệ rừng Việc khai thác, sử dụng rừng và chế biến lâm sản được xếp vào ngành công nghiệp khai thác tài nguyên (cũng giống như khai thác than, quặng vậy) Trong hệ thống tổ chức lâm nghiệp đã có sự phân tách giữa các lâm trường trồng rừng và xí nghiệp khai thác riêng lẻ Các lâm
Trang 22trường trồng rừng chỉ có nhiệm vụ trồng rừng, chăm sóc, nuôi dưỡng và bảo
vệ rừng Sản phẩm cuối cùng của họ là cây đứng Các xí nghiệp khai thác mua cây đứng để khai thác Kết quả là các lâm trường trồng rừng chỉ quan tâm đến việc trồng rừng theo chỉ tiêu kế hoạch sao cho được nghiệm thu, còn chất lượng, sản lượng rừng thì họ không quan tâm Trong khi đó các xí nghiệp khai thác lại chỉ quan tâm đến vấn đề làm sao cho đạt được các chỉ tiêu khai thác với giá thành thấp nhất Việc đổ vỡ rừng và ảnh hưởng sau khai thác không phải là vấn đề của họ Sự tách biệt giữa hai khâu: xây dựng rừng và khai thác rừng cho hai chủ thể kinh tế khác nhau là siêu hình và được xuất phát từ nhận thức sai lầm về đối tượng rừng dẫn đến những thất bại làm suy thoái tài nguyên rừng
Rừng, gắn liền với đất, là một HST, nó là một bộ phận của trái đất Các chức năng của rừng và các ảnh hưởng tương hỗ của nó với các bộ phận khác (ví dụ: sông hồ, đại dương, đồng cỏ, núi đá ) có vai trò quyết định Mỗi một tác động vào rừng đều có những ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến hệ thống tổng thể (trái đất) và ngược lại, các ảnh hưởng này lại tác động ngược trở lại với sự phát triển của rừng
Do vậy, một nền lâm nghiệp bền vững phải, nói đúng hơn là bắt buộc
phải chú ý đến các tương quan tổng thể, toàn cầu Ngoài ra các tác động của các lĩnh vực khác (và ảnh hưởng của nó) đến rừng cũng phải được nghiên cứu (tác hại thiên tai, ô nhiễm không khí, công nghiệp hoá, nông nghiệp, chăn nuôi, du lịch ) Nhận thức khoa học phải làm tiền đề cho CSLN Nói cách khác, xây dựng phát triển rừng cũng chính là vận dụng hợp nhất kinh tế quốc dân và kinh tế doanh nghiệp bằng các biện pháp kỹ thuật thích hợp dựa trên
cơ sở sinh thái và hệ thống tổng thể
Vì vậy, một nhà lâm nghiệp luôn luôn đặt những ý niệm chiến lược hướng tới tương lai, cũng như ý thức về hệ thống tổng thể trong mối quan hệ tương tác giữa kinh tế quốc dân và kinh tế doanh nghiệp trong tư duy và hành động của mình
Trang 231.2.2 Các vấn đề về chính sách liên quan đến trồng rừng gỗ lớn
1.2.2.1 Chính sách đất đai
Đất đai là tư liệu sản xuất quan trọng của nông dân Việt Nam, cung cấp các sản phẩm nông nghiệp cho tiêu dùng nội địa và xuất khẩu, đóng góp quan trọng vào nền kinh tế quốc dân Việt Nam đã trở thành nước xuất khẩu gạo đứng thứ hai trên thế giới sau Thái Lan
Sau thời kỳ đổi mới sản xuất nông nghiệp Việt Nam đã có những thành quả nổi bật nhờ vào các chính sách đất đai phù hợp và áp dụng các thành tựu khoa học công nghệ, đặc biệt là giống cây trồng, vật nuôi
Các chính sách đất đai dựa trên Luật đất đai sửa đổi (2003) và Luật bảo
vệ và phát triển rừng sửa đổi (2004) Luật đất đai qui định: đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất thông qua hình thức giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất đối với người đang sử dụng đất ổn định, qui định quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất Người sử dụng đất được thực hiện các quyền: chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất, thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất theo qui định
Luật bảo vệ và phát triển rừng cũng nêu Nhà nước thống nhất quản lý
và định đoạt đối với rừng tự nhiên và rừng được phát triển bằng vốn của nhà nước Nhà nước trao quyền sử dụng rừng cho chủ rừng thông qua hình thức giao rừng, cho thuê rừng, công nhận quyền sử dụng rừng, quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng, qui định quyền và nghĩa vụ của chủ rừng Các chính sách của nhà nước dựa trên cơ sở Luật đất đai và Luật bảo vệ phát triển rừng đặc biệt giao đất, giao rừng cho cá nhân, HGĐ sử dụng ổn định và lâu dài (20 năm đối với đất nông nghiệp và 50 năm đối với đất lâm nghiệp) đã thúc đẩy việc sử dụng, đầu tư vào đất đai có hiệu quả và bền vững
Tuy vậy trong quá trình thực hiện các chính sách đất đai cũng nổi lên những vấn đề cần được quan tâm giải quyết trong thực tiễn nhằm nâng cao
Trang 24hơn nữa năng lực sản xuất của đất, sử dụng một cách bền vững, đảm bảo chính sách an sinh xã hội, xóa đói, giảm nghèo của Chính phủ Gần đây nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa 7 đã ra nghị quyết “Về nông nghiệp, nông dân, nông thôn” trong đó có nêu rõ “ tiếp tục khẳng định đất đai là sở hữu toàn dân, Nhà nước thống nhất quản lý theo quy hoạch, kế hoạch để sử dụng có hiệu quả; giao đất cho HGĐ sử dụng lâu dài; mở rộng hạn mức sử dụng đất; thúc đẩy quá trình tích tụ đất đai; công nhận quyền sử dụng đất được vận động theo cơ chế thị trường, trở thành một nguồn vốn trong sản xuất, kinh doanh Ban hành chính sách định giá bảo đảm hài hòa quyền lợi của người sử dụng đất, của nhà đầu tư và của Nhà nước trong quá trình giải tỏa, thu hồi đất Có cơ chế khuyến khích những tổ chức, cá nhân tham gia góp vốn bằng quyền sử dụng đất để thành lập công ty, vào các dự án đầu tư, kinh doanh khi có đất bị thu hồi Có chính sách giải quyết tốt vấn đề đất ở, nhà ở, việc làm cho người bị thu hồi đất; có quy hoạch và cơ chế bảo vệ vững chắc đất trồng lúa
Qua đó có thể thấy được những tồn tại cơ bản liên quan tới việc sử dụng đất đai và quyền sử dụng đất đai trong thực tiễn:
a) Qui hoạch sử dụng đất đai
Những qui hoạch sử dụng đất đai chưa có đầy đủ luận cứ khoa học dẫn đến qui hoạch treo, người sử dụng đất tự thay đổi cây trồng theo thị trường bấp bênh mà không kiểm soát, hướng dẫn được gây ra các rủi ro trong sản xuất… Các liên kết phối hợp các ngành trong qui hoạch sử dụng đất đai còn yêú, mang tính chất cục bộ Sự tham gia người dân trong qui hoạch sử dụng đất đai còn rất hạn chế, các thông tin qui hoạch chưa được cung cấp đầy
đủ, đặc biệt tới người dân… Qui hoạch thay đổi nhanh, thiếu ổn định Đất lúa tốt, thuận tiện cho sản xuất nông nghiệp luôn bị thay thế bởi các dự án phát triển công nghiệp, du lịch, sân golf Các qui hoạch đa phần mới tiến hành ở cấp Trung ương: quốc gia, tỉnh, huyện (chưa đầy đủ), tới cấp xã còn rất ít, đặc biệt đối với đất lâm nghiệp
Trang 25b) Giao đất, giao rừng
Đối với đất nông nghiệp do các điều kiện sản xuất và quỹ đất có hạn
và đã được người nông dân sử dụng từ lâu nên việc giao đất đã hoàn thành, cấp GCNQSDĐ Tuy nhiên có 2 vấn đề đặt ra:
- Việc thu hồi đất đai khi các dự án cần tới tại các tỉnh, các địa phương dẫn tới đất trồng lúa màu mỡ bị thu hẹp đáng kể và đáng báo động Có nhiều vấn đề xuất hiện sau thu hồi đất như an sinh xã hội, việc làm, định giá
- Đất đai bị manh mún cần được tích tụ trong quá trình phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng hiện đại hoá, sản xuất trên qui mô lớn
- Đối với đất lâm nghiệp: Theo số liệu thống kê tại Cục Lâm Nghiệp,
Bộ Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn, tính đến tháng 5/2007 đã tiến hành giao cho các chủ quản lý là 13,3 triệu ha (trong đó diện tích đất có rừng là 9,7 triệu ha, diện tích đất không có rừng là 3,6 triệu ha) Tổng diện tích đất đã cấp GCNQSDĐ là 8,1 triệu ha (hộ gia đình: 2,6 triệu ha; tổ chức 4 triệu ha)
c) Định giá đất
Còn nhiều bất cập đối với đất nông nghiệp bị thu hồi Vì vậy nghị quyết về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đã xác định công nhận QSDĐ theo cơ chế thị trường và cần phải ban hành chính sách định giá phù hợp Đối với lâm nghiệp đang tiến hành định giá rừng trong đó có định giá quyền sử dụng rừng đặc biệt với rừng phòng hộ và đặc dụng
1.2.2.2 Những Quy định về quản lý bảo vệ rừng
Ngày 12 tháng 8 năm 1991 Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá VIII, kỳ họp thứ 9 đã thông qua Luật bảo vệ và phát triển rừng Luật bảo vệ và phát triển rừng đã xác định: “Rừng là tài nguyên quý báu của đất nước, có khả năng tái tạo, là bộ phận quan trọng của môi trường sinh thái, có giá trị to lớn đối với nền kinh tế quốc dân, gắn liền với đời sống của nhân dân và sự sống còn của dân tộc”, đồng thời quy định rõ về các loại rừng, trách nhiệm trong quản lý nhà nước về rừng và đất rừng, quy định về bảo vệ rừng, trách nhiệm của nhà nước và nhân dân trong việc phát triển rừng và sử
Trang 26dụng rừng, đất rừng và quy định về lực lượng chịu trách nhiệm trong công tác quản lý bảo vệ rừng Hiện nay, trước những thay đổi về mọi mặt trong đời sống xã hội, Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày
03 tháng 12 năm 2004, kế thừa những quy định của Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 1991, một lần nữa lại tiếp tục khẳng định vai trò của rừng đối với đời sống, đồng thời quy định một cách cụ thể hơn, rõ ràng hơn về vấn đề quản
lý bảo về tài nguyên rừng
Quyết định số 245/1998/QĐ – TTg ngày 21/12/1998 về thực hiện trách nhiệm quản lý nhà nước của các cấp về rừng và đất lâm nghiệp Quyết định này nhằm quy định rõ trách nhiệm quản lý nhà nước của các cấp có thẩm quyền đối với rừng và đất lâm nghiệp, góp phần ngăn chặn những hành vi hủy hoại tài nguyên rừng, đất lâm nghiệp, tạo điều kiện để mọi tổ chức, HGĐ, cá nhân tích cực tham gia bảo vệ và phát triển rừng Xác định rõ ràng những nội dung quản lý nhà nước về lâm nghiệp; quy định trách nhiệm quản lý Nhà nước về rừng và đất lâm nghiệp của các Bộ, ngành trong việc quản lý bảo vệ rừng, phòng chống cháy rừng và xây dựng, phát triển rừng, đặc biệt ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, gắn với việc bảo vệ an ninh quốc phòng; trách nhiệm quản lý nhà nước về rừng và đất lâm nghiệp của Uỷ ban nhân dân các cấp
Quyết định số 08/2001/QĐ –TTg ngày 11/01/2001 về việc ban hành quy chế quản lý rừng đặc rụng, rừng phòng hộ, rừng sản xuất Trong quyết định này đã xác định những nguyên tắc tổ chức, quản lý các loại rừng, quy định về thẩm quyền tổ chức quản lý các loại rừng và nhiều quy định cụ thể về quản lý, khai thác và sử dụng từng loại rừng Ngoài ra, các bộ, ban, ngành trong phạm vi thẩm quyền của mình cũng đã ban hành nhiều văn bản liên quan tới công tác quản lý bảo vệ tài nguyên rừng
1.2.2.3 Về các chính sách phát triển kinh tế - xã hội miền núi
Trang 27Song song với việc ban hành các chính sách về giao đất, giao rừng cho người dân, nhà nước cũng có nhiều chính sách nhằm thúc đẩy kinh tế xã hội miền núi phát triển như chương trình 327, chương trình 135 và đặc biệt là quyết định 661 của Thủ tướng Chính phủ số 661/QĐ – TTg ngày 29/7/1998
về mục tiêu, nhiệm vụ, chính sách và tổ chức thực hiện dự án trồng mới 5 triệu ha rừng, QĐ 661 là cơ sở quan trọng cho việc quy định quyền hưởng lợi của hộ gia đình, cá nhân trong quyết định 178 sau này Quyết định đã xác định mục tiêu của dự án đó là: “Trồng mới 5 triệu ha rừng cùng với bảo vệ diện tích rừng hiện có, để tăng độ che phủ của rừng lên 43%, góp phần đảm bảo an ninh môi trường, giảm nhẹ thiên tai, tăng khả năng sinh thuỷ, bảo tồn nguồn gen và tính đa dạng sinh học
Sử dụng có hiệu quả diện tích đất trống, đồi núi trọc, tạo thêm nhiều việc làm cho người lao động, góp phần xoá đói, giảm nghèo, định canh, định
cư, tăng thu nhập cho dân cư sống ở nông thôn miền núi, ổn định chính trị, xã hội, quốc phòng, an ninh, nhất là ở vùng biên giới
Cung cấp gỗ làm nguyên liệu để sản xuất giấy, ván nhân tạo, đáp ứng nhu cầu gỗ, củi và các lâm đặc sản khác cho tiêu dùng trong nước và sản xuất hàng xuất khẩu, cùng với phát triển công nghiệp chế biến lâm sản, đưa lâm nghiệp trở thành một ngành kinh tế quan trọng, góp phần phát triển kinh tế -
xã hội miền núi.” Trong đó coi nhân dân là lực lượng chủ yếu trồng, bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh rừng và hưởng lợi ích từ nghề rừng Nhà nước tạo môi trường pháp lý thuận lợi; tổ chức nghiên cứu và chuyển giao công nghệ; có các chính sách khuyến khích người làm nghề rừng; hỗ trợ đầu tư từ nguồn vốn ngân sách hoặc vốn tín dụng ưu đãi; hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng thiết yếu Đồng thời đưa ra những đảm bảo của Nhà nước trong quá trình thực hiện
dự án như các đảm bảo về đất đai, cơ cấu cây trồng, chính sách đầu tư tín dụng, chính sách thuế và đặc biệt là chính sách hưởng lợi và tiêu thụ sản phẩm của người có rừng, trong đó “ưu tiên khoán cho các hộ thuộc diện định canh, định cư, các hộ nghèo, hộ ở gần rừng và hộ đã nhận khoán trước đây để
Trang 28bảo vệ khoanh nuôi tái sinh rừng đặc dụng, rừng phòng hộ ở vùng rất xung yếu và xung yếu Khi hết thời hạn khoán nếu hộ nhận khoán có nguyện vọng
và trong quá trình nhận khoán thực hiện bảo vệ rừng tốt thì được nhận khoán chu kỳ tiếp theo”
Các văn bản trên đã tác động và có vai trò không nhỏ đến việc giao đất giao rừng, xác định quyền và nghĩa vụ của các bên liên quan trong vấn đề quản lý, sử dụng và bảo vệ rừng, đất rừng, đặc biệt là xác nhận quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trực tiếp quản lý sử dụng rừng
1.2.2.4 Những chính sách về hưởng lợi đối với người nhận đất, nhận rừng
Nhằm khắc phục những bất cập của các văn bản trước đó và tạo điều kiện thuận lợi hơn cho người dân khi tham gia quản lý, bảo vệ rừng, ngày 12 tháng 11 năm 2001 Thủ tướng chính phủ đã ban hành quyết định số 178/2001/QĐ -TTg về quyền hưởng lợi, nghĩa vụ của HGĐ, cá nhân được giao, được thuê, nhận khoán rừng và đất lâm nghiệp Đây được coi là một bước đột phá mới trong CSLN của Nhà nước ta Lần đầu tiên vấn đề hưởng lợi của HGD, cá nhân đối với các sản phẩm từ rừng được quy định một cách
cụ thể và chi tiết Quyết định này đã quy định về quyền hưởng lợi, nghĩa vụ của HGD, cá nhân được Nhà nước giao, cho thuê, khoán rừng và đất lâm nghiệp để bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh và trồng rừng, nhằm tạo động lực kinh
tế khuyến khích nhân dân tích cực tham gia bảo vệ và phát triển rừng; làm cho thu nhập từ rừng trở thành một nguồn thu đáng kể, góp phần bảo đảm cuộc sống của người làm nghề rừng; làm rõ trách nhiệm của người được giao, được thuê, nhận khoán rừng đối với việc bảo vệ và phát triển rừng Đồng thời cũng xác định rõ, cụ thể tỉ lệ hưởng lợi của HGĐ, cá nhân có rừng; Nguyên tắc xác định quyền hưởng lợi và nghĩa vụ của HGĐ, cá nhân được Nhà nước giao, cho thuê, khoán rừng và đất lâm nghiệp; quy định vấn đề hưởng lợi của
hộ gia đình, cá nhân đối với từng loại rừng, tùng hình thức sử dụng rừng và đất lâm nghiệp
Trang 29Ngày 05/01/1999 Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
đã ban hành Quyết định số 02/1999/QĐ – BNN – PTLN ban hành quy chế về khai thác gỗ và lâm sản và hàng loạt các văn bản pháp luật có liên quan trực tiếp đến hoạt động giao đất, giao rừng khác
Ngày 02/02/2004, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn đã ban hành Quyết định số 04/2004/QĐ – BNN về việc ban hành quy chế về khai thác gỗ và lâm sản nhằm thay thế cho QĐ 02 ban hành năm 1999 và cũng là đòi hỏi cần thiết cho phù hợp với các quy định về hưởng lợi được quy định trong QĐ 178/2001/QĐ – TTg và TT 80 Quy chế này đã xác định đối tượng
áp dụng khi thiết kế khai thác và khai thác gỗ, lâm sản khác chỉ được tiến hành đối với các khu rừng đã có chủ được pháp luật thừa nhận, bao gồm: Các
tổ chức, HGĐ, cá nhân (gọi chung là chủ rừng) được Nhà nước giao rừng, đất rừng để trồng, quản lý bảo vệ và sản xuất kinh doanh có hoạt động khai thác
gỗ và lâm sản khác; Đối với những khu rừng chưa có chủ, do chính quyền địa phương sở tại quản lý, không nằm trong đối tượng khai thác gỗ, chỉ được phép tận thu cây ngã đổ, tận dụng cây chết để sử dụng và được khai thác lâm sản ngoài gỗ
Ngày 07/7/2005, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn
đã ban hành Quyết định số 40/2005/QĐ – BNN về việc ban hành quy chế khai thác gỗ và lâm sản Quy chế này quy định về điều chế rừng, thiết kế khai thác, khai thác chính, khai thác tận dụng, tận thu lâm sản trong rừng sản xuất, rừng phòng hộ là rừng tự nhiên và rừng trồng
Việc thực hiện những quy định về khai thác chính là nhằm mục đích điều tiết một cách có hiệu quả vấn đề hưởng lợi của người dân Cùng với những quy định khác, các quy định về khai thác, hưởng lợi đang góp phần vào việc thực hiện có hiệu quả các chính sách phát triển nông thôn miền núi, vấn đề quản lý và bảo vệ vốn rừng quốc gia Để từng bước nâng cao đời sống cho những HGĐ nhận đất nhận rừng trên cơ sở tăng cường công tác bảo vệ và phát triển rừng, ngày 12/11/2001 Thủ tướng chính phủ ban hành quyết định
Trang 30số 178/2001/QĐ-TTg về “Quyền hưởng lợi, nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân được thuê, nhận khoán rừng và đất lâm nghiệp” nhắm xác định quyền hưởng lợi và nghĩa vụ của HGĐ, cá nhân được nhà nước giao, cho thuê, khoán rừng
và đất lâm nghiệp để bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh và trồng rừng, tạo động lực kinh tế khuyến khích người dân tích cực tham gia vào công tác bảo vệ và phát triển rừng, làm cho thu nhập từ rừng trở thành một nguồn thu đáng kể, góp phần đảm bảo cuộc sống của người làm nghề rừng; đồng thời làm rõ trách nhiệm của các chủ rừng đối với việc bảo vệ và phát triển rừng
Trong luận văn này chúng tôi sẽ cố gắng tạo ra các cơ sở khoa học để hoàn thiện hệ thống VBQPPL và các giải pháp tổ chức tạo động lực thu hút các thành phần kinh tế tham gia trồng rừng gỗ lớn Trên cơ sở phân tích và nghiên cứu bản chất kinh tế của rừng và nghề rừng, chúng tôi sẽ xây dựng các luận cứ lâm học nhiệt đới và sinh thái nhân văn để đề xuất các giải pháp chính sách liên quan đến tích tụ đất đai, tạo nguồn lực (đặc biệt là nguồn vốn) và khai thông đầu ra cho những người trồng rừng gỗ lớn; đồng thời đề xuất các giải pháp tổ chức sản xuất phù hợp với đặc điểm thực tế của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Trang 31Chương 2 MỤC TIÊU, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Đề xuất được các giải pháp tổ chức sản xuất hiệu quả (mô hình tổ chức, các giải pháp liên doanh, liên kết… để phát triển trồng rừng gỗ lớn)
2.2 Nội dung nghiên cứu
- Đánh giá ảnh hưởng của các chính sách hiện hành đến quá trình trồng rừng gỗ lớn
- Những đặc trưng cơ bản của sản xuất lâm nghiệp và mô hình trồng rừng gỗ lớn
- Nghiên cứu đề xuất các chính sách tạo động lực nhằm khuyến khích các thành phần kinh tế trồng rừng gỗ lớn (đất đai, tín dụng, thị trường và chia sẽ lợi ích)
- Nghiên cứu đề xuất các giải pháp tổ chức sản xuất trồng rừng gỗ lớn
ở Việt Nam
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Cơ sở lý luận và phương pháp tiếp cận
Đối tượng tác động và điều chỉnh của CSLN là các hoạt động của tất
cả các bên liên quan đến rừng và nghề rừng, do đó hệ thống CSLN cần phải được xây dựng và thực thi trên cơ sở tư duy lý luận về rừng và nghề rừng Hiện nay, nhiều nước trên thế giới trong đó có Việt Nam đang tiếp cận khái
Trang 32niệm lâm nghiệp theo nghĩa rộng và coi ngành lâm nghiệp là một ngành kinh
tế hoạt động trên cả 3 lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân, đó là :
(i) Khu vực 1: là những hoạt động lâm sinh xây dựng rừng (có tính chất nông nghiệp);
(ii) Khu vực 2: là những hoạt động khai thác, chế biến lâm sản (có tính chất công nghiệp);
(iii) Khu vực 3: là những hoạt động có tính chất dịch vụ, như cung cấp cho xã hội các giá trị phòng hộ bảo vệ môi trường, giá trị cảnh quan và các hoạt động dịch vụ du lịch sinh thái
Quan niệm đúng đắn và khoa học về nội dung của các khái niệm về rừng, nghề rừng, quản lý nhà nước về rừng và nghề rừng là điều cần thiết để cung cấp cơ sở lý luận cho việc hoạch định CSLN Trên thực tế, những kiến thức về khoa học sinh thái học, các qui luật phát triển của HST rừng đã được
sử dụng và thảo luận trong quá trình hoạch định và thực thi CSLN nhưng vẫn còn rất nhiều hạn chế Các nhà nghiên cứu lâm học và các nhà hoạch định chính sách vẫn chưa tìm được tiếng nói chung và chúng ta đã có nhiều bài học thất bại do chưa tôn trọng các kết quả nghiên cứu lâm sinh trong khi hoạch
định CSLN Do đó, CSLN được xây dựng dựa trên cơ sở khoa học lâm sinh
và sinh thái học là rất cần thiết để bảo đảm những tác động tích cực của chính sách vào mục tiêu quản lý rừng bền vững
Rừng luôn luôn gắn liền với đời sống của con người, vì vậy CSLN không chỉ phải dựa vào cơ sở lâm học và sinh thái mà còn phải dựa trên
những quy luật xã hội nhân văn để tạo điều kiện cho con người và các cộng
đồng dân cư sống phụ thuộc vào rừng phát huy được nội lực của mình để phát triển rừng
Vì tiếp cận lâm nghiệp như là một ngành kinh tế có nhiệm vụ sản xuất
và cung ứng các sản phẩm và dịch vụ để đáp ứng các nhu cầu của xã hội cho
nên phải tôn trọng các quy luật kinh tế thị trường Không tôn trọng và không
phân tích thấu đáo các tác động của quy luật kinh tế thị trường khi hoạch định
Trang 33các CSLN thì không thể tạo ra động lực để phát triển tài nguyên rừng và nghề rừng
Dựa trên các cơ sở lý luận được trình bày một cách vắn tắt trên đây, chúng tôi xác định phương pháp tiếp cận để giải quyết các nội dung nghiên cứu đặt ra trong đề tài này chủ yếu từ nguồn tổng quan phân tích và tư duy lý luận về cơ sở triết học, bản chất kinh tế của rừng và nghề rừng, kết hợp với các kết quả khảo sát theo dõi hoạt động thực tiễn trong ngành
2.3.2 Phương pháp và kỹ thuật áp dụng cho các nội dung cụ thể
2.3.2.1 Các phương pháp nghiên cứu chủ yếu được sử dụng trong đề tài
- Phương pháp kế thừa và tổng quan các tài liệu, quan điểm, các tư duy lý thuyết về rừng và nghề rừng;
- Hệ thống hoá và đánh giá các mặt mạnh và tồn tại của hệ thống CSLN hiện hành;
- Khảo sát thực tế và sử dụng các công cụ đánh giá nông thôn có sự tham gia (PRA) của các bên liên quan;
- Phương pháp chuyên gia
2.3.2.2 Các kỹ thuật thu thập và xử lý thông tin cho những nội dung nghiên cứu cụ thể
a) Đánh giá ảnh hưởng của các CSLN hiện hành đến quá trình trồng rừng gỗ lớn:
(i) Lựa chọn các điểm nghiên cứu điển hình;
Chọn 2 tỉnh, mỗi tỉnh 2 huyện, mỗi huyện 2 xã và mỗi xã chọn 30 hộ điều tra Các điểm nghiên cứu được lựa chọn dựa trên các tiêu chí sau:
- Có diện tích trồng rừng sản xuất lớn
- Việc giao đất lâm nghiệp đã được thực hiện
- Đã hình thành quá trình tập trung tích tụ đất đai
- Có nhiều loại chủ rừng trồng sản xuất (hộ gia đình, trang trại, công ty lâm nghiệp)
- Tỷ trọng đất lâm nghiệp khá lớn
Trang 34Tỉnh Huyện Xã
Phong Điền Phong Sơn, Phong Mỹ
Ba Chẽ Thanh Lâm, Thanh Sơn
(ii) Phối hợp với cán bộ địa phương để tổ chức khảo sát, phỏng vấn nhằm thu thập ý kiến về tác động của CSLN đối với trồng rừng gỗ lớn ở các cấp kinh tế cơ sở (Hộ gia đình, trang trại, công ty, lâm trường quốc doanh….);
(iii) Xử lý số liệu và xây dựng báo cáo đánh giá tác động của CSLN đến trồng rừng gỗ lớn;
b) Nghiên cứu đề xuất các chính sách tạo động lực nhằm khuyến khích các thành phần kinh tế trồng rừng gỗ lớn (đất đai, tín dụng, thị trường và chia sẽ lợi ích):
(i) Trên cơ sở tổng quan và phân tích xu hướng phát triển trồng rừng
gỗ lớn ở Việt Nam và các quan niệm mới về rừng và nghề rừng, phân tích cơ
sở triết học và bản chất của nghề rừng để xác định các chính sách chủ yếu có thể tạo động lực thu hút các thành phần kinh tế phát triển trồng rừng gỗ lớn;
(ii) Tham vấn ý kiến chuyên gia thông qua hội thảo, tư vấn để làm cơ
sở đề xuất chính sách
c) Nghiên cứu đề xuất các giải pháp kinh tế xã hội và tổ chức sản xuất trồng rừng gỗ lớn ở Việt Nam: (i) Khảo sát và đánh giá SWOT các mô hình tổ chức
hiện có; (ii) Tham vấn ý kiến chuyên gia để xây dựng các kịch bản tiềm năng
về mô hình tổ chức sản xuất; (iii) Áp dụng phương pháp mô hình hoá và phân tích đa mục tiêu để lựa chọn mô hình tổ chức kinh tế - xã hội tối ưu cho sản xuất gỗ lớn
Trang 35Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1 Đánh giá ảnh hưởng của hệ thống chính sách hiện hành đến phát triển gỗ lớn
3.1.1 Thông tin cơ bản về địa điểm khảo sát
3.1.1.1 Hiện trạng diện tích đất lâm nghiệp ở hai tỉnh khảo sát
Tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh Thừa Thiên Huế là 506.259,8 ha, trong
đó đất lâm nghiệp là 314.143,6 ha Diện tích đất lâm nghiệp chiếm 62,07% diện tích tự nhiên toàn tỉnh, độ che phủ của rừng đạt 57,09% Cơ cấu diện tích theo 3 loại rừng: rừng đặc dụng chiếm 28,7%, rừng phòng hộ chiếm 28,6% và rừng sản xuất chiếm 42,7% diện tích đất lâm nghiệp
Bảng 3.1: Hiện trạng diện tích đất lâm nghiệp tỉnh Thừa Thiên Huế năm 2008
Nguồn: Chi Cục Kiểm Lâm tỉnh, 2008
Tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh Quảng Ninh là 617.081,3 ha, trong
đó đất lâm nghiệp là 433.366 ha Diện tích đất lâm nghiệp chiếm 70,22 % diện tích tự nhiên toàn tỉnh, độ che phủ của rừng đạt 43,89% Cơ cấu diện tích theo 3 loại rừng: rừng đặc dụng chiếm 37,9%, rừng phòng hộ chiếm 7,1% và rừng sản xuất chiếm 55,08% diện tích đất lâm nghiệp
Trang 36Bảng 3.2: Hiện trạng diện tích đất lâm nghiệp tỉnh Quảng Ninh năm 2008
Nguồn: Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh, 2008
3.1.1.2 Tình hình sản xuất lâm nghiệp ở các Huyện khảo sát
a) Huyện Phong Điền - Thừa Thiên Huế
Huyện Phong Điền có tổng diện tích đất lâm nghiệp 59.887,8 ha (chiếm 63% diện tích tự nhiên toàn huyện), trong đó rừng tự nhiên 33.127,6
ha (chiếm 67,9% diện tích đất có rừng); rừng trồng 15.643,1 ha (chiếm 32,1% diện tích đất có rừng); đất chưa có rừng 11.117,2 ha; Diện tích đất lâm nghiệp phân theo chức năng: Rừng đặc dụng 35.850,0 ha (59,8%); Rừng phòng hộ 7.222,4 ha (13,8%); Rừng sản xuất 16.815,4 ha (26,4%)
Đất lâm nghiệp phân theo chủ quản lý như sau: Khu BTTN Phong Điền 35.850 ha (chiếm 60% đất lâm nghiệp), Ban quản lý rừng phòng hộ Sông Bồ 4.609 ha, Công ty lâm nghiệp Phong Điền 2.737 ha, các công ty tư nhân 913 ha, hộ gia đình 9.936 ha (chiếm 16,5%), cộng đồng 579 ha, tập thể 1.080 ha, lực lượng vũ trang 56 ha và UBND xã đang quản lý 4.686 ha
- Giao đất, giao rừng: Theo Phòng TN&MT đến nay đã tiến hành giao đất, cấp GCNQSDĐ lâm nghiệp cho 2.627 hộ/3.697 giấy với diện tích 4.712,5 ha; trong đó:
Trang 37+ Đất trồng rừng Dự án WB3 từ 2005-2009: 1008 hộ/1136 giấy/1.785,65 ha
+ Đất trồng rừng Dự án 178 (Phong Sơn): 87 hộ/102 giấy/100 ha + Đất trồng rừng Dự án 661: 108 hộ/108 giấy/155,5 ha
+ Đất trồng rừng sản xuất hộ gia đình, cá nhân đủ điều kiện cấp giấy: 1.635 hộ/2.607 giấy/ 2.671 ha
- Kết quả các hoạt động chủ yếu: Từ năm 2003 -2008, bình quân hàng năm giao khoán quản lý bảo vệ rừng khoảng 5.000 ha/năm, khoanh nuôi xúc tiến tái sinh 6-700 ha/năm, trồng rừng tập trung tăng từ 600 ha năm 2003 lên 1.300 ha năm 2007 Hoạt động khai thác lâm sản trên địa bàn huyện chủ yếu là khai thác gỗ rừng trồng bình quân hơn 10.000 m3/năm, 33.000 ster củi/năm, 23.000 cây tre luồng/năm và khoảng 30 tấn nhưa thông/năm … Chế biến lâm sản trên địa bàn qui mô còn nhỏ lẻ, hầu hết là
gỗ xẻ và gỗ gia dụng, hàng năm sử dụng khoảng 6.500m3 gỗ tròn Giá trị sản xuất của các cơ sở chế biến đạt 4.843 triệu đồng (năm 2007), thu hút khoảng
222 lao động với thu nhập bình quân khoảng 1 triệu đồng/người/tháng
b) Huyện Phú Lộc - Thừa Thiên Huế
- Đối với đất lâm nghiệp đến nay đã cấp 3.756 GCNQSDĐ với diện tích 37.670 ha (theo Báo cáo tình hình kinh tế xã hội 2009 của huyện) Đối với hộ gia đình, cá nhân đã giao 7.488,37 ha và cấp GCNQSDĐ cho 2.710,34
ha đất lâm nghiệp (số liệu Sở TN&MT)
- Năm 2009, thưc hiện tốt công tác quản lý, chăm sóc, bảo vệ rừng 17.045 ha, đã khai thác và trồng lại trên 1.000 ha rừng Khai thác 20.000 tấn
gỗ nguyên liệu Đã phát hiện và xử lý 64 vụ khai thác, mua bán, vận chuyển
gỗ trái phép, tịch thu 50m3 gỗ và thu nộp ngân sách nhà nước 418 triệu đồng
c) Huyện Tiên Yên- Quảng Ninh
Trang 38Tiên Yên là một trong những huyện miền núi có diện tích đất lâm nghiệp lớn (29.330ha) Những năm qua, trồng và bảo vệ rừng trở thành hướng làm giàu của người dân nơi đây nên kế hoạch trồng rừng hàng năm luôn được các địa phương và hộ dân tích cực hưởng ứng Năm 2009, toàn huyện có kế hoạch trồng mới 800 ha rừng tập trung với sự hỗ trợ của dự án trồng rừng Việt - Đức Do vậy, đến nay, toàn huyện đã trồng được 400 ha rừng các loại, đạt 50% kế hoạch đề ra Kết quả đó chính là yếu tố thuận lợi để Tiên Yên vươn lên hoàn thành toàn diện mục tiêu phủ xanh đất trống, đồi trọc trong năm 2010
d) Huyện Ba Chẽ - Quảng Ninh
Đến nay đã hoàn thành cấp GCNQSDĐ cho 2.722 hộ với tổng diện tích 26.368 ha Chỉ tính năm 2009 toàn huyện đã trồng mới 3.300 ha rừng, còn tính tổng giá trị sản xuất lâm nghiệp trong vòng 5 năm qua, Ba Chẽ đạt gần 400 tỷ đồng Công tác quản lý bảo vệ rừng và phòng chống chữa cháy rừng được quan tâm chỉ đạo, trong 6 tháng đầu năm do làm tốt công tác bảo
vệ nên không có vụ cháy rừng xảy ra trên địa bàn; các lực lượng đã tiến hành lập 26 biên bản vụ vi phạm lâm luật tịch thu 89,4 m3 gỗ, xử lý 22 vụ, phạt tịch 201,424 triệu đồng, 04 vụ đang hoàn tất hồ sơ xử lý theo quy định
hoạch và đạt 104% so cùng kỳ; vỏ quế tươi 53,2 tấn đạt 35,4% kế hoạch và đạt 65,7% so cùng kỳ; tre, nứa, dóc 784.000 cây, đạt 261% kế hoạch, đạt 55,3% so cùng kỳ; tre nguyên liệu giấy 2100 tấn, đạt 105% so kế hoạch, đạt 86,1% so cùng kỳ; gỗ keo giấy 2.496,8 m3
3.1.2 Kết quả điều tra nông hộ ở các địa điểm khảo sát
3.1.2.1 Phân bố số hộ điều tra theo quy mô diện tích rừng trồng sản xuất
Kết quả điều tra, phỏng vấn 240 hộ thuộc 8 xã của 4 huyện khảo sát thể hiện ở bảng sau:
Trang 39Bảng 3.3: Quy mô diện tích rừng trồng của các hộ gia đình
Quy mô diện tích rừng
3.1.2.2 Phân bố số hộ khảo sát theo quy mô diện tích rừng trồng và trình độ văn hóa
Kết quả điều tra được thể hiện ở bảng sau:
Trang 40Bảng 3.4: Phân bố số hộ theo quy mô diện tích rừng trồng và trình độ văn hoá
Quy mô diện tích
rừng trồng Tổng số hộ
Trình độ văn hoá của chủ hộ
Mù chữ Cấp I Cấp II Cấp III
nghiệp, đặc biệt là phát triển trồng rừng sản xuất theo hướng hàng hoá
Kết quả khảo sát cũng cho thấy, chỉ có 2/14 chủ hộ mù chữ có diện tích đất rừng trồng lớn hơn 3 ha, trong khi đó 52/99 chủ hộ có trình độ văn hoá cấp I, 55/83 chủ hộ có trình độ văn hoá cấp II, 24/44 chủ hộ có trình độ văn hoá cấp III đất rừng trồng lớn hơn 3 ha Điều này chứng tỏ, những hộ có trình độ học vấn cao có quy mô đất trồng rừng lớn hơn hộ trình độ học vấn thấp