Tại đây đã có một số mô hình trồng rừng sản xuất được xây dựng và khá đa dạng, trong đó đặc biệt chú ý tới các mô hình nằm trong các đề tài nghiên cứu phát triển TRSX có hiệu quả kinh tế
Trang 1LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS VÕ ĐẠI HẢI
Hà Nội - 2010
Trang 2ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong nhiều năm gần đây, tài nguyên rừng nhiệt đới ngày càng bị suy giảm nghiêm trọng, gây ảnh hưởng trực tiếp đến sinh thái môi trường và đời sống của người dân Trên thế giới trung bình hàng năm rừng nhiệt đới mất đi khoảng 11 triệu
ha Mất rừng để lại nhiều hậu quả nghiêm trọng như hạn hán, lũ lụt thường xuyên xảy ra, nạn ô nhiễm môi trường cũng đang là vấn đề bức thiết ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống của con người Ngày nay biến đổi khí hậu là vấn đề của toàn nhân loại chứ không chỉ riêng của bất cứ một quốc gia nào, chúng ta đang phải trả giá cho những hành động phá rừng, khai thác quá mức Theo nhận định của Hội thảo khoa học về biến đổi khí hậu toàn cầu (Hà Nội, 10/2009) cho rằng Việt Nam là một trong năm nước chịu ảnh hưởng nặng nề nhất do biến đổi khí hậu gây ra
Nhằm đẩy nhanh tốc độ phục hồi rừng, Chính phủ Việt Nam đã ban hành nhiều chính sách, áp dụng nhiều giải pháp, đầu tư nhiều chương trình, dự án trồng rừng Kết quả diện tích rừng ở nước ta đã tăng lên từ 12,1 triệu ha (2004) đến 13,12 triệu ha rừng (2008), đô ̣ che phủ đạt 38,7% (Bộ NN & PTNT, 2009), đáp ứng nhu cầu về lâm sản, môi trường sinh thái và cảnh quan du lịch Tuy nhiên, sự quan tâm của chúng ta trong thời gian qua tập trung nhiều vào 2 đối tượng là rừng phòng hộ
và rừng đặc dụng, rừng trồng sản xuất (RTSX) chưa được quan tâm chú ý nhiều và thực tiễn sản xuất hiện nay đang đặt ra rất nhiều vấn đề cần phải có lời giải đáp, cả
về kỹ thuật, kinh tế, chính sách và thị trường, gây ảnh hưởng trực tiếp tới người trồng rừng Xuất phát từ thực trạng tài nguyên rừng ngày càng suy giảm ở nước ta
và khả năng quỹ đất dành cho phát triển rừng, cùng với những đòi hỏi phải thực hiện cấp quốc gia về sinh thái, môi trường, kinh tế - xã hội, Chính phủ Việt Nam đã
có rất nhiều dự án về phát triển rừng mà gần đây nhất là chương trình 327, Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng đặt ra nhiệm vụ phải trồng 3 triệu ha rừng sản xuất (RSX) giai đoạn 1998 - 2010, tuy nhiên cho đến nay chúng ta chưa đạt được kế hoạch đă ̣t ra Chính vì vậy, Chính phủ đã chỉ đạo trong thời gian tới cần tập trung đẩy mạnh phát triển TRSX
Trang 3Thuận Châu là một huyện miền núi nằm ở phía Tây Bắc của tỉnh Sơn La Tổng diện tích tự nhiên của toàn huyện theo địa giới hành chính là 153.589,6 ha, trong đó diện tích đất có rừng là 45.518,1 ha, độ che phủ của rừng đạt 36,62% Tại đây đã có một số mô hình trồng rừng sản xuất được xây dựng và khá đa dạng, trong
đó đặc biệt chú ý tới các mô hình nằm trong các đề tài nghiên cứu phát triển TRSX
có hiệu quả kinh tế và bền vững vùng miền núi phía Bắc; chương trình nghiên cứu, chọn lọc và trồng thâm canh một số loài lâm sản ngoài gỗ dưới tán rừng tại tỉnh Sơn La; chương trình gây trồng và phát triển cây Cao su tại tỉnh Sơn La; chương trình trồng rừng trên đất canh tác nương rẫy và mới nhất hiện nay là các mô hình TRSX
do dự án KFW7 xây dựng với nhiều quan điểm mới thu hút được nhiều tổ chức, hộ gia đình vào công tác bảo vệ và phát triển rừng, góp phần xói đói, giảm nghèo, giải quyết các vấn đề xã hội của huyện Đây cũng là huyện có nhiều bài học và kinh nghiệm thực tiễn trong việc tổ chức trồng rừng sản xuất Tuy nhiên, cho đến nay chưa có công trình nào đánh giá có hệ thống về TRSX ở huyện Thuận Châu Việc đánh giá kết quả TRSX nhằm rút ra được những kinh nghiệm giải quyết các vấn đề
về kỹ thuật, kinh tế, chính sách và thị trường, đưa ra được mô hình rừng trồng sản xuất có triển vọng, bền vững là rất cần thiết Xuất phát từ những yêu cầu đó, đề tài:
Nghiên cứu các giải pháp phát triển trồng rừng sản xuất ở huyện Thuận Châu - tỉnh Sơn La đặt ra là rất cần thiết, vừa có ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Trang 4Có thể nói cho đến nay cơ sở khoa học cho việc phát triển rừng trồng sản xuất ở các nước phát triển đã được hoàn thiện và đi vào phục vụ sản xuất lâm nghiệp trong nhiều năm qua
1.1.1 Về giống cây trồng rừng
Thành công của công tác TRSX trước hết phải kể đến công tác nghiên cứu giống cây rừng Từ thế kỷ 18 - 19 đã có những ý tưởng về nghiên cứu lai giống và sản xuất hạt giống cây rừng cũng như nhân giống sinh dưỡng Đầu thế kỷ 20 các nước Bắc Âu như Đức, Thuỵ Điển, Đan Mạch là những nước có nền lâm nghiệp phát triển cũng đã xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu về khảo nghiệm xuất xứ, chọn giống, lai giống, xây dựng vườn giống bằng cây ghép cho các loài Thông, Dương và Sồi dẻ
Syrach Larsen đã sản xuất được một số cây lai có hình dáng đẹp và có ưu thế
về sinh trưởng Nilsson - Ehle (1949 - 1973) đã phát hiện ra cây tam bội có sinh trưởng tốt hơn so với cây nhị bội Đây là một trong những lĩnh vực nghiên cứu mang tính đột phá và đã thu được những thành tựu đáng kể trong thời gian qua Theo Eldridge (1993) [59] các chương trình chọn giống đã bắt đầu ở nhiều nước và tập trung cho nhiều loài cây mọc nhanh khác nhau, trong đó có Bạch đàn Brazil đã
chọn cây trội và xây dựng vườn giống cây con thụ phấn tự do cho các loài E
Trang 5maculata ngay từ những năm 1952; Mỹ bắt đầu với loài E robusta vào năm 1966
Từ năm 1970 đến 1973 Úc đã chọn được 160 cây trội cho loài E regnans và 170 cây trội có thân hình thẳng đẹp và tỉa cành tự nhiên tốt ở loài E grandis Tương tự như vậy, 150 cây trội đã được chọn ở rừng tự nhiên cho loài E diversicolor ở Úc và loài E deglupta ở Papua New Guin [35]
Nhờ những công trình nghiên cứu chọn lọc và tạo giống mới tới nay ở nhiều nước đã có những giống cây trồng năng suất rất cao, gấp 2-3 lần trước đây như ở Brazil đã tạo được những khu rừng có năng suất 70-80 m3/ha/năm, tại Công Gô năng suất rừng cũng đạt 40 - 50 m3/ha/năm Theo Covin (1990) tại Pháp, Ý nhiều khu rừng cung cấp nguyên liệu giấy cũng đạt năng suất 40 - 50 m3/ha/năm, kết quả
là hàng ngàn ha đất nông nghiệp được chuyển đổi thành đất lâm nghiệp để trồng rừng cung cấp nguyên liệu giấy đạt hiệu quả kinh tế cao Theo Swoatdi, Chamlong (1990) (dẫn theo [64]) tại Thái Lan rừng Tếch cũng đã đạt sản lượng 15 - 20
m3/ha/năm,
Ngoài Bạch đàn, trong những năm qua các công trình nghiên cứu về giống cũng đã tập trung vào các loài cây trồng rừng công nghiệp khác như các loài Keo và Lõi thọ Nghiên cứu của Cesar Nuevo (2000) [58] đã khảo nghiệm các dòng Keo nhập từ Úc và Papua New Guinea, các giống Lõi thọ địa phương từ các nơi khác nhau ở Mindanao Trên cơ sở kết quả lựa chọn các xuất xứ tốt nhất và những cây trội đã xây dựng vùng sản xuất giống và dán nhãn các cây trội lựa chọn
Chọn giống kháng bệnh và lai giống cũng là những hướng nghiên cứu được nhiều tác giả quan tâm Tại Braxin, Ken Old, Alffenas và các cộng sự từ năm 2000-
2003 đã thực hiện một chương trình chọn giống kháng bệnh cho các loài Bạch đàn
chống bệnh gỉ sắt Puccinia Các công trình nghiên cứu về lai giống cũng đã mang
lại nhiều kết quả tốt phục vụ TRSX (Assis, 2000), (Paramathma, Surendran, 2000), (FAO, 1979),…
1.1.2 Về kỹ thuật lâm sinh
Để thực hiện thành công việc tạo ra những sản phẩm cây rừng một cách nhanh nhất và rẻ nhất, bên cạnh công tác giống, các biện pháp kỹ thuật trong tạo
Trang 6rừng cũng rất được quan tâm nghiên cứu J.B Ball, Tj Wormald, L Russo (1995) [60] khi nghiên cứu tính bền vững của rừng trồng đã quan tâm đến cấu trúc tầng tán của rừng hỗn loài Matthew, J Kelty (1995) (dẫn theo [66]) đã nghiên cứu xây dựng mô hình rừng trồng hỗn loài giữa cây gỗ và cây họ đậu Đặc biệt, ở Malaysia người ta đã xây dựng rừng nhiều tầng hỗn loài trên 3 đối tượng: rừng
tự nhiên, rừng Keo tai tượng và rừng Tếch, đã sử dụng 23 loài cây có giá trị trồng theo băng 10m, 20m, 30m, 40m, và phương thức hỗn giao khác nhau Nhiều nơi người ta đã cải tạo những khu đất đã bị thoái hoá mạnh để trồng rừng mang lại hiệu quả cao
Việc tạo lập các loài cây hỗ trợ ban đầu cho cây trồng chính trước khi xây dựng các mô hình rừng trồng hỗn loài là rất cần thiết Nghiên cứu về lĩnh vực này điển hình có các tác giả JB Ball, TJ Wormald and L Russo (1995) [60] và Matti Leikola (1995) [63] đã nghiên cứu tạo lập mô hình rừng trồng hỗn loài giữa cây thân gỗ với cây họ đậu Kết quả cho thấy cây họ đậu có tác dụng hỗ trợ rất tốt cho cây trồng chính Nghiên cứu về phương thức, mật độ và các biện pháp kỹ thuật trồng rừng khác cũng đã được thực hiện ở nhiều nước trên thế giới, tạo cơ
sở khoa học cho phát triển TRSX trong thời gian qua
Vấn đề giải quyết đời sống trước mắt của người dân tham gia phát triển TRSX cũng được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu Theo Bradford R Phillips (2002) [57] ở Fuji người ta trồng một số loài tre, luồng trên đồi vừa để bảo vệ đất và phát triển kinh tế cho 119 hộ gia đình nghèo; ở Indonesia người ta đã áp dụng phương thức nông lâm kết hợp với cây Tếch, Đây là một trong những hướng đi rất phù hợp đối với vùng đồi núi ở một số nước khu vực Đông Nam Á, trong đó có nước ta [57] Azmy Hj Mohamed và Abd Razak Othman (2003) [56] cho biết ở Malaysia người ta đã sử dụng các loài tre, luồng để phục hồi những lâm phần đã thoái hoá rất có hiệu quả Tre, luồng có thể trồng ở những khu rừng sau khai thác trắng hoặc ở những khu vực bị khai thác quá mức
1.1.3 Về chính sách và thị trường
Hiệu quả của công tác TRSX chính là hiệu quả về kinh tế Sản phẩm rừng
Trang 7trồng phải có được thị trường, phục vụ được cả mục tiêu trước mắt cũng như lâu dài Đồng thời, phương thức canh tác phải phù hợp với kiến thức bản địa và dễ áp dụng đối với người dân Theo nghiên cứu của Ianuskơ K (1996) (dẫn theo [67]), vấn đề thị trường tiêu thụ sản phẩm cho các khu rừng trồng kinh tế có thể giải quyết được thông qua những kế hoạch xây dựng và phát triển các nhà máy chế biến lâm sản với quy mô khác nhau trên cơ sở áp dụng các công cụ chính sách “đòn bẩy” nhằm thu hút các thành phần kinh tế tham gia vào phát triển rừng Thom R Waggener (2000)(dẫn theo [48]), để phát triển TRSX đạt hiệu quả kinh tế cao, ngoài sự đầu tư tập trung về kinh tế và kỹ thuật còn phải chú ý nghiên cứu những vấn đề có liên quan đến chính sách và thị trường Nhận diê ̣n được 2 vấn đề then chốt, đóng vai trò quyết định đối với quá trình sản xuất này nên tại các nước phát triển như Mỹ, Nhật, Canada, nghiên cứu về kinh tế lâm nghiệp ở cấp quốc gia hiện nay được tập trung vào thị trường và khả năng cạnh tranh của sản phẩm Trên quan điểm “thị trường là chìa khoá của quá trình sản xuất”, các nhà kinh tế lâm nghiệp phân tích rằng chính thị trường sẽ trả lời câu hỏi sản xuất cái gì và sản xuất cho ai? Khi thị trường có nhu cầu và lợi ích của người sản xuất được đảm bảo thì sẽ thúc đẩy được sản xuất phát triển tạo ra sản phẩm hàng hoá
Theo quan điểm về sở hữu, Thomas Enters và Patrick B Durst (2004) đã dẫn
ra rằng rừng trồng có thể phân theo các hình thức sở hữu sau:
- Sở hữu công cộng hay sở hữu Nhà nước
- Sở hữu cá nhân: Rừng trồng thuộc hộ gia đình, cá nhân, hợp tác xã, doanh nghiệp và các nhà máy chế biến gỗ
- Sở hữu tập thể: Rừng trồng thuộc các tổ chức xã hội
Liu Jinlong (2004) [62] dựa trên việc phân tích và đánh giá tình hình thực tế trong những năm qua đã đưa ra một số công cụ chủ đạo khuyến khích tư nhân phát triển trồng rừng ở Trung Quốc là:
i) Rừng và đất rừng cần được tư nhân hoá;
ii) Ký hợp đồng hoặc cho tư nhân thuê đất lâm nghiệp của Nhà nước;
iii) Giảm thuế đánh vào các lâm sản;
Trang 8iv) Đầu tư tài chính cho tư nhân trồng rừng
v) Phát triển quan hệ hợp tác giữa các công ty với người dân để phát triển trồng rừng
Những công cụ mà tác giả đề xuất tương đối toàn diện từ quan điểm chung
về quản lý lâm nghiệp, vấn đề đất đai, thuế,… cho tới mối quan hệ giữa các công ty trồng rừng và người dân Đây có thể nói là những đòn bẩy thúc đẩy tư nhân tham gia trồng rừng ở Trung Quốc nói riêng trong những năm qua và là những định hướng quan trọng cho các nước đang phát triển nói chung, trong đó có Việt Nam
Các hình thức khuyến khích trồng rừng sản xuất cũng được nhiều tác giả trên thế giới quan tâm nghiên cứu như Narong Mahannop (2004) [64] ở Thái Lan, Ashadi and Nina Mindawati (2004) [55] ở Indonesia, Các tác giả cho biết hiện nay ở các nước Đông Nam Á, 3 vấn đề được xem là quan trọng, khuyến khích người dân tham gia trồng rừng là:
- Quy định rõ ràng về quyền sử dụng đất
- Quy định rõ đối tượng hưởng lợi rừng trồng
- Nâng cao hiểu biết và nắm bắt kỹ thuật của người dân
Đây cũng là những vấn đề mà các nước trong khu vực, trong đó có Việt Nam
đã và đang giải quyết để thu hút nhiều thành phần kinh tế tham gia TRSX, đặc biệt
là khơi thông nguồn vốn tư nhân, vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài cho trồng rừng
Vì vậy, quan điểm chung để phát triển TRSX có hiệu quả kinh tế là trồng rừng cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và xuất khẩu với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế và đa dạng hoá các hình thức sở hữu trong mỗi loại hình tổ chức sản xuất kinh doanh rừng trồng (Hoàng Liên Sơn, 2005)
1.2 Ở Việt Nam
Trong những năm qua, cùng với sự đổi mới của đất nước, sự quan tâm của Nhà nước, ngành lâm nghiệp nước ta đã có những bước chuyển biến đáng kể trên nhiều lĩnh vực Bên cạnh những đổi mới căn bản về công tác tổ chức quản lý, hoạt động nghiên cứu khoa học về xây dựng và phát triển TRSX cũng đã được quan tâm hơn Hàng loạt các chương trình, dự án về trồng rừng đã được thực hiện trong khắp
Trang 9cả nước, nhiều mô hình TRSX quy mô lớn đã được thiết lập, biện pháp kỹ thuật đã được đúc rút xây dựng thành quy trình, quy phạm, Liên quan đến đề tài này xin đề cập tới một số công trình nghiên cứu quan trọng sau đây
1.2.1 Về giống cây trồng rừng
Những nghiên cứu của Trung tâm Nghiên cứu giống cây rừng thuộc Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam, đặc biệt là của Lê Đình Khả (1996, 1999, 2000), Nguyễn Hoàng Nghĩa (2000-2001), Hà Huy Thịnh (1999, 2002) [24], [25], [26], [35], [36], đã nghiên cứu tuyển chọn các xuất xứ, giống Keo lai tự nhiên, Bạch đàn và lai giống nhân tạo giữa các loài keo, kết quả đã chọn và tạo
ra được các dòng lai có sức sinh trưởng gấp 1,5 - 2,5 lần các loài cây bố mẹ, năng suất rừng trồng ở một số vùng đạt từ 20 - 30 m3/ha/năm, có nơi đạt 40
m3/ha/năm
Nguyễn Việt Cường (2002, 2004) [9], [10] đã nghiên cứu khá toàn diện về
lai giống 3 loài Bạch đàn urophylla, Camaldulensis và Exserta từ việc nghiên
cứu cơ sở khoa học của lai giống như thời kỳ nở hoa, cất trữ hạt phấn, cho đến đánh giá, khảo nghiệm các tổ hợp lai Tác giả cho biết từ 9 tổ hợp lai và 5 dòng Bạch đàn lai đã chọn được 7 tổ hợp lai U29C3, U15E4, U15C1, E1U29, U29E1, U2U29 và U29E2 đạt năng năng suất từ 20 - 27 m3/ha/năm, gấp 1,5 - 2 lần giống sản xuất hiện nay; 3 dòng Bạch đàn lai 81, 85 và HH có năng suất vượt các giống PN2 và PN14 từ 23 - 84% Bên cạnh các loài Keo và Bạch đàn, các nghiên cứu cũng đã tập trung vào một số loài cây trồng rừng chủ lực khác như Thông Caribê, Thông nhựa, Tràm có năng suất cao,…
Từ năm 1986 đến nay tập đoàn cây trồng rừng đã phong phú và đa dạng hơn, phục vụ cho nhiều mục đích khác nhau, đặc biệt là việc tìm kiếm cây bản địa được ưu tiên hàng đầu phục vụ chương trình 327 [39]
Theo Lê Quang Liên (1991) [30] nghiên cứu di thực và kỹ thuật nhân giống Luồng Thanh Hoá đã được Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiê ̣m lâm sinh Cầu Hai thực hiện từ đầu những năm 1990 và hiện nay cây Luồng đã và đang được phát triển
Trang 10rộng rãi ở một số tỉnh miền núi phía Bắc như Phú Thọ, Hoà Bình,… và đã trở thành cây cung cấp nguyên liệu có giá trị, cây xoá đói giảm nghèo cho người dân miền núi
Với những kết quả nghiên cứu đạt được trong những năm qua nhiều giống cây trồng rừng đã được Bộ NN & PTNT công nhận là giống tiến bộ kỹ thuật Hiện nay, công tác nghiên cứu giống cây rừng đang phát triển mạnh cả về chiều rộng và chiều sâu Nhiều nghiên cứu đang hướng vào tuyển chọn các dòng, xuất xứ cây trồng kháng bệnh như công trình của Nguyễn Hoàng Nghĩa và Phạm Quang Thu, 2 dòng Bạch đàn SM16 và SM23 đã được Bộ NN & PTNT công nhận là giống tiến
bộ kỹ thuật theo Quyết định số 1526/QĐ/BNN-KHCN ngày 6/6/2005 Công nghệ nhân giống như hom, mô, ghép, chiết, cũng đã có những bước tiến đáng kể (Nguyễn Hoàng Nghĩa [33]) Hiện nay, ở hầu hết các vùng đều đã có vườn ươm công nghiệp với quy mô sản xuất hàng triệu cây một năm Những thành công trong công tác nghiên cứu giống cây trồng rừng đã tạo ra những điều kiện thuận lợi cho việc phát triển TRSX ở nước ta trong những năm qua Tuy nhiên, những giống cây mới, có năng suất cao mới chủ yếu được thử nghiệm và phát triển ở một số vùng như Đông Nam Bộ, Đông Hà, Quy Nhơn, Kon Tum, Phú Thọ, đối với vùng Tây Bắc nói chung các giống mới này chưa được khảo nghiê ̣m cu ̣ thể,… vì vâ ̣y, hầu hết các tỉnh Tây Bắc chưa đưa được các giống mới này vào sản xuất, đặc biệt là những
bộ giống mới vừa được Bộ NN & PTNT công nhận Từ thực tế đó cho thấy, viê ̣c đưa nhanh những giống mới và kỹ thuật vào sản xuất ở vùng Tây Bắc, trong đó có Sơn La là rất cần thiết nhằm nâng cao hiệu quả công tác trồng rừng, thu hút được nhiều tầng lớp nhân dân vào xây dựng rừng Đây cũng là mong muốn và chủ trương của Bộ NN & PTNT, Bộ KHCN trong những năm qua và hiện nay
1.2.2 Về kỹ thuật lâm sinh
Trước đây, các công trình nghiên cứu chủ yếu tập trung vào một số ít các loài cây như Bạch đàn liễu, Mỡ, Bồ đề, Thông nhựa, Thông đuôi ngựa, thì gần đây, cùng với những tiến bộ về nghiên cứu giống cây rừng, chúng ta đã tập trung nhiều vào các loài cây mọc nhanh cung cấp nguyên liệu như Keo lai, Keo tai tượng, Bạch
Trang 11đàn urophylla, Thông Caribê, Các công trình nghiên cứu quan trọng có thể kể đến
là:
- Hoàng Xuân Tý và các cộng sự (1996) [52] về nâng cao công nghệ thâm canh rừng trồng Bồ đề, Bạch đàn, Keo và sử dụng cây họ đậu để cải tạo đất và nâng cao sản lượng rừng
- Phạm Thế Dũng (1998) [11] về ứng dụng các kết quả nghiên cứu khoa học
để xây dựng mô hình trồng rừng năng suất cao làm nguyên liệu giấy, dăm
- Đặc biệt, gần đây Đỗ Đình Sâm và các cộng sự (2001) [44] đã thực hiện đề
tài độc lập cấp Nhà nước “Nghiên cứu những vấn đề kỹ thuật lâm sinh nhằm thực hiện có hiệu quả đề án 5 triệu ha rừng và hướng tới đóng cửa rừng tự nhiên”, trong
đó đã tập trung nghiên cứu năng suất rừng trồng Bạch đàn urophylla, Bạch đàn trắng camaldulensis và tereticornis, Keo mangium, Keo lai, tại vùng Trung tâm
Bắc Bộ, Đông Nam Bộ và Tây Nguyên Nghiên cứu này đã giải quyết khá nhiều các vấn đề về cơ sở khoa học cho thâm canh rừng trồng như làm đất, bón phân, phương thức và kỹ thuật trồng, kết quả đã góp phần nâng cao năng suất rừng trồng
- Phạm Văn Tuấn (2001) [51] đã xây dựng mô hình rừng trồng công nghiệp
phục vụ nguyên liệu bằng một số dòng Keo lai và Bạch đàn urophylla kết quả cho
thấy Keo lai sinh trưởng đạt năng suất từ 25 - 30 m3/ha/năm tại một số vùng (Bầu Bàng - Bình Dương, Sông Mây - Đồng Nai), Bạch đàn sinh trưởng đạt 18 - 20
m3/ha/năm ở nhiều vùng thí nghiệm (Vĩnh Phúc, Ba Vì, Quảng Trị, )
- Mai Đình Hồng (1997) [22], xây dựng mô hình trồng rừng thâm canh Bạch
đàn urophylla tại Thanh sơn - Phú Thọ kết quả cho thấy khả năng sinh trưởng của
cây rừng đạt 18- 25 m3/ha/năm
- Võ Đại Hải và các cộng sự (2003, 2005, 2006) [14], [17], [18] đã xây dựng các mô hình TRSX ở các tỉnh miền núi phía Bắc nói chung và tỉnh Sơn La nói riêng, kết quả xây dựng hoàn thiện các mô hình rừng trồng cung cấp gỗ lớn, gỗ nhỏ, lâm sản ngoài gỗ, bước đầu sinh trưởng tốt
Trang 12- Phạm Xuân Hoàn và các cộng sự (2004) [20] đã đưa ra các lý do trồng rừng trong vùng nhiệt đới, cơ sở khoa học và một số kết quả của trồng rừng thuần loài, trồng rừng công nghiệp, trồng rừng hỗn loài cây bản địa ở Việt Nam
- Nghiên cứu phương thức trồng rừng hỗn giao cũng được nhiều tác giả quan tâm như Phùng Ngọc Lan (1986) đã gây trồng rừng hỗn loài Thông đuôi ngựa, Keo
lá tràm và Bạch đàn trắng ở núi Luốt - Xuân Mai [29]
- Nguyễn Hữu Vĩnh, Phạm Thị Huyền, Nguyễn Quang Việt (1994) đã nghiên cứu cơ sở khoa học của phương thức trồng rừng hỗn loài Bạch đàn + Keo lá tràm [54]
Các loài cây bản địa trong thời gian qua cũng đã được chú ý nghiên cứu hơn như: Nguyễn Hoàng Nghĩa (1997) [34] đưa ra nghịch lý cơ bản về cây bản địa trong
đó nêu rõ những thuận lợi khó khăn khi đưa ra cây bản địa vào trồng rừng ở nước ta; Trần Quang Việt (2001) [53] nghiên cứu kỹ thuật trồng Hông; Nguyễn Xuân Quát và cộng tác (1989-1991) [40] đã trồng hỗn giao Bồ Đề + Dó (giấy),
Về gây trồng cây đặc sản cũng đã có nhiều nghiên cứu như: Lê Thanh Chiến (1999) [4] nghiên cứu thăm dò khả năng trồng Quế có năng suất tinh dầu cao từ lá; Đinh Văn Tự [49] nghiên cứu di thực và gây trồng Trúc sào về Hoà Bình; Nguyễn Hoàng Nghĩa (1995) [33] nghiên cứu chọn và nhân giống Sở có năng suất cao, Gần đây Trung tâm Nghiên cứu Lâm đặc sản đã triển khai khá đồng bộ các nội dung nghiên cứu về tình hình gây trồng, thị trường và xây dựng mô hình trồng cây đặc sản
ở vùng đệm Vườn Quốc gia Ba Bể (Bắc Kạn) và Kẻ Gỗ (Hà Tĩnh) Có thể nói nghiên cứu về vấn đề này cũng khá nhiều, kỹ thuật gây trồng đã được đúc rút nhưng khâu chuyển giao và dịch vụ kỹ thuật còn yếu, đặc biệt là vấn đề thị trường
Như vâ ̣y, có thể nói về lĩnh vực này chúng ta cũng đã đúc rút được nhiều kinh nghiệm qua các kết quả nghiên cứu, nhờ đó hàng loạt các quy trình, quy phạm và hướng dẫn kỹ thuật trồng đã được ban hành và áp dụng trồng rừng thành công ở nhiều nơi, góp phần đáng kể vào công tác phát triển TRSX ở nước ta trong thời gian qua
Trang 131.2.3 Về phân chia lập đi ̣a và quy hoạch vùng trồng
Trong những năm gần đây công tác quy hoạch và phân chia lập địa cho trồng rừng nguyên liệu cũng đã được quan tâm nghiên cứu và chú trọng hơn Đáng chú ý nhất là các công trình của Viện Điều tra quy hoạch rừng (1999) về phân chia các loại rừng phòng hộ, kinh tế và sản xuất trên cơ sở ứng dụng Hệ thống thông tin địa
lý (GIS) và thiết lập các hàm số tương quan; công trình của Ngô Đình Quế, Đỗ Đình Sâm và cộng sự (2001) [42] đã nghiên cứu xác định tiêu chuẩn phân chia lập địa vi mô cho rừng trồng công nghiệp tại một số vùng sinh thái ở Việt Nam, trong
đó có vùng Trung tâm Bắc Bộ dựa trên 4 yếu tố:
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ủy ban nhân dân tỉnh Sơn La đã ban hành một số chính sách nhằm khuyến khích phát triển rừng trồng như: Quyết định số 62/2006/QĐ-BNN [2]; Quyết định số 2945/QĐ-BNN-KL [3]; Quyết định
Trang 14số 2602/QĐ-UBND [8], …các chính sách trên đã có tác động mạnh tới phát triển sản xuất lâm nghiệp, đặc biệt là TRSX
Cù ng với đổi mới chiến lược phát triển lâm nghiê ̣p của Chính phủ, nghiên cứu về kinh tế và chính sách phát triển TRSX ở Việt Nam trong thời gian gần đây cũng đã được quan tâm nhiều hơn, song cũng chỉ tập trung vào một số vấn đề như: phân tích và đánh giá hiệu quả kinh tế của cây trồng, sử dụng đất lâm nghiệp và một
số nghiên cứu nhỏ về thị trường Các công trình quan trọng có thể kể đến là:
- Đỗ Doãn Triệu (1997) [47] đã nghiên cứu xây dựng một số luận cứ khoa học và thực tiễn góp phần hoàn thiện các chính sách khuyến khích đầu tư nước ngoài vào trồng rừng nguyên liệu công nghiệp
- Võ Nguyên Huân (1997) [23] đã đánh giá hiệu quả giao đất giao rừng ở Thanh Hoá, nghiên cứu các loại hình chủ RSX và khuyến nghị các giải pháp chủ yếu nhằm phát huy nội lực của chủ rừng trong quản lý và sử dụng bền vững Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra những khó khăn và hạn chế của chính sách giao đất khoán rừng và đề xuất các khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả giao đất lâm nghiệp và khoán bảo vệ rừng
- Vũ Long (2000, 2004) [31], [32] đã đánh giá hiệu quả sử dụng đất sau khi giao và khoán đất lâm nghiệp ở các tỉnh miền núi phía Bắc; Đỗ Đình Sâm, Lê Quang Trung (2003) [43] đã đánh giá hiệu quả trồng rừng công nghiệp ở Việt Nam
- Phạm Xuân Phương (2003, 2004) [37], [38] đã rà soát các chính sách liên quan đến rừng như chính sách về đất đai, đầu tư tín dụng và chỉ rõ các chủ trương, chính sách là rất kịp thời rất, có ý nghĩa nhưng trong quá trình triển khai thực hiện còn gặp nhiều bất cập Tác giả cũng định hướng hoàn thiện các chính sách để có quy hoạch tổng thể cho vùng trồng rừng nguyên liệu, chủ rừng có thể vay vốn trồng rừng đảm bảo có lợi nhuận, đảm bảo rừng được trồng với tập đoàn giống tốt
- Nguyễn Xuân Quát và cộng sự (2003) [41] đã đánh giá thực trạng trồng rừng nguyên liệu phục vụ công nghiệp chế biến gỗ và lâm sản trong thời gian qua;
Lê Quang Trung và cộng sự (2000) [48] đã nghiên cứu và phân tích các chính sách khuyến khích trồng rừng Thông nhựa đã đưa ra 10 khuyến nghị mang tính định
Trang 15hướng để phát triển loại rừng này
Nghiên cứu thị trường lâm sản cũng được nhiều tác giả quan tâm vì đây là vấn đề có quan hệ mật thiết tới trồng rừng, có thể điểm qua một số công trình nghiên cứu như sau: Nguyễn Văn Tuấn (2004) [50] đã nghiên cứu hiện trạng và xu hướng phát triển thị trường gỗ nguyên liệu giấy vùng Trung tâm Bắc Bộ; Ngô Văn Hải (2004) [13] đã nghiên cứu về yếu tố đầu vào và đầu ra trong sản xuất nông lâm sản hàng hoá ở miền núi phía Bắc, tác giả đã phân tích những lợi thế, bất lợi và hiệu quả của sản xuất nông sản hàng hoá ở miền núi; Nguyễn Văn Dưỡng (2004) [12] nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến định giá sản phẩm gỗ và LSNG tại Hoành
Bồ và Ba Chẽ - Quảng Ninh; Nguyễn Tôn Quyền, Cấn Tuấn Anh, Nguyễn Thị Liên Hương, Đinh Lê Hải Hà (2006) [1] đưa ra kết quả nghiên cứu về thương mại và tiếp thị lâm sản
Đă ̣c biê ̣t, Võ Đại Hải (2004, 2005) [15], [16] khi tiến hành nghiên cứu về thị trường lâm sản rừng trồng các tỉnh miền núi phía Bắc đã tổng hợp nên các kênh tiêu thụ gỗ rừng trồng cũng như lâm sản ngoài gỗ Tác giả cũng chỉ ra rằng để phát triển thị trường lâm sản rừng trồng cần phát triển công nghệ chế biến lâm sản cũng như hình thành được phương thức liên doanh, liên kết giữa người dân và các công ty lâm nghiệp
Từ những kết quả nghiên cứu trên nhiều lĩnh vực nói trên đã tạo ra được nhiều các hệ thống biện pháp kỹ thật gây trồng nhiều loài cây rừng trên nhiều vùng sinh thái Tuy nhiên, phát triển TRSX có hiệu quả và bền vững là mô ̣t vấn đề hết sức phức tạp, vừa phải đáp ứng được các yêu cầu kỹ thuâ ̣t, vừa phải đáp ứng được
các vấn đề về chính sách và thi ̣ trường cũng như các yếu tố kinh tế - xã hô ̣i Có như vậy mới giải quyết được yêu cầu hiệu quả và bền vững, đồng thời cũng là nguyện vọng của người dân tham gia TRSX
Trang 16và có quy mô lớn trên tất cả các lĩnh vực từ khâu kỹ thuật cho tới kinh tế - chính sách,… nhiều nghiên cứu về chọn và tạo giống, kỹ thuật trồng, sinh trưởng và sản lượng rừng đã được tiến hành đồng bộ tạo cơ sở khoa học cho phát triển TRSX ở các nước, đặc biệt với quy mô công nghiệp, góp phần ổn định sản xuất, nâng cao đời sống người dân và phát triển kinh tế - xã hội miền núi từ nhiều năm nay
- Ở nước ta nghiên cứu phát triển TRSX mới thực sự được quan tâm chú ý trong những năm gần đây, nhất là từ khi chúng ta thực hiện chủ trương đóng cửa rừng tự nhiên, phát triển các nhà máy giấy và các khu công nghiệp lớn Các công trình nghiên cứu trong những năm qua cũng khá toàn diện về các lĩnh vực, từ nghiên cứu chọn, tạo và nhân giống cây trồng rừng cho tới các biện pháp kỹ thuật gây trồng và chính sách, thị trường thúc đẩy phát triển TRSX, nhờ những kết quả nghiên cứu này mà công tác trồng rừng sản xuất ở nước ta đã có những bước tiến đáng kể Tuy nhiên, đối với tỉnh Sơn La nói chung và huyện Thuận Châu nói riêng, TRSX mới được phát triển trong một vài năm trở lại đây, trong đó loài cây chủ yếu
là Thông mã vĩ, Cao su, Lát hoa, Tre Bát độ, Trẩu, Tếch, Mây nếp; thực tiễn sản xuất đã và đang đă ̣t ra rất nhiều cơ hô ̣i và thách thức đối với huyện, trong bối cảnh thay đổi tập quán canh tác, cơ cấu cây trồng lâm nghiệp tại địa phương Trong bối
cảnh đó, phát triển TRSX trở nên quan tro ̣ng hơn bao giờ hết, giúp cho huyện đứng
vững trên cơ chế thi ̣ trường trong bối cảnh mới Xuất phát từ những yêu cầu đó, đề
tài “Nghiên cứu các giải pháp phát triển trồng rừng sản xuất ở huyện Thuận Châu -
tỉnh Sơn La” đặt ra là hết sức cần thiết, vừa có ý nghĩa khoa ho ̣c và thực tiễn phát
triển lâm nghiệp hiê ̣n nay
Trang 17Chương 2:
MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu nghiên cứu
2.1.1 Mục tiêu chung
Phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế trồng rừng sản xuất nhằm góp phần
ổn định đời sống của người dân, thu hút cộng đồng các dân tộc địa phương vào công tác quản lý, bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng ở huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La
2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu chính của đề tài là rừng sản xuất
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài được giới hạn như sau:
+ Về địa bàn nghiên cứu: Giới hạn trong địa bàn của huyện Thuận Châu + Về loài cây: Các loài cây TRSX phổ biến ở huyện Thuận Châu hiện nay
+ Về nội dung nghiên cứu:
+ Đánh giá sinh trưởng, hiệu quả các mô hình rừng trồng sản xuất chỉ tập trung vào những mô hình rừng trồng sản xuất phổ biến nhất hoặc có tiềm năng phát triển kinh tế - xã hội ở huyện Thuận Châu, bao gồm: i) Mô hình trồng Thông mã vĩ
thuần loài, ii) Mô hình trồng Bạch đàn urophylla thuần loài, iii) Mô hình trồng Trẩu
thuần loài, iv) Mô hình trồng Tre Bát độ, v) Mô hình trồng Cao su
Trang 18+ Mô hình trồng Cao su mới được đưa ra gây trồng thử nghiệm ở miền Bắc
và cho tới nay tại huyện Thuận Châu mới đang ở tuổi 2, do vậy đề tài chỉ tiến hành đánh giá sinh trưởng và tỷ lệ sống của mô hình mà không tiến hành đánh giá hiệu quả kinh tế của mô hình
+ Hiệu quả xã hội của các mô hình rừng trồng đề tài giới hạn trong việc đánh giá tạo thêm công ăn việc làm, nâng cao nhận thức của người dân, cung cấp chất đốt,…
+ Hiệu quả môi trường của các mô hình rừng trồng đề tài giới hạn trong việc đánh giá khả năng hoàn trả lại cho đất vật rơi rụng, khả năng hấp thụ các bon và đánh giá gián tiếp thông qua sự thay đổi của độ tàn che rừng trồng
+ Đánh giá tác động của các chính sách tới phát triển trồng rừng sản xuất của huyện giới hạn trong việc phân tích và đánh giá các chính sách chủ yếu về đất đai, giao đất giao rừng, khoán bảo vệ rừng, tín dụng, khai thác và tiêu thụ lâm sản
2.3 Nội dung nghiên cứu
Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu đề ra, đề tài đặt ra các nội dung sau:
- Tìm hiểu quá trình phát triển trồng rừng sản xuất ở huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Quan điểm và cách tiếp cận của đề tài
- Trồng rừng sản xuất là một quá trình phát triển, vì vậy quan điểm lịch sử sẽ
Trang 19được quán triệt trong nghiên cứu này Đề tài không chỉ chú ý đến hiện trạng rừng trồng sản xuất hiện nay mà sẽ xem xét và đánh giá nó trong quá trình phát triển từ quá khứ, hiện tại và dự đoán trong tương lai
- Trồng rừng sản xuất có sự tham gia của rất nhiều đối tượng như: Doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, các Ban quản lý rừng, các hộ gia đình,… vì vậy trong quá trình nghiên cứu cách tiếp cận có sự tham gia sẽ được áp dụng
- Để phát triển rừng trồng sản xuất ở huyện Thuận Châu, quan điểm và cách
tiếp cận của đề tài là tổng hợp và đa chuyên môn, nghĩa là đề tài không chỉ chú ý
đến khâu kỹ thuật (giống, kỹ thuật gây trồng, chăm sóc, nuôi dưỡng rừng, khai thác, chế biến) mà còn phải chú ý tới cả chính sách và thị trường tiêu thụ sản phẩm Đây
là những nhân tố có tác động rất lớn tới phát triển TRSX ở Thuận Châu
- Do huyện Thuận Châu có diện tích khá rộng, loài cây trồng rừng sản xuất khác nhau như Thông Mã vĩ, Bạch đàn, Trẩu, Tre Bát độ, Cao su,… nên phương
hướng giải quyết vấn đề sẽ tiếp cận theo từng loài cây cụ thể
- Do thời gian nghiên cứu của đề tài ngắn nên cách tiếp cận chính sẽ là kế
thừa các kết quả nghiên cứu đã có, đề tài chỉ nghiên cứu bổ sung những vấn đề cần
thiết có liên quan
Các bước tiến hành của đề tài được sơ đồ hoá như sau:
Trang 20Hình 2.1 Sơ đồ các bước tiến hành đề tài
2.4.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể
2.4.2.1 Phương pháp kế thừa
Trong quá trình thực hiện đề tài các số liệu sau đây đã được kế thừa:
- Các số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu
- Các số liệu về diện tích các loại rừng do Bộ NN & PTNT công bố trong các năm qua
Thu thập và phân tích các tài liệu đã
Đánh giá ảnh hưởng của thị trường
Điều tra khảo sát
sơ bộ
Phân tích và xử
lý các số liệu thu được
Đề xuất các giải pháp
Trang 21- Các văn bản pháp quy liên quan đến chính sách phát triển trồng rừng sản xuất, các định mức kinh tế - kỹ thuật, quy trình và quy phạm kỹ thuật trồng rừng,…
- Các tài liệu khoa học, các kết quả nghiên cứu có liên quan
2.4.2.2 Phương pháp tìm hiểu quá trình phát triển trồng rừng sản xuất ở huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La
Áp dụng phương pháp Đánh giá nông thôn có sự tham gia (Participatory Rural Appraisal - PRA), trong đó công cụ chủ yếu được sử dụng là phỏng vấn người cung cấp tin chính: Các cán bộ quản lý; cán bộ kỹ thuật; những người dân trực tiếp tham gia sản xuất lâm nghiệp, nội dung phỏng vấn tập trung vào các vấn đề:
+ Các dự án đầu tư vào hoạt động trồng rừng sản xuất, bao gồm vốn đầu tư, mục tiêu đầu tư, địa điểm thực hiện, thời gian và kết quả,
+ Loài cây trồng rừng chủ yếu, các biện pháp kỹ thuật được áp dụng
+ Người dân trực tiếp sản xuất (30 hộ dân) và công nhân cao su
Trên cơ sở đó, chọn địa điểm khảo sát và đánh giá ngoài thực địa
2.4.2.3 Phương pháp tổng kết và đánh giá các mô hình trồng rừng sản xuất
đã có ở huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La
- Làm việc với các cơ quan chuyên môn của huyện để nắm được tình hình chung và thu thập các số liệu đã có về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, tình hình
Trang 22phát triển rừng trồng sản xuất, chính sách, thị trường và những khó khăn, tồn tại cần giải quyết
- Phương pháp điều tra, khảo sát được tiến hành theo các loài cây trồng rừng sản xuất chủ yếu trên cơ sở kết quả làm việc với chính quyền địa phương và các cơ quan chuyên môn Quá trình điều tra được tiến hành theo 2 bước:
+) Bước 1: Điều tra khảo sát tổng thể để nắm được các đặc điểm chung trên
cơ sở đó tiến hành phân loại đối tượng và lựa chọn các điểm điều tra chi tiết tiếp theo
+) Bước 2: Trên cơ sở kết quả thu được ở bước 1 tiến hành điều tra, đánh giá
chi tiết các mô hình Nội dung điều tra tập trung vào các vấn đề chủ yếu sau đây:
+ Các mô hình rừng trồng sản xuất đã có
+ Các biện pháp kỹ thuật đã áp dụng, các loài, giống cây trồng đã sử dụng + Các chính sách phát triển trồng rừng sản xuất đã áp dụng trên địa bàn + Các hình thức và biện pháp tổ chức, quản lý trồng rừng sản xuất,
Dựa trên tình hình thực tế ta ̣i huyện Thuận Châu, các mô hình rừng trồng sản xuất phổ biến sẽ được lựa chọn để đánh giá gồm:
+ Mô hình trồng Cao su (tuổi 2)
+ Mô hình trồng tre Bát độ (tuổi 5)
+ Mô hình trồng Trẩu thuần loài (tuổi 7)
+ Mô hình trồng Bạch đàn urophylla thuần loài (tuổi 8)
+ Mô hình trồng Thông mã vĩ thuần loài (tuổi 7)
Trên cơ sở các mô hình đã lựa chọn, tiến hành thu thập số liệu sinh trưởng bằng cách lập 15 ô tiêu chuẩn diện tích 1.000m2 (25m x 40m), mỗi mô hình tiến hành lập 3 OTC ở cấp tuổi cao nhất, ở các vị trí khác nhau (chân, sườn, đỉnh) Các chỉ tiêu cần thu thập gồm: Đường kính ngang ngực (D1,3), chiều cao vút ngọn (Hvn), đường kính tán (Dt),
+ Xác định năng suất măng tre Bát độ bằng cách thu hoạch ngẫu nhiên toàn
bộ số măng của 5 khóm ở mức sinh trưởng trung bình trong OTC và sau đó tính trung bình cho toàn bộ lâm phần
Trang 23+ Xác định sản lượng quả Trẩu bằng cách thu hoạch ngẫu nhiên toàn bộ số quả của 5 cây ở mức sinh trưởng trung bình trong OTC và tính trung bình cho toàn
bộ lâm phần
* Đánh giá sinh trưởng:
- Điều tra tỷ lệ sống và đánh giá chất lượng cây rừng phân ra 3 cấp:
+ Cấp A: Cây sinh trưởng tốt, thân thẳng đẹp, tròn đầy, tán cân đối, không cong queo sâu bệnh
+ Cấp B: Cây sinh trưởng bình thường
+ Cấp C: Cây sinh trưởng chậm, sức sống kém, cong queo, sâu bệnh, cụt ngọn
- Sinh trưởng đường kính ngang ngực (D1.3), đo bằng thước kẹp kính có độ chính xác đến 0,1cm
- Sinh trưởng chiều cao vút ngọn (Hvn), dùng sào kết hợp với thước Blumeleiss có độ chính xác đến 0,1m
- Sinh trưởng đường kính tán (Dt) dùng thước dây có độ chính xác đến 0,1dm
- Các số liệu sinh trưởng rừng sẽ được tính toán và xử lý trên các phần mềm máy vi tính thông dụng
- Hệ số biến động được tính theo công thức:
+ Xtb: là trị số trung bình
* Hiệu quả về kinh tế: Sử dụng phương pháp phân tích kinh tế để đánh giá
hiệu quả của việc trồng rừng sản xuất và các mô hình
Phương pháp CBA được vận dụng phân tích hiệu quả kinh tế các mô hình rừng trồng sản xuất Các số liệu được tập hợp và tính bằng các hàm kinh tế trong
Trang 24chương trình EXCEL Các chỉ tiêu kinh tế sau đây được vận dụng tính trong phân tích CBA
+ Giá trị lợi nhuận ròng (NPV - Net Present Value):
NPV là hiệu số giữa giá trị thu nhập và chi phí thực hiện hàng năm của các
mô hình rừng trồng sản xuất sau khi đã chiết khấu để quy về thời điểm hiện tại
0 ( 1 ) (2-2)
Trong đó: - NPV: giá trị hiện tại của lợi nhuận ròng (đồng)
- Bt: Giá trị thu nhập ở năm t (đồng)
- Ct: Giá trị chi phí ở năm t (đồng)
- t: Chu kỳ kinh doanh rừng (năm)
+ Tỷ suất thu nhập và chi phí (BCR - Benefits to cost Ratio):
BCR là tỷ số sinh lãi thực tế, nó phản ánh mức độ đầu tư và cho biết mức thu nhập trên một đơn vị chi phí sản xuất
0
0
)1(
)1(
=
CPV
BPV
(2-3)
Trong đó: - BCR: Là tỷ xuất giữa lợi nhuận và chi phí (đ/đ)
- BPV: Giá trị hiện tại của thu nhập (đ)
- CPV: Giá trị hiện tại của chi phí (đ)
Trang 25Dùng BCR để đánh giá hiệu quả đầu tư cho các mô hình rừng trồng sản xuất,
mô hình nào có BCR1 thì có hiệu quả kinh tế BCR càng lớn thì hiệu quả kinh tế càng cao và ngược lại, BCR = 0 mô hình đầu tư hòa vốn
+ Tỷ lệ thu hồi vốn nội bộ (IRR - Internal Rate of Return):
IRR là chỉ tiêu đánh giá khả năng thu hồi vốn IRR là tỷ lệ chiết khấu khi tỷ
Ct Bt
0 (1 ) = 0 thì r = IRR (2-4) IRR được tính theo (%), được dùng để đánh giá hiệu quả kinh tế, mô hình nào có IRR càng lớn thì hiệu quả kinh tế càng cao
Tỷ lệ chiết khấu dùng cho các công thức tính là 8%/năm
* Hiệu quả về xã hội thông qua: Tạo ra số lượng công ăn, việc làm; giải
quyết vấn đề chất đốt; nâng cao nhận thức của người dân trong phát triển TRSX; hình thành các cơ sở chế biến
* Hiệu quả về môi trường thông qua (kế thừa kết quả nghiên cứu):
- Cải thiện về điều kiện đất đai
- Nâng cao độ che phủ của rừng
- Khả năng hấp thụ carbon của rừng trồng
2.4.2.4 Phương pháp nghiên cứu ảnh hưởng của các chính sách tới phát triển trồng rừng sản xuất ở huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La
Được chia thành 2 bước:
- Bước 1: Tổng luận và phân tích các chính sách hiện có liên quan đến phát
triển trồng rừng sản xuất tại huyện Thuận Châu
- Bước 2: Trên cơ sở phân tích các chính sách, tiến hành khảo sát thực địa để
xem xét những tác động tích cực và những mặt còn hạn chế đối với phát triển trồng rừng sản xuất ở địa phương, đặc biệt chú ý đến các ý kiến đề xuất của cơ sở Nội dung nghiên cứu này được tiến hành đồng thời với nội dung tổng kết và đánh giá các mô hình rừng trồng sản xuất Các chính sách quan trọng được phân tích đánh giá gồm:
Trang 26- Chính sách về quản lý rừng
- Chính sách đất đai
- Chính sách thuế, đầu tư và tín dụng
- Chính sách khai thác, vận chuyển và thị trường lâm sản
- Các chính sách khác có liên quan như: các dự án quốc tế và trong nước, chính sách của tỉnh,…
2.4.2.5 Phương pháp nghiên cứu ảnh hưởng của thị trường tới phát triển trồng rừng sản xuất ở huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La
- Phân tích các kênh tiêu thụ sản phẩm rừng trồng sản xuất thông qua điều tra
khảo sát các đối tượng có liên quan như các chủ rừng, tư thương, xưởng chế biến,… Các vấn đề được quan tâm là giá cả, nguồn nguyên liệu, công nghệ chế biến, cơ sở
hạ tầng
+ Đề tài đã khảo sát 10 cơ sở chế biến lâm sản với quy mô xưởng doanh nghiệp, tư nhân trên địa bàn huyện Thuận Châu và các vùng phụ cận (sử dụng nguồn nguyên liệu từ rừng trồng sản xuất của huyện)
2.4.3 Tổng hợp các số liệu nghiên cứu phục vụ đề tài
Các số liệu nghiên cứu phục vụ cho đề tài được tổng hợp ở bảng dưới đây:
Bảng 2.1: Tổng hợp số liệu nghiên cứu phục vụ đề tài Nội dung nghiên
Người 3 BQLR Thuận Quỳnh, Hạt kiểm
lâm Thuận Châu, BQLR Côpia
Trang 272.2 Cán bộ kỹ
thuật
Người 6 BQLR Thuận Quỳnh (2 người),
Hạt kiểm lâm Thuận Châu (2 người), BQLR Côpia (1 người), Phòng nông nghiệp huyện (1 người)
2.3 Người dân
trồng rừng và công
nhân trồng Cao su
Người 30
3 Lập OTC OTC 15 Diện tích OTC 1000 m2
3.1 Thông mã vĩ OTC 3 Tuổi 7
3.2 Bạch đàn Uro OTC 3 Tuổi 8
3.3 Tre Bát độ OTC 3 Tuổi 5
3.4 Trẩu OTC 3 Tuổi 7
3.5 Cao su OTC 3 Tuổi 2
Trang 29Chương 3:
ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU
3.1 Điều kiện tự nhiên
3.1.1 Vị trí địa lý
Huyện Thuận Châu nằm ở phía Tây Bắc của tỉnh Sơn La, theo quốc lộ 6 cách thành phố Sơn La 34 Km về phía Tây Bắc và cách huyện Tuần Giáo - tỉnh Điện Biên 52 km về phía Đông Nam, nằm trong toạ độ địa lý:
21012' - 210 41' vĩ độ Bắc
1030 20' - 1030 59' kinh độ Đông
Giáp ranh của huyện như sau:
- Phía Đông: Giáp thành phố Sơn La - tỉnh Sơn La
- Phía Tây: Giáp huyện Tuần Giáo - tỉnh Điện Biên
- Phía Nam: Giáp huyện Sông Mã - tỉnh Sơn La
- Phía Bắc: Giáp huyện Quỳnh Nhai - tỉnh Sơn La
Là một huyện nằm cuối tỉnh Sơn La (có trên 80 km đường địa giới tiếp giáp
với tỉnh bạn) tuyến đường quốc lộ 6 được nâng cấp sẽ tạo điều kiện cho Thuận
Châu những cơ hội giao lưu, trao đổi hàng hoá với các huyện, thị khác trong tỉnh và vùng Tây Bắc Nhìn chung, Thuận Châu có vị trí quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Sơn La
3.1.2 Địa hình, địa mạo
Thuận Châu có địa hình đặc trưng của các tỉnh miền núi phía Bắc, dốc và chia cắt mạnh, điển hình có các dãy núi chạy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam có
độ cao trung bình 700 - 750m so với mặt nước biển, dãy núi cao nhất là dãy Côpia
có đỉnh cao nhất 1.821m chia địa hình của Thuận Châu làm 2 phần: Phần phía Tây thuộc lưu vực sông Mã, phần phía Đông thuộc lưu vực sông Đà Hướng dốc của địa hình thấp dần theo hướng từ Tây sang Đông, thấp nhất là khu vực giáp sông Đà với
độ cao trung bình 140m so với mặt nước biển, xen kẽ giữa những dãy núi là những thung lũng, phiêng bãi, ruộng nước tương đối bằng phẳng có diện tích không lớn
Trang 30Nhìn chung, địa hình huyện Thuận Châu khá phức tạp, bị chia cắt mạnh, phần lớn
là địa hình cao và dốc, diện tích đất bằng chiếm tỷ lệ nhỏ và phân tán, tạo ra nhiều tiểu vùng cho phép phát triển nhiều loại hình sản xuất nông lâm nghiệp khác nhau Tuy nhiên, với kiểu địa trên việc xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng gặp rất nhiều khó khăn, tốn kém, ảnh hưởng đến quá trình phát triển kinh tế - xã hội của huyện
3.1.3 Đất đai
Diện tích tự nhiên của toàn huyện là 153.589,5 ha Cơ cấu sử dụng đất của huyện được thể hiện qua bảng 3.1
Bảng 3.1: Hiện trạng sử dụng đất của huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La
(Nguồn: Phòng Tài nguyên huyện Thuận Châu, năm 2010)
Huyện Thuận Châu có đất đai tương đối thuần nhất do phát triển trên cùng một loại đá mẹ, đất Feralit phát triển trên đá mẹ phiến thạch, sa thạch, đá vôi, tầng đất trung bình nhưng vẫn còn mang tính chất của đất rừng rất thích hợp để các loài cây sinh trưởng phát triển
Đất đai gồm các loại chủ yếu:
Trang 31+ Đất mùn vàng xám núi cao phát triển trên đá mẹ Mắcma axit có độ cao trên
1500 m so với mặt nước biển
+ Đất Feralit màu vàng xẫm phát triển trên đá sét và đá biến chất ở độ cao từ 700-1700 m so với mặt nước biển Độ dày tầng đất từ 50-100 cm, độ dốc khoảng từ 30-350
+ Đất Feralit vàng nâu phát triển trên núi đá vôi cũng ở độ cao từ 700-1700
m so với mặt nước biển
+ Đất Feralit vàng nhạt phát triển trên đá sét và đá biến chất phân bố tập trung trên vùng núi đất, độ dày tầng đất từ 50-100 cm
+ Đất Feralit vàng sáng phát triển trên nhóm đá cát thuộc vùng đồi và núi thấp, độ dày tầng đất từ 50-100 cm
+ Đất Feralit màu vàng xám phát triển trên đá Mắcma axit, độ dày tầng đất từ 50-100 cm
3.1.4 Khí hậu
Thuận Châu nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa vùng núi, với hai mùa rõ rệt: Mùa mưa bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 9, mùa khô từ tháng 10 năm trước đến tháng 3 năm sau Do địa hình bị chia cắt mạnh đã tạo cho huyện Thuận Châu có 3 tiểu vùng khí hậu tương đối khác nhau
+ Nhiệt độ: Nhiệt độ trung bình trong năm là 21,40C, nhiệt độ tối cao trung bình là 30,60C vào tháng 5, nhiệt độ tối thấp 110C vào tháng 12
+ Nắng: Tổng số giờ nắng trung bình trong năm là 2052 giờ/năm, trung bình
Trang 32nghiệp, cây lương thực và thích hợp cho phát triển chăn nuôi đại gia súc, gia cầm Tuy nhiên, yếu tố bất lợi do khí hậu đem lại cũng có những ảnh hưởng nhất định đến sản xuất và đời sống sinh hoạt của nhân dân
3.1.5 Thủy văn
Thuận Châu có 3 suối chủ yếu là suối Muội, suối Nậm Tỵ, suối Hét cùng các chi lưu phụ tạo nên một mạng lưới khá dày nhưng phân bố không đều, mặt nước thấp hơn so với mặt đất canh tác và các điểm dân cư, bởi vậy để sử dụng có hiệu quả nguồn nước cần đầu tư các đập hồ chứa, ống dẫn trạm bơm,… trong các con suối Bên cạnh đó, Thuận Châu là một huyện có nguồn nước ngầm khá phong phú, hầu hết các phiềng bãi lớn thiếu nước đều có trữ lượng nước ngầm khá nếu được đầu tư khai thác sẽ phục vụ đắc lực cho sản xuất và đời sống
Trang 333.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
3.2.1 Dân số, dân tộc và lao động
Dân số toàn huyện tính đến hết năm 2009 có 26.200 hộ với 165.050 nhân khẩu, trong đó có 63.740 người trong độ tuổi lao động Tỷ lệ tăng dân số bình quân là 2%/năm, mật độ dân số trung bình xấp xỉ 89 người/km2 Được thể hiện qua biểu sau:
Bảng 3.2: Đặc điểm dân số, dân tộc và lao động của huyện Thuận Châu
(Nguồn: Phòng Thống kê huyện Thuận Châu, năm 2010)
Trên địa bàn huyện có 8 dân tộc anh em sinh sống, nhân dân trong huyện có truyền thống lao động cần cù, năng động và sáng tạo, tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, xong trình độ dân trí còn thấp (có 25% dân số trong độ tuổi từ 15 - 35 còn mù chữ) Tập quán canh tác còn lạc hậu quảng canh mang nặng tính tự cấp, tự túc Tốc độ tăng dân số tuy đã giảm xong vẫn ở mức cao
là 2%/năm, đặc biệt một số xã vùng cao, vùng xa tốc độ tăng dân số còn ở mức 3%/năm
3.2.2 Văn hoá - xã hội
- Văn hóa: Là một huyện có nhiều dân tộc sinh sống nên Thuận Châu có sắc thái văn hoá khá phong phú, việc bảo tồn phát huy bản sắc văn hoá dân tộc được quan tâm gìn giữ, tinh thần gắn bó keo sơn giữa các dân tộc không ngừng được củng cố và nâng cao Tuy nhiên, một số hủ tục lạc hậu trên các lĩnh vực ma chay,
Trang 34cưới xin, cờ bạc, nghiện hút, truyền đạo trái phép,…có lúc, có nơi còn có chiều hướng gia tăng cần có biện pháp đấu tranh kiên quyết để loại trừ
- Về giáo dục: Toàn huyện có 99 đơn vị trường học gồm: 28 trường Mầm non; 35 trường Tiểu học; 2 trường Phổ thông trung học; 2 trường liên cấp 2+3: (Cò
Mạ, Bình Thuận); 28 trường Trung học cơ sở; 2 trường Phổ thông cơ sở; 1 trường Phổ thông dân tộc Nội trú, 1 Trung tâm giáo dục thường xuyên Năm học 2009 -
2010 có tổng số 1.452 lớp với 28.754 học sinh
- Về y tế: Thuận Châu có 1 bệnh viện đa khoa huyện với quy mô 110 giường
bệnh và 1 phân viện đặt tại trung tâm cụm xã Cò Mạ với 10 giường bệnh; 100% số
xã, thị trấn có trạm y tế, trong đó có 5 trạm y tế xã đạt chuẩn quốc gia, công tác chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân dần được cải thiện, các bệnh như sốt rét, biếu cổ, phong, lao,…cơ bản được đẩy lùi, chương trình tiêm chủng mở rộng, dân số kế hoạch hoá gia đình được làm tốt góp phần bảo vệ sức khoẻ cộng đồng và giảm tốc
độ tăng dân số Tuy nhiên, việc thực hiện công tác khám, chữa bệnh còn nhiều khó khăn, chất lượng còn hạn chế
2.2.3 Cơ sở hạ tầng
- Hệ thống giao thông: Hệ thống giao thông của huyện trong những năm qua
đã từng bước được nâng cấp, mở rộng, với tổng chiều dài là 590 Km bao gồm đường quốc lộ, tỉnh lộ, đường huyện và đường giao thông nông thôn Đến nay 100% số xã đã có đường ô tô đến trung tâm xã, trên toàn huyện phần nào đã đáp ứng nhu cầu đi lại và giao lưu hàng hoá của nhân dân Tuy nhiên, việc xây dựng phát triển các tuyến giao thông gặp rất nhiều khó khăn do đặc thù địa hình miền núi
- Thuỷ lợi: Đến nay toàn huyện có 4 đập xây ở các xã (Chiềng Ly, Chiềng Pấc, Tông Lạnh, Thôm Mòn) 6 đập đất ở xã (Tông Cọ, Chiềng La, Muổi Nọi, Noong Lay ), 19 phai rọ thép và 179 phai tạm thời Các công trình thuỷ lợi của huyện phần lớn vẫn là tạm thời, chưa được xây dựng đồng bộ, quy mô nhỏ, hầu hết
đã xuống cấp, khả năng giữ nước trong mùa khô rất khó khăn, chưa đáp ứng được nhu cầu cho sản xuất và tưới ẩm cho cây trồng đặc biệt là các loại cây hoa màu, cây công nghiệp và cây ăn quả
Trang 35- Hệ thống điện: hệ thống điện lưới quốc gia mới đến 25/29 xã, thị trấn, một phần do hệ thống đường dây 0,4KV và hệ thống trạm biến áp chưa được đầu tư
- Bưu chính viễn thông: huyện đã có 02 tổng đài tự động với dung lượng 1.070 số, có 3 bưu cục được xây dựng, Thị trấn và các xã đã được phủ sóng điện thoại di động Hệ thống phát thanh, truyền hình đã được đầu tư nâng cấp và xây dựng mới, đến nay tất cả các xã đều được phủ sóng truyền thanh, 29/29 xã được phủ sóng truyền hình
3.3 Nhận xét và đánh giá chung
* Thuận lợi:
- Huyện Thuận Châu là một trong những huyện khó khăn của tỉnh Sơn La nói riêng và Việt Nam nói chung nên luôn nhận được sự quan tâm, đầu tư đặc biệt của Nhà nước thông qua các chương trình hỗ trợ 134 và 135 cũng như các chương trình hỗ trợ khác
- Nhìn chung, cơ cấu kinh tế của huyện đang có xu hướng chuyển đổi tích cực, mở rộng quan hệ sản xuất với các địa phương lân cận Lực lượng lao động khá dồi dào, người dân có truyền thống sản xuất nông, lâm nghiệp và quan tâm, gắn bó với rừng
- Tiềm lực về tài nguyên rừng, thành phần loài tái sinh và tổ thành rừng đa dạng, phong phú là nguồn lợi lớn cho người dân địa phương Diện tích đất lâm nghiệp lớn, phù hợp với nhiều loài cây lâm nghiệp Đây là một tiềm năng rất lớn để phát triển trồng rừng sản xuất, mang lại hiệu quả kinh tế cao
- Chương trình trồng cây Cao su đang nhận được sự quan tâm, đầu tư lớn của Nhà nước, các cấp chính quyền địa phương và các doanh nghiệp Đây là loài cây mới đưa vào cơ cấu cây trồng phát triển kinh tế tại địa phương, nhận được sự hưởng ứng cao của nhân dân, trong tương lai gần sẽ là cây chủ lực phát triển kinh tế của huyện
- Huyện có 26/29 xã nằm trong diện chính sách được thí điểm triển khai chi trả dịch vụ môi trường rừng theo Quyết định số 380/QĐ-TTg, ngày 10 tháng 4 năm
Trang 362008 của Thủ tướng Chính phủ Đây là cơ hội tốt để huyện bảo vệ và phát triển vốn rừng nói chung và rừng trồng sản xuất nói riêng
* Khó khăn:
- Huyện Thuận Châu mặt bằng trình độ dân trí nhìn chung còn thấp và không đồng đều gây khó khăn cho công tác chuyển giao các tiến bộ khoa học kỹ thuật nói chung và công tác phát triển rừng trồng nói riêng
- Dân số chủ yếu là người dân tộc thiểu số, đa bản sắc Tuy nhiên, trên địa bàn huyện vẫn còn nhiều phong tục lạc hậu, tình hình chính trị cũng bị ảnh hưởng nhiều
- Do đời sống khó khăn, do sức ép của thị trường nên hiện tượng khai thác lâm sản, tàn phá tài nguyên rừng nhất là rừng phòng hộ, rừng tự nhiên hiện có khó bảo tồn nguyên vẹn, hiện tượng khai thác trái phép tài nguyên rừng vẫn thường xuyên xảy ra, lạm lớn vào vốn rừng
- Do địa hình bị chia cắt mạnh, rất phức tạp nên khó khăn cho việc sản xuất nông, lâm nghiệp Đất đai có độ dốc cao nên công tác trồng, chăm sóc và bảo vệ rừng cũng còn gặp rất nhiều khó khăn
Với những thuận lợi và khó khăn trên huyện Thuận Châu đang đứng trước những cơ hội mới đối với phát triển TRSX, đặc biệt là Chương trình trồng cây Cao
su Việc đổi mới về cơ cấu cây trồng trong điều kiện mới vừa là cơ hội, vừa là thách thức trong quá trình phát triển của huyện, trong đó TRSX sẽ là mô ̣t hướng đi chủ
đa ̣o của huyện trong tiến trình quản lý rừng bền vững Vì vâ ̣y, nghiên cứu phát triển TRSX ở đây là rất cần thiết và có ý nghĩa lớn cho việc phát triển kinh tế - xã hội, môi trường bền vững của địa phương
Trang 37Chương 4:
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 4.1 Quá trình phát triển trồng rừng sản xuất ở huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn
La
4.1.1 Các giai đoạn phát triển rừng trồng và rừng trồng sản xuất
Công tác trồng rừng nói chung và trồng rừng sản xuất nói riêng trên địa bàn Thuận Châu đã được các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương của huyện quan tâm, đầu tư, phát triển từ những năm 70 của thế kỷ XX, về cơ bản có thể chia thành một số giai đoạn phát triển trồng rừng sản xuất sau đây:
Bảng 4.1: Quá trình phát triển rừng trồng sản xuất ở huyện Thuận Châu Giai
Công tác trồng rừng sản xuất được
thực hiện theo kế hoạch Nhà nước
giao
Trẩu, Thông
mã vĩ, Lát hoa, Trám đen và Tre mạy hốc
Ngân sách Nhà nước cấp trước Chương trình
327
1995 -
2002
Thực hiện Chương trình 327, phủ
xanh đất trống đồi núi trọc được
444,9 ha và bắt đầu đi vào trồng
- Chương trình 327
- Vốn vay Ngân hàng phát triển châu Á (ADB)
mạnh, với nhiều chương trình, dự
án đầu tư; nhiều diện tích được
thâm canh; đa dạng hóa loài cây
trồng; giai đoạn này trồng được
1.839,5 ha, trong đó có 548 ha rừng
Thông mã
vĩ, Thông caribê, Luồng, Xoan ta, Bạch đàn,
- Vốn Bộ Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn
- Vốn dự án 661
- Vốn đề án Hỗ trợ người dân vùng cao trồng rừng sản xuất trên
Trang 38- Nguồn vốn tư nhân Qua số liệu bảng 4.1 ta thấy:
- Giai đoạn trước 1995: Trong giai đoạn này công tác trồng rừng sản xuất
được thực hiện theo kế hoạch Nhà nước giao, quy mô trồng rừng nhìn chung nhỏ, chủ yếu do Trạm lâm nghiệp huyện tổ chức thực hiện tại các xã Chiềng Pha, Noong Lay, Chiềng La, Nậm Lầu, với một số loài cây trồng chủ yếu là: Trẩu, Thông mã vĩ, Lát hoa, Trám đen và Tre mạy hốc
- Giai đoạn 1995- 2002:
+ Thời kỳ đầu của giai đoạn này từ 1995 - 2000: Chủ yếu thực hiện Chương trình 327, phủ xanh được 444,9 ha đất trống đồi núi trọc Phương thức trồng thuần
loài, với các loài cây trồng như: Thông Mã vĩ, Bạch đàn, Lát hoa Trong giai đoạn
này mục tiêu trồng rừng sản xuất chưa rõ ràng, còn lẫn lộn giữa mục tiêu sản xuất
và phòng hộ của rừng trồng
+ Từ 2000 - 2002: Công tác trồng rừng được thực hiện theo Dự án do Công
ty chế biến lâm đặc sản Sơn La làm chủ đầu tư từ nguồn vốn vay của Ngân hàng châu Á (ADB) Mục tiêu chính của dự án là tạo ra vùng nguyên liệu quả cây Trẩu
để chiết suất tinh dầu, cải thiện đời sống của nhân dân vùng dự án, cải tạo và bảo vệ môi trường sinh thái Dự án đã trồng được 570 ha loài cây Trẩu tại các xã Chiềng
Ly, Chiềng Pha, Phỏng Lập, Thị trấn Thuận Châu, Tông Lạnh Tuy nhiên, sau 3 năm đầu tư trồng mới, do không được tiếp tục vay vốn đã tạm dừng tiến độ trồng thêm diện tích rừng
- Giai đoạn 2003 đến nay:
Đây là giai đoạn ghi nhận sự phát triển khá mạnh của TRSX với sự quan tâm, đầu tư nhiều hơn từ Nhà nước cũng như các tổ chức khác nhau, cơ cấu cây trồng đa dạng hơn Trong giai đoạn này huyện Thuận Châu đã trồng được 1.839,5
Trang 39ha RSX, trong đó có 548 ha cây Cao su, được thực hiện qua các chương trình, dự án sau:
+ Dự án do Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Sơn La làm chủ đầu tư
từ vốn của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thực hiện từ năm 2003 - 2005 Mục tiêu của dự án là trồng cây Tre Bát độ để lấy măng, nâng cao đời sống bền vững của nhân dân vùng dự án, Dự án đã trồng được 600 ha Tre Bát độ thuần loài tại các xã Chiềng Ly, Noong Lay, Chiềng Pấc, Bó Mười
+ Đề tài nghiên cứu phát triển trồng rừng sản xuất có hiệu quả kinh tế và bền vững vùng miền núi phía Bắc 2002 - 2005, do Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam chủ trì từ vốn đầu tư nghiên cứu khoa học công nghệ của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Mục tiêu của đề tài là xây dựng mô hình trình diễn để người dân tham quan học tập, phát động phong trào trồng rừng sản xuất tại địa phương; chuyển giao tiến bộ kỹ thuật trồng rừng một số loài cây chủ yếu, trong đó có các loài cây lâm sản ngoài gỗ và cây đa tác dụng; góp phần nâng cao nhận thức và thu nhập của người dân thông qua các hoạt động trồng rừng, đặc biệt là qua xây dựng
mô hình trồng rừng nông lâm kết hợp và cung cấp lâm sản ngoài gỗ Đề tài đã trồng được 6 ha RSX Thông mã vĩ và Thông Caribê, 2 ha Luồng tại xã Chiềng Bôm
+ Từ 2007 - 2010, sau khi có chính sách của Nhà nước theo Quyết định số 147/2007/QĐ-TTg, ngày 10/9/2007 của Thủ tướng Chính phủ về phát triển rừng trồng sản xuất giai đoạn 2007 - 2015 (thuộc Chương trình 661), Dự án 661 của huyện Thuận Châu đã tổ chức cho nhân dân các xã vùng ven quốc lộ 6 trồng được
450 ha, với một số loài cây trồng chủ yếu như: Xoan ta, Tre Bát độ, Bạch đàn, Tếch, Lát hoa, Keo tai tượng Kết quả chi tiết được thể hiện qua bảng 4.2
Trang 40Bảng 4.2: Kết quả trồng rừng sản xuất giai đoạn 2007 - 2010 thuộc dự án 661
huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La
Thuần loài
(Nguồn: Ủy ban nhân dân huyện Thuận Châu, 2010)
+ Chương trình hỗ trợ gạo để trồng rừng sản xuất trên đất canh tác nương rẫy
từ 2008 - 2010, được thực hiện theo đề án Hỗ trợ người dân vùng cao canh tác nông