1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu giải pháp giảm nghèo bền vững ở huyện si ma cai, tỉnh lào cai

103 465 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 812,36 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với chủ trương, chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước, sự giúp đỡ của cộng đồng quốc tế, sự nỗ lực của nhân dân, nước ta hiện đang dẫn đầu thế giới về xóa đói, giảm nghèo, là một tron

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi, chưa từng công bố Số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cám ơn và các thông tin trích dẫn đã được chỉ rõ nguồn gốc

Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm trước Hội đồng đánh giá khoa học của Trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam về công trình và kết quả nghiên cứu của mình

Trang 2

ơn sâu sắc đến TS Nguyễn Thị Xuân Hương đã tận tình hướng dẫn khoa học

và giúp đỡ trong suốt quá trình thực hiện luận văn

Tôi xin trân trọng cảm ơn UBND huyện Si Ma Cai và các cơ quan liên quan; UBND các xã Lử Thẩn, Sín Chéng, Bản Mế đã cung cấp các số liệu và nhiệt tình giúp đỡ để tôi hoàn thành tốt các hoạt động nghiên cứu của mình

Để thực hiện luận văn, bản thân tôi luôn cố gắng nghiên cứu, học hỏi với tinh thần tận tâm và nỗ lực cao Tuy nhiên, do hạn chế về thời gian, tài liệu tham khảo và kinh nghiệm trong nghiên cứu khoa học, đề tài chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót nhất định Tôi rất mong muốn nhận được sự góp ý xây dựng từ quý thầy cô, các nhà khoa học, các chuyên gia và những người quan tâm

để đề tài được hoàn thiện hơn và có thể thực thi tốt trong thực tiễn

Hà Nội, ngày 10 tháng 6 năm 2016

Tác giả

Lê Xuân Hợp

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục các từ viết tắt v

Danh mục các bảng vi

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG 5

1.1 Cơ sở lý luận về giảm nghèo bền vững 5

1.1.1 Đói nghèo và nguyên nhân đói nghèo 5

1.1.2 Giảm nghèo và giảm nghèo bền vững 11

1.1.3 Các chính sách của nhà nước về giảm nghèo bền vững 13

1.2 Cơ sở thực tiễn về giảm nghèo bền vững 14

1.2.1 Kinh nghiệm giảm nghèo bền vững của các nước trên thế giới 14

1.2.2 Kinh nghiệm của một số địa phương trong nước về giảm nghèo bền vững 21

1.2.3 Bài học rút ra từ kinh nghiệm 24

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26

2.1 Đặc điểm cơ bản của huyện Si Ma Cai, tỉnh lào Cai 26

2.1.1 Điều kiện tự nhiên liên quan đến vấn đề nghiên cứu 26

2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội liên quan đến vấn đề nghiên cứu 31

2.1.3 Đặc điểm phát triển kinh tế của huyện 36

2.2 Phương pháp nghiên cứu 37

2.2.1 Phương pháp chọn địa điểm khảo sát 37

Trang 4

2.2.3 Phương pháp tổng hợp và phân tích số liệu 39

2.2.4 Hệ thống các chỉ tiêu phân tích, đánh giá 40

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 41

3.1 Thực trạng đói nghèo ở huyện Si ma Cai giai đoạn 2013-2015 41

3.1.1 Thực trạng nghèo đói ở huyện Si Ma Cai giai đoạn 2013-2015 41

3.1.2 Nguyên nhân và các yếu tố ảnh hưởng đến đói nghèo ở huyện Si Ma Cai 43 3.2 Kết quả thực hiện các chương trình, chính sách giảm nghèo bền vững ở huyện Si ma Cai giai đoạn 2011 - 2015 44

3.2.1 Kết quả thực hiện giảm nghèo bền vững phân theo chương trình 44

3.2.2 Những thành công và hạn chế của các chương trình giảm nghèo bền vững 60

3.3 Kết quả điều tra tình hình giảm nghèo bền vững ở huyện Si Ma Cai 65 3.3.1 Đặc điểm cơ bản của các hộ điều tra 65

3.4 Đánh giá chung và những vấn đề đặt ra cho công tác giảm nghèo bền vững ở huyện Si Ma Cai 71

3.4.1 Đánh giá chung 71

3.4.2 Tồn tại, hạn chế 71

3.5 Các giải pháp giảm nghèo bền vững ở huyện Si Ma Cai 73

3.5.1 Định hướng phát triển kinh tế - xã hội của huyện 73

3.5.2 Một số giải pháp giảm nghèo bền vững cho huyện Si Ma Cai, tỉnh Lào Cai 74

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 90

1 Kết luận 90

2 Kiến nghị 91

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 5

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CNH - HĐH Công nghiệp hoá - hiện đại hoá

CSXH Chính sách xã hội

ESCAP Ủy ban kinh tế xã hội Châu Á - Thái Bình Dương

UBMTTQ Ủy ban mặt trận tổ quốc

XKLĐ Xuất khẩu lao động

Trang 6

3.4 Nguồn vốn tín dụng cho vay đối với hộ nghèo, cận nghèo ơ

huyện Si Ma Cai từ năm 2011 đến 2015

54

3.5 Đặc điểm cơ bản của mẫu điều tra năm 2016 67 3.6 Tình hình thu nhập của hộ điều tra năm 2016 68 3.7 Nguyên nhân nghèo đói của hộ điều tra năm 2016 70 3.8 Nguyện vong của hộ nghèo điều tra năm 2016 72

Trang 7

1 Tính cấp thiết của đề tài luận văn

Đói nghèo đang là vấn đề xã hội bức xúc và nóng bỏng của tất cả các nước trên thế giới, là vấn đề được các chính phủ, các tổ chức quốc tế quan tâm để tìm giải pháp hạn chế và tiến tới xóa bỏ nạn đói nghèo trên phạm vi toàn thế giới Xóa đói giảm nghèo là yếu tố cơ bản để đảm bảo công bằng xã hội và tăng trưởng bền vững Vì vậy, Việt Nam coi xóa đói giảm nghèo là mục tiêu xuyên suốt trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Đồng thời, thực hiện xóa đói giảm nghèo trong từng bước phát triển, đảm bảo công bằng xã hội thể hiện tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa, có ý nghĩa nhân văn, văn hóa sâu sắc

Sau hơn 20 năm đổi mới, nền kinh tế nước ta phát triển với tốc độ tương đối nhanh và đạt được thành tựu to lớn Với chủ trương, chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước, sự giúp đỡ của cộng đồng quốc tế, sự nỗ lực của nhân dân, nước ta hiện đang dẫn đầu thế giới về xóa đói, giảm nghèo, là một trong những nước giảm nghèo thành công, nhất là trong vòng 10 năm gần đây

Công cuộc xóa đói, giảm nghèo ở nước ta hiện nay đang có những cơ hội thuận lợi cho việc thực hiện những mục tiêu mới đặt ra

Bên cạnh những thuận lợi và cơ hội, công cuộc xóa đói, giảm nghèo nước ta cũng phải đối mặt với không ít khó khăn và thách thức Nước ta vẫn

là một trong các nước nghèo, trong thời kỳ đổi mới kinh tế phát triển nhanh, đời sống của các tầng lớp nhân dân được cải thiện, song thu nhập bình quân đầu người hiện nay vẫn ở mức thấp Mặt khác xu hướng gia tăng bất bình đẳng và gia tăng khoảng cách chênh lệch giàu nghèo ngày càng lớn Tỷ lệ người nghèo là người dân tộc thiểu số, vùng cao, vùng sâu còn cao, chiếm

Trang 8

bền vững, nguy cơ tái nghèo rất lớn; hàng vạn hộ nghèo còn đang phải sống trong nhà ở dột nát, không an toàn; tốc độ giảm nghèo không đồng đều giữa các khu vực, vùng khó khăn, vùng nghèo chưa có đủ điều kiện để đột phá về giảm nghèo, tỷ lệ hộ nghèo chênh lệch rất lớn

Si Ma Cai là huyện vùng cao, biên giới của tỉnh Lào Cai, có địa hình tương đối phức tạp, đời sống của nhân dân còn gặp nhiều khó khăn, là 1 trong

62 huyện nghèo của cả nước Trong những năm qua, thực hiện chương trình mục tiêu Quốc gia về xóa đói giảm nghèo, với sự phấn đấu nỗ lực không ngừng của địa phương và sự tham gia phối hợp chặt chẽ của các tổ chức đoàn thể nên nhiều chỉ tiêu quan trọng đã đạt và vượt so với mục tiêu Nghị quyết

đề ra, nhiều mô hình làm tốt công tác xoá đói, giảm nghèo đạt hiệu quả cao; xuất hiện nhiều hộ nông dân nghèo sản xuất giỏi, đời sống của nông dân được cải thiện, bộ mặt nông thôn đang từng bước được đổi mới

Tuy nhiên thời gian qua, công tác xoá đói giảm nghèo cũng bộc lộ những hạn chế cần được khắc phục như: Tỷ lệ nghèo có giảm, nhưng tỷ lệ tái nghèo cao, mục tiêu xóa đói, giảm nghèo đạt nhưng chưa bền vững

Xuất phát từ ý nghĩa, tầm quan trọng và sự cần thiết của công tác xóa

đói, giảm nghèo, đề tài "Nghiên cứu giải pháp giảm nghèo bền vững ở huyện Si Ma Cai, tỉnh Lào Cai" là yêu cầu đặt ra mang tính cấp thiết cả về lý

Trang 9

- Hệ thống hóa những cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn về xóa đói, giảm nghèo và xóa đói, giảm nghèo bền vững

- Đánh giá thực trạng đói nghèo và công tác xóa đói, giảm nghèo ở huyện Si Ma Cai tỉnh Lào Cai giai đoạn 2013 - 2015

- Đánh giá được tính bền vững trong xóa đói, giảm nghèo, tái nghèo, cận nghèo

- Tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả tính bền vững của công tác xóa đói, giảm nghào ở huyện Si Ma Cai tỉnh Lào Cai

- Đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm giảm nghèo bền vững ở huyện

ở huyện Si Ma Cai tỉnh Lào Cai

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn chủ yếu đi tìm hiểu thực trạng, kết quả tính bền vững của công tác giảm nghèo được triển khai ở huyện Si Ma Cai, tỉnh Lào Cai

Trang 10

- Cơ sở lý luận và thực tiễn về giảm nghèo và giảm nghèo bền vững

- Thực trạng đói nghèo và kết quả thực hiện công tác giảm nghèo trên địa bàn huyện Si Ma Cai

- Tính bền vững trong kết quả giảm nghèo địa bàn huyện Si Ma Cai

- Các yếu tố ảnh hưởng đến giảm nghèo bền vững trên địa bàn huyện

Si Ma Cai

- Các giải pháp và đề xuất giảm nghèo bền vững trên địa bàn huyện Si

Ma Cai

5 Kết cấu chi tiết các chương của Luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị và danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn gồm 3 chương

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về giảm nghèo bền vững

Chương 2: Đặc điểm địa bàn nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu Chương 3: Kết quả nghiên cứu

Trang 11

1.1 Cơ sở lý luận về giảm nghèo bền vững

1.1.1 Đói nghèo và nguyên nhân đói nghèo

1.1.1.1 Quan niệm và nguyên nhân đói, nghèo

Nghèo diễn tả sự thiếu cơ hội để có thể sống một cuộc sống tương ứng với các tiêu chuẩn tối thiểu nhất định Thước đo các tiêu chuẩn này và các nguyên nhân dẫn đến nghèo nàn thay đổi tùy theo địa phương và theo thời gian Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) định nghĩa nghèo theo thu nhập, theo đó một người là nghèo khi thu nhập hàng năm ít hơn một nửa mức thu nhập bình quân trên đầu người hàng năm (Per Capita Income, PCI) của quốc gia

Tại Hội nghị về chống nghèo đói do Ủy ban kinh tế - xã hội khu vực Châu Á - Thái Bình Dương do (ESCAP) tổ chức tại Băng Cốc - Thái Lan vào tháng 9/1993, các quốc gia trong khu vực đã thống nhất cao về khái niệm nghèo đói như sau: Nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu ấy phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quán của từng vùng và những phong tục ấy được xã hội thừa nhận [3]

Ở khái niệm về nghèo khổ trên, cần xem xét ba vấn đề sau:

(i) Nhu cầu cơ bản của con người bao gồm: ăn ở, mặc, y tế, giáo dục, văn hoá, đi lại và giao tiếp xã hội

(ii) Nghèo khổ thay đổi theo thời gian: Thước đo nghèo khổ sẽ thay đổi theo thời gian, kinh tế càng phát triển, thì nhu cầu cơ bản của con người cũng

sẽ thay đổi theo và có xu hướng ngày một cao hơn

(iii) Nghèo khổ thay đổi theo không gian: Thông qua định nghĩa này đã chỉ cho chúng ta thấy rằng hiện tại thì chưa nhưng trong tương lai sẽ có chuẩn

Trang 12

nghèo chung cho tất cả các nước, vì nó phụ thuộc vào sự phát triển kinh tế -

xã hội của các quốc gia, từng vùng Xu hướng chung là các nước đang phát

triển ngưỡng đo nghèo đói ngày càng cao

Để đánh giá đúng mức độ nghèo, Ngân hàng phát triển Châu Á đã phát

biểu nghèo đói dưới hai hình thức là nghèo tương đối và nghèo tuyệt đối

Nghèo tuyệt đối: Là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng

và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản, tối thiểu để duy trì cuộc sống (nhu cầu về

ăn, mặc, nhà ở, chăm sóc y tế, giáo dục )

Nghèo tương đối: Là tình trạng một bộ phận dân cư có mức sống dưới

mức trung bình của cộng đồng tại địa phương, ở một thời kỳ nhất định

Những quan niệm về đói nghèo nêu trên, phản ánh ba khía cạnh chủ

yếu của người nghèo là: Không được thụ hưởng những nhu cầu cơ bản ở mức

tối thiểu dành cho con người; có mức sống thấp hơn mức sống cộng đồng;

thiếu cơ hội lựa chọn tham gia vào quá trình phát triển của cộng đồng

Nghèo tuyệt đối chủ yếu phản ánh tình trạng một bộ phận dân cư không

được thỏa mãn những nhu cầu tối thiểu của con người, trước hết là ăn, mặc, ở Nghèo tương đối lại phản ánh sự chênh lệch về mức sống của một bộ phận

dân cư khi so sánh với mức sống trung bình của cộng đồng địa phương trong

một thời kỳ nhất định Do đó, có thể xóa dần nghèo tuyệt đối, còn nghèo

tương đối luôn xảy ra trong xã hội, vấn đề quan tâm ở đây là rút ngắn khoảng

cách chênh lệch giàu nghèo và hạn chế sự phân hóa giàu nghèo, giảm thiểu

tới mức thấp nhất tỷ lệ nghèo tương đối

Dựa vào những khái niệm chung do các tổ chức quốc tế đưa ra và căn

cứ vào thực trạng kinh tế - xã hội ở Việt Nam, trong chiến lược toàn diện về

tăng trưởng và xoá đói, giảm nghèo năm 2010, Việt Nam thừa nhận định

nghĩa chung về đói nghèo do Hội nghị chống đói nghèo khu vực châu Á -

Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức tại Băng Cốc (Thái Lan) tháng 9/1993

Trang 13

Đồng thời vấn đề đói nghèo ở Việt Nam còn được nghiên cứu ở các cấp độ khác nhau như cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng, do đó bên cạnh khái niệm nghèo đói, ở nước ta còn có một số khái niệm sau:

Đói: Là tình trạng một bộ phận dân cư có mức sống cực thấp so với mức nhu cầu tối thiểu; chịu đói và chịu đứt bữa, không đủ mặc và có mức cung cấp khoảng từ 1500 - 2000 calo/người/ngày Theo cách hiểu này, thì đói

là tình trạng một bộ phận dân cư có mức sống dưới mức tối thiểu thu nhập không đảm bảo nhu cầu về vật chất để duy trì cuộc sống hàng ngày Ở Việt Nam chúng ta, hộ gia đình được xem là thành phần kinh tế tồn tại trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Kinh tế hộ có ý nghĩa quan trọng đảm bảo sự tồn tại và phát triển của hộ và góp phần vào sự phát triển kinh tế của cả cộng đồng và đất nước Đánh giá, xem xét theo mô hình kinh tế

hộ gia đình được Việt Nam quan tâm đúng mức trong việc thúc đẩy sự phát triển của nó và đánh giá một cách toàn diện [3]

Hộ đói: Là một bộ phận hộ gia đình có mức sống của từng thành viên dưới mức tối thiểu, không đảm bảo nhu cầu về vật chất để duy trì cuộc sống; hay nói cách khác đó là một bộ phận dân cư thiếu ăn, đứt bữa, thường xuyên phải vay nợ và thiếu khả năng trả nợ [3]

Hộ nghèo: Là tình trạng một số hội gia đình chỉ thõa mãn một phần nhu cầu tối thiểu của cuộc sống và có mức sống thấp hơn mức sống của cộng đồng xét trên mọi phương diện [3]

Như vậy, đói nghèo là tình trạng bị thiếu thốn ở nhiều phương diện như: thu nhập hạn chế hoặc thiếu cơ hội tạo thu nhập, thiếu tài sản để đảm bảo tiêu dùng những lúc khó khăn và dễ bị tổn thương trước những đột biến,

ít được tham gia vào quá trình ra quyết định Qua nghiên cứu chúng ta nhận thấy đói nghèo có nguồn gốc căn nguyên từ kinh tế, nhưng đói nghèo thực chất là hiện tượng kinh tế - xã hội phức tạp, chứ không thuần túy chỉ là vấn đề

Trang 14

kinh tế cho dù các tiêu chí đánh giá của nó trước hết và chủ yếu dựa trên các tiêu chí về kinh tế Vì vậy, khi nghiên cứu những tác động ảnh hưởng đến thực trạng, xu hướng, cách thức giải quyết vấn đề đói nghèo cần phải đánh giá những tác động của nhân tố chính trị, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng có như vậy mới đề ra được các giải pháp đồng bộ cho công tác xoá đói, giảm nghèo ở nước ta

1.1.1.2 Nguyên nhân gây ra đói nghèo

Có nhiều ý kiến khác nhau về nguyên nhân gây ra đói nghèo, song tựu chung lại, nghèo đói ở các nước đang phát triển chủ yếu là do các nguyên nhân cơ bản sau đây:

Thứ nhất, do người nghèo không có khả năng và cơ hội để tiếp cận

và kiểm soát các nguồn lực sản xuất

Các nguồn lực sản xuất chủ yếu hiện nay có thể kể đến như vốn, đất đai, khoa học công nghệ song tất cả những thứ đó người nghèo đói không

có hoặc rất hạn chế về khả năng tiếp cận Một số người trong số họ có thể có sức lao động, nhưng họ sẽ không thể biến sức lao động đó thành nguồn lực, nếu không tiếp cận được với các nguồn lực khác như vốn, đất đai, khoa học công nghệ, tức là họ không có việc làm

Trong mấy năm trở lại đây, tuy các hộ nông dân đã được giao quyền sử dụng ruộng đất lâu dài nhờ thực hiện Luật đất đai, nhưng trên thực tế các hộ được giao đất lại thiếu các điều kiện sản xuất (vốn, lao động, khoa học công nghệ ), nên một số hộ đã không giữ được đất, phải nhượng lại cho các hộ khác Mặt khác, sản xuất trên đất không mang lại hiệu quả kinh tế cao vì thiếu kiến thức và công nghệ, nên có rất nhiều trường hợp, sau khi nhận được quyền sử dụng đất đã bán đi để lấy tiền, trong đó chỉ có một số rất ít hộ dùng

số tiền có được để chuyển hướng sản xuất

Một trong những nguồn lực nữa cần được chú ý hiện nay là vấn đề tín

Trang 15

dụng Trong thực tế, xét về nhu cầu vốn, thì hầu hết số hộ nghèo ở nông thôn đều cần vốn Do thiếu nguồn vốn đủ lớn nên không tiếp cận được với công nghệ hiện đại, do đó không tăng được năng suất lao động, đặc biệt là thiếu vốn để mở mang ngành nghề cũng như mở mang chăn nuôi, vì vậy họ khó có thể thoát khỏi đói nghèo trong khi tư liệu sản xuất chủ yếu là đất đai lại đang

bị thu hẹp dần

Thứ hai, do dân số tăng nhanh

Hiện các nước đang phát triển đang đóng góp lớn nhất vào phần tăng thêm của dân số thế giới Trong suốt thập kỷ 90, phần đóng góp của các nước đang phát triển vào số lượng người tăng thêm chiếm tới 93 - 95% Nói cách khác, dân số thế giới tăng lên nhanh là do các nước đang phát triển quyết định Hiện tại châu Á chiếm 60% số dân cả thế giới, châu Phi là 12% Dân số tăng nhanh ở các nước đang phát triển dẫn đến thu nhập bình quân đầu người giảm, đồng thời tạo ra áp lực rất gay gắt về việc làm và làm nhức nhối những vấn đề xã hội Nghèo đói ở các nước công nghiệp phát triển chủ yếu do thất nghiệp gây ra Còn nghèo đói ở các nước đang phát triển do rất nhiều nguyên nhân, trong đã có nguyên nhân trực tiếp là dân số tăng nhanh

Thứ ba, do trình độ giáo dục thấp

Số dân đông, lại nghèo đói, do đó ngân sách chi cho giáo dục và y tế thấp đã là lôgic vận động của hiện thực Vì thiếu đầu tư cho giáo dục, trình độ lao động thấp dẫn đến năng suất thấp, từ đó mà là cho kinh tế không phát triển, và cái vòng luẩn quẩn cứ đeo bám

Thứ tư, do viện trợ không đến tay người nghèo và sử dụng không đúng mục đích

Trong thực tế, ở các nước đang phát triển hiện nay có nhiều khoản viện trợ cho phát triển mà chủ yếu là đầu tư phát triển nhân lực đã không đến được tay người nghèo Một phần do những chi phí gián tiếp, một phần còn lại rất

Trang 16

lớn lại được sử dụng không đúng mục đích, nên hiệu quả của những nguồn viện trợ rất thấp

Qua những nguyên nhân gây nên nghèo ở các nước đang phát triển vừa nêu, ta thấy nguyên nhân chủ yếu là nguyên nhân kinh tế Vì vậy, xoá đói giảm nghèo là yếu tố cơ bản đảm bảo công bằng và tăng trưởng bền vững vào tăng trưởng kinh tế trên diện rộng được coi là một bộ phận quan trọng của chiến lược và là nhiệm vụ chung của xã hội và chính người nghèo

1.1.1.2 Phương pháp xác định hộ nghèo và chuẩn hộ nghèo của Việt Nam

Đối với nước chuẩn nghèo được áp dụng trong các thời kỳ khác nhau,

từ 1993 đến 2013 đã 6 lần điều chỉnh chuẩn nghèo, đó là:

- Giai đoạn 1993 - 2000: Chuẩn nghèo được quy định theo 3 khu vực (tính theo mức thu nhập bình quân đầu người trong hộ gia đình, quy ra gạo):

+ Giai đoạn 1993 - 1995: Hộ đói: bình quân thu nhập đầu người quy gạo/tháng dưới 13 kg đối với thành thị, dưới 8 kg đối với khu vực nông thôn

Hộ nghèo: bình quân thu nhập đầu người quy gạo/tháng dưới 20 kg đối với thành thị, dưới 15 kg đối với khu vực nông thôn

+ Giai đoạn 1995 - 1997: Hộ đói: là hộ có mức thu nhập bình quân một người trong hộ một tháng quy ra gạo dưới 13 kg, tính cho mọi vùng Hộ nghèo là hộ có thu nhập như sau: Vùng nông thôn miền núi, hải đảo: dưới 15 kg/người/tháng; Vùng nông thôn đồng bằng, trung du: dưới 20 kg/người/tháng; Thành thị: dưới 25kg/người/tháng

+ Giai đoạn 1997 - 2000 (Công văn số 1751/LĐTBXH): Hộ đói: là hộ

có mức thu nhập bình quân một người trong hộ một tháng quy ra gạo dưới 13

kg, tính cho mọi vùng Hộ nghèo là hộ có thu nhập như sau: Vùng nông thôn miền núi, hải đảo: dưới 15 kg/người/tháng, tương đương 55.000 đồng; Vùng nông thôn đồng bằng, trung du: dưới 20 kg/người/tháng, tương đương 70.000 đồng; Thành thị: dưới 25kg/người/tháng, tương đương 90.000 đồng

Trang 17

- Giai đoạn 2001 - 2005: Bộ Lao động - Thương binh & Xã hội đã đưa

ra chuẩn nghèo đói mới (Quyết định số 1143/2000/QĐ - LĐTBXH): Vùng nông thôn miền núi, hải đảo: dưới 80.000 đ/người/tháng; Vùng nông thôn đồng bằng: dưới 100.000 đ/người/tháng; Thành thị: dưới 150.000 đ/người/tháng

- Giai đoạn 2006 - 2010 (Quyết định số 170/2005/QĐ-TTg): Được xác định theo phương pháp dựa trên nhu cầu chi tiêu cho lương thực, thực phẩm

và phi lương thực, thực phẩm Sử dụng 2 chuẩn nghèo cho khu vực nông thôn

và thành thị Khu vực nông thôn (cho cả miền núi và đồng bằng): Những hộ

có mức thu nhập bình quân đầu người dưới 200.000đ/người/tháng; Khu vực thành thị: Hộ có mức thu nhập bình quân đầu người dưới 260.000đ/người/tháng Ngoài ra có chú ý tới yếu tố về nhà ở, tài sản, đất đai, tay nghề, công cụ sản xuất

- Giai đoạn 2011 - 2015 (Quyết định số: 09/2011/QĐ-TTg): Hộ nghèo

ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000 đồng/người/tháng (từ 4.800.000 đồng/người/năm) trở xuống Hộ nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 500.000 đồng/người/tháng (từ 6.000.000 đồng/người/năm) trở xuống

Như vậy, dù trong mỗi thời kì khác nhau của nền kinh tế, Việt Nam đều đưa ra những chuẩn nghèo mới phù hợp với điều kiện riêng của đất nước, tuy nhiên so với chuẩn nghèo thế giới thì chuẩn nghèo của Việt Nam còn thấp Chuẩn nghèo hiện thời của Việt Nam chưa bằng 50% chuẩn nghèo của thế giới

1.1.2 Giảm nghèo và giảm nghèo bền vững

1.1.2.1 Khái niệm về giảm nghèo bền vững

Giảm nghèo trước hết được hiểu như là sự hỗ trợ phát triển của nhà nước và cộng đồng để nâng cao đời sống dân cư, xóa bỏ tình trạng còn tồn tại

Trang 18

các hộ không có khả năng thỏa mãn các nhu cầu tối thiểu như ăn, ở, chữa bệnh và học hành của con cái, Từ đó giúp họ vượt qua tình trạng đói khổ triền miên để đi tới sự phát triển

Giảm nghèo là tạo điều kiện cho bộ phận dân cư nghèo tiếp cận được

với các nguồn lực cần thiết để họ tự nâng cao mức sống, từng bước thoát khỏi tình trạng nghèo Giảm nghèo còn được hiểu là quá trình chuyển một bộ phận dân cư nghèo lên một mức sống cao hơn nhờ sự hỗ trợ của Nhà nước, cộng đồng và sự nỗ lực vươn lên của bản thân các hộ nghèo Ở khía cạnh khác, giảm nghèo là chuyển từ tình trạng người nghèo có sự lựa chọn sang tình trạng có nhiều sự lựa chọn hơn để cải thiện đời sống mọi mặt của mỗi người

Giảm nghèo bền vững: là việc giảm nghèo ở hiện tại nhưng đảm bảo sự

ổn định và phát triển cho các hộ đã được giảm nghèo không bị đói nghèo và tiếp tục giảm tỷ lệ hộ nghèo khác trong tương lai Để giảm nghèo thì các dự

án xóa đói giảm nghèo không chỉ đầu tư kinh phí để giảm ngay tỷ lệ hộ nghèo đói mà hết dự án lại tái nghèo, mà các dự án phải giải quyết được tận gốc các nguyên nhân đói nghèo, để mang tính bền vững lâu dài ổn định và phát triển cho người dân không bị tái nghèo

Như vậy, có thể nói một cách khái quát, giảm nghèo là quá trình tạo điều kiện giúp các hộ đói nghèo có khả năng và cơ hội để tiếp cận với các nguồn lực của sự phát triển một cách nhanh chóng, trên cơ sở đã họ có nhiều

sự lựa chọn hơn, giúp họ từng bước thoát ra khỏi cảnh nghèo đói Giảm nghèo còn gắn với việc khuyến khích và tạo điều kiện cho một bộ phận dân cư biết vươn lên làm giàu chính đáng trong khuôn khổ pháp luật cho phép

1.1.2.2 Sự cần thiết phải giảm nghèo bền vững ở Việt Nam

Thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững là một chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước ta nhằm cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của người nghèo, góp phần thu hẹp khoảng cách chênh lệch về mức sống giữa nông thôn

Trang 19

và thành thị, giữa các vùng, các dân tộc và các nhóm dân cư; đồng thời thể hiện quyết tâm trong việc thực hiện mục tiêu thiên niên kỷ của Liên hợp quốc

về giảm nghèo mà Việt Nam đã cam kết

Trong điều kiện xây dựng đất nước theo hướng công nghiệp hiện đại, việc giảm tỷ lệ hộ nghèo, tạo điều kiện cho người dân có cơ hội vươn lên làm giàu càng có ý nghĩa để thực hiện mục tiêu CNH nền kinh tế

1.1.3 Các chính sách của nhà nước về giảm nghèo bền vững

Giảm nghèo tiến tới xoá bỏ nghèo đói là mục tiêu lớn và xuyên suốt trong mọi thời kỳ, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay của đất nước

Để thực hiện được mục tiêu này, Nhà nước ta đã ban hành nhiều chính sách giúp đỡ các hộ nghèo, các vùng kinh tế khó khăn như: đầu tư phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn; đầu tư cơ sở hạ tầng cho các vùng nghèo, tạo cơ hội cho người nghèo tiếp cận với các dịch vụ công; cung cấp dịch vụ y

tế và giáo dục có chất lượng cho người nghèo; ổn định và nâng cao đời sống của người nghèo

Chương trình phát triển kinh tế xã hội các xã đặc biệt khó khăn vùng dân tộc thiểu số và miền núi (Chương trình 135/CP) ; Chương trình hỗ trợ

giảm nghèo nhanh và bền vững ở 62 huyện nghèo (Nghị quyết 30a); chính sách tín dụng với hộ nghèo, các chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn, đã góp phần không nhỏ vào việc thực hiện mục tiêu quốc gia về xoá đói và giảm nghèo trong giai đoạn hiện nay

Ngoài ra, Nhà nước cũng thực hiện mục tiêu giảm nghèo thông qua việc thực hiện nhiều chương trình, dự án cải tạo điều kiện sống, nâng cao năng lực sản xuất, nâng cao khả năng tự thoát nghèo, và vươn lên làm giàu Như vậy, giảm nghèo bền vững không chỉ dừng lại ở mức sống cao hơn mà còn đòi hỏi những điều kiện, yếu tố duy trì và phát triển kết quả đó trong thời gian dài hơn Để phát triển bền vững thì cần phải thực hiện giảm nghèo hay

Trang 20

giảm nghèo là một yêu cầu của phát triển bền vững Phát triển bền vững sẽ thúc đẩy giảm nghèo nhanh, bền vững

1.2 Cơ sở thực tiễn về giảm nghèo bền vững

1.2.1 Kinh nghiệm giảm nghèo bền vững của các nước trên thế giới

1.2.1.1 Tình hình nghèo đói trên thế giới

Thực trạng nghèo đói đang diễn ra rất phổ biến và gay gắt ở tất cả mọi nơi trên thế giới Từ những nước có nền kinh tế chậm phát triển, đang phát triển và phát triển Nhưng nghèo đói tập trung nhiều nhất ở các nước có nền kinh tế chậm phát triển và đang phát triển Trong những năm qua tình trạng nghèo đói trên toàn thế giới đã được cải thiện đáng kể Tuy nhiên, hiện nay trên thế giới vẫn có khoảng 1,2 tỷ người nghèo đói và vẫn đang có xu hướng tăng thêm, đây chính là hệ quả không thể tránh khỏi của cuộc khủng hoảng lương thực và tài chính thế giới Số nghèo đói trên thế giới tập trung chủ yếu tại khu vực Châu Á và Châu Phi Số người bị thiếu đói đã tăng lên 642 triệu ở khu vực châu Á Thái Bình Dương Còn ở châu Phi và Nam Sahara, con số này là 265 triệu và ở Mỹ Latinh là 53 triệu Con số đó ở khu vực Trung Đông

và Bắc Phi cũng đã lên tới 42 triệu người Trong khi đó, nạn đói cũng bắt đầu

"tăng nhiệt" ở các nước phát triển với khoảng 15 triệu người Theo Ngân hàng Thế giới, giá lương thực lên cao làm tăng ngay số người nghèo đói lên và sự giảm sút về thu nhập trên toàn cầu cũng là một nguyên nhân làm cho tình trạng nghèo đói tồi tệ hơn Hầu hết những người nghèo đói của thế giới lại là nông dân, những người sản xuất ra lương thực Thực tế, hơn 60% người dân châu Phi làm việc ở nông thôn, trồng trọt và chăn nuôi súc vật, chỉ kiếm được chưa đầy 1 USD/ngày Năng suất các vụ mùa của họ chỉ bằng 20% năng suất các vụ mùa ở châu Âu và Mỹ, bởi vì họ không tiếp cận được với tất cả những điều kiện cần thiết để tăng sản lượng như giống, phân bón, nước, điện, kỹ thuật và khả năng tiếp cận thị trường Khi giá lương thực giảm đi, người nông

Trang 21

dân lại là những người bị tổn thương nhất do nông sản là những thứ họ phải bán để lấy tiền trang trải cho các khoản chi tiêu khác (Nguồn tin ngân hàng thế giới)

Ngay như nước Mỹ, đất nước có nền kinh tế hàng đầu thế giới, tỷ lệ dân số Mỹ sống dưới mức nghèo khổ ngày càng tăng Tròn 50 năm (8/1/1964) sau Thông điệp liên bang với ưu tiên hàng đầu là chống đói nghèo của cựu Tổng thống Mỹ Lyndon Johnson, nước Mỹ đã đạt được nhiều tiến bộ đáng kể trong công cuộc xóa đói giảm nghèo, song nền kinh tế số một thế giới vẫn chưa thể khép lại cuộc chiến này Ngày 7/1/2014, Cục Thống kê dân số Mỹ công bố báo cáo cho thấy trong giai đoạn hậu suy thoái kinh tế 2009-2011, cứ

3 người Mỹ thì có một người bị đói trong ít nhất hai tháng Trong khi đó, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu nghèo đói Mỹ, ông James Ziliak, cho biết trong năm 2012, có tới hơn 47 triệu người Mỹ sống trong cảnh nghèo túng, trong đó có 13 triệu trẻ em (nguồn tin ngân hàng thế giới WB)

Như vậy, thế giới mặc dù đã thu được nhiều thành công trong phát triển kinh tế, ổn định chính trị, giảm xung đột sắc tộc đời sống của người dân một

số khu vực đã được nâng lên đáng kể Tuy nhiên, vấn đề nghèo đói vẫn luôn hiện hữu trên các quốc gia Nghèo đói không chỉ là vấn đề của các quốc gia chậm phát triển và đang phát triển mà cũng là vấn đề của các quốc gia có nền kinh tế phát triển hàng đầu trên thế giới Điều đó cho thấy, để xoá đói giảm nghèo bền vững được thành công, không chỉ có sự nỗ lực của riêng từng quốc gia mà đòi hỏi sự nỗ lực của tất cả các quốc gia trên thế giới

1.2.2.2 Kinh nghiệm giảm nghèo bền vững của một số quốc gia

Công cuộc xoá đói giảm nghèo đã và đang diễn ra ở nhiều nước trên thế giới và để lại nhiều kinh nghiệm quý cho chúng ta vận dụng vào thực tiễn XĐGN của đất nước Vì khuôn khổ có hạn của luận văn nên chỉ xin nêu kinh nghiệm của Trung Quốc, Malaysia và Ấn Độ:

Trang 22

* Kinh nghiệm của Trung Quốc

Trong khi tập trung phát triển kinh tế và cải thiện từng bước mức sống của nhân dân Chính phủ Trung Quốc đã dành một số lượng lớn nhân lực, nguồn nhân lực để giúp dân nghèo giải quyết vấn đề cơm ăn áo mặc Kết quả

là con số người nghèo đã giảm đáng kể liên tục trong những năm gần đây và Trung Quốc đã chở thành quốc gia có tốc độ giảm nghèo nhanh nhất thế giới

Năm 1978 số dân nghèo Trung Quốc có khoảng 250 triệu người thì đến năm 2003 chỉ 29 triệu người, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân Trung Quốc đã được cải thiện rõ rệt

Nhà nước Trung Quốc đã tiến hành nhiều biện pháp triệt để đảm bảo tất

cả những người lao động đều có việc làm Trước điều kiện thực tế là dân số quá đông và sự quá tải về lực lượng lao động, Trung Quốc kiên trì theo đuổi thực hiện chính sách tam hóa: Sản lượng hóa - Công nghiệp hóa - Đô thị hóa làm thay đổi căn bản cách nghĩ, cách làm hướng tới chuyển dịch nhanh chóng

cơ cấu lao động nông nghiệp, nông thôn, thực hiện tiến trình đo thị hóa, từ đô thị hóa nhỏ, vừa đến quy mô lớn để thu hút lao động khu nông thôn Chính sách kết nối những văn phòng giới thiệu việc làm với một hệ thống giúp người lao động làm việc có tổ chức, cung cấp những dịch vụ tư vấn về công việc để định hướng ngành nghề cho người lao động

Vấn đề phát triển nông nghiệp và nông thôn được Trung Quốc chú trọng hàng đầu với việc chuyển được nghề nông nghiệp sản xuất tập trung sang sản xuất tư nhân với mô hình kinh tế hộ gia đình và quyền sử dụng đất lâu dài có quyền chuyển nhượng Do có chính sách giao quyền sử dụng đất lâu dài và chính sách được quyền chuyển nhượng mua bán đất nên nhiều hộ làm ăn giỏi đã bỏ vốn tích tụ ruộng đất hình thành các nông trại gia đình tạo

ra khối lượng lớn nông sản phẩm hàng hóa chất lượng, giá thành rẻ có khả năng cạnh tranh cao trên thị trường trong nước và quốc tế

Trang 23

Chính phủ Trung Quốc đưa ra chương trình Đốm lửa nhằm chuyển giao công nghệ và ứng dụng khoa học kỹ thuật vào các vùng nông thôn, tận dụng triệt để mọi năng lực sẵn có ở trong nông thôn vào sản xuất nhằm không ngường nâng cao mức sống của người dân

Đối với gia đình nghèo, thông qua mạng lưới cán bộ chuyên trách ở cơ

sở tư vấn cho họ cách thức làm ăn, coi trọng công tác tập huấn, bồi dưỡng kiến thức, cho vay vốn để phát triển sản xuất… đặc biệt quan tâm đào tạo nghề cho con em nông dân để hướng tới mỗi gia đình có một người vào làm việc ở thành phố hoặc khu công nghiệp, góp phần giảm nhanh nghèo đói ở nông thôn…

* Kinh nghiệm xoá đói giảm nghèo của Malaysia

Chính sách xoá đói giảm nghèo của Malaysia chính thức được hình thành từ năm 1971 gắn liền với việc ban hành chính sách kinh tế mới của Chính phủ Kể từ đó, nó luôn được bổ sung, sửa đổi để phù hợp với nội dung của các chính sách phát triển kinh tế - xã hội của Đất nước, như chính sách kinh tế mới (1970 - 1990), chính sách phát triển mới (1990 - 2000) và tầm nhìn 2020

Mục tiêu tổng thể của Chính sách xoá đói giảm nghèo của Malaysia là xoá bỏ hoàn toàn nghèo đói trên toàn quốc Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, mục tiêu giảm tỷ lệ nghèo đói được đặt ra theo từng thời kỳ nhất định, từ 49,3% năm 1970 xuống còn 16,7% năm 1990 và 7,2% năm 2000

Để đạt được những mục tiêu trên, Chính phủ Malaysia đã lựa chọn các chiến lược nhằm tạo cơ hội cho người nghèo tham gia tự tạo việc làm và các hoạt động có thu nhập cao hơn Do đa số người nghèo sinh sống ở vùng nông thôn, nên Chính phủ dành nhiều ưu tiên thực hiện các chương trình và dự án nhằm tạo điều kiện cho người dân nông thôn hiện đại hoá phương thức canh tác, chuyển dịch cơ cấu sản xuất và cơ cấu sản phẩm để nâng cao thu nhập

Trang 24

- Chương trình tái định cư nhằm đưa những người không có ruộng đất hoặc những người có ruộng đất nhưng sản xuất không có hiệu quả đến những vùng đất mới, ở đó họ có thể làm việc trong các đồn điền cao su hoặc sản xuất dầu cọ Tại nơi ở mới, những người định cư được cung cấp nhà ở với kết cấu

hạ tầng tốt về điện, nước

- Chương trình cải tạo đất nông nghiệp thông qua việc dồn điền đổi thửa, chuyển đổi cơ cấu cây trồng và áp dụng các kỹ thuật canh tác hiện đại

Ở một số nơi, chương trình này cũng được thực hiện theo mô hình hợp tác xã

để đạt được những lợi ích sản xuất trên quy mô lớn

- Chương trình kết hợp phát triển nông nghiệp và nông thôn với những hoạt động chế biến nông sản, khuyến khích phát triển mạnh công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và kinh doanh ở nông thôn để tạo thêm nguồn thu nhập

- Chương trình sản xuất tăng vụ, liên canh và xen canh cây trồng trên cùng một thửa đất để nâng cao hiệu quả và năng suất canh tác

- Dự án thành lập các chợ của nông thôn ở các trung tâm đô thị để họ bán trực tiếp sản phẩm của mình thay vì qua các trung gian

- Chương trình hỗ trợ về đào tạo, tín dụng, khoa học kỹ thuật, tiếp thị cho người dân nông thôn để họ có thể tìm được những việc làm phi nông nghiệp hoặc thành lập các cơ sở sản xuất kinh doanh của riêng mình ở các vùng nông thôn hoặc các thành thị

Bên cạnh các chương trình và dự án nhằm nâng cao thu nhập, Chính phủ cũng thực hiện nhiều biện pháp nhằm cải thiện chất lượng cuộc sống của người nghèo, chẳng hạn như thông qua việc cung cấp kết cấu hạ tầng và các dịch vụ xã hội Đối với các vùng nông thôn, Chính phủ đã xây dựng đường điện, điện thoại, ống nước, đường giao thông, cung cấp các dịch vụ y tế, xây dựng trường học, bao gồm cả nhà ở nội trú cho học sinh

Ngoài ra các tổ chức phi chính phủ và khu vực tư nhân cũng tự nguyện

Trang 25

tham gia tích cực vào công tác xoá đói giảm nghèo Những hoạt động chính của các chủ thể này bao gồm: hỗ trợ về tín dụng, đào tạo nghề và tìm kiếm việc làm cho người nghèo, ngoài ra họ còn có các biện pháp hỗ trợ về điều kiện nhà ở và việc học tập của con cái những người nghèo

Thành tựu xoá đói của Malaysia: nhờ những nỗ lực nêu trên, trong vài thập kỷ qua tỷ lệ người nghèo của Malaysia đã giảm từ mức gần 50% năm

1970 xuống còn 15% năm 1990 và trên 4% năm 2002, vượt mục tiêu đề ra

Cụ thể hơn, năm 1990, tỷ lệ người nghèo ở các vùng nông thôn và các vùng thành thị đã giảm xuống tương ứng còn 19,3% và 7,3% (từ các mức tương ứng 58,7% và 21,9% của năm 1970); các con số tương ứng của năm 2002 là 7% và gần 2% [6] Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới, với tốc độ như trong thời gian vừa qua, chỉ trong một vài năm nữa ở Malaysia sẽ không còn

ai phải sống dưới mức nghèo khổ với thu nhập dưới 2 USD mỗi ngày

* Kinh nghiệm xoá đói giảm nghèo của Ấn Độ

Ấn Độ là một nước có số người nghèo nhiều nhất thế giới và có khoảng

420 triệu người ở tình trạng đói nghèo, chiếm 55% dân số của cả nước Ấn

Độ đưa ra vấn đề phát triển toàn diện nhằm khơi dậy tiềm năng ở nông thôn,

áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, tăng nhanh năng xuất vật nuôi cây trồng đi liêng với nó là phát triển công nghiệp nông thôn Với các chương trình phát triển nông nghiệp đạt được kết qủa cao đã đưa Ấn Độ

từ một nước phải nhập khẩu lương thực trở thành một nước có thể tự cung tự cấp lương thực cho nhân dân cả nước Các vấn đề này đã được thể hiện ngay trong các kế hoạch ngắn hạn và dài hạn với mục tiêu nâng cao chất lượng cuộc sống về kinh tế văn háo và xã hội

Để giải quyết cơ bản vấn đề nghèo đói, Ấn Độ đã tăng đầu tư cho nông nghiệp Năm 1995-1996 Ấn Độ chi 4,1 tỉ USD cho nông nghiệp nhưng năm 2006-2007 tăng lên 19,5 tỉ USD Phát triển nông nghiệp, tăng cường sản xuất

Trang 26

lương thực là một nhiệm vụ trọng tâm của kinh tế Ấn Độ Để đạt chỉ tiêu 175

kg ngũ cốc/người, 11 kg đỗ/người trong năm 2012, Chính phủ Ấn Độ đã chi 1,2 tỉ USD cho Ủy ban An ninh lương thực, để tăng sản xuất gạo, đậu đỗ, lúa mì… và tiến hành kế hoạch chăn nuôi, nâng cấp đàn gia súc nhằm tăng lượng sữa, trứng, thịt

Ấn Độ cũng đã tăng chi cho xóa đói giảm nghèo và coi đây là mục tiêu quan trọng, là chương trình lớn trong các kế hoạch dài hạn Ngày 15/8/1995,

Ấn Độ đã đưa ra Kế hoạch quốc gia về hỗ trợ xã hội cho những người sống dưới mức nghèo khổ: những người nghèo trên 65 tuổi sẽ được trợ cấp 2 USD/tháng; hỗ trợ từ 130 đến 250 USD cho những gia đình nghèo có người chết; hỗ trợ 10 USD cho những phụ nữ trên 19 tuổi trong 2 lần sinh đầu Từ năm 1999, Ấn Độ đã thực hiện hỗ trợ 10 kg lương thực cho những người già không có lương hưu Ngày 25/9/2001, Ấn Độ đưa ra chương trình bảo đảm lương thực và việc làm cho nông thôn, chương trình nhà ở, chương trình bảo đảm lợi ích người lao động trong khu vực nông nghiệp…

Tăng trợ cấp sản xuất nông nghiệp cũng là một biện pháp quan trọng để xóa đói giảm nghèo Trong kế hoạch 5 năm lần thứ X, Ấn Độ đã hỗ trợ sản xuất nông nghiệp là 18 tỉ USD và kế hoạch lần thứ XI là 27 tỉ USD Trợ cấp trong từng ngành là rất cụ thể: tháng 3/2007, trợ cấp vận chuyển đường là 37USD/tấn Ngành chè được trợ cấp 22 triệu USD Mỗi ha chuối được trợ cấp

700 USD để tăng cường sản xuất và xuất khẩu Mỗi hộ nông dân sẽ được trợ cấp 150 USD tiền điện Bảo hiểm nông nghiệp sẽ tăng từ 16% lên 80-90% số nông hộ Năm 2008, Chính phủ sẽ xóa nợ cho nông dân 15 tỉ USD, giảm thuế cho những hộ có diện tích dưới 3 ha Khoảng 30 triệu nông dân đang mắc nợ

sẽ được lợi từ kế hoạch này

Tạo việc làm là một trong những biện pháp quan trọng để xóa đói giảm nghèo Chính vì thế, chương trình việc làm luôn luôn là một nội dung quan

Trang 27

trọng trong các kế hoạch của Chính phủ Tháng 8/2005, Ấn Độ thông qua Luật Bảo đảm việc làm cho nông dân - một trong những văn bản pháp lý quan trọng nhất được ban hành từ khi Ấn Độ giành được độc lập Luật này sẽ bảo đảm về pháp lý để mỗi nông dân có đủ 100 ngày có việc làm/năm, với mức lương 1,5 USD/ngày Nếu không có việc làm, nông dân sẽ nhận được một khoản trợ cấp thất nghiệp Giai đoạn đầu, chương trình này sẽ áp dụng trong

200 huyện; 4 năm tiếp theo sẽ mở rộng ra toàn Ấn Độ Theo nhiều đánh giá, chương trình này được coi là có nhiều kì vọng nhất trên thế giới để xóa đói giảm nghèo (nguồn tin Tạp chí cộng sản)

1.2.2 Kinh nghiệm của một số địa phương trong nước về giảm nghèo bền vững

* Kinh nghiệm giảm nghèo ở tỉnh An Giang:

Quán triệt và thực hiện chủ trương của Đảng, Nghị quyết của tỉnh về xóa đói, giảm nghèo, trong những năm qua, An Giang tập trung các nguồn lực, thực hiện nhiều chính sách, giải pháp xóa đói, giảm nghèo, xóa nhà ở tạm trên địa bàn, đem lại nhiều kết quả quan trọng, bảo đảm kinh tế - xã hội của địa phương phát triển theo hướng bền vững Qua quá trình thực hiện công tác xóa đói, giảm nghèo, An Giang rút ra được một số bài học kinh nghiệm sau:

Thứ nhất, phải xác định xóa đói, giảm nghèo là một trong những chính sách ưu tiên trong phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, là mục tiêu hàng đầu của các mục tiêu thiên niên kỷ Trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện xóa đói, giảm nghèo phải hướng vào những vùng còn tỷ lệ hộ nghèo cao như vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số với tinh thần: về chủ trương, phải đúng trọng tâm, đúng trọng điểm; về chỉ đạo, phải quyết liệt, biết khối lượng công việc, lực lượng thực hiện, thời hạn hoàn thành; về chủ trì, phải gương mẫu, tận tụy, sâu sát, dân chủ, sáng tạo nhưng đúng pháp luật của Nhà nước

Trang 28

Thứ hai, xây dựng lộ trình thực hiện các chính sách, cơ chế đặc thù, các biện pháp đột phá, nhằm thực hiện có hiệu quả công tác xóa đói, giảm nghèo trên địa bàn Đi đôi với công tác này, phải tích cực giải quyết việc làm cho người lao động, gắn với đào tạo nguồn nhân lực, nhất là đào tạo nghề ngắn hạn cho người lao động ở nông thôn trong lĩnh vực nông nghiệp và phi nông nghiệp nhằm nâng cao kiến thức tay nghề, đủ điều kiện tham gia thị trường lao động chất lượng cao Đây là một trong những giải pháp tích cực có tác động rất lớn đối với công tác xóa đói, giảm nghèo ở Thừa Thiên - Huế

Thứ ba, xã hội hóa các hoạt động xóa đói, giảm nghèo, phát động phong trào quần chúng sâu rộng trong toàn tỉnh Tăng cường công tác khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư và hỗ trợ phát triển các làng nghề truyền thống Phấn đấu thực hiện mục tiêu xóa đói, giảm nghèo nhanh và bền vững thông qua việc đẩy mạnh các chương trình đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn, các chương trình hỗ trợ về sản xuất và đời sống cho đồng bào dân tộc thiểu số, các xã đặc biệt khó khăn kết hợp và lồng ghép với các chương trình phát triển kinh tế - xã hội trên từng địa bàn và dựa trên cơ sở đề xuất của nhân dân cho phù hợp; đồng thời, xem việc xóa nhà ở tạm là nội dung quan trọng trong chương trình xóa đói, giảm nghèo của địa phương

Thứ tư, thiết lập cơ chế phân bổ ngân sách công bằng, minh bạch và có tính khuyến khích cao, tạo điều kiện cho các địa phương chủ động trong việc huy động nguồn lực tại chỗ cũng như lồng ghép với các nguồn khác, góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện chương trình Tăng cường kiểm tra, giám sát việc sử dụng nguồn lực, bảo đảm đúng mục tiêu, đúng đối tượng, không thất thoát; kiên quyết xử lý các tổ chức, cá nhân sử dụng nguồn kinh phí của chương trình không đúng mục đích, không có hiệu quả

Thứ năm, hằng năm, tổ chức hội nghị sơ kết, tổng kết để đánh giá, rút kinh nghiệm quá trình lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện chương trình xóa

Trang 29

đói, giảm nghèo và xóa nhà ở tạm; kịp thời khen thưởng để động viên nhân tố tích cực, khắc phục những yếu kém, tồn tại để tổ chức thực hiện chương trình tốt hơn cho những năm tiếp theo

Trên cơ sở những kết quả và bài học kinh nghiệm, thời gian tới, Đảng

bộ và nhân dân An Giang quyết tâm vượt qua khó khăn, khắc phục những tồn tại, tiếp tục đẩy mạnh sản xuất, kinh doanh, thực hành tiết kiệm, tương thân tương ái, giúp đỡ lẫn nhau trong sản xuất và đời sống, thực hiện có hiệu quả chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo giai đoạn 2011 - 2015, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh, bền vững, giải quyết tốt các vấn đề

an sinh xã hội, hoàn thành các chỉ tiêu mà Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh đã

đề ra

* Kinh nghiệm giảm nghèo ở huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa:

Huyện Thọ Xuân có diện tích tự nhiên 30.010,14ha; dân số trên 239,6 nghìn người; Cơ cấu của huyện nhiều năm qua phát triển theo hướng nông nghiệp là chính Tỷ lệ hộ nghèo còn khá cao, năm 2010 là 18,9% Nguyên nhân nghèo là do một số địa phương dân cư ở không tập trung, cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất và đời sống của nhân dân còn thiếu thốn, đầu tư chưa đồng

bộ Xuất phát điểm của huyện là nền kinh tế phát triển chậm, dân trí không đồng đều, tập quán canh tác nhiều địa phương còn lạc hậu, đội ngũ cán bộ làm công tác xoá đói giảm nghèo ở cơ sở còn thiếu kinh nghiệm

Trước thực trạng trên, Đảng bộ và chính quyền huyện Thọ Xuân đã tập trung tuyên truyền giáo dục, nhằm nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên

và nhân dân trong huyện để mọi người, mọi ngành hiểu rõ tầm quan trọng của công tác xoá đói giảm nghèo, tích cực tham gia thực hiện các biện pháp xoá đói giảm nghèo trên địa bàn Huyện còn tập trung chỉ đạo và tổ chức thực hiện bằng những chủ trương, giải pháp đồng bộ trong sản xuất, trồng trọt, chăn nuôi, phát triển trang trại, phát triển thủ công nghiệp; tập trung xây dựng

Trang 30

cơ sở hạ tầng và các công trình phúc lợi xã hội công cộng có liên quan trực tiếp đến sản xuất, nhằm thúc đẩy kinh tế phát triển và cải thiện đời sống nhân dân như: công trình thuỷ lợi kênh mương nội đồng, công trình nước sinh hoạt,

hệ thống điện lưới quốc gia, làm đường giao thông, tổ chức đào tạo nghề; đẩy mạnh xuất khẩu lao động Mục tiêu được đề ra ổn định tỷ lệ nghèo giảm 3%/năm Mỗi năm phấn đấu giải quyết việc làm mới cho từ 3.000 lao động trở lên, giới thiệu từ 30-40 lao động được đi xuất khẩu lao động v.v Thực tế cho thấy, hơn 3 năm thực hiện chương trình xoá đói giảm nghèo, đến nay số

hộ nghèo trên địa bàn huyện từ 18,9% năm 2010, giảm xuống còn 10,2 % năm 2013 Để tiếp tục thực hiện chương trình xoá đói giảm nghèo, huyện Thọ Xuân đang tập trung phát triển nguồn lực, nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển các thành phần kinh tế nhất là phát triển kinh tế hộ gia đình, kinh tế trang trại, xuất khẩu lao động phát triển tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ thương mại; đồng thời thực hiện có hiệu quả chính sách dân số, kế hoạch hoá gia đình, nhất là giảm tỷ lệ dân số; đồng thời vận động nhân dân thực hiện chính sách tiết kiệm, góp phần giảm nghèo ở các địa phương bằng các giải pháp mang tính khả thi cao như: Phát huy tốt nội lực trong nhân dân, tích cực tuyên truyền nhằm làm thay đổi nhận thức, nhằm xóa bỏ lối suy nghĩa trông chờ, ỷ nại vào

sự giúp đỡ của Nhà nước, tự giác chuyển đổi cách nghĩ, cách làm, nhằm khai thác tiềm năng thế mạnh của địa phương để phát triển kinh tế, từng bước cải thiện đời sống cho nhân dân, thu hẹp khoảng cách chênh lệch giàu nghèo giữa các xã, thị trấn, thôn, xóm, góp phần giảm nghèo nhanh và bền vững

1.2.3 Bài học rút ra từ kinh nghiệm

Qua phân tích lý luận trên và một số kinh nghiệm, chính sách, mô hình giải quyết vấn đề nghèo trên thế giới và của Việt Nam có thể rút ra cho huyện

Si Ma Cai, tỉnh Lào Cai những bài học sau:

- Thứ nhất, phải xác định xóa đói, giảm nghèo là một trong những

Trang 31

chính sách ưu tiên trong phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, là mục tiêu hàng đầu của các địa phương Việc xoá đói, giảm nghèo phải xác định đúng trọng tâm, đúng trọng điểm, dân chủ, sáng tạo nhưng đúng pháp luật của Nhà nước

- Thứ hai, xây dựng lộ trình thực hiện các chính sách, cơ chế đặc thù,

các biện pháp đột phá, nhằm thực hiện có hiệu quả công tác xóa đói, giảm nghèo trên địa bàn

- Thứ ba, phải tuyên truyền, quán triệt, nâng cao nhận thức của các cấp,

các ngành và người dân về công tác giảm nghèo Sao cho công cuộc giảm nghèo phải huy động được tất cả các cấp, các ngành, toàn xã hội tham gia, không ai là người ngoài cuộc, trong đó ý chí và quyết tâm của chính các hộ nghèo là nhân tố quyết định

- Thứ tư, phải thấy rõ vấn đề giảm nghèo là một nhiệm vụ khó khăn,

phức tạp và lâu dài Nó liên quan đến nhiều mục tiêu cả kinh tế lẫn xã hội, liên quan đến hoạt động của nhiều ngành và cấc cấp chính quyền khác nhau

Vì vậy, để đạt được hiệu quả giảm nghèo phải có sự phối hợp tích cực và đồng bộ của các cấp, các ngành chức năng, các tổ chức hội, đoàn thể quần chúng; đồng thời phải có sự lồng ghép tất cả các hoạt động, các chương trình,

dự án đầu tư với mục tiêu giảm nghèo

- Thứ năm, phải làm tốt công tác tổ chức, cán bộ, củng cố, kiện toàn

Ban chỉ đạo các cấp, nhất là cấp xã là một trong những yếu tố thành công trong quá trình thực hiện Kinh nghiệm thực tế đã cho thấy, ở đâu có Ban xoá đói giảm nghèo xã mạnh thì ở đó hoạt động giảm nghèo đạt kết quả tốt

- Thứ sáu, hằng năm, tổ chức hội nghị sơ kết, tổng kết để đánh giá, rút

kinh nghiệm quá trình lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện chương trình xóa đói, giảm nghèo và xóa nhà ở tạm; kịp thời khen thưởng để động viên nhân tố tích cực, khắc phục những yếu kém, tồn tại để tổ chức thực hiện chương trình tốt hơn cho những năm tiếp theo

Trang 32

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đặc điểm cơ bản của huyện Si Ma Cai, tỉnh lào Cai

2.1.1 Điều kiện tự nhiên liên quan đến vấn đề nghiên cứu

(1) Vị trí địa lý

Huyện Si Ma Cai được thành lập từ năm 1967 Sau năm 1979, huyện được hợp nhất vào với huyện Bắc Hà; đến năm 2000, huyện Si Ma Cai lại được tái lập trên cơ sở tách ra từ huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai theo Nghị định 36/NĐ/CP ngày 18/8/2000 của Chính phủ

Về hành chính, Si Ma Cai có 13 xã với tổng số 98 thôn, bản Tính đến năm 2015 toàn huyện có 34.973 người, mật độ dân số là 149 người/km2 Huyện có 3 xã biên giới là Si Ma Cai, Nàn Sán và Sán Chải với 6 thôn bản giáp biên Về không gian địa lý, huyện Si Ma Cai nằm ở phía Đông Bắc của tỉnh Lào Cai, cách trung tâm Thành phố Lào Cai hơn 100 km, có vị trí xa nhất

so với các huyện trong tỉnh Về vị trí địa lý, Si Ma Cai nằm trên tọa độ từ 22o35’ đến 22o44’ vĩ độ Bắc, 104o06’đến 104o12’ kinh độ Đông

- Phía Bắc của Huyện giáp huyện Mã Quan thuộc tỉnh Vân Nam - Trung Quốc và huyện Mường Khương

- Phía Đông giáp huyện Bắc Hà và huyện Xín Mần (Hà Giang)

- Phía Nam giáp huyện Bắc Hà

- Phía Tây giáp huyện Mường Khương

Si Ma Cai giáp với huyện Mã Quan (tỉnh Vân Nam, Trung Quốc) với tổng chiều dài biên giới 9,212 km, có cửa khẩu phụ Hóa Chư Phùng (xã Nàn Sán) và 1 lối mở ở mốc 171.2; đồng thời khu vực này cũng là nơi tiếp nối

Trang 33

giữa Mường Khương với Bắc Hà và huyện Xín Mần (Hà Giang), giữ chức năng trung chuyển và giao lưu hàng hóa giữa các địa phương, tạo điều kiện cho các huyện khai thác các tiềm năng, lợi thế, nhất là về nông lâm nghiệp; đồng thời vị trí này còn có vai trò quan trọng trong xây dựng tuyến kinh tế quốc phòng và bảo vệ an ninh biên giới

(3) Thời tiết, khí hậu

Theo số liệu quan trắc của Trạm khí tượng thuỷ văn Lào Cai, Si Ma Cai

là huyện nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa nên có chế độ khí hậu nóng ẩm về mùa hè, khô hạn và lạnh về mùa đông Mưa phân bố không đều trong năm, và nhất là với những biến đổi khí hậu gần đây, Si Ma Cai cũng phải đối mặt với một số tai biến do khí hậu như mưa đá, lốc xoáy, lũ quét… Điều này vừa gây bất lợi cho sản xuất nông nghiệp nhưng lại cũng là lợi thế nếu biết phát huy đặc điểm riêng biệt này vào chăn nuôi, trồng trọt: Lựa chọn

và sản xuất những loại cây, con đặc hữu có nguồn gốc từ những vùng có đặc điểm tương tự

Huyện Si Ma Cai chỉ có lượng mưa trung bình so với các vùng trên địa bàn tỉnh Lào Cai Lượng mưa biến động từ 1.300 - 2.000mm qua các năm và

Trang 34

chủ yếu tập trung vào các tháng 6, 7, 8; các tháng còn lại trong năm mưa ít, cường độ mưa không tập trung;

(4) Thuỷ văn và sông ngòi

Hệ thống thuỷ văn của huyện Si Ma Cai bao gồm:

- Sông Chảy: Bắt nguồn từ huyện Hoàng Su Phì, tỉnh Hà Giang, chảy sát biên giới Việt - Trung, phần qua địa phận huyện Si Ma Cai có tổng chiều dài 43 km

- Hệ thống suối nhỏ: Do ảnh hưởng của địa hình chia cắt, độ cao lớn, hình thành trên địa bàn huyện Si Ma Cai khá nhiều suối nhỏ Tất cả các con suối đều bắt nguồn từ các dãy núi cao chảy xuống thung lũng, thường khô kiệt vào những tháng mùa khô Về mùa mưa, hệ thống khe suối thường xảy ra

lũ quét, gây trở ngại lớn cho sản xuất và giao thông

(5) Tài nguyên đất đai

Theo thống kê tình hình sử dụng đất của huyện thời điểm 01/01/2010, tổng diện tích tự nhiên của Si Ma Cai là 23.493,83 ha (chỉ bằng 3,68% diện tích tự nhiên toàn tỉnh) Trong đó: diện tích đất nông nghiệp là 13.528,76 ha, chiếm 57,58%; đất phi nông nghiệp là 1.345,95 ha chiếm 5,73%; đất chưa sử dụng là 8.619,12 ha, chiếm 36,69% (trong đó đất đồi núi chưa sử dụng 6.505,65 chiếm 27,69% diện tích đất tự nhiên và bằng 3,6% diện tích đất đồi núi chưa sử dụng toàn tỉnh) Tính đến thời điểm 1/1/2015, cơ cấu diện tích của huyện đã có sự thay đổi theo chiều hướng tiến bộ: So với năm 2010 đã đưa thêm vào sử dụng 1.310,57 ha từ nguồn đất chưa sử dụng, trong đó, diện tích đất nông nghiệp tăng thêm 1.141,02 ha, đạt 14.669,78 ha, chiếm 62,44% diện tích tự nhiên; Đất phi nông nghiệp cũng tăng thêm 169,55 ha

Trang 35

Bảng 2.1 Hiện trạng số lượng và cơ cấu diện tích đất đai

của huyện Si Ma Cai

Diện tích (ha)

Cơ cấu (%)

Diện tích (ha)

Cơ cấu (%)

Diện tích (ha)

Cơ cấu (%)

(Nguồn: Phòng Tài nguyên và môi trường huyện Si Ma Cai) (6) Tài nguyên nước

Nguồn nước ở Si Ma Cai phụ thuộc chủ yếu vào nguồn nước trời được lưu giữ chủ động Nguồn nước phân bố không đều và biến động theo mùa, không bị ô nhiễm, nhưng trữ lượng thấp, rất ít nguồn nước đủ lớn để tạo ra hồ

Trang 36

ao lớn nên hạn chế đến phát triển thủy sản Bên cạnh đó, nước trên địa bàn đang trong tình trạng cạn kiệt dần, đặc biệt là vào mùa khô, do địa hình chia cắt mạnh, do hiện tượng thất thoát nước vì cấu tạo địa chất Karst

(7) Tài nguyên khoáng sản

Nhìn chung, tài nguyên khoáng sản của huyện rất hạn chế; có một số

mỏ nhưng trữ lượng thấp, chất lượng kém, điểm khai thác không thuận lợi

(8) Tài nguyên rừng

Theo số liệu thống kê, đến thời điểm 1/1/2015 diện tích đất lâm nghiệp trên địa bàn huyện Si Ma Cai là 7.539,7 ha chiếm 32,09 % diện tích tự nhiên toàn huyện, chiếm 51,4 % trong đất nông nghiệp và tăng 1.274 ha so với năm

2010, trong đó rừng sản xuất có 2.732 ha, tăng 827 ha; rừng phòng hộ có diện tích 4.807,7 ha, tăng được 447 ha Chỉ trong 4 năm qua, tỷ lệ che phủ rừng tăng từ 26,67% năm 2010 lên 32,09% năm 2014 đã phản ánh nhiều cố gắng của chính quyền và nhân dân trong việc bảo vệ nguồn tài nguyên rừng phục vụ đời sống và phát triển sản xuất

(9) Tài nguyên du lịch

- Tài nguyên du lịch tự nhiên: Si Ma Cai là huyện nằm trên vùng núi

cổ, có địa hình hiểm trở, chia cắt mạnh, độ dốc tương đối lớn, có vẻ đẹp hùng

vĩ Do có đặc điểm độ cao lớn, tương tự như Sa Pa nên khí hậu Si Ma Cai trong lành, mát mẻ và là tiềm năng có thể khai thác phục vụ khách du lịch; Một số địa danh cũng cần được lưu ý trong khai thác phục vụ du lịch như Cổng trời, hồ Cán Cấu có tiềm năng trở thành điểm du lịch hấp dẫn

- Tài nguyên du lịch nhân văn: Ở Si Ma Cai, những truyền thống văn hóa, ngôn ngữ, trang phục và ẩm thực vẫn còn được nhân dân các dân tộc bảo tồn và lưu giữ cũng có thể trở thành tiềm năng cho du lịch sinh thái, du lịch hòa nhập cộng đồng

Trang 37

2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội liên quan đến vấn đề nghiên cứu

(1) Dân số, dân tộc, lao động

Năm 2015, dân số huyện Si Ma Cai là 34.973 người, trung bình 5,2 người/hộ; mật độ dân số trung bình 149 người/km2 Tốc độ tăng dân số năm

2010 của huyện là 2,25%, giai đoạn 2011-2015 tỷ lệ tăng dân số tự nhiên bình quân 2,11%/năm (gấp 1,3 lần tỷ lệ tăng tự nhiên chung toàn tỉnh) Nhìn chung, Si Ma Cai có mật độ dân số tương đối cao so các huyện khác trong tỉnh

Si Ma Cai có 14 dân tộc anh em chung sống, trong đó chủ yếu là các dân tộc ít người: Mông 78,9%, Nùng 11,26%, Tày 4,2% chiếm tới trên 90%, tổng dân số của huyện

Bảng 2.2: Dân số và lực lượng lao động của huyện Si Ma Cai

ĐVT: người, %

(05-10) (11-14) Tổng dân số 27.679 32.020 32.850 33.666 34.422 34.973 2,96 2,11 Tổng số LĐ từ 15 tuổi trở lên 14.001 17.222 19.637 19.958 20.220 20.440 4,23 1,34 Tổng LĐ đang làm việc 13.938 16.390 17.707 18.211 18.779 19.103 3,29 2,56 Phân theo ngành hoạt động

- Nông, lâm nghiệp, thuỷ sản 11.882 13.956 14.750 15.009 15.455 15.784 3,27 2,28

- Công nghiệp - xây dựng 555 614 657 701 605 594 2,04 -3,30

- Dịch vụ 1.501 1.820 2.300 2.501 2.719 2.725 3,93 5,81

Cơ cấu LĐ theo ngành (%) 100.00 100.00 100.00 100.00 100.00 100.00

- Nông, lâm nghiệp, thuỷ sản 85,25 85,15 83,30 82,42 82,30 82,63

- CN, TTCN, xây dựng 3,98 3,75 3,71 3,85 3,22 3,11

- Dịch vụ 10,77 11,10 12,99 13,73 14,48 14,26

LĐ được đào tạo 980 2.084 2.749 3.074 3.154 3.597 16,28 9,38

Tỷ lệ LĐ so với tổng dân số 50,58 53,79 59,78 59,28 58,74 58,45

Tỷ lệ LĐ được đào tạo

(so với tổng lao động) 7,00 12,10 14,00 15,40 15,60 17,60

(Nguồn: Số liệu thống kê huyện Si Ma Cai, Phòng Lao động - Thương binh và xã hội)

Do đặc thù là huyện miền núi, sản xuất nông nghiệp là chủ yếu nên hầu

Trang 38

hết số lao động có khả năng làm việc vẫn thiếu việc làm Về cơ cấu lao động trong các ngành kinh tế, đến năm 2015: tỷ trọng lao động trong nông, lâm nghiệp còn chiếm khá cao (85,25% năm 2005, 83,30% năm 2011 và 82,63% năm 2015), lao động công nghiệp, xây dựng chiếm thấp (3,98% năm 2005, 3,71% năm 2011 và 3,11% năm 2014) cũng phản ánh thực trạng khó khăn trong phát triển công nghiệp địa phương và lao động trong ngành dịch vụ có 10,77% năm 2005, 12,99% năm 2011 và tăng lên 14,26% năm 2015

(2) Đặc điểm về văn hóa, y tế, giáo dục

Si Tổng số lao động trên 15 tuổi đang làm việc trên địa bàn huyện năm

2015 là 20.440 người, chiếm gần 58% dân số của huyện Trong đó, lao động

đã qua đào tạo chiếm 17,60% Hầu hết số lao động có khả năng làm việc đều

có việc làm; tỷ lệ sử dụng thời gian lao động đạt khoảng 80% Tốc độ tăng lao động từ 2005 - 2015 của huyện đạt bình quân 4,29%/năm, bằng 2 lần tốc độ tăng lao động toàn tỉnh

Về cơ cấu lao động trong các ngành kinh tế, đến năm 2015: tỷ trọng lao động trong nông, lâm nghiệp còn chiếm quá cao (82,63%), lao động công nghiệp, xây dựng chiếm 3,11% và trong dịch vụ có 14,26% Sự chuyển dịch

cơ cấu lao động từ 2005- 2015 diễn ra rất chậm đến năm 2015 so sánh với năm 2005

Công tác đào tạo nghề, giải quyết việc làm: Đã tập trung tổ chức bồi dưỡng và dạy nghề cho số lao động trong độ tuổi Hàng năm, các hộ và cá nhân có hoàn cảnh khó khăn đều được bố trí cho vay vốn với lãi suất ưu đãi

để học tập, giải quyết việc làm, đầu tư cho sản xuất Trung bình mỗi năm giải quyết việc làm tăng thêm cho trên 500 lao động/năm

Nhìn chung, nguồn lao động của huyện là khá dồi dào và con người Si

Ma Cai vốn có truyền thống cần cù, chịu khó và tích cực sáng tạo trong lao động sản xuất Tuy nhiên, là huyện miền núi, chất lượng nguồn nhân lực còn

Trang 39

thấp và chưa đồng đều, Cơ cấu lao động còn nhiều bất hợp lý làm ảnh hưởng đến năng suất lao động, hiệu quả sản xuất kinh doanh

(3) Đặc điểm phát triển giáo dục và đào tạo

Hiện nay, trên toàn huyện có 16 trường mầm non trung tâm và 73 điểm trường tại các thôn, 17 trường tiểu học trung tâm và 55 điểm trường ở các thôn, 13 trường trung học cơ sở, 02 trường trung học phổ thông, 01 trường nội trú THCS-THPT và 01 trung tâm giáo dục thường xuyên Cơ sở vật chất của các trường học được UBND huyện cùng phòng giáo dục đầu tư Bước đầu đã đáp ứng được sự nghiệp "trồng người" của huyện

Kết quả đạt được: Tỷ lệ trẻ 5 tuổi đi học mẫu giáo đạt 100%, tỷ lệ trẻ

em 6 tuổi vào lớp 1 đạt 100%, Tỷ lệ huy động trẻ em trong độ tuổi (6-14 tuổi) đến trường đạt 99.6%; tỷ lệ hoàn thành chương trình tiểu học vào lớp 6 đạt 99,4%, tỷ lệ học sinh tốt nghiệp THCS vào học các trường THPT và đi học nghề đạt 73%; Công tác hướng nghiệp dạy nghề ở các trường phổ thông được quan tâm đúng mức Trung tâm giáo dục thường xuyên liên tục tổ chức các lớp tin học và ngoại ngữ phục vụ cho con em nhân dân và học sinh

(4) Thực trạng phát triển y tế và chăm sóc sức khỏe nhân dân

Trong những năm qua, công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân luôn được huyện quan tâm; hệ thống cơ sở vật chất, trang thiết bị của bệnh viện đa khoa huyện, phòng khám khu vực và các trạm y tế xã đều được bổ sung, sửa chữa và nâng cấp Hiện tại huyện có 16 cơ sở y tế, gồm 01 bệnh viện cấp huyện, 02 phòng khám đa khoa khu vực và 13 trạm y tế xã

Tổng số giường bệnh của các cơ sở khám chữa bệnh trên địa bàn là 90 giường bệnh, trong đó giường Bệnh viện là 70 giường, phòng khám đa khoa khu vực 20 giường; có 95/98 số thôn bản có nhân viên y tế thôn bản hoạt động Toàn ngành y tế của huyện có 208 cán bộ, trong đó có 26 Bác sĩ, đạt tỷ

lệ 7,35 Bác sĩ/10.000 dân, 69 Y sỹ đa khoa, 33 nữ Hộ sinh, 57 Y tá trung học,

Trang 40

2 Dược sỹ đại học, 19 Dược sỹ trung cấp, 02 Dược tá

(5) Thực trạng văn hóa, thể thao; thông tin và truyền thông

Công tác văn hóa, thông tin được đẩy mạnh nhằm đáp ứng công tác tuyên truyền phổ biến các chủ trương đường lối, các chỉ thị Nghị quyết của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước phục vụ chính trị của địa phương Đến nay huyện đã có 95% số thôn bản được phủ sóng truyền hình, 95% số hộ được nghe đài tiếng nói Việt Nam, 95% số hộ được xem truyền hình Việt Nam Hệ thống Bưu chính - Viễn thông: 13/13 xã có điện thoại cố định, sóng điện thoại di động đã được phủ ở trung tâm huyện và 100% số xã

Trung tâm huyện đã có đường truyền Internet tốc độ cao Huyện có một Bưu cục cấp II tại xã Si Ma Cai và 9 điểm Bưu điện văn hoá xã khác Các dịch vụ của Bưu chính như phát hành báo chí, bưu kiện, bưu phẩm… đều được thực hiện khá tốt Công tác xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở và phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở nơi dân cư được triển khai tích cực Năm 2014 có 4.254/6.679hộ gia đình (63,7%) và 64/98 thôn bản (65,3%) đạt tiêu chuẩn văn hóa

(6) Thực trạng về cơ sở hạ tầng

Trong những năm gần đây, được sự đầu tư của Nhà nước và sự đóng góp của nhân dân, giao thông của Si Ma Cai đã có nhiều tiến bộ Nhiều tuyến đường đã được nâng cấp, mở mới, nhất là đường thôn bản đã được xây dựng

và ngày càng tạo những điều kiện thuận lợi cho sản xuất và đời sống, sinh hoạt của nhân dân

Về quốc lộ: Có 33 km Quốc lộ 4 đi qua địa bản huyện đoạn Bản Mế -

Lử Thẩn đạt cấp V miền núi, mặt đường láng nhựa

Đường tỉnh lộ 159: từ Bắc Hà - Hoàng Thu Phố - Tả Van Chư - Quan Thần Sán- Cán Hồ- Sán Chải (điểm cuối là đường QL 4) có chiều dài qua địa phận các xã thuộc huyện là 18 km

Đường huyện (liên xã, đến trung tâm xã) tổng chiều dài 70 km, mặt

Ngày đăng: 31/08/2017, 10:53

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
15. Đảng bộ huyện Si Ma Cai (2014) Chương trình số 90- CTr/HU, ngày 30/12/2014 của Ban Thường vụ Huyện ủy Si Ma Cai về thực hiện Nghị quyết số 22- NQ/TU, ngày 11/11/2014 của Tỉnh ủy Lào Cai về giảm nghèo bền vững huyện Si Ma Cai đến năm 2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình số 90- CTr/HU, ngày 30/12/2014 của Ban Thường vụ Huyện ủy Si Ma Cai về thực hiện Nghị quyết số 22- NQ/TU, ngày 11/11/2014 của Tỉnh ủy Lào Cai về giảm nghèo bền vững huyện Si Ma Cai đến năm 2020
Tác giả: Đảng bộ huyện Si Ma Cai
Năm: 2014
16. Nguyễn Thị Hoa (2009), Hoàn thiện các chính sách xóa đói giảm nghèo chủ yếu của Việt Nam đến năm 2015, luận án tiến sỹ kinh tế, Trường Đại học kinh tế Quốc dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện các chính sách xóa đói giảm nghèo chủ yếu của Việt Nam đến năm 2015
Tác giả: Nguyễn Thị Hoa
Năm: 2009
17. Nguyễn Thị Hoa (2010), Chính sách giảm nghèo ở Việt Nam đến năm 2015, Nxb thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách giảm nghèo ở Việt Nam đến năm 2015
Tác giả: Nguyễn Thị Hoa
Nhà XB: Nxb thống kê
Năm: 2010
19. Bùi Tiến Lợi (2011), Năm vấn đề thách thức trong xóa đói giảm nghèo bền vững ở Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Năm vấn đề thách thức trong xóa đói giảm nghèo bền vững ở Việt Nam
Tác giả: Bùi Tiến Lợi
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2011
20. Lê Quốc Lý (2010), Phát triển bền vững với xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam, Học viện Chính trị-Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển bền vững với xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam, Học viện Chính trị-Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh
Tác giả: Lê Quốc Lý
Năm: 2010
21. Ngân hàng thế giới (2007), Báo cáo phát triển Việt Nam 2007, Hướng tới tầm cao mới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo phát triển Việt Nam 2007, Hướng tới tầm cao mới
Tác giả: Ngân hàng thế giới
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2007
22. Ngân hàng Thế giới (2007), Báo cáo phát triển Việt Nam 2008, Bảo trợ xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo phát triển Việt Nam 2008, Bảo trợ xã hội
Tác giả: Ngân hàng Thế giới
Năm: 2007
23. Thủ tướng Chính phủ (2007), Quyết định số 167/2008/QĐ-TTg ngày 12/02/2007 về chính sách hỗ trợ người nghèo về nhà ở, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 167/2008/QĐ-TTg ngày 12/02/2007 về chính sách hỗ trợ người nghèo về nhà ở
Tác giả: Thủ tướng Chính phủ
Năm: 2007
27. UBND huyện Si Ma Cai (2011, 2012, 2013, 2014,2015), Niên giám thống kê các năm huyện Si Ma Cai, Lào Cai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê các năm huyện Si Ma Cai
Tác giả: UBND huyện Si Ma Cai
Nhà XB: Lào Cai
Năm: 2011, 2012, 2013, 2014, 2015
29. Tạp chí Thông tin và dự báo kinh tế xã hội (số 40/2009), Chương trình phát triển kinh tế - xã hội nhằm giảm nghèo nhanh và bền vững cấp huyện giai đoạn 2009-2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình phát triển kinh tế - xã hội nhằm giảm nghèo nhanh và bền vững cấp huyện giai đoạn 2009-2020
Nhà XB: Tạp chí Thông tin và dự báo kinh tế xã hội
Năm: 2009
30. Thủ tướng Chính phủ Việt Nam (2004), Quyết định số 134/2004/QĐ-TTg - Chương trình 134, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 134/2004/QĐ-TTg - Chương trình 134
Tác giả: Thủ tướng Chính phủ Việt Nam
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2004
31. Thủ tướng Chính phủ Việt Nam (1998), Quyết định số 135/1998/QĐ-TTg - Chương trình 135 (gồm giai đoạn I và giai đoạn II), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 135/1998/QĐ-TTg - Chương trình 135 (gồm giai đoạn I và giai đoạn II)
Tác giả: Thủ tướng Chính phủ Việt Nam
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 1998
32. Thủ tướng Chính phủ Việt Nam (05/2011), Nghị quyết 80/NQ-CP về định hướng giảm nghèo bền vững thời kỳ từ năm 2011 đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết 80/NQ-CP về định hướng giảm nghèo bền vững thời kỳ từ năm 2011 đến năm 2020
Tác giả: Thủ tướng Chính phủ Việt Nam
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2011
14. Đảng bộ tỉnh Lào Cai (2014) Nghị quyết số 22 -NQ/TU, ngày 11/11/2014 của Tỉnh ủy Lào Cai về giảm nghèo bền vững huyện Si Ma Cai đến năm 2020 Khác
18. Huyện ủy Si Ma Cai (2015), Báo cáo sơ kết thực hiện Nghị quyết số 22- NQ/TU, ngày 11/11/2014 của Tỉnh ủy Lào Cai về giảm nghèo bền vững huyện Si Ma Cai đến năm 2020 Khác
05/3/2007 về việc cho vay vốn phát triển sản xuất đối với hộ đồng bào dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn, Hà Nội Khác
25. UBND huyện Si Ma Cai (2015), Báo cáo đánh kết quả công tác xóa đói giảm nghèo giai đoạn 2011-2015 Khác
26. UBND huyện Si Ma Cai (2011-2015), Báo cáo kết quả tổng điều tra hộ nghèo, cận nghèo năm 2015 Khác
28. UBND huyện Si Ma Cai, (2015) Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội huyện Si Ma Cai đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w