Để bổ sung thêm các công trình nghiên cứu tại khu vực Hồ Hòa Bình, và phần nào giải quyết các tồn tại đã nêu, đề tài “Nghiên cứu kết cấu không gian và tính đa dạng loài của một số quần
Trang 1LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
Người hướng dẫn: PGS.TS Hoàng Kim Ngũ
HÀ NỘI – 2010
Trang 2ĐẶT VẤN ĐỀ
Vùng Hồ Hòa Bình là một địa điểm có tính chiến lược, quan trọng không chỉ riêng của tỉnh Hòa Bình mà còn của cả Quốc gia Các quần xã thực vật rừng xung quanh vùng Hồ Hòa Bình chủ yếu là rừng phòng hộ đầu nguồn,
có tác dụng bảo vệ đất, điều tiết nguồn nước, chống xói mòn đất, ngăn sự bồi đắp lòng hồ vv
Trong những năm qua cùng với công cuộc xây dựng và phát triển của thủy điện Hòa Bình, việc khai thác rừng bừa bãi, tập quán đốt nương làm rẫy, phương thức sử dụng đất không hợp lý của cộng đồng người dân sống xung quanh vùng lòng hồ đã và đang làm cho rừng phòng hộ bị suy thoái nghiêm trọng Chính điều đó đã gây ảnh hưởng xấu đến môi trường và ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống cộng đồng người dân trong khu vực đó
Sự mất rừng sẽ làm suy giảm nguồn nước, giảm hiệu lực kiểm soát lũ lụt của hồ trong mùa mưa, giảm công suất thuỷ điện và khả năng cung cấp nước tưới trong mùa khô Sự mất rừng còn làm tăng lượng bùn cát bồi lắng lòng hồ, giảm tuổi thọ của hồ Kết quả điều tra ở vùng hồ cho thấy nếu tốc độ bồi lắng đáy hồ mỗi năm từ 50 - 70 cm như hiện nay thì tuổi thọ của Hồ Hoà Bình sẽ giảm từ 250 năm theo thiết kế xuống còn khoảng dưới 100 năm
Hiện nay cũng đã có một số các công trình nghiên cứu về các lĩnh vực như; quản lý sử dụng đất, hiểu quả của rừng phòng đầu nguồn, lâm sản ngoài gỗ vv tại khu vực lòng Hồ Hòa Bình Nghiên cứu về kết cấu không gian và tính đa dạng loài của một số quần xã thực vật rừng tại khu vực là chưa nhiều
Để bổ sung thêm các công trình nghiên cứu tại khu vực Hồ Hòa Bình,
và phần nào giải quyết các tồn tại đã nêu, đề tài “Nghiên cứu kết cấu không
gian và tính đa dạng loài của một số quần xã thực vật rừng tại vùng ven Hồ Hòa Bình” đã được lựa chọn để nghiên cứu
Trang 3Trong rừng ẩm nhiệt đới châu Phi, theo Catinot R (1974) [2] có đến vài trăm loài thực vật, còn tổ thành thực vật rừng ẩm nhiệt đới ở Đông Nam Á thường có một nhóm loài ưu thế - nhóm họ dầu, chiếm 50% quần thụ
Ở châu Á, trong rừng thứ sinh nhiệt đới vùng Shanxin-Trung Quốc, Zeng và cộng sự (1998) đã thống kê khoảng 280 loài cây dược liệu, 80 loài cây có dầu và 20 loài cây có sợi cũng như một số loài cây gỗ có giá trị khác (dẫn theo Zaizhi Z -2001 [49]) Mức độ phong phú của thành phần thực vật trong rừng thứ sinh ở Nepal cũng đã được Kanel K.R và Shrestha K (2001
Trang 4[43]) điểm qua, có đến 6.500 loài cây có hoa và 4.064 loài cây không hoa, trong đó có trên 1.500 loài nấm và hơn 350 loài địa y
1.1.1.2 Về cấu trúc tầng thứ
Một trong những đặc trưng nổi bật của cấu trúc rừng nhiệt đới là hiện tượng phân tầng Nhưng do tính chất phức tạp của nó nên có ý kiến không thống nhất với nhau trong cách phân chia tầng thứ Chevalier (1917), Mildbraed (1922) đã ngụ ý rằng mọi phương pháp dựa vào chiều cao của cây
để phân cây cối thành tầng đều có tính chất tùy tiện và các “tầng” đó không
có một thực tế khách quan Booberg (1932) đã lập đồ thị chiều cao của tất cả các cây gỗ đo được trong các “khu rừng bảo vệ” ở Java, và đi đến kết luận là không thể nhận ra có mấy tầng cây như các tác giả khác đã mô tả
Ngược lại nhiều tác giả khác cho rằng rừng mưa thường có từ ba đến năm tầng: Brown (1919) khi nghiên cứu rừng cây họ đậu tại Phillippin, đã cho biết là các cây gỗ lớn sắp xếp thành ba tầng khá rõ rệt Để nghiên cứu sự phân tầng trong rừng mưa ở Guana Davis và Richards P.W (1933-1934) dùng phương pháp vẽ biểu đồ mặt cắt đứng của rừng Phương pháp này được đánh giá có giá trị nhất về mặt nghiên cứu lý luận cũng như về thực tiễn sản xuất, kết quả đã phân rừng hỗn giao nguyên sinh ở sông Moraballi tại Guana thành năm tầng với ba tầng cây gỗ (A,B,C), tầng cây bụi (D) và tầng mặt đất (E) Richards P.W (1936) cho biết trong rừng cây họ dầu hỗn hợp nguyên sinh ở núi Dulit tại Borneo có ba tầng cây gỗ nhưng tầng A phân biệt rõ ràng còn tầng B và C khó xác định rõ ranh giới, ngoài ra còn có tầng cây bụi và tầng thực vật mặt đất; năm 1939 ông cũng phân rừng hỗn hợp nguyên sinh Nigeria thành năm tầng với ba tầng cây gỗ Vaughan và Weihe (1941) nhận thấy rằng trong rừng cao đỉnh tại Moritiut sự phân tầng là có thực Bear (1946) cũng mô
tả sự phân tầng rõ rệt trong rừng Trinidad với ba tầng cây gỗ, tầng cây bụi và tầng mặt đất (theo Richards P.W (1952) [28])
Trang 5Bên cạnh đó, Catinot.R (1974) [2] cũng cho rằng rừng ẩm nhiệt đới có
sự phân hóa mạnh, những tầng trong quần thụ rõ nét, cụ thể là có một tầng vượt tán với những cây có chiều cao trên 40 m và những tầng bên dưới
Hiện nay, nhiều hệ thống phân loại thảm thực vật rừng đã dựa vào các đặc trưng như cấu trúc và dạng sống, độ ưu thế, kết cấu hệ thực vật hoặc năng suất thảm thực vật Ngay từ nửa đầu thế kỷ 19, Humboldt và Grisebach [32]
đã sử dụng dạng sinh trưởng (toàn bộ hình thái hoặc cấu trúc và trạng thái của thực vật) của các loài cây ưu thế và kiểu môi trường sống của chúng để biểu thị cho các nhóm thực vật Phương pháp hình thái của Humboldt và Grisebach được các nhà sinh thái học Đan Mạch (Warming, 1904; Raunkiaer, 1934) tiếp tục phát triển Raunkiaer đã phân chia các loài cây hình thành thảm thực vật thành các dạng sống và các phổ sinh học (phổ sinh học là tỉ lệ phần trăm các loài cây trong một quần xã có các dạng sống khác nhau) Tuy nhiên, nhiều nhà sinh thái học cho rằng phân loại hình thái, các phổ dạng sống của Raunkiaer kém ý nghĩa hơn các dạng sinh trưởng của Humboldt và Grisebach Trong các phương pháp phân loại rừng dựa theo cấu trúc và dạng sống của thảm thực vật, phương pháp dựa vào hình thái bên ngoài của thảm thực vật được sử dụng nhiều nhất
Kraft (1884) [6], lần đầu tiên đưa ra hệ thống phân cấp cây rừng, ông chia cây rừng trong một lâm phần thành 5 cấp dựa vào khả năng sinh trưởng, kích thước và chất lượng của cây rừng Phân cấp của Kraft phản ánh được tình hình phân hoá cây rừng, tiêu chuẩn phân cấp rõ ràng, đơn giản và dễ áp dụng nhưng chỉ phù hợp với rừng thuần loài đều tuổi
Việc phân cấp cây rừng cho rừng hỗn loài nhiệt đới tự nhiên là một vấn đề phức tạp, cho đến nay vẫn chưa có tác giả nào đưa ra được phương án phân cấp cây rừng cho rừng nhiệt đới tự nhiên mà được chấp nhận rộng rãi Sampion Gripfit (1948) [6], khi nghiên cứu rừng tự nhiên Ấn Độ và rừng ẩm nhiệt đới
Trang 6Tây Phi có kiến nghị phân cấp cây rừng thành 5 cấp cũng dựa vào kích thước và chất lượng cây rừng Richards (1952) [28] phân rừng ở Nigieria thành 6 tầng dựa vào chiều cao cây rừng
Tóm lại, sự phân tầng và phương pháp thể hiện tầng tán trong rừng mưa nhiệt đới mặc dù có nhiều ý kiến khác nhau, nhưng quan điểm có sự phân tầng rõ rệt trong rừng mưa nhiệt đới được nhiều nhà khoa học xác nhận 1.1.1.3 Về cấu trúc tuổi
Theo Richards P.W (1952) [28], trong rừng mưa nhiệt đới có mùa khô hạn thật rõ, dựa vào vòng năm đôi khi có thể xác định được tuổi cây gỗ đại khái gần đúng và có thể dùng phương pháp này đối với một số ít loài cây trong rừng phân mùa thường xanh, nhưng trong rừng mưa điển hình với khí hậu tương đối không phân thành mùa thì vòng sinh trưởng hàng năm không phân biệt rõ rệt Do xác định tuổi cây trong rừng nhiệt đới có nhiều khó khăn, ông đã đi sâu nghiên cứu, về tình hình đại biểu cấp thể tích thấy rằng: trong các loài cây ưu thế thường gặp, có sự biến đổi rất lớn về độ nhiều trong các giai đoạn còn non; một loài cây mà trong các tầng trên chiếm tỷ lệ lớn, có thể rất nhiều đại biểu là mầm non và cây con, trong khi đó một loài cây khác, ở tầng trên cũng có nhiều không kém gì, lại có rất ít đại biểu trong số mầm non, cây con Đôi khi một loài cây trong lúc còn là mầm non thì có nhiều, nhưng đến khi là cây lớn lại hoàn toàn vắng hẳn
1.1.1.4 Về cấu trúc mật độ
Theo Richards P.W (1952) [28], trong rừng mưa nhiệt đới ở Nam Mỹ
và châu Phi, mật độ lâm phần (Cây có đường kính ngang ngực 10 cm trở lên) biến động từ 390 – 1.710 cây/ha, trong đó mật độ của những cây có đường kính từ 41 cm trở lên khoảng 39 – 60 cây/ha Baur G.N (1962) [1], cũng cho biết trong rừng mưa nguyên sinh ở Mã Lai trên diện tích 1 hecta có khoảng
Trang 7550 cây có đường kính từ 10 cm trở lên, trong đó những cây có đường kính trên 48 cm từ 42 – 65 cây/ha
Về mật độ tối ưu lâm phần, H Thomasius (1972) đã xây dựng lý thuyết khoảng sống và hằng số không gian sinh trưởng liên quan tới chiều cao, mật
độ và tuổi Kairukstis (1980) xác định mật độ tối ưu lâm phần theo diện tích tán và mức độ che phủ Chiabera (1982) mô hình hóa mật độ tối ưu theo tuổi
và lấy mật độ tại tuổi 100 làm gốc (dẫn theo Nguyễn Ngọc Lung (1978) [17]) Nhưng các phương pháp này chỉ thích hợp cho nghiên cứu rừng thuần loài đều tuổi Đối với rừng hỗn loài khác tuổi, việc xác định tuổi lâm phần rất khó khăn, cho nên khó áp dụng đối với rừng nhiệt đới hỗn loài khác tuổi
1.1.1.5 Nghiên cứu định lượng cấu trúc rừng
Việc nghiên cứu cấu trúc rừng đã có từ lâu và được chuyển dần từ mô
tả định tính sang định lượng với sự hỗ trợ của thống kê toán học và tin học, trong đó việc mô hình hoá cấu trúc rừng, xác lập mối quan hệ giữa các nhân
tố cấu trúc rừng đã được nhiều tác giả nghiên cứu có kết quả Vấn đề về cấu trúc không gian và thời gian của rừng được các tác giả tập trung nghiên cứu nhiều nhất Có thể kể đến một số tác giả tiêu biểu như: Rollet B (1971), Brung (1970), Loeth et al (1967) rất nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu cấu trúc không gian và thời gian của rừng theo hướng định lượng và dùng các mô hình toán để mô phỏng các qui luật cấu trúc (dẫn theo Trần Văn Con, (2001) [5]) Rollet B (1971) đã mô tả mối quan hệ giữa chiều cao và đường kính bằng các hàm hồi qui, phân bố đường kính bằng các dạng phân bố xác suất (dẫn theo Bảo Huy (1993) [13] Nhiều tác giả còn sử dụng hàm Weibull để mô hình hoá cấu trúc đường kính loài thông theo mô hình của Schumarcher và Coil (Belly, 1973) Bên cạnh đó các dạng hàm Meyer, Hyperbol, hàm mũ, Pearson, Poisson, cũng được nhiều tác giả sử dụng để mô hình hoá cấu trúc rừng
Trang 8Một vấn đề nữa có liên quan đến nghiên cứu cấu trúc rừng đó là việc phân loại rừng theo cấu trúc và ngoại mạo hay ngoại mạo sinh thái Cơ sở phân loại rừng theo xu hướng này là đặc điểm phân bố, dạng sống ưu thế, cấu trúc tầng thứ
và một số đặc điểm hình thái khác của quần xã thực vật rừng Đại diện cho hệ thống phân loại rừng theo hướng này có Humbold (1809), Schimper (1903), Aubreville (1949), UNESCO (1973) Trong nhiều hệ thống phân loại rừng theo
xu hướng này khi nghiên cứu ngoại mạo của quần xã thực vật đã không tách rời khỏi hoàn cảnh của nó và do vậy hình thành một hướng phân loại theo ngoại mạo sinh thái Khác với xu hướng phân loại rừng theo cấu trúc và ngoại mạo chủ yếu mô tả rừng ở trạng thái tĩnh Trên cơ sở nghiên cứu rừng ở trạng thái động Melekhov đã nhấn mạnh sự biến đổi của rừng theo thời gian, đặc biệt là sự biến đổi của tổ thành loài cây trong lâm phần qua các giai đoạn khác nhau trong quá trình phát sinh và phát triển của rừng (dẫn theo Lý Thọ, (1999) [36])
1.1.1.6 Nghiên cứu về tái sinh rừng
Theo quan điểm của các nhà lâm học, hiệu quả của tái sinh rừng được xác định bởi mật độ, tổ thành loài cây, chất lượng cây con, đặc điểm phân bố Vai trò của tái sinh rừng hết sức quan trọng, nó quyết định sự tồn tại của thảm thực vật, tái sinh rừng là tiền đề cho quá trình diễn thế rừng đảm bảo rừng luôn trong trạng thái vận động Do vậy có thể nói những nghiên cứu về tái sinh rừng đã góp phần làm sáng tỏ các quy luật tồn tại và phát triển của rừng
cả trong quá khứ, hiện tại và tương lai
Theo quan điểm của các nhà nghiên cứu thì hiệu quả tái sinh rừng được xác định bởi mật độ, tổ thành loài cây, cấu trúc tuổi, chất lượng cây con, đặc điểm phân
bố Sự tương đồng hay khác biệt giữa tổ thành lớp cây tái sinh và tầng cây gỗ lớn đã được nhiều nhà khoa học quan tâm (Mibbre-ad, 1930; Richards, 1933; 1939; Aubreville, 1938; Beard, 1946; Lebrun và Gilbert, 1954; Joné, 1955-1956; Schultz, 1960; Baur, 1964; Rollet, 1969) [46] Do tính chất phức tạp về tổ thành loài cây,
Trang 9trong đó chỉ có một số loài có giá trị nên trong thực tiễn, người ta chỉ khảo sát những loài cây có ý nghĩa nhất định
Quá trình tái sinh tự nhiên ở rừng nhiệt đới vô cùng phức tạp và còn ít được nghiên cứu Phần lớn tài liệu nghiên cứu về tái sinh tự nhiên của rừng mưa thường chỉ tập trung vào một số loài cây có giá trị kinh tế dưới điều kiện rừng đã
ít nhiều bị biến đổi Van steenis (1956) [47] đã nghiên cứu hai đặc điểm tái sinh
phổ biến của rừng mưa nhiệt đới là tái sinh phân tán liên tục của các loài cây chịu bóng và tái sinh vệt của các loài cây ưa sáng
Theo Taylo (1954), Berwad (1955) số lượng cây trong rừng thiếu hụt cần thiết phải bổ sung bằng tái sinh nhân tạo Ngược lại, ở châu Á theo Budowski (1956), Bava (1954), nhận định dưới tán rừng nhiệt đới nhìn chung
có đủ số lượng cây tái sinh có giá trị kinh tế (dẫn theo Nguyễn Nghĩa Thìn (2004) [35])
Trong nghiên cứu tái sinh rừng, người ta nhận thấy tầng cây và tầng cây bụi qua quá trình sinh trưởng, thu nhận ánh sáng, các chất dinh dưỡng sẽ ảnh hưởng đến cây tái sinh Những lâm phần thưa bị khai thác nhiều, tạo ra nhiều khoảng trống lớn, tạo điều kiện cho cây bụi, thảm tươi phát triển mạnh Trong điều kiện đó chúng là nhân tố cản trở sự phát triển và khả năng sinh tồn của các cây tái sinh Nếu lâm phần kín, đất khô, nghèo dinh dưỡng cây bụi thảm tươi phát triển chậm tạo điều kiện cho cây tái sinh vươn lên (Xannikow, 1967; Vipper 1973) (dẫn theo Nguyễn Văn Thêm (1992) [31])
Các nghiên cứu về TSTN của CIFOR (2000) [45] tại Indonesia chỉ rõ việc chặt bỏ dây leo cây bụi dưới tán nhằm xúc tiến TSTN đã làm cho một số lâm sản ngoại gỗ như song mây trở nên cực kỳ han hiếm
Bunlugan-Để đẩy mạnh tốc độ phục hồi rừng thứ sinh, ở Phillipines đã áp dụng kết quả kỹ thuật ARN (Assisted Natural Regeneration), tăng cường tiến trình
Trang 10TSTN thông qua hạn chế lửa rừng và chăn thả súc vật, kết hợp trồng cây nơi đất trống (theo Lasco R.D, Visco R.G & Pulhin J.M (2001) [44])
Về phương pháp điều tra tái sinh tự nhiên, nhiều tác giả đã sử dụng cách lấy mẫu ô vuông theo hệ thống của Lowdermilk (1927) [42], với diện tích ô đo đếm thông thường từ 1 đến 4 m2 Diện tích ô đo đếm nhỏ nên thuận lợi trong điều tra nhưng số lượng ô phải đủ lớn mới phản ánh trung thực tình hình tái sinh rừng Để giảm sai số trong khi thống kê tái sinh tự nhiên, Barnard (1950) [48] đã
đề nghị một phương pháp "điều tra chẩn đoán" mà theo đó kích thước ô đo đếm
có thể thay đổi tuỳ theo giai đoạn phát triển của cây tái sinh ở các trạng thái rừng khác nhau
1.1.2 Tính đa dạng loài trong quần xã thực vật
Vấn đề đa dạng sinh học và bảo tồn đã trở thành một chiến lược toàn cầu, nhiều tổ chức ra đời để giúp đỡ, hướng dẫn và tổ chức việc đánh giá, bảo tồn, phát triển đa dạng sinh học trên phạm vi toàn thế giới: Hiệp hội tổ chức Quốc tế bảo vệ thiên nhiên (IUCN), chương trình môi trường liên hợp quốc (UNEP), Quỹ bảo tồn và bảo vệ thiên nhiên (WWF)…Nhu cầu cơ bản và sự sống còn của chúng ta phụ thuộc vào tài nguyên của trái đất, nếu nguồn tài nguyên đó giảm sút thì cuộc sống của nhân loại sẽ bị đe doạ Để tránh hiểm họa đó chúng ta phải tôn trọng tài nguyên của trái đất, mọi sự phát triển đều phải theo hướng phát triển bền vững Theo hội nghị thưởng đỉnh bàn về vấn đề môi trường và đa dạng sinh học tổ chức tại Rio de Janerio (Brazil, 1992), 150 nước đã ký công ước về đa dạng và vệ chúng Năm 1990 WWF đã xuất bản quấn sách nói về tầm quan trọng của đa dạng sinh học, IUCN, UNEP và WWF đưa ra chiến lược bảo tồn thế giới…tất cả các quấn sách đó đều nhằm hướng dẫn và đề ra các phương pháp bảo tồn đa dạng sinh học, làm nền tảng cho công tác bảo tồn và nền tảng trong tương lai (dẫn theo Nguyễn Nghĩa Thìn) [33]
Trang 11Ở Phần Lan, Caiande A.K chủ trương phân loại rừng dựa vào thực vật thảm tươi Ông cho rằng, trong lâm phần thành thục, tổ thành thảm tươi không chỉ phụ thuộc vào hoàn cảnh sinh thái môi trường mà còn phụ thuộc vào cả tổ thành loài cây gỗ của lâm phần Theo đó, thảm tươi là chỉ tiêu tốt nhất để xem xét tính đồng nhất sinh học của môi trường, kể cả tính đồng nhất
về hiệu quả của thực vật rừng Tuy thế, điều này đã không hoàn toàn đúng vì thực tế thảm tươi có khả năng chỉ thị nhưng không có khả năng chỉ thị cho tất
cả các điều kiện lập địa Ngoài ra các yếu tố bên ngoài như: lửa rừng, khai thác… cũng ảnh hưởng lên thảm tươi (dẫn theo Nguyễn Nghĩa Thìn) [33]
Ở Hoa Kỳ, phân loại rừng chủ yếu theo học thuyết cực đỉnh (Climax) của Colleman Phân loại theo Climax tạo cho quần xã thực vật ổn định trong quá trình phát triển lâu dài trên những vùng lãnh thổ rộng lớn với đất đai đã được hình thành từ lâu Khí hậu là nhân tố để xác định Climax Ngoài khái niệm Climax, các nhà lâm học Hoa kỳ còn đưa ra khái niệm tiền đỉnh cực (á đỉnh cực), đơn đỉnh cực, đa đỉnh cực (dẫn theo Nguyễn Nghĩa Thìn) [33]
Ở vùng nhiệt đới, theo Thái Văn Trừng, có lẽ Schimper (1918) là người đầu tiên đưa ra hệ thống phân loại thảm thực vật rừng nhiệt đới Trong hệ thống này Schimper đã phân chia thảm thực vật thành quần hệ khí hậu, quần
hệ thổ nhưỡng và quần hệ vùng núi Trong quần hệ khí hậu lại được phân chia thành 4 kiểu: Rừng thưa, rừng gió mùa, rừng trảng, rừng gai; ngoài ra còn có thêm 2 kiểu là: Thảo nguyên nhiệt đới và hoang mạc nhiệt đới
Rubel, Ilinski, Burt, Aubréville chỉ căn cứ vào độ tán che trên mặt đất của tầng ưu thế sinh thái để phân biệt các kiểu quần thể thưa thành: Rừng thưa
và trảng chuông (dẫn theo Thái Văn Trừng 1978) [38]
Theo WWF(1989), đã định nghĩa về ĐDSH: “ Đa dạng sinh học là sự phồn thịnh của sự sống trên Trái đất, là hàng triệu loài thực vật, động vật và vi sinh vật, là những gen chứa đựng trong các loài và là những hệ sinh thái vô
Trang 12cùng phức tạp cùng tồn tại trong môi trường” (dẫn theo Nguyễn Thành Mến
(2005) [20])
Hiện nay vấn đề đa dạng sinh học và bảo tồn đã trở thành chiến lược toàn cầu Đã có rất nhiều các tổ chức ra đời để giúp đỡ, hướng dẫn và tổ chức việc đánh giá, bảo tồn, phát triển đa dạng sinh học trên phạm vi toàn thế giới
Việc nghiên cứu các hệ thực vật và thảm thực vật trên thế giới với nhiều
bộ thực vật chí của các nước đã hoàn thành, những công trình nghiên cứu có giá trị xuất hiện vào đầu thế kỷ XIX-XX như: Thực vật chí Hồng Kông (1981); Thực vật chí Australia (1866); Thực vật chí Ấn Độ (1872-1897); Thực vật chí Miễn Điện (1877); Thực vật chí Malayxia (1892-1925) vv Đây là những đóng góp quan trọng để đánh giá tính đa dạng sinh học của hệ thực vật trên thế giới [7], [8]
Bên cạnh đó có nhiều công trình khoa học khác nhau ra đời và hàng ngàn cuộc hội thảo được tổ chức nhằm thảo luận về quan điểm, phương pháp luận và thông báo các kết quả đã đạt được ở khắp nơi trên toàn Thế gới
Trang 13Trong rừng tự nhiên hỗn loài ở Việt Nam, hiếm khi chỉ có một loài ưu thế duy nhất tạo thành các quần hợp như vùng ôn đới Theo Nguyễn Hồng Quân (1982) [26], trong rừng loại IVB ở Kon Hà Nừng, trên diện tích một hecta có khoảng 60 loài, nhưng các loài có tổ thành lớn nhất cũng không vượt quá 10% Nguyễn Văn Tương (1983) [39], cho rằng trong rừng tự nhiên hỗn loài, chỉ tính loài cây gỗ từ trạng thái sào trở lên cũng có đến ba bốn chục loài trên một ha, nhưng trong đó loài cây gỗ lớn có thể vươn đến chiều cao 30 m chỉ từ 10-20 % Nguyễn Ngọc Lung (1991) [18], qua điều tra các dạng rừng khí hậu ở Hương Sơn, Kon Hà Nừng và một số địa phương khác, cũng cho biết trên ô tiêu chuẩn diện tích một ha thường có từ 23-25 loài, với số cây thấp nhất cũng đạt 317 cây
và cao nhất đến 859 cây trên một ha
Trần Ngũ Phương (1970,1998,1999) [23], [24], [25] cho rằng số tầng nhiều nhất trong đai rừng nhiệt đới mưa mùa ở Việt Nam là năm, kể cả tầng cây bụi và thảm tươi; nhưng không tán thành việc phân tầng theo các cấp chiều cao Thực tế nếu phân tầng mà không chỉ rõ giới hạn cấp chiều cao, thì việc phân tầng ấy chỉ đơn thuần mang tích chất định tính
1.2.1.3 Về cấu trúc mật độ
Nhằm xác định mật độ tối ưu cho lâm phần, Nguyễn Ngọc Lung (1987) [17] khi nghiên cứu trên đối tượng rừng thông ba lá Tây Nguyên, đã sử dụng ba phương trình kinh nghiệm biểu thị nhu cầu không gian dinh dưỡng, trong đó dạng phương trình GT = a + p.A (GT là diện tích hình chiếu thẳng tán lá, A là
Trang 14tuổi lâm phần, a và p là các tham số) được chọn là cơ sở để xây dựng mô hình mật độ hợp lí Phương pháp này chỉ phù hợp cho đối tượng rừng thuần loài, khó
áp dụng cho rừng hỗn loài khác tuổi
Trần Văn Con (1991, 1992) [3], [4] đề nghị ứng dụng mô phỏng toán trong nghiên cứu động thái rừng tự nhiên dựa trên tương quan giữa tổng số cây
và tiết diện ngang của lâm phần rừng khộp, tính toán các tham số phù hợp cho mỗi dạng cấu trúc để xác định mật độ tối ưu của lâm phần; qua đó cũng cho biết rằng rừng khộp Tây Nguyên rất thưa, độ đầy chỉ đạt 0,1-0,7
1.2.1.4 Về cấu trúc tuổi
Theo Phùng Ngọc Lan (1986) [15], nghiên cứu cấu trúc tuổi của rừng mưa nhiệt đới là vấn đề cực kỳ khó khăn vì hiện nay chưa đủ cơ sở tin cậy để căn cứ vào vòng năm xác định tuổi của các cây rừng nhiệt đới Mặc dù vấn đề vòng năm đã được Giang Văn Thắng, Trịnh Khắc Mười (1988) [30], [20] bước đầu nghiên cứu và cho biết các loài: Cồng, ràng ràng, táu và huỷnh, mỗi vòng năm ứng với một tuổi Nhưng thực ra, phương pháp tính tuổi theo vòng năm áp dụng cho rừng ôn đới chỉ đúng với loài cây ôn đới hoặc trên một số đối tượng hạn chế là các cây rừng nhiệt đới dụng lá, sinh trưởng ở nơi có hai mùa rõ rệt 1.2.1.6 Nghiên cứu về định lượng mối quan hệ giữa các nhân tố cấu trúc
- Phân bố số cây theo đường kính và chiều cao (phân bố N/D, N/H)
Theo Đồng Sỹ Hiền (1974) [9], khi lập biểu thể tích cây đứng rừng tự nhiên miền Bắc Việt Nam có kết luận phân bố N/D là phân bố giảm và tác giả đã dùng hàm Meyer và họ đường cong Pearson để mô tả phân bố này
Nguyễn Ngọc Lung (1991) [18] qua nghiên cứu cấu trúc rừng tự nhiên ở Hương Sơn, Kon Hà Nừng và một số địa điểm khác, thấy rằng về đa số phân bố N/D là phân bố giảm kiểu Meyer, ở rừng nguyên sinh thường xuất hiện một đỉnh nhỏ ngay sau cỡ đường kính nhỏ nhất và có thể một đỉnh quá thành thục ở cỡ đường kính lớn
Trang 15Bảo Huy (1993) [13] từ kết quả thử nghiệm mô phỏng phân bố thực nghiệm N/D cho rừng ưu thế bằng lăng ở Đắc Lắc theo các dạng phân bố: Poisson, khoảng cách, hình học, Weibull và Meyer, kết luận phân bố khoảng cách và trường hợp riêng là phân bố hình học khái quát khá tốt cho phân bố thực nghiệm N/D của tổng thể
Bên cạnh các nghiên cứu phân bố N/D thì phân bố N/H cũng đã được nhiều nhà khoa học quan tâm Bảo Huy (1993) [13], Lê Sáu (1996) [29] qua nghiên cứu phân bố N/H để tìm tầng tích tụ tán cây trong các kiểu rừng thường xanh và rừng hỗn loài bằng lăng chiếm ưu thế ở Kon Hà Nừng và Đắc Lắc, đều
đi đến kết luận là phân bố N/H có dạng một đỉnh với nhiều định phụ hình răng cưa và hàm Weibull thích hợp nhất cho phân bố này
Tóm lại, để nghiên cứu phân bố N/D và H/D trong các kiểu rừng thường xanh hỗn loài ở Việt Nam, nhiều tác giả thường sử dụng hàm Weibull, Meyer và phân bố khoảng cách để mô tả
1.2.1.7 Về cấu trúc rừng chuẩn
Nguyễn Văn Trương (1983) [41] đề xuất xây dựng mô hình cấu trúc rừng chuẩn dựa trên cơ sở những mô hình hoàn thiện đã có trong tự nhiên và dưới tác động điều tiết của con người; trong đó chú trọng đến điều tiết phân bố tổng tiết diện ngang và cấu trúc đứng của lâm phần mẫu Theo Nguyễn Ngọc Lung (1983) [19] trong thực tiễn sản xuất, sau khi phân chia rừng thành các loại, mỗi loại thuần nhất về mặt nào đó như tổ thành, tầng thứ, phân bố số cây theo cơ kính, có thể chọn được một loài trong các lô tốt nhất, có trữ lượng cao, năng suất sinh trưởng tốt, tổ thành cấu trúc hợp lí nhất, các thế hệ cây gỗ cũng cho phép có sản lượng ổn định, coi là mẫu chuẩn tự nhiên Quan điểm này có tính thực tiễn,
dễ áp dụng trong sản xuất và nghiên cứu, theo hướng “ mô phỏng tự nhiên” là hướng tiếp cận nghiên cứu sinh thái học hiện đại
Trang 161.2.1.8 Về tái sinh rừng
Thái Văn Trừng (1963, 1978) [38] đã nêu hai cách TSTN của các xã hợp thực vật rừng nhiệt đới nguyên sinh hay thứ sinh là tái sinh liên tục dưới tán kín rậm của những loài chịu bóng và tái sinh theo vệt để hàn gắn các lỗ trống đầu tiên với các loài cây tiên phong Qua đó tác giả cũng khẳng định ánh sáng là nhân tố sinh thái đã khống chế và điều khiển quá trình TSTN
Về ảnh hưởng của nhân tố ánh sáng đến quá trình tái sinh, theo Nguyễn Hồng Quân (1984) [27] do những cây có đường kính 12 – 30 cm với chiều cao khoảng 11 – 20 m, tạo nên tầng tán chính của rừng, tầng này không bị tác động qua khai thác, gây nên sự ứ đọng tán, không cho ánh sáng lọt xuống gây ảnh hưởng đến tái sinh của loài cây ưa sáng
Theo Vũ Tiến Hinh (1991) [11] trong rừng tự nhiên thứ sinh hỗn loài khác tuổi ở lâm trường Hoành Bồ - Quảng Ninh, cây rừng tái sinh liên tục và càng ở tuổi nhỏ số cây càng nhiều; hệ số tổ thành của tầng tái sinh và tầng cây cao có mối liên hệ chặt chẽ Vũ Văn Nhâm (1992) [21] qua nghiên cứu tái sinh rừng tự nhiên ở vùng Đông Bắc thấy rằng trên các lâm phần có diễn thế rừng ổn định, hệ số tổ thành tầng cây cao và tầng cây tái sinh thống nhất, còn ở lâm phần
có diễn thế không ổn định thì có sự sai khác rõ rệt
Nguyễn Vạn Thường (1991) [37] đã tổng kết và đưa ra kết luận về tình hình tái sinh tự nhiên ở một số khu rừng miền Bắc Việt Nam như sau: Hiện tượng tái sinh dưới tán rừng của những loài cây gỗ đã tiếp diễn liên tục, không mang tính chu kỳ Sự phân bố cây tái sinh rất không đồng đều, số cây mạ chiếm
ưu thế rõ rệt so với số cây ở cấp tuổi khác
Trần Ngũ Phương (1970) [23] khi nghiên cứu về kiểu rừng nhiệt đới mưa mùa lá rộng thường xanh đã có nhận xét: “Rừng tự nhiên dưới tác động của con người khai thác hoặc làm nương rẫy, lặp đi lặp lại nhiều lần thì kết quả cuối cùng là sự hình thành đất trống, đồi núi trọc Nếu chúng ta để thảm
Trang 17thực vật hoang dã tự nó phát triển lại thì sau một thời gian dài trảng cây bụi, trảng cỏ sẽ chuyển dần lên những dạng thực bì cao hơn thông qua quá trình tái sinh tự nhiên và cuối cùng rừng khí hậu sẽ có thể phục hồi dưới dạng gần giống rừng khí hậu ban đầu”
1.2.2 Tính đa dạng của quần xã thực vật
Công trình đầu tiên, hoàn chỉnh nhất trong nghiên cứu thực vật ở Việt Nam là công trình “Thảm thực vật rừng Việt Nam” của cố GS.TS Thái Văn Trừng (1963 – 1978) [38] [12] Dựa trên các công trình đã có trước đây kết hợp với nghiên cứu riêng của mình, tác giả đã thống kê được ở Việt Nam có
7004 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 1850 chi và 189 họ Đồng thời, tác giả cũng đã khẳng định ưu thế ngành hạt kín trong hệ thực vật Việt Nam với
6336 loài (90,9%), 1727 chi (93,4%), và 239 họ (82,7%) trong tổng số các taxon mỗi bậc
Theo Nguyễn Nghĩa Thìn (2004) [35] vấn đề nghiên cứu đa dạng sinh học ở Việt Nam cũng như trên thế giới được bắt đầu từ những công trình phân loại về động vật, thực vật, nấm đã được bắt đầu từ rất sớm
Nguyễn Nghĩa Thìn cùng các tác giả khác đã công bố nhiều bài báo về
đa dạng sinh học của Vườn quốc gia Cúc Phương, vùng núi đá vôi Hòa Bình, Khu bảo tồn Na Hang, vùng núi Sapa, vùng ven biển Nam Trung Bộ, vùng núi Quảng Ninh, lưu vực Sông Đà và các vườn khác như Cát Bà, Bến En, Cát Tiên, Pù Mát, Phong Nha, Ba Bể, Yôk Đôn Qua quá trình nghiên cứu tác giả
đã công bố cuốn cẩm nang nghiên cứu đa dạng sinh học nhằm hướng dẫn cách đánh giá tính đa dạng thực vật của vùng nghiên cứu cho các Vườn quốc gia và Khu bảo tồn trong cả nước [34]
Một trong những công trình nổi tiếng, đó là bộ “Thực vật trí Đông Dương” do H Lecomete chủ biên (1970-1952) Trong công trình này, các tác giả người Pháp đã thu mẫu và dịch tên, lập khóa mô tả các loài thực vật có
Trang 18mạch trên toàn bộ lãnh thổ Đông Dương Thái Văn Trừng (1978) cũng đã dựa vào công trình này để thống kê thực vật Việt Nam và biết được có 7.004 loài,
1850 chi, 289 họ Riêng miền Bắc Pócs Tamás (1965) thông kê được 5.190 loài
Cũng theo hướng kiểm kê thành phần loài, sau này một số tác giả Việt Nam như Phan Kế Lộc trong công trình “Bước đầu thống kê số loài đã biết ở miền Bắc Việt Nam” đã thống kê được hệ thực vật miền Bắc Việt Nam có
5609 loài, thuộc 1.660 chi và 240 họ [13] Còn ở miền Nam, Phạm Hoành Hộ (1991 - 1993) [15] có công trình “Cây cỏ Việt Nam”, trong công trình này, tác giả đã thống kê được hệ thực vật miền Nam có 5.609 loài
Viện điều tra quy hoạch rừng Việt Nam (1971-1988) đã công bố 7 tập
“Cây gỗ rừng Việt Nam” giới thiệu khá chi tiết cùng với tranh vẽ minh họa nhằm phục vụ cho khai thác tài nguyên rừng [10]
Như vậy, có thể thấy các công trình nghiên cứu về hệ thực vật và thảm thực vật ở Việt Nam giai đoạn nửa đầu và cuối thế kỷ 20 chỉ dừng lại ở việc thống kê thành phần loài trên phạm vi một vùng, khu vực nào đó Việc nghiên cứu ĐDSH, nhất là đa dạng thực vật bằng phương pháp định lượng còn là vấn
đề rất mới mẻ ở nước ta, tới nay chưa có công trình nào nổi bật Một phần bởi đây là vấn đề phức tạp, hơn nữa lại chưa có hệ thống lý luận hoàn chỉnh được đưa ra
1.2.3 Những nghiên cứu về rừng phòng hộ ở Việt Nam
1.2.3.1 Khả năng bảo vệ đất, điều tiết nước của rừng
Ở nước ta những nghiên cứu về xói mòn và phòng hộ đầu nguồn đã được thực hiện từ những năm 60 của thế kỷ trước Tuy nhiên các nghiên cứu
về xói mòn có tính hệ thống từ năm 1960 với các nghiên cứu về ảnh hưởng của độ dốc đến xói mòn đất (dẫn theo Nguyễn Thành Mến 2005 [20]), nghiên cứu về biện pháp công trình và cây phân xanh che phủ đất ở Tây
Trang 19Bắc, Bắc thái, Sơn La, Phú Thọ, Lào (dẫn theo Hoàng Thị Phương Lan 2004 [16]) Ngoài ra còn rất nhiều công trình nghiên cứu về xói mòn đất của các nhà khoa học khác ở các vùng, miền khác nhau của đất nước
Nghiên cứu phân cấp xung yếu cho lưu vực nguồn nước (Nguyễn Ngọc Lung, 1991 [18]) cho thấy độ dốc tăng từ 10 – 15 0 thì xói mòn sẽ tăng lên 21,44%, chiều dài sườn dốc tăng lên gấp đôi thì xói mòn cũng tăng lên gấp 2 lần Độ tàn che và tầng thứ ảnh hưởng lớn tới xói mòn, rừng nhiều tầng là mô hình tốt nhất, thảm tươi giữ một vai trò đặc biệt quan trọng, xói mòn và rửa trôi đã làm mất đi một lượng dinh dưỡng đáng kể của đất, trong
đó mùn chiếm một phần không nhỏ
Nghiên cứu thuỷ văn rừng, vai trò điều tiết nước của rừng, ảnh hưởng của rừng tới dòng chảy của các con sông, suối (dẫn theo Giang Văn Thắng, Trịnh Khắc Mười 1998 [30]) kết quả cho thấy dòng chảy, đặc biệt là dòng chảy kiệt ở các sông suối nơi có rừng thường cao hơn nơi không có rừng
Tó m la ̣i, với điều kiê ̣n rừng nhiê ̣t đới ở Viê ̣t nam, khả năng bảo vê ̣ đất, điều tiết nước của rừng phu ̣ thuô ̣c vào các yếu tố cơ bản như: da ̣ng cấu trúc
rừ ng, đô ̣ tàn che, đô ̣ dố c,
1.2.3.2 Các giải pháp kỹ thuật phục hồi rừng phòng hộ
Do chức năng đă ̣c thù của rừng phòng hộ đầu nguồn nên việc lựa chọn các loài cây trồng phải đạt được mục đích là rừng có nhiều tầng tán, hỗn giao,
có bộ rễ ăn sâu, tán lá rậm, số ng đươ ̣c ở các loa ̣i đất dốc nghèo dinh dưỡng, cho sản phẩm phụ,… để phát huy tốt nhất vai trò phòng hộ nguồn nước và tăng thu nhập cho người dân Vì vâ ̣y, theo quyết định số 680 QĐ/LN ngày 15/8/1986 đã xác đi ̣nh được 92 loài cây trồng rừng cho 9 vùng lâm nghiệp trên cả nước dựa trên các tiêu chuẩn do Bô ̣ Lâm Nghiê ̣p cũ đă ̣t ra Tuy nhiên,
cơ cấu loài cây đã lựa chọn chưa đáp ứng được đầy đủ yêu cầu về phòng hộ,
Trang 20phát triển bền vững đặc biệt đối với chiến lược an ninh môi trường quốc gia
Do đó, hiê ̣n nay thông qua các dự án 327 và 661 và mô ̣t số dự án giống, , chúng ta đã nghiên cứu, tuyển chọn được một danh sách các loài cây trồng rừng phòng hộ (Cẩm nang ngành lâm nghiệp)
Để phu ̣c hồi rừng phòng hô ̣ thì ngoài vấn đề về loài cây trồng rừng ban
đầu, thì“phục hồi rừng bằng khoanh nuôi xúc tiến tái sinh” là vấn đề chính và
cơ bản tiếp theo, vấn đề này được nhà nước rất quan tâm thể hiê ̣n bằng các văn bản, quy pha ̣m và quyết đi ̣nh, với nô ̣i dung cơ bản như sau:
Xúc tiến tái sinh: Gồm đất rừng sau chặt trắng, nương rẫy bỏ hoá, trảng
cỏ cây bụi, bãi bồi có thuận lợi về nguồn giống (hạt, chồi gốc, chồi rễ)
và các đối tượng nuôi dưỡng rừng mà số cây có giá trị nuôi dưỡng ở tầng cây cao không đạt mật độ quy định chung nhưng có thể hoặc có triển vọng xúc tiến tái sinh thành công thông qua các biện pháp kỹ thuật đơn giản (điều 7, điều 59 đến 61)
Khoanh nuôi gồm đất chưa có rừng, nương rẫy cũ, bãi bồi phù sa mới bồi đắp mà quá trình tái sinh và diễn thế tự nhiên hình thành rừng đáp ứng được những yêu cầu kinh tế - xã hội và môi trường trong thời hạn xác định, chỉ cần bảo vệ mà không cần tác động kỹ thuật trực tiếp (điều
8, điều 67 đến 69)
Ngoài ra, khoanh nuôi xúc tiến tái sinh có thể kết hợp trồng bổ sung [(QPN 21-98), đưa quy phạm này vào tài liê ̣u tham khảo]
Như vâ ̣y, các quy pha ̣m tuy có mô ̣t số quy định về đối tượng, giới hạn
và các biện pháp tác động, nhưng mới dừng lại ở mức độ định hướng có tính nguyên tắc Quy phạm QPN 21-98 đã bổ sung và đi sâu hơn, định lượng hoá nhiều tiêu chuẩn để xác định đối tượng, biện pháp, thời gian và kết quả phải đạt được khi khoanh nuôi phục hồi rừng Kết hơ ̣p với những quy định về giao đất, giao rừng và định suất đầu tư cho các hộ gia đình, cá nhân và các tổ chức
Trang 21đảm nhận khoanh nuôi phục hồi rừng (Quyết định 556 và 661 của Thủ tướng Chính phủ) đã giúp cho việc quản lý chỉ đạo và thực hiện tốt hơn
Ngoài các văn bản, quyết đi ̣nh của nhà nước mang tính đi ̣nh hướng, thì
các công trình nghiên cứu càng khẳng đi ̣nh tính đúng đắn của các quyết đi ̣nh
này Nghiên cứu tổ thành loài cây trồng và kết cấu đai rừng phòng hộ (dẫn theo Hoàng Thị Phương Lan [16]), xây dựng phương thức trồng rừng phòng
hộ - kinh tế ở vùng khô hạn, công trình này có ý nghĩa lớn trong việc xây dựng rừng cải thiện điều kiện khí hậu và đất đai, hiê ̣n nay đang đươ ̣c mở rô ̣ng ở các đi ̣a phương vùng khô ha ̣n Sự phu ̣c hồi rừng sau nương rẫy bỏ hóa cũng đươ ̣c đề câ ̣p tới thông qua công trình “Bước đầu nghiên cứu rừng miền Bắc Việt Nam” (Trần Ngũ Phương, 1970 [23]),
Ngoài ra, còn có rất nhiều tác giả nghiên cứu về khả năng phu ̣c hồi của
rừ ng như: Nghiên cứu về kiểu rừng nhiệt đới mưa mùa lá rộng thường xanh (Trần Ngũ Phương, 1970 [23]), rừng sau khai thác hoă ̣c làm nương rẫy lặp đi lặp lại nhiều lần thì sẽ hình thành đất trống, đồi núi trọc Nếu tự nó sẽ phát triển trở la ̣i, chuyển từ thực vật hoang dã - trảng cây bụi - dạng thực bì cao hơn - phục hồi gần giống rừng khí hậu ban đầu Nghiên cứu về thảm thực vật rừng Việt Nam (Thái Văn Trừng, 1978 [38]), kết quả cho thấy ý nghĩa của điều kiện ngoại cảnh đến các giai đoạn phát triển cây tái sinh, ánh sáng là nhân tố sinh thái khống chế và điều khiển quá trình tái sinh tự nhiên ở cả rừng nguyên sinh lẫn rừng thứ sinh Nghiên cứu về tái sinh tự nhiên ở những vùng khác nhau và đối tượng là nhóm loài cây hoặc một loài cây cụ thể (Phùng Ngọc Lan, 1986 [15]), từ các kết quả nghiên cứu đã đề nghị một số nguyên tắc chính trong khai thác, xúc tiến tái sinh, bảo vệ, nuôi dưỡng cây tái sinh, đồng thời đề ra một số biện pháp kỹ thuật về xử lý hạt giống, gieo trồng một
số loài cây bản địa có giá trị
Trang 22Chương 2 MỤC TIÊU, GIỚI HẠN, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu nghiên cứu
2.2 Phạm vi, giới hạn của đề tài
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu
Một số các kiểu quần xã thực vật điển hình tại xã Vây Nưa, huyện Đà Bắc đại diện cho khu vực ven Hồ Hòa Bình
2.2.2 Địa điểm nghiên cứu
Đề tài mới chỉ nghiên cứu ở xã Vầy Nưa, huyện Đà Bắc thuộc vùng ven Hồ Hòa Bình Dây cũng là xã có diện tích rừng tương đối lớn và đại diện
chính cho vùng
2.3 Nội dung nghiên cứu
2.3.1 Điều tra xác định các kiểu quần xã thực vật rừng phòng hộ
Các kiểu quần xã thực vật rừng chủ yếu :
- Rừng tự nhiên
- Rừng trồng
Trang 232.3.2 Phân tích kết cấu không gian của các QXTV rừng phòng hộ
2.3.2.1 Phân tích kết cấu không gian của các QXTVR
- Cấu trúc tổ thành theo trịn số IV%
- Cấu trúc tầng thứ và độ tàn che
- Mô phỏng các phân bố thực nghiệm N/D, N/H
- Nghiên cứu đặc điểm cây tái sinh tự nhiên trong các QXTVR
2.3.3 Đánh giá tính đa dạng loài của các QXTV rừng phòng hộ
Quan điểm hệ thống: Là vận dụng quan điểm cơ bản của khoa học hệ
thống làm phương pháp luận trong việc giải quyết các vấn đề về nhận biết sự vật Quan điểm hệ thống yêu cầu coi đối tượng nghiên cứu như là một hệ thống, xuất phát từ chính thể hệ thống, trong quá trình khảo sát sự vật, cần quan sát kỹ lưỡng mối quan hệ qua lại, tính tổng hợp giữa cục bộ và chính thể, giữa bộ phận và bộ phận, giữa chính thể và môi trường bên ngoài, nghiên cứu đối tượng một cách tinh tế, với mục đích giải quyết vấn đề một cách tốt nhất Do đó, đặc điểm biểu thị của nó mang tính chỉnh thể, tính tổng hợp và chuyển biến theo chiều hướng tốt nhất
Quan điểm sinh thái học: Trong thế giới tự nhiên hình thành nên quy
luật nội tại về tác dụng tương hỗ, nương tựa và hạn chế lẫn nhau giữa sinh vật
Trang 24và sinh vật, giữa sinh vật và môi trường, quy luật này có sẵn ý nghĩa chỉ đạo
và phổ biến Hệ thống nông lâm nghiệp là một hệ thống phức tạp về sản xuất
tự nhiên và sản xuất kinh tế, đồng thời cũng tuân theo quy luật cơ bản của giới tự nhiên mới có thể phát triển bền vững
2.4.2 Phương pháp cụ thể
Sự dụng các phương pháp truyền thống trong nghiên cứu điều tra rừng
để thu thập số liệu, các phương pháp trong thống kê toán học để xử lý, phân tích, tổng hợp tài liệu và tính toán đảm bảo độ chính xác trong nghiên cứu khoa học
2.4.3 Phương pháp thu thập số liệu
a Phương pháp thu thập tài liệu cơ bản
Kế thừa các tài liệu, số liệu điều tra về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội khu vực nghiên cứu, các tài liệu tham khảo liên quan đến đề tài của các tác giả trong và ngoài nước
b Phương pháp điều tra thực tế
Lập ô tiêu chuẩn (ÔTC):
Trên mỗi một trạng thái thực vật tiến hành lập 3 ÔTC điển hình tạm thời
có diện tích 1000 m2/ô, từ 3 ÔTC tính bình quân ra thành một ÔTC để phân tích
và đánh giá
Điều tra tầng cây cao:
Trong các ÔTC mô tả các chỉ tiêu như vị trí, độ dốc, hướng phơi, độ cao, lịch sử canh tác nương rẫy, thời gian bỏ hoá, sau đó xác định tên loài và các chỉ tiêu sinh trưởng của tầng cây cao, nếu loài nào chưa rõ thì thu thập tiêu bản để giám định:
- Đường kính ngang ngực (D1,3, cm)
- Chiều cao vút ngọn (Hvn, m) và chiều cao dưới cành (Hdc, m)
- Đường kính tán lá (DT, m)
Trang 25 Xác định độ tàn che:
Dùng phương pháp vẽ trắc đồ rừng theo phương pháp của Richards và Davis (1934), biểu diễn trên giấy kẻ ô ly với dải rừng có diện tích 500m2 (10 x 50m) tỷ lệ 1/200, sau đó tính diện tích tán che trên giấy kẻ ly, tính tỷ lệ %
Điều tra cây tái sinh:
Trên ÔTC, lập 5 ÔDB có diện tích 25m2 phân bố đều trên ÔTC Thống kê tất cả cây tái sinh vào phiếu điều tra theo các chỉ tiêu:
- Tên loài cây tái sinh, loài nào chưa rõ thì thu thập tiêu bản để giám định
- Đo chiều cao cây tái sinh bằng thước sào
- Chất lượng cây tái sinh:
Điều tra tầng cây bụi, thảm tươi:
Lập 5 ÔDB có diện tích 25m2 (5m x 5m) được bố trí đều trên 2 đường chéo của ÔTC
+ Điều tra cây bụi (shrubs) theo các chỉ tiêu: tên loài chủ yếu, số lượng
khóm (bụi), chiều cao bình quân, độ che phủ trung bình của từng loài trên ÔDB, kết quả ghi vào phiếu điều tra cây bụi
+ Điều tra thảm tươi (ground cover vegetation) theo các chỉ tiêu: loài chủ
yếu, chiều cao bình quân, độ che phủ bình quân của loài và tình hình sinh trưởng của thảm tươi trên ÔDB
2.4.4 Phương pháp xử lý số liệu
2.4.3.1 Xác định các kiểu QXTV rừng phòng hộ tại khu vực nghiên cứu
- Đối với rừng tự nhiên: Để xác định được các kiểu QXTV rừng tự nhiên đề tài đã kết hợp từ điều tra thực tế với việc phân chia trạng thái rừng của Loetschau và theo Quy phạm thiết kế kinh doanh rừng QPN 6-84, do Bộ Lâm nghiệp ban hành 1984 để xác định các trạng thái rừng đại diện trong khu vực nghiên cứu
Trang 26- Đối với rừng trồng: Căn cứ vào tổ thành loài cây có thể phân chia rừng ra thành rừng thuần loài và rừng hỗn giao Rừng thuần loài chỉ có 1 loài cây, tổ thành loài cây đơn giản, loài cây ưu thế rõ ràng Rừng hỗn giao có từ 2 loài trở lên và kiểu rừng tương đối thuần loài là loại rừng mà trong đó loài có nguồn gốc nhân tạo chiếm 70%, nguồn gốc tự nhiên chiếm 30%, và đa số thuyết minh khi thống kê đều là rừng trồng Theo mức độ sinh trưởng và phát triển, loài cây khác có nguồn gốc tự nhiên xâm nhập vào lâm phần, hình thành nên rừng tương đối thuần loài
2.4.3.2 Phân tích kết cấu không gian của các QXTV rừng
* Cấu trúc tổ thành
+ Xác định tỷ lệ tổ thành (Chỉ số quan trọng: Important Value)
Để xác định tổ thành tầng cây cao, đề tài sử dụng phương pháp tính tỷ lệ
tổ thành theo phương pháp của Daniel Marmillod (Đào Công Khanh, 1996)
2
% G
% N
%
(2-1) Trong đó: IVi% là tỷ lệ tổ thành (chỉ số quan trọng: Important Value) của loài i
Ni% là % theo số cây của loài i trong QXTV rừng Gi% là % theo tổng tiết diện ngang của loài i trong QXTV rừng Theo Daniel M., những loài cây có IV% 5% mới thực sự có ý nghĩa
về mặt sinh thái trong lâm phần Theo Thái Văn Trừng (1978), trong một lâm phần nhóm loài cây nào đó > 50% tổng số cá thể của tầng cây cao thì nhóm loài đó được coi là nhóm loài ưu thế Cần tính tổng IV% của những loài có trị
số này lớn hơn 5%, xếp từ cao xuống thấp và dừng lại khi tổng IV% đạt 50%
* Cấu trúc và độ tàn che
- Cấu trúc tầng là chỉ tiêu cấu trúc hình thái thể hiện sự sắp xếp không gian phân bố của thực vật theo chiều thẳng đứng Nghiên cứu cấu trúc được tiến hành thông qua các phẫu đồ rừng theo phương pháp của Richards và Davis (1934)
Trang 27- Xác định độ tàn che: kết hợp quan trắc và phẫu đồ ngang để xác định tỉ
lệ che phủ (%) hình chiếu tán cây rừng so với bề mặt đất rừng
* Nghiên cứu đặc điểm cây tái sinh
- Tổ thành cây tái sinh
Xác định số cây trung bình theo loài dựa vào công thức:
m
ni n
m
1 i
(2-2) Trong đó:n là số cây trung bình theo loài
m là tổng số cá thể điều tra
ni là số lượng cá thể loài i Xác định tỷ lệ tổ thành và hệ số tổ thành của từng loài được tính theo công thức:
ni: Số lượng cá thể loài i m: Tổng số cá thể điều tra
- Mật độ cây tái sinh
Là chỉ tiêu biểu thị số lượng cây tái sinh trên một đơn vị diện tích, được xác định theo công thức sau:
S
n 10.000
(2-5)
với S là tổng diện tích các ÔDB điều tra tái sinh (m2) và n là số lượng cây
tái sinh điều tra được
Trang 28- Chất lượng cây tái sinh
Nghiên cứu tái sinh theo cấp chất lượng tốt, trung bình và xấu đồng thời
xác định tỷ lệ cây tái sinh có triển vọng
Tính tỷ lệ % cây tái sinh tốt, trung bình, xấu theo công thức:
100
N
n N% (2-6) Trong đó: N%: tỷ lệ phần trăm cây tốt, trung bình, xấu
n: tổng số cây tốt, trung bình, xấu
N: tổng số cây tái sinh
* Mô phỏng các kiểu cấu trúc của một số QXTVR bằng một số phân bố lý
thuyết
- Phân bố giảm dạng hàm Meyer có dạng
ft = .e-x (2-7) Trong đó: ft là tần số quan sát, x là cỡ kính hoặc cỡ chiều cao
, là hai tham số của hàm Meyer
Để xác định tham số của phân bố giảm dạng hàm Meyer, trước hết phải
tuyến tính hoá phương trình mũ, bằng cách logarit hoá cả hai vế của phương
trình (2 - 4) để đưa về dạng phương trình hồi quy tuyến tính một lớp có dạng y =
Trong đó: và là hai tham số của phân bố Weibull Tham số đặc
trưng cho độ nhọn phân bố, tham số biểu thị độ lệch của phân bố
Nếu = 1 phân bố có dạng giảm
= 3 phân bố có dạng đối xứng
> 3 phân bố có dạng lệch phải
Trang 291 i
1 ( x
Trong đó: =f0/n, với f0 là tần số quan sát tuyệt đối ứng với tổ đầu tiên
n là dung lượng mẫu
X = (xi – x1)/k với k là cự ly tổ, xi là trị số giữa cỡ đường kính (chiều cao) thứ i, x1 là trị số giữa cỡ đường kính ( chiều cao) tổ thứ nhất Như vậy X lấy các giá trị 0, là những số tròn
* Kiểm tra giả thuyết về luật phân bố:
Cho giả thuyết H0: Fx(x) = F0(x), trong đó F0(x) là một hàm phân bố hoàn toàn xác định Để kiểm tra giả thuyết H0, người ta dùng tiêu chuẩn phù hợp khi bình phương của Pearson:
flt
flt) (ft
Nếu 2 tính 052 tra bảng với bậc tự do k = m - r -1 thì phân bố lý thuyết không phù hợp với phân bố thực nghiệm (Ho-)
Trang 302.4.3.3 Xác định tính đa dạng trong quần xã
- Xác định chỉ số độ phong phú loài theo
+ Theo Grison (1922): d = S/N (2-12)
Trong đó: S là số loài
N Tổng số cá thể + Chỉ số Margalef (1958): D = (S-1)/LnN (2-13)
+ Chỉ số Sheldon: ES = exp (-∑ pilog Pi) / S (2-17)
- Phân tích, đánh giá tính đa dạng loài:
Trên cơ sở xác định được các chỉ số; chỉ số độ phong phú, chỉ số tính
đa dạng, chỉ số độ đồng đều từ đó sẽ phân tích và đánh giá đa dạng loài thực
vật của các sinh cảnh thuộc khu vực nghiên cứu
Trang 31Chương 3 ĐẶC ĐIỂM KHU VỰC NGHIÊN CỨU 3.1 Điều kiện tự nhiên
3.1.1 Vị trí địa lý
Vầy Nưa là một xã miền núi vùng xa của huyện Đà Bắc, nằm cách
trung tâm thị xã Hoà Bình khoảng 40 km về phía Tây Nam, có toạ độ địa lý:
20080’00” vĩ độ Bắc và 105022’00” kinh độ Đông, chiều dài khoảng 12 km, chiều rộng 8 km
+ Phía Bắc: giáp xã Hiền Lương huyện Đà Bắc
+ Phía Nam: Giáp xã Thung Nai, huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình + Phía Đông: giáp xã Thái Thịnh, Thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình + Phía Tây: giáp xã Tiền Phong, xã Cao Sơn huyện Đà Bắc
Tổng diện tích tự nhiên của xã là 5980 ha bao gồm:
- Diện tích đất lâm nghiệp là 3846,17 ha trong đó
+ Rừng phòng hộ 2818,27 ha (rừng tự nhiên 1940,8 ha, rừng trồng 729,9 ha, đất chưa có rừng 147,57 ha)
+ Rừng sản xuất là 827,9 ha (rừng tự nhiên 333,9 ha, rừng trồng 103,6
ha, đất chưa có rừng 388,4 ha)
Trang 32người dù nhỏ cũng có thể dẫn tới những biến đổi lớn của điều kiện sinh thái Hoạt động canh tác nông nghiệp, thậm chí hoạt động trồng rừng nếu không chú ý đến biện pháp bảo vệ đất cũng có thể làm cho xói mòn, rửa trôi diễn ra nghiêm trọng, đất đai mất dần sức sản xuất, nguồn nước bị suy thoái nhanh
chóng, lòng hồ ngày càng bị bồi lắng
2.1.3 Khí hậu thủy văn
- Khí hậu: Theo Trung tâm dự báo khí tượng thuỷ văn tỉnh Hoà Bình, khu vực nghiên cứu có khí hậu nhiệt đới gió mùa có 2 mùa rõ rệt: mùa mưa nóng, ẩm và mùa khô hanh Mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10, mùa khô hanh
từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau Số liệu do Viện Sinh thái và Môi trường – Trường Đại học Lâm nghiệp thống kê cho thấy: Địa điểm nghiên cứu có các chỉ tiêu khí hậu như sau:
+ Chế độ nhiệt: Nhiệt độ bình quân năm là 22,60C Tháng 7 là tháng nóng nhất, có nhiệt độ cao nhất trung bình 27,50C Tháng 1 có nhiệt độ thấp nhất 15,70C
+ Chế độ mưa: Tổng lượng mưa bình quân năm là 1951,0 mm Lượng mưa tập trung từ tháng 4 đến tháng 10 chiếm 93,14%
+ Chế độ ẩm: Độ ẩm tương đối không khí trung bình là 83% Lượng bốc hơi bình quân năm từ 793,6 mm
+ Chế độ gió: Có 2 loại gió chính là gió Đông Bắc và gió Đông Nam, ngoài ra còn có gió Tây Nam thường xuất hiện vào các tháng 5 và 6 kéo dài trong vài ba ngày Gió Đông Bắc (khô, lạnh) và gió Tây Nam (khô, nóng) là hai loại gió gây tác hại đến sản xuất nông - lâm nghiệp cho người dân trong vùng
+ Số giờ nắng trong năm 1.602,9 giờ Số ngày nắng trong năm là: 217,9 ngày
Trang 33+ Các nhân tố cực đoan: Do lượng mưa phân bố không đều, mưa lớn thường tập trung vào các tháng 7, 8, 9 (327 – 357 mm) cộng với địa hình bị chia cắt, độ dốc cao và việc phát nương làm rẫy của các hộ dân đã tạo ra nhiều dòng chảy bề mặt gây xói mòn mạnh và thường xuất hiện lũ quét ảnh hưởng rất lớn đến sản xuất và đời sống sinh hoạt của người dân
- Thuỷ văn: Trong xã có suối chính là suối Vầy, các suối nhỏ (suối Trạch, suối Bung, suối Săng) bắt nguồn từ các đỉnh núi cao trong khu vực chảy ra sông Đà Mùa khô cũng là mùa tích nước của hồ thuỷ điện (từ tháng 9 đến tháng 4 năm sau) mực nước dâng cao (110 ÷ 120 m), rất thuận lợi cho việc vận chuyển, giao thông đường thuỷ Mùa mưa cũng là mùa hồ xả lũ, mực nước xuống thấp (80 ÷ 90 m), giao thông đi lại khó khăn Mặt khác vào mùa
xả lũ của hồ thuỷ điện một số diện tích lớn của đất bán ngập hoàn toàn trống trải bị phơi ra, mưa lớn đã gây nên xói mòn, sạt lở nghiêm trọng Đây là vấn bức xúc hiện nay đối với tất cả các hồ thuỷ điện cần được sự quan tâm của các nhà khoa học và các ngành, các cấp
- Về thuỷ lợi: Hầu hết diện tích đất trong khu vực phải dựa vào nguồn nước tự nhiên Chỉ một số diện tích hẹp ở ven các suối là đủ nước tưới để canh tác Như vậy, tiềm năng thuỷ lợi của khu vực là rất hạn chế Đây là một đặc điểm tự nhiên quan trọng cần được tính đến trong quá trình quy hoạch sử dụng đất ở địa phương
3.1.4 Địa chất, thổ nhưỡng
Đất trong khu vực nghiên cứu được hình thành chủ yếu trên 3 loại đá mẹ: Đá sét, phiến thạch sét và đá vôi Qua điều tra cho thấy trong khu vực gồm các loại đất chính sau:
- Đất Feralit vàng nâu phát triển trên đá sét, phân bố ở phần sườn và đỉnh Loại này có tầng đất dày thích hợp với trồng cây lâm nghiệp
Trang 34- Đất Feralit vàng nâu phát triển trên đá phiến thạch sét, phân bố dọc theo sườn đồi, thung lũng, suối, tầng đất dày, thường bí chặt, khó thoát nước, hàm lượng mùn thấp
- Đất Feralit nâu nhạt phát triển trên đá vôi, phân bố chủ yếu ở các thung lũng chân núi đá vôi, đất thoát nước tốt, hàm lượng mùn cao, tầng đất khá dày thích hợp cho việc canh tác cây nông nghiệp và công nghiệp ngắn ngày
Nhìn chung, đất đai trong khu vực còn khá tốt, tầng đất từ trung bình đến dày, thích hợp với nhiều loại cây trồng
loài thuộc ngành hạt kín Tất cả các loài thuộc 124 họ
Vùng hồ nằm trong vùng Tây Bắc, là 1 trong 9 vùng địa lý sinh thái có
sự đa dạng cao về thành phần các loài thực vật Đặc điểm của thực vật vùng
hồ phản ánh hệ thực vật ở đây phần lớn thuộc thành phần khu hệ bản điạ Bắc Việt Nam - Nam Trung Hoa và khu hệ Ấn Độ - Mianma di cư đến nhưng số loài thuộc thành phần bản địa tương đối thấp Vùng hồ có một số loài thực vật
cổ nhiệt đới xuất hiện tuy rất hiếm như Sơn tuế đá vôi (Cyas balance), Dây gắm (Ngetum montanum)…
Do tác động của các yếu tố tự nhiên và xã hội ở các mức độ và thời gian khác nhau đã hình thành nên các trạng thái rừng xen cài nhau tại vùng
hồ Mỗi trạng thái có cấu trúc ngoại hình và tổ thành loài cây khác nhau Dưới đây là các đặc trưng của các trạng thái đó:
Trang 35- Trạng thái rừng trên núi đá vôi đã bị tác động mạnh: Trạng thái rừng này chiếm diện tích khá lớn, thành phần loài tương tự trạng thái rừng trên, nhưng mật độ cây thưa hơn, chiều cao trung bình từ 10 - 15m, đường kính 20
động, cây cao trên 20m, đường kính 60cm
- Trạng thái rừng phục hồi sau khai thác kiệt và sau nương rẫy:
Trạng thái rừng này phân bố chủ yếu trên rừng núi đất và một phần nhỏ trên các thung lũng đá vôi Thường gặp các loài cây gỗ nhỏ tiên phong, ưa
sáng như Thôi ba (Alanggium chinensis), Trám trắng (Canarium album), Muối (Rhus chinensis), Bùm bụp (Malluotus barbatus), Cánh kiến (Mallutus phinippinnensis)… ngoài ra còn xuất hiện một số loài tre nứa tập trung thành đám nhỏ như Vầu (Indosasa hispida), Nứa (Ncohouzeaua dulloa)…
Ngoài ra còn những mảng nhỏ trên núi đất cao, đại diện có một số loài
cây như Thích (Acera tonkinensis), Bạc tán (Beichmiedia sp), Nanh chuột (Coiptocarya sp), Dẻ lá tre (Quercus bambuifolia), Thị rừng (Diiospirros sp)…
- Trạng thái rừng ven bờ nước (hồ, sông suối):
Đây là đặc thù riêng có của vùng hồ với nhiều loại đặc trưng như: Vối
rừng, Nhội, Sưa (Dalbergia tonkinensis), Cơi (Pterrocarya tonkinensis)
b Tài nguyên động vật
Theo các tài liệu của Đoàn điều tra quy hoạch rừng tỉnh Hoà Bình, vùng hồ Hoà Bình là nơi tiếp giáp với các luồng di cư động vật từ Đông Bắc
Trang 36và Tây Bắc vào phía Nam, nên hệ động vật còn tương đối phong phú Trong khu vực vùng hồ có một số lượng lớn các loài động vật đã được khai thác và
sử dụng Tổng số loài được khai thác, sử dụng, hoặc có ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống là 146 loài, trong đó có: 34 loài thuộc nhóm chim, 32 loài thuộc nhóm thú, 9 loài thuộc nhóm rắn, 6 loài thuộc nhóm ếch và ba ba, 31 loài cá và 34 loài côn trùng
Trong thành phần gia súc, gia cầm của vùng hồ phổ biến nhất là các loài trâu, bò, lợn, gà, vịt, ngan, chó, mèo, dê và thỏ
Với diện tích mặt nước khá lớn, cá trở thành một nguồn tài nguyên quan trọng với đời sống người dân vùng hồ, trong đó có nhiều loài có giá trị như: chép, mè, trê, quất, trắm, chiên, ngạnh, ngão, măng vòi, măng to, trôi, chuối, nheo, chày, cua đá…
Địa hình của khu vực lòng hồ chủ yếu là đồi núi hiểm trở, vì vậy, hệ động vật rừng rất phong phú và đa dạng Số liệu điều tra trong dân cho thấy hiện vẫn còn một số loài động vật quý như: khỉ, trăn, rắn và nhiều loài chim Một số loài có trong sách đỏ Việt Nam như: gà lôi, khỉ, rắn hổ mang chúa…
Mặc dù số loài động thực vật còn tương đối nhiều, nhưng theo nhân dân trong vùng thì số lượng cá thể của mỗi loài còn rất ít Trong những năm gần đây, ngay cả với những loài thú phổ biến như lợn rừng rất ít khi săn được Các loài thú khác càng hiếm hơn Trong tương lai, với hy vọng xây dựng khu
hồ thành một vùng kinh tế sinh thái điển hình (một trong những tiềm lực quan trọng cho phát triển kinh tế xã hội của địa phương) thì việc bảo vệ và phát triển những đàn thú hoang dã sẽ là nhiệm vụ cấp bách
3.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
3.2.1 Lịch sử làng xã
Trước năm 1984 xã Vầy Nưa có 8 xóm nằm trong khu vực nghiên cứu thuộc diện vùng sâu, vùng xa của huyện Đà Bắc, tỉnh Hoà Bình Thành phần
Trang 37dân tộc chủ yếu là người Mường và người Dao Đến năm 1984 do di dân lòng
hồ, xã Vầy Nưa tiếp nhận một số hộ dân thuộc các xã khác, do vậy xã có 10 xóm Hầu hết các hộ gia đình trong xã đều sinh sống ở độ cao trên 120m so với mực nước biển Phần lớn đất canh tác nông nghiệp, đặc biệt đất canh tác lúa nước đều đã bị ngập, đời sống người dân gặp rất nhiều khó khăn Mặc dù
có người Kinh lên đây xây dựng vùng kinh tế mới và một số người Kinh di cư đến nhưng thành phần dân tộc Mường, Dao ở đây vẫn chiếm tới 95%
Bảng 3.1 Dân số và lao động của xã Vầy Nưa
Trang 38- Tình hình lao động của khu vực: hầu hết là lao động trẻ, trình độ văn hoá thấp, không có chuyên môn kỹ thuật Lao động ở đây chưa thực sự cần
cù, chịu khó tăng gia sản xuất cải thiện đời sống Điều này lý giải tại sao đất đai ở khu vực chưa được sử dụng có hiệu quả như tiềm năng của nó
- Thời gian lao động trong năm được sử dụng khoảng 6 - 8 tháng tuỳ theo hộ gia đình Người dân địa phương tiêu tốn nhiều thời gian vào các hoạt động: canh tác nương rẫy và khai thác gỗ, củi cho nhu cầu sinh hoạt của gia đình Hoạt động canh tác nương rẫy rất vất vả, khoảng cách từ nhà đến nương rẫy khá xa, đường đi lại khó khăn, việc vận chuyển sản phẩm hoàn toàn thủ công (vác, gánh, gùi) Người dân địa phương hao phí rất nhiều thời gian cho hoạt động sản xuất trên nương rẫy nhưng thu nhập từ các hoạt động này rất thấp Vì vậy, đời sống còn vô vàn khó khăn
3.2.3 Thực trạng các ngành kinh tế
Nền kinh tế chung của xã là sản xuất nông lâm nghiệp nhưng sau khi ngăn đập, gần như toàn bộ đất canh tác nông nghiệp đều bị ngập nước Để giải quyết nhu cầu thiết yếu và lương thực trong điều kiện không còn ruộng nước, người dân buộc phải phá rừng làm nương Trong điều kiện đất dốc và mưa mùa nhiệt đới, nương rẫy làm cho đất bị thoái hoá nhanh chóng, năng suất trung bình chỉ đạt 500 - 700 kg thóc/ 1 ha
a Sản xuất nông nghiệp
- Sản xuất nông nghiệp chủ yếu của các xã là cây nông nghiệp ngắn ngày, cây hàng năm như: Lúa, Ngô, Đậu, Lạc, Sắn Phương thức canh tác phổ biến là nương rẫy quảng canh phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện khí hậu thời tiết nên năng suất rất thấp
Trong sản xuất nông nghiệp, cây Ngô là cây lương thực quan trọng hàng đầu và là nguồn thu nhập chính của các hộ dân trong xã Cây Ngô
Trang 39thường được trồng trên các chân đất cao, các sườn đồi thoải, trong các bưa bãi bằng hoặc trồng Nông lâm kết hợp
- Vườn hộ gia đình của các xã có diện tích bình quân 1.500 - 1.600m2/hộ nhưng mang lại lợi ích kinh tế rất thấp vì phần lớn là vườn tạp, các loại cây trồng sử dụng giống địa phương là chính như: Mít, Bưởi, Hồng bì lại không được chăm bón nên chỉ đáp ứng nhu cầu trong gia đình, chưa thành sản phẩm hàng hoá
b Chăn nuôi
- Hầu hết các hộ gia đình đều chăn nuôi trâu, bò, lợn, gà trừ những
hộ đặc biệt khó khăn (quá nghèo) hoặc già nua Việc chăn nuôi hiện nay vẫn mang tính chăn thả tự nhiên (thả rông), thiếu đầu tư, thiếu giống tốt và chưa chú ý phòng dịch bệnh nên đàn gia súc, gia cầm phát triển còn chậm, hiệu quả chưa cao Các giống gia súc đang được nuôi hiện nay phần lớn là giống địa phương cho phối giống theo kiểu tự nhiên nên tuy số lượng nhiều nhưng năng suất và sản lượng thấp, chưa trở thành nguồn thu đáng kể của các hộ gia đình
để ổn định đời sống Chăn nuôi hiện nay chỉ mang tính tự cung tự cấp
- Một tiềm năng của các xã là có diện tích mặt nước nuôi trồng và đánh bắt thuỷ sản ở vùng hồ sông Đà khá lớn nhưng chưa được khai thác, sử dụng triệt để Mấy năm gần đây các hộ dân khu vực cũng đã khai thác nhưng vẫn mang tính tự phát, thiếu vốn đầu tư, thiếu kỹ thuật nên hiệu quả chưa cao Nếu được tổ chức đầu tư vốn, kỹ thuật nuôi trồng, đánh bắt thuỷ sản thì nguồn thu đem lại sẽ không nhỏ cho các hộ dân trong vùng ổn định cuộc sống
c Sản xuất lâm nghiệp
Phần lớn diện tích rừng và đất rừng các xã đã được quy hoạch là rừng phòng hộ rất xung yếu của Hồ Hoà Bình (2.818,27 ha) Đây cũng là nguồn thu của các hộ từ việc tham gia trồng, chăm sóc và bảo vệ rừng phòng hộ
Trang 40Trong những năm qua trên lĩnh vực sản xuất lâm nghiệp với diện tích rừng sản xuất của xã là 827,9ha, các hộ dân trong khu vực đã tham gia trồng, chăm sóc, quản lý bảo vệ rừng phòng hộ theo chương trình 327, dự án PAM
3352, dự án 747, 661, và trồng rừng kinh tế chủ yếu là trồng keo và luồng
- Hệ thống điện: Do được đầu tư của dự án ổn định dân cư lòng hồ sông
Đà (747) nên đến nay, xã đã có hệ thống lưới điện đến các xóm và hộ gia đình phục vụ sản xuất, sinh hoạt
- Hệ thống bưu chính, viễn thông, truyền hình: xã có một trạm bưu chính phục vụ đưa, nhận thư điện tín Riêng hệ thống viễn thông chưa có đường dây điện thoại đến các xã, mạng lưới điện thoại di động còn rất khó khăn do địa hình phức tạp nên cũng không sử dụng được
- Hệ thống truyền hình: trong khu vực có 1 trạm chuyển phát đặt tại trung tâm và xã Nên dân cư trong vùng có thể nghe đài phát thanh và xem được truyền hình Đây là điều kiện thuận lợi để nâng cao trình độ dân trí, nắm bắt các thông tin kinh tế, xã hội và khoa học kỹ thuật để phát triển sản xuất ổn định đời sống người dân
- Y tế: Xã đã có trạm y tế nhưng đội ngũ cán bộ y tế xã có trình độ chuyên môn thấp, thiếu trang thiết bị kỹ thuật nên hàng năm cán bộ y tế huyện, tỉnh phải tổ chức khám chữa bệnh, tiêm chủng định kỳ các loại vac xin phòng bệnh cho trẻ em tại xã Sinh đẻ có kế hoạch đã được các cán bộ xã và người dân quan tâm nên đã có nhiều tiến bộ