Nhờ có vườn giống này mà Trung tâm nghiên cứu giống cây rừng đã chọn được một số gia đình tốt và cá thể trội của các loài cây nói trên, trong đó có các gia đình, cá thể Bạch đàn urô tại
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
-
TRIỆU VĂN DIỆP
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM BIẾN DỊ DI TRUYỀN VỀ SINH TRƯỞNG
VÀ MỘT SỐ CHỈ TIÊU CHẤT LƯỢNG CỦA BẠCH ĐÀN URO
(Eucalyptus urophylla S.T Blake) TẠI VƯỜN GIỐNG THẾ HỆ 2
Chuyên ngành: LÂM HỌC
Mã số: 60.62.60
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS Hà Huy Thịnh
HÀ NỘI, 2010
Trang 2Tiếng việt
1 Bộ Nông Nghiệp và phát triển nông thôn (2006), Cẩm nang ngành lâm nghiệp,
chương cải thiện giống và quản lý giống cây rừng ở Việt Nam
2 Nguyễn Ngọc Bình (1996), Đất rừng lâm nghiệp Nxb Nông nghiệp, Hà Nội
3 Lê Mộng Chân, Lê Thị Huyền (2000), Giáo trình thực vật rừng, Nxb Nông
nghiệp, Hà Nội
4 Hoàng Chung (1991), “Một số kết quả nghiên cứu khảo nghiệm loài và xuất xứ
Bạch đàn ở Việt Nam” Bản tin khoa học kỹ thuật và kinh tế lâm nghiệp, (số1), Trang 9-11
5 Nguyễn Trọng Hiếu (1990), Số liệu khí tượng thủy văn việt Nam, số liệu khí hậu,
tập 1 Nxb Tổng cục khí tượng thủy văn, Hà Nội
6 Vũ Tiến Hinh, Phạm Ngọc Giao (1997), Giáo trình điều tra rừng, Trường Đại
học lâm nghiệp, Hà Tây
7 Bùi Thị Huế (1994), Nghiên cứu ảnh hưởng của một số rừng trồng Bạch đàn
(Eucalyptus camaldulensis và E urophylla) đến một số tính chất vùng đồi núi thấp miền Bắc Việt Nam Luận án PTS Khoa học nông nghiệp, trường ĐHLN, Hà Tây
8 Phạm Đức Huy (2006), Nhân giống hai dòng Bạch đàn uro (Eucalyptus
urophylla ST Blake) PN46, PN47 bằng phương pháp nuôi cấy Invitro Luận văn thạc sỹ trường ĐHLN, Hà Nội
9 Lê Đình Khả (1991), “Những nguyên tắc chung và mục tiêu chung trong việc
chọn lọc cây trội để xây dựng vườn giống”, Tạp chí lâm nghiệp (số 2)
10 Lê Đình Khả (1991), “Xây dựng các chương trình cải thiện giống cho các loài
cây quan trọng nhất để phát triển trồng rừng”, Tạp chí lâm nghiệp (số 9)
Trang 3lâm nghiệp (số 3), trang 18-23
12 Lê Đình Khả và cộng sự (2001), Chọn giống và nhân giống cho một số loài cây
trồng rừng chủ yếu giai đoạn 1996 – 2000, Báo cáo khoa học, Viện Khoa học lâm nghiệp Việt Nam, Hà Nội
13 Lê Đình Khả (2003), Chọn tạo giống và nhân giống cho một số cây trồng rừng
chủ yêu ở Việt Nam, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội
14 Lê Đình Khả, Dương Mộng Hùng (2003) Giáo trình giống cây rừng, Trường
đại học lâm nghiệp, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội
15 Lê Đình Khả, TS Hà Huy Thịnh (2005) “Một số thành tựu về cải thiện giống
cây rừng ở nước ta trong những năm gần đây” Tạp chí lâm nghiệp (số 3)
16 Nguyễn Xuân Liệu (2007), Xây dựng và quản lý rừng giống, Cục lâm nghiệp –
dự án giống lâm nghiệp Việt Nam – DANIDA
17 Nguyễn Luyện (1993), “Tìm hiểu về cây Bạch đàn Eucalyptus urophylla”, Tạp
chí lâm nghiệp (số 11)
18 Hồ Hải Ninh, Phí Hồng Hải, Hà Huy Thịnh (2009), “Biến dị di truyền về sinh
trưởng và chất lượng thân cây của Keo lá tràm trong hai khu khảo nghiệm
dòng vô tính ở Việt Nam” Tạp chí NN&PTNT (số 12)
19 Nguyễn Hoàng Nghĩa (1993), “Nghịch lý Bạch đàn”, Tạp chí lâm nghiệp (số 11)
20 Nguyễn Hoàng Nghĩa (1997), Kết quả nghiên cứu khoa học về chọn giống cây
rừng Báo cáo khoa học tập 2, Viện khoa học lâm nghiệp Việt Nam, Hà nội
21 Nghuyễn Hoàng Nghĩa (2000), “Nghịch lý giống cây rừng” Tạp chí lâm nghiệp (số 3)
22 Nguyễn Hoàng Nghĩa (2001), Nhân giống vô tính và trồng rừng dòng vô tính,
Nxb Nông nghiêp, Hà Nội
Trang 4Nông nghiệp, Hà Nội
24 Nguyễn Hoàng Nghĩa (2001), Chọn giống bạch đàn Eucalyptus theo sinh
trưởng và kháng bệnh ở Việt Nam, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, 112 p
25 Lê Trung Ngọc (2003), So sánh hai phương pháp chọn cây trội cho Bạch đàn
Eucalyptus urophylla) tại lâm trường hữu lũng I, Lạng Sơn Luận văn tốt nghiệp ĐHLN, Hà Tây
26 Huỳnh Đức Nhân (1993) “Kết quả khảo nghiệm loài Bạch đàn Eucalyptus
urophylla” Tạp chí lâm nghiệp (số 10)
27 Cấn Thị Lan (2006), Nghiên cứu biến dị di truyền và đánh giá tăng thu di truyền
của vườn giống Keo lá tràm, Luận văn thạc sỹ trường ĐHLN, Hà Nội
28 Nguyễn Dương Tài (1994), Nghiên cứu xuất xứ Bạch đàn (Eucalyptus
urophylla) trong vùng nguyên liệu giấy Trung Bắc Bộ Việt Nam Luận án PTS Khoa học nông nghiệp, trường ĐHLN, Hà Tây
29 Hà Huy Thịnh và cộng sự (2006), Báo cáo tổng kết đề tài giai đoạn 2001 – 2005
Trung tâm nghiên cứu giống cây rừng, Viện Khoa học lâm nghiệp VN, Hà Nội
30 Nguyễn Hải Tuất, Nguyễn Trọng Bình (2005), Khai thác và sử dụng Spss để xử
lý số liệu nghiên cứu trong lâm nghiệp Nxb Nông nghiệp, Hà Nội
31 Nguyễn Thanh Vân (2003), Đánh giá sinh trưởng Bạch đàn uro (Eucalyptus
urophylla) trồng thuần loài tại Lạng Sơn, Bắc Giang, làm cơ sở chọn loài cây trồng cung cấp gỗ nguyên liệu công nghiệp cho công ty lâm nghiệp Đông Bắc Luận văn thạc sỹ trường ĐHLN, Hà Tây
32 Phạm Quang Việt (2004), Nghiên cứu tuyển chọn cây trội Bạch đàn Uro
(Eucalytus urophylla), Luận văn thạc sỹ trường ĐHLN, Hà Tây
Trang 533 Costa e Silva, J., N.M.G Borralho and Wellendorf, H (2000), Genetic
parameter estimates for diameter growth, Pilodyn penetration and spiral grain in Picea abies (L.) Karst Silvae genetica 49: p29-36
34 Costa e Silva, J., Potts, BM, và Dutkowski, GW (2006), Genotype by
invironment interaction for grow of Eucaluptus globulus in Australia, Tree genet Genomes, 2 (2): p61-75
35 Greaves, B.L., Borralho, N.M.G and Raymond, C.A (1996), “Use of pilodyn
for the indirect selection of basic density in Eucalyptus nitens”, Canadian Journal of Forestry Research, (26)
36 Greaves, B.L Borralho, N.M.G and Raymond, C.A (1997), Breeding objective
for plantation eucalypts grown for production of kraft pulp Forest Science,
43, p465-472
37 Phi Hong Hai (2007), Genetic control of Wood Basic Density, Bark Thickness,
Straightness, Branch characteristics and their Relationships with Growth Traits of Acacia auriculiformis A Cunn ex Benth in Northern Vietnam, plan
of PhD projects
38 Nguyen Duc Kien, (2009) Improvement of Eucalyptus plantations grown for
pulp production, Doctoral thesis No 2009:53, Acta universitatis agriculturae Sueciae
39 JP Laclau, JP Bouillet, J Ranger (2000) Dynamics of biomass and nutrient
accumulation in a clonal plantation of Eucalyptus in Congo Forest Ecology and Management, Volue 128, issue 3, 1 April 2000: p181 – 196
40 Raymond, C.A & L.R Schimleck, (2002), Development of near infraed
reflectance analysis calibration for estimating genetic parameters for cellulose content in Eucalyptus globulus Can J For Res 32: 170 -176
Trang 6Shanwen Wang, Zhenshao Luo,and Yiling Zhou, (2002) Genetic gains in growth of Eucalyptus urophylla from seed orchards in west GuangDong Guangzhou, China,( 6):p186-191
42 Wei, X and Borralho, N.M.G, (1997) Genetic control of wood basic density
and bark thickness and their relationship with growth traits of Eucalyptus urophylla in South East China Silvae genetica, (46): p245-249
43 Wei, X and Borralho, N.M.G (1999), Breeding objectives and selection
criteria for pulp production of Eucalyptus urophylla plantations in South East China Forest Genetics, (6): p173-192
44 Williams E R & Matheson A.C, (1994), Experimental design and analysis for
use in tree improvement CSIRO, Melbourne and ACIAR, Canberra p174
45 Zobel, B., E Capinhos and Y Ikemori, (1983) Selecting and breeding for
desirable wood TAPPI J (66): p70 – 74
Trang 7PHỤ LỤC
Trang 8ĐẶT VẤN ĐỀ
Bạch đàn được du nhập vào Việt Nam từ những năm 1930 và đến nay đã trở thành nhóm cây trồng chủ lực trong các chương trình trồng rừng tập trung và trồng rừng phân tán của nước ta Tổng diện tích rừng trồng Bạch đàn ở Việt Nam đến năm 2001 là 348.000 ha, chiếm 30% diện tích rừng trồng cả nước Rừng trồng Bạch đàn đã góp phần đáng kể đáp ứng nhu cầu gỗ nguyên liệu cho công nghiệp giấy, ván giăm, gỗ trụ mỏ, gỗ củi…
Kết quả khảo nghiệm ở giai đoạn trước đã xác định được một số loài bạch
đàn có triển vọng cho trồng rừng trong đó có Bạch đàn urô (Eucalyptus urophylla)
chủ yếu ở các tỉnh miền Bắc và Tây nguyên (Lê Đình Khả và cs., 2003) Đồng thời cũng đã xác định được một số xuất xứ có triển vọng nhất cho loài Bạch đàn này là Lewotobi Flores, Egon Flores cho vùng Trung tâm, xuất xứ Lembata Flores cho vùng Bắc Trung bộ Ngoài ra, nghiên cứu về lai xa giữa ba loài Bạch đàn là Bạch
đàn urô (E urophylla), Bạch đàn caman (E camandulensis) và Bạch đàn liễu (E exserta) đã tạo ra các tổ hợp lai có năng suất cao 1,5-3 lần các giống bố mẹ tuỳ theo
điều kiện lập địa cụ thể (Lê Đình Khả, Nguyễn Việt Cường, 2001) Những nghiên
cứu gần đây cho thấy các giống lai khác loài giữa Bạch đàn urô (E urophylla) với Bạch đàn pelita (E pellita) đã có ưu thế lai rất cao so với bố mẹ của chúng
(Nguyễn Việt Cường, 2005)
Trong giai đoạn từ năm 2000 trở về trước thông qua các nội dung nghiên cứu của các đề tài cấp nhà nước KN 03- 03 (giai đoạn 1991 - 1995), KHCN 08- 04 (giai đoạn 1996 - 2000) dự án FORTIP về cải thiện giống cây rừng do Trung tâm nghiên cứu giống cây rừng hợp tác với CSIRO của Australia tài trợ, đã xây dựng các vườn giống của một số loài cây, Bạch đàn urô ở Vạn Xuân (Phú Thọ) và Ba Vì (Hà Tây cũ) vườn giống Keo Tai tượng ở Ba Vì (Hà Tây cũ) và Chơn Thành (Bình Phước) và vườn giống Keo lá tràm ở Ba Vì (Hà Tây cũ) và Chơn Thành (Bình Phước) Nhờ có vườn giống này mà Trung tâm nghiên cứu giống cây rừng đã chọn được một số gia đình tốt và cá thể trội của các loài cây nói trên, trong đó có các gia đình, cá thể Bạch đàn urô tại vườn giống ở Ba Vì và Vạn Xuân là cơ sở để tiến hành
Trang 9chọn lọc, lai giống, khảo nghiệm hậu thế, xây dựng vườn giống tiếp theo Đây cũng chính là các vườn giống hữu tính thế hệ 1 cho loài này đầu tiên ở Việt Nam
Giai đoạn 2001- 2005, trung tâm nghiên cứu giống cây rừng đã đánh giá và chọn lọc được nhiều gia đình và cá thể Bạch đàn urô ưu trội trong các vườn giống tại Ba vì và Vạn Xuân Trong quá trình nghiên cứu giai đoạn tiếp theo (2006-2010), trung tâm đã xây dựng mới hệ thống vườn giống Bạch đàn urô thế hệ hai và hệ thống các khảo nghiệm dòng vô tính của 80 –100 dòng chọn lọc từ các gia đình và xuất xứ tốt nhất của Bạch đàn urô theo hướng sinh trưởng, chất lượng thân cây, tỷ trọng gỗ, hàm lượng cellulose và một số tính chất cơ lý gỗ đã được đánh giá từ vườn giống thế hệ 1 tại Ba Vì và Vạn Xuân
Các vườn giống hữu tính thế hệ 2 được xây dựng từ những gia đình, cá thể tốt nhất của vườn giống thế hệ 1 và một số gia đình được tuyển chọn Các vườn giống thế hệ 2 là cơ sở đánh giá khả năng biến dị di truyền của các gia đình, cá thể chọn lọc trong vườn giống thế hệ 1, cùng với đó các vườn giống thế hệ 2 là cơ sở để tuyển chọn các gia đình và cá thể Bạch đàn uro chất lượng cao phục vụ cho trồng rừng ở nước ta, đồng thời là nguồn vật liệu quý phục vụ cho công tác nghiên cứu cải thiện giống, lai tạo giống, nhân giống… Được xây dựng trên nhiều vùng lập địa khác nhau Ba Vì (Hà Nội), Đông Hà (Quảng Trị), Nam Đàn (Nghệ An),…các vườn giống thế hệ hai còn là cơ sở đánh giá tương tác di truyền –hoàn cảnh từ đó đề xuất biện pháp sử dụng giống Bạch đàn uro hợp lý nhất cho các dạng lập địa trồng rừng
Hiện nay các vườn giống Bạch đàn uro thế hệ 2 được xây dựng đã có sự phân hóa giữa các gia đình và các cá thể Những đánh giá bước đầu về khả năng di truyền, biến dị của các gia đình trong các vườn giống thế hệ 2 là rất cần thiết Từ đó
có biện pháp tác động kịp thời tới vườn giống và đề xuất cơ sở sử dụng nguồn giống Bạch đàn uro có phẩm chất tốt, mức di truyền cao
Trên cơ sở nối tiếp những nghiên cứu về cải thiện giống cây rừng cho loài Bạch đàn uro, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Nghiên cứu đặc điểm biến dị di truyền về sinh trưởng và một số chỉ tiêu
chất lượng của Bạch đàn uro (Eucalyptus urophylla) tại vườn giống thế hệ 2”
Trang 10Công tác giống cây rừng ở nước ta được bắt đầu từ năm 1930 khi các nhà lâm nghiệp người Pháp xây dựng một số điểm khảo nghiệm cho một số loài cây trồng rừng ở nước ta Sau đó, trong những năm 1950 - 1960 các khảo nghiệm cho
bộ giống 18 loài bạch đàn, 15 loài thông và một số loài keo đã được tiến hành tại
vùng núi Đà Lạt mà đến nay đã thành một số loài có giá trị như Eucalyptus microcorys và E grandis cao 60 m với đường kính 55 - 60 cm Tuy vậy, do điều
kiện chiến tranh nên trong một thời gian dài công tác giống chỉ dừng lại ở bảo quản hạt giống và xây dựng rừng giống là chính.[15]
Sau năm 1975, đặc biệt là từ năm 1980, hoạt động cải thiện giống cây rừng mới được đẩy mạnh trong cả nước Các hoạt động trong thời gian đầu chủ yếu là khảo nghiệm loài và xuất xứ Sau đó là các hoạt động về chọn lọc cây trội, xây dựng rừng giống và vườn giống Những hoạt động nổi bật gần đây là phát hiện và nghiên cứu các giống lai tự nhiên, tạo giống lai nhân tạo, nhân giống hom và nuôi cây mô, cũng như ứng dụng chỉ thị phân tử vào cải thiện giống cây rừng [15]
Từ những năm 1975 chúng ta đã xác định được một số xuất xứ có triển vọng của một số loài cây chủ yếu, như Keo tai tượng, Keo lá tràm, Keo lá liềm, Keo quả
khía (A Aulacocarpa) cho vùng thấp; các loài Keo chịu hạn như: A Difficilis, A.torulosa, A.tumida cho vùng khô hạn; Keo đen (A Mearnsii) cho vùng cao; Một
Trang 11số xuất xứ của Bạch đàn camal, Bạch đàn uro, Bạch đàn têrê cho nhiều vùng trong
cả nước Một số xuất xứ Thông caribaea cho nhiều vùng; Thông nhựa và Thông ba
lá cho Đà Lạt và miền Bắc Chúng ta đã chọn cây trội và và xây dựng một số vườn giống cho Thông nhựa, Thông ba lá, Thông đuôi ngựa Ngoài ra gần đây chúng ta
đã chọn được một xuất xứ Tràm gỗ (Melaleuca leucadendra) có triển vọng cho
vùng phèn ở đồng bằng sông Cửu Long.[5]
Đáng chú ý đã có một số giống mới được chọn tạo, như dòng lai tự nhiên BV5, BV10, BV16, BV32 và BV33 giữa loài Keo tai tượng và Keo lá tràm (Trung tâm nghiên cứu giống cây rừng); Dòng Bạch đàn U6 nhập từ Trung Quốc; Các dòng Bach đàn uro PN2, PN14 (Viện nghiên cứu cây nguyên liệu giấy – Tổng công ty giấy Việt Nam); Các dòng Phi Lao nhập từ Trung Quốc, như: 601 và 701 (Trung tâm bảo vệ rừng số 2 – Thanh Hóa) Đây là những giống ưu việt, có năng suất cao gấp 2-3 lần so với các giống sản xuất đại trà hiện có [5]
Công tác giống của nước ta tuy chưa phải là dài, lại hoạt động trong thời kỳ đất nước có chiến tranh cũng như nền kinh tế gắp nhiều khó khăn song cũng đạt được một số thành tựu đáng ghi nhận đặc biệt trong những năm gần đây Một mạng lưới các trạm trại cung cấp giống cho các vùng lâm nghiệp trọng điểm trong cả nước đã được xây dựng, các trung tâm sản xuất nghiên cứu giống đã cung cấp giống với nhiều cây quan trọng như Keo, Thông, Bạch đàn, Bồ đề, Tếch, Mỡ và một số loài cây bản địa khác Chúng ta đã chuyển hóa được một số rừng Kinh tế thành rừng giống cho các loài Keo ở Quảng Bình, Đồng Nai, Thông nhựa, Thông ba lá ở Lâm Đồng, Quảng Ninh Nghệ An ; Cây Mỡ ở xí nghiệp giống 97 và trung tâm lâm sinh Cầu Hai Và gần đây là Thông đuôi ngựa ở xí nghiệp cổ phần giống Đông Bắc [6]
Trung tâm nghiên cứu Giống cây rừng (Viện khoa học lâm nghiệp Việt
Nam) đã tạo ra một số tổ hợp lai khác loài giữa Bạch đàn (Eucalyptus), Keo (Acacia) có năng suất cao hơn các loài bố mẹ 3-4 lần [5]
Ở một số cơ sở, như: Trung tâm Nghiên cứu Giống cây rừng (Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam), Viện nghiên cứu cây nguyên liệu giấy, Trung tâm nghiên cứu ứng dụng khoa học và sản xuất Lâm Nông nghiệp Quảng Ninh, xí nghiệp giống
Trang 12thành phố HCM đã sử dụng thành công công nghệ nuôi cấy mô phân sinh và giâm hom trong việc nhân giống một số loài cây trồng rừng quan trọng
Mặc dầu công tác giống vẫn chưa đáp ứng yêu cầu to lớn của sản xuất, song biết sử dụng giống mới và kỹ thuật nhân giống tiên tiến phối hợp với các biện pháp thâm canh thích hợp chắc chắn chúng ta sẽ đẩy mạnh công tác cải thiện giống cây rừng, góp phần tích cực vào việc tăng năng suất rừng trồng trong thời gian tới [15] Những hoạt động này vừa thể hiện sự nỗ lực của những người làm công tác giống ở nước ta vừa là kết quả của sự hợp tác quốc tế Nó là điểm tựa vững chắc giúp cho công tác giống cây rừng nước ta có cơ sở phát triển ngày càng mạnh hơn
1.2 Những nghiên cứu về cây Bạch đàn uro
1.2.1 Trên thế giới
Bạch đàn uro (Eucalyptus urophylla) có nguồn gốc từ Indonesia, phân bố
chủ yếu 7o30 - 10o vĩ độ nam và 122 – 127o kinh Đông trên các dốc núi và trong các thung lũng trên các loại đất bazan, diệp thạch và phiến thạch, đôi khi mọc ở núi đá vôi Bạch đàn urô phân bố ở độ cao 300 – 2960 m trên mặt biển (chủ yếu ở độ cao
1000 – 2000 m), lượng mưa trung bình hàng năm 600 - 2200mm/năm với 2 – 8 tháng khô (Gunn and McDoald, 1991; Eldridge al, 1994) Các đảo chính có Bạch đàn urô phân bố tự nhiên là Flores (Egon và Lewotobi), Adona, Pantar, Alor, Wetar
và Timor (Gunn and McDoald, 1991; Eldridge al, 1994) [38]
Bạch đàn (Eucalyptus urophylla) thuộc họ Sim (Myrtaceae) gồm 664 loài,
Bạch đàn urô thuộc chi phụ Symphyomyrtus (Willcox, 1997.Pryor Johnson, 1971)
Bạch đàn urô là cây gỗ lớn, nơi nguyên sản Bạch đàn urô có thể cao 25 – 45
m, đôi khi có thể đạt trên 55 m, đường kính có thể đạt 1 – 2 m (Turnbull & Brooker, 1978; Jacobs 1981)
Trong hàng trăm loài bạch đàn đã được khảo nghiệm ở nhiều nước, song chỉ
có ít loài và xuất xứ được chọn để trồng rừng trên diện tích rộng (Davdson, 1998) Bạch đàn urô có khả năng thích nghi với các lập địa khác nhau và đang được sử dụng để gây trồng rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới
Trang 13Hệ số di truyền về tính trạng sinh trưởng: Nói chung tính trạng sinh trưởng của cây rừng có hệ số di truyền từ thấp tới trung bình (Cornelius, 1994) Hệ số di truyền theo nghĩa hẹp về sinh trưởng của Bạch đàn uro thấp khoảng 0,2 – 0,49 với
độ tuổi 3 - 5 tuổi (Wei Borralho, 1998) trong khi đó hệ số di truyền về tỷ trọng gỗ cao hơn h2 = 0.71 với tuổi 6 (Wei Borralho, 1997) [42]
Bên cạnh đó ngoài sinh trưởng và tỷ trọng gỗ thì hệ số di truyền của Cellulose và hiệu suất bột giấy đã được nghiên cứu và xác định ở một số loài Bạch đàn như E globulus và E nittens Một số nghiên cứu cho kết quả về hệ số di truyền
của cả hai tính trạng Cellulose và hiệu suất bột giấy là như nhau (Raymond et al.,
2001; Raymond Schimleck, 2002) [40] Tuy nhiên với nghiên cứu khác đã tìm thấy hệ số di truyền về Cellulose cao hơn hệ số di truyền về hiệu suất bột giấy, kết quả nghiên cứu cho thấy hệ số di truyền về Cellulose là 0,63 trong khi hệ số di
truyền về hiệu suất bột giấy là 0,43 (Kube et al., 2001; Raymond et al., 2001; Raymond Schimleck, 2002; Schimleck et al., 2004; Tibbits Hodge, 1998)
Nghiên cứu về hệ số di truyền và tương tác di truyền hoàn cảnh cho thấy hệ
số di truyền về tỷ trọng gỗ là không đáng kể hay nói các khác là hệ số di truyền về
tỷ trọng gỗ không có tương quan với lập địa (Greaves et al., 1997; Osorio et al.,
vỏ giảm từ 18% xuống còn 12%
Ở Cônggô trên cơ sở các nghiên cứu của Trung tâm Kỹ thuật Lâm nghiệp Nhiệt đới (CTFT), tăng trưởng bình quân năm ở tuổi 6 của các lô hạt chưa được tuyển chọn là 12 m3/ha/năm so với 25 m3/ha/năm của các xuất xứ đã được chọn lọc
và 35 m3/ha/năm các dòng vô tính được chọn lọc (Delwaulle, 1989; Vigneron,
Trang 141989) Từ năm 1997, các cây lai nhân tạo thông qua thụ phấn khống chế đã được tạo ra và cho tới nay, hàng trăm dòng vô tính bắt nguồn từ các cây lai nhân tạo đã được đưa vào hàng chục khảo nghiệm dòng vô tính để tuyển chọn dòng vô tính tốt nhất phục vụ cho trồng rừng Từ cuối những năm 80, người ta đã có 174 kiểu gen
ưu việt của tổ hợp lai E.alba x E urophylla (Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2001) [24]
Ở Côlombia rừng trồng bạch đàn bắt nguồn từ kết quả khảo nghiệm xuất xứ, sau đó lấy hạt của xuất xứ tốt đem trồng rừng nên có biến động lớn về kích thước và chất lượng cây Tiềm năng để cải thiện năng suất và chất lượng thông qua chọn giống là rất lớn và có thể thực hiện được Một chương trình cải thiện giống dài hạn
và ngắn hạn đã được đề xuất và triển khai thực hiện cho một số loài bạch đàn như
E urophylla và E grandis (Lambeth et al., 1989) Người ta đã thu được 65 dòng vô
tính trong đó có 15 dòng tốt nhất đã được dùng để sản xuất hom cho giai đoạn trước mắt Do cường độ chọn lọc thấp nên năng suất rừng trồng dự kiến chỉ tăng khoảng 15% Chương trình ngắn hạn bao gồm chọn cây trội có cường độ cao (khoảng 1900 cây chọn 1 cây), khảo nghiệm dòng vô tính và từ khoảng 460 dòng thử nghiệm chỉ
sử dụng 30 dòng tốt nhất vào giâm hom hàng loạt, hy vọng tăng năng suất lên thêm 60%, tức là từ 25 m3/ha/năm lên 40 m3/ha/năm trong một thế hệ
Ở Nam Phi từ năm 1983, một đơn vị trồng rừng của Công ty Mondi đã triển khai một chương trình ứng dụng nhân giống hom bạch đàn vào trồng rừng nhằm đáp ứng các nhu cầu ngày càng tăng về bột giấy Các kết quả nghiên cứu đã được sử dụng để tuyển chọn các dòng vô tính năng suất cao để nhân giống hàng loạt Chương trình đã được bắt đầu bằng việc chọn và nhân hom các cây trội được tuyển chọn tại chỗ và từ các khảo nghiệm hậu thế, khảo nghiệm cây Bạch đàn lai của Viện Nghiên cứu rừng Nam Phi, sau đó xây dựng các khảo nghiệm dòng vô tính nhằm chọn được các dòng vô tính có triển vọng nhất Kết quả đã được Quaile (1989) thông báo trên cơ sở so sánh các rừng trồng 30 tháng tuổi Trong khảo nghiệm thực hiện với 30 dòng vô tính tuyển chọn tại chỗ, tăng trưởng bình quân về thể tích cây con từ hạt (cây đối chứng) là 19,4 m3/ha/năm, trong khi đó có 14 dòng vô tính vượt trội đối chứng và tăng trưởng bình quân năm của dòng tốt nhất đạt khoảng 24,4
m3/ha/năm (Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2001) [24]
Trang 15Trong một khảo nghiệm khác gồm 78 dòng vô tính được chọn lọc từ các khảo nghiệm hậu thế thế hệ 2 của Viện Nghiên cứu rừng Nam Phi và các dòng vô tính thế hệ 1 của vùng Mondi, cây con từ hạt (đối chứng) đạt tăng trưởng bình quân năm là 21,9 m3/ha/năm trong khi đó có 50 dòng trong số 78 dòng vô tính của viện vượt đối chứng, 9 dòng vô tính đạt trên 30 m3/ha/năm và 3 dòng vô tính tốt nhất đạt tăng trưởng bình quân năm là 40 m3/ha/năm (Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2001)
Ở Trung Quốc vào thập niên những năm 1980 bắt đầu khảo nghiệm loài và
xuất bạch đàn urô ( E urophylla) Dự án hợp tác nghiên cứu giữa trung tâm nghiên
cứu giống Bạch đàn (CERC) của Trung Quốc với Australian, trong 8 năm dự án đã trồng được 1400 ha rừng trồng nghiên cứu Bạch đàn với 100 loài và trên 200 xuất
xứ trong đó có 10 ha vườn giống Bạch đàn urô ( E urophylla) (Qi Shuxiong, 2002)
Đồng thời trên 20 loài bạch đàn được trồng nhiều nhất ở Trung Quốc trong đó bạch đàn urô và bạch đàn lai giữa E grandis x E urophylla là thành công nhất ở Trung Quốc (Zhang Ronggui, 2002)
Vào những năm 1990, Trung tâm nghiên cứu giống Bạch đàn của Trung Quốc đã tiến hành nghiên cứu chọn giống Bạch đàn urô với 97 xuất xứ từ khảo nghiệm xuất xứ đã chọn lọc cây trội và khảo nghiệm hậu thế đồng thời tiến hành lai
giống khống chế giữa các loài Bạch đàn, E urophylla x E grandis, E grandis x E urophylla, E urophylla x E tereticornis và E saligna x E exserta từ đó chọn lọc
được các cá thể và đã khảo nghiệm và có một số dòng năng xuất bình quân năm 40 – 50 m3/ha/năm (Qi Shuxiong, 2002) Đến năm 2002 Trung Quốc đã trồng được 1,54 triệu ha rừng trồng Bạch đàn, sinh trưởng rất nhanh ở các tỉnh phía Nam đem lại hiệu quả kinh tế do đó được chính phủ và người dân địa phương hưởng ứng hoan nghênh (Qi Shuxiong, 2002)
Theo một nghiên cứu về di truyền tăng trưởng của Bạch đàn tại Quảng Đông (Trung Quốc) cho thấy với 32 gia đình thụ phấn tự do của Bạch đàn urophylla là cây trội được lựa chọn từ một vườn giống nằm ở Suixi (rừng Thử nghiệm Farm, tỉnh Quảng Đông) đã được khảo nghiệm ở Lôi Châu để kiểm tra di truyền của các gia đình này So với giống đại trà và hạt giống nhập, tăng thu di truyền đạt được từ
sử dụng hạt các gia đình này tương ứng là 5,2% và 16,1% Đối với các vườn giống
Trang 16vô tính xây dựng với cây trội được lựa chọn thì tăng thu ước tính tương ứng sẽ đạt
là 10,4% và 31,3% Hạt giống của cây trội đã được đề nghị cho phát triển các đồn điền ở khu vưc Tây Quang Đông (Shaowei Huang et all.,2002) [41]
1.2.2 Ở Việt Nam
Bạch đàn urô (E urophylla) là loài cây nguyên sản từ Indonesia Đây là loài
có tính thích ứng cao, sinh trưởng nhanh và hiện đang là loài cây trồng chủ lực trên các lập địa đất đồi trọc, nghèo dinh dưỡng ở vùng Trung tâm miền Bắc, Bắc Trung
Bộ và vùng Tây Nguyên Các các xuất xứ triển vọng của Bạch đàn urô là Lewotobi Flores, Egon Flores cho vùng Trung tâm, xuất xứ Lembata Flores cho vùng Bắc Trung bộ (Nguyễn Dương Tài, 1994; Lê Đình Khả và cộng sự, 1996; Lê Đình Khả, 2003) Ngoài ra, Bạch đàn urô còn có khả năng lai giống với các loài bạch đàn khác như Bạch đàn caman, Bạch đàn têrê, Bạch đàn pellita và Bạch đàn grandis tạo ra những giống lai có ưu thế lai vượt trội [12]
Công tác chọn giống Bạch đàn urô (E urophylla) đã được tiến hành từ
những năm 1975 ở Việt Nam những khảo nghiệm chính thức mới được thực hiện ở Viện Lâm nghiệp (nay là Viện khoa học Lâm nghiệp Việt Nam), Trung tâm nghiên cứu cây có sợi (nay là Viện nghiên cứu nguyên liệu giấy Phù Ninh) và những năm
1980 mới thực hiện ở Miền Nam
Trong công trình nghiên cứu chọn giống và nhân giống cho một số loài cây trồng rừng ở Việt Nam (Lê Đình Khả và các cộng tác viên, 2001) đã kết luận rằng Bạch đàn urô phát triển có triển vọng nhất trong khảo nghiệm tại Đông Hà hơn hẳn
bạch đàn E cloeziana và E pellita, Cũng theo các tác giả trên, các xuất xứ triển
vọng của Bạch đàn urô là Lembata Flores cho vùng Đông Hà [12]
Giai đoạn từ 1980-1995, chủ yếu là khảo nghiệm loài và xuất xứ trên một số
vùng sinh thái trên cả nước Khảo nghiệm xuất xứ Bạch đàn urô (E urophylla) của
Nguyễn Dương Tài (1994) được đưa vào trồng thử nghiệm ở Quảng Nạp (Phú Thọ), qua thử nghiệm chúng đã chứng tỏ sức sống cao và sinh trưởng khá nhanh Xuất xứ Ulubahu ở độ cao 150m tại đảo Wetar (gần đào Alor) có sinh trưởng tốt nhất Sau
đó là xuất xứ ở Alor (có độ cao 800 – 1200m) Ở một số nơi khác không có sự tham gia của xuất xứ này thì các xuất xứ Lewotobi Flores và Egon Flores là có sinh
Trang 17trưởng lớn nhất [28] Khảo nghiệm ở Đông Hà Quảng Trị cho thấy xuất xứ Lembata sinh trưởng tốt nhất trong điều kiện canh tác chưa cao, sau 8,5 tuổi xuất xứ này có chiều cao 13,2m với đường kính ngang ngực 11,4cm (Nguyễn Dương Tài, 1994; Lê Đình Khả, 1996)
Giai đoạn từ 1996 – 2000, trong các năm 1996 - 1998 dự án FORTIP về cải thiện giống cây rừng do Trung tâm nghiên cứu giống cây rừng (Viện KHLN) hợp tác với Khoa Lâm nghiệp và sản phẩm rừng của CSIRO đã xây dựng được 2 vườn giống hữu tính thế hệ 1 tại Ba Vì – Hà Nội (3ha với 144 gia đình thuộc 9 xuất xứ)
và tại Vạn Xuân Phú Thọ (3ha với 144 gia đình thuộc 9 xuất xứ) (Hà Huy Thịnh và các ctv, 2006) [29]
Giai đoạn 2001 – 2005 đã tiến hành đánh giá sinh trưởng của các gia đình tốt, đánh giá sinh trưởng của cá thể tốt trong gia đình tốt đồng thời đánh giá tỷ trọng
gỗ và tương quan của tỷ trọng gỗ và sau đó là nhân giống vô tính
- Sinh trưởng của các gia đình trong vườn giống:
Đánh giá sinh trưởng tại vườn giống Vạn Xuân – Phú Thọ ở giai đoạn 9 năm tuổi (2005) cho thấy đường kính trung bình của toàn vườn giống là 14,4 cm Từ vườn giống này đã chọn được 20 gia đình có sinh trưởng tốt nhất có thể tích thân cây trung bình 274,2 dm3/cây
Trong 144 gia đình được dùng để xây dựng vườn giống tại Vạn Xuân thì 35 gia đình thuộc xuất xứ Lewotobi Flores và đây cũng là xuất xứ có đến 12 trong tổng
số 20 gia đình sinh trưởng nhanh nhất đã được chọn từ vườn giống Xuất xứ Egon Flores tuy có 36 gia đình được dùng để xây dựng vườn giống song chỉ có 2 gia đình sinh trưởng nhanh nhất đã được chọn Các xuất xứ khác chỉ có thể chọn được 1-2 gia đình Điều đó chứng tỏ Lewotobi Flores là xuất xứ có triển vọng nhất ở Vạn Xuân (Hà Huy Thịnh và các ctv, 2006)
Đánh giá sinh trưởng tại vườn giống Ba Vì giai đoạn 8 năm tuổi cho thấy vườn giống có đường kính trung bình là 18 cm, chiều cao trung bình cây trong vườn giống là 18,8 m, thể tích trung bình 244 dm3/cây Cây trong vườn giống Ba Vì tuy ít tuổi hơn một tuổi so với cây ở trong vườn giống Vạn Xuân song có thể tích thân cây
Trang 18lớn hơn vì vườn giống Ba Vì được tỉa thưa sớm hơn (Hà Huy Thịnh và các ctv, 2006)
Trong 20 gia đình sinh trưởng nhanh nhất của hai vườn giống thì đã có 8 gia đình của xuất xứ Lewotobi Flores, 1 gia đình của xuất xứ Egon Flores và 1 gia đình của xuất xứ Waikui Central Alor (Hà Huy Thịnh và các ctv, 2006)
Những gia đình được chọn chỉ là theo kiểu hình về sinh trưởng đường kính
và chiều cao Việc chọn cá thể theo các tiêu chuẩn chọn lọc cây trội và đánh giá sinh trưởng qua khảo nghiệm hậu thế mới thực sự xác định được các cây ưu việt và
có khả năng di truyền cao (Hà Huy Thịnh và các ctv, 2006) Đây cũng là cơ sở để xây dựng vườn giống thế hệ 2
- Tỷ trọng gỗ và tương quan giữa sinh trưởng và tỷ trọng gỗ:
Sinh trưởng là chỉ tiêu quan trọng nhất trong chọn giống cây rừng Các chương trình chọn giống trên thế giới phần lớn đều lấy sinh trưởng làm chỉ tiêu chính trong chọn giống Còn tỷ trọng gỗ (là khối lượng riêng) là một tính trạng được chú ý trong những năm gần đây Tỷ trọng gỗ không chỉ liên quan đến khả năng chịu lực và độ bền của gỗ mà còn có vai trò quan trọng trong việc tăng hiệu suất bột giấy của các loài cây nguyên liệu giấy
Nhiều nghiên cứu trên thế giới và trong nước đã thấy rằng trong một lâm phần đồng tuổi thì sinh trưởng và tỷ trọng gỗ là hai tính trạng độc lập, không có tương quan với nhau hoặc tương quan rất thấp (Zobel và Jackson, 1995, Lê Đình Khả, Trần Quốc Minh, 1997, v.v.), trong một số trường hợp thậm chí là tương quan
âm (Lacaze và Polge, 1970, Yachuk và Kis, 1992)
Tỷ trọng gỗ là tính trạng hết sức quan trọng, có ảnh hưởng rất lớn đến tiềm năng bột giấy cũng như tính chất cơ lý gỗ (Raymond, 2001) Theo Zobel (1984) thì
ở Pinus taeda biến dị về tỷ trọng gỗ giữa các lập địa chỉ chiếm 5%, giữa các xuất xứ
là 15% và biến dị trong một cây cũng chỉ là 10%, trong khi đó biến dị về tỷ trọng giữa các cây trong một quần thể là 70% Vì vậy, chọn lọc cây trội vừa có sinh trưởng nhanh và có tỷ trọng gỗ cao sẽ đem lại lợi ích rất lớn
Trang 19Xác định tỷ trọng gỗ của Bạch đàn uro tại cả hai vườn giống cho thấy mặc
dù vườn giống Vạn Xuân trồng trước vườn giống Ba Vì một năm, song tỷ trọng gỗ
ở cả hai vườn về cơ bàn là như nhau (tỷ trọng gỗ trung bình của vườn giống Vạn Xuân là 517 kg/m3 thì trung bình của vườn giống Ba Vì là 514 kg/m3) Song biến dị
về tỷ trọng giữa các cây trong từng vườn giống lại rất lớn (từ 390 đến 630 kg/m3)
Nghiên cứu tương quan giữa sinh trưởng với tỷ trọng gỗ cho Bạch đàn urô thực hiện đầu tiên ở Việt Nam Vì thế trước khi chọn giống, kết hợp sinh trưởng với
tỷ trọng gỗ cần xác định hệ số tương quan giữa những chỉ tiêu này Kết quả cho thấy hai chỉ tiêu này là khá độc lập với nhau Quan hệ giữa thể tích thân cây và tỷ trọng gỗ ở vườn giống Ba Vì cũng tương tự như vậy
Xác định hệ số tương quan di truyền giữa các chỉ tiêu sinh trưởng và tỷ trọng
gỗ cho thấy:
Tại Vạn Xuân: Hệ số tương quan giữa đường kính (D1,3) với tỷ trọng gỗ là r
= 0,15 và tương quan giữa chiều cao (H) với tỷ trọng gỗ là r = 0,19
Tại Ba Vì: Hệ số tương quan giữa đường kính (D1,3) với tỷ trọng gỗ là r = 0,28 và tương quan giữa chiều cao (H) với tỷ trọng gỗ là r = 0,11
Điều đó chứng tỏ trong rừng trồng thuần loài và đồng tuổi thì tỷ trọng chỉ có tương quan rất thấp với sinh trưởng của cây
Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy do sống trong các lập địa khác nhau mà thể tích thân cây của cùng một gia đình ở các vườn giống có thể không như nhau và trị số tuyệt đối về tỷ trọng gỗ cũng không như nhau, song trật tự các cây được xếp hạng theo tỷ trọng gỗ lại rất giống nhau Điều đó chứng tỏ tỷ trọng gỗ là một chỉ tiêu có hệ số di truyền khá cao (Hà Huy Thịnh và các ctv, 2006)
Chọn giống theo đồng thời cả hai chỉ tiêu này là một việc rất khó và có xác suất nhỏ Vì thế việc chọn lọc kết hợp hai tính trạng này thường được tiến hành theo từng chỉ tiêu riêng rẽ theo kiểu chọn độc lập (independent culling), sau đó được khớp lại theo kiểu chồng ghép bản đồ, hoặc chọn theo phương pháp chọn lọc trước sau (tandem selection) (Lê Đình Khả, Dương Mộng Hùng, 2003), nghĩa là sau khi
Trang 20chọn được những cây có sinh trưởng nhanh nhất mới tiến hành chọn cây có tỷ trọng
gỗ cao nhất trong những cây có sinh trưởng nhanh
- Chọn lọc gia đình theo sinh trưởng và tỷ trọng gỗ:
Sinh trưởng là một tính trạng có tính độc lập tương đối với tỷ trọng gỗ nên chọn lọc kết hợp 2 tính trạng này được thực hiện theo phương pháp chọn trước sau, nghĩa là sau khi có nghiên cứu cơ bản về tỷ trọng gỗ thì chỉ xác định tỷ trọng gỗ cho những cây giống có sinh tưởng nhanh nhất, từ đó loại bỏ những cây có tỷ trọng quá thấp và giữ lại những cây có tỷ trọng gỗ từ trung bình trở lên Những cây có tỷ trọng gỗ cao mà sinh trưởng trung bình cũng được xem là đối tượng được giữ lại làm cây giống, vì thế kết quả bao gồm cả những gia đình sinh trưởng nhanh tỷ trọng
gỗ cao hoặc trung bình lẫn những cây có sinh trưởng trung bình mà tỷ trọng gỗ cao (Hà Huy Thịnh và các ctv, 2006)
Tuỳ yêu cầu chọn giống để làm gỗ xẻ, gỗ làm giấy hay gỗ nguyên liệu mà xác định tính trạng chính trong chọn giống, song bao giờ sinh trưởng nhanh cũng là một chỉ tiêu quan trọng
Việc chọn cây cá thể đáp ứng các yêu cầu chất lượng thân cây cao như
có độ thẳng thân cây cao và cành nhỏ từ những gia đình nói trên là một bước
đi quan trọng trong chọn giống Đương nhiên đây mới là những cây được chọn theo các tính trạng kiểu hình (phenotype) nên việc khảo nghiệm và chọn lọc sẽ cho phép tạo ra những dòng vô tính hết sức có giá trị
- Hệ số di truyền và tương tác Di truyền - Hoàn cảnh:
Hệ số di truyền theo nghĩa hẹp được tính toán cho các tính trạng đường kính, chiều cao, thể tích, tỷ trọng gỗ, độ dày vỏ, độ thẳng thân và độ nhỏ cành trên hai lập địa tại Ba Vì, Vạn Xuân và chung cho cả hai lập địa
Từ kết quả nghiên cứu cho thấy các tính trạng sinh trưởng, độ dày vỏ có hệ
số di truyền đạt mức trung bình đến khá cao (0,22 - 0,38), Các tính trạng chất lượng thân cây là độ thẳng thân, độ nhỏ cành có hệ số di truyền tương đối thấp (0,13 - 0,18) Tỷ trọng gỗ có hệ số di truyền cao (0,52 - 0,57), Các kết quả nghiên cứu trên hoàn toàn tương đồng với các nghiên cứu cho Bạch đàn uro trên thế giới (Mori et
Trang 21al,, 1990; Kurinobu et al,, 1996; Nirsatmanto et al,, 1996; Wei and Borralho, 1998; Arnold and Cuevas, 2003; Xu et al, 2003), Hệ số di truyền cao của tỷ trọng gỗ cho thấy việc chọn lọc theo kiểu hình đối với chỉ tiêu này có khả năng đem lại tăng thu thỏa đáng
Kết quả đánh giá tương tác giữa xuất xứ và lập địa và giữa gia đình và lập địa cho thấy sự tương tác không có ý nghĩa giữa hai lập địa cho các chỉ tiêu sinh trưởng và tỷ trọng gỗ Kết quả này còn cho thấy thứ tự xếp hạng về sinh trưởng và
tỷ trọng gỗ của các gia đình giữa hai lập địa là tương đối giống nhau cho dù có sự sai khác về tốc độ sinh trưởng giữa hai lập địa Kết quả cũng cho thấy việc đánh giá
và chọn lọc có thể chỉ cần tiến hành trên một quần thể mà vẫn đảm bảo tăng thu di truyền thỏa đáng khi đưa ra ứng dụng ở những nơi có điều kiện lập địa tương đồng như tại Ba Vì và Vạn Xuân (Hà Huy Thịnh và các ctv, 2006)
- Nghiên cứu về chọn giống và lai giống Bạch đàn ở Việt Nam:
Nghiên cứu về lai nhân tạo cho một số loài bạch đàn mới được tiến hành từ năm 1997 tại Trung tâm nghiên cứu giống cây rừng đến năm 2000 hơn 60 tổ hợp lai
giữa 3 loài là Bạch đàn uro (E urophylla), Bạch đàn lá liễu (E exserta), và Bạch đàn caman (E camaldulensis) đã được tạo ra (Lê Đình Khả, Nguyễn Việt Cường,
1998, 2000a, 2000b)
Ưu thế lai vừa chịu ảnh hưởng của quan hệ di truyền, vừa chịu ảnh hưởng của hệ mẹ (thể hiện trong lai thuận nghịch) và vừa chịu của điều kiện hoàn cảnh Đất tốt cây lai có sinh trưởng nhanh hơn rõ rệt so với các loài bố mẹ, trong lúc ở nơi đất xấu sự khác biệt này có phần ít hơn Hay nói cách khác, điều kiện sinh trưởng càng thuận lợi thì ưu thế lai càng thể hiện rõ rệt (Lê Đình Khả, 2006)
Kết quả từ đề tài lai giống nhân tạo đầu tiên “Bước đầu nghiên cứu lai giống cho một số loài bạch đàn” do GS.TS Lê Đình Khả làm chủ nhiệm đề tài, KS Nguyễn Việt Cường là cộng tác viên chính Qua khảo nghiệm đã chọn lọc được 31 cây trội thuộc 8 tổ hợp lai (Nguyễn Việt Cường, 2009)
Từ năm 2001- 2010, đề tài “Nghiên cứu lai giống một số loài bạch đàn, tràm, keo, thông” do TS Nguyễn Việt Cường làm chủ nhiệm đề tài, đã tiếp tục tạo ra các
Trang 22dòng bạch đàn lai mới Qua khảo nghiệm đã chọn lọc được 27 cây trội thuộc 8 tổ hợp lai (Nguyễn Việt Cường, 2009)
- Tình hình sâu bệnh
Nghiên cứu sâu bệnh về Bạch đàn urô tại nhiều vùng sinh thái khác nhau và phát hiện rằng bạch đàn urô có hai loại tổn hại là bệnh rụng lá và bệnh tàn lụi chồi cây và cành non, nguyên nhân chính là do hai loại nấm Cryptosporiopsis eucalypti
và Cylindrocladium, nó xuất hiện ở vùng Đông Nam Bộ, các tỉnh miền Trung khi
mùa mưa kéo dài và độ ẩm cao (Old et al., 2002; Phạm Quang Thu et al., 2000)
Trang 23Chương 2
MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
- Xác định mức độ biến dị và khả năng di truyền về sinh trưởng, một số chỉ tiêu chất lượng và tỷ trọng gỗ của Bạch đàn uro tại vườn giống thế hệ 2
- Tuyển chọn được một số cá thể và gia đình Bạch đàn uro có năng suất và chất lượng cao
- Xác định mối quan hệ tương tác di truyền - hoàn cảnh ở Bạch đàn uro làm
cơ sở cho các bước cải thiện giống tiếp theo
2.2 Nội dung nghiên cứu
2.2.1 Đánh giá mức độ biến dị về sinh trưởng, một số chỉ tiêu chất lượng và
tỷ trọng gỗ của các gia đình Bạch đàn uro thế hệ 2 tại hai vườn giống Ba Vì (Hà Nội) và Đông Hà (Quảng Trị)
2.2.2 Xác định hệ số di truyền, ước lượng tăng thu di truyền lý thuyết và tương quan về kiểu gen và kiểu hình của một số chỉ tiêu nghiên cứu
2.2.3 Đánh giá mối quan hệ tương tác di truyền - hoàn cảnh của các gia đình Bạch đàn uro tại 2 vườn giống
2.2.4 Đánh giá giá trị chọn giống của các cây trội Bạch đàn uro chọn lọc trong vườn giống thế hệ 1
2.2.5 Chọn lọc các cá thể và gia đình ưu trội trong các vườn giống
2.2.6 Đề xuất các giải pháp cải thiện giống cần tiến hành với Bạch đàn uro
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Luận tổng quan
Kết quả của các chương trình cải thiện giống phải được thể hiện bằng tăng thu di truyền, tăng thu di truyền chỉ có thể đạt được dựa trên cơ sở mức di truyền kết hợp với quá trình chọn lọc Mức tăng thu di truyền lại phụ thuộc vào mức độ
Trang 24biến dị và khả năng di truyền của loài Do vậy biến dị di truyền là cơ sở cho các bước chọn giống tiếp theo
Biến dị di truyền là cơ sở cho việc lựa chọn xuất xứ, gia đình và cá thể Tùy theo đặc điểm biến dị và phạm vi phân bố mà loài có biến dị lớn hay nhỏ, nhiều hay
ít Thông thường các loài có phân bố rộng (nhiều xuất xứ) có quy mô biến dị lớn tạo điều kiện thuận lợi cho việc chọn lọc
Mỗi tính trạng trong mỗi loài cây đều có một khả năng nhất định di truyền lại cho đời sau, khả năng đó gọi là mức di truyền Mức di truyền của các tính trạng riêng biệt là phần kiểm tra của kiểu gien trong các biến dị chung của kiểu hình Mức
di truyền được thể hiện bằng trị số tương đối được gọi là hệ số di truyền
Mặt khác cải thiện giống là một quá trình thường xuyên liên tục và phải trải qua nhiều thế hệ để năng suất và chất lượng không ngừng được tăng lên Vì lý do
đó đánh giá biến dị di truyền của Bạch đàn uro thế hệ 2 là rất cần thiết, nâng bước cho các chương trình cải thiện giống tiếp theo
2.3.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể
2.3.2.1 Thu thập số liệu
(1) Điều tra các chỉ tiêu sinh trưởng: điều tra tất cả các cây trong các ô của
vườn giống Bạch đàn uro thế hệ 2 theo phương pháp được trình bày trong giáo trình Điều tra rừng - Trường Đại học lâm nghiệp và giáo trình giống cây rừng [6],[14]
- Chiều cao vút ngọn (Hvn): được đo bằng thước đo cao (đơn vị m)
- Đường kính tại vị trí 1,3m (D1.3): được đo bằng thước kẹp kính tại vị trí 1,3m từ mặt đất (đơn vị cm)
- Chiều cao dưới cành (Hdc): đo bằng thước đo cao (đơn vị m)
(2) Điều tra các chỉ tiêu phản ánh chất lượng thân cây:
- Độ thẳng thân (Đ tt ): Được xác định bằng mục trắc và cho điểm theo 5 cấp
từ 1-5 điểm
+ Thân cây rất cong 1 điểm
Trang 25+ Thân cây cong 2 điểm
+ Thân cây tương đối thẳng 3 điểm
+ Thân cây thẳng 4 điểm
+ Thân cây rất thẳng 5 điểm
- Độ nhỏ cành (Đnc): Được xác định bằng phương pháp mục trắc và cho
điểm theo 5 cấp từ 1-5 điểm
+ Cành rất lớn: đường kính gốc cành ≥ 1/2 đường kính thân tại vi trí phân cành 1 điểm
+ Cành lớn: đường kính gốc cành 1/2 – 1/4 đường kính thân tại vi trí phân cành 2 điểm
+ Cành trung bình: đường kính gốc cành 1/4 - 1/8 đường kính thân tại
+ Có ngọn chính phát triển, ngọn phát triển lệch, tán lệch hay tán dạng hình tròn 3 điểm
+ Có ngọn chính phát triển, tán hình tháp tù 4 điểm + Có một ngọn chính phát triển mạnh, tán có dạng hình tháp nhọn cân đối (phát triển chiều cao) 5 điểm
Trang 26- Chỉ tiêu sức khỏe (S k ): Sức khỏe là chỉ tiêu phản ánh toàn bộ hình thái cây,
sức sống của cây và tình hình sâu bệnh hại Chỉ tiêu sức khỏe được đánh giá bằng mục trắc và cho điểm theo 5 cấp (từ 1 đến 5 điểm)
+ Cây rất kém phát triển: cây không có khả năng sống, tán rất thưa lá
úa khô, cụt ngọn hay mất ngọn 1 điểm
+ Cây kém phát triển: cây thiếu sức sống, cây ngọn cong queo, tán thưa lá úa vàng màu xanh nhạt 2 điểm
+ Cây phát triển trung bình: Cây phát triển bình thường, tán lá vừa
+ Cây phát triển khá: Tán lá xanh, không có hiện tượng sâu bệnh, thân
và tán cân đối 4 điểm
+ Cây phát triển tốt: Cây phát triển rất mạnh, cân đối về thân và tán lá, không sâu bệnh 5 điểm
(3) Điều tra tỷ lệ cây dị dạng: Những cây di dạng là những cây được sinh ra
do thụ phấn của những cá thể có quan hệ gần gũi nhau hay với những cá thể tự thụ phấn Trong đề tài này chúng tôi xác định những cá thể thụ phấn gần thông qua mục trắc hình thái toàn bộ cá thể, những cây thụ phấn gần (cây dị dạng) có sinh trưởng rất chậm, hay không có khả năng phát triển, thân nhỏ, lá màu vàng úa, tán rất nhỏ ít
lá, sức khỏe rất kém, sâu bệnh hại Trong ô thí nghiệm gồm 4 cá thể trong cùng 1 gia đình, cá thể thụ phấn cận huyết phát triển khác thường với những cá thể còn lại
(4) Chỉ tiêu tỷ trọng gỗ: Được xác định nhanh trên hiện trường điều tra thông
qua một chỉ tiêu gián tiếp có tên là Pilodyn (Theo hướng dẫn của Hansen, 2000) Trước khi bắn Pilodyn tiến hành mở hai cửa sổ theo hai hướng Đông tây và Nam Bắc tại vị trí 1,3m, bắn tại 2 cửa sổ, xác định độ sâu của kim tiến vào thân cây
Trang 27X n
X
1
1
X X n
∆i – tăng trưởng bình quân năm của chỉ tiêu sinh trưởng
Trang 28X - sinh trưởng trung bình của chỉ tiêu sinh trưởng
t – thời gian sinh trưởng (năm)
+ Khoảng sai đị đảm bảo (least significant diference – L.s.d) tính theo công
thức (3.6)
L.s.d = S.e.d * t05(k) (3.6) Trong đó S.e.d là khoảng sai dị có ý nghĩa giữa các trung bình mẫu
t05(k) là giá trị tra bảng ở mức xác xuất có ý nghĩa 0.05 và bậc tự do k
+ Xác định thể tích thân cây:
V D .H vn.f
40 12.3
- Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến thí nghiệm
So sánh sai dị giữa các trung bình mẫu được tiến hành theo tiêu chuẩn Fisher (tiêu chuẩn F)
Nếu F.pr (xác suất tính được) <0.05 thì sự sai khác giữa các trung bình mẫu
là hết súc rõ rệt với độ tin cậy tương ứng là 95%
Nếu F.pr (xác suất tính được) > 0.05 thì sự sai khác giữa các trung bình mẫu
là không rõ rệt
Trang 29Kết quả phân tích phương sai theo bảng Anova
Nguồn
Bậc tự do (d.f)
Phương sai
(sig) Nhân tố A
S2a=VA /(a-1)
S2b=VB / (b-1)
S2N = VN /(a-1)(b-1)
S2a/ S2 N
S2b/ S2N
Để phân tích biến động các chỉ tiêu chọn lọc đề tài sử dụng phần mềm sử lý
số liệu Data Plus 3.0 và Genstar 5.0 (Williams and Matheson, 1994)
(2) Xác định hệ số di truyền và tăng thu di truyền
- Hệ số di truyền (h 2 )
Hệ số di truyền xác định mức di truyền trong vườn giống thế hệ 2 là hệ số di truyền theo nghĩa hẹp và được dùng khi cây mẹ được thụ phấn tự do (nửa sib)
Hệ số di truyền theo nghĩa hẹp được sử dụng để đánh giá khả năng di truyền
ở các khảo nghiệm hậu thế thụ phấn tự do nửa Sib bố trí theo khối ngẫu nhiên đầy
đủ và được xác định bằng các công thức do Falconer (1981) và Zobel & Talbert
(1984) đề xuất [15]
+ Theo cá thể tính theo công thức:
2 2
Trong đó: h2 - là hệ số di truyền theo nghĩa hẹp
2A - phương sai di truyền luỹ tích 2
P - phương sai kiểu hình
Trang 30W)
R - số lần lặp
T - số cây trong ô
F - số gia đình trong khảo nghiệm
Hệ số di truyền được xác định bằng phần mềm chuyên dụng trong cải thiện giống ASREML 1.0 (VSN International)
- Xác định tăng thu di truyền (G)
Kết quả của chọn lọc phải được đánh giá bằng tăng thu di truyền Tăng thu di truyền (genetic gain) còn có tên khác là đáp số chọn lọc (response to selection), là phần tăng thêm đạt được nhờ áp dụng các phương pháp chọn giống
Ước lượng tăng thu di truyền lý thuyết (tăng thu chờ đợi) theo công thức tính tăng thu di truyền trong giáo trình Giống cây rừng của Lê Đình Khả, Dương Mộng Hùng (2003) [15]
(3) Xác định hệ số tương quan giữa các tính trạng
Hệ số tương quan di truyền giữa các tính trạng theo kiểu gen và kiểu hình được tính toán dựa trên công thức (3.11) và (3.12)
1 2
A A
A A g
Trang 31
2 1 2
P P
P p
(4) Đánh giá hiệu quả tương tác kiểu gen với hoàn cảnh
Đánh giá hiệu quả tương tác di truyền - hoàn cảnh (Genetic – Enviroment
interaction) được đánh giá bằng kết quả phân tích phương sai 2 nhân tố với việc sử dụng phần mềm SPSS 16.0
(5) Đề xuất biện pháp tỉa thưa di truyền
- Tính cường độ tỉa thưa giữa các cá thể và gia đình trong vườn giống Bạch đàn uro thế hệ 2 để vừa đạt được tăng thu di truyền mong muốn đồng thời vừa duy trì đa dạng di truyền của vườn giống
- Chọn lọc được các gia đình, cá thể tốt nhất, có triển vọng nhất làm nguồn giống cải thiện phục vụ cho trồng rừng và các chương trình cải thiện giống tiếp theo
Việc chọn lọc các cá thể và gia đình ưu trội trong các khảo nghiệm vườn giống thế hệ 2 được tiến hành theo mục tiêu cung cấp gỗ nguyên liệu,
gỗ xẻ đóng đồ gia dụng, vì thế chỉ tiêu chọn lọc đầu tiên là thể tích thân cây, sau đó đến chỉ tiêu tỷ trọng gỗ, các chỉ tiêu chiều cao dưới cành và chỉ tiêu phản ánh phẩm chất hình thái thân cây.
Trang 32Chương 3
ĐỊA ĐIỂM, VẬT LIỆU NGHIÊN CỨU VÀ ĐẶC ĐIỂM KHU VỰC NGHIÊN CỨU
3.1 Địa điểm và vật liệu nghiên cứu
3.1.1 Địa điểm nghiên cứu
Đề tài triển khai nghiên cứu tại hai địa điểm đặc trưng cho hai vùng địa lý sinh thái của Việt Nam:
- Trạm thực nghiệm giống cây rừng Ba Vì – Hà Nội (Đông Bắc Bộ)
- Trạm khoa học sản xuất lâm nghiệp Bắc trung bộ Cam lộ - Đông Hà – Quảng Trị (Bắc Trung Bộ)
3.1.2 Vật liệu nghiên cứu
Vật liệu nghiên cứu của đề tài là các gia đình Bạch đàn uro (Eucalyptus urophylla) tại hai vườn giống thế hệ hai Ba Vì – Hà Nội và Đông Hà - Quảng Trị
Vườn giống thế hệ 2 xây dựng với mục tiêu kết hợp khảo nghiệm hậu thế các gia đình Bạch đàn uro đã được tuyển chọn tại vườn giống thế hệ 1 đồng thời vườn giống được bố trí và tỉa thưa di truyền đảm bảo lựa chọn các gia đình tốt nhất phục
vụ cho cung cấp hạt giống chất lượng cao và phục vụ các nghiên cứu cải thiện giống Bạch đàn uro giai đoạn tiếp theo
Vườn giống được xây dựng từ 80 gia đình Bạch đàn uro Những gia đình trồng trong vườn giống được thiết kế theo khối hàng - cột, mỗi ô có 4 cây (1 gia đình), với 8 lần lặp hoàn toàn ngẫu nhiên (sơ đồ thiết kế vườn giống thể hiện phụ biểu 01) Hai vườn giống được trồng năm 2005, các hoạt động chăm sóc vườn giống tiến hành hàng năm, sau 3 năm tiến hành đánh giá sinh trưởng của các cá thể theo gia đình Từ đó chọn lọc ra các cá thể, gia đình tốt nhất phục vụ cho các chương trình cải thiện giống tiếp theo
Nguồn vật liệu để xây dựng vườn giống thế hệ 2 là hạt của các cây trội được chọn từ các vườn giống thế hệ 1 tại Ba Vì (Hà Tây cũ) và Vạn Xuân (Phú Thọ), hạt các cây trội trong rừng giống Ba Vì cùng một số gia đình cây lai trong loài Bạch đàn uro và các dòng vô tính được tuyển chọn (U6, PN14) làm đối chứng
Trang 333.2 Điều kiện khí hậu khu vực nghiên cứu
Số liệu diễn biến khí hậu được ghi ở bảng 3.1, được thu thập tại những nơi
có trạm khí tượng thủy văn như Ba vì, còn những nơi không có trạm khí tượng thì
số liệu khí hậu được lấy ở trạm khí tượng gần nhất theo công bố của Cục khí tượng thủy văn
Hai vườn giống Bạch đàn uro thế hệ 2 được trồng trên hai lập địa khác nhau thuộc hai vùng địa lý của Việt Nam (Đông bắc bộ và Bắc trung bộ)
Biểu tổng hợp đặc điểm vị trí địa lý khí hậu tại khu vực nghiên cứu được thể hiện bảng 3.1
Bảng 3.1 Đặc điểm khí hậu các địa điểm nghiên cứu
Địa điểm
nghiên cứu
Vĩ độ (độ, phút)
Kinh độ (độ, phút)
Lượng mưa (mm)
Tháng mưa
>100 mm
Lượng bốc hơi (mm)
TB năm
Tối cao
Tối thấp
- Vĩ độ địa lý: Ba Vì – Hà Nội là lập địa xây dựng vườn giống với vĩ độ
21o07 và Đông Hà – Quảng Trị vĩ độ 16o5
- Sự khác biệt về vĩ độ đã tạo nên sự khác biệt khá rõ về lượng mưa và nhiệt
độ trong năm Tại khu vực Ba Vì (Hà Nội) là khu vực có lượng mưa 1680mm/năm các tháng mưa nhiều (>100mm) xuất hiện tháng 4 đến tháng 10, kèm theo đó lượng bốc hơi thấp hơn so với khu vực Đông Hà (960mm) Trong khi đó Đông Hà với lượng mưa khá cao 2370 mm/năm, lượng mưa tại đây tập trung vào các tháng 8 -
12, số tháng có lượng mưa lớn tập trung ít và muộn hơn so với khu vực Ba Vì Nền nhiệt trung bình năm tại các khu vực này cũng chênh nhau từ 1 - 2oC, nhiệt đô tối cao tại Ba Vì là 40,2oC thấp hơn Đông Hà (42,1oC) Bên cạnh đó nhiệt độ tối thấp
Trang 34vào mùa đông tại các khu vực này chênh nhau khá cao, đối với khu vực Ba Vì nhiệt
độ tối thấp là 5,3oC thì tại Đông Hà là 9,8oC, như vậy biên độ nhiệt tại Ba Vì cao hơn tại Đông Hà Khu vực Đông Hà thường chịu ảnh hưởng của bão, các cơn bão thường tập trung vào các tháng 9 – 10
3.3 Đặc điểm đất đai khu vực nghiên cứu
Mẫu đất được lấy từ địa điểm nghiên cứu theo phương pháp rải đều 5 điểm đại diện Tại các tầng 0-10cm, 11-30cm, 31- 50cm, mỗi mẫu lấy khoảng 1kg Các tầng tương ứng của 5 phẫu diện được trộn đều với nhau, lấy hai phần đối diện, sau
đó lại tiếp tục trộn đều hai phần này rồi lấy tương tự như trên Cứ tiếp tục như vậy đến khi còn 1kg Mẫu đất ở các tầng được phân tích tại phòng phân tích đất thuộc trung tâm Sinh thái và môi trường rừng – Viện khoa học lâm nghiệp Việt Nam
Các đặc điểm đất đai tại khu vực xây dựng vườn giống Bạch đàn uro thế hệ 2 đều được xây dựng trên đất đồi điển hình có địa hình khá bẳng phẳng, độ dốc thấp thấp từ 5o - 7o Với nền thực bì chủ yếu là Sim, Mua, Tế Guột,…
Các đặc điểm về tính chất cơ lý hóa của đất đai tại hai địa điểm nghiên cứu thể hiện bảng 3.2
Khu vực nghiên cứu Ba Vì (Hà Nội), đất của khu vực khảo nghiệm thuộc nhóm đất feralit màu nâu vàng phát triển trên đá mẹ sa thạch
Khu vực Đông Hà (Quảng Trị) là loại đất Feralít vàng phát triển trên phiến sét (Fs), loại đất này chủ yếu thích hợp trồng cây lâm nghiệp, cây ăn quả, phát triển đồng cỏ chăn nuôi
Các đặc điểm về đất đai của hai khu vực nghiên cứu thể hiện bảng 3.2, cho thấy các thí nghiệm đều thuộc nhóm đất đồi điển hình có độ chua tương đối lớn, nghèo chất dinh dưỡng, thiếu lân, kali và canxi Đất ở Ba Vì bị đá ong hóa và có lượng cation nhôm trao đổi khá cao Các đặc điểm này có ảnh hưởng không nhỏ tới đặc điểm của cây trồng
Kết quả phân tích tính chất đất đã cho thấy hai khu khảo nghiệm có điều kiện đất đai khá khác nhau
Trang 35Bảng 3.2 Đặc điểm đất đai ở các địa điểm nghiên cứu
Mùn (%)
Đạm
Chất dễ tiêu (ppm)
Cation trao đổi
phân (me/100g)
Trang 36Chương 4
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
Kết quả của đề tài này là bước đầu đánh giá một số đặc điểm về biến dị di truyền một số chỉ tiêu chọn lọc của Bạch đàn uro tại hai vườn giống thế hệ 2 Từ đó chọn được những cá thể, gia đình tốt có triển vọng nhất, tỉa bỏ những cá thể và gia đình có giá trị chọn giống thấp để thiết lập vườn giống có mức di truyền cao cung cấp hạt, vật liệu giống cho các bước cải thiện giống tiếp theo
4.1 Vườn giống Bạch đàn uro thế hệ 2 tại Ba Vì – Hà Nội
Vườn giống thế hệ hai của Bạch đàn uro được xây dựng tại Cẩm Quỳ - Ba vì (Hà Tây cũ) vào tháng 10 năm 2005 Trong 80 gia đình xây dựng vườn giống, là hạt của từ những cây trội trong vườn giống Bạch đàn uro thế hệ 1 tại Ba Vì và vườn giống tại Vạn Xuân (Phù Ninh - Phú Thọ) cùng với các cây lai trong loài Bạch đàn uro, 2 dòng vô tính PN14 và U6 Tại thời điểm thu số liệu tháng 10 năm 2009, các gia đình đã được 48 tháng tuổi Mức độ phân hóa giữa các cá thể khá cao, đánh giá sinh trưởng và phẩm chất các gia đình và các cá thể trong vườn giống là cần thiết để tiến hành các biện pháp tỉa thưa giữ lại những cá thể và gia đình tốt nhất
Hình 4.1 Vườn giống Bạch đàn uro thế hệ 2 tại Ba Vì (Hà Nội)
Trang 374.1.1 Biến động về sinh trưởng
Đánh giá các chỉ tiêu sinh trưởng là rất quan trọng, sự sai khác hay mức độ biến dị giữa các đối tượng trong vườn giống biểu hiện rất nhiều qua chỉ tiêu sinh trưởng và nó phản ánh mức độ cải thiện giống nói chung cũng như cho từng chỉ tiêu chọn lọc cụ thể nói riêng Kết quả xếp hạng sinh trưởng các gia đình Bạch đàn uro tại vườn giống thế hệ 2 Ba Vì ghi bảng 4.1, cho thấy vào thời điểm đánh giá đang
có sự phân hóa khá rõ rệt giữa các gia đình về tất cả các chỉ tiêu sinh trưởng
05 = 1,29, với F.pr <0,001) Như vậy các gia đình có sinh trưởng đường kính khác nhau, kết quả xếp hạng các gia đình theo chỉ tiêu sinh trưởng đường kính thật sự có
ý nghĩa
Kết quả xếp thứ tự các gia đình theo đường kính cho thấy gia đình 35 có sinh trưởng đường kính tốt nhất (9.63cm), gấp 1,3 lần sinh trưởng đường kính bình quân toàn vườn giống và gấp 1,75 lần sinh trưởng gia đình thấp nhất Xếp hạng tiếp theo
là GĐ 91 (8,74cm); GĐ 92 (8,68cm) ; GĐ 95 (8,68cm) Ngược lại các gia đình có sinh trưởng đường kính thấp là GĐ 41 (5,50cm), UU 17 và UU 20 (5,58cm), GĐ 68 (6,11 cm), Các gia đình này có tăng trưởng hàng năm chỉ đạt 1,4 – 1,6 cm/năm
Theo bảng 4.1 cho thấy hệ số biến động của các gia đình khác nhau, các gia đình sinh trưởng đường kính tốt thường ít biến động hơn các gia đình có sinh trưởng đường kính thấp hơn Sự khác biệt này cho thấy các cá thể trong cùng một gia đình cũng có sự khác nhau nhất định, đối với những gia đình sinh trưởng đường kính thấp thì sự khác biệt này khá rõ, còn với gia đình sinh trưởng tốt thì các cá thể trong gia đình sinh trưởng đồng đều hơn Như vậy sự phân hóa giữa các gia đình và các cá thể trong khảo nghiệm khá rõ, việc đánh giá tỉa thưa cơ giới và di truyền trong vườn giống là hết sức có ý nghĩa
Trang 38Bảng 4.1 Xếp hạng các gia đình tại vườn giống Bạch đàn uro thế hệ 2 Ba Vì
theo các chỉ tiêu sinh trưởng (trồng 10/2005, đo 10/2009)
Trang 394.1.1.2 Chiều cao vút ngọn (H vn )
Với chiều cao bình quân của toàn vườn giống là 9,58m, tăng trưởng bình quân năm của vườn giống là 2,4m/năm Sinh trưởng chiều cao thân cây của vườn giống thế hệ 2 tại Ba Vì khá tốt
Kết quả xếp hạng sinh trưởng chiều cao vút ngọn bình quân của các gia đình trong vườn giống thế hệ 2 tại Ba Vì – Hà Nội thể hiện bảng 4.1 Gia đình đứng đầu danh sách về sinh trưởng chiều cao vút ngọn là GĐ 95 (11,88m), tiếp theo là các
GĐ 92 (10,93m), GĐ 80 (10,92m), GĐ 46 (10,88m)… tương ứng với lượng tăng trưởng bình quân hàng năm GĐ 95 (2,97m/năm), GĐ 92 và 80 (2,73m/năm), GĐ 46 (2,72m/năm), Ngược lại các gia đình có sinh trưởng chiều cao chậm trong vườn giống là dòng đối chứng PN14 (7,27m), UU 20 (7,34m), GĐ 41 (7,45m), UU 17 (7,98m), …với tăng trưởng chiều cao bình quân hàng năm tương ứng là 1,82m/năm (Dòng PN14); 1,84m/năm (UU 20); 1,86m/năm (GĐ 41); 1,99m/năm (UU 17)
Sự trênh lệch về chiều cao trung bình giữa các gia đình sinh trưởng thấp và cao là rõ ràng, những gia đình có sinh trưởng chiều cao vút ngọn tốt nhất gấp khoảng 1,2 lần chiều cao trung bình toàn vườn giống, và gấp khoảng 1,6 lần chiều cao trung bình của gia đình thấp nhất Kết quả phân tích phương sai đã chứng minh
sự khác biệt về chiều cao vút ngọn giữa các gia đình trong vườn giống thế hệ 2 tại
Trang 40Kết quả xếp hạng thể tích các gia đình trong vườn giống Bạch đàn uro thế hệ
2 tại Ba Vì – Hà Nội thể hiện bảng 4.1 Với khoảng sai dị đảm bảo (L.s.d = 12,64dm3) cho thấy sự trênh lệch giữa các gia đình theo chỉ tiêu thể tích là khá lớn, gia đình có sinh trưởng thể tích thấp nhất là UU 20 (10,54dm3) và gia đình sinh trưởng thể tích cao nhất là GĐ 35 (43,77dm3) Qua kết quả phân tích phương sai cho thấy sự khác biệt rõ về sinh trưởng thể tích giữa các gia đình và mang tính bản chất, khi Ftính > F05 (với mức ý nghĩa F.pr <0,001)
Bảng xếp hạng 4.1 cũng cho thấy các gia đình có sinh trưởng thể tích cao hàng đầu là GĐ 35, GĐ 95, GĐ 92, GĐ 52, GĐ 80 với thể tích trung bình từng gia đình lần lượt là 43,77dm3; 37,28dm3; 37,13dm3; 34,74dm3 và 33,00dm3 Xét trong tốp 10 gia đình có sinh trưởng bình quân hàng năm về thể tích lớn nhất, có 8 GĐ có sinh trưởng bình quân hàng năm trên 8 dm3/năm với GĐ 35 nổi bật (∆i = 11,23d-
m3/năm) Sự vượt trội sinh trưởng về thể tích của các gia đình tốt so với toàn vườn giống khá cao khi sinh trưởng thể tích của GĐ 35 vượt gấp 1,8 lần thể tích trung bình của toàn vườn giống và vượt gấp 4 lần sinh trưởng thể tích gia đình thấp nhất Ngược lại các gia đình có sinh trưởng thể tích thấp là UU 20 (10,54dm3), GĐ 41 (11,34dm3); GĐ 74 (14,46dm3)…Cũng trong tốp 10 gia đình có thể tích thấp nhất thì sinh trưởng bình quân thể tích hàng năm nhỏ hơn 4 dm3/năm Hệ số biến động của các gia đình theo chỉ tiêu thể tích cũng cho thấy các gia đình có thể tích cao thường ít biến động hơn (V% = 5 - 6%) hay các cá thể trong gia đình sinh trưởng đồng đều hơn, còn các gia đình sinh trưởng thể tích thấp thì hệ số biến động cao hơn (V% >10%) do vậy trong các gia đình sinh trưởng chậm các cá thể trong gia đình có mức phân hóa mạnh hơn
Qua bảng 4.1 cho thấy thể tích trung bình các gia đình có mối liên hệ chặt với đường kính hơn chiều cao Trong tốp 10 về sinh trưởng, 10 gia đình có thể tích cao thì có 8 gia đinh có đường kính lớn, còn với chiều cao chỉ với 6 gia đình Như vậy với gia đình lựa chọn theo chỉ tiêu thể tích cũng có thể lựa chọn theo chỉ tiêu đường kính thân cây khi chiều cao là chỉ tiêu sinh trưởng khó xác định