1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu ảnh hưởng của chính sách giao đất, giao rừng đến kinh tế hộ tại xã hải vân huyện như thanh tỉnh thanh hóa

87 186 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 0,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, trong quá trình vận dụng vào thực tiễn, do đặc điểm đa dạng của các vùng khác nhau, việc triển khai thực hiện những chính sách giao, khoán đất lâm nghiệp ở mỗi địa phương lại

Trang 1

Tài liệu tham khảo

Bùi thị hoa

NGHIấN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA CHÍNH SÁCH GIAO ĐẤT, GIAO

RỪNG ĐẾN KINH TẾ HỘ TẠI XÃ HẢI VÂN HUYỆN NHƯ THANH - TỈNH THANH HểA

Chuyên ngành: Lâm học Mã số: 60.62.60

Luận văn thạc sĩ khoa học lâm nghiệp

Ng-ời h-ớng dẫn khoa học

T.S đỗ anh tuân

hà nội, 2010

Trang 2

ĐẶT VẤN ĐỀ

Đất đai là tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá, một tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống Việc sử dụng bền vững nguồn tài nguyên đất đai là một vấn đề quan trọng đối với tất

cả các quốc gia

Ở Việt Nam, chính sách và pháp luật về lĩnh vực quản lý đất đai được hình thành và hoàn thiện từng bước Năm 1988, Luật đất đai đầu tiên của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra đời, đánh dấu một bước chuyển mình của nền kinh tế đất nước Trước những yêu cầu đổi mới, Luật này được sửa đổi bổ sung phù hợp với tình hình hình thực tế ở từng giai đoạn Luật đất đai đã cụ thể rõ quan hệ sản xuất trong nông nghiệp và được xác lập trên cơ sở giao đất cho các

hộ gia đình sử dụng và ổn định lâu dài

Cùng với sự ra đời của luật đất đai, Chính phủ đã ban hành một số chính sách quan trọng thuộc lĩnh vực quản lý rừng và đất rừng, trong đó phải kể đến

Luật bảo vệ và phát triển rừng số 29/2004/QH11 và các văn bản có liên quan đến giao đất giao rừng và hưởng dụng rừng như Nghị định 135/2005/NĐ-CP về

Trang 3

giao khoán đất, Quyết định 186/2006/QĐ-TTg về quy chế quản lý rừng, Quyết định 40/2005/QĐ-BNN về quy chế khai thác gỗ và lâm sản

Những chính sách này cùng với những chính sách hỗ trợ của Nhà nước đã tạo động lực, khuyến khích người dân tham gia nhận đất nhận rừng, đầu tư tiền vốn và nhân lực để sản xuất kinh doanh phát triển kinh tế trên diện tích rừng và đất rừng được giao

Thực tiễn những năm qua cho thấy, chính sách giao đất, giao rừng đã thực

sự đi vào cuộc sống, đáp ứng được nguyện vọng của người dân, tạo thêm việc làm, nâng cao thu nhập và cải thiện cuộc sống, nhiều hộ nông dân có thu nhập khá từ các hoạt động sản xuất kinh doanh trên đất được giao, khoán Tuy nhiên, trong quá trình vận dụng vào thực tiễn, do đặc điểm đa dạng của các vùng khác nhau, việc triển khai thực hiện những chính sách giao, khoán đất lâm nghiệp ở mỗi địa phương lại có những thuận lợi và khó khăn riêng, chính vì vậy mà tác động của những chính sách này tới sự phát triển kinh tế xã hội ở mỗi địa phương cũng có sự khác nhau và mang đặc thù của mỗi vùng

Hải vân là một xã miền núi thuộc huyện Như Thanh, tỉnh Thanh hoá Nh÷ng n¨m qua, thùc hiÖn chñ ch-¬ng cña §¶ng vµ Nhµ n-íc, các hộ nhân dân địa phương đã được nhận đất, nhận rừng theo nghị định 01/CP và 02/CP Từ khi thực hiện chính sách đến nay đời sống vật chất, tinh thần của người dân đã có

nhiều thay đổi Luận văn “Nghiên cứu ảnh hưởng của chính sách giao đất, giao

rừng đến kinh tế hộ tại xã Hải Vân - huyện Như Thanh - tỉnh Thanh Hoá”

được thực hiện trên cơ sở đánh giá tác động chủ yếu của chính sách giao, khoỏn đất lâm nghiệp tới sự phát triển kinh tế hộ gia đình và môi trường trên địa bàn

xã, hy vọng góp phần nhỏ vào sự phát triển kinh tế xã hội ở địa phương

Trang 4

CHƯƠNG I

TỔNG QUAN VẤN ĐỀ

1.1 Giao đất lâm nghiêp

1.1 1 Giao đất lâm nghiệp trên thế giới

Mỗi quốc gia trên thế giới có một đặc điểm kinh tế - chính trị - xã hội , điều kiện tự nhiên, phong tục tập quán và lịch sử phát triển riêng Chính vì vậy

mà mỗi nước hình thành nên một hệ thống quản lý, sử dụng đất đai mang đặc thù riêng Đối với những nước không phải trải qua cuộc cách mạng dân tộc dân chủ thì vấn đề quản lý, sử dụng đất đai hầu như ít có biến động, sở hữu đất đai mang tính truyền thống và chủ yếu là sở hữu tư nhân Những nước phải trải qua cuộc cách mạng dân tộc dân chủ thì vấn đề quản lý và sử dụng đất đai có nhiều thay đổi qua từng thời kỳ khác nhau, nhiều nước đã tiến hành giao đất lâm nghiệp, xu hướng chung là quay trở lại với hình thức quản lý truyền thống dựa trên cơ sở gắn đất đai với người nông dân

Ở Inđônexia, mỗi gia đình ở gần rừng được nhận khoán 2.500 m2 đất trồng cây, trong 2 năm đầu được phép trồng lúa cạn, hoa màu trên diện tích đó

và được hưởng toàn bộ sản phẩm hoa màu không phải nộp thuế Công ty lâm nghiệp cho nông dân vay vốn dưới hình thức cung cấp giống, phân hoá học, thuốc trừ sâu, sau khi thu hoạch người nông dân phải trả lại đầy đủ số giống đã vay, còn phân hoá học và thuốc trừ sâu chỉ phải trả lại 70% Trường hợp rủi ro, nếu mất mùa thì không phải trả vốn vay đó Ngoài ra, nhà nước còn hỗ trợ một phần kinh phí để xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn Hướng dẫn kỹ thuật nông lâm nghiệp thông qua các hoạt động khuyến nông, khuyến lâm Tổ chức làm thí điểm, học tập rút kinh nghiệm và triển khai ra diện rộng 26

Ở Nhật bản, có ba hình thức sở hữu đất lâm nghiệp đó là sở hữu nhà nước,

sở hữu công cộng và sở hữu tư nhân Nhà nước sở hữu 7,84 triệu ha chiếm 31,2% rừng và đất rừng của cả nước, những diện tích rừng và đất rừng này chủ yếu ở những nơi xa xôi hẻo lánh, địa hình hiểm trở thuộc quyền quản lý của

Trang 5

Cục Lâm nghiệp - Bộ Nông lâm thủy sản Các tổ chức chính quyền địa phương

sở hữu trên 2,7 triệu ha chiếm 10,74% Các công ty tư nhân và các hộ gia đình

sở hữu 14,6 triệu ha, chiếm 58,10% Có tới 88% chủ rừng là các hộ tư nhân, trong số đó 89% là những người có từ 0,1 ha - 5 ha đất lâm nghiệp; 10,7% là những chủ hộ tư nhân có từ 5 ha - 50 ha còn lại 0,4% là những chủ hộ tư nhân có trên 50 ha đất lâm nghiệp Do phần lớn các chủ rừng là những người sở hữu dưới

5 ha đất lâm nghiệp nên các chủ rừng này đã liên kết với nhau thành các Hội Hiện nay Nhật Bản có 1.430 Hội các chủ rừng với 1.718.000 thành viên

Để nhằm thúc đẩy công tác xây dựng và phát triển, Chính phủ có chương trình trợ cấp nhằm hỗ trợ cho các hoạt động lâm sinh, xây dựng đường lâm nghiệp thông qua Hội các chủ rừng, ngoài ra các chủ rừng còn được ưu tiên vay vốn để sản xuất kinh doanh với lãi xuất thấp, đồng thời còn được giảm thuế đất lâm nghiệp 13

Ở Philipin, chính sách lâm nghiệp xã hội “Institutional Social Forestry

Program” (ISFP) năm 1980 của chính phủ nhằm dân chủ hoá việc sử dụng đất rừng công cộng và khuyến khích việc phân chia một cách hợp lý các lợi ích của rừng, chương trình này nhằm tạo điều kiện phát triển kinh tế xã hội cho cộng đồng người dân sống phụ thuộc vào đất rừng thông qua đó phát triển và bảo vệ tốt tài nguyên rừng ở đó đã đề cập đến chứng chỉ hợp đồng, thoả thuận quản lý,

bộ phận lâm nghiệp xã hội chịu trách nhiệm xử lý và phát hành các chứng chỉ hợp đồng quản lý: “Certificates for Stewardship Contracts” (CSC), bản thoả thuận quản lý lâm nghiệp cộng đồng: “Community Forestry Stewardship Agreements” (CFSA) Với hai loại thoả thuận này thì chứng chỉ CSC do chính phủ cấp cho người dân sống trên đất rừng đã có đủ tư cách pháp nhân được hưởng các thành quả lao động trên mảnh đất đó, ở đấy cho phép người dân sử dụng diện tích thực đang ở hay đang canh tác không quá 7 hécta Đối với chứng chỉ CFSA chính là một hợp đồng giữa chính phủ với một công đồng hay một hội

Trang 6

lâm nghiệp kể cả nhóm hộ bộ lạc Với CFSA thì đất không được giao cho các nhân mà chỉ giao cho một cộng đồng hay hiệp hội và các thành viên của nó với

sự thoả thuận trước để sử dụng trên phạm vị một xã

Cả CSC và CFSA để có giá trị là 25 năm và có thể gia hạn sau khi hết hạn giao Những nggười giữ CSC hay CFSA đều có trách nhiệm gìn giữ và bảo vệ trong khu vực thực hiện dự án Sau định kỳ 5 năm thì hội đồng được thành lập

để đánh giá hiệu quả chương trình Nội dung đánh giá được tập trung một số vấn đề: hiệu quả của việc sử dụng rừng và đất rừng, diện tích được cấp CSC và CFSA trên toàn xã, hiệu quả sản xuất trên diện tích đất được cấp, và mức độ gìn giữ và bảo vệ tài nguyên rừng 26

Ở Trung Quốc, theo Hiến pháp của Nhà nước vào đầu những năm 80,

Chính quyền nhà nước Trung ương đến tỉnh và huyện bắt đầu cấp chứng nhận quyền sử dụng đất cho tất cả các chủ rừng là các tổ chức nhà nước, tập thể và tư nhân Mỗi hộ nông dân được phân phối một diện tích đất rừng để sản xuất kinh doanh “ Luật lâm nghiệp quy định đơn vị tập thể và nông dân trồng cây trên đất mình làm chủ thì hoàn toàn được hưởng sản phẩm trên mảnh đất đó” Sau khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, chính phủ đã áp dụng chính sách nhạy bén thúc đẩy phát triển trang trại rừng và kinh doanh đa dạng để có lợi trước mắt và lâu dài Đồng thời với việc cải cách và mở cửa, ngành lâm nghiệp Trung Quốc đã được chuyển dịch từ chỗ chỉ thực hiện chế độ sở hữu nhà nước

và sở hữu tập thể sang thực hiện nhiều thành phần tham gia kinh doanh lâm nghiệp (nhà nước, tập thể, cá nhân, liên doanh, hợp tác…) Nhiều chính sách về đất lâm nghiệp được thực hiện, đặc biệt là chính sách “tam định”, trong đó định

rõ ba vấn đề: Quyền sử đất đồi núi, quyền sử dụng rừng và quy hoạch đất, diện tích đất lâm nghiệp được để lại cho các hộ nông dân sử dụng Người dân được giao và cấp giấy chúng nhận quyền sử dụng đất rừng Nhà nước cũng ban hành

Trang 7

nhiều luật, chính sách để tạo điều kiện cho việc lưu chuyển và trao đổi quyền sử dụng đất lâm nghiệp 26

Ở Thái Lan, từ năm 1979 chương trình cấp giấy chứng nhận quyền hưởng

hoa lợi trong rừng dự trữ quốc gia đã được thực hiện Theo đó mỗi mảnh đất được chia thành hai miền: miền dưới nguồn nước dùng để canh tác nông nghiệp, còn miền trên nguồn nước thì bị hạn chế nhằm giữ rừng Đối với mỗi miền đát phù hợp cho canh tác nông nghiệp mà trước đây người dân đã sử dụng(dưới 2,5 ha) thì được cấp cho người dân giấy chứng nhận quyền hưởng hoa lợi Mục đích của việc làm này chính là khuyến khích đầu tư vào đất, tạo ra sản phẩm chất lượng cao hạn chế sự xâm lấn vào rừngTư khi chương trình này thực hiện đến năm 1986 đã có tới hơn 600.000 hộ dân không có đất đựoc cấp giấy chứng nhận hưởng hoa lợi

Bên cạnh chương trình cấp giấy cứng nhận hưởng hoa lợi, năm 1975 Cục lâm nghiệp Hoàng gia Thái Lan còn thực hiện chương trình làng lâm nghiệp, với

hy vọng giải quyết những người đựoc chọn ở lại trên đất rừng Chương trình sau khi thực hiện đã đem lại trật tự cho những người nông dân đang sinh sống ở rừng

và khuyến khích họ tham gia bảo vệ rừng quốc gia, phục hồi lại những diện tích rừng đã bị suy thoái do du canh Chương trình làng lâm nghiệp được thực hiện trên những nguyên tắc:

- Mọi người sống ở rừng sẽ đựoc tập trung lại thành từng nhóm trong những vùng không phải là nguồn nước gọi là làng Mỗi làng bầu ra người lãnh đạo và một hội đồng để tự quản lý

- Trong mỗi làng, Cục lâm nghiệp và chính phủ sẽ cung cấp nhà ở phù hợp, nguồn nước, đường giao thông đi lại, Trường học, trung tâm y tế, ngân hàng, dịch vụ, tiếp thị và đào tạo nghề nghiệp

- Chính phủ chia cho mỗi hộ gia đình nông dân từ 2-4 ha đất có giấy phép quyền sử dụng và được thừa kế nhưng không đựơc bán, chuyển nhượng Việc

Trang 8

làm này nhằm mục đích ngăn chặn những địa chủ đầu cơ mua bán toàn bộ diện tích đát của nông dân

- Sau khi các làng được thành lập thì một hợp tác xã nông lâm nghiệp đựoc

tổ chức và hoạt động dưới sự bảo trợ của ban khuyến khích hợp tác xã với các quyền lợi cụ thể Từ đó Cục lâm nghiệp Hoàng gia sẽ ký hợp đồng giao đất dài hạn cho những hợp tác xã đó theo yêu cầu và thành lập nhóm chuyên gia đánh giá hiệu quả đầu tư trên diện tích đất được giao26

Ở Thuỷ Điển, nhà nước quản lý 25% diện tích rừng và đất rừng, các công

ty lớn sở hữu 25% còn lại 50% diện tích rừng và đất rừng thuộc sở hữu của các

hộ tư nhân

Ở Phần lan, sở hữu tư nhân về rừng và đất rừng ở Phần Lan mang tính

truyền thống, có tới hai phần ba diện tích rừng và đất rừng thuộc sở hữu tư nhân

và có khoảng 430.000 chủ rừng, bình quân mỗi chủ rừng sở hữu 33 ha

1.1.2 Giao đất lâm nghiệp ở Việt Nam

1.1.2.1 Khái quát chung về chính sách giao đất lâm nghiệp ở Việt Nam

Quá trình giao đất lâm nghiệp ở Việt Nam được thực hiện từ năm 1968 và trải qua nhiều thời kỳ khác nhau:

- Thời kỳ 1968 - 1982: Thời kỳ này đất nước ta đang trong giai đoạn

chiến tranh, chỉ có hai thành phần kinh tế là Quốc doanh và hợp tác xã ở giai đoạn này Nhà nước mới khuyến khích và công nhận sự tồn tại 2 thành phần kinh

tế chủ yếu là quốc doanh lâm nghiệp (Lâm trường quốc doanh) và hợp tác xã trong kinh doanh rừng Một số văn bản của Nhà nước có liên quan đến vấn đề giao đất giao rừng đó là Nghị định 38/CP ngày 12/3/1968 của chính phủ về

“Công tác vận động định canh định cư kết hợp với hợp tác xã đối với đồng bào còn du canh du cư”, Thông báo số 18/TB-UB ngày 23/10/1968 của hội nghị ban

bí thư bàn về lĩnh vực Lâm nghiệp có ghi “Nhà nước cần giao cho Hợp tác xã sử dụng một số đất hoang hoặc rừng cây để kinh doanh nghề rừng, Hợp tác xã sẽ

Trang 9

được hưởng lợi tuỳ theo công sức của mình bỏ ra” năm 1968, Quyết định số 179/HĐ-BT ngày 12 tháng 11 năm 1968 của Hội đồng Bộ trưởng:”Về một số chính sách đối với hợp tác xã có kinh doanh nghề rừng”, mục đích của chính sách này là nhằm đẩy mạnh công tác trồng rừng, bảo vệ rừng và giao đất lâm nghiệp cho hợp tác xã

Đây là những văn bản đầu tiên quy định chính sách giao đất lâm nghiệp cho từng đối tượng cụ thể Trên diện tích đất rừng và rừng đã được nhà nước giao cho Hợp tác xã kinh doanh toàn diện thì cây cối và hoa lợi kể cả các sản phẩm đã có, Hợp tác xã phải có nghĩa vụ bán cho nhà nước các sản phẩm chính (gỗ, củi, tre nứa) theo đúng chỉ tiêu kế hoạch và giá thu mua như đối với cây công nghiệp Một vấn đề nữa cũng được quy định trong quyết định 179/HĐ-BT

là trên diện tích rừng và đất rừng đựơc giao cho Hợp tác xã kinh doanh từng phần theo quy hoạch và kế hoạch của nhà nước như trồng rừng, tu bổ, cải tạo, khai thác và làm đường vận chuyển Khi hợp tác xã làm xong công việc cần giao lại cho nhà nước theo nhiệm vụ, chỉ tiêu kế hoạch và phảI có kiểm kê, nghiệm thu, nhà nước sẽ trả công khoán cho Hợp tác xã căn cứ theo hao phí từng khâu,

có phân biệt xã gần Như vậy tại văn bản này đã đề ra hai hình thức giao đất giao rừng đó là: Giao cho Hợp tác xã quản lý kinh doanh toàn diện và giao khoán từng khâu công việc Việc tổ chức thực hiện việc giao đất lâm nghiệp trong giai đoạn này còn nhiều thiếu sót do nhận thức chưa đầy đủ về vai trò của người dân trong kinh doanh, việc tổ chức thực hiện giao đất lâm nghiệp thiếu chặt chẽ, làm

ồ ạt hình thức, chạy theo số lượng diện tích, chưa có quy hoạch đất đai, chưa phân 3 loại rừng và xác định giao đất lâm nghiệp cho từng đối tượng cụ thể

- Thời kỳ 1983 - 1992: Sau khi có Quyết định 184 -HĐBT của Hội đồng

Bộ trưởng, Bộ Lâm nghiệp đã tổ chức nhiều hội nghị cấp cao lãnh đạo tỉnh, có

sự phối hợp và tham gia của các Ban ngành có liên quan ở Trung ương đồng thời

mở nhiều cuộc hội thảo, nhiều lớp tập huấn, tổ chức tham quan học tập, phổ biến

Trang 10

các điển hình vv Sau hội nghị ở Trung ương, các tỉnh, huyện đều mở hội nghị tập huấn cho cán bộ của cấp mình và thành lập Ban chỉ đạo giao đất lâm nghiệp các cấp Tính từ Hội nghị đồi rừng ở Vĩnh Phú cuối năm 1983 đến năm 1985, đã

có hơn 30 tỉnh và 103 huyện xây dựng và thông qua được nghị quyết về lâm nghiệp cũng như ban hành được các chính sách về giao đất lâm nghiệp của địa phương mình 10

Sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986), Nhà nước có chủ trương phát triển kinh tế nhiều thành phần, ngoài thành phần kinh tế quốc doanh, tập thể, Nhà nước còn có chủ trương giao đất cho tư nhân, vì vậy đã khuyến khích nhiều người nhận đất đồi núi trọc bỏ vốn gây trồng rừng

Thời kỳ này, giao đất lâm nghiệp trên cơ sở có quy hoạch sử dụng đất đai

Bộ Lâm nghiệp đã ban hành Quyết định số 1171 LN/QĐ ngày 30/12/1986 về quy chế quản lý 3 loại rừng: rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, rừng sản xuất, tiến hành phân cấp quản lý rừng chuyển dần từ cơ chế bao cấp sang tự chủ sản xuất kinh doanh và từ sản xuất tự cấp tự túc sang sản xuất hàng hoá Các chủ chương chính sách lớn của Đảng và Nhà nước có Nghị quyết số 10/NQTW, Nghị quyết

số 22/NQTW về phát triển kinh tế xã hội miền núi và Quyết định số 72/HĐBT

về thực hiện Nghị quyết số 22/NQTW khẳng định phải thực hiện mạnh mẽ chủ trương giao đất lâm nghiệp cho các gia đình đồng bào dân tộc thiểu số, các gia đình cán bộ, công nhân người kinh sống ở miền núi, các hộ tư nhân ở miền xuôi lên, các đơn vị kinh tế cơ sở, các cơ quan, các đơn vị thuộc lực lượng vũ trang Cùng với việc thực hiện các văn bản nói trên, cuối năm 1986 có Quy chế quản lý

3 loại rừng sau một thời gian tổ chức thực hiện có hiệu quả đã làm cơ sở xây dựng Luật Bảo vệ và Phát triển rừng ban hành ngày 14/7/1991

Để hướng dẫn việc giao đất giao rừng, ngày 6/2/1991 Bộ Lâm nghiệp và Tổng cục Quản lý ruộng đất đã ban hành Thông tư liên Bộ số 01/TT/LB hướng dẫn việc giao rừng và đất để trồng rừng cho các tổ chức, cá nhân sử dụng vào

Trang 11

mục đích lâm nghiệp Đồng thời, Nhà nước cũng đã ban hành đồng bộ một số chính sách đầu tư, hỗ trợ như Quyết định số 327/CT về một số chủ chương, chính sách sử dụng đất trống đồi núi trọc, rừng bãi bồi ven biển và mặt nước, trong đó ban hành chính sách đầu tư hỗ trợ khoảng 40% tổng vốn đầu tư dành cho các hộ gia đình vay theo nguyên tắc không lấy lãi Việc hoàn trả vốn vay bắt đầu thực hiện khi có sản phẩm; Quyết định 264/CT về khuyến khích đầu tư phát triển rừng đã giải quyết khó khăn về vốn cho người dân trồng cây lâm nghiệp ở vùng định canh định cư

Có thể thấy rằng, việc tổ chức thực hiện chủ trương giao đất lâm nghiệp trong thời kỳ này của Ngành lâm nghiệp là nghiêm túc, cụ thể, có những bước đi

cơ bản và đã đạt được những thành tựu đáng kể 10 Công tác giao đất giao rừng thời kỳ này có những tiến bộ đáng kể đã mang lại sự khởi sắc cho nghề rừng nước ta 19, đã tạo động lực phát triển kinh tế nông lâm nghiệp ở miền núi, bước đầu đã hình thành nên thị trường ở trung du miền núi

- Thời kỳ 1993 đến nay: Thời kỳ này Đảng và nhà nước ta đã có những thay đổi

lớn trong quản lý rừng và đất rừng, nhà nước đã ban hành các chủ trương chính sách về đất đai nhằm thực hiện triệt để công tác giao khoán đất rừng

Luật đất đai năm 1993 được Quốc hội khoá IX thông qua ngày 14/7/1993

và có hiệu lực ngày 15/10/1993 (Luật này thay thế Luật đất đai năm 1987) 15 Luật này đã đánh dấu kết quả một quá trình nghiên cứu, vận dụng thực tiễn để thể chế hoá các chính sách mới về đất đai, vừa đảm bảo phát huy quan hệ sở hữu toàn dân, vừa phù hợp với cách vận dụng mới của nền kinh tế hàng hoá, bắt đầu tiếp cận với cơ chế thị trường hiện đại Qua hai lần sửa đổi, bổ sung năm vào

1998 và năm 2001, Luật này thể hiện chủ chương chính sách lớn của Đảng và Nhà nước về đất đai, cụ thể hoá điều 17 và 18 hiến pháp năm 1992 Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Trang 12

Nghiên cứu tổng quát những sửa đổi bổ sung về chính sách được thể chế trong Luật đất đai, có những vấn đề nổi bật sau:

+ Củng cố và tăng cường quan hệ sở hữu toàn dân về đất đai, tăng cường vai trò quản lý thống nhất của Nhà nước

+ Nhà nước giao quyền sử dụng đất cho tổ chức, hộ gia đình để sử dụng ổn định lâu dài

+ Nhà nước xác định giá các loại đất để tính thuế chuyển quyền sử dụng đất thu tiền khi giao đất hoặc cho thuê đất, tính giá tài sản khi giao, bồi thường thiệt hại về đất khi bị thu hồi

+ Quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, thế chấp quyền sử dụng đất đã được xác định tạo cơ sở pháp lý về những lợi ích cụ thể để người sử dụng đất thực sự làm chủ về sử dụng và kinh doanh trên đất được giao 4

Cùng với sự ra đời của Luật đất đai năm 1993, Chính phủ đã ban hành một số chính sách quan trọng như: Nghị định số 02/CP ngày 15/1/1994 về việc giao đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích lâm nghiệp 6 Quyết định 202/TTg ngày 2/5/1994 về việc khoán bảo vệ rừng, khoanh nuôi tái sinh rừng và trồng rừng Nghị định số 01/CP ngày 4/1/1995 về việc giao khoán đất sử dụng vào mục đích nông nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản trong các doanh nghiệp nhà nước 7 Nghị định 163/NĐ-CP ngày 16/11/1999 về việc giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích lâm nghiệp 8 Nghị định này thay thế cho nghị định 02/CP (1994) Sự ra đời của các chính sách này nhằm gắn lao động với đất đai, tạo thành động lực để phát triển sản xuất lâm nông ngư nghiệp,

ổn định tình hình kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng Để hướng dẫn việc giao đất, cho thuê đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp theo Nghị định số 163/NĐ-CP, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Tổng cục Địa chính đã ra Thông tư liên tịch số 62/2000/TTLT/BNN-TCĐC ngày 06/6/2000, đề ra những quy định về thủ tục giao đất, cho thuê đất, cấp giấy

Trang 13

chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp và tổ chức thực hiện giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp 5 Để đảm bảo lợi ích hài hoà giữa Nhà nước với người trực tiếp bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh và trồng rừng, Chính phủ đã ban hành Quyết định số 178/2001/QĐ-TTg ngày 12/11/2001 về quyền hưởng lợi, nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân được giao, cho thuê, nhận khoán rừng và đất lâm nghiệp nhằm tạo động lực khuyến khích nhân dân tích cực tham gia bảo vệ và phát triển rừng 9

Nghiên cứu Nghị định số 01/CP, 02/CP, 163/NĐ-CP, Thông tư liên tịch số 62/2000/TTLT/BNN-TCĐC , thấy nổi lên một số nội dung được quy định cụ thể như sau:

Về giao đất lâm nghiệp

- Đối tượng được giao đất lâm nghiệp không thu tiền sử dụng đất để sử dụng ổn định lâu dài bao gồm:

+ Hộ gia đình, cá nhân trực tiếp lao động lâm nghiệp, nông nghiệp, ngư nghiệp, làm muối mà nguồn sống chủ yếu là thu nhập có đựơc từ các hoạt động sản xuất đó, được UBND xã, phường , thị trấn nơi có đất lâm nghiệp xác nhận; + Các tổ chức: Các Ban Quản lý khu rừng phòng hộ, khu rừng đặc dụng; các doanh nghiệp Nhà nước về lâm nghiệp, nông nghiệp, ngư nghiệp; các trạm, trại, xí nghiệp giống lâm nghiệp, trường học, trường dạy nghề; các tổ chức thuộc các thành phần kinh tế khác; các đơn vị thuộc lực lượng vũ trang nhân dân

- Căn cứ để giao đất lâm nghiệp:

+ Giao đất lâm nghiệp căn cứ vào quỹ đất lâm nghiệp của từng địa phương;

+ Hiện trạng quản lý, sử dụng đất lâm nghiệp của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân; + Hạn mức giao đất lâm nghiệp đã được quy định: Hạn mức giao cho hộ gia đình do UBND cấp tỉnh quyết định nhưng không quá 30 ha, hạn mức giao cho tổ chức theo dự án được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt;

Trang 14

+ Nhu cầu sử dụng đất lâm nghiệp của tổ chức ghi trong dự án được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt; đơn xin giao đất lâm nghiệp của hộ gia đình, cá nhân được UBND xã, nơi cấp đất lâm nghiệp xác nhận

- Thời hạn giao đất lâm nghiệp quy định như sau:

+ Các tổ chức của Nhà nước, thời hạn giao theo dự án được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt;

+ Các tổ chức thuộc các thành phần kinh tế khác, thời hạn giao được quy định đến hết thời hạn được Nhà nước giao;

+ Thời hạn giao đất lâm nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài là 50 năm Khi hết thời hạn, nếu người sử dụng đất lâm nghiệp có nhu cầu tiếp tục sử dụng và trong quá trình sử dụng đất lâm nghiệp chấp hành đúng pháp luật về đất đai, pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng thì được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét giao đất đó để tiếp tục sử dụng Nếu trồng cây lâm nghiệp có chu kỳ trên 50 năm, khi hết thời hạn này vẫn được Nhà nước giao tiếp

để sử dụng

Về giao khoán đất lâm nghiệp

- Đối tượng để giao khoán đất lâm nghiệp: Đối tượng giao khoán đất (Gắn liền với vật nuôi, cây trồng) theo thứ tự ưu tiên: Hộ gia đình, cá nhân là công nhân viên chức đang làm việc cho bên giao khoán; hộ gia đình, cá nhân đã làm việc cho doanh nghiệp, Ban Quản lý nay đã nghỉ hưu; hộ gia đình, cá nhân đã cư trú hợp pháp tại địa phương được UBND xã, phường, thị trấn xác nhận; tổ chức,

hộ gia đình, cá nhân ở địa phương khác có vốn đầu tư vào sản xuất theo quy hoạch của bên giao

- Loại đất để giao khoán: Đất lâm nghiệp, Nhà nước đã giao cho các nông trường, lâm trường trực tiếp sản xuất nông lâm nghiệp; Đất lâm nghiệp, Nhà nước giao cho các Ban Quản lý rừng phòng hộ, rừng đặc dụng

Trang 15

- Căn cứ để giao khoán: Căn cứ vào quỹ đất đã được Nhà nước giao cho các tổ chức của Nhà nước; dự án khả thi hoặc dự án đầu tư đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt; Vốn, lao động bên nhận khoán; các chính sách đầu tư hỗ trợ của Nhà nước và chính sách lao động - xã hội liên quan

- Thời hạn giao khoán: Rừng phòng hộ, rừng đặc dụng là 50 năm; rừng sản xuất theo chu kỳ kinh doanh

Đến năm 2003 luật đất đai mới ra đời, được thông qua ngày 26/11/2003 và

có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2004 Luật bao gồm 7 chương với 146 điều luật khác nhau Nội dung chủ yếu là:

- Làm rõ nội dung quyền sở hữu toàn dân về đất đai với những quyền định đoạt, quyền hưởng lợi cụ thể và vai trò của nhà nước với tư cách là người chủ sở hữu

- Hoàn chỉnh chính sách đất đai đối với khu vực nông nghiệp, phù hợp với nền kinh tế thị trường và tạo điều kiện đẩy mạnh tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn

- Thiết lập sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, xoá bỏ sự khác biệt giữa người Việt nam và người nước ngoài

- Xoá bỏ bao cấp về đất đai trên cơ sở coi đất đai là nguồn vốn, nguồn nội lực của đất nước và phải được định giá theo cơ chế thị trường

- Khuyến khích phát triển giao dịch dân sự về quyền sử dụng đất, hạn chế

sự can thiệp về hành chính không cần thiết, khắc phục những bất cập về chính sách, pháp luật trong bồi thường, hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc gia

- Đẩy mạnh cải cách hành chính trong lĩnh vưcj quản lý đất đai bằng cách phân cấp toàn bộ quyền quyết định giao đất , cho thuê đất cho địa phương

Quy định với người sử dụng đất, bao gồm: Các tổ chức cơ quan nhà nước,

tổ chức chính trị, xã hội, lực lượng vũ trang, hộ gia đình, cá nhân, công đồng dân

Trang 16

cư người Việt Nam , cơ sở tôn giáo thì được nhà nước giao, công nhận hoặc cho thuêquyền sử dụng đất Còn các tổ chức nước ngoài, người Việt nam định cư ở nước ngoài về đầu tư thì đựơc thuê đất

Trong luật đất đai mới này cũng có những điều khoản quy định về việc giao, cho thuê và chuyển đổi mục đích sử dụng thời hạn và hạn mức sử dụng các loại đất rừng sản xuất, rừng phòng hộ, rừng đặc dụng

1.1.2.2 Tình hình thực hiện chính sách giao đất lâm nghiệp ở Việt nam

- Thời kỳ 1968 - 1982: đây là thời kỳ phát triển quốc doanh và hợp tác xã,

ở giai đoạn này Nhà nước mới khuyến khích và công nhận sự tồn tại 2 thành phần kinh tế chủ yếu là quốc doanh lâm nghiệp (Lâm trường quốc doanh) và hợp tác xã trong kinh doanh rừng Năm 1975 miền Nam giải phóng có Tập đoàn sản xuất cũng được giao đất lâm nghiệp Các chủ chương, chính sách chủ yếu trong thời kỳ này có: Thông báo số 18 TB/TVV ngày 23/10/1968 của Ban Bí thư Trung ương Đảng có ghi “Nhà nước cần giao cho Hợp tác xã sử dụng một số đất hoang hoặc rừng cây để kinh doanh nghề rừng, Hợp tác xã sẽ được hưởng lợi tuỳ theo công sức của mình bỏ ra” Tiếp đến là Quyết định số 179/CP ngày 12/11/1968 của Hội đồng Chính phủ về việc đẩy mạnh trồng rừng, bảo vệ rừng

và giao đất giao rừng cho Hợp tác xã kinh doanh Để thực hiện chính sách giao đất lâm nghiệp cho các Hợp tác xã, lần đầu tiên Hội đồng Chính phủ đã ban hành Quyết định 272/CP ngày 3/10/1977 về việc ban hành chính sách đối với Hợp tác

xã mở rộng diện tích sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, xây dựng vùng kinh tế mới, thực hiện định canh định cư, tiếp sau đó Hội đồng Bộ trưởng ban hành Quyết định số 184-HĐBT ngày 6/11/1982 đẩy mạnh giao đất lâm nghiệp cho tập thể và cá nhân trồng cây gây rừng

Việc tổ chức thực hiện giao đất lâm nghiệp trong giai đoạn này còn nhiều thiếu sót do nhận thức chưa đầy đủ về vai trò của người dân trong kinh doanh, việc tổ chức thực hiện giao đất lâm nghiệp thiếu chặt chẽ, làm ồ ạt hình thức,

Trang 17

chạy theo số lượng diện tích, chưa có quy hoạch đất đai, chưa phân 3 loại rừng

và xác định giao đất lâm nghiệp cho từng đối tượng cụ thể 10

- Thời kỳ 1983 - 1992:

+ Từ năm 1983 - 1989: đã giao được 1.934.000 ha cho 1.724 Hợp tác xã,

610 cơ quan, trường học và cho 349.750 hộ gia đình

+ Từ năm 1989 - 1992: đã giao được 796.000 ha cho 440.000 hộ gia đình

và 5,8 triệu ha cho khu vực quốc doanh

Sau 24 năm thực hiện giao đất lâm nghiệp từ 1968 - 1992 cả nước đã giao được tổng số hơn 11 triệu ha, trong đó 5,8 triệu ha cho khu vực quốc doanh, 3,7 triệu ha cho Hợp tác xã nông nghiệp và 1,53 triệu ha cho hộ gia đình

Việc tổ chức thực hiện giao đất lâm nghiệp trong giai đoạn đầu từ 1968

-1982 còn nhiều thiếu sót do nhận thức chưa đầy đủ về vai trò của người dân trong kinh doanh, việc tổ chức thực hiện giao đất lâm nghiệp thiếu chặt chẽ, làm

ồ ạt hình thức, chạy theo số lượng diện tích, chưa có quy hoạch đất đai, chưa phân 3 loại rừng và xác định giao đất lâm nghiệp cho từng đối tượng cụ thể Có thể thấy rằng, việc tổ chức thực hiện chủ trương giao đất lâm nghiệp trong thời

kỳ này của Ngành lâm nghiệp là nghiêm túc, cụ thể, có những bước đi cơ bản và

đã đạt được những thành tựu đáng kể 10 Công tác giao đất giao rừng thời kỳ này có những tiến bộ đáng kể đã mang lại sự khởi sắc cho nghề rừng nước ta

19, đã tạo động lực phát triển kinh tế nông lâm nghiệp ở miền núi, bước đầu đã hình thành nên thị trường ở trung du miền núi

- Thời kỳ từ 1993 đến nay:

Sau khi luật đất đai năm 1993 ra đời, Chính phủ ban hành Nghị định 02/CP, Nghị định 01/CP, Nghị định 163/CP Sự ra đời của các chính sách này nhằm gắn lao động với đất đai, tạo thành động lực để phát triển sản xuất lâm nông ngư nghiệp, công tác giao đất lâm nghiệp được thực hiện theo những nguyên tắc và quy định mới

Trang 18

Theo báo cáo của Cục Kiểm lâm, tính đến năm 2008, đã có 77,5 tổng diện tích đất lâm nghiệp cả nước đã giao Trong quá trình thực hiện công tác giao đất lâm nghiệp theo Nghị định 02/CP, có một số tỉnh làm tốt công tác này điển hình

là tỉnh Thanh Hoá đã thực hiện việc giao đất lâm nghiệp theo đúng các văn bản quy phạm, pháp luật về giao đất lâm nghiệp mà trọng tâm là giao tới hộ gia đình, giao đến đâu cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngay đến đó, hồ sơ giao đất được lưu trữ trong máy vi tính Tỉnh Bắc Thái đã chủ động cấp kinh phí để thực hiện việc giao đất lâm nghiệp, sử dụng lực lượng các đội điều tra quy hoạch rừng

ở Trung ương làm các thủ tục giao đất, có hệ thống thống kê lưu trữ hồ sơ từ Chi cục Kiểm lâm - Hạt Kiểm lâm - xã, phường 10

Chính sách giao rừng cùng với các chính sách hỗ trợ của Nhà nước trong thời gian qua đã tạo điều kiện khai thác tiềm năng, lao động, tiền vốn tại chỗ Tình trạng chặt phá rừng đã bị hạn chế, rừng trồng đạt tỷ lệ sống cao, đã xuất hiện nhiều mô hình trang trại nông lâm nghiệp, mô hình kinh tế hộ gia đình có hiệu quả kinh tế cao, tạo công ăn việc làm nâng cao thu nhập cải thiện đời sống người dân, một bộ phận người dân đã giàu lên từ sản xuất kinh doanh trên đất được giao, mở hướng sản xuất hàng hoá gắn với thị trường tiêu thụ ở nhiều nơi, góp phần xoá đói giảm nghèo, góp phần thay đổi bộ mặt nông thôn miền núi

1.2 Những nghiên cứu về giao đất lâm nghiệp ở Việt Nam

Trong những năm vừa qua, đã có những dự án, những công trình nghiên cứu về công tác giao đất lâm nghiệp ở nước ta, mỗi dự án, mỗi công trình nghiên cứu đều có những cách tiếp cận riêng đối với tác động của chính sách này tới sự phát triển kinh tế xã hội ở mỗi vùng

Dự án “ Đổi mới chiến lược ngành lâm nghiệp” đây là dự án xuất phát từ yêu cầu cấp bách của nước ta sau khi ban hành Luật bảo vệ phát triển rừng năm

1991 Mục tiêu của dự án là bằng quá trình tìm tòi học hỏi và hợp tác để góp phần tìm ra các giải pháp chiến lược nhằm từng bước thực thi có hiệu quả mục

Trang 19

tiêu phát triển ngành lâm nghiệp trong hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam Dự án đã góp phần xây dựng phương pháp mới về giao đất lâm nghiệp, trên cơ sở học tập kinh nghiệm của các năm trước và dựa vào các văn bản pháp quy liên quan đến Luật đất đai, Luật bảo vệ phát triển rừng

Đề tài “Định hướng và các giải pháp thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội nông thôn miền núi” của tác giả Trần Thanh Bình, đã đưa ra một số khuyến nghị nhằm góp phần ổn định và phát triển kinh tế xã hội nông thôn miền núi 23

Đề tài “Những định hướng và giải pháp bước đầu nhằm đổi mới việc giao đất giao rừng ở miền núi” của Nguyễn Đình Tư đã xem xét tình hình giao đất từ năm 1968 - 1992, đánh giá được thực trạng sau khi nhận đất, nhận rừng, đề tài cũng đã chỉ ra được những định hướng và những giải pháp cơ bản nhằm đổi mới công tác giao đất lâm nghiệp ở miền núi 23

Công trình “Tăng cường công tác giao đất lâm nghiệp và khuyến khích trồng rừng trên đất được giao”, của tác giả Đoàn Diễm đã đưa ra những tồn tại trong việc quy hoạch sử dụng đất và giao đất lâm nghiệp, đưa ra những kiến nghị đẩy nhanh tiến độ quy hoạch sử dụng đất và giao đất lâm nghiệp trong thời gian tới 2

Đề tài” Tìm hiểu tác động của giao đất giao rừng đến phát triển kinh tế - xã hội - môi trường tại xã Văn Lăng huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên”của nhóm tác giả trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên (Đặng Kim Vui, Lý Văn Trọng,

Lê Sỹ Trung) đã tiến hành đánh giá hiệu quả của việc thực hiện chính sách giao đất lâm nghiệp trên phạm vi ở một xã miền núi 28

Báo cáo” Người nông dân mong muốn được lợi ích gì trên đất được giao

để trồng rừng” của Phạm Sinh đã đề xuất một số quan điểm có liên quan đến lợi ích của người trồng rừng và nêu nên một số mong muốn của họ khi nhận đất nhận rừng để sản xuất kinh doanh 16

Trang 20

Hội thảo với chủ đề “Chủ rừng và lợi ích của chủ rừng trong kinh doanh rừng trồng”, do Vụ Chính sách, Vụ Hợp tác quốc tế, Cục Phát triển lâm nghiệp -

Bộ Nông nghiệp và PTNT phối hợp tổ chức tại thị xã Sầm Sơn tỉnh Thanh Hoá,

từ ngày 13 đến 15/7/1998 đã xem xét nghiên cứu khuôn khổ pháp lý và tác động của hệ thống pháp lý đang tồn tại đối với từng loại chủ rừng

Hội thảo quốc gia với chủ đề “Chính sách và thực tiễn phục hồi rừng ở Việt Nam” do Cục Phát triển lâm nghiệp phối hợp với một số tổ chức quốc tế IUCN, GTZ, WWF tổ chức vào tháng 11 năm 1999 tại Hoà Bình đã phân tích những nguyên nhân mất và suy thoái rừng đồng thời chỉ ra những tồn tại trong quá trình giao đất lâm nghiệp: Quá trình giao đất lâm nghiệp diễn ra tương đối chậm chạp và chưa mang lại cảm giác thoải mái về quyền sở hữu cho các hộ gia đình và các cộng đồng địa phương Có hai nguyên nhân chính đó là khả năng có hạn của các cơ quan được giao nhiệm vụ để thực hiện qúa trình giao đất một cách hữu hiệu, cũng như thời hạn và điều kiện hạn chế đi kèm với quá trình giao đất 11

Đề tài “ Đánh giá hiệu quả sử dụng đất lâm nghiệp Nhà nước giao cho hộ gia đình” của tác giả Nguyễn Thị Lai - Viện Khoa học lâm nghiệp đã tiến hành đánh giá hiệu quả kinh tế của các hộ gia đình đã thực hiện trên đất lâm nghiệp trên cơ sở đó đề ra những khuyến nghị thiết thực với mục đích nâng cao hiệu quả

sử dụng đất tại huyện Yên Bình tỉnh Bắc Thái, đề tài đã tiến hành đánh giá hiệu quả kinh tế của việc canh tác các mô hình sản xuất chính trên đất lâm nghiệp được giao của hộ gia đình 17

Lê Trọng Hùng (2009) trong nghiên cứu đánh giá tác động của chính sách giao đất lâm nghiệp đến nông hộ ở quy mô cấp xã đã chỉ ra rằng giao đất giao rừng có tác động tích cự đên sinh kế của người dân tuy nhiên hiệu quả chưa cao

do nhiều nguyên nhân từ quá trình giao đất đến các chính sách hỗ trợ

Trang 21

Đặng Kim Sơn (2009) khi nghiên cứu ảnh hưởng của chính sách ở tầm vĩ

mô cũng cho rằng việc giao đất lâm nghiệp đã bước đầu khuyến khích người dân đầu tư và sử dụng đất có hiệu quả hơn, nhưng tác động còn rất hạn chế đối với các hộ nghèo ở vùng sâu vùng xa do thiếu các chính sách hỗ trợ cả từ lĩnh vực tín dụng, kỹ thuật, thị trường và thông tin

1.3 Giao đất, giao rừng ở Thanh Hóa

Thanh Hoá có diện tích tự nhiên 1.112.033 ha, trong đó đất sản xuất lâm nghiệp 553.999 ha; với diện tích đất có rừng là 484.246 ha

Thực hiện Nghị định 02/CP, từ 1995-1999 tỉnh Thanh Hóa đã tổ chức giao đất lâm nghiệp cho 97.117 hộ gia đình với diện tích 315.184 ha; Ngày 16/11/1999 Chính phủ ban hành Nghị định số 163/1999/NĐ-CP về giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích lâm nghiệp Từ năm 2000 đến nay tiếp tục giao đất lâm nghiệp bổ sung và chia tách nhóm hộ Theo số liệu thống kê đến hết tháng 6 năm 2009 toàn

tỉnh đã giao đất lâm nghiệp cho 113.419 hộ gia đình, diện tích 338.741,81 ha

Hiện nay, huyện Như Thanh tỉnh Thanh hoá cơ bản hoàn thành việc giao đất lâm nghiệp cho các doanh nghiệp, tập thể, hộ gia đỡnh với diện tớch gần 44.000 ha rừng và đất rừng Sau khi được giao và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhiều hộ gia đình, cá nhân đã ý thức được vai trò làm chủ của mình trên diện tích đất lâm nghiệp được giao và lợi ích kinh tế từ rừng, do vậy đã có bước chuyển đổi về cơ cấu đầu tư và thu nhập của hộ gia đình Người nhận đất, nhận rừng đã thực sự làm chủ trên mảnh đất của mình và yên tâm đầu tư để trồng rừng, khoanh nuôi bảo vệ rừng Nhiều hộ gia đình có diện tích đất lâm nghiệp liền kề đã liên kết với nhau để bảo vệ và phát triển rừng, tình hình an ninh rừng trên diện tích được giao tương đối ổn định Nhiều hộ gia đình đã đầu tư lao động, tiền vốn để tái tạo rừng

Trang 22

Xã Hải Vân đã thực hiện giao đất, giao rừng cho các hộ gia đình với tổng diện tích rừng và đất lâm nghiệp là 898,61 ha Từ khi chính quyền giao đất lâm nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định vào mục đích lâm nghiệp cho tới nay, chưa có một nghiên cứu nào về tác động, ảnh hưởng của công tác giao đất lâm nghiệp tới sản xuất kinh doanh của hộ gia đình trên địa bàn Xuất phát từ những

thực tế trên, luận văn “Nghiên cứu ảnh hưởng của chính sách giao đất, giao

rừng đến kinh tế hộ tại xã Hải Vân - huyện Như Thanh - tỉnh Thanh Hoá” được

thực hiện với hy vọng góp phần vào sự phát triển kinh tế xã hội ở địa phương

Trang 23

CHƯƠNG II MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu của đề tài:

2.1.1.Mục tiêu tổng quát:

Đánh giá tác động của công tác giao đất giao rừng nhằm hoàn thiện quá trình thực hiện chính sách giao đất lâm nghiệp và nâng cao hiệu quả sử dụng đất lâm nghiệp được giao tại xã Hải Vân - huyện Như Thanh - tỉnh Thanh Hoá

2.1.2.Mục tiêu cụ thể:

- Tổng kết kết quả thực hiện công tác giao đất lâm nghiệp giao rừng tại

xã Hải Vân - huyện Như Thanh - tỉnh Thanh Hoá;

- Đánh giá được những tác động chủ yếu về kinh tế, xã hội và môi trường của công tác giao đất lâm nghiệp tới quá trình phát triển kinh tế hộ gia đình và môi trường tại xã Hải Vân;

- Đề xuất được một số giải pháp nâng cao hiệu quả về công tác giao đât giao rừng và quản lý sử dụng đất lâm nghiệp đã được giao

2.2 Đối tượng và giới hạn nghiên cứu

2.2.1 Đối tượng nghiên cứu

Chương trình giao đất, kết quả giao đất lâm nghiệp tại xã Hải Vân và ảnh hưởng của nó đến sự phát triển kinh tế hộ và môi trường trên địa bàn

2.2.2 Giới hạn nghiên cứu

- Giới hạn về không gian:

Luận văn tiến hành nghiên cứu tại địa bàn xã Hải Vân, đây là một xã miền núi của huyện Như thanh -Thanh hoá, quá trình giao đất lâm nghiệp trên địa bàn xã được triển khai từ năm 1990, trước khi Chính phủ ban hành Nghị định số 02/CP Một đặc điểm khác biệt so với hầu hết các xã trong huyện là trên địa bàn xã có nhiều dân tộc anh em cùng sinh sống Từ những đặc điểm này, quá trình thực hiện chính sách giao đất lâm nghiệp và tác động của chính sách giao đất lâm nghiệp trên địa bàn có những đặc thù riêng

- Giới hạn về thời gian và nội dung:

Trang 24

Do điều kiện về mặt thời gian và các hạn chế khác, luận văn chỉ giới hạn nghiên cứu trên một số khía cạnh:

- Chương trình giao đất lâm nghiệp theo nghị định 02/CP và khoán bảo

vệ và trồng rừng theo nghị định 01/CP

- Luận văn đi sâu phân tích tác động của giao đất lâm nghiệp về mặt kinh tế hộ và môi trường

2.3 Nội dung nghiên cứu:

- Đánh giá quá trình và kết quả thực hiện chính sách giao đất lâm nghiệp ở Hải Vân - huyện Như Thanh - tỉnh Thanh Hoá

- Phân tích tác động của chính sách giao đất lâm nghiệp trên các mặt kinh tế, xã hội, môi trường

- Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện quá trình thực hiện chính sách giao đất lâm nghiệp, nâng cao hiệu quả quản lý sử dụng đất góp phần phát triển kinh tế xã hội tại địa bàn xã

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Quan điểm và phương pháp tiếp cận trong nghiên cứu:

Hiện nay hầu hết các địa phương miền núi trong cả nước đã thực hiện tôt chủ trương giao đất giao rừng và bước đầu đã thu được những kết quả đáng kể Tuy nhiên, thực tế cho thấy công tác giao đất giao rừng ở nhiều địa phương vẫn còn nhiều bất cập, do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan đem lại Vì vậy việc nghiên cứu ảnh hưởng của chính sách giao đất giao rừng cũng cần phải xem xét theo từng thời kỳ để phù hợp với hiện thực khách quan

Chính sách giao đất lâm nghiệp là một bộ phận của hệ thống chính sách kinh tế xã hội của Nhà nước, khi đi vào thực tiễn đã có những tác động trên nhiều khía cạnh, bao gồm cả những tác động trực tiếp và gián tiếp ở những mức độ khác nhau đối với mỗi địa phương Việc nghiên cứu đánh giá tác động của chính sách giao đất lâm nghiệp của luận văn được tiến hành thông qua một số chỉ tiêu đánh giá, bao gồm một số chỉ tiêu định lượng và một số chỉ tiêu định tính về các mặt kinh tế, xã hội và môi trường ở quy mô cấp xã

Trang 25

Phòng chống xói

Đánh giá ảnh hưởng của

giao đất giao rừng

Ảnh hưởng đến môi trường

Phân tích đánh giá

Tính chất

đất

Độ che phủ

Thay đổi

xã hội

khác

Thay đổi cơ cấu chi phí, thu

nhập

hộ

Thay đổi P/thức

canh tác đất

Ảnh hưởng đến

kinh tế hộ gia đình

Khung phân tích của đề tài được khái quát hóa theo sơ đồ sau:

Hình 2.1: Sơ đồ tóm tắt quá trình nghiên cứu

Trang 26

2.4.2 Phương pháp thu thập số liệu

a) Kế thừa kết quả nghiên cứu và các tài liệu đã có về vấn đề liên quan về tình hình

cơ bản về điều kiện tự nhiên, dân sinh kinh tế xã hội như:

+ Tài liệu về địa lý, đất đai, thổ nhưỡng

+ Tài liệu khí hậu thuỷ văn

+ Dân sinh kinh tế xã hội

+ Bản đồ giao đất lâm nghiệp, bản đồ hiện trạng

+ Các báo cáo tổng kết về giao đất lâm nghiệp

+ Các kết quả nghiên cứu, báo cáo đánh giá tổng kết việc thực hiện chính sách giao đất lâm nghiệp ở địa phương,

b) Thu thập số liệu thực địa

- Phương pháp điều tra kinh tế xã hội học

Để thu thập các số liệu về kinh tế xã hội, luận văn sử dụng linh hoạt các phương pháp đánh giá nhanh nông thôn (RRA) và một số công cụ của phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia của người dân (PRA), cụ thể:

+ Phỏng vấn hộ gia đình: Tiến hành điều tra phỏng vấn 40 hộ gia đình trong xã, bao gồm 10 hộ không nhận đất, nhận rừng và 30 hộ có nhận đất, nhận rừng và được phân loại thành 3 nhóm (nhóm nhận ít đất lâm nghiệp, nhóm trung bình và nhóm nhận nhiều đất lâm nghiệp) Trước khi tiến hành điều tra, dựa theo kết quả khảo sát sơ bộ trong dân và ý kiến cán bộ xã, kết hợp với số liệu thống kê giao đất của xã tiến hành sơ bộ phân loại các gia đình nhận đất thành 3 nhóm theo diện tích đất lâm nghiệp tính bình quân trên địa bàn Các thông tin được phỏng vấn theo mẫu lập sẵn ở phần phụ biểu.

Điều tra các thông tin về xã hội được tiến hành đồng thời với điều tra kinh tế nhờ công cụ là bộ câu hỏi mở ghi trong phiếu điều tra theo các chỉ tiêu

cơ bản: mức độ tham gia của người dân; việc nhận đất và nhận rừng có làm tăng thu nhập hay không; khả năng nhận thức của người dân,

Trang 27

Điều tra các thông tin về môi trường được tiến hành bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp người dân có thời gian sống ở xã từ năm 1990 trở lại đây, đồng thời kết hợp với những quan sát, đánh giá trực tiếp của người nghiên cứu trên địa bàn nghiên cứu

- Phương pháp điều tra lâm học

Căn cứ vào bản đồ hiện trạng và bộ hồ sơ giao đất lâm nghiệp của các

hộ điều tra tiến hành lập một số OTC điển hình tạm thời cho các loại rừng hiện có của khu vực nghiên cứu, mỗi loại rừng lập một OTC, với rừng tự nhiên diện tích OTC 1000m2, với rừng trồng diện tích OTC 500m2

Trong mỗi ô mẫu tiến hành mô tả các yếu tố tự nhiên và thu thập một số chỉ tiêu như: tên loài cây; D1,3; Hvn, mật độ

+ Điều tra tầng cây cao: D1,3 được đo bằng thước kẹp kính theo hai chiều ĐT - NB sau đó lấy trị số bình quân Hvn được đo bằng thước đo chiều cao Blumeleis, kết hợp với sào khắc vạch đến dm,

+ Điều tra cây tái sinh: Được tiến hành trên ô dạng bản có diên tích 25

m2 được bố trí tại 4 góc OTC Trong ô dạng bản tiến hành thống kê tên loài cây; chiều cao; phẩm chất cây tái sinh,

+ Điều tra cây bụi thảm tươi: Tiến hành đồng thời với điều tra cây tái sinh trong các ô dạng bản với các chỉ tiêu: tên loài cây; chiều cao bình quân;

độ che phủ chung

Phương pháp chuyên gia

Để đảm bảo tính khách quan cũng như tính đúng đắn và chính xác của những kết luận và đề xuất của luận văn phù hợp với thực tiễn, trong quá trình nghiên cứu và phân tích kết quả nghiên cứu, luận văn tiến hành:

- Tham khảo ý kiến của các chuyên gia và các nhà quản lý, các nhà khoa học về cơ chế hưởng lợi trong việc giao, khoán rừng và đất lâm nghiệp cho mục tiêu đề ra

Trang 28

- Tham khảo ý kiến đánh giá của cán bộ địa phương trực tiếp tham gia dự án

2.4.3 Phương pháp xử lý số liệu và phân tích kết quả

- Tính toán các chỉ tiêu đánh giá tác động của chính sách giao đất lâm nghiệp trên các mặt kinh tế, xã hội, môi trường tại địa bàn nghiên cứu:

* Nhóm các chỉ tiêu về mặt kinh tế:

+ Sự thay đổi về cơ cấu sử dụng đất,

+ Sự thay đổi về cơ cấu kinh tế (chi phí, thu nhập ),

+ Sự thay đổi về hiệu quả sử dụng đất (thu nhập và lợi nhuận trên đơn

vị diện tích, thu nhập ngày công lao động ),

+ Sự thay đổi về thu nhập từ rừng và đất rừng (Tỷ lệ % trong cơ cấu thu nhập của hộ),

* Nhóm các chỉ tiêu về tác động xã hội:

+ Phát triển cơ sở hạ tầng,

+ Nâng cao kiến thức kỹ thuật sản xuất lâm nghiệp cho người dân,

+ Nâng cao nhận thức về về quyền lợi, nghĩa vụ của hộ gia đình đối với tài nguyên rừng,

+ Mở rộng cơ hội tiếp cận thị trường của hộ gia đình

* Nhóm chỉ tiêu tác động về mặt môi trường sinh thái:

+ Diễn biến tài nguyên rừng về độ che phủ (%)

+ Ước tính hiệu quả phòng chống xói mòn đất một cách định tính thông qua phỏng vấn

+ Việc tính thể tích từng cây được tính theo biểu thể tích 2 nhân tố (H,D) của loài cây cụ thể được trồng hoặc biểu thể tích 2 nhân tố được tính cho các loài cây rừng tự nhiên ở phía Bắc Việt Nam trong cuốn Sổ tay điều tra xuất bản năm 2000

Trang 29

CHƯƠNG III ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN KINH TẾ- XÃ HỘI KHU VỰC NHIÊN CỨU 3.1 Điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên của xã Hải Vân - Như Thanh

- Phía Bắc giáp xã Hải Long và thị trấn Bến Sung

- Phía Nam giáp xã Yên Thái, Xuân Phúc

- Phía Đông giáp xã Yên Thọ

- Phía Tây giáp xã Xuân Khang

Với vị trí địa lý phía Tây Bắc là Đập Bến En, Hồ sông Mực, trên địa bàn xã

có đường liên huyện nối từ đường Quốc lộ 45 đi vườn quốc gia Bến En đi giữa và dọc theo chiều dài của xã tạo cho xã Hải Vân giao lưu đi lại dễ dàng, thuận lợi cho phát triển kinh tế xã hội

Khí hậu, thuỷ văn

Theo số liệu của Đài Khí tượng thuỷ văn tỉnh Thanh Hoá, xã Hải Vân nằm trong vùng khí hậu miền núi phía Tây Nam tỉnh Thanh Hoá, có những đặc điểm sau:

Trang 30

- Lượng mưa:

Xã Hải Vân nằm trong tiểu vùng thuỷ văn thượng lưu sông Mực Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5, kết thúc tháng 10 với lượng mưa tháng trung bình đều đạt trên 200mm Hai tháng mưa lớn nhất là tháng 8 và tháng 9 đạt gần mức 400mm/tháng Tổng lượng mưa trong năm trên dưới 2.000mm

Trong những năm gần đây, thỉnh thoảng có mưa lớn thất thường gây nên lũ quét ảnh hưởng xấu đến sản xuất nông, lâm nghiệp và đời sống

- Gió:

Gió mùa Đông Bắc thường xuất hiện từ đầu tháng 10 đến tháng 3 năm sau, mang theo mưa phùn, nhiệt độ xuống thấp, giá rét, ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống của nhân dân trong vùng

Gió Đông Nam xuất hiện từ cuối tháng 4 đến tháng 9 mang theo nhiều hơi nước và thường xuyên có mưa lớn Thời kỳ này cũng thường xuất hiện bão kèm theo mưa lớn, đất đá bị rửa trôi xói mòn, gây ách tắc giao thông, công trình thuỷ lợi

kè cống kém tác dụng, năng suất các loại cây trồng giảm sút đáng kể, nhất là lúa

- Độ ẩm không khí:

+ Độ ẩm không khí trung bình từ 85 % -86% Tháng 2 và tháng 3 có độ ẩm không khí cao gần 90%, tạo điều kiện cho nhiều loại dịch bệnh phát triển ở người, gia súc và các loại cây trồng

+ Tháng 5 và tháng 6 độ ẩm không khí thấp, ảnh hưởng đến khả năng phơi màu, thụ phấn của cây trồng như lúa, ngô,… do đó ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng sản phẩm

Địa hình

Xã Hải Vân có địa hình không đồng nhất, cao thấp xen kẽ, nhưng nhìn chung thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam, giữa xã có dãy núi đá Vân Thành chia xã thành 2 vùng gần bằng nhau giữa Đông và Tây Có thể chia thành 5 cấp địa hình đặc trưng:

- Địa hình dốc trên 20o nằm chủ yếu ở phía Tây Bắc của xã, phân bố ở dãy núi đá Vân Thành chiếm 22,93% diện tích tự nhiên, thích hợp cho khoanh nuôi

Trang 31

phục hồi rừng

- Địa hình dốc từ 15 -20o, là phần chuyển tiếp của dãy núi Vân Thành nằm ở phía Tây Nam của xã chiếm khoảng 41,61% diện tích tự nhiên, hiện tại chủ yếu là rừng trồng và rừng cây phục vụ sản xuất công nghiệp như: mía, dứa, vải…

- Địa hình dốc từ 8o -15o, nằm rải rác trong toàn xã, chiếm 7,41% diện tích tự nhiên, hiện tại là đất trồng cây lâu năm, đất thổ cư, giao thông và xây dựng cơ bản

- Địa hình dốc từ 3o- 8o chiếm khoảng 13,04% diện tích tự nhiên, thuận lợi cho việc phát triển sản xuất nông nghiệp

- Địa hình dốc dưới 3o chiếm khoảng 15,01% diện tích tự nhiên thuận lợi cho việc phát triển cây lúa nước và nuôi trồng thuỷ sản

Theo phân cấp phòng hộ toàn bộ diện tích tự nhiên của xã chỉ nằm trong khu vực xung yếu và ít xung yếu

3.1.2 Các nguồn tài nguyên

Tài nguyên đất đai

Theo tài liệu điều tra Nông hoá - Thổ nhưỡng của tỉnh Thanh Hoá, đất đai xã Hải Vân được hình thành do 3 quá trình chính:

- Quá trình lắng đọng phù sa của hệ thống sông Mực đến nay phần lớn không được phục hồi, phân bố dọc theo sông Mực, phía Bắc của xã, diện tích khoảng 80

ha chiếm 4,66% diện tích tự nhiên Loại đất này có thành phần cơ giới từ thịt nhẹ đến trung bình, các chất dinh dưỡng tổng số cao, đất chua ít

- Đất đỏ vàng phát triển trên phiến thạch sét và đá biến chất, phân bố trên toàn xã, diện tích khoảng 1.260ha chiếm khoảng 73,47% diện tích tự nhiên Loại đất này có nhiều đá lẫn và đá lộ đầu, tầng dày không đồng nhất, đất chua ít đến chua, các chất dinh dưỡng tổng số tăng dần theo độ dày tầng đất, thành phần cơ giới

từ thịt nhẹ đến thịt trung bình, có nơi thịt nặng

- Đất đỏ vàng biến đổi do trồng lúa, ngập nước Diện tích khoảng 375ha chiếm khoảng 21,87 % diện tích tự nhiên Loại đất này thành phần cơ giới từ thịt trung bình đến thịt nặng, đất chua ít đến chua, các chất dinh dưỡng khá

Trang 32

Tài nguyên nước

- Nước mặt: nguồn nước tưới cho cây trồng lấy từ hồ sông Mực và nước các

hồ đập hiện có, thông qua hệ thống mương tưới và mương chân rết phục vụ cho trồng trọt, sinh hoạt và cải thiện môi trường

- Nước ngầm: Gần 100% số dân sử dụng nước giếng khơi từ nguồn nước ngầm nông sạch, đảm bảo vệ sinh, chưa bị ô nhiễm

Nhận xét chung về điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên

a Lợi thế

Tuy là xã miền núi của tỉnh Thanh Hoá nhưng xã Hải Vân có vị trí tương đối thuận lợi, gần các trục đường giao thông, gần trung tâm huyện lỵ, giao thông đi lại thuận tiện, dễ dàng giao lưu với các vùng miền trong tỉnh Vì vậy Hải Vân có một lợi thế so sánh đối với việc phát triển kinh tế xã hội so với các xã khác trên địa bàn toàn huyện

Đất đai có độ phì tiềm tàng cao, nhưng chưa được khai thác sử dụng hiệu quả, thời tiết khí hậu phù hợp với nhiều loại cây trồng ở nhiều thời vụ khác nhau trong năm Đây là ưu thế để phát triển đa dạng hoá cây trồng, vật nuôi để nâng cao hiệu quả sử dụng đất

Trang 33

Bảng 3.1: Hiện trạng sử dụng đất năm 2009 của xã Hải Vân

(ha)

Tỷ lệ (%) Tổng diện tích đất tự nhiên 1.715,84 100,00

1.1.2.2 Đất trồng cây ăn quả lâu năm LNQ 10,71 0,62 1.1.2.3 Đất trồng cây lâu năm khác LNK 36,93 2,15

1.2.1.2 Đất có rừng trồng sản xuất RST 465,87 27,15 1.2.1.3 Đất khoanh nuôi phục hồi rừng S.xuất RSK 98,4 5,73 1.2.1.4 Đất trồng rừng sản xuất RSM 182,72 10,65

2.5 Đất sông suối và mặt nước chuyên dùng SMN 164,16 9,57

(Nguồn: UNND xã Hải Vân, 2009)

Trang 34

3.3 Điều kiện kinh tế - xã hội

3.3.1 Dân số lao động và thu nhập

Theo thống kê tính đến 31/12/2009 xã có dân số và lao động được tổng hợp theo bảng 3.2

Bảng 3.2 Dân số và lao động xã Hải Vân năm 2009

Số hộ

Số khẩu

Lao động

Tổng Hộ có 1 cặp vợ

chồng

Hộ có 2 cặp vợ chồng

Hộ khác Tổng số Nam Nữ

(Nguồn: UBND xã Hải Vân, 2009)

Toàn xã có 839 hộ gia đình, 3680 nhân khẩu Tỷ lệ tăng dân số 0,69% Trong xã

có 4 dân tộc cùng sinh sống trên đại bàn 7 thôn Trong đó dân tộc Kinh có 670 hộ với

3216 nhân khẩu, chiếm 79,85%; Mường 132 hộ với 393 nhân khẩu, chiếm 11,9%; Thái

29 hộ với nhân khẩu, chiếm 3,45%, Thổ 8 hộ với 19 nhân khẩu, chiếm 0,95% Xã Hải Vân có tổng số 1.797 lao động chiếm 48,8% dân số của xã, chủ yếu là lao động trong

lĩnh vực nông nghiệp, trong đó lao động nam 910 người, lao động nữ 887 người

Thu nhập và đời sống: Theo báo cáo về các chỉ tiêu phát triển kinh tế năm

2009, thu nhập bình quân đầu người 4,7 triệu đồng, tổng sản lượng lương thực đầu người đạt 249kg Mức sống dân cư hiện nay chưa có hộ giàu, có gần 1% hộ khá, 95,3% số hộ có mức sống trung bình, xã vẫn còn tới 31/839 hộ nghèo (theo tiêu chí mới) chiếm 3,7% số hộ cần sự giúp đỡ của Nhà nước và cộng đồng

Nhìn chung trình độ và tập quán canh tác còn lạc hậu, hiệu quả sử dụng đất chưa cao, năng suất sản lượng cây trồng còn thấp, việc ứng dụng các giống mới vào sản xuất còn chậm Như vậy, dân số lao động và việc làm đang gây sức ép lớn đối với đất đai, đòi hỏi sử dụng đất có phải kế hoạch và tiết kiệm

Trang 35

mở rộng, đang là động lực mới cho phát triển kinh tế xã hội

a Trồng trọt

Nông nghiệp là ngành sản xuất chính của xã, trong đó trồng trọt chiếm vai trò chủ đạo Tổng diện tích đất nông nghiệp của xã là 1274,87 ha chiếm 74,30% tổng diện tích tự nhiên

- Cây lúa: Diện tích lúa 2 vụ trong năm 89,55 ha năng xuất bình quân 4,4 tấn/ha, sản lượng 788,04 tấn, diện tích đất 1 lúa 1 mầu là 24,56 ha, năng xuất bình quân 4tấn/ ha, sản lượng 98,24 tấn

- Cây ngô: Diện tích 7,9 ha, năng xuất bình quân 4,1 tấn/ha, sản lượng đạt 32,39 tấn

Tổng sản lượng lương thực cây có hạt 918,67 tấn, bình quân lương thực đầu người 249kg

- Cây sắn diện tích 18 ha năng suất đạt 25 tấn/ha sản lượng đạt 450 tấn

- Cây rau màu khác diện tích 31,72 ha Diện tích cây khoai lang 5,3ha sản lượng 40 tấn/ha

- Cây công nghiệp trong đó cây mía diện tích là 28,97ha, năng xuất bình quân đạt 45 tấn/ha, sản lượng 1.303,6 tấn, cây dứa diện tích 3 ha ước đạt 30 tấn/ha, sản lượng 90 tấn, cây ăn quả, (vải, nhãn) tổng diện tích là 80,7 ha năng suất bình quân 3 tấn/ha sản lượng 242,1tấn

- Trồng cây lâm nghiệp: Toàn xã có 898,61 ha đất lâm nghiệp, chiếm 52,37% diện tích tự nhiên

Trong thời gian qua được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, các dự án, chương trình phát triển lâm nghiệp, như CT327, CT661 đã làm cho nguồn tài

Trang 36

nguyên tăng lên cả về số lượng và chất lượng

b Chăn nuôi

Do ảnh hưởng của dịch bệnh và giá cả không ổn định, nên phát triển chăn nuôi trong xã nói riêng và cả vùng nói chung những năm gần đây gặp nhiều khó khăn Chăn nuôi hiện nay chủ yếu là ở hộ gia đình, đàn gia súc gia cầm gồm có:

Tổng đàn trâu 247 con; đàn bò 302 con; đàn lợn 1630 con; dê 135 con; gia cầm trong năm khoảng 8.000 con

Nuôi trồng thuỷ sản trên diện tích 10,12ha, là ao hồ tự nhiên, chủ yếu là nuôi

cá nước ngọt

Tổng thu nhập từ sản xuất nông, lâm nghiệp, chăn nuôi của xã năm 2009 là:

7,035 tỷ đồng, bình quân đầu người gần 2 triệu đồng

c Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp

Sản xuất tiểu thủ công nghiệp của xã chủ yếu là sản xuất vật liệu xây dựng: Trên địa bàn có 1 công ty, 2 tổ làm nghề khai thác đá cung cấp vật liệu cho các xưởng đá xẻ tại thành phố Thanh Hoá, có 1 tổ hợp sản xuất gạch và 7 hộ gia đình làm nghề khai thác đá phục vụ cho xây dựng của địa phương, 1 hợp tác xã sản xuất tái chế vật liệu phế tải nilon Tất cả đều tập trung tại địa bàn thôn Vân Thành Trong

số các cơ sở công nghiệp này hoạt động hiệu quả và mang lại doanh thu cao nhất là hoạt động của Công ty Hưng Quý vận chuyển và khai thác đá làm vật liệu cho các xưởng đá xẻ

Tổng thu nhập trong năm 2009 từ sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp đạt 5 tỷ đồng

d Dịch vụ và thu khác

Nguồn thu nhập từ dịch vụ và thu khác trong đó có nguồn thu lớn của lao động trong nước và nước ngoài gửi về, thu từ hoạt động xây dựng và các hộ kinh doanh cá thể và các khoản từ lương cán bộ công chức, viên chức trên địa bàn Tổng thu đạt 5,3 tỷ đồng

Tổng thu nhập năm 2009 gồm các nguồn thu từ sản xuất nông, lâm nghiệp,

ngành nghề tiểu thủ công nghiệp dịch vụ, các nguồn thu khác là 17.335 tỷ/3680

khẩu Bình quân thu nhập đầu người là 4,7 triệu đ/người/năm Tỷ lệ tăng trưởng kinh tế 9,5% so với năm 2008

Trang 37

Nhận xét chung về thực trạng phát triển kinh tế xã hội

a Lợi thế

Thực trạng phát triển kinh tế và xã hội của xã Hải Vân cho thấy, qua những năm gần đây, sự phát triển kinh tế, xã hội bước đầu đã có những chuyển biến tích cực, đời sống cả vật chất và tinh thần cho người dân ngày một nâng cao Do có sự đầu tư cải tiến phương tiện sản xuất và áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, năng suất lao động ngày càng nâng cao và đi dần vào ổn định, cơ sở hạ tầng, giao thông thuỷ lợi của xã tương đối phát triển, Đây là những thuận lợi tạo lực đẩy ban đầu cho quá trình phát triển kinh tế xã hội của địa phương

b Hạn chế

Qua quá trình điều tra phân tích cho thấy bên cạnh những thế mạnh sẵn có, Hải Vân còn nhiều khó khăn thách thức cần vượt qua Tuy trong xã có một số ngành nghề phát triển, như khai thác vật liệu xây dựng, sản xuất tái chế phế thải ni lông và một số trang trại lâm nông nghiệp nhưng không thu hút được nhiều lao động địa phương, mà chủ yếu là các chủ doanh nghiệp mang lao động từ dưới xuôi lên làm nghề Số lao động làm nghề phụ của địa phương trong lúc nông nhàn chủ yếu là lao động chân tay phổ thông, như phụ hồ, thợ xây các công trình sinh hoạt của gia đình,…Nên thu nhập từ nghề phụ coi như không đáng kể trong đại bộ phận dân cư Bên cạnh đó diện tích đất canh tác của xã ít, việc tận dụng cải tạo đất đai đưa vào canh tác để thâm canh tăng năng suất chưa được chú trọng Do đó hiệu quả

sử dụng đất chưa cao Bình quân lương thực đầu người thấp 249kg/người, chưa đảm bảo an ninh lương thực tại chỗ Thu nhập bình quân đầu người thấp kéo theo tiềm lực về tài chính, cũng như khả năng tích luỹ vốn đầu tư tái sản xuất còn thấp

Tuy tổng thu nhập bình quân đầu người tuy đạt mức 4,7 triệu đồng, nhưng thực tế thu nhập của người nông dân rất thấp, vì chủ yếu thu nhập chỉ từ sản xuất

nông, lâm nghiệp và chăn nuôi là: 7,035 tỷ đạt trung bình chỉ đạt 2 triệu đồng/người

Từ những áp lực và thách thức cùng với nhu cầu của con người cũng tăng một cách nhanh chóng đã gây áp lực mạnh mẽ đối với đất đai đó là việc chuyển đổi mục đích sử dụng các loại đất đai để đáp ứng nhu cầu phát triển

Trang 38

CHƯƠNG IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 4.1 Tình hình thực hiện chính sách giao, khoán đất lâm nghiệp tại khu vực nghiên cứu

4.1.1 Quá trình và kết quả giao, khoán đất lâm nghiệp

Quá trình giao, khoán đất lâm nghiệp trên địa bàn xã hải Vân được bắt đầu từ năm 1990 trước khi Chính phủ ban hành Luật đất đai 1993, Nghị định số 02/CP và Nghị định số 01/CP và trải qua hai giai đoạn

Giai đoạn từ 1990 - 1992:

Đất lâm nghiệp trên địa bàn xã do nhiều đơn vị quản lý nhưng phần lớn diện tích đất lâm nghiệp do Lâm trường Như Xuân (nay là Ban QLRPH Như Xuân) và Vườn quốc gia Bến En, một phần do UBND xã quản lý Đất lâm nghiệp trên thực địa của các đơn vị nằm xen cài nhau, ranh giới không rõ ràng Mặc dù rừng và đất lâm nghiệp đã có người quản lý nhưng trên thực tế rừng vẫn chưa có chủ thực sự, người dân trong xã và cả những xã khác trong huyện đã tự

do vào rừng chặt phá Hiện tương chặt phá rừng mạnh nhất vào những năm từ

1986 - 1989, toàn bộ diện tích rừng tự nhiên trên địa bàn xã bị tàn phá tới mức tàn kiệt, nhiều hộ dân trong xã tự ý chiếm dụng đất lâm nghiệp của xã cũng như của Lâm trường quản lý để tăng gia sản xuất

Trước tình trạng đó, trên cơ sở Quyết định số 184-HĐBT ngày 6/11/1982

và Chỉ thị số 29 CT/TW ngày 12/11/1983 về việc đẩy mạnh giao đất giao rừng,

xây dựng rừng và tổ chức kinh doanh theo phương thức nông lâm kết hợp, đầu

năm 1990 Đảng uỷ, xã Hải Vân đã họp và thống nhất thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước tiến hành vận động nhân dân trong xã nhận rừng và đất lâm nghiệp để quản lý bảo vệ, đã tiến hành rà soát toàn bộ diện tích rừng và đất lâm nghiệp không thuộc quyền quản lý của Ban QLRPH Như Xuân và vườn quốc gia Bến en để thực hiện việc giao đất, giao rừng cho các hộ gia đình Trong giai đoạn này, xã Hải Vân đã tiến hành giao những diện tích đất trống đồi trọc, diện

Trang 39

tích rừng trồng, rừng tự nhiên do xã quản lý và cả những diện tích của các hộ dân lấn chiếm đất của Ban QLRPH Như Xuân

Quyền lợi và trách nhiệm của người nhận đất ở giai đoạn này được quy định như sau:

- Về quyền lợi: Đối với rừng tự nhiên người dân được sử dụng 100% lâm sản phụ, được phép khai thác chọn khi rừng đến tuổi khai thác và được sử dụng

từ 10 - 20% sản phẩm chính, số còn lại bán cho Nhà nước theo giá thoả thuận; đối với rừng trồng được giao, khi khai thác được sử dụng 20- 30% sản phẩm chính, số còn lại bán cho Nhà nước theo giá thoả thuận

- Về nghĩa vụ: Người được giao đất lâm nghiệp phải quản lý, bảo vệ đất lâm nghiệp được giao, phải bảo toàn được vốn rừng được giao

Việc giao đất lâm nghiệp trên địa bàn đã hoàn thành trong các năm

1990-1992, trước khi Nhà nước ban hành Nghị định số 02/CP Tuy nhiên, kết quả giao đất trong giai đoạn này mới chỉ là cơ sở để tiếp tục hoàn thiện hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sau này Trong giai đoạn này, người dân sau khi nhận đất mới chỉ thực hiện việc quản lý bảo vệ, chưa đầu tư cho các hoạt động sản xuất trên đất lâm nghiệp được giao

Giai đoạn từ 1993 đến nay:

Đây là giai đoạn thực hiện công tác giao khoán đất lâm nghiệp và tiến hành hợp pháp hoá các kết quả giao đất lâm nghiệp đã tiến hành trước đây

- Quá trình thực hiện giao khoán đất lâm nghiệp

Sau khi Chính phủ ban hành Quyết định số 327/CT ngày 15/5/1992 về một

số chủ trương chính sách sử dụng đất trống, đồi núi trọc, rừng bãi bồi ven biển

và mặt nước Ban quản lý rừng phòng hộ Như Xuân đã tiến hành xây dựng Dự

án 327 trong đó bao gồm cả xã Hải Vân, quy hoạch đất lâm nghiệp trên địa bàn toàn xã và phân chia thành 2 loại: rừng phòng hộ và rừng sản xuất Trên cơ sở

Trang 40

quy hoạch đất lâm nghiệp, Ban quản lý rừng phòng hộ Như Xuân tiến hành giao khoán cho các hộ gia đình và cá nhân trong xã

Trên cơ sở đơn xin nhận khoán và biên bản giao, nhận khoán đất lâm nghiệp, Ban quản lý rừng phòng hộ Như Xuân tiến hành làm hợp đồng khoán với chủ hộ, hợp đồng thể hiện các nội dung kinh tế, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên và những cam kết để đảm bảo thực hiện đúng hợp đồng

- Hợp pháp hoá kết quả giao, khoán theo nghị định 01/CP và 02/CP

Sau khi có Nghị định số 02/CP năm 1994, UBND huyện Như Xuân (từ năm 1997 huyện Như Xuân được tách thành hai huyện Như Xuân và huyện Như Thanh) có văn bản chỉ thị cho Hạt Kiểm lâm, phòng Địa chính huyện hướng dẫn

xã Hải Vân hoàn chỉnh hồ sơ giao đất lâm nghiệp trình UBND ra Quyết định cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất UBND xã đã tiến hành rà soát lại hồ sơ giao đất lâm nghiệp trước đây Kết quả là 100% hồ sơ đều không đầy đủ so với yêu cầu, không có sơ đồ giao, các hộ nhận đất lâm nghiệp có rừng đều không có khế ước giao đất lâm nghiệp Cho đến nay mới chỉ có 65% số hộ được giao đất lâm nghiệp được xã hoàn chỉnh hồ sơ và đã được cấp giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất Còn lại 35% số hộ có hồ sơ chưa hoàn thiện, đây là một tồn tại chưa thể khắc phục được trên địa bàn

Sau khi có nghị định số 01/CP, Ban quản lý rừng phòng hộ Như Xuân đã

rà soát lại quy trình giao khoán và hồ sơ giao khoán trước đây và thấy rằng, mặc

dù quá trình giao khoán đất lâm nghiệp trên địa bàn xã Hải Vân trong thời kỳ này được thực hiện trước khi Nhà nước ban hành Nghị định 01/CP của Chính phủ nhưng trình tự và thủ tục tiến hành không có sự sai khác so với những quy định của nghị định số 01/CP, do đó kết quả giao khoán đất lâm nghiệp vẫn được chấp nhận và duy trì cho tới nay

Kết quả giao, khoán đất lâm nghiệp cho các hộ gia đình trên địa bàn xã được tổng hợp trong bảng 4.1

Ngày đăng: 31/08/2017, 10:34

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ khoa học công nghệ và môi trường (1995), Tổng luận khoa học kinh tế kỹ thuật ”Trung quốc và con người” , số 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng luận khoa học kinh tế kỹ thuật "”Trung quốc và con người”
Tác giả: Bộ khoa học công nghệ và môi trường
Năm: 1995
2. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (1997), Đề án đẩy mạnh trồng rừng phủ xanh đất trống đồi núi trọc, tiến tới đóng cửa rừng tự nhiên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề án đẩy mạnh trồng rừng phủ xanh đất trống đồi núi trọc, tiến tới đóng cửa rừng tự nhiên
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Năm: 1997
3. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (1998), Quy hoạch sử dụng đất và giao đất lâm nghiệp, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Quy hoạch sử dụng đất và giao đất lâm nghiệp
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1998
4. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (1998), Chủ rừng và lợi ích của chủ rừng trong kinh doanh rừng trồng, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Chủ rừng và lợi ích của chủ rừng trong kinh doanh rừng trồng
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1998
11. Cục Phát triển lâm nghiệp (1999), Chính sách và thực tiễn phục hồi rừng ở Việt Nam, Hội thảo quốc gia tại Hoà Bình Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Chính sách và thực tiễn phục hồi rừng ở Việt Nam
Tác giả: Cục Phát triển lâm nghiệp
Năm: 1999
13. Cục Phát triển lâm nghiệp (2003), Giao rừng tự nhiên và quản lý rừng cộng đồng. Hội thảo Quốc gia tại Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giao rừng tự nhiên và quản lý rừng cộng đồng
Tác giả: Cục Phát triển lâm nghiệp
Năm: 2003
17. Triệu Văn Lực (1999), Đánh giá tác động của giao đất lâm nghiệp đến phát triển kinh tế xã hội và bảo vệ môi trường tại xã Bằng Lẵng huyện Chợ Đồn tỉnh Bắc Kạn.Luận văn thạc sỹ, Trường Đại học Lâm nghiệp, Hà Tây Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá tác động của giao đất lâm nghiệp đến phát triển kinh tế xã hội và bảo vệ môi trường tại xã Bằng Lẵng huyện Chợ Đồn tỉnh Bắc Kạn
Tác giả: Triệu Văn Lực
Năm: 1999
18. Nguyễn Thị Lai(2001), Báo cáo đề tài “Đánh giá hiệu quả sử dụng đất lâm nghiệp Nhà nước giao cho hộ gia đình”, Viện khoa học lâm nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Báo cáo đề tài “Đánh giá hiệu quả sử dụng đất lâm nghiệp Nhà nước giao cho hộ gia đình”
Tác giả: Nguyễn Thị Lai
Năm: 2001
22. Quốc hội nước cộng hòa XHCN Việt Nam (1993) Luật đất đai 1993 23. Quốc hội nước cộng hòa XHCN Việt Nam (2003) Luật đất đai 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật đất đai 1993 "23. Quốc hội nước cộng hòa XHCN Việt Nam (2003)
25. Trường Đại học Lâm nghiệp (1994), Kết quả nghiên cứu khoa học 1990-1994, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả nghiên cứu khoa học 1990-1994
Tác giả: Trường Đại học Lâm nghiệp
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1994
26. Trung tâm Tài nguyên môi trường (1997), Các xu hướng phát triển ở vùng núi phía bắc Việt Nam, Đại học Quốc gia, Nxb . Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Các xu hướng phát triển ở vùng núi phía bắc Việt Nam
Tác giả: Trung tâm Tài nguyên môi trường
Nhà XB: Nxb . Chính trị Quốc gia
Năm: 1997
27. Nguyễn Đình Tư và Nguyễn Văn Tuấn (1999), Báo cáo đề tài “Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn góp phần xây dựng chính sách quản lý và khuyến khích phát triển rừng của các hộ nông dân”, Trường Đại học Lâm nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo đề tài “Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn góp phần xây dựng chính sách quản lý và khuyến khích phát triển rừng của các hộ nông dân”
Tác giả: Nguyễn Đình Tư và Nguyễn Văn Tuấn
Năm: 1999
28. Tổng cục Địa chính (2000), Kết quả kiểm kê đất đai toàn quốc, Nxb. Bản đồ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Kết quả kiểm kê đất đai toàn quốc
Tác giả: Tổng cục Địa chính
Nhà XB: Nxb. Bản đồ
Năm: 2000
29. Phạm Quốc Tuấn (2000), Đánh giá hiệu quả sử dụng đất hộ gia đình sau giao đất giao rừng huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La. Luận văn thạc sỹ, Trường Đại học Lâm nghiệp, Hà Tây Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá hiệu quả sử dụng đất hộ gia đình sau giao đất giao rừng huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La
Tác giả: Phạm Quốc Tuấn
Năm: 2000
5. Bộ NN&PTNT - Tổng cục Địa chính (2000), Thông tư liên tịch số 62/200/TTLT/BNN-TCĐC về hướng dẫn việc giao đất, cho thuê đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp Khác
6. Chính Phủ (1994), Nghị định số 02/CP về việc giao đất lâm nghiệp cho tổ chức, gia đình và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích lâm nghiệp Khác
7. Chính phủ (1995), Nghị định số 01/CP về việc giao khoán đất sử dụng vào mục đích nông lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản trong các doanh nghiệp Nhà nước Khác
8. Chính phủ (1999), Nghị định số 163/CP về giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhận sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích lâm nghiệp Khác
9. Chính phủ (2001), Quyết định số 178/QĐ - TTg về quyền hưởng lợi, nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân được giao, được thuê, nhận khoán rừng và đất lâm nghiệp Khác
10. Cục Kiểm lâm (1996), Báo cáo sơ kết việc thực hiện Nghị định 02/CP về giao đất lâm nghiệp Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w