1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu đề xuất giải pháp giảm nghèo dựa vào rừng tại xã bộc bố, huyện pác nặm, tỉnh bắc kạn

95 213 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 1,38 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đói nghèo có thể được giải quyết bằng rất nhiều các giải pháp khác nhau, trong đó đối với những người nghèo mà đời sống của họ gắn liền với rừng thì đói nghèo thực sự có thể khắc phục đư

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP

TRỊNH HẢI VÂN

NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP GIẢM NGHÈO

DỰA VÀO RỪNG TẠI XÃ BỘC BỐ, HUYỆN PÁC NẶM,

TỈNH BẮC KẠN

Chuyên ngành: LÂM HỌC

Mã số: 60.62.60

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS NGUYỄN BÁ NGÃI

Hà Nội, năm 2010

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Luận văn này được thực hiện và hoàn thành theo chương trình đào tạo Thạc

sỹ khoa học Lâm nghiệp của Trường Đại học Lâm nghiệp, Xuân Mai, Chương Mỹ,

Hà Nội

Trước tiên tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS-TS Nguyễn Bá Ngãi – người đã bồi dưỡng những kiến thức quý báu và đã dành những tình cảm tốt đẹp cho tôi từ khi hình thành, phát triển ý tưởng nghiên cứu đến khi xây dựng đề cương,

tổ chức triển khai và hoàn thiện luận văn

Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy cô giáo trong bộ môn Nông lâm kết hợp, khoa Lâm học, Ban chủ nhiệm Khoa Đào tạo Sau Đại học đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn thạc sỹ

Tôi xin chân thành cảm ơn Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Tỉnh Bắc Kạn, UBND huyện Pác Nặm, UBND xã Bộc Bố và người dân địa phương đã tạo điều kiện cung cấp thông tin và số liệu giúp đỡ tôi hoàn thiện luận văn này

Tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè đồng nghiệp đã động viên, chia sẻ và giúp

đỡ tôi trong quá trình hoàn thành luận văn

Mặc dù đã làm việc nghiêm túc với tất cả cố gắng, nỗ lực của bản thân, nhưng do trình độ và kinh nghiệm còn hạn chế nên luận văn này không tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của các Thầy, Cô giáo, các nhà khoa học, các bạn bè đồng nghiệp và xin chân thành tiếp thu các ý kiến đóng góp đó

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Tác giả

Trang 4

1.2.2 Các chương trình, dự án liên quan đến giảm nghèo và rừng 6

CHƯƠNG 2: MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, GIỚI HẠN, NỘI DUNG VÀ

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

13

Trang 5

CHƯƠNG 3: ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI KHU VỰC

3.2.3 Hiện trạng sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và chăn nuôi 31

4.1.2.3 Ảnh hưởng của các yếu tố sản xuất đến thu nhập chung của HGĐ 50

4.2.1 Tình hình quản lý và sử dụng tài nguyên rừng tại xã 52

4.2.3 Tình hình quản lý sử dụng tài nguyên rừng của các hộ nghèo 57

Trang 6

4.3 Đề xuất các giải pháp giảm nghèo dựa vào rừng 66

4.3.3.7 Tuyên truyền, nâng cao ý thức của người dân trong công tác trồng

Trang 7

NN&PTNT : Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

PRA : Đánh giá nông thôn có sự tham gia

SPSS : Phần mềm xử lý thống kê dùng trong các ngành khoa học

xã hội (Statistical Package for Social Sciences)

UBND : Uỷ ban nhân dân

XĐGN : Xóa đói giảm nghèo

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Số hộ theo thành phần dân tộc của xã Bộc Bố 21

Bảng 2.2 Dung lượng mẫu điều tra theo các thành phần dân tộc tại xã Bộc Bố 22

Bảng 2.3 Dung lượng mẫu điều tra tại các thôn nghiên cứu điểm ……… 22 Bảng 3.1 Dân số các thôn của xã Bộc Bố ……… 29 Bảng 3.2 Hiện trạng sử dụng đất đai của xã Bộc Bố ……… 30

Bảng 3.3 Diện tích, năng suất, sản lượng của một số loại cây trồng nông

nghiệp chính tại xã Bộc Bố ………

31

Bảng 3.4 Thống kê số lượng vật nuôi của xã Bộc Bố ……… 32

Bảng 4.1 Thống kê số hộ nghèo của xã Bộc Bố qua 4 năm ……… 34

Bảng 4.2 Các đặc điểm KT-XH của hộ nghèo tại khu vực nghiên cứu ……… 37 Bảng 4.3 Cơ cấu đất đai trung bình của hộ nghèo theo nhóm dân tộc tại khu

vực nghiên cứu ………

40

Bảng 4.4 Nguyên nhân nghèo của các hộ gia đình theo dân tộc ……… 42 Bảng 4.5 Cơ cấu tổng thu nhập của các hộ nghèo tại khu vực nghiên cứu …… 44 Bảng 4.6 Cơ cấu tổng chi phí của các hộ nghèo tại khu vực nghiên cứu …… 47 Bảng 4.7 Cân đối thu nhập và chi phí của các hộ nghèo tại khu vực nghiên cứu … 48 Bảng 4.8 Thu nhập khẩu/tháng của các hộ nghèo tại khu vực nghiên cứu ………… 49

Bảng 4.9 Ước lượng độ co giãn của mô hình đối với thu nhập chung của HGĐ … 50 Bảng 4.10 Hiện trạng đất rừng của xã Bộc Bố ……… 53

Bảng 4.11 Kết quả trồng rừng theo dự án 5 triệu ha rừng tại xã Bộc Bố ……… 55

Bảng 4.12 Thống kê số lượng hộ, diện tích đất lâm nghiệp đã được giao ở xã 56

Trang 9

Bảng 4.13 Thống kê số lượng hộ, diện tích đất lâm nghiệp đã được giao của

các hộ nghèo tại khu vực nghiên cứu ………

58

Bảng 4.14 Thống kê số lượng hộ, diện tích sản xuất lương thực trên đất rừng 60

Bảng 4.15 Thống kê mức độ khai thác gỗ của các hộ điều tra ……… 61

Bảng 4.16 Mức độ khai thác gỗ củi của người dân địa phương ……… 62

Bảng 4.17 Mức độ khai thác rau rừng phục vụ chăn nuôi gia súc ……… 63

Bảng 4.18 Mức độ khai thác và nhu cầu sử dụng LSNG tại khu vực nghiên cứu …… 64

Bảng 4.19 Mức độ và hình thức chăn thả gia súc trên rừng ……… 66

Bảng 4.20 Mô hình tứ diện về phát triển kinh tế hộ với quản lý tài nguyên

rừng tại khu vực nghiên cứu ………

71

Bảng 4.21 Diện tích đất lâm nghiệp trung bình/hộ tại xã Bộc Bố ……… 72

Bảng 4.22 Thống kê diện tích đất lâm nghiệp trung bình của hộ nghèo hiện

đang quản lý theo thành phần dân tộc tại khu vực nghiên cứu ……

73

Bảng 4.23 Kế hoạch giao đất lâm nghiệp cho hộ nghèo theo thành phần dân

tộc tại khu vực nghiên cứu ………

74

Bảng 4.24 Kế hoạch sử dụng đất lâm nghiệp của hộ nghèo theo thành phần

dân tộc tại khu vực nghiên cứu ………

76

Bảng 4.25 Tổng hợp kinh phí hỗ trợ về lĩnh vực sản xuất lâm nghiệp của hộ

nghèo theo thành phần dân tộc tại khu vực nghiên cứu theo Chương trình 30a………

82

Trang 10

DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1 Mô hình tứ diện về phát triển kinh tế hộ và quản lý tài nguyên

rừng………

18 Hình 3.1 Cơ cấu đất đai của xã Bộc Bố……… 30

Hình 4.1 Nhân khẩu và tài sản của các hộ nghèo theo nhóm dân tộc ……… 38

Hình 4.2 Cơ cấu đất đai trung bình của các hộ gia đình ……… 41

Hình 4.3 Nguyên nhân nghèo của các hộ nghèo theo dân tộc ……… 42

Hình 4.4 Cơ cấu thu nhập hộ nghèo/năm của các dân tộc ……… 44

Hình 4.5 Cơ cấu thu nhập của các hộ nghèo theo từng dân tộc ……… 45

Hình 4.6 Cơ cấu chi phí của các hộ nghèo theo dân tộc ……… 48

Hình 4.7 Dòng thu chi của các nhóm dân tộc ……… 49

Hình 4.8 Thu nhập khẩu/tháng của các hộ nghèo ……… 50

Hình 4.9 Tỷ lệ % của thu nhập từ canh tác và khai thác các sản phẩm rừng so với tổng thu /hộ ………

52 Hình 4.10 Số hộ tham gia khai thác LSNG theo thành phần dân tộc ………… 64

Trang 11

ĐẶT VẤN ĐỀ

Đói nghèo đang là vấn đề xã hội bức xúc và nóng bỏng của tất cả các nước trên thế giới, là vấn đề được các chính phủ, các tổ chức quốc tế quan tâm để tìm giải pháp hạn chế và tiến tới xóa bỏ nạn đói nghèo trên phạm vi toàn thế giới

Rừng và đất rừng là tài nguyên thiên nhiên quý giá mà thiên nhiên ban tặng cho con người TNR không chỉ đáp ứng nhu cầu gỗ, củi đốt cho nhu cầu hàng ngày

mà còn đóng vai trò quan trọng trong công việc bảo vệ môi trường và sự phát triển bền vững của đất nước, tạo công ăn việc làm và thu nhập cho hàng triệu người đang sinh sống dựa vào rừng mà phần lớn trong số họ là người nghèo và dân tộc thiểu số

Từ xa xưa đến nay, con người và rừng đã tồn tại như những bộ phận không thể tách rời của hệ sinh thái nhân văn Mối quan hệ đó đặc biệt có ý nghĩa đối với các HGĐ sống trong rừng và gần rừng Hiện nay ở Việt Nam số lượng người sống phụ thuộc vào rừng là rất lớn, dao động từ 15 đến 25 triệu người [31]

Đói nghèo có thể được giải quyết bằng rất nhiều các giải pháp khác nhau, trong đó đối với những người nghèo mà đời sống của họ gắn liền với rừng thì đói nghèo thực sự có thể khắc phục được bằng chính những giải pháp giảm nghèo dựa vào rừng [65]

Ở Việt Nam trong những năm qua có rất nhiều chương trình, dự án liên quan đến giảm nghèo như chương trình 134 về hỗ trợ tiếp cận với đất đai, nhà ở và nước sạch; chương trình 135 (chương trình kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn vùng miền núi và vùng đồng bào dân tộc thiểu số); chương trình 167 về hỗ trợ nhà ở… Gần đây nhất Chính phủ đã phê duyệt Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP về Chương trình

hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 62 huyện nghèo trên cả nước [12] Chương trình này thực sự là mốc son quan trọng trong công cuộc XĐGN ở nước ta Trong đó các giải pháp hỗ trợ giảm nghèo được đề cập đến nhiều chính là các giải pháp giảm nghèo dựa vào rừng

Pác Nặm là một huyện miền núi phía bắc của tỉnh Bắc Kạn, được tách ra từ huyện Ba Bể theo nghị định số 56/2003/NĐ-CP ngày 28/5/2003 của Chính phủ, hiện nay có tỷ lệ hộ nghèo rất cao là 56,15%

Bộc Bố là một trong những xã nghèo của huyện Pác Nặm, diện tích đất lâm nghiệp là 4.739,72 ha, chiếm 88,92% tổng diện tích đất tự nhiên toàn xã trong khi

Trang 12

đó tỷ lệ hộ nghèo đói là 34,5% Thành phần dân tộc rất đa dạng gồm có: dân tộc Tày, H’Mông, Sán Chí, Dao, Nùng, Kinh… Đời sống của người dân ở trong xã Bộc

Bố từ bao đời nay đều sống phụ thuộc vào rừng Rừng thực sự đem lại nhiều giá trị kinh tế cho họ, từ những sản phẩm phục vụ đời sống hàng ngày như: gỗ, gỗ củi, các loại LSNG đến việc tạo ra thu nhập bằng tiền từ các hoạt động như canh tác nương rẫy, trồng rừng, chăm sóc bảo vệ rừng…

Vấn đề đặt ra là tại sao người dân sống ở những nơi giàu tài nguyên rừng, đời sống của họ hoàn toàn phụ thuộc vào rừng lại không thể vươn lên thoát khỏi đói nghèo? Đây thực sự là một trăn trở lớn, một vấn đề cấp bách cần phải được giải quyết

Để trả lời câu hỏi trên, đề tài “Nghiên cứu đề xuất giải pháp giảm nghèo dựa vào rừng tại xã Bộc Bố, huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn” được thực hiện là có

cơ sở và hết sức cần thiết

Trang 13

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Ở ngoài nước

Con người đã có một quá trình lịch sử lâu dài gắn liền và có quan hệ gần gũi với rừng Mối quan hệ giữa con người và rừng luôn được xem là những vấn đề hiển nhiên, mang tính tất yếu Vì vậy các công trình nghiên cứu tác động qua lại giữa con người và TNR chưa nhiều Trên thế giới, một số tác giả trong các công trình nghiên cứu của mình ở một góc độ nào đó cũng đã đề cập đến vấn đề này như sau: Tại Nê pan, Apple Gate, G.B và Gilmour, D.A.1987 trong khi nghiên cứu kinh nghiệm tác nghiệm trong việc quản lý phát triển rừng ở vùng đồi Nê Pan [63] đã trình bày mối quan hệ giữa rừng và các hệ canh tác hỗn hợp ở miền trung du miền núi Các tác giả cho rằng, các hệ canh tác phụ thuộc nhiều vào rừng đang bị suy thoái nhanh Sự bền vững lâu dài của các hệ canh tác dưới dạng phụ thuộc vào việc gia tăng mạnh mẽ về diện tích dưới bất cứ các dạng che phủ thực vật nào

Bink Man W (1988) trong nghiên cứu của mình thực hiện tại làng Ban Pong, tỉnh S Risaket, Thái Lan [63] chỉ ra rằng các tầng lớp nghèo phải phụ thuộc vào rừng để chăn thả gia súc và thu hái tài nguyên lâm sản như: củi đun và hoa quả trong rừng Tuy nhiên đây là một minh hoạ rất cần thiết của người dân địa phương tham gia vào việc lập kế hoạch và thiết kế các dự án phát triển (FAO, 1996)

Boom B (1989) trình bày kết quả nghiên cứu thực vật học của người In Điêng Chacobo tại vùng Amazon của Bolivia [63] chỉ ra rằng trên một diện tích nghiên cứu 1 ha có tới 825 loài cây và 95% cá thể được người Chacago sử dụng Các loài cây được dùng để lấy lương thực thực phẩm, nhiên liệu, nguyên liệu xây dựng, làm

đồ thủ công và các mục đích thương mại và y dược

Colfer C.J.P (1980) trong tác phẩm “Thay đổi và NLKH bản địa” tại Đông Kalimamtan Qua mô tả việc đi thu hái lâm sản phụ, tác giả đã nhận định rằng những sản vật đó được coi như là những mặt hàng không phải trả tiền, ai cũng có thể thu lượm được Thế nhưng những quyền đó không được quy định cụ thể, nó đã trở thành một thông lệ, trong đó có cả việc dùng gỗ làm nhà, có lúc dùng để biện hộ cho việc thu hoạch gỗ và bán (dẫn theo Ngô Ngọc Tuyên, 2007) [44, tr 8]

Năm 1986, trong tác phẩm “Lâm nghiệp xã hội và hành động của cộng đồng”

Trang 14

các tác giả Dorji, D.C Chavada, B Thinley và Wangchuks cho rằng: Rừng chủ yếu

là nguồn cung cấp gỗ xây dựng và làm hàng rào, cung cấp củi, nơi chăn thả và chuồng trại cho gia súc Chúng cũng cung cấp một phần lớn những yêu cầu về thức

ăn gia súc, lợi tức, công ăn việc làm và đóng vai trò quan trọng trong việc bảo

vệ đất và nước trên vùng đất dốc (dẫn theo Trần Ngọc Thể, 2009) [29, tr 4]

Theo Gadgil và VP Vartok năm 1976 trong tác phẩm: “Những lùm cây thiêng miền Tây dãy Ghats ở Ấn Độ” cho rằng: Người dân địa phương ở Ấn Độ đã bảo vệ được các đám rừng từ dưới 0,5 ha đến 10 ha dưới dạng lùm cây thiêng để thờ các vị thần của lùm cây Việc thờ cúng tại những lùm cây thiêng đó được hình thành từ các

xã hội chuyên về săn bắn và hái lượm Việc lấy ra bất cứ sản phẩm nào đều bị cấm kỵ Với nạn phá rừng ngày càng tăng, những lùm cây đó đã trở thành những di sản còn lại của rừng tự nhiên và do đó đã trở nên quan trọng trong việc thu lượm một số sản phẩm như: Cây thuốc, lá rụng, gỗ khô…Việc khai thác gỗ đã bị cấm nhưng đôi khi vẫn xảy

ra tình trạng khai thác gỗ trộm (FAO, 1996)

Ở Ấn Độ, diện tích đất lâm nghiệp đứng thứ hai sau diện tích đất nông nghiệp, và là nơi ước tính có 275 triệu người dân địa phương ở các vùng nông thôn phụ thuộc vào rừng (ít nhất là một phần sinh kế của họ) Một nghiên cứu về lâm nghiệp cộng đồng bên ngoài khu rừng đặc dụng đã chỉ ra rằng các khu rừng không chỉ cung cấp tiềm năng to lớn để xoá đói giảm nghèo và tăng trưởng kinh tế nông thôn ở Ấn Độ mà vẫn hỗ trợ tốt mục tiêu quan trọng là bảo tồn (dẫn theo Trần Ngọc Thể, 2009) [29, tr 5]

Theo Peluso (1986) tại Indonexia đã công bố một bản tóm tắt các kết quả của việc nghiên cứu về LNXH tại 12 điểm của dự án ở Java và Sulawesi [63] Các ảnh hưởng qua lại giữa đất và các loại rừng của nhà nước như: rừng sản xuất, rừng trồng, rừng tự nhiên đều đã được nghiên cứu Sản phẩm thường là những mặt hàng hoặc sinh lời được và rất khó quản lý đối với các cơ quan lâm nghiệp nhưng có giá trị to lớn đối với nhân dân địa phương

Chuyên đề IDS nghiên cứu về nông dân và nông nghiệp tại Turkana, Kenya của Ahed, A.A 1983 đã nhận định rằng cây là tối cần cho việc cung cấp củi, gỗ xây dựng, thức ăn gia súc, lương thực và thuốc men [63, tr.127]

Argaval, B.1986 trong nghiên cứu về nhiên liệu củi, thế giới thứ ba đã đề cập đến vấn đề giảm sút lượng củi cung cấp một bộ phận lớn trên thế giới các nước phát

Trang 15

triển hiện phụ thuộc vào củi để có nguồn năng lượng phục vụ gia đình, đang đương đầu với một cơn khủng hoảng Tác giả đã lấy dẫn chứng từ Châu Á, Châu Phi, và

Mỹ la tinh để phân tích tầm cỡ của cuộc khủng hoảng, hậu quả của nó và đề xuất các biện pháp giảm nhẹ [63, tr.55]

Con Klir, H.C (1980) trong tập ATLAT [63], cung cấp một mô tả chi tiết các mối tương quan giữa rừng, lương thực và nước, giữa những người xây dựng ruộng bậc thang làm lúa nước với những người canh tác nương rẫy

Hầu hết các tài liệu nghiên cứu mới này đều nhấn mạnh sự cần thiết của các nghiên cứu bổ sung vì còn có rất nhiều câu hỏi chưa có lời giải đáp (Angelsen và Wunder 2003:41) Quan điểm của các nhà nghiên cứu bất đồng với nhau về viê ̣c nên lạc quan hay bi quan về khả năng giảm nghèo dựa vào rừng Scherr et al (2002) có thể được xem như theo khuynh hướng lạc quan, trong khi Wunder (2001) thì tỏ rõ quan điểm bi quan (dẫn theo Đinh Đức Thuận, 2005) [31, tr 28]

Như vậy trên thế giới mới chỉ dừng lại ở việc phân tích vai trò của rừng, sự phụ thuộc của con người vào tài nguyên rừng Còn rất nhiều quan điểm khác nhau

về khả năng giảm nghèo dựa vào rừng Cho đến nay vẫn chưa có nghiên cứu cụ thể nào về các giải pháp giảm nghèo dựa vào rừng

1.2 Ở trong nước

1.2.1 Thực trạng nghèo, giảm nghèo ở Việt Nam

Việt Nam được xếp vào nhóm các nước nghèo của thế giới Phải thừa nhận rằng không có một định nghĩa duy nhất nào về nghèo đói, và do vậy cũng không có một phương pháp hoàn hảo nào đo lường được sự thay đổi của nghèo đói theo thời gian Nghèo đói là tình trạng kiệt quệ bao gồm nhiều khía cạnh, từ thu nhập kém tới tình trạng dễ tổn thương khi phải đối mặt với những tai tương bất ngờ hoặc ít có khả năng tham gia vào quá trình ra quyết định tập thể Tuy nhiên phương pháp dựa trên chi tiêu để đo mức độ nghèo đã tạo cơ sở ban đầu hợp lý, cho phép so sánh giữa các vùng và theo thời gian Theo phương pháp này, và sử dụng ngưỡng nghèo được tính toán theo chuẩn quốc tế, thành công của Việt Nam trong xóa đói giảm nghèo thực

sự đáng kể Mới chỉ năm 1993, vẫn còn 58% dân số sống ở mức nghèo, trong khi đó

tỷ lệ này của năm 1998 là 37% và năm 2002 là 29% Như vậy, tỉ lệ nghèo đói đã giảm một nửa trong vòng chưa đầy một thập kỷ Việt Nam cũng đạt được tiến bộ đáng kể khi xem xét các khía cạnh khác của nghèo đói bên cạnh yếu tố chi tiêu [2]

Trang 16

Tuy nhiên trong tương lai, giảm nghèo sẽ gặp phải những thách thức lớn hơn nhiều so với trước đây, bởi vì (1) so với những năm 1990, hiện nay chỉ có một

số ít người nằm ở ngay ranh giới nghèo và khá; (2) tốc độ tăng trưởng kinh tế thấp hơn so với cuối những năm 1990; (3) các nỗ lực hỗ trợ cần phải tập trung vào những người nghèo nhất trong số người nghèo; (4) Người nghèo chủ yếu tập trung

ở những vùng xa xôi hẻo lánh với điều kiện kiếm sống khó khăn và (5) công tác xóa đói giảm nghèo ở các vùng sâu vùng xa sẽ rất tốn kém Cư dân ở các vùng sâu vùng xa này chủ yếu là những người dân tộc thiểu số với tỷ lệ nghèo đói cao hơn nhiều so với mức trung bình quốc gia Các vùng có tỷ lệ nghèo đói cao nhất tập trung ở vùng Miền núi phía Bắc, Cao nguyên Trung Bộ và Duyên hải Bắc Trung

Bộ (dẫn theo William Sunderlin và Huỳnh Thu Ba, 2005) [65, tr 3]

Theo số liệu thống kê của Bộ lao động - Thương binh và Xã hội đến cuối năm 2006, cả nước có 61 huyện (gồm 797 xã và thị trấn) thuộc 20 tỉnh có tỷ lệ hộ nghèo trên 50% [12]

1.2.2 Các chương trình, dự án liên quan đến giảm nghèo và rừng

Ngày 21/5/2002, Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam phê duyệt “Chiến lược tăng trưởng và giảm nghèo toàn diện” trong đó xóa đói giảm nghèo được coi là một thành tố trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội 10 năm của toàn bộ các ngành, tỉnh thành của đất nước (2001-2010)

Trong nhiều năm qua ở nước ta đã thực hiện nhiều chương trình liên quan đến giảm nghèo, đó là: Chương trình 134 (quyết định số 134/2004/QĐ-TTg ngày 20/7/2004) về hỗ trợ tiếp cận với đất đai, nhà ở và nước sạch; Chương trình 135 (chương trình kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn vùng miền núi và vùng đồng bào dân tộc thiểu số); Chương trình định canh định cư và vùng Kinh tế mới;

Trong giai đoạn hiện nay, các chính sách và dự án giảm nghèo đều chịu sự chi phối cả về mặt tài chính và trong quá trình thực hiện của ba dự án lớn và chương trình mục tiêu quốc gia, đó là: (1) Chương trình phát triển kinh tế xã hội cho các xã đặc biệt khó khăn tại các vùng dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2006-2010 (chương trình 135-giai đoạn II) (QĐ số 07/2006/QĐ-TT ngày 10/1/2006), (2) Chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo giai đoạn 2006-2010 (CTMTQG-GN) (Quyết định

số 20/2007/QĐ-TTg ngày 5/2/2007), (3) Nghị quyết 30a về giảm nghèo nhanh và bền vững cho 62 huyện nghèo (Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP ngày 27/12/2008)

Trang 17

Nhiều chương trình mục tiêu quốc gia lớn khác cũng hướng vào giảm nghèo mặc dù thông qua cách tiếp cận tới từng lĩnh vực, ví dụ như Chương trình mục tiêu quốc gia về nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn (NSVSMTNT) hay Chương trình mục tiêu quốc gia về Giáo dục cho mọi người (EFA) và một số chương trình định hướng vào từng vùng Ngoài ra còn có rất nhiều các chương trình và chính sách cho từng vùng hoặc cho từng ngành với quy mô nhỏ như các chương trình và chính sách cho giáo dục, trợ giá nhiên liệu hoặc hỗ trợ cho các nhóm nhỏ dân tộc thiểu số và các chương trình hỗ trợ phát triển vùng [14]

Chương trình giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 62 huyện nghèo (Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP) là một chương trình đánh dấu mốc quan trọng trong công cuộc XĐGN ở nước ta Chương trình này áp dụng hỗ trợ cho các huyện có tỷ lệ nghèo trên 50% Mục tiêu của chương trình này là tạo sự chuyển biến nhanh hơn về đời sống vật chất, tinh thần của người nghèo, bảo đảm đến 2020 ngang bằng các huyện khác trong khu vực Hỗ trợ phát triển sản xuất nông lâm nghiệp bền vững, theo hướng sản xuất hàng hóa, khai thác tốt các thế mạnh của địa phương Xây dựng kết cấu hạ tầng KT-XH phù hợp với đặc điểm của từng huyện; chuyển đổi cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất, có hiệu quả theo quy hoạch; xây dựng

xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; dân trí được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ; bảo đảm vững chắc an ninh, quốc phòng [12]

Trong nhiều năm qua ở nước ta đã có rất nhiều chương trình, dự án liên quan đến trồng rừng Các chương trình này cũng góp phần vào công cuộc xóa đói giảm nghèo

Có thể kể đến một số chương trình lớn như sau:

Chương trình trồng rừng phòng hộ 327: được thực hiện theo quyết định số 327-QĐ ngày 15/9/1992 của Thủ tướng Chính phủ với tên gọi “ Một số chủ trương, chính sách sử dụng rừng, đất trống đồi núi trọc, bãi bồi ven biển và mặt nước” Chương trình này gồm 2 dự án: dự án bảo vệ rừng và dự án trồng rừng Các dự án này đã tạo điều kiện hỗ trợ, góp phần tăng thu nhập từ rừng cho các HGĐ [13]

Dự án trồng 5 triệu hecta rừng (dự án 661) được phê duyệt ở kỳ hợp thứ Hai, Quốc hội khoá 10 do thủ tướng chính phủ ký trong quyết định số 661/QD-TTg (1998) Một trong 3 mục tiêu của dự án là “sử dụng có hiệu quả đất trống đồi trọc, tạo việc làm cho công nhân để cố gắng xoá đói, giảm nghèo ổn định cuộc sống, sản xuất

và nâng cao thu nhập cho người dân địa phương ở vùng nông thôn miền núi” Bên

Trang 18

cạnh những thành tựu đã đạt được về bảo vệ và phát triển rừng, kết quả của mục tiêu thứ hai là xoá đói, giảm nghèo còn nhỏ so với các chương trình khác Các chương trình như Chương trình quốc gia xoá đói giảm nghèo và tạo việc làm, chương trình phát triển kinh tế xã hội cho 2.235 xã nghèo (chương trình 135) với sự điều phối của

Bộ NN&PTNT có các kết quả tốt hơn về mặt này (Nguyễn Hải Nam 2001) Hiện cũng chưa rõ ràng là giảm nghèo dựa vào rừng và trồng rừng đại trà đã hay sẽ có mối liên hệ tới mức độ nào Một vấn đề lớn còn chưa biết là tiềm năng sử dụng rừng phục

vụ mục đích giảm nghèo và mối liên hệ giữa xoá nghèo với trồng rừng trong chương trình 5 triệu hecta rừng (dẫn theo Đinh Đức Thuận, 2005) [31, tr 36]

Các dự án do tổ chức quốc tế tài trợ phải kể đến như: chương trình PAM, các

dự án hỗ trợ kỹ thuật của UNDP, các dự án do Cộng hòa Liên bang Đức tài trợ Nhìn chung các chương trình này đã đóng góp tích cực vào chương trình phủ xanh, cải thiện môi trường và phòng hộ sản xuất nông nghiệp của chính phủ Việt Nam; Tăng thêm gỗ củi, đáp ứng được một phần nhu cầu của nông dân vùng dự án, hạn chế được sức ép vào các khu rừng tự nhiên, góp phần bảo vệ rừng; Giải quyết việc làm cho hàng triệu lao động trong khu vực dự án, tăng thu nhập nhất là lương thực tại các khu vực thường xuyên thiếu hụt lương thực; Góp phần xoá đói giảm nghèo,

hỗ trợ có hiệu quả chính sách của nhà nước giao đất cho nông dân quản lý sử dụng lâu dài [13]

1.1.3 Các nghiên cứu về giảm nghèo dựa vào rừng

Trong những năm gần đây đã có một số chương trình và dự án của các tổ chức quốc tế và phi chính phủ khởi xướng nhiều hoạt động về lâm nghiệp và phát triển nông thôn nhằm giảm nghèo và cải thiện sinh kế nông thôn ở Việt Nam

IPRI (2003) thực hiện nghiên cứu về giảm nghèo và bất bình đẳng ở Việt Nam GTZ thí điểm phát triển bản đồ rừng và đói nghèo ở một số tỉnh thí điểm VDR (2003) cũng thực hiện đợt “Đánh giá giảm nghèo có sự tham gia” [31, tr 22] Chương trình phát triển Nông thôn và Miền núi (MRDP) của SIDA, dự án Hỗ trợ Phổ cập và Đào tạo (ETSP) của SDC đã phát triển cách lập kế hoạch phát triển thôn (VDP)

và kế hoạch phát triển xã làm công cụ để lập kế hoạch cấp cơ sở, có tác dụng đối với hoạt động phát triển Các dự án của Cộng đồng châu Âu thực hiện các hoạt động quản

lý rừng dựa vào cộng đồng SIDA hỗ trợ dự án giao đất giao rừng ở Tử Nê Các dự án

Trang 19

này áp dụng các phương pháp và cách tiếp cận mới trong giao và quản lý đất và tài nguyên rừng nhằm cải thiện sinh kế của nông dân và các cộng đồng [31]

Theo Sunderlin và Huỳnh Thu Ba (2005) các hộ chỉ được giao đất xấu và đồi trọc trong khi đất tốt được giao cho các lâm trường Quốc doanh Những diện tích này lại được giao lại cho các hộ dưới hình thức hợp đồng khoán Hai phần ba số diện tích giao cho lâm trường quốc doanh lại được giao lại Chỉ có 10% tổng số diện tích rừng được trực tiếp giao cho các hộ Vì các hộ nghèo không có tiền để trồng rừng nên thực tế dường như giao đất và khoán rừng không có vai trò quan trọng đối với sản xuất nông nghiệp hoặc sinh kế nông thôn Mặt khác, giao đất và khoán rừng lại làm khoảng cách giữa người nghèo và người giàu tăng lên Nói cách khác, giao đất không giúp người nghèo thoát ra khỏi cảnh nghèo [31, tr 29]

Swinkels (2004: 9) khẳng định rằng diện tích cây lưu niên của 20% số hộ nghèo nhất chỉ bằng một nửa số diện tích cây lưu niên của 20% số hộ giàu Các nhóm dân tộc thiểu số ở vùng Đông Bắc và trung du Bắc Bộ sở hữu diện tích rừng rộng gấp 10 lần diện tích rừng do người Kinh sở hữu trong khu vực này Tuy nhiên, người nghèo gặp nhiều khó khăn trong việc tạo thu nhập từ sử dụng đất rừng Sinh

kế của nhiều trong số hộ nghèo nhất chủ yếu vẫn dựa vào đất rừng và thực tế là có nhiều yếu tố khiến họ khó sử dụng đất rừng để giảm nghèo [31, tr 29]

Lâm nghiệp cộng đồng được công nhận chính thức trong Luật Bảo vệ và Phát triển rừng sửa đổi do quốc hộ thông qua năm 2004 Luật đưa ra các thuật ngữ và điều kiện để giao đất giao rừng cho các cộng đồng Lâm nghiệp cộng đồng có thể hỗ trợ giảm mức độ nghèo vì tạo động lực cho những người tham gia vào bảo vệ rừng Việc chuyển giao quyền quyết định cho các cộng động có thể là cơ sở quan trọng để cải thiện đời sống Blockhaus khẳng định rằng giảm nghèo chính là phần lợi ích của cộng đồng Mặt khác lâm nghiệp cộng đồng có thể làm giảm quyền lực của chính quyền địa phương và hạn chế tính hiệu quả của công tác quản lý rừng của người dân [31]

Đối với đất sản xuất và rừng, vai trò của lâm sản ngoài gỗ trong giảm nghèo chủ yếu vẫn dựa vào củi đun và măng tre Củi đun là loại lâm sản ngoài gỗ có giá trị kinh tế nhất, thường chiếm 2/3 tổng thu nhập từ lâm sản ngoài gỗ của các hộ Tre măng là nguồn thu nhập cơ bản và nguồn thức ăn bổ sung ở những vùng còn bị đói đặc biệt trong các thời kỳ giáp hạt Tại Nghệ An, thu nhập từ lâm sản ngoài gỗ chiếm 15-35% tổng thu nhập và chiếm 70-100% đối với các hộ nghèo [23]

Trang 20

Thực hiện bảo tồn và bảo vệ các hệ thống rừng hạn chế việc chuyển đổi từ đất rừng sang đất nông nghiệp, mất đất diễn ra ở nhiều nơi nên làm giảm khả năng

tự túc lương thực và mất đi một nguồn thu nhập của người dân sống dựa vào rừng

từ canh tác cây nông nghiệp mang tính quảng canh trên đất rừng

Khai thác gỗ hợp pháp và bất hợp pháp ở rừng bảo tồn trong một thời gian dài là nguồn thu nhập chính của người nghèo sống phụ thuộc vào rừng Việc quản

lý rừng lỏng lẻo tạo cơ hội để tăng thu nhập cho người dân địa phương nghĩa là có đóng góp cho giảm nghèo nhưng không đảm bảo sinh kế nông thôn bền vững

Nguyễn Bá Ngãi (2002) khi “Nghiên cứu về sự phụ thuộc vào rừng của cộng đồng dân cư trong vùng đệm Vườn quốc gia Ba Vì” [20] cho kết quả: mặc dù nhu cầu khai thác lâm sản ngoài gỗ như dược liệu, song mây, măng tre và mộc nhĩ cao, thu nhập từ những sản phẩm này chỉ chiếm khoảng 10% của thu nhập toàn xã

Hợp đồng bảo vệ rừng tạo công ăn việc làm cho hàng ngàn hộ sống trong

và cạnh rừng Trong những năm gần đây, các thôn bản tham gia vào quản lý rừng cũng được hưởng lợi từ hàng ngàn việc làm ở khu vực nông thôn và miền núi Một số lượng lớn việc làm trong lâm nghiệp được tạo ra ở khu vực nông thôn khi chính phủ ban hành chính sách giao rừng phòng hộ phân cấp (trong khuôn khổ ranh giới giữa các thôn và các xã) cho hộ và cá nhân để sử dụng bền vững và lâu dài cho mục đích lâm nghiệp [31]

Sunderlin và Huỳnh Thu Ba (2004) trong nghiên cứu về “Giảm nghèo và rừng ở Việt Nam” [65] đã tập trung vào phân tích các tài liệu về rừng và giảm nghèo ở Việt Nam Trước tiên, nghiên cứu này đưa ra được mô hình tứ diện về đời sống con người và độ che phủ rừng áp dụng cho những người sống trong rừng và gần rừng Mối quan hệ giữa rừng và giảm nghèo được phân tích theo 6 biến số (trên

cơ sở 6 phương thức giảm nghèo dựa vào rừng của FAO): thay đổi từ đất rừng sang đất nông nghiệp; lâm sản gỗ; lâm sản ngoài gỗ; chi trả các dịch vụ môi trường; việc làm và các lợi ích gián tiếp Tuy chỉ dừng lại ở việc phân tích các tài liệu thứ cấp về đói nghèo và rừng ở Việt Nam, nghiên cứu này cũng cho chúng ta thấy được mối liên hệ mật thiết giữa giảm nghèo và rừng

William Sunderlin cũng thực hiện nghiên cứu về “Giảm nghèo ở các cộng đồng vùng cao khu vực sông Mê Kông thông qua cải thiện lâm nghiệp công nghiệp và lâm nghiệp cộng đồng” [16]

Trang 21

Một số các dự án nghiên cứu khác về lâm nghiệp, giảm nghèo và sinh kế ở Việt Nam cũng đang được thực hiện CIFOR đề xuất nghiên cứu về lâm nghiệp và giảm nghèo “Xây dựng bản đồ đói nghèo và rừng khu vực sông Mê Kông” Uỷ Ban

vì sự tiến bộ của phụ nữ của Bộ NN&PTNT đang tiến hành nghiên cứu về “Giới trong lâm nghiệp”, kết quả sẽ được lồng ghép vào tiến trình xây dựng chính sách giống như các nghiên cứu về lâm nghiệp và giảm nghèo [31]

William D.Sunderlin trong tạp chí “Người nghèo ở đâu? Cây cối ở đâu?” [66]

đã nêu bật mối quan hệ giữa chất lượng rừng với tỷ lệ và mật độ nghèo đói ở Việt Nam thông qua việc sử dụng số liệu địa lý và phân tích tác động của mô hình không gian này tới xóa đói giảm nghèo và tới quản lý và bảo tồn rừng Phần lớn những thành phần nghèo ở Việt Nam sống tại các vùng đồng bằng và các thành phố đông dân cư, trong khi các vùng cao hẻo lánh có tỷ lệ nghèo đói, khoảng cách nghèo và mức độ nghèo cao nhất Các khu rừng có ý nghĩa lớn với địa phương và toàn cầu nằm tại những vùng có tương đối ít người nghèo sinh sống nhưng lại có tỷ lệ nghèo đói, khoảng cách nghèo đói và mức độ nghèo cao nhất và phương cách kiếm sống chỉ dựa trên các hoạt động nông lâm nghiệp

Đinh Đức Thuận (2005) tiến hành nghiên cứu về “Lâm nghiệp, giảm nghèo và sinh kế nông thôn ở Việt Nam” Nghiên cứu này xác định được một số vấn đề chủ yếu liên quan tới chiến lược lâm nghiệp quốc gia tác động tới giảm nghèo và cải thiện sinh kế nông thôn Đó là: quyền và hưởng lợi của những người sống phụ thuộc vào rừng đối với đất và tài nguyên rừng tự nhiên và rừng trồng, thiếu sự tham gia của các cộng đồng trong quản lý rừng đặc dụng và phòng hộ, những vùng nghèo, sâu xa không được hưởng lợi từ chế biến lâm sản gỗ và lâm sản ngoài gỗ, ít có sự tham gia của người dân địa phương trong nghiên cứu, phổ cập và đào tạo về chính sách, lập kế hoạch và giám sát trong ngành lâm nghiệp.Nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng có 3 mục tiêu giảm nghèo và cải thiện sinh kế dựa vào rừng là: tăng thu nhập thông qua đa dạng hóa các nguồn thu từ rừng; tạo cơ hội việc làm từ phát triển lâm nghiệp, cải thiện sinh kế dựa vào phát triển lâm nghiệp Các mục tiêu này là cần thiết và có tính khả thi cao Nghiên cứu cũng đưa ra 6 giải pháp chiến lược giảm nghèo và cải thiện sinh kế nông thôn dựa vào rừng Các giải pháp trước mắt bao gồm: thực hiện quản lý rừng đa tác dụng dựa vào cộng đồng, phát triển khuyến lâm

có sự tham gia tại các cộng đồng vùng cao, xây dựng cơ chế chi trả dịch vụ môi

Trang 22

trường cho các cộng đồng vùng cao, phát triển lâm nghiệp cộng quản Các giải pháp lâu dài bao gồm: phát triển kinh tế rừng trồng vùng cao, phát triển chế biến gỗ và LSNG tại các cộng đồng vùng cao [31] Các kết quả của nghiên cứu này phục vụ cho việc xây dựng Chiến lược lâm nghiệp quốc gia giai đoạn 2006-2020

Trần Ngọc Thể (2009) khi “Nghiên cứu tác động của người dân địa phương đến tài nguyên rừng tại vườn quốc gia Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn” đã vận dụng hàm sản xuất Cobb – Douglass để phân tích ảnh hưởng của các yếu tố sản xuất đến thu nhập

từ rừng của hộ gia đình Kết quả cho thấy: thu nhập từ rừng có mối quan hệ chặt chẽ với tổng thu nhập của các hộ gia đình của cả 3 dân tộc Tày, Dao, H’Mông Khi thu nhập từ rừng tăng lên 1% thì nhóm kinh tế hộ tăng 1 đơn vị (càng khá lên) thì thu nhập của HGĐ tăng tương ứng là 0,183% và 0,448% [29]

1.3 Những kết luận rút ra từ việc nghiên cứu tổng quan

- Việc nghiên cứu các giải pháp nhanh và bền vững trong xóa đói giảm nghèo hiện nay là chưa có, đặc biệt là giải pháp giảm nghèo nhanh và bền vững dựa vào rừng

- Đã có rất nhiều tài liệu viết về giảm nghèo ở Việt Nam cũng như các tài liệu

về lĩnh vực lâm nghiệp, song các tài liệu này gần như hoàn toàn không liên quan tới nhau

- Vì những lý do khác nhau mà cho đến nay, vẫn chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu một cách hệ thống, đồng bộ và toàn diện về giảm nghèo dựa vào rừng Phần lớn vấn đề này mới chỉ thực hiện ở mức độ nhất định, theo hướng phân tích riêng lẻ từng lĩnh vực Cách thu thập số liệu mới chỉ dừng lại ở việc kế thừa các tài liệu viết về rừng và đói nghèo rồi kết nối chúng lại với nhau

- Thiếu những công trình nghiên cứu theo hướng toàn diện, kết hợp phân tích vai trò của rừng với giảm nghèo của người dân địa phương

- Thiếu những chương trình xây dựng các giải pháp chiến lược về giảm nghèo dựa vào rừng cho từng vùng sinh thái cụ thể ở Việt Nam

Vì vậy, vấn đề này cần tiếp tục được nghiên cứu và hoàn thiện

Trang 23

CHƯƠNG 2: MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, GIỚI HẠN, NỘI DUNG VÀ

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Mục tiêu nghiên cứu

Đánh giá tình hình kinh tế hộ nghèo và việc quản lý sử dụng tài nguyên rừng làm cơ sở đề xuất giải pháp giảm nghèo dựa vào rừng tại xã Bộc Bố, huyện Pác

Nặm, tỉnh Bắc Kạn

2.2 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là mối quan hệ giữa nghèo đói và rừng, cụ thể là các giải pháp giảm nghèo dựa vào rừng tại xã Bộc Bố, huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn

2.3 Giới hạn nghiên cứu

Luận văn giới hạn việc nghiên cứu các hộ gia đình nghèo, thu nhập thấp đã được công nhận theo chuẩn nghèo của Nhà nước năm 2009 Các nhóm hộ khác: hộ thoát nghèo, hộ trung bình, hộ khá không thuộc phạm vi nghiên cứu của luận văn

2.4 Nội dung nghiên cứu

- Phân tích tình hình kinh tế hộ nghèo tại địa phương

- Đánh giá tình hình quản lý sử dụng tài nguyên rừng

- Đề xuất các giải pháp giảm nghèo dựa vào rừng

2.5 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu

2.5.1 Quan điểm và phương pháp luận

Nghiên cứu được thực hiện dựa trên: (1) Một số quan điểm về nghèo, giảm nghèo dựa vào rừng, sinh kế; (2) Lý luận về phát triển bền vững; (3) Tiếp cận có sự tham gia trong nghiên cứu; (4) Mô hình tứ diện

a Quan điểm về nghèo, giảm nghèo dựa vào rừng, sinh kế

Thứ nhất là, quan điểm về Nghèo: Có một vài cách hiểu về “nghèo”, từ cách

hiểu đơn giản, bên ngoài, trực tiếp dựa vào việc tính toán số tiền thu được từ các hoạt động khác nhau hoặc các sản phẩm bán được của một nhóm đối tượng

Nhưng lại có cách hiểu và định nghĩa khác đề cập tới những khả năng người

“nghèo” không chỉ kiếm tiền hoặc sản xuất những gì cơ bản mà còn có khả năng lựa chọn các chiến lược phát triển kinh tế bằng cách kiểm soát môi trường sản xuất Có thể nói người dân có thể tự phân tích hoàn cảnh, tình hình bằng ngôn ngữ riêng của

Trang 24

họ, bằng các nhận thức bản địa, có thể tự đưa ra giải pháp và các hoạt động dựa trên kiến thức, đánh giá của họ và kết quả là họ có thể làm chủ được các công cụ, phương tiện văn hoá, xã hội cũng như vật liệu Ở đây nhấn mạnh tới khả năng và môi trường cho hoạt động của một nhóm đối tượng Đây cũng là vấn đề về tiến trình thu nạp nay loại bỏ dẫn tới việc nhóm nào và ai trong một nhóm có thể nắm bắt được các cơ hội đưa tới hay ngược lại bị nằm ngoài không nhận thấy được cơ hội như những người và nhóm người kia

Các vấn đề về giới, dân tộc, thông thạo ngôn ngữ và mù chữ, tiếp cận và hiểu biết về hệ thống hành chính là các yếu tố khác nữa có thể liên quan mật thiết tới và tác động qua lại với sự nghèo Vấn đề nữa là năng lực tham gia vào các hoạt động kinh tế và đàm phán các giải pháp tức thời với hệ thống hành chính (hệ thống này hiện có thể phù hợp hoặc chưa phù hợp với các rào cản nói trên) Những mối tương tác qua lại như vậy làm nhận thức về thực tế cuộc sống của những người và nhóm người nghèo càng thêm phức tạp, đòi hỏi các cơ quan và cá nhân phải có kỹ năng tư duy và phân tích cao khi tiến hành phân tích nghèo

Trong khi những định nghĩa đơn giản về nghèo dường như dễ hiểu, dễ áp dụng thì ngày càng có những cách hiểu cho rằng các khía cạnh về tiền chỉ là phần nhỏ để đánh giá thực tế và sự phức tạp của cảnh sống “nghèo”

Cái gì cản trở người dân nắm bắt cơ hội mới? Cái gì có thể giải thích cho việc một số cá nhân hoặc hộ gia đình đã vượt qua được cái nghèo, cải thiện cuộc sống và điều kiện kinh tế của mình trong khi những người khác vẫn nghèo?

Trong đề tài này tôi sử dụng định nghĩa về nghèo của Engberg-Pedersen [31]:

“Người nghèo là những người không thể khai thác được các cơ hội vì thiếu năng lực và nguồn lực và bị phụ thuộc vào người khác”

Cần hiểu rằng định nghĩa này bao hàm ý nghĩa rộng hơn thu nhập và lương thực Các yếu tố liên quan tới kiểm soát tài sản, tính dễ tổn thương và bền vững có thể được thâu tóm trong khái niệm sinh kế bền vững

Đói nghèo có thể được định nghĩa là một cuô ̣c sống thiếu thu nhập vâ ̣t chất hay tiêu dùng, trình độ giáo dục và y tế thấp, dễ bị tổn thương và rủi ro cao, không

có quyền và không có tiếng nói trong xã hô ̣i [31]

Thứ hai là, Giảm nghèo dựa vào rừng: Xóa đói giảm nghèo có thể được

định nghĩa là làm giảm đi những thiếu thốn trong cuô ̣c sống Theo tài liệu của FAO

Trang 25

(2003) chỉ rõ hai phương thức giảm nghèo dựa vào rừng được áp dụng ở cấp hộ gia đình [65] Đó là:

- Tránh hoặc giảm thiểu đói nghèo, điều này có nghĩa là khi tài nguyên rừng giúp người dân khỏi rơi vào cảnh đói nghèo hoặc không bị bị nghèo hơn nếu họ đã nghèo Trong trường hợp này thì tài nguyên rừng có vai trò như một “lưới an toàn” hoặc như một nguồn “lấp chỗ trống” cũng có thể là một nguồn tiền mặt nhỏ;

- Xóa nghèo, đó là khi tài nguyên rừng giúp các hộ gia đình thoát khỏi cảnh đói nghèo bằng cách đóng vai trò làm một nguồn tiết kiệm, đầu tư, tích lũy, đa dạng sinh kế và tăng thu nhập cố định và chất lượng cuộc sống

Cần phải nhấn mạnh sự khác biệt về bản chất giữa hai loại mô hình giảm nghèo dựa vào rừng Người dân trong diện “tránh hay giảm thiểu đói nghèo” vẫn còn ở dưới hay gần với ranh giới nghèo và khá, nhưng có thể đã khá hơn so với tình trạng không có các nguồn tài nguyên rừng Ngược lại, tình hình kinh tế xã hội của những người đã vượt nghèo, được cải thiện đáng kể và mang tính chất lâu dài Do vậy giảm nghèo dựa vào rừng nên được hiểu theo nghĩa rộng hàm chứa nhiều ý nghĩa rất khác nhau và bao gồm cả hai loại hình được mô tả ở trên Ngoài ra, cũng cần hiểu rằng giảm nghèo dựa vào rừng không bao giờ là một quá trình riêng lẻ Vai trò của rừng và cây trong giảm nghèo thường có liên hệ với các hình thức sinh kế khác bao gồm nông nghiệp, chăn nuôi và các hoạt động sản xuất khác [65]

Thứ ba là, Phương thức giảm nghèo dựa vào rừng: Tổ chức nông lương

thế giới FAO nhận định có sáu phương thức sử dụng nguồn rừng có tiềm năng trợ giúp cho quá trình giảm nghèo [65] đó là: chuyển đổi rừng sang sản xuất nông nghiệp; gỗ; lâm sản ngoài gỗ; dịch vụ môi trường; việc làm; lợi ích gián tiếp từ rừng

Thứ tư là, Sinh kế nông thôn bền vững: Sinh kế có thể được mô tả như tổng

hợp của nguồn lực và năng lực liên quan tới các quyết định và hoạt động của một người nhằm cố gắng kiếm sống và đạt được các mục tiêu và mơ ước của mình (DFID 2001) Tiêu chí sinh kế bền vững gồm: an toàn lương thực, cải thiện điều kiện môi trường tự nhiên, cải thiện điều kiện môi trường cộng đồng - xã hội, cải thiện điều kiện vật chất, được bảo vệ tránh rủi ro và các cú sốc [22]

Sinh kế bền vững [22] có thể được mô tả là:

- Kháng được với những cú sốc và áp lực bên ngoài

Trang 26

- Không phụ thuộc vào các hỗ trợ từ bên ngoài (hoặc được hỗ trợ bằng các cách thức bền vững về kinh tế và thể chế)

- Được thích nghi hoá để duy trì sức sản xuất lâu dài của nguồn tài nguyên thiên nhiên

- Bền vững mà không làm suy yếu và ảnh hưởng tới các giải pháp sinh kế của những người khác

Để đạt tới mức độ bền vững rõ ràng là một cộng đồng, một hộ gia đình hay một cá nhân cần có một số tài sản được khái niệm hoá là “năm loại vốn cần có để có được sinh kế bền vững’’ [22]:

- Vốn thiên nhiên: tài nguyên thiên nhiên như đất đai, rừng, nước và đồng cỏ

- Vốn vật liệu: được xếp vào 3 nhóm là tư nhân như gia súc và công cụ canh tác; công cộng như đường xá, công trình công cộng; cơ sở hạ tầng xã hội như

trường học và bệnh viện

- Vốn tài chính: tiền mặt như thu nhập hay tiền tiết kiệm có thể sử dụng làm vốn luân chuyển

- Vốn nhân lực: sức khoẻ, mức độ dinh dưỡng, kỹ năng và trình hộ học vấn

- Vốn xã hội: quan hệ họ hàng, bạn bè, xã hội kể cả các mối quan hệ với các

cơ quan tổ chức chính thức mà một người có thể dựa vào đó để mở rộng các giải pháp sinh kế

b Lý luận về phát triển bền vững

Quan điểm phát triển bền vững được định nghĩa như sau: “Phát triển bền vững là sự phát triển nhằm thỏa mãn mọi nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại đến những khả năng phát triển để thỏa mãn mọi nhu cầu của những thế hệ tiếp theo (WCED 1987) Phát triển bền vững có thể mang ý nghĩa là sự duy trì hoặc kéo dài năng lực sản xuất của một cơ sở tài nguyên thiên nhiên nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội loài người ở hiện tại và tương lai (Sajie 1996) Các giải pháp giảm nghèo dựa vào rừng cũng phải xây dựng dựa trên quan điểm phát triển bền vững Trong đó người dân địa phương sống dựa vào rừng phải biết khai thác, sử dụng nguồn tài nguyên rừng để đáp ứng được nhu cầu của mình nhằm phát triển kinh tế

xã hội nhưng đồng thời phải sử dụng bền vững nguồn tài nguyên rừng, không làm cho nó bị suy giảm

c Tiếp cận có sự tham gia trong nghiên cứu

Trang 27

Có nhiều quan điểm khác nhau về sự tham gia Sự tham gia được định nghĩa như là một quá trình, thông qua đó các chủ thể hay các bên liên quan cùng tác động

và chia sẻ những sáng kiến phát triển và cùng ra quyết định (Theo Ngân hàng thế

giới) Điều quan trọng là người dân địa phương có khả năng trao đổi các triển vọng

của họ về tài nguyên rừng với các nhà nghiên cứu, các cơ quan quản lý và ngược lại, các cơ quan này có thể hiểu và đáp ứng các triển vọng được nêu ra

Năm 1996, Hosley đưa ra 7 mức độ từ thấp đến cao của sự tham gia, đó là: tham gia có tính chất vận động; tham gia bị động; tham gia qua hình thức tư vấn; tham gia vì mục tiêu được hưởng các hỗ trợ vật tư từ bên ngoài; tham gia theo chức năng; tham gia hỗ trợ; tự huy động và tổ chức [22, tr.141]

Trong nghiên cứu này, phương pháp tiếp cận cùng tham gia được áp dụng, trong đó người dân địa phương tham gia ở mức độ thứ 3, đó là tham gia qua hình thức tư vấn, cung cấp thông tin Các phương pháp đánh giá nhanh nông thôn (RRA)

và phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia (PRA) sẽ được sử dụng để thu thập thông tin cho nghiên cứu Đó là các thông tin để người dân và cộng đồng có khả năng tự đánh giá tiềm năng tài nguyên rừng, tự đưa ra được các giải pháp giảm

nghèo dựa vào rừng

Trang 28

Quản lý tài nguyên rừng

- “Được-Được” nghĩa là phát triển kinh tế hộ và quản lý tốt tài nguyên

rừng được thừa nhận là luôn đi đôi với nhau

- “Được-Mất” nghĩa là thành công trong công tác phát triển kinh tế hộ gây

ra suy giảm tài nguyên rừng và đa dạng sinh học

- “Mất-Được” nghĩa là kinh tế hộ kém phát triển hay nghèo đi vì họ không

được phép sống gần rừng nữa

- “Mất - Mất” nghĩa là kinh tế hộ kém phát triển và tài nguyên rừng không

quản lý được hay cả kinh tế hộ và tài nguyên rừng đều bị thua thiệt

Phân tích này làm cơ sở để đề xuất giải pháp Phương án tốt nhất là chọn

“Được - Được” trong đề xuất giải pháp và không chọn “Mất - Mất” trong đề xuất giải pháp Trong từng điều kiện cụ thể, tại những thời điểm nhất định sẽ lựa chọn phương án “Được - Mất” hoặc “Mất - Được” để đề xuất giải pháp

2.5.2 Phương pháp nghiên cứu

2.5.2.1 Nghiên cứu và phân tích tài liệu thứ cấp

Nghiên cứu các văn bản chính sách của Nhà nước liên quan đến giảm nghèo:

- Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP ngày 27/12/2008 của Chính phủ về Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 62 huyện nghèo

Trang 29

- Quyết định 134/2004/QĐ-TTg ngày 20-7-2004 của Thủ tướng Chính phủ

về một số chính sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt cho các hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn

- Quyết định 167/2008/QĐ-TTg ngày 12/12/2008 của Thủ tướng chính phủ

- Các kế hoạch, báo cáo của Ủy ban dân tộc, Bộ lao động thương binh và xã hội về tình hình triển khai, kết quả thực hiện Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP ngày 27/12/2008 của Chính phủ về Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo của Chính phủ trên cả nước và trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn

- Nghiên cứu tình hình chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của xã Bộc Bố, huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn

- Nghiên cứu các báo cáo, công trình nghiên cứu khoa học và các tài liệu liên quan đến giảm nghèo dựa vào rừng

- Các tài liệu khác liên quan đến vấn đề nghiên cứu và địa phương

2.5.2.2 Lựa chọn địa điểm nghiên cứu

Địa điểm được chọn nghiên cứu phải là một huyện đã được công nhận là huyện nghèo nằm trong danh mục nghị quyết 30a/2008/NQ-CP Qua tra cứu theo nghị quyết 30a xác định được ở tỉnh Bắc Kạn có 2 huyện nghèo (tỷ lệ hộ nghèo trên 50%) là huyện Ba Bể và huyện Pác Nặm

Các điểm nghiên cứu được lựa chọn sau khi khảo sát sơ bộ một số xã của huyện Pác Nặm Các số liệu thứ cấp được thu thập, bảng câu hỏi phỏng vấn HGĐ được kiểm nghiệm thử về tính phù hợp để thuận tiện cho quá trình thu thập số liệu chính thức

Nguyên tắc của việc chọn địa điểm nghiên cứu:

Trang 30

Nguyên tắc của việc chọn địa điểm nghiên cứu là đại diện tương đối cho khu vực nghiên cứu

- Theo Donovan (1997) tiêu chuẩn chọn điểm nghiên cứu là: Thành phần dân tộc, khả năng tiếp cận và địa hình

Thành phần dân tộc là yếu tố quan trọng có ảnh hưởng lớn đến thói quen sử dụng tài nguyên rừng, đến sinh kế, hình thức tác động của cộng đồng, khả năng tiếp thu thông tin bên ngoài Dân tộc và tập tục văn hóa có thể ảnh hưởng đến quá trình đổi mới

và chấp nhận các kỹ thuật mới và sự tham gia vào các hoạt động phát triển rừng

Tiêu chuẩn lựa chọn xã nghiên cứu:

- Diện tích rừng còn nhiều

- Người dân có tham gia vào các hoạt động lâm nghiệp ở địa phương

Tiêu chuẩn lựa chọn hộ gia đình để nghiên cứu

- Thuộc các hộ gia đình nghèo, thu nhập đầu người thấp theo chuẩn nghèo quốc gia năm 2009

- Có diện tích đất lâm nghiệp nhiều

- Có nguồn thu nhập từ rừng

Kết quả lựa chọn địa điểm nghiên cứu:

- Huyện Pác Nặm có 10 xã, xã Bộc Bố được lựa chọn làm địa điểm nghiên cứu với tỷ lệ hộ nghèo là 34,5% (xem Phụ lục 1)

- Xã Bộc Bố có 15 thôn, bản, bao gồm nhiều thành phần dân tộc khác nhau: Kinh, Tày, Sán Chí, H’Mông, Dao, Nùng Các hộ nghèo theo 3 dân tộc này phân

bố rải rác giữa các thôn, bản (xem phụ lục 2)

Tổng số hộ nghèo trên địa bàn toàn xã Bộc Bố là 257 hộ Trong đó hộ nghèo phân theo dân tộc và tỷ lệ hộ nghèo của từng dân tộc so với tổng số hộ nghèo toàn

xã như sau:

Trang 31

Bảng 2.1 Số hộ nghèo theo thành phần theo dân tộc của xã Bộc Bố

2.5.2.3 Xác định dung lượng mẫu điều tra

Mẫu điều tra, phỏng vấn là một phần của tổng thể được lựa chọn theo những cách thức nhất định và với một dung lượng hợp lý Mẫu có tính đại diện để có thể suy rộng thông tin thu được cho tổng thể

Có nhiều cách để xác định dung lượng mẫu điều tra khác nhau Để đảm bảo

độ chính xác của số liệu điều tra trong đề tài này tôi chọn cách xác định dung lượng mẫu không lặp lại theo công thức sau:

2 2 2

2 2

S t d N

S t N n

Trong đó: n: dung lượng mẫu cần chọn

N: số hộ nghèo theo thành phần dân tộc cần điều tra t: là hệ số ứng với mức tin cậy của kết quả (t2 = 1-1,3) d: sai số mẫu (cho trước d = 5-10%)

S2 : phương sai của tổng thể (cho trước S2 = 0,25) Kết quả tính toán hộ gia đình nghèo cần phỏng vấn theo thành phần dân tộc tại xã Bộc Bố như sau:

Trang 32

Dân tộc Sán Chí: n = 31,04 làm tròn là 31 HGĐ

Dân tộc H’Mông: n = 26,35 làm tròn là 26 HGĐ

Dân tộc Tày: n = 23,89 làm tròn là 24 HGĐ

Bảng 2.2 Dung lượng mẫu điều tra theo các thành phần dân tộc tại xã Bộc Bố

(Nguồn: Tổng hợp từ kết quả tính toán)

Ở khu vực nghiên cứu, các thành phần dân tộc phân bố không đồng đều giữa các thôn Người dân tộc Sán Chí tập trung sống ở 4 thôn vùng cao là Nà Phầy, Nà Lẩy, Khuổi Bẻ và Khâu Đấng Dân tộc H’Mông tập trung ở thôn Phiêng Lủng, Lủng Pảng, Khâu Vai và Nà Hoi Dân tộc Tày sống rải rác ở nhiều thôn Do vậy việc lựa chọn 1 thôn điểm nghiên cứu đảm bảo được đủ số hộ nghèo trên là khó khăn Do đó tôi lựa chọn dung lượng mẫu theo thành phần dân tộc phân bố ở các thôn có tập trung nhiều hộ nghèo trên phạm vi toàn xã để nghiên cứu Kết quả thu được như sau:

Bảng 2.3 Dung lượng mẫu điều tra tại các thôn nghiên cứu điểm

(Nguồn: Tổng hợp từ kết quả tính toán)

2.5.2.4 Phương pháp điều tra thu thập số liệu hiện trường

Trang 33

Các công cụ PRA sau được thực hiện để thu thập các thông tin và số liệu hiện trường:

- Phỏng vấn bán định hướng tại xã và thôn điểm:

Tại UBND xã tiến hành phỏng vấn lãnh đạo xã cụ thể là cán bộ lâm nghiệp, cán bộ địa chính xã để biết về: vai trò, tiềm năng của rừng; tình hình sử dụng đất lâm nghiệp, tình hình giao đất lâm nghiệp, tình hình quản lý rừng, các chính sách, chương trình thực hiện về xóa đói giảm nghèo cho các hộ nghèo, đặc điểm các thôn

có diện tích rừng nhiều, đời sống người dân phụ thuộc vào rừng

Tại thôn tiến hành phỏng vấn ban quản lý thôn về tình hình chung của thôn: diện tích, số nhân khẩu, số hộ gia đình, mức sống của người dân, các loại đất đai, các loại tài nguyên rừng, một số đặc điểm về quản lý rừng của thôn, nhu cầu sản phẩm rừng của thôn, các giải pháp và kế hoạch giảm nghèo của thôn

- Phỏng vấn hộ gia đình: Được thực hiện thông qua bảng phỏng vấn bán định hướng được chuẩn bị và kiểm tra trước (xem Phụ lục 7)

Nội dung cơ bản của phỏng vấn hộ gia đình là xác định được thu nhập của các sản phẩm có nguồn gốc từ rừng, các nguồn thu khác như từ nương rẫy, chăn nuôi, trồng trọt để tính tổng thu nhập của hộ/năm; xác định được chi phí cho sản xuất và sinh hoạt của nhóm hộ nghèo để biết được tỷ lệ chi phí/ thu nhập Xác định

tỷ trọng thu nhập từ rừng so với tổng thu nhập để biết được hiệu quả kinh tế từ rừng đối với nhóm hộ nghèo Phỏng vấn và điều tra nhu cầu sử dụng lâm sản của người dân và đề xuất các giải pháp giảm nghèo dựa vào rừng

Phỏng vấn 81 hộ gia đình nghèo trên địa bàn toàn xã, theo thành phần dân tộc, phỏng vấn 31 hộ gia đình dân tộc Sán Chí, 26 hộ gia đình dân tộc H’Mông, 24

hộ gia đình dân tộc Tày Các HGĐ phỏng vấn được lựa chọn theo phương pháp ngẫu nhiên có hệ thống Danh sách phân loại hộ nghèo, thoát nghèo, trung bình được thu thập tại ban quản lý các thôn (Trưởng thôn) Bảng tổng hợp số lượng HGĐ được phỏng vấn theo dân tộc được trình bày ở Phụ lục 6

Trang 34

nhóm theo từng dân tộc để tìm hiểu được những khó khăn, khuyến nghị của từng nhóm dân tộc trong phát triển sản xuất và sử dụng tài nguyên rừng, bổ sung các giải pháp giảm nghèo dựa vào rừng của người dân

Các số liệu được tổng hợp theo từng nhóm nội dung để phân tích Riêng

số liệu về kinh tế hộ như: đầu tư sản xuất, chi phí, thu nhập… được tính toán theo nguyên tắc cụ thể sau: (1) Công lao động của gia đình không được quy đổi sang chi phí đầu tư bằng tiền cho sản xuất; (2) Gỗ, gỗ củi phục vụ nhu cầu của HGĐ được lấy từ rừng không tính vào thu nhập từ rừng, chỉ tính khi mang bán

Các biến được mã hoá theo kết cấu: Tên biến và nhãn của biến để thuận tiện

cho quá trình phân tích

Xác định các biến để tiến hành phân tích: Biến độc lập (X), biến phụ thuộc

(Y) (Việc xác định biến độc lập và biến phụ thuộc dựa trên tiêu chí: Nếu X là một đại lượng không ngẫu nhiên còn Y là một đại lượng ngẫu nhiên thì Y là hàm

số của X)

Sự phụ thuộc này được biểu diễn bằng biểu thức: Y = f(X), như vậy X là biến độc lập và Y là biến phụ thuộc

Phân tích mối quan hệ giữa các yếu tố sản xuất với tổng thu nhập

Sản xuất là quá trình chuyển hoá những yếu tố đầu vào (yếu tố nguồn lực) thành những yếu tố đầu ra và kết quả của sản xuất do lượng, chất của các yếu tố đầu vào, công nghệ sử dụng quyết định, mối tương quan phụ thuộc đó được diễn tả qua hàm sản xuất

Nghiên cứu sử dụng hàm sản xuất Cobb - Douglas (hàm có hệ số co dãn không đổi) để phân tích ảnh hưởng của các yếu tố nguồn lực đến tổng thu nhập của các HGĐ [27, tr 155-162]

Hàm sản xuất về cơ bản có dạng: Y = a X1β1 X2β2 Xnβn.e(γ.Zi) (2.2)

Trang 35

Trong đó:

Y là biến phụ thuộc - thể hiện kết quả sản xuất X1, X2, Xn: là các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất (đây là

các biến số độc lập)

β 1, β2 βn: là hệ số đóng góp của các yếu tố đầu vào trên

a: hằng số thể hiện năng suất lao động tổng hợp

Zi: là các yếu tố hiệu quả hay các yếu tố khác ngoài yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất

γ: là các hệ số đóng góp của các yếu tố hiệu quả Zi

Yếu tố nguồn lực ở đây là các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất như: Số lao động, vốn (thiết bị, phân bón, giống…), đất đai…

Yếu tố hiệu quả hay các yếu tố khác ngoài yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất như: Dân tộc; nhóm kinh tế hộ; vị trí tương đối của thôn theo độ cao, theo đường ranh giới vườn quốc gia; mức độ gần rừng, mức độ thuận tiện về giao thông,

đi lại; khả năng tiếp cận kinh tế hướng ra bên ngoài…

Để tính toán, hàm số (2.2) được biến đổi về dạng tuyến tính đối với tham số, bằng việc lấy Logarit tự nhiên cả hai vế:

LnY = a0+ β1LnX1 + β2LnX2 +… + βnLnXn + (γ1Z1 + γ2Z2 + … + γnZn) ( (2.3)

Trong đó: LnY: Là hàm tuyến tính với các tham số β

β1, β2, βn : Là các hệ số thể hiện độ co dãn của Y đối với Xi,

điều này được giải thích:

Khi X 1 thay đổi 1% thì Y thay đổi β 1 %

Khi X 2 thay đổi 1% thì Y thay đổi β 2 %

Khi X n thay đổi 1% thì Y thay đổi β n %

γ1, γ2,… γn: Là các hệ số thể hiện độ co dãn của Y đối với Zi,

điều này được giải thích:

Khi Z 1 thay đổi 1 đơn vị thì Y thay đổi γ 1 %

Khi Z 2 thay đổi 1 đơn vị thì Y thay đổi γ 2 %

Khi Z n thay đổi 1 đơn vị thì Y thay đổi γ n %

Sự đóng góp nhiều hay ít, tích cực hay tiêu cực của các yếu tố đầu vào và yếu tố hiệu quả vào thu nhập phụ thuộc vào hệ số β, γ cao hay thấp, dương (+) hay

âm (-) Chỉ số đặc trưng (eigenvalue) càng gần mức 0 và chỉ số điều kiện (condition

Trang 36

index) lớn hơn 30 cho biết yếu tố có cộng tuyến mạnh đến thu nhập [30, tr 213] Các số liệu đã phân loại theo nhóm công thức (2.3), (2.4) được đưa vào phần mềm SPSS để tính toán Các mô hình quan hệ có thể có biến đơn hoặc tổ hợp biến, tuyến tính hoặc phi tuyến tính và mô hình được lựa chọn đảm bảo nguyên tắc chính xác, đơn giản, dễ dàng áp dụng, ưu tiên dạng tuyến tính sau đó mới đến dạng hàm phức tạp như hàm mũ, bậc 2, bậc 3, logarit, phù hợp với thực tế về chiều hướng quan hệ, mức độ ảnh hưởng.

Trang 37

CHƯƠNG 3 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU

3.1 Đặc điểm tự nhiên

3.1.1 Vị trí địa lý

Bộc Bố là xã trung tâm của huyện Pác Nặm với tổng diện tích tự nhiên là 5.336,33 ha

- Phía Đông giáp xã Xuân La

- Phía Tây giáp xã Giáo Hiệu

- Phía Nam giáp xã Cổ Linh

- Phía Bắc giáp xã Bằng Thành

3.1.2 Địa hình

Với đặc thù là xã miền núi có địa hình phức tạp, có độ dốc lớn, chia cắt

mạnh, độ cao trung bình từ 400 - 1.200 m so với mặt nước biển

3.1.3 Thổ nhưỡng

Ở khu vực nghiên cứu có các loại đất chủ yếu sau đây:

- Đất phù sa không được bồi hàng năm: do ở địa hình cao, vậy hàng năm không được bồi đắp phù sa Thành phần cơ giới từ thịt trung bình đến thịt nặng, có khả năng giữ nước, giữ màu tốt Phù hợp cho việc phát triển các loại cây lúa, màu

- Đất phù sa ngòi suối: Loại đất này phân bố ở ven các con suối lớn, tạo nên dải đất dài hẹp chạy dọc theo hai bên bờ suối Vì vậy thường có sản phẩm thô và luôn chịu ảnh hưởng của lũ hàng năm Đây là loại đất tốt nằm ở địa hình bằng thoải,

có độ phì nhiêu khá, gần nguồn nước nên thuận lợi cho việc canh tác lúa, màu

- Đất vàng trên đá mắc ma axít: đây là loại đất nghèo dinh dưỡng, tầng đất thường mỏng, hàm lượng các chất tổng số và dễ tiêu thường thấp, trong quá trình canh tác cần đặc biệt chú ý chống xói mòn và rửa trôi và bón phân cải tạo đất

- Đất đỏ vàng trên đá biến chất: loại đất này phù hợp để bố trí trồng các loại cây trồng nông lâm kết hợp, tuy nhiên phải áp dụng các biện pháp canh tác trên đất dốc

- Đất felarit mùn vàng nhạt trên núi: phân bố ở độ cao từ 900 - 1000m Đất

sử dụng vào lâm nghiệp, cần tu bổ, bảo vệ rừng, nơi rừng kiệt dành làm đồng cỏ chăn nuôi đại gia súc và khai thác trồng một số loài cây đặc sản có giá trị như: đào,

lê, táo, mận…

Trang 38

3.1.4 Khí hậu, thủy văn

Khí hậu: Xã Bộc Bố nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, chia thành 2

mùa trong năm Mùa khô thường từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau, do ảnh hưởng của khí hậu vùng cao nên về mùa khô thường xảy ra rét đậm, rét hại kéo dài Mùa mưa thường từ tháng 5 đến tháng 9, do bị ảnh hưởng bởi địa hình phức tạp, độ dốc lớn nên thường xảy ra lũ ống, lũ quét và sạt lở đất

Nhiệt độ không khí trung bình hàng năm là: 220C đến 280C

Độ ẩm bình quân hàng năm là: 84- 85%

Lượng mưa bình quân hàng năm là: 1.346 mm

Thuỷ văn: Xã Bộc Bố có con sông lớn bắt nguồn từ Tuyên Quang chảy sang

Các suối đều là đầu nguồn nên lòng suối nhỏ hẹp, độ dốc lớn, chênh lệch lưu lượng nước theo mùa rất lớn Mùa khô thường gây hạn hán, ảnh hưởng đến sản xuất nông, lâm nghiệp

3.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội

3.2.1 Đặc điểm và phân bố dân cư

Xã Bộc Bố hiện có 15 thôn, 6 thôn vùng thấp và 9 thôn vùng cao Xã có 3.447 người, 6 dân tộc cùng chung sống: Tày, Sán Chí, H’Mông, Dao, Kinh, Nùng Trong đó: dân tộc Tày có 341 hộ chiếm tỷ lệ 45% chiếm tỷ lệ cao nhất, dân tộc Sán Chí có

152 hộ chiếm 20%, dân tộc H’Mông có 105 hộ chiếm 14%, dân tộc Dao có 51 hộ chiếm 6%, còn lại các dân tộc khác là 95 hộ chiếm 12%

Trang 39

Bảng 3.1 Dân số các thôn của xã Bộc Bố

(người)

Khu vực sinh sống

(Nguồn: Báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ KT-XH, AN-QP năm 2009

và nhiệm vụ, giải pháp phát triển KT-XH năm 2010, UBND xã Bộc Bố)

3.2.2 Hiện trạng sử dụng đất

Tổng diện tích tự nhiên của xã là 5.336,33 ha Cơ cấu đất đai của xã gồm 4 loại đất chính là: Đất chuyên sản xuất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất phi nông nghiệp và đất chưa sử dụng Diện tích từng loại đất như sau:

Trang 40

Bảng 3.2 Hiện trạng sử dụng đất đai của xã Bộc Bố

2.4 Đất sông suối và mặt nước chuyên dùng 36.57 0,69

(Nguồn: Thống kê diện tích đất nông nghiệp năm 2009, UBND xã Bộc Bố)

Cơ cấu đất đai của xã Bộc Bố được thể hiện qua hình sau:

3.37% 1.87% 5,94%

88,82%

Đất sản xuất nông nghiệp Đất lâm nghiệp Đất phi nông nghiệp Đất chưa sử dụng

Hình 3.1 Cơ cấu đất đai của xã Bộc Bố

Ngày đăng: 31/08/2017, 10:32

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w