Trong đó quản lý bảo vệ rừng có sự tham gia của cộng đồng dân cư thôn, bản là một trong những hình thức quản lý bảo vệ rừng đang được sự quan tâm, chú ý của cơ quan quản lý lâm nghiệp từ
Trang 1-
Lò Thế Thi
NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ
BẢO VỆ RỪNG TRÊN CƠ SỞ CỘNG ĐỒNG Ở HUYỆN THUẬN CHÂU - TỈNH SƠN LA
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
Hà Nội - 2010
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP -
Lò Thế Thi
NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ
BẢO VỆ RỪNG TRÊN CƠ SỞ CỘNG ĐỒNG Ở HUYỆN THUẬN CHÂU - TỈNH SƠN LA
Chuyên ngành: Lâm học
Mã số: 60.62.60
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS Nguyễn Thị Bảo Lâm
Hà Nội - 2010
Trang 3ĐẶT VẤN ĐỀ
Rừng là một tài sản vô cùng quý giá đối với mỗi quốc gia, mỗi dân tộc trên toàn cầu, vì nó không chỉ cung cấp những giá trị lâm sản thông thường cho con người mà nó còn cho hành tinh của chúng ta sự sống
Ngành lâm nghiệp nước ta đang trong thời kỳ chuyển biến từ Lâm nghiệp truyền thống sang lâm nghiệp xã hội, trong thời gian qua đã tạo ra nhiều nhân tố tích cực mới, đặc biệt là sự hình thành đa dạng hoá các hình thức quản lý và phương thức tiếp cận mới về quản lý tài nguyên rừng Trong
đó quản lý bảo vệ rừng có sự tham gia của cộng đồng dân cư thôn, bản là một trong những hình thức quản lý bảo vệ rừng đang được sự quan tâm, chú ý của
cơ quan quản lý lâm nghiệp từ cấp Trung ương đến chính quyền địa phương các cấp Cộng đồng dân cư thôn, bản, những người hiện đang sinh sống ở vùng rừng và gần rừng, đời sống kinh tế, xã hội của họ có quan hệ trực tiếp và gắn bó với rừng, đây là một nhân tố tích cực và ngày càng có vị trí quan trọng trong hệ thống quản lý rừng cộng đồng Phát huy vai trò của cộng đồng dân
cư thôn, bản để quản lý bảo vệ rừng là vấn đề vừa mang ý nghĩa phát huy truyền thống dân tộc, vừa tạo ra một cách quản lý rừng có hiệu quả hơn, bền vững hơn, phù hợp với những xu thế phát triển lâm nghiệp trên thế giới, đặc biệt là các nước đang phát triển
Huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La là một huyện miền núi nằm phía Tây Bắc của tỉnh, có tổng diện tích tự nhiên 154.126 ha, trong đó diện tích rừng và đất rừng quy hoạch cho lâm nghiệp là 68.862 ha, bao gồm đất có rừng: 56.252
ha, chiếm 36,62% diện tích tự nhiên Trong những năm qua, diện tích rừng của huyện Thuận Châu không những có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội của huyện mà còn có tác dụng phòng hộ, bảo vệ môi trường sinh thái, là khu vực đầu nguồn của sông Đà và sông Mã, có tác dụng điều
Trang 4hoà nguồn nước cho hai công trình thuỷ điện lớn nhất Việt Nam hiện nay là thuỷ điện Hoà Bình và thuỷ điện Sơn La đang xây dựng
Thuận Châu là một huyện vùng cao của tỉnh Sơn La, đời sống nhân dân còn gặp nhiều khó khăn, kinh tế chủ yếu dựa vào sản xuất nông – lâm nghiệp, nhìn chung thu nhập của người dân trên địa bàn huyện còn thấp, trình độ dân trí thấp, sản xuất nông – lâm nghiệp lạc hậu, với nhiều thành phần dân tộc, bên cạnh
đó huyện là địa điểm đón dân tái định cư thuỷ điện Sơn La, nên công tác quản lý bảo vệ rừng gặp rất nhiều khó khăn và phức tạp Hiện nay trên địa bàn huyện quản
lý bảo vệ rừng chủ yếu dựa vào Hạt Kiểm lâm Thuận Châu và Khu Bảo tồn thiên nhiên Côpia, trong đó Hạt Kiểm lâm huyện đóng vai trò quan trọng
Trong những năm qua mặc dù đã được các cấp, ngành địa phương quan tâm trong công tác quản lý bảo vệ rừng, tuy nhiên tình trạng chặt phá rừng làm nương, khai thác rừng, cháy rừng vẫn còn xảy ra trên địa bàn làm xuy giảm cả về diện tích và chất lượng tài nguyên rừng, làm cho khả năng phòng
hộ và cung cấp lâm sản phục vụ cho việc phát triển kinh tế - xã hội bị hạn chế Một trong những nguyên nhân cơ bản làm cho diện tích, chất lượng rừng bị suy giảm là công tác QLBVR chỉ coi trọng biện pháp hành chính pháp chế mà chưa lôi cuốn được người dân thuộc cộng đồng tham gia QLBVR
Xuất phát từ thực tế trên, trong khuôn khổ luận văn Cao học, chúng tôi
chọn đề tài “Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp quản lý bảo vệ rừng trên
cơ sở cộng đồng ở huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La” nhằm góp phần bảo vệ
hiệu quả diện tích rừng trên địa bàn và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân trên địa bàn huyện Thuận Châu
Trang 5Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1.1 Nhận thức về QLBVR trên cơ sở cộng đồng
1.1.1 Khái niệm về QLBVR trên cơ sở cộng đồng
Khái niệm cộng đồng trong những năm gần đây khá quen thuộc, đã được sử dụng nhiều trong các công trình nghiên cứu, và dần đi đến thống nhất
về ngôn ngữ
Khái niệm cộng đồng thường được hiểu là nhóm người sống trên cùng một khu vực và thường cùng nhau chia sẻ các mục tiêu chung, các luật lệ xã hội chung, có thể có quan hệ gia đình với nhau
“Cộng đồng bao gồm những người sống trong một xã hội có những đặc điểm giống nhau và có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau” (N.H Quân, 2000)
Theo Phạm Xuân Phương (2001) tại Hội thảo Quốc gia trong khuân khổ chính sách hỗ trợ quản lý rừng cộng đồng ở Việt Nam, được tổ chức tại
Hà Nội thì “Cộng đồng bao gồm toàn thể những người sống thành một xã hội,
có những điểm tương đồng về mặt văn hoá truyền thống, có mối quan hệ sản xuất và đời sống gắn bó với nhau và thường có ranh giới không gian trong một làng bản
Theo Giáo Sư Lê Quý An, thì cộng đồng được định nghĩa là nhóm người sống cùng một địa phương hoặc dưới sự quản lý của cùng một chính quyền địa phương
Tại Điều 3 Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004, cộng đồng dân cư thôn bản là toàn bộ các hộ gia đình, cá nhân sống trong cùng một thôn, bản,
ấp, buôn, phum, sóc hoặc đơn vị tương đương
Những khái niệm trên có thể được tóm lược lại là cộng đồng có thể là cộng đồng dân cư thuộc làng, bản, cộng đồng dòng tộc, dòng họ, các nhóm người những đặc điểm và lợi ích chung và cùng phục vụ cho một ý tưởng
Trang 6chung… ở nghiên cứu của đề tài này, cộng đồng được hiểu theo nghĩa là cộng đồng thôn, xóm, làng, bản (kể cả các tổ chức đoàn thể trong cộng đồng)
Quản lý bảo vệ rừng trên cơ sở cộng đồng là QLBVR mà phát huy được nội lực của cộng đồng cho các hoạt động chống chặt, phá, lấn chiếm rừng, đất rừng, khai thác lâm sản, săn, bắt, bẫy động vật rừng trái phép, phòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR) Phòng trừ sinh vật gây hại rừng, bảo vệ hệ sinh thái rừng và thực hiện theo quy định của pháp luật về quản lý lâm sản Những giải pháp QLBVR trên cơ sở cộng đồng luôn chứa đựng những sắc thái của luật tục, phong tục, tập quán, ý thức dân tộc, nhận thức, kiến thức của người dân, đặc điểm quan hệ gia đình, họ hàng, các tổ chức đoàn thể, làng, bản phù hợp với chính sách, pháp luật của Nhà nước
1.1.2 Khái niệm về cộng đồng tham gia quản lý bảo vệ rừng
Cộng đồng tham gia quản lý rừng cũng có thể thay thế bằng một cụm
từ chung nhất là Lâm nghiệp cộng đồng (LNCĐ)
LNCĐ không chỉ giới hạn trong việc trồng cây rừng trang trại, khu nhà
ở hay ven đường mà còn cả tập quán du canh, việc sử dụng quản lý rừng tự nhiên và việc cung cấp các sản phẩm cây trồng từ nhiều nguồn khác nhau
LNCĐ cũng đề cập đến sự xác định nhu cầu của địa phương, tăng cường quản lý sử dụng cây cối cải thiện mức sống của người dân theo một phương thức bền vững, đặc biệt là cho người nghèo (FAO,2000)
Ở Việt Nam, hiện nay có những quan điểm khác nhau về LNCĐ và chưa có một định nghĩa chính thức nào được công nhận Nhưng tại Hội thảo Quốc gia về chia sẻ kinh nghiệm thực hiện các mô hình quản lý rừng cộng đồng cấp thôn bản tại Việt Nam tại Ninh Bình năm 2007 đã thống nhất rằng ở Việt Nam có hai hình thức quản lý rừng cộng đồng phù hợp với định nghĩa của FAO như sau:
Trang 7- Thứ nhất là quản lý rừng của cộng đồng: Đây là hình thức mà mọi thành viên của cộng đồng tham gia quản lý và ăn chia sản phẩm hoặc hưởng lợi từ những khu rừng thuộc quyền quản lý, sử dụng, sở hữu của cộng đồng hoặc quyền sử dụng chung của cộng đồng
Rừng của cộng đồng là rừng của làng bản đã được quản lý theo truyền thống lâu đời (rừng thiêng, rừng ma, rừng mó nước…quản lý theo các luật tục truyền thống với tinh thần tự nguyện cao); rừng trồng của các hợp tác xã, rừng tự nhiên được giao cho các hợp tác xã trước đây, nay hợp tác xã giao lại cho các xã, hoặc các thôn quản lý; rừng được chính quyền địa phương giao cho cộng đồng với tính chất thí điểm trong thời gian gần đây
- Thứ hai là quản lý rừng của các chủ rừng khác (quản lý rừng dựa vào cộng đồng): Đây là hình thức cộng đồng tham gia quản lý các khu rừng không thuộc quyền quản lý, sử dụng, sở hữu chung của họ mà thuộc quyền quản lý,
sử dụng của các thành phần kinh tế khác nhưng có quan hệ trực tiếp đến đời sống, đến việc làm, thu hoạch sản phẩm, thu nhập hay các lợi ích khác của
cộng đồng (thuỷ lợi nhỏ, nước sinh hoạt ) Hình thức này có thể chia thành
hai đối tượng:
+ Đối tượng thứ nhất rừng của hộ gia đình, cá nhân là thành viên trong cộng đồng Cộng đồng tham gia quản lý với tính chất hợp tác, hỗ trợ lẫn nhau, chia xẻ lợi ích cùng nhau trên cơ sở tự nguyện (tạo thêm sức mạnh để bảo vệ rừng, hỗ trợ hoặc đổi công cho nhau trong các hoạt động lâm nghiệp )
+ Đối tượng thứ hai, Rừng thuộc quyền quản lý, sử dụng, sở hữu của các
tổ chức nhà nước (các ban quản lý rừng phòng hộ, đặc dụng, các lâm trường, công ty lâm nghiệp nhà nước, các trạm trại…) và các tổ chức tư nhân khác Cộng đồng tham gia các hoạt động lâm nghiệp như bảo vệ, khoanh nuôi xúc tiến tái sinh, phục hồi rừng, trồng rừng với tư cách là người làm thuê thông qua các hợp đồng khoán và hưởng lợi theo các cam kết trong hợp đồng
Trang 8Từ sự phân tích trên đây cho thấy, LNCĐ, QLRCĐ là những khái niệm khác nhau Thuật ngữ QLRCĐ được sử dụng với ý nghĩa hẹp hơn để chỉ CĐ quản lý những khu rừng của một cộng đồng dân cư, còn nói đến LNCĐ hay cộng đồng tham gia quản lý rừng chính là diễn tả hàng loạt các hoạt động gắn người dân trong cộng đồng dân cư thôn bản với rừng, cây, các sản phẩm của rừng và việc phân chia lợi ích từ rừng Hay nói cách khác, LNCĐ là một hình thức quản lý, bảo vệ, sử dụng và phát triển rừng do cộng đồng dân cư thôn bản thực hiện bao gồm cả rừng của cộng đồng và rừng của các thành phần kinh tế khác
Với cách hiểu như vậy, nên chấp nhận LNCĐ bao gồm cả quản lý rừng cộng đồng (cộng đồng quản lý rừng của cộng đồng) và quản lý bảo vệ rừng dựa vào cộng đồng (cộng đồng quản lý bảo vệ rừng của các chủ rừng khác) Khái niệm này vừa phù hợp với định nghĩa của FAO vừa phát huy được nhiều hơn
sự đóng góp của cộng đồng vào quản lý, bảo vệ, xây dựng và phát triển rừng
1.1.3 Vai trò của Chính sách Nhà nước đối với QLBVR trên cơ sở cộng đồng
QLBVR trên cơ sở cộng đồng được xây dựng dựa trên cơ sở phong tục, tập quán, kiến thức và thể chế bản địa của người dân địa phương Tuy nhiên,
có những phong tục tập quán phù hợp với yêu cầu quản lý bền vững tài nguyên rừng, nhưng cũng có những phong tục tập quán ngược lại với yêu cầu quản lý bền vững tài nguyên rừng Do đó, quản lý BVR trên cơ sở cộng đồng phải hướng và phát huy được những phong tục tập quán có lợi và giảm dần những phong tục tập quán cản trở đến quản lý bền vững tài nguyên rừng
QLBVR trên cơ sở cộng đồng sẽ không thể thực hiện được nếu thiếu
sự hậu thuẫn của các chính sách và thể chế Nhà nước Các tổ chức cộng đồng không phải là cơ quan quyền lực, không có công cụ chuyên chính riêng Trong nhiều trường hợp, tổ chức cộng đồng không giải quyết được một cách
Trang 9triệt để những vấn đề phức tạp của quản lý BVR Khi đó các tổ chức cộng đồng phải hợp tác với các cơ quan chính quyền để giải quyết những vấn đề vượt khỏi quyền hạn của mình Vì vậy, các qui định của cộng đồng phải được xây dựng trên cơ sở tính đến sự hỗ trợ của các chính sách và thể chế hiện thời của Nhà nước, không trái với các qui định của Nhà nước
1.1.4 Chiến lược và chính sách QLBVR trên cơ sở cộng đồng
Chiến lược và chính sách quản lý, bảo vệ rừng trên cơ sở cộng đồng của các nước trong khu vực đều được tiến hành theo những hướng sau:
- Những giải pháp chủ yếu để tăng cường quyền quản lý BVR trên cơ sở cộng đồng: Phát huy những luật tục, phong tục tập quán và trách nhiệm của toàn cộng đồng đối với công tác QLBVR, xây dựng qui ước, hương ước QLBVR của thôn, bản, qui định rõ quyền lợi và trách nhiệm của mọi người dân trong cộng đồng
- Kết hợp những giải pháp về chính sách hỗ trợ về kinh tế - xã hội để khuyến khích người dân tham gia, trong đó chú trọng phát triển đồng bộ cả giải pháp về đào tạo, tập huấn trong việc QLBVR trên cơ sở cộng đồng
- Các hình thức QLBVR: Tuần tra BVR, PCCCR trên địa bàn phải được thực hiện theo phương pháp cùng tham gia ở tất cả các giai đoạn tuần tra bảo vệ, xây dựng lực lượng, kế hoạch bảo vệ Đây được xem là phương pháp cho phép phát huy đầy đủ nhất những nội lực của cộng đối với công tác QLBVR
1.1.5 Quan điểm về QLBVR trên cơ sở cộng đồng
Bảo vệ có hiệu quả tài nguyên rừng chính là để nâng cao chất lượng cuộc sống cho các cộng đồng dân cư thôn, bản Công tác QLBVR phải được tiến hành đồng thời với sự phát triển kinh tế - xã hội và góp phần nâng cao thu nhập cho cộng đồng dân cư thôn, bản trên địa bàn Mấu chốt của vấn đề
Trang 10QLBVR trên cơ sở cộng đồng vừa là bảo vệ được tài nguyên rừng vừa giải quyết tốt vấn đề nâng cao chất lượng cuộc sống cho cộng đồng
Bảo vệ tài nguyên rừng nếu không có sự tham gia của cộng đồng dân
cư thôn, bản thì sẽ không thành công Vì vậy, đề xuất các giải pháp để nâng cao trách nhiệm và quyền hưởng lợi của cộng đồng dân cư thôn, bản trong QLBVR là rất cần thiết Để công tác QLBVR đạt hiệu quả cao thì phải có chính sách khuyến khích, thu hút sự tham gia tích cực của cộng đồng dân cư thôn, bản
1.2 Tình hình nghiên cứu và thực hiện trên thế giới
Trong giai đoạn hiện nay QLBVR trên cơ sở cộng đồng đang được xem như là một giải pháp hữu hiệu để bảo vệ hiệu quả vốn rừng hiện còn, góp phần giải quyết tình trạng diện tích, chất lượng rừng ngày một giảm Đã có không ít những mô hình quản lý BVR trên cơ sở cộng đồng thành công ở Thái Lan, Malaysia, Trung Quốc, ở Nê Pal, Indonesia, Nhật Bản Đây sẽ là những bài học quý báu cho quá trình xây dựng những giải pháp quản lý bền vững tài nguyên rừng trên cơ sở cộng đồng ở Việt Nam
Quản lý bảo vệ rừng trên cơ sở cộng đồng ở một số nước:
Ở Nhật Bản
Nhật Bản hiện có 25,21 triệu ha rừng, trong đó: rừng cộng đồng chiếm 10%, rừng tư nhân chiếm 60%, rừng Quốc gia chiếm 30% Từ đam mê và quan tâm đến văn hoá, người Nhật đã học được cách cải tiến việc sử dụng bền vững
và bảo tồn nguồn tài nguyên rừng rất lớn Vì vậy, thực tế các mục tiêu chính trong luật pháp rừng và quản lý tài nguyên ở Nhật Bản đều được công bố rõ ràng, để đẩy mạnh và phát triển bền vững dựa trên cơ sở lợi ích cộng đồng
ngay từ những năm 1800 [4].
Ở Thái Lan
Trang 11Thái Lan là một nước được các nước trong khu vực và trên thế giới đánh giá cao về những thành tựu trong công tác xây dựng các chương trình BVR trên cơ sở cộng đồng [12]
Ở đây, sử dụng đất đai được thông qua chương trình làng rừng, hộ nông dân được giao đất nông nghiệp, đất thổ cư, đất để trồng rừng Người nông dân được Chính phủ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và có trách nhiệm quản lý đất, không được chặt hoặc sử dụng cây rừng Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hợp pháp đã làm gia tăng mức độ an toàn cho người được nhận đất Do vậy đã ảnh hưởng tích cực đến việc khuyến khích đầu tư
và tăng sức sản xuất của đất
Ở Indonesia
Năm 1991, chương trình phát triển lâm nghiệp được hình thành, năm
1995 đổi tên thành chương trình phát triển cộng đồng làng lâm nghiệp do Bộ lâm nghiệp quản lý Chương trình này yêu cầu các công ty khai thác gỗ phải góp phần phát triển nông thôn và BVR với 3 mục tiêu:
- Cải thiện điều kiện sống cho người dân sống ở trong và ngoài khu vực đang khai thác gỗ
- Nâng cao chất lượng và năng suất của rừng
Trang 12lâu đời của họ Ấn Độ đã coi cộng đồng như một đối tác quản lý những vùng đất rừng của Chính phủ Chính phủ cho phép các cộng đồng được sử dụng tất
cả các sản phẩm không phải là gỗ, còn việc phân chia quyền lợi cây gỗ lại có
sự thay đổi nhiều giữa các Bang Tại Ấn Độ, người ta nghiên cứu một số giải pháp nhằm tạo ra hoặc tăng thêm các tổ chức địa phương có hiệu lực lâu dài cho quản lý rừng cộng đồng [16]
Ở NêPal
Năm 1957, Nhà nước thực hiện quốc hữu hoá rừng, Nhà nước tập trung quản lý, BVR và đất rừng, người dân ít quan tâm đến BVR của Nhà nước, kết quả là trong vòng 20 năm hàng triệu ha rừng bị tàn phá
Từ năm 1978, Chính phủ đã giao quyền quản lý và BVR cho người dân địa phương để thực hiện chính sách phát triển lâm nghiệp cộng đồng Tuy nhiên, sau một thời gian người ta nhận thấy các đơn vị hành chính này không phù hợp với việc quản lý và BVR do các khu rừng nằm phân tán, không theo đơn vị hành chính và người dân có nhu cầu, sở thích sử dụng sản phẩm rừng khác nhau
Năm 1989, Nhà nước thực hiện chính sách lâm nghiệp mới đó là chia rừng và đất rừng làm hai loại: rừng tư nhân và rừng Nhà nước cùng với hai loại sở hữu rừng tương ứng là sở hữu tư nhân và sở hữu rừng Nhà nước Trong quyền sở hữu của Nhà nước lại được chia theo các quyền sử dụng khác nhau như: rừng cộng đồng theo nhóm người sử dụng, rừng hợp đồng với các
tổ chức, rừng tín ngưỡng, rừng phòng hộ Nhà nước công nhận quyền pháp nhân và quyền sử dụng cho các nhóm sử dụng
Năm 1993, Nêpal phát triển chính sách lâm nghiệp mới, nhấn mạnh đến các nhóm sử dụng rừng, cho phép gia tăng quyền hạn và hỗ trợ cho các nhóm
sử dụng rừng thay chức năng của các phòng lâm nghiệp huyện từ chức năng
Trang 13cảnh sát và chỉ đạo sang chức năng hỗ trợ và thúc đẩy cho các cộng đồng, từ
đó rừng được quản lý và bảo vệ có hiệu quả hơn
Năm 2000 QLBVR trên cơ sở cộng đồng được thực hiện tại các vùng đồi có diện tích trên 500 nghìn ha rừng suy thoái được giao cho các nhóm sử dụng rừng Hoạt động này đã thu hút sự tham gia của khoảng 800.000 hộ (4 triệu người) Trọng tâm của chính sách lâm nghiệp cộng đồng tại Nepal là bảo
vệ rừng cộng đồng và cho phép người dân tiếp cận tài nguyên rừng phục vụ nhu cầu sinh hoạt cơ bản Lâm nghiệp cộng đồng tại Nepal dựa vào các nhóm
sử dụng rừng, trong đó mỗi nhóm được giao quản lý một diện tích rừng nhất định Nhà nước được lợi từ hoạt động này là diện tích rừng suy thoái được phủ xanh trong khi đó các nhóm sử dụng rừng có cơ hội tiếp cận lâm sản [22]
Tóm lại, quản lý BVR trên cơ sở cộng đồng đang được xem như là một giải pháp hữu hiệu đối với việc bảo vệ tốt rừng hiện còn, giải quyết tình trạng diện tích, chất lượng rừng giảm sút Trong những năm gần đây đều có không
ít mô hình BVR thành công ở Nhật Bản, NêPal, Indonesia… Từ những kết quả thực tế của đó của các nước đã thu được trong công tác QLBVR trên cơ
sở cộng đồng, một vấn đề cực kỳ quan trọng là phải giải thích cho cộng đồng
rõ những lợi ích mang lại cho cộng đồng và những chính sách về kinh tế trong công tác và để bảo vệ rừng có hiệu quả phải tuân thủ nguyên tắc gắn công tác QLBVR với cộng đồng thôn, bản
1.3 Quản lý bảo vệ rừng trên cơ sở cộng đồng ở Việt Nam
1.3.1 Các tổ chức cộng đồng ở Việt Nam
- Cộng đồng dân tộc: Hiện nước ta có 54 dân tộc, với mỗi cộng đồng dân tộc đều có những đặc điểm riêng về văn hoá, tổ chức xã hội, tiếng nói, phong tục tập quán
- Cộng đồng làng, bản:
Trang 14+ Làng, xóm ở miền xuôi là hình thức cộng đồng được hình thành trên
cơ sở của phương thức canh tác lúa nước, đã có nhiều thể chế tồn tại lâu đời trong xã hội nông thôn Việt Nam
+ Thôn, bản ở miền núi là hình thức cộng đồng được hình thành trên cơ
sở sắc tộc và kinh tế tự nhiên tự túc, tự cấp, có ảnh hưởng sâu sắc đến việc quản lý, bảo vệ, xây dựng và phát triển rừng
Ngoài hai hình thức chủ yếu trên còn có các loại hình cộng đồng khác như: cộng đồng tôn giáo, cộng đồng họ tộc, cộng đồng giới tính Một số loại hình cộng đồng đã được phát triển thành các tổ chức đoàn thể có mục tiêu, điều lệ rõ ràng, hoạt động theo quy chế tổ chức chính trị xã hội hay các tổ chức kinh tế Một số đoàn thể đã tham gia và có nhiều đóng góp cho việc phát triển lâm nghiệp tại các địa phương như: Hội nông dân, Hội phụ nữ, Hội cựu chiến binh, Đoàn thanh niên
1.3.2 Hình thức QLBVR trên cơ sở cộng đồng ở Việt Nam
Tính cộng đồng của các dân tộc Việt Nam đã là yếu quan trọng tạo nên nền tảng cho những thành quả đã đạt được trong công cuộc bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng Vì vậy phát huy vai của các cộng đồng để quản lý nguồn tài nguyên rừng vừa mang ý nghĩa phát huy truyền thống dân tộc, vừa
có thể tạo ra một cách quản lý tài nguyên hiệu quả hơn, bền vững hơn, phù hợp với xu hướng phát triển của thế giới
Ở Việt Nam, hình thức quản lý QLBVR trên cơ sở cộng đồng mới được coi là một hình thức tồn tại song song với các hình thức khác như: quản lý BVR Nhà nước, hình thức quản lý BVR tư nhân, do đó việc đánh giá hiệu quả của hình thức này chỉ dừng lại ở những nhận định khái quát, mang tính định tính Tuy chưa có thống kê chi tiết, nhưng ở những nơi cộng đồng thực sự tham gia vào quản lý BVR thì công tác quản lý BVR có hiệu quả rõ nét, các hành vi xâm hại tài nguyên rừng bị phát hiện và ngăn chặn kịp thời, rừng
Trang 15ngày càng sinh trưởng phát triển tốt Thực tiễn cho thấy rằng, quản lý BVR có
sự tham gia của cộng đồng dân cư thôn, bản là hình thức quản lý BVR có tính khả thi về kinh tế - xã hội, bền vững về sinh thái môi trường và tiết kiệm chi phí cho Nhà nước
Để trao quyền QLBVR cho các cộng đồng Nhà nước đã thực hiện chính sách giao đất, giao rừng Đây là một trong những chính sách lớn tạo môi trường thuận lợi cho QLBVR trên cơ sở cộng đồng ở Việt Nam Chủ trương giao đất, khoán rừng đã được Đảng và Nhà nước ta đề ra và thực hiện
từ năm 1968, qua mỗi giai đoạn phát triển, Nhà nước lại có những điều chỉnh,
bổ xung kịp thời cho phù hợp với thực tế
Nhìn chung kết quả giao đất lâm nghiệp, giao rừng đã làm cho rừng có chủ thực sự, tạo ra nhiều hình thức sở hữu rừng, tạo điều kiện khai thác tiềm năng đất đai, lao động, tiền vốn tại chỗ Công tác giao rừng cho cộng đồng dân cư quản lý bảo vệ đều đạt hiệu quả cao, diện tích rừng được giao đều được quản lý tốt, các hiện tượng xâm hại tài nguyên rừng giảm mạnh, ý thức quản lý bảo vệ tài nguyên rừng của cộng đồng dân cư được nâng cao Thông qua việc tổ chức QLBVR, mối quan hệ xã hội trong cộng đồng và giữa cộng đồng với các cơ quan liên quan đến QLBVR trên địa bàn cũng được nâng cao, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng Đối với nhà nước, hình thức quản lý bảo vệ rừng này đáp ứng được các mục tiêu về chính sách lâm nghiệp, đối với các chương trình lâm nghiệp nói chung, chương trình 5 triệu ha rừng nói riêng, có tác dụng phục hồi những diện tích rừng đã và đang bị suy thoái thông qua chăm sóc, QLBVR và khoanh nuôi tái sinh Mặt khác, hình thức này cũng làm giảm chi phí phải trả cho cộng đồng bằng cách chia sẻ lợi ích mang lại và tăng quyền hưởng lợi từ rừng để thúc đẩy cộng đồng tham gia quản lý BVR
Trang 16Theo Nguyễn Huy Dũng, quản lý lâm nghiệp cộng đồng tại Việt Nam
đã có lịch sử hình thành và phát triển tại một số cộng đồng các dân tộc có đời sống sinh hoạt gắn chặt với môi trường thiên nhiên, như các khu rừng tự nhiên Hình thức quản lý này thường gắn với luật tục của cộng đồng Đây là một hình thức tri thức bản địa liên quan đến cộng đồng thôn, bản Các cộng đồng đã có nhiều kinh nghiệm và truyền thống quản lý rừng theo hướng sử dụng tài nguyên thiên nhiên ổn định và bền vững Trong thời gian dài tại nhiều vùng khác nhau, quản lý rừng và môi trường sinh thái của cộng đồng đã đóng một vai trò rất quan trọng và mang lại hiệu quả thiết thực cho người dân địa phương về các mặt:
- Bảo vệ, quản lý và sử dụng nguồn tài nguyên rừng và môi trường sinh thái
- Xác định các mối quan hệ sở hữu đối với nguồn tài nguyên thiên nhiên và môi trường
- Củng cố mối quan hệ xã hội trong cộng đồng các dân tộc
1.3.3 Những nghiên cứu chính liên quan đến QLBVR trên cơ sở cộng đồng Việt Nam
- Năm 1998, Việt Nam chính thức tham gia "Chương trình hành động lâm nghiệp nhiệt đới" của cộng đồng Quốc tế Dự án "Tổng quan về lâm nghiệp Việt Nam" với mã hiệu VIE - 08 - 037 đã được tiến hành và kết thúc vào năm 1991, Dự án đã có những đóng góp quý báu vào việc đánh giá hiện trạng lâm nghiệp Việt Nam thời điểm lúc đó và đưa ra những khuyến cáo về việc định hướng phát triển ngành lâm nghiệp cho đến năm 2000 và những năm tiếp theo
- Dự án "Đổi mới chiến lược ngành lâm nghiệp" đây là dự án xuất phát
từ yêu cầu cấp bách đối với nước ta sau khi Luật bảo vệ và phát triển rừng đã được ban hành (năm 1991), mục tiêu của dự án là tìm hiểu học tập và hợp tác
Trang 17để tìm ra các giải pháp chiến lược thực thi có hiệu quả mục tiêu phát triển ngành lâm nghiệp trong điều kiện thực tiễn của Việt Nam
- Dự án "Phát triển lâm nghiệp xã hội Sông đà" bắt đầu vào năm 1993,
dự án này đã chú ý làm việc với "nhóm sử dụng rừng" hơn là với các đơn vị hành chính lâm nghiệp Dự án đã tiến hành những thu xếp về tổ chức khi thực hiện quy hoạch sử dụng đất và giao đất có người dân tham gia, sau đó tiến hành lập những "nhóm bảo vệ rừng" và hỗ trợ dân bản xây dựng những qui chế bảo vệ rừng Những quy chế này dựa vào việc quản lý, bảo vệ rừng của cộng đồng để nâng cao sự tự giác của dân bản và tăng cường sự kiểm soát của dân bản, tránh sự phá hoại rừng của những bản lân cận Củng cố tổ chức cấp thôn bản và xã là việc làm cần thiết tiếp theo Những Ban quản lý thôn bản
mà ít nhất có một thành viên chịu trách nhiệm về lâm nghiệp trong bản được thiết lập khi tiến hành lập kế hoạch phát triển thôn bản hàng năm Trong quá trình xây dựng kế hoạch dự án sử dụng 4 tiêu chí chính để giới thiệu và tăng cường thực thi quản lý lâm nghiệp cộng đồng, đó là: Quyền sử dụng, nghiên cứu địa phương, khả năng của cộng đồng và điều kiện địa lý khu vực
Vũ Hoài Minh và Haws Warfvinge (2002) đã tiến hành đánh giá về thực trạng quản lý, BVR tự nhiên của các hộ gia đình và cộng đồng địa phương tại 3 tỉnh: Hoà Bình, Nghệ An và Thừa Thiên Huế Các tác giả đã tìm hiểu về sự hình thành, các lợi ích đạt được và những vấn đề về hưởng lợi, quyền sử dụng và các chính sách liên quan đến hình thức quản lý, BVR này Trong 5 mô hình quản lý, BVR cộng đồng có 4 hình thức là tự phát của cộng đồng địa phương và được chính quyền địa phương chấp thuận Họ tự đề ra các qui định về quản lý, sử dụng lâm sản cũng như các hoạt động BVR, phát triển rừng Các kết quả nghiên cứu, kinh nghiệm quản lý rừng cộng đồng qua các cuộc hội thảo quốc gia về lâm nghiệp công đồng Đến nay đã có 3 cuộc hội thảo quốc gia về quản lý rừng cộng đồng
Trang 18- Hội thảo quốc gia về LNCĐ lần đầu tiên được tổ chức tại Hà Nội trong 2 ngày 01 và 02/6/2000 Hội thảo đã thu hút sự tham gia của gần 60 đại biểu đại diện cho các cơ quan Nhà nước cấp Trung ương và cấp tỉnh, các Viện nghiên cứu, trường Đại học, các chương trình và dự án quốc tế, các tổ chức phi chính phủ, các thành viên tổ công tác, các chuyên gia trong ngành lâm nghiệp Tại đây nhiều các tác giả cùng các công trình nghiên cứu như: Nguyễn Hồng Quân, Tô Đình Mai, Nguyễn Tường Vân và Urich Appel, Edwin Sauk, Nguyễn Văn Thuận, Âu Văn Bảy, Trần Văn Con với các báo cáo về kinh nghiệm từ hoạt động dự án và một số nghiên cứu điểm Hội thảo
đã thống nhất có hai hình thức quản lý rừng ở Việt Nam:
+ Cộng đồng quản lý trực tiếp rừng và đất rừng thuộc quyền sở hữu chung của thôn bản (như rừng thiêng, rừng do Lâm trường, hợp tác xã giao cho thôn bản, rừng đầu nguồn ở địa phương, đồng cỏ chăn nuôi, đất trống được quy hoạch để trồng rừng hoặc tái sinh tự nhiên)
+ Cộng đồng tham gia vào việc quản lý những diện tích rừng thuộc sở hữu hoặc quản lý của các cơ quan nhà nước như bảo vệ rừng phòng hộ, rừng đặc dụng qua các hợp đồng khoán bảo vệ với các cơ quan nhà nước, bảo vệ rừng sản xuất do các Lâm trường khoán bảo vệ rừng và đất rừng đã giao cho các hộ gia đình và các tổ chức khác
- Hội thảo quốc gia về lâm nghiệp cộng đồng được tổ chức lần 2 trong
2 ngày 14, 15/11/2001 tại Hà Nội là bước tiếp theo nhằm làm rõ các yếu tố khuôn khổ pháp lý của rừng cộng đồng, việc thực thi các chính sách hỗ trợ cho quản lý rừng cộng đồng tại Việt Nam Trong hội thảo có rất nhiều báo cáo và các vấn đề thảo luận: ‘‘Báo cáo về khuôn khổ pháp lý, chính sách của Nhà nước và hiện trạng quản lý rừng cộng đồng ở Việt Nam’’ của tác giả : Phạm Xuân Phương, Hà Công Tuấn, Vũ Văn Mê, Nguyễn Hồng Quân Các báo cáo về sự vận dụng chính sách lâm nghiệp nhà nước ở cấp tỉnh của các
Trang 19tác giả như : Sheelagh, Orelly, Vũ Hữu Tuynh, Nguyễn Ngọc Lung, Lê Ngọc Anh, Nguyễn Hải Nam, Cao Vĩnh Hải… Cuối cùng hội thảo đi đến kết luận cộng đồng đang quản lý 15% diện tích rừng của nhà nước, đó là thực tế mang tính khách quan và ngày càng có một vị trí quan trọng trong hệ thống quản lý tài nguyên rừng ở Việt Nam Tuy nhiên, vẫn còn một số những vướng mắc trong khuôn khổ chính sách hưởng lợi từ rừng khi tham gia bảo vệ và phát triển rừng như: không quy định cộng đồng dân cư thôn bản là đối tượng của chính sách này Sự vận dụng các chính sách của nhà nước và địa phương đã
có tính sáng tạo, cụ thể là một số tỉnh đã mạnh dạn thí điểm giao đất giao rừng và cấp sổ đỏ cho cộng đồng dân cư thôn bản như Sơn La, Thừa Thiên Huế, ĐăcLắk
- Hội thảo quốc gia về lâm nghiệp cộng đồng được tổ chức lần 3 và tháng 11/2004 tại Hà Nội với nội dung về khuôn khổ và thể chế quản lý rừng cộng đồng, chính sách hưởng lợi trong quản lý rừng cộng đồng, đánh giá tài nguyên rừng và khai thác rừng cộng đồng Hội thảo kết luận, quản lý rừng cộng đồng hiện đang tồn tại như một xu thế khách quan và ngày càng có vị trí quan trọng trong hệ thống quản lý tài nguyên rừng, nhiều diện tích đất lâm nghiệp có
thể giao cho cộng đồng quản lý (Diện tích rừng xa khu dân cư, có địa hình phức tạp mà các tổ chức nhà nước và hộ gia đình không có khả năng quản lý
và quản lý không có hiệu quả, các khu rừng giữ nguồn nước phục vụ trực tiếp cho cộng đồng, khu rừng giáp danh giữa các thôn, xã) Bên cạnh đó, vấn đề
hưởng lợi của cộng đồng quản lý rừng được nhiều nhà khoa học quan tâm và nghiên cứu, đặc biệt là tác giả Nguyễn Bá Ngãi, Nguyễn Ngọc Lung Tác giả Phạm Xuân Phương với khảo sát đánh giá tình hình triển khai chính sách hưởng lợi đối với hộ gia đình, các nhân, cộng đồng được giao nhận khoán rừng năm 2003 Bên cạnh đó về kỹ thuật đánh giá thực trạng quản lý rừng cộng đồng của các tác giả Nguyễn Hồng Quân, Vũ Long, Phạm Xuân Phương đã
Trang 20đưa ra khung định vị đánh giá hiện trạng quản lý rừng cộng đồng gồm 5 tiêu chí Tuy nhiên, các tác giả cũng đã nêu rõ việc chọn tiêu chí đánh giá phải phụ thuộc và từng vùng, từng cộng đồng dân cư Cũng trong tháng 9/2004, Nguyễn Ngọc Lung, VIFA cùng tổ chức các quốc gia về quản lý rừng cộng đồng đã đưa ra hội thảo lần 2 hướng dẫn giao đất về quản lý rừng cộng đồng, hướng dẫn giao đất có rừng cho cá nhân, hộ gia đình, nhóm hộ và cộng đồng Qua hội thảo, các báo cáo và các công trình nghiên cứu của các tác giả cho thấy, tuy nhà nước chưa quy định quyền hưởng lợi của cộng đồng với những diện tích rừng cộng đồng hiện đang quản lý, song trên thực tế cộng đồng đang quản lý và có quyền hưởng lợi, phân chia lợi ích từ rừng
- Hội thảo quốc gia về quản lý rừng cộng đồng vào tháng 6/2009 tại Hà Nội, với nội dung quản lý rừng cộng đồng Hội thảo nhằm hướng tới mục tiêu học hỏi và chia sẻ những kinh nghiệm quản lý rừng cộng đồng để nâng cao nhận thức, tăng cường kỹ năng quản lý rừng, góp phần phát triển thể chế, chính sách lâm nghiệp cộng đồng của Việt Nam Hội thảo tập trung vào các nội dung liên quan tới kinh nghiệm và thực tiễn quản lý rừng cộng đồng của các chương trình dự án và ở một số địa phương của Việt Nam, những kiến nghị và đề xuất hoàn thiện chính sách cho quản lý rừng cộng đồng
ở Việt Nam Các nội dung này xoay quanh bốn vấn đề trọng tâm sau: thứ nhất, xác lập quyền quản lý và sử dụng rừng của cộng đồng; thứ hai, kế hoạch quản
lý rừng cộng đồng; thứ ba, quyền hưởng lợi và nghĩa vụ; thứ tư, tổ chức quản
lý rừng cộng đồng
Hội thảo đã thu hút được sự tham gia của sự tham gia của hơn 70 đại biểu từ nhiều tổ chức, chương trình, dự án trong nước và quốc tế như Trung tâm Đào tạo Lâm nghiệp Cộng đồng Khu vực Châu Á – Thái Bình Dương (RECOFTC), Chương trình Thí điểm LNCĐ ở Việt Nam, Dự án
Trang 21Học hỏi quản trị rừng (FGLG), các dự án về LNCĐ đang thực hiện ở Việt Nam, đại diện các cơ quan quản lý nhà nước và các địa phương
Nhìn chung, quản lý rừng và đất rừng trên cơ sở cộng đồng là một vấn
đề tổng hợp và phụ thuộc nhiều vào khuôn khổ thể chế, chính sách của từng quốc gia, từng địa phương Do vậy, không thể sao chép nguyên vẹn một mô hình nào từ nơi này sang nơi khác Tuy nhiên, việc chia sẻ kinh nghiệm, chia
sẻ những bài học thành công hay thất bại trong cả nước và khu vực là rất cần thiết trong bối cảnh chính sách lâm nghiệp đang cải cách và hoàn thiện như hiện nay Điều đáng chú ý là phải có những nghiên cứu tổng hợp đánh giá và đúc kết kinh nghiệm, bổ sung và xây dựng những chính sách mới phù hợp cho mỗi vùng
Vì vậy quản lý bảo vệ rừng trên cơ sở cộng đồng được xem như nền tảng của sự phát triển vì nó đảm bảo đáp ứng được những nhu cầu lợi ích cho cộng đồng, góp phần xoá đói giảm nghèo và khắc phục được tình trạng khánh kiệt tài nguyên trong những phương thức sử dụng kém bền vững
1.3.4 Hiệu quả đạt được từ quản lý bảo vệ rừng cộng đồng ở Việt Nam
Mặc dù cho chưa có những kết quả đánh giá chính thức về hiệu quả quản
lý bảo vệ rừng trên cơ sở cộng đồng ở quy mô toàn quốc, tuy nhiên, căn cứ vào
4 kết quả Hội thảo quốc gia về quản lý rừng cộng đồng ở Việt Nam được tổ chức tại Hà Nội (tháng 6/2000, tháng 11/2001 và tháng 11/2004, 6/2009) và dự
án thí điểm lâm nghiệp cộng đồng được thí điểm 40 xã, trên phạm vi 10 tỉnh, qua các kết quả hội thảo và dự án trên có thể đưa ra một số nhận định sau:
- Nhiều nơi rừng cộng đồng được bảo vệ và phát triển tốt hơn nếu được giao rừng và những nơi rừng do cộng đồng quản lý hầu như không bị chặt phá,
do không có xâm hại nên rừng ngày càng tăng trưởng
- Góp phần nâng cao thu nhập của người dân, xoá đói giảm nghèo, đáp ứng nhu cầu lâm sản cho các công trình chung của cộng đồng và hộ gia đình
Trang 22Đối với diện tích rừng do cộng đồng nhận khoán bảo vệ, hàng năm được Nhà nước hoặc chủ rừng trả tiền công khoán, đã góp phần giải quyết một phần khó khăn về đời sống cho một bộ phận dân cư
Đối với diện tích rừng và đất rừng chính quyền địa phương giao, cộng đồng có thể tận dụng khi rừng chưa khép tán hoặc đất trống chưa trồng rừng để canh tác kết hợp cây nông nghiệp, chăn thả dưới tán rừng, được các dự án đầu
tư hỗ trợ vốn để sản xuất, được hưởng lợi sản phẩm từ rừng
Đối với diện tích rừng cộng đồng quản lý theo truyền thống cho đến nay hầu như cộng đồng có toàn quyền quyết định việc sử dụng tài nguyên rừng, trong đó đáp ứng nhu cầu lâm sản cho các công trình chung của cộng đồng, giải quyết nhu cầu gỗ làm nhà cho các hộ gia đình
- Tiết kiệm chi phí cho Nhà nước: hiện nay có nhiều cộng đồng đang quản lý rừng hầu như không có sự hỗ trợ của Nhà nước về kinh phí, nhưng rừng vẫn được bảo vệ tốt
- Rừng cộng đồng đã góp phần bảo vệ nguồn nước, giải quyết một phần nhu cầu gỗ gia dụng cho cộng đồng và thành viên của cộng đồng; khai thác lâm sản ngoài gỗ , góp phần phát triển ngành nghề thủ công truyền thống và tăng thu nhập cho cộng đồng
- Góp phần khôi phục truyền thống văn hoá, phong tục tập quán tốt đẹp của cộng đồng thông qua việc quản lý rừng cộng đồng, có sự giúp đỡ và hướng dẫn của các tổ chức nhà nước, đã góp phần thúc đẩy việc xây dựng và thực hiện quy chế quản lý, bảo vệ rừng; thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở; khôi phục truyền thống văn hoá tốt đẹp, hương ước của cộng đồng
1.3.5 Những bài học kinh nghiệm cho QLBVR trên cơ sở cộng đồng ở Việt Nam
Từ những kết quả phân tích trên đây có thể rút ra những bài học chủ yếu cho quản lý rừng trên cơ sở cộng đồng ở Việt Nam như sau :
Trang 23- Quản lý bảo vệ rừng trên cơ sở cộng đồng là phương thức quản lý dựa vào những tổ chức và luật lệ cộng đồng Nó cần thiết cho cả quản lý tài nguyên thuộc sở hữu Nhà nước, sở hữu cộng đồng và sở hữu tư nhân và đặc biệt có ý nghĩa ở vùng sâu, vùng xa, nơi mà ý thức pháp luật hoặc khả năng thực thi pháp luật chưa cao
Quản lý bảo vệ rừng trên cơ sở cộng đồng sẽ thành công khi lấy lợi ích cộng đồng làm mục tiêu và lồng ghép được với mục tiêu của quốc gia và khu vực
Sự hợp tác trong quản lý tài nguyên rừng giữa Nhà nước với cộng đồng, giữa các đối tượng hưởng lợi là yếu tố quan trọng đảm bảo sự thành công của quản lý rừng dựa vào cộng đồng
Quản lý rừng trên cơ sở cộng đồng cần phải được phối hợp với các phương thức quản lý khác mà trước hết là phương thức quản lý dựa vào chính sách thể chế của Nhà nước, phương thức phát huy mọi tiềm năng quản lý của các hộ gia đình
1.4 Thảo luận
Hầu hết các đề tài nghiên cứu giải pháp quản lý bảo vệ rừng trên cơ sở cộng đồng dân cư thôn, bản đều đề xuất những giải pháp quản lý tài nguyên rừng mang tính định tính Trên địa bàn huyện Thuận Châu chưa có đề tài nào nghiên cứu về quản lý bảo vệ rừng trên cơ sở cộng đồng Do vậy, đề tài này tập trung phân tích đánh giá sâu điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, phong tục tập quán, kiến thức, thể chế bản địa và đánh giá thực trạng công tác bảo vệ rừng trên địa bàn huyện, đồng thời đánh giá mức độ đe doạ, mối quan tâm, mâu thuẫn và khả năng hợp tác của các bên liên quan trong, ngoài cộng đồng đến công tác bảo vệ rừng cũng như đánh giá tiềm năng quản lý bảo vệ rừng của cộng đồng Trên cơ
sở đó phân tích đánh giá để đề xuất các giải pháp quản lý bảo vệ rừng trên cơ sở cộng đồng nhằm góp phần bảo vệ có hiệu quả tài nguyên rừng và nâng cao đời sống của người dân trong cộng đồng dân cư thôn, bản
Trang 24Chương 2 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI
2.1 Điều kiện tự nhiên huyện Thuận Châu
2.1.1 Vị trí địa lý
Huyện Thuận Châu có diện tích tự nhiên 153.590 ha, nằm ở phía Tây Bắc của tỉnh Sơn La, theo quốc lộ 6 cách Thành phố Sơn La 34 km về phía Tây Bắc và cách huyện lỵ Tuần Giáo - Điện Biên 52 km về phía Đông Nam
Giáp ranh của huyện như sau:
- Phía Đông giáp thành phố Sơn La tỉnh Sơn La
- Phía Tây - Bắc giáp huyện Tuần Giáo tỉnh Điện Biên
- Phía Nam giáp huyện Sông Mã tỉnh Sơn La
- Phía Bắc giáp huyện Quỳnh Nhai, Mường La tỉnh Sơn La
Có toạ độ địa lý được giới hạn như sau:
Là một huyện nằm cuối tỉnh Sơn La (có trên 80 km đường địa giới tiếp giáp với các tỉnh bạn) và có 80 % diện tích tự nhiên thuộc lưu vực Sông Đà Quốc lộ 6 đã được nâng cấp đã tạo cơ hội cho Thuận Châu được giao lưu, trao đổi hàng hoá với các huyện, thành phố khác trong tỉnh và vùng Tây Bắc Thuận Châu có vị trí quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Sơn La
2.1.2 Địa hình, địa mạo
Thuận Châu có địa hình đặc trưng của các tỉnh miền núi phía Bắc, độ dốc lớn và chia cắt mạnh Điển hình có các dãy núi chạy theo hướng Tây Bắc- Đông Nam có độ cao trung bình 700 – 750 m so với mặt nước biển, dãy núi cao nhất là dãy Côpia có đỉnh cao nhất 1.821 m chia địa hình Thuận Châu làm
Trang 252 phần: Phần phía Tây thuộc lưu vực Sông Mã, phía Đông thuộc lưu vực Sông Đà Hướng dốc của địa hình thấp dần theo hướng từ Tây sang Đông, thấp nhất là khu vực ven sông Đà; xen kẽ giữa những dãy núi là những thung lũng, phiêng bãi, ruộng nước tương đối bằng phẳng có diện tích không lớn
Nhìn chung địa hình Thuận Châu khá phức tạp, chia cắt mạnh, phần lớn
là địa hình cao và dốc, diện tích đất bằng chiếm tỉ lệ nhỏ và phân tán, tạo ra nhiều tiểu vùng cho phép phát triển nhiều loại hình sản xuất nông lâm nghiệp khác nhau Tuy nhiên với kiểu địa hình trên việc xây dựng và phát triển cơ sở
hạ tầng gặp nhiều khó khăn, tốn kém, ảnh hưởng rất lớn đến quá trình phát triển kinh tế xã hội của huyện
2.1.3 Khí hậu
Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa vùng núi với hai mùa rõ rệt: mùa mưa bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 9, mùa khô từ tháng 10 năm trước đến tháng 3 năm sau Địa hình bị chia cắt mạnh đã tạo cho Thuận Châu 3 tiểu vùng khí hậu tương đối khác nhau:
+ Vùng phía Nam Quốc lộ 6 ( gắn với dãy núi Côpia ), gồm 11 xã
mang đặc trưng của khí hậu vùng núi Tây Bắc; mùa đông lạnh, mùa hè rất nóng
+ Vùng dọc Sông Đà cá đặc trưng khí hậu nóng chịu ảnh hưởng mạnh của gió Tây khô và nóng
+ Vùng còn lại ( bao gồm các xã dọc trục Quốc lộ 6) chịu ảnh hưởng
của cả hai tiểu vùng khí hậu nói trên
Trang 26- Nắng: Tổng số giờ nắng trung bình trong năm 2.052 giờ/ năm Số giờ nắng trung bình mùa hè từ 6 – 7 giờ/ngày, mùa đông từ 4 – 5 giờ/ ngày Trung bình số ngày nắng/ tháng là 26 ngày
- Mưa: Tổng lượng mưa bình quân 1.371,5 mm/năm với lượng mưa
phân bố không đều ở các tháng trong năm Mùa mưa kéo dài 5 – 6 tháng ( từ tháng 4 đến tháng 9 ), mưa tập trung vào tháng 6,7,8 lượng mưa chiếm 80%
tổng lượng mưa cả năm Mùa khô lượng mưa nhỏ chỉ chiếm 20% tổng lượng mưa cả năm
- Độ ẩm và độ bốc hơi: Độ ẩm trung bình năm 80%, độ ẩm và lượng bốc hơi phụ thuộc vào từng thời điểm khác nhau trong năm, từ tháng 10 năm trước đến tháng 3 năm sau là thời kỳ khô hạn lượng mưa ít, lượng bốc hơi cao hơn lượng mưa nhiều lần, độ ẩm của tầng đất mặt rất thấp, gây ảnh hưởng đến đời sống sinh hoạt của nhân dân Mùa mưa lượng bốc hơi không đáng kể và
độ ẩm tầng đất cao
- Gió, bão: Hướng gió thịnh hành trên địa bàn huyện là gió Đông Nam,
ít chịu ảnh hưởng của bão, gió mùa Đông Bắc nhưng lại chịu ảnh hưởng của
gió Tây khô nóng( tháng 5) và gió lốc
- Sương muối: Thường xuất hiện mỗi năm vài đợt vào các tháng 12 và tháng 1 gây ảnh hưởng tới sản xuất nông nghiệp của huyện
Nhìn chung khí hậu thời tiết của Thuận Châu mang đặc trưng của miền núi Tây Bắc thích hợp với sự phát triển đa dạng về sinh học, phù hợp cho phát triển nhiều loại cây trồng khác nhau: cây ăn quả, cây công nghiệp, cây lương thực, và thích hợp cho chăn nuôi đại gia súc, gia cầm Tuy nhiên yếu tố bất lợi do khí hậu đem lại cũng có những ảnh hưởng nhất định đến sản xuất và đời sống sinh hoạt của nhân dân
Trang 272.1.4 Thuỷ văn
Huyện Thuận Châu thuộc lưu vực hai con sông lớn là Sông Đà và Sông
Mã, có nhiều suối lớn như: Suối Muội, Suối Ty, Suối Hét tạo thành mạng lưới sông suối khá dày, đây là nguồn nước quan trọng phục vụ cho đời sống
và sản xuất của nhân dân
Do địa hình cao và chia cắt nên hệ thống sông, suối phân bố không đồng đều, độ dốc lớn, mặt nước thấp hơn so với mặt đất canh tác và các điểm dân cư Do vậy khả năng khai thác cho nhu cầu sinh hoạt và sản xuất của nhân dân còn rất hạn chế, đặc biệt vào mùa khô
- Đất Feralit có 129.638,5 ha ( chiếm 84,4% DTTN ): Loại đất này
chiếm ưu thế nhất, bao gồm hầu hết ở vùng đồi núi Đất có màu vàng đỏ, đỏ nâu chứa nhiều sắt và nhôm, có phản ứng chua, thích hợp cho việc trồng cây lâm nghiệp, cây ăn quả, cây công nghiệp dài ngày như cà fê, chè
- Đất phù sa sông suối có 551 ha ( chiếm 0,36% DTTN): Phân bố chủ yếu ven các suối như Suối Muội, Suối Ty, Suối Hét rất thích hợp cho việc trồng lúa, hoa màu và cây ăn quả
- Đất dốc tụ có 1356 ha ( chiếm 0,88% DTTN): Phân bố chủ yếu ở các
phiêng bãi bằng phẳng, thích hợp cho trồng cây ăn quả, cây ngô, cây lúa nước
và cây công nghiệp
- Đất khác có 22.044,5 ha ( chiếm 14,35% DTTN): Phân bố ở tất cả các
xã trong huyện
Trang 28Nhìn chung đất đai của Thuận Châu phù hợp với nhiều nhóm cây trồng khác nhau, song hiện nay nhiều diện tích đất đã và đang bị suy thoái do thảm thực vật bị tàn phá nặng nề và những tập quán canh tác lạc hậu, quảng canh bóc lột đất Do vậy cần áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, đưa các mô hình canh tác hợp lý trên đất dốc, trồng rừng phòng hộ để bảo vệ đất sử dụng hiệu quả, lâu dài
2.1.6 Tài nguyên nước
Nguồn nước phục vụ cho sản xuất và đời sống cho nhân dân trong huyện được khai thác từ hai nguồn sau:
- Nguồn nước mặt: Đây là nguồn nước chính phục vụ sản xuất và sinh
hoạt của nhân dân trong vùng Nguồn nước mặt của huyên Thuận Châu khá phong phú, với hệ thống sông, suối khá dày như sông Đà, suối Muội, suối Ty, suối Hét, Địa hình dốc, chia cắt và độ che phủ của thảm thực vật thấp nên khả năng giữ nước rất hạn chế, do nguồn nước mặt phân bố không đều trên lãnh thổ nên nhiều khu vực cao thiếu nước nghiêm trọng vào mùa khô, ở vùng thấp thường xảy ra lũ ống, ngập úng vào mùa mưa Chất lượng nguồn nước mặt không được tốt, đặc biệt là sau mỗi đợt mưa lũ, do vậy cần sử lý trước khi đưa vào sử dụng cho sinh hoạt
- Nước ngầm: Hiện tại chưa có số liệu điều tra chính xác về trữ lượng
nước ngầm trên địa bàn huyện, song qua điều tra khảo sát sơ bộ ở một số khu vực phiêng bãi bằng và khu dân cư, người dân đã đào giếng vá sử dụng nước ngầm phục vụ sinh hoạt, chất lượng khá tốt, trong và không mùi, tuy nhiên do địa hình cao nên khả năng giữ nước hạn chế và ở tầng sâu Nước ngầm tồn tại chủ yếu ở hai dạng:
+ Nước ngầm chứa trong các kẽ nứt của đá: Được hình thành do đá bị phân hoá mạnh, nước mưa ngấm qua đất dự trữ vào các kẽ nứt trên bề mặt
Trang 29của các loại đá, nhiều nguồn nước ngầm đã phát lộ ra ngoài thành dòng chảy, lưu lượng giao động mạnh theo mùa
+ Nước ngầm Kaster: Được tàng trữ trong các hang động Kaster hình thành từ núi đá vôi Nước Kaster thường phân bố sâu, ít vận động, các mạch xuất lộ từ nguồn Kaster thường có lưu lượng lớn, động thái không ổn định Nước Kaster là loại nước cứng, khi sử dụng trong sinh hoạt cần được sử lý
2.1.7 Tài nguyên rừng
Năm 2009 Thuận Châu có 110.000,6 ha đất lâm nghiệp, trong đó diện tích đất lâm nghiệp có rừng là 56.252 ha, chiếm 36,62% diện tích tự nhiên, diện tích rừng tự nhiên là 54.104 ha, rừng trồng có 2.148 ha Rừng Thuận Châu có chủng loại phong phú với nhiều loại động thực vật quý hiếm như: Pơ
mu, nghiến, là tiền đề để xây dựng rừng phòng hộ, rừng kinh tế có giá trị kinh tế cao Những năm qua công tác khoanh nuôi, bảo vệ và trồng mới rừng
đã được chính quyền và nhân dân chú trọng, nhiều khu rừng đặc dụng thuộc các xã Nậm Lầu, Cò Mạ, Long Hẹ, Chiềng Bôm vẫn là rừng nguyên sinh Nhiều dự án đã được thực hiện như: chương trình 661, chương trình 327, dự
án tăng cường phục hồi rừng bằng phương thức nông lâm kết hợp, đã đạt được những kết quả to lớn, song các hiện tượng khai thác rừng trái phép vẫn còn xảy ra đang gây ra những tác động không tốt tới tài nguyên rừng
Bảng 2.1 Hiện trạng rừng phân theo chức năng Loại rừng Diện tích
Trang 302.1.8 Tài nguyên khoáng sản
Thuận Châu là huyện nghèo về khoáng sản, chỉ có nguồn đá vôi và đất sét với trữ lượng lớn và tập trung chủ yếu ở hai xã Phổng Lái và Tông Lạnh cho phép phát triển ngành sản xuất xi măng, khai thác vật liệu xây dựng, sản xuất gạch ngói Ngoài ra còn có nguồn vàng sa khoáng nhưng trữ lượng nhỏ, phân bố rải rác không đủ điều kiện để khai thác công nghiệp
2.1.9 Tài nguyên nhân văn
Huyện Thuận Châu có nhiều dân tộc khác nhau: Thái, Mông, Kinh, Mỗi dân tộc có nét đặc trưng riêng trong đời sống, văn hoá, đây là điều kiện hình thành nên nền văn hoá phong phú đa dạng trên địa bàn huyện Thuận Châu
Trải qua những thăng trầm của lịch sử, đến nay trên địa bàn huyện vẫn giữ được những di tích lịch sử có giá trị như: Di chỉ tháp Bản Lào ở xã Mường Bám và trạm thông tin 374 xã Chiềng Ngàm đang đề nghị Bộ Văn hoá thông tin xếp hạng di tích lịch sử; Di chỉ hang Pá Nàng, Di chỉ trạm khắc trên đá Liệp Tè thuộc xã Liệp Tè và di tích giếng nước Long Hẹ đang đề nghị UBND tỉnh xếp hạng di tích lịch sử văn hoá cấp tỉnh
Trong thời kì xây dựng và phát triển đất nước, đặc biệt trong thời kì đổi mới dưới sự lãnh đạo của Huyện uỷ, HĐND và UBND huyện, toàn Đảng, toàn quân và toàn dân huyện Thuận Châu đã phát huy truyền thống đoàn kết ,
ý chí tự lực tự cường, khắc phục mọi khó khăn đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng về kinh tế, văn hóa và giữ vững an ninh chính trị, trật tự xã hội
Tuy chặng đường phát triển phía trước còn nhiều khó khăn, thách thức nhưng với truyền thống quật cường, sáng tạo, phát huy những lợi thế sẵn có, trước những cơ hội mới Thuận Châu sẽ vững vàng đi lên thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá Đây vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội trong thời kì đổi mới, hội nhập và phát triển
Trang 312.1.10 Thực trạng môi trường
Thuận Châu có cảnh quan môi trường đa dạng, môi trường không khí trong lành, nguồn nước ít bị ảnh hưởng của ô nhiễm do chất thải công nghiệp, sinh hoạt của con người Song hiện nay độ che phủ của rừng chiếm tỉ lệ thấp, đất đai bị xói mòn, rửa trôi, độ phì của đất giảm, các hiện tượng sạt lở, lũ lụt xuất hiện gây ảnh hưởng xấu đến sản xuất, đời sống và cảnh quan môi trường
ở một số nơi trong huyện
Trong những năm tới cùng với việc khai thác các nguồn lợi một cách hiệu quả đáp ứng sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương thì viêc bảo vệ
và phát triển bền vững các nguồn tài nguyên nhiên nhiên, bảo vệ môi trường sinh thái cần được coi trọng
2.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội
2.2.1 Khái quát thực trạng phát triển kinh tế
Trong những năm qua kinh tế xã hội của huyện có những chuyển biến đáng kể Đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân đã được nâng lên, cơ sở hạ tầng từng bước được cải thiện như: hệ thống giao thông, thuỷ lợi, trường học, bệnh viện, trạm y tế, các công trình văn hoá phúc lợi công cộng được nâng cấp và xây dựng mới, sức khoẻ, trình độ dân trí không ngừng được nâng lên
Huyện Thuận Châu sau nhiều điều chỉnh địa giới hành chính (chuyển 6
xã sang huyện Quỳnh Nhai) diện tích tự nhiên của huyện còn 153.590 ha, gồm 29 xã và thị trấn
2.2.2 Tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Giá trị sản xuất của huyện liên tục tăng, năm 2005 đạt 106,119 tỷ đồng tăng lên 343,23 tỷ đồng năm 2009 (giá trị sản xuất bình quân đầu người đạt
165 USD), tốc độ tăng trưởng kinh tế của huyện giai đoạn 1996 – 2000 là 9,05%, đến năm 2009 đạt 15%
Trang 32Năm 2009 giá trị sản xuất ngành nông lâm nghiệp đạt 191,44 tỷ đồng chiếm 55,77% Ngành công nghiệp – xây dựng đạt 78,69 tỷ đồng chiếm 22,93% Ngành dịch vụ - thương mại đạt 73,10 tỷ đồng chiếm 21,30% giá trị sản xuất toàn huyện
2.2.3 Thực trạng phát triển một số ngành kinh tế
2.2.3.1 Ngành nông nghiệp
Sản xuất nông nghiệp trong thời gian qua có sự tăng trưởng liên tục Giá trị sản xuất nông nghiệp tăng từ 116 tỷ đồng năm 2000 lên 135,20 tỷ đồng năm 2002 và 147,12 tỷ đồng năm 2008 ( theo giá trị cố định 1994 ), tốc
độ tăng trưởng giai đoạn 2005 – 2009 là 14,67% Cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp có sự chuyển dịch tích cực, giảm dần tỷ trọng ngành trồng trọt, tăng tỷ trọng ngành chăn nuôi
- Về trồng trọt: Nhờ việc đầu tư xây dựng các công trình thuỷ lợi, sử dụng giống mới và áp dụng các biện pháp kỹ thuật vào thâm canh nên ngành trồng trọt ổn định và phát triển Năm 2008 diện tích trồng cây lương thực đạt
13.450 ha ( trong đó lúa xuân 1.372 ha, lúa mùa 1791 ha, lúa nương 2.177
ha, ngô 8.083 ha), cây công nghiệp hàng năm 1.461 ha( cây đậu tương 1.163
ha, cây bông 253 ha), cây công nghiệp lâu năm 828.5 ha (cây chè 250 ha, cây
cà phê 541 ha, cây dâu tằm 37.5 ha), cây ăn quả 1.175 ha Tổng sản lượng
của cây trồng đều tăng như: cây lương thực tăng từ 27.005 tấn năm 2005 lên 42.362 tấn năm 2009 Giá trị sản xuất trồng trọt đạt 105,26 tỷ đồng
- Chăn nuôi: Trong những năm gần đây, ngành chăn nuôi của huyện đã
được quan tâm đầu tư, phát triển khá về số lượng và chất lượng, đặc biệt ở các
xã dọc quốc lộ 6 Việc đưa giống mới như bò lai sind, lợn lai kinh tế, gà công nghiệp vào sản xuất tạo ra chuyển biến lớn trong chăn nuôi Thu nhập từ chăn nuôi đã trở thành nguồn thu chính của nhiều hộ gia đình Năm 2009 toàn
Trang 33huyện có 14.890 con trâu, 16.737 con bò, 55.313 con lợn, 359.000 con gia cầm, giá trị sản xuất từ chăn nuôi ước đạt 40,5 tỷ đồng
- Thuỷ sản: Diện tích mặt nước nuôi trồng thuỷ sản không nhiều 372,29
ha, nhưng giá trị thu được từ thuỷ sản đóng góp một phần thu nhập quan trọng của nhân dân giá trị thuỷ sản năm 2009 đạt 1,36 tỷ đồng
2.2.3.2 Ngành lâm nghiệp
Các hoạt động sản xuất lâm nghiệp của huyện tập trung vào các lĩnh vực trồng rừng và bảo vệ rừng bằng các chương trình dự án 661; 135 và nguồn vốn vay của nhân dân Năm 2009 huyện đã quản lý bảo vệ được trên 56.000 ha, khoanh nuôi tái sinh 118.246 ha, trồng mới 320 ha, độ che phủ của
ngành lâm nghiệp ước đạt 44,32 tỷ đồng (giá so sánh năm 1994)
Công tác quản lý bảo vệ và khôi phục phát triển rừng đã được quan tâm đầu tư và có nhiều chuyển biến tích cực, công tác giao đất giao rừng đến từng
hộ gia đình, các nhân quản lý sử dụng đã đẩy nhanh quá trình phủ xanh đất trống đồi trọc, nâng cao chất lượng rừng, cải thiện môi trường sinh thái Song đến nay tình trạng thai thác mua bán lâm sản trái phép vẫn còn xảy ra
2.2.3.3 Ngành công nghiệp – xây dựng
Toàn huyện có 9 HTX công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp hoạt đọng trong các ngành sản xuất VLXD, dồ mộc dân dụng, cơ khí và xây dựng dân dụng
Sản lượng, sản phẩm công nghiệp – TTCN hàng năm đều tăng cả số
Ngành công nghiệp – TTCN của Thuận Châu tuy có nhiều tiến bộ song giá trị ngành công nghiệp còn thấp, chỉ đạt 78,69 tỷ đồng, công nghiệp chưa được
Trang 34đổi mới, quy mô sản lượng của các sản phẩm công nghiệp – TTCN không lớn, chủ yếu phục vụ cho nhu cầu địa phương
2.2.3.4 Ngành thương mại - dịch vụ
Với việc chuyến đổi cơ cấu kinh tế theo cơ chế thị trường đã thúc đẩy các hoạt động sản xuất kinh doanh và tăng thu nhập giao lưu trao đổi hàng hoá, mạng lưới chợ nông thôn ở các xã, trung tâm cụm xã từng bước được hình thành, phục vụ kịp thời cho sản xuất, đời sống sinh hoạt của nhân dân và đặc biệt tạo ra thị trường tiêu thụ các sản phẩm nông – lâm nghiệp Tổng doanh thu của ngành dịch vụ - thương mại du lịch năm 2009 đạt 73,10 tỷ đồng chiếm 21,30% giá trị sản xuất toàn huyện
Các hoạt động tài chính, tiền tệ đã tích cực khai thác các nguồn thu, đảm bảo cân đối ngân sách, tập trung đầu tư cho các nhu cầu thiết yếu và các công trình trọng điểm
Tuy nhiên hình thức tổ chức khai thác các loại hình thương mại - dịch
vụ trên địa bàn huyện chưa thật phong phú, cơ sở vật chất chưa được đầu tư đúng mức vì vậy trong quá trình khai thác hiệu quả đạt được chưa cao
Theo số liệu thống kê tháng 9 năm 2009 dân số toàn huyện là 148.379 nhân khẩu, trong đó khu vực đô thị 4.826 nhân khẩu, khu vực nông thôn
song phân bố không đều chủ yếu tập trung ở thị trấn
Trang 35Về dân tộc, toàn huyện có 6 dân tộc, trong đó dân tộc Thái là chủ yếu chiếm 70,9% tổng dân số, tiếp theo là dân tộc Mông 11,97%, Kinh 10,9%, Khơ Mú 2,20%, Kháng 1,96% và dân tộc La Ha 1,81% Phần lớn các dân tộc thiểu số có trình độ dân trí thấp, sống phân tán rải rác, còn du canh du cư và
có tỉ lệ tăng dân số tự nhiên cao
2.2.4.2 Lao động - việc làm
Theo số liệu thống kê, năm 2009 dân số trong độ tuổi lao động của Thuận Châu có 87.608 lao động, chiếm 59% tổng số dân, trong khu vục thành thị chiếm 5,0% và khu vực nông thôn 95,0%, dân số chưa đến độ tuổi lao động 49.140 người chiếm 33% dân số toàn huyện, dân số ngoài độ tuổi lao động 11.631 người chiếm 8% dân số toàn huyện Như vậy dân số huyện Thuận Châu là dân số trẻ, nguồn lao động dồi dào, song lực lượng lao động phân bố không đều chủ yếu tập trung ở khu vục nông thôn 48.523 người chiếm 95,0%, lao động khu vực đô thị có 2.538 người chiếm 5% Chất lượng nguồn lao động nhìn chung còn thấp, số lao động đã qua đào tạo hiện nay mới chiếm 2% tổng số lao động, 98% số lao động còn lại vẫn chưa được đào tạo
Về cơ cấu, lao động nông – lâm nghiệp chiếm chủ yếu với 48.212
người ( chiếm 94,42% tổng số lao động), lao động phi công nghiệp với 2.849 người ( chiếm 5,58% tổng số lao động )
Do tốc độ tăng dân số còn khá cao 1,60%, tình trạng không có hoặc thiếu việc làm nhất là với lực lượng lao động nông lâm nghiệp vẫn là vấn đề bức xúc cần được tập trung giải quyết
2.2.4.3 Thu nhập và mức sống
Thu nhập và mức sống hiện nay của nhân dân còn ở mức thấp, bình quân đạt 2,4 triệu đồng/người/năm Tỷ lệ nghèo theo tiêu chuẩn mới còn khá cao, chiếm khoảng 17%
Trang 36Tình hình thu nhập và mức sống hiện nay phân thành hai vùng rõ rệt Vùng dọc quốc lộ 6 do tài nguyên đất đai, giao thông thuận lợi hơn so với các vùng khác nên kinh tế phát triển mạnh, đời sống dân cư được cải thiện rõ rệt, nhiều hộ có thu nhập từ 15 triệu/người/năm trở lên Trong khi đó ở khu vực vùng sâu vùng xa, vùng cao chưa thoát khỏi tình trạng thiếu đói cục bộ
2.2.5 Văn hoá – xã hội
2.2.5.1 Giáo dục
Giáo dục đào tạo của huyện Thuận Châu đã có bước phát triển nhanh,
cơ sở trường lớp luôn được củng cố Hệ thống giáo dục chuyên nghiệp có trường Đại học Tây Bắc được xây dựng quy mô với các trang thiết bị hiện đại phục vụ cho việc dạy và học Năm 2009 toàn huyện có 3 trường THPT ( Trường Cò Mạ là trường liên cấp II + III ), 14 trường trung học cơ sở, 18 trường tiểu học và THCS, 18 trường tiểu học, 29 trường mầm non, tổng số có
777 phòng học Trang thiết bị cũng được đầu tư bổ xung hàng năm đáp ứng nhu cầu giảng dạy của giáo viên, học tập của học sinh đảm bảo chất lượng
Chất lượng giáo dục từng bước nâng cao lên, đội ngũ giáo viên thường xuyên được chuẩn hoá với tổng số giáo viên các cấp là 1.399 người, trong đó giáo viên tiểu học là 961 người, trung học cơ sở 391 người và phổ thông trung học 47 người Tỷ lệ các học sinh các cấp lên lớp, đạt tốt nghiệp ngày càng cao Tỷ lệ học sinh đi học tiểu học đúng tuổi chiếm 92,5% Công tác xoá mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học triển khai được 100% xã trong huyện, trong đó
có 11 trường đạt chuẩn phổ cập tiểu học đúng độ tuổi Số người được xoá mù chữ trong năm là 450 người, tỷ lệ người mù chữ chiếm 1,85% dân số
Tuy nhiên công tác giáo dục đào tạo của huyện còn có những khó khăn nhất định như số lượng giáo viên thiếu, cơ sở, trang thiết bị, đồ dùng giảng dạy tuy đã có sự đầu tư song vẫn còn hạn chế, nhiều nhà tạm và đang xuống cấp chưa đáp ứng được yêu cầu của ngành Xã hội hoá công tác giáo dục còn
Trang 37chưa sâu, rộng Sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội chưa được chặt chẽ, vẫn còn trẻ em đến tuổi đi học không đến trường học Việc đào tạo ngành nghề chưa được quan tâm
2.2.5.2 Y tế
Sự nghiệp y tế có nhiều tiến bộ, cơ sở vật chất và trang thiết bị y tế từng bước được nâng cao Đến nay trên địa bàn huyện có 1 bệnh viện trung tâm với 100 giường bệnh, 1 phòng khám đa khoa thuộc khu vực Cò Mạ quy
mô 20 giường bệnh và 29 trạm y tế xã, thị trấn với quy mô bình quân 5 giường bệnh/trạm Bình quân toàn huyện có 21,12 giường bệnh/vạn dân
Toàn huyện có 686 cán bộ làm công tác y tế trong đó; tuyến huyện 117 người, tuyến xã 133 người, tuyến bản 436 người Hiện nay 6/29 xã đã có bác sỹ
Trong năm qua huyện đã triển khai tốt các chương trình y tế quốc gia như tiêm chủng mở rộng ( bại liệt, ho gà, uốn ván, sởi, lao, ) cho trẻ em dưới 1 tuổi Công tác dân số kế hoạch hoá gia đình cũng được quan tâm và được triển khai rộng khắp ở tất cả các địa phương trong huyện, đặc biệt là chiến dịch “Sức khoẻ sinh sản” đã được triển khi tốt đến tất cả các vùng sâu, vùng cao
Hiện nay công tác y tế của huyện còn gặp nhiều khó khăn, cơ sở vật chất trang thiết bị còn thiếu thốn, chưa đồng bộ và đang trong tình trạng xuống cấp Chất lượng cán bộ y tế còn hạn chế, chưa có cán bộ có trình độ chuyên khoa, chuyên ngành cao
2.2.5.3 Thể thao
Hoạt động văn hoá thông tin, thể thao có nhiều đổi mới cả về nội dung
và hình thức hoạt động, phục vụ kịp thời các nhiệm vụ chính trị - kinh tế của địa phương, từng bước đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hoá tinh thần của nhân dân, góp phần giáo dục nâng cao dân trí, xây dựng con người mới và nếp sống văn minh làng mạnh, tăng cường đoàn kết các dân tộc
Trang 38Phong trào thể dục, thể thao của huyện hưởng ứng theo cuộc vận động
“Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại” bằng nhiều hình thức, nội dung phong phú trong các địa bàn dân cư, các cơ quan ban ngành của huyện, các trường học và lực lượng vũ trang, góp phần rèn luyện thân thể nâng cao sức khoẻ cho nhân dân Năm 2009 huyện đã có 38,6% số hộ được công nhận gia đình văn hoá, 4.750 lượt người đến thư viện Tuy đã đạt được những kết quả đáng khích lệ, song hoạt động VH – TDTT của huyện vẫn còn nhiều hạn chế, chưa được phát triển rộng khắp, chủ yếu mới tập trung ở thị trấn và các xã dọc quốc lộ 6 và một số xã vùng II Cơ sở vật chất, trang thiết
bị thiếu thốn, lạc hậu, kinh phí hoạt động còn eo hẹp
2.2.6 Cơ sở hạ tầng
2.2.6.1 Hệ thống giao thông
Việc xây dựng phát triển các tuyến giao thông gặp nhiều khó khăn do đặc thù địa hình miền núi và đầu tư chưa đồng bộ, khả năng khai thác sử dụng các tuyến đường còn thấp, chưa đáp ứng được nhu cầu đi lại, giao lưu, trao đổi của nhân dân trong vùng và yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương Trên địa bàn huyện có hai loại hình giao thông đặc trưng là đường bộ
và đường thuỷ
a Hệ thống giao thông đường bộ
Huyện có trên 690 km đường bộ gồm các tuyến quốc lộ, tỉnh lộ, đường huyện, đường đô thi và đường giao thông nông thôn Mật độ đường giao
- Quốc lộ: Có 2 tuyến (Quốc lộ 6, Quốc lộ 279 ) qua huyện với tổng chiều dài 57 km Đây là trục đường quan trọng nối các trung tâm kinh tế, văn hoá chính trị, an ninh quốc phòng của huyện Chủ yếu là dường cấp IV, cấp V miền núi
Trang 39- Tỉnh lộ: Có tuyến tỉnh lộ 107, 108 với tổng chiều dài là 76 km Là tuyến đường nối liền các trung tâm kinh tế, văn hoá của huyện với các huyện lân cận Hầu hết các tuyến đường tỉnh lộ là đường cấp V miền núi chất lượng thấp, bề mặt nhỏ hẹp, sự lưu thông trao đổi hàng hoá hạn chế, mới chỉ đáp ứng được nhu cầu thông suốt vào mùa khô
- Đường đô thị gồm 32 tuyến với tổng chiều dài 13 km (không kể quốc
lộ đi qua) tập trung toàn bộ thị trấn huyện Trong đó, đường cấp IV dài 0,9
km, còn lại là đường nội thị mặt bê tông
- Đường liên xã: Bao gồm các tuyến đường nối mạng lưới giao thông của huyện tới các trụ sở trung tâm xã và liên xã, có tổng chiều dài 177 km, chủ yếu là đường đất có nền đường rộng từ 4 – 6 m, chất lượng đường rất thấp đi lại khó khăn, đặc biệt vào mùa mưa
- Hệ thống đường giao thông nông thôn: Tổng chiều dài hiện có là 366
km với 100% đường đất rộng từ 2 – 4 m, chủ yếu là đường dân sinh chất lượng thấp chỉ đáp ứng được nhu cầu đi lại trước mắt của nhân dân
b Hệ thống giao thông vận tải thuỷ
Do đặc điểm về địa hình nên phần lớn hệ thống các suối của huyện có trắc diện hẹp, độ dốc lớn, dòng chảy mạnh và xiết, nhiều thác ghềnh hiểm trở Việc hình thành và phát triển mạng lưới giao thông đường thuỷ của huyện rất hạn chế, hiện nay chỉ có sông Đà thuộc địa phận xã Liệp Tè đang được khai thác song còn ở mức độ thấp, quy mô nhỏ
2.2.6.2 Thuỷ lợi
Hệ thống các công trình thuỷ lợi gồm: Hệ thống đập xây ở các xã (Chiềng Ly, Chiềng Pấc, Tông Lạnh, Thôm Mòn), đập đất ở các xã (Tông Cọ, Chiềng La, Muối Nọi, Noong Lay ) và 19 phai dọ thép, 179 phai thời tạm, trên 120 km kênh mương, đáp ứng nhu cầu tưới nước cho 1.325 ha lúa 2 vụ
và 831 ha ruộng 1 vụ, ngoài ra còn tưới ẩm cho một diện tích đáng kể cây công nghiệp, cây ăn quả, cấp nước cho thuỷ điện kết hợp với nuôi trồng thuỷ sản, và phục vụ cho sinh hoạt và chăn nuôi của nhân dân
Trang 40Tuy nhiên các công trình thuỷ lợi trên địa bàn huyện phần lớn vẫn là tạm thời, chưa được xây dựng đòng bộ, quy mô nhỏ, chưa được kiên cố hoá nên hầu hết đã xuống cấp, khả năng giữ nước trong mùa khô rất khó khăn, chưa đáp ứng được nhu cầu cho sản xuất và tưới ẩm cho cây trồng đặc biệt là các loại cây hoa màu, cây công nghiệp, cây ăn quả
2.2.6.3 Hệ thống điện
Nguồn điện của huyện được cung cấp từ lưới điện quốc gia trạm 110/35
KV và một số trạm biến áp nhỏ cung cấp điện cho sản xuất và sinh hoạt của người dân thông qua lưới điện 35 KV, 10KV và 0,4 KV
Hệ thống lưới điện quốc gia đã đến 23/29 xã, thị trấn Tuy nhiên tỷ lệ
hộ dân được sử dụng lưới điện quốc gia chưa nhiều, một phần do hệ thống đường dây 0,4 KV và hệ thống trạm biến áp chưa được đầu tư nhiều Ngoài ra các hệ thống thủy điện nhỏ đã giải quyết một phần điện cho nhu cầu sinh hoạt, song vào mùa khô nguồn nước ít hầu hết các máy thuỷ điện nhỏ không hoạt động được
2.2.6.4 Bưu chính viễn thông
Mạng lưới bưu chính viễn thông được mở rộng Đến nay tổng đài có hai tổng đài tự động với dung lượng 1.070 số, huyện có 3 bưu cục được xây dựng ở: Thị trấn Thuận Châu, Chiềng Pấc, Phỏng Lái Thị trấn Thuận Châu
đã được phủ sóng điện thoại di động và 100% các xã đã có điện thoại đến được trung tâm, số máy thuê bao không ngừng gia tăng, bình quân 6 máy/1000 dân
Hệ thống truyền thanh, truyền hình đã được đầu tư nâng cấp và xây dựng mới, đến nay đã có 23/29 xã đã được phủ sóng truyền hình
Tuy nhiên do địa hình phức tạp nên chất lượng phục vụ của các dịch vụ bưu chính viễn thông không được tốt, đặc biệt là các xã vùng cao, vùng sâu