Việc đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp, nhằm phát hiện các điểm tích cực và các mặt hạn chế, từ đó đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp, quy hoạch
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan những số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ luận văn nào
Mọi sự giúp đỡ trong quá trình thực hiện luận văn này đã được cảm ơn
và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc
TP.Hòa Bình, ngày tháng năm 2015
Tác giả luận văn
Nguyễn Văn Phương
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài, tôi đã nhận được sự giúp đỡ, những ý kiến đóng góp, chỉ bảo quý báu của các thầy cô giáo Khoa Sau Đại học, Trường Đại học Lâm nghiệp
Để có được kết quả nghiên cứu này, ngoài sự cố gắng và nỗ lực của bản thân, tôi còn nhận được sự hướng dẫn của TS Phạm Xuân Phương, là người hướng dẫn trực tiếp tôi trong suốt thời gian nghiên cứu đề tài và viết luận văn
Tôi cũng nhận được sự giúp đỡ, tạo điều kiện của Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố Hòa Bình, Ủy ban nhân dân thành phố Hòa Bình, các phòng ban và nhân dân một số xã, phường trong thành phố, anh chị em và bạn
bè đồng nghiệp, sự động viên, tạo mọi điều kiện về vật chất, tinh thần của gia đình và người thân
Với tấm lòng chân thành, tôi xin cảm ơn mọi sự giúp đỡ quý báu đó!
Tác giả luận văn
Trang 3MỤC LỤC
Trang Trang phụ bìa
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Danh mục chữ viết tắt v
Danh mục các bảng vi
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP THEO HƯỚNG SẢN XUẤT HÀNG HÓA 5
1.1 Khái quát về đất nông nghiệp và phân loại đất nông nghiệp 5
1.1.1 Đất nông nghiệp 5
1.1.2 Phân loại nhóm đất nông nghiệp 6
1.2 Cơ sở khoa học về phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa 7
1.2.1 Cơ sở lý luận 7
1.2.2 Cơ sở thực tiễn 13
1.3 Những vấn đề về hiệu quả sử dụng đất và đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 21
1.3.1 Khái quát về hiệu quả và hiệu quả sử dụng đất 21
1.3.2 Đặc điểm, nguyên tăc đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 24
1.3.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và phát triển nông nghiệp sản xuất hàng hoá 25
1.4 Những xu hướng phát triển nông nghiệp trên thế giới 28
Theo Đường Hồng Dật [10], trên con đường phát triển nông nghiệp mỗi nước đều chịu ảnh hưởng của các điều kiện khác nhau, nhưng phải giải quyết vấn đề chung sau: 28
1.5 Phương hướng phát triển nông nghiệp Việt Nam trong những năm tới 31
Trang 4Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 34
2.1 Đặc điểm của Thành phố Hòa Bình 34
2.1.1 Điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý 34
2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 35
2.1.3 Đánh giá chung 41
2.2 Phương pháp nghiên cứu 42
2.2.1 Phương pháp nghiên cứu thứ cấp 42
2.2.2 Phương pháp nghiên cứu sơ cấp 43
2.2.3 Phương pháp tổng hợp, xử lý số liệu 43
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 45
3.1 Thực trạng hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp ở thành phố Hòa Bình 45
3.1.1 Hiện trạng cơ cấu sử dụng đất tại thành phố Hòa Bình 45
3.1.2 Tình hình biến động đất đai từ năm 2012 đến năm 2014 46
3.1.3 Thực trạng phát triển sản xuất nông nghiệp của thành phố 49
3.1.4 Hiện trạng cây trồng và các loại hình sử dụng đất nông nghiệp 50
b) Phát triển kinh tế trang trại 58
d) Phát triển kinh tế hộ theo hướng sản xuất hàng hóa 65
3.2.1 Hiệu quả kinh tế 71
3.2.2 Hiệu quả xã hội 75
3.2.3 Tổng hợp một số chỉ tiêu về thực trạng các loại hình tổ chức nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa 85
3.3 Đánh giá chung 85
3.4 Một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa tại TP Hòa Bình 87
3.4.1 Căn cứ đề xuất 87
3.4.2 Quan điểm 89
3.4.3.Các giải pháp chủ yếu 91
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 101 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 5LUT –Land Use Type Loạn hình sử dụng đất
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
2.1 Tình hình nhân khẩu và lao động của TP Hòa Bình 39 3.1 Hiện trạng sử dụng đất tại Thành phố Hòa Bình năm 2014 45 3.2 Tình hình biến động đất đai từ năm 2012 đến 2014 47 3.3 Giá trị sản xuất ngành nông nghiệp TP Hòa Bình 49
3.4 Cơ cấu diện tích cây gieo trồng hàng năm tại thành phố Hòa
3.12 Cơ cấu hộ nông dân theo quy mô phường điều tra năm 2014
3.13 Quy mô và cơ cấu giá trị sản phẩm hàng hoá bình quân ở hộ
3.14 Mức thu nhập bình quân theo lao động và nhân khẩu của hộ
3.17 Hiệu quả xã hội của các loại hình sử dụng đất 76 3.18 Tổng hợp mức độ bón phân của các cây trồng 78 3.19 Mức độ sử dụng thuốc bảo vệ thực vật của một số cây trồng 80 3.20 Quy hoạch sử dụng các loại đất vào phát triển kinh tế nông nghiệp 92
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là điều kiện của mọi quá trình sản xuất của các ngành kinh tế và hoạt động của con người Đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá của mọi quốc gia trên thế giới, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là đối tượng của sản xuất nông - lâm nghiệp Đất đai vừa là sản phẩm của tự nhiên vừa là sản phẩm lao động của con người
Trong quá trình mở rộng sản xuất mở rộng khu công nghiêp, các khu chế suất, khu đô thị, xây dựng kết cấu hạ tầng… đã vô tình dần thu hẹp diện tích đất nông nghiệp Để đảm bảo cân đối cho sự phân bổ đất đai cho các ngành, các lĩnh vực, tránh sự lãng phí, chồng chéo cần coi trọng công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Nếu sử dụng đất đai vào sản xuất nông nghiệp một cách hợp lý thì năng suất của nó không ngừng được nâng cao Ở Việt Nam đã hình thành những vùng sản xuất tập trung với khối lượng hàng hoá lớn và mang tính kinh doanh
rõ rệt: lúa gạo và rau quả thực phẩm vùng đồng bằng sông Hồng, đồng bằng sông Cửu Long; cà phê, cao su ở Đông Nam Bộ và Tây Nguyên
Trình độ khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển, con người cũng tìm
ra nhiều phương pháp khác nhau để nâng cao hiệu quả sản xuất, có những phương pháp mang lại hiệu quả kinh tế cao, có tác động tốt đến môi trường sống, cũng có những phương pháp mang lại hiệu quả kinh tế nhưng lại đem đến những tác động xấu đến môi trường, để chạy theo số lượng người ta đã không quan tâm đến chất lượng hàng hóa Việc khai thác tiềm năng đất đai
để mạng lại hiệu quả cao nhất là hết sức quan trọng và cần thiết, đảm bảo cho sự phát triển của sản xuất nông - lâm nghiệp cũng như sự phát triển của nền kinh tế
Trang 8Việc đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp, nhằm phát hiện các điểm tích cực và các mặt hạn chế, từ đó đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp, quy hoạch phát triển nền kinh tế địa phương, giúp lựa chọn đúng các loại hình sản xuất phù hợp với cây trồng, vật nuôi
Thành phố Hòa Bình là thành phố đô thị loại ba có vị trí ở vùng núi thấp thuộc tỉnh Hòa Bình Là trung tâm chính trị - hành chính, kinh tế, giáo dục, văn hóa của tỉnh với tổng diện tích tự nhiên là 14.442,98 ha, trong đó đất nông nghiệp với diện tích 10.685,93 ha (chiếm 73,99%) Đất đai mầu mỡ, thuận tiện cho việc sản xuất nông nghiệp Tuy nhiên việc sản xuất nông nghiệp theo hướng hàng hóa trong cơ chế thị trường hiện nay còn gặp rất nhiều khó khăn, với hệ thống chính sách về phát triển nông nghiệp, nông thôn còn nhiều hạn chế, bất cập, thiếu sự đồng bộ
Vì vây, để giúp thành phố Hòa Bình tìm ra được hướng đi đúng đắn trong việc phát triển nông nghiệp, nông thôn, giúp người nông dân tìm ra được những phương thức sản xuất phù hợp, mang lại hiệu quả kinh tế, nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp đáp ứng nhu cầu đô thị hóa hiện nay là hết sức cần thiết
Xuất phát từ thực tiễn trên, tôi đã lựa chọn nghiên cứu “Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp theo hướng sản xuất nông sản hàng hóa trên địa bàn thành phố Hoà Bình, tỉnh Hòa Bình” làm đề tài luận
Trang 93 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là các vấn đề có liên quan đến sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn thành phố Hòa Bình
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về không gian: Đề tài được nghiên cứu tại thành phố Hoà
Bình, tỉnh Hòa Bình
- Phạm vi về thời gian: Số liệu thu thập được từ các tài liệu đã công bố
trong khoảng thời gian 2012 - 2014, số liệu khảo sát điều tra năm 2015
- Phạm vi về nội dung:
+ Nghiên cứu một số vấn đề lý luận và thực tiễn về hiệu quả sử dụng
đất nông nghiệp theo hướng sản xuất nông sản hàng hóa theo 3 trụ cột: hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và hiệu quả về mặt môi trường
+ Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp bao gồm: Trồng trọt – chăn nuôi – lâm nghiệp và nuôi trồng thủy sản
+ Phân tích mặt mạnh, mặt yếu và xu hướng chuyển dịch cơ cấu đất nông nghiệp ở địa phương trong những năm tới
+ Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp hướng tới nền sản xuất nông nghiệp hàng hóa
Trang 104 Kết cấu luận văn
Báo cáo gồm: 3 chương (ngoài phần mở đầu và kết luận):
Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn về nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa
Chương II Đặc điểm địa bàn nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu Chương III Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Trang 11Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP THEO HƯỚNG SẢN XUẤT HÀNG HÓA 1.1 Khái quát về đất nông nghiệp và phân loại đất nông nghiệp
1.1.1 Đất nông nghiệp
Theo quan niệm truyền thống của người Việt Nam thì đất Nông nghiệp thường được hiểu là đất trồng lúa, trồng cây hoa màu như: ngô, khoai, sắn và những loại cây được coi là lương thực Tuy nhiên, trên thực tế việc sử dụng đất nông nghiệp tương đối phong phú, không chỉ đơn thuần là để trồng lúa, hoa màu mà còn dùng vào mục đích chăn nuôi gia súc, nuôi trồng thủy sản hay để trồng cây lâu năm
Trước đây, Luật đất đai 1993 quy định về đất nông nghiệp tại Điều 41 như sau: “ Đất nông nghiệp là đất được xác định chủ yếu để sử dụng vào sản xuất nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản hoặc nghiên cứu thí nghiệm về nông nghiệp’’
Với quy định của Luật đất đai năm 1993, đất đai của Việt nam chia làm 6 loại :
Trang 12dụng đất đã dẫn đến sự đan xen, chống chéo giữa các loại đất, không có sự tách bạch về pháp lý, gây khó khăn cho công tác quản lý đất đai
Để khắc phục những hạn chế đó, cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho người sử dụng đất thực hiện các quyền của mình trong việc sử dụng đất Luật đất đai – 2003 đã chia đất đai làm 3 loại với tiêu chí phân loại duy nhất đó là căn cứ vào mục đích sử dụng chủ yếu Trên cơ sở đó, đất đai được chia theo
1.1.2 Phân loại nhóm đất nông nghiệp
Theo quy định tại khoản 1, Điều 13 Luật đất đai 2003 nhóm đất nông nghiệp bao gồm các loại đất:
- Đất trồng cây hàng năm gồm: đất trồng lúa, đất trồng cỏ dùng vào chăn nuôi, đất trồng cây hàng năm khác;
- Đất trồng cây lâu năm;
Trang 131.2 Cơ sở khoa học về phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa
1.2.1 Cơ sở lý luận
1.2.1.1 Khái quát chung về sản xuất hàng hoá
Lịch sử phát triển của nền sản xuất xã hội đã và đang trải qua hai kiểu
tổ chức kinh tế, đó là sản xuất tự cấp tự túc và sản xuất hàng hoá Sản xuất hàng hoá là kiểu tổ chức kinh tế mà ở đó sản phẩm được sản xuất ra nhằm để trao đổi hoặc bán trên thị trường Sản xuất hàng hoá ra đời là bước ngoặt căn bản trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, đưa loài người thoát khỏi tình trạng “mông muội”, xoá bỏ nền kinh tế tự nhiên, phát triển nhanh chóng lực lượng sản xuất và nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội [9]
Sản xuất hàng hoá khác với kinh tế tự cấp tự túc, do sự phát triển của phân công lao động xã hội làm cho sản xuất được chuyên môn hoá ngày càng cao, thị trường ngày càng mở rộng, mối liện hệ giữa các ngành, các vùng ngày càng chặt chẽ Sự phát triển của sản xuất hàng hoá đã xoá bỏ tính bảo thủ, trì trệ của nền kinh tế, đẩy nhanh quá trình xã hội hoá sản xuất Sản xuất hàng hóa chỉ ra đời khi có đủ cả hai điều kiện là có sự phân công lao động xã hội và sự tách biệt tương đối về mặt kinh tế của những người sản xuất:
+ Phân công lao động xã hội tạo ra sự chuyên môn hóa lao động, do đó
là chuyên môn hóa sản xuất thành những ngành nghề khác nhau Do phân công lao động nên mỗi người sản xuất chỉ tạo ra một hoặc một vài loại sản phẩm nhất định Song cuộc sống của mỗi người lại cần đến rất nhiều loại sản phẩm khác nhau Để thỏa mãn nhu cầu đòi hỏi họ phải có mối liên hệ phụ thuộc vào nhau, trao đổi sản phẩm cho nhau
+ Sự tách biệt tương đối về mặt kinh tế của những người sản xuất Sự tách biệt này do các quan hệ sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất, mà khởi thủy là chế độ tư hữu nhỏ về tư liệu sản xuất, đã xác định người sở hữu tư liệu sản xuất là người sở hữu sản phẩm lao động Như vậy, chính sự quan hệ sở
Trang 14hữu khác nhau về tư liệu sản xuất đã làm cho những người sản xuất độc lập, đối lập với nhau, nhưng họ lại nằm trong hệ thống phân công lao động xã hội nên họ phụ thuộc lẫn nhau về sản xuất và tiêu dùng Trong điều kiện đó người này muốn tiêu dùng sản phẩm của người khác phải thông qua sự mua - bán hàng hóa, tức là phải trao đổi dưới những hình thái hàng hóa
Sản suất hàng hóa có các đặc trưng và cụ thế như sau:
+ Do mục đích của sản xuất hàng hóa không phải để thỏa mãn nhu cầu của người sản xuất như trong kinh tế tự nhiên mà để thỏa mãn nhu cầu của người khác, của thị trường Sự gia tăng không hạn chế nhu cầu của thị trường
là một động lực mạnh mẽ thúc đẩy sản xuất phát triển
+ Cạnh tranh ngày càng gay gắt, buộc mỗi người sản xuất hàng hóa phải năng động trong sản xuất - kinh doanh, phải thường xuyên cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất để tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm, nhằm tiêu thụ được hàng hóa và thu được lợi nhuận ngày càng nhiều hơn Cạnh tranh đã thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển mạnh mẽ
+ Sự phát triển của sản xuất xã hội với tính chất “mở” của các quan hệ hàng hóa tiền tệ làm cho giao lưu kinh tế, văn hóa giữa các địa phương trong nước và quốc tế ngày càng phát triển Từ đó tạo điều kiện ngày càng nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân
1.2.1.2 Các giai đoạn phát triển nông nghiệp
Nông nghiệp hiểu theo nghĩa hẹp bao gồm ngành trồng trọt và ngành chăn nuôi; nông nghiệp theo nghĩa rộng bao gồm ngành lâm nghiệp, nông nghiệp và ngư nghiệp Nông nghiệp là một ngành kinh tế quan trọng, chủ yếu trong suốt một thời gian dài của lịch sử của xã hội loài người, là khu vực duy nhất sản xuất ra lương thực, thực phẩm nuôi sống con người và cho đến nay sản phẩm của nông nghiệp vẫn chưa có một ngành sản xuất nào thay thế được
Trang 15Vào thế kỷ XXI, nông nghiệp vẫn tiếp tục giữ vị trí quan trọng và đóng góp tích cực cho sự phát triển bền vững và giảm nghèo Nông nghiệp đóng góp vào sự phát triển theo nhiều cách: Nông nghiệp đóng góp vào sự phát triển như một hoạt động kinh tế, một sinh kế và một nơi cung cấp các dịch vụ môi trường, điều này làm nó trở thành một ngành sản xuất có một không hai cho phát triển Coi nông nghiệp là nền tảng cho sự tăng trưởng kinh tế đối với các nước nông nghiệp đòi hỏi một cuộc cách mạng về năng xuất trong phương thức canh tác hộ gia đình [22] Theo nhiều nhà kinh tế, quá trình phát triển nông nghiệp có thể chia thành 3 giai đoạn:
1, Nông nghiệp truyền thống
Nét chung của nền nông nghiệp truyền thống là nông dân vẫn canh tác theo phương pháp đã có cách đây hàng thế kỷ Điều này nói lên rằng người nông dân luôn gắn với phong tục tập quán và họ không có khả năng thay đổi phương pháp trồng trọt để nâng cao sản lượng Bên cạnh đó phong tục tập quán luôn được củng cố bằng những giá trị và tín ngưỡng gắn liền với tôn giáo, nên việc thay đổi sẽ trở nên khó khăn hơn Việc duy trì phương pháp canh tác cũ còn do tính rủi do cao và không ổn định của nông nghiệp Người nông dân thường không thích chuyên từ cây trồng và công nghệ truyền thống
mà trong nhiều năm họ đã sử dụng sang một công nghệ mới với hứa hẹn mức sản lượng cao hơn, nhưng cũng có thể rủi do mất mùa cao hơn Đối với họ, tránh được một năm mùa màng thất bát quan trọng hơn là nâng cao sản lượng trong những năm được mùa
Một đặc điểm cơ bản của nông nghiệp truyền thống là sản xuất mang tính tự cung, tự cấp với một hoạc hai cây lương thực chủ yếu như lúa gạo, ngô, khoai, sắn Sản lượng và năng suất cây trồng thấp, chỉ sử dung các công
cụ đơn giản trong sản xuất Vốn đầu tư rất ít, trong khi đất đai và lao đông là các yếu tố chính của sản xuất Do đó, quy luật lợi nhuận giảm dần được thể
Trang 16hiện rõ khi phải sử dụng lao động trên đất đai ngày càng cằn cỗi Do tính khép kín và độ rủi do cao nên những người nông dân sản xuất nhỏ rất do dự trong việc áp dụng tiến bộ kỹ thuật mới dẫn đến năng suất lao động thấp, khả năng chống đỡ với những biến đổi của điều kiện tự nhiên rất hạn chế
2, Chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp - đa dạng hóa cây trồng
Đa dạng hóa nông nghiệp là bước chuyển đầu tiên trong sự quá độ từ sản xuất tự cung tự cấp sang chuyên môn hóa Trong giai đoạn này cây lương thực cơ bản không còn là sản phẩm chính của nông nghiệp, bởi vì nông dân bắt đầu trồng các loại cây mới để bán như cây công nghiệp, cây ăn quả, rau cùng với việc phát triển chăn nuôi các loại gia súc Nhưng công việc này làm tăng tỷ lệ sử dụng thời gian lao động trong nông nghiệp, giảm bớt thời gian nhàn rỗi Ví dụ, nếu trồng trọt vụ mùa chính chỉ chiếm khoảng một thời gian nào đó trong năm, thì có thể trồng những cây phụ trong khoảng thời gian nhàn rỗi để tận dụng cả lao động và đất đai Ở những nơi không đủ lao động trong thời vụ cao điểm thì có thể sử dung các máy công cụ nhỏ để tiết kiệm sức lao động (như máy cày, máy tuốt lúa, máy xay sát ) nhằm đảm bảo sức lao động cho các hoạt động khác Cuối cùng, việc sử dụng những giống cây trồng mới
có thể tăng năng suất cây trồng chính như lúa, ngô để có thể giải phóng một phần đất đai phát triển trồng cây thương phẩm mà vẫn đảm bảo cung cấp lương thực cơ bản Nhưng điều cần chú ý là những giống mới này chỉ tăng năng suất trong điều kiện kết hợp với việc cung cấp đầy đủ và kịp thời nước, phân bón Do đó, cần phát triển hệ thống thủy lợi và cung cấp phân hóa học từ công nghiệp Đặc điểm của việc kết hợp giống mới với nước và phân hóa học
là các yếu tố đầu vào này không có khả năng thay thế cao
Như vậy, việc đa dạng hóa cây trồng kết hợp với các biện pháp công nghệ, chủ yếu là công nghệ sinh học làm cho năng suất và sản lượng lương thực gia tăng Người nông dân có thể bán sản phẩm dư thừa để nâng cao mức
Trang 17tiêu dùng cho gia đình và tăng đầu tư cho sản xuất Việc đa dạng hóa cây tròng cũng có thể giảm tác động do mất mùa cây trồng chính gây ra và đảm bảo có thu nhập ổn định hơn
Mục đích của người nông dân sản xuất ra sản phẩm không chỉ để phục
vụ cho nhu cầu của chính gia đình họ mà còn đưa những sản phẩm dư thừa đem đi trao đổi trên thị trường Những sản phẩm trao đổi trên thị trường này được gọi là sản phẩm hàng hoá Tuy vậy, khối lượng hàng hoá nông sản trao đổi, mua bán giữa những người sản xuất còn ít, thị trường phân tán và chưa có nhiều thông tin, hàng hoá trao đổi chủ yếu diễn ra ở các chợ nhỏ ở nông thôn, việc sản xuất, trao đổi, mua bán nông sản phẩm chưa trở nên thường xuyên
3, Chuyên môn hóa sản xuất - Nông nghiệp thương mại hiện đại
Nông nghiệp chuyên môn hóa là giai đoạn cuối cùng và tiên tiến nhất của hộ nông dân cá thể Đó là loại hình nông nghiệp phổ biến ở các nước công nghiệp phát triển Giai đoạn này sản xuất nông nghiệp hàng hoá phát triển, khối lượng nông sản hàng hoá lớn và chủng loại hàng hoá phong phú,
cơ sở vật chất - kỹ thuật hiện đại, ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất, đã hình thành và phát triển các vùng sản xuất cây, con có quy mô lớn, chuyên canh và thâm canh cao, khai thác tối đa lợi thế sản xuất của từng vùng, từng địa phương, thị trường được mở rộng cả trong và ngoài nước Thời kỳ này được tự do thương mại hoá nên người sản xuất tìm mọi cách đưa tiến bộ KH - CN vào sản xuất nhằm làm tăng năng suất lao động, giảm giá thành sản phẩm để tối đa hoá lợi nhuận, nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường
1.2.1.3 Đặc điểm sản xuất nông nghiệp và sản xuất nông sản hàng hoá
Nông nghiệp có đặc điểm kinh tế, kỹ thuật, xã hội riêng biệt so với các ngành sản xuất khác; đó là: Sản xuất nông nghiệp phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên; mang tính thời vụ cao; đối tượng sản xuất nông nghiệp là sinh
Trang 18vật, chu kỳ tái sản xuất kinh tế phụ thuộc vào chu kỳ tái sản xuất tự nhiên của sinh vật nên thường có chu kỳ sản xuất dài Nhu cầu về đầu vào như giống, phân bón, thuốc trừ sâu, nguyên nhiên liệu, thức ăn chăn nuôi, lao động… lượng nông sản hàng hoá cung ra trên thị trường cũng mang tính thời vụ Thực tế này ảnh hưởng đến quan hệ cung cầu, ảnh hưởng đến việc hình thành giá cả trên thị trường, dẫn đến sự dao động lớn của đầu vào và đầu ra theo mùa vụ
Đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu, đặc biệt và không thể thay thế được; nước ta đất đai sản xuất nông nghiệp khá manh mún, lại do nhiều chủ sử dụng quản lý nhất là đối với các tỉnh miền núi Nông nghiệp phân bố trên phạm vi không gian rộng lớn, phức tạp và mang tính khu vực rõ rệt; có nhiều tầng lớp dân cư, dân tộc và trình độ dân trí khác nhau Sản phẩm nông nghiệp do các thành phần và các tổ chức kinh tế khác nhau sản xuất như: Doanh nghiệp, HTX, các trang trại, hộ nông dân ; trong đó phần lớn nông sản là do nông dân sản xuất Do các yếu tố trên nên khối lượng nông sản sản xuất ra thường không lớn, phân tán và chất lượng không đồng đều; người sản xuất và người tiêu thụ thường khó kiểm soát được số lượng và chất lượng sản phẩm hàng hoá cung ra thị trường Do vậy quá trình tổ chức sản xuất, tiêu thụ sản phẩm rất đa dạng, phức tạp
Nông nghiệp Việt Nam phát triển từ nền kinh tế tự cung, tự cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Do vậy, cần phải nhận thức, hiểu
rõ các đặc điểm của sản xuất nông sản và vận dụng tốt các quy luật kinh tế cơ bản như: quy luật giá trị, quy luật cạnh tranh, quy luật cung cầu… nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất Cần làm tốt công tác quy hoạch, kế hoạch và tổ chức thực hiện, chỉ đạo chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi Tổ chức sản xuất rải
vụ, trái vụ, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật để chọn thời điểm thu hoạch, tiêu thụ nông sản hợp lý, có hiệu quả cao
Trang 191.2.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.2.1 Sản xuất nông sản hàng hóa trên thế giới
a, Kinh nghiệm của Trung Quốc
Năm 1984, Trung Quốc bước vào đổi mới kinh tế, các chính sách mới: giải tán công xã, trao quyền sử dụng đất 15 năm cho nông hộ, tự do buôn bán vật tư tạo nên bước phát triển nông nghiệp vượt bậc; giai đoạn 1979 - 1986 GDP nông nghiệp tăng 13,7 lần, thu nhập đầu người nông thôn tăng 14,7 lần [3] Tiếp theo, hàng loạt chính sách khuyến khích phát triển nông nghiệp, nông thôn được ban hành; trong đó có chính sách giữ giá nông sản cao, “cho nhiều, thu ít" Ưu tiên phát triển KH - CN; cứ 4 năm, đầu tư cho khoa học nông nghiệp lại tăng gấp đôi; năm 2004 đầu tư cho nghiên cứu khoa học nông nghiệp ở Trung Quốc chiếm 0,6% GDP nông nghiệp, còn ở Thái Lan là 1,4%, Malaixia 1,06% và Việt Nam là từ 0,2 - 0,25% [8]
Năm 2005, tiếp tục tăng trợ cấp trực tiếp cho sản xuất, tăng đầu tư hạ tầng nông thôn, bảo vệ môi trường và tài nguyên tự nhiên Từ năm 2006, bỏ thuế nông nghiệp Nghị quyết Trung ương 5 năm 2006 đề xuất phương châm
20 chữ “Sản xuất phát triển, đời sống ấm no, làng xã văn minh, diện mạo sạch đẹp, quản lý dân chủ” Một số giải pháp để thúc đẩy phát triển nông nghiệp được áp dụng là:
Một là, cải cách cơ chế sử dụng đất đai, tiếp tục làm rõ các quyền về
ruộng đất và được bảo đảm bằng pháp luật nhằm thúc đẩy kinh doanh tập trung là đối tượng cơ bản trong cải cách chính sách đối với nông nghiệp
Hai là, khuyến khích và hướng dẫn nông dân áp dụng nhiều phương
pháp trồng trọt và hướng dẫn, bồi dưỡng kỹ thuật cho nông dân
Ba là, tìm kiếm phương thức huy động vốn bằng nhiều kênh, giải
quyết vấn đề thiếu vốn cho phát triển nông nghiệp Trước hết, đẩy nhanh phát triển các hợp tác xã tín dụng nông thôn, hạ thấp tiêu chuẩn vay ngân hàng cho nông dân Giảm những hạn chế và ràng buộc, bảo đảm cho nông dân vay số lượng ít
Trang 20Bốn là, tăng cường đầu tư giáo dục cơ bản nông thôn, nâng cao trình độ
giáo dục cho nông dân, chuẩn bị cho sự phát triển dài lâu của nông thôn
Bộ Nông nghiệp Trung Quốc đã công bố quy hoạch 58 vùng chuyên canh sản phẩm nông nghiệp ưu thế trên toàn lãnh thổ Trung Quốc giai đoạn từ năm 2008 đến 2015, với mục tiêu: Trong 8 năm tới, sẽ trồng 16 chủng loại sản phẩm nông nghiệp như: lúa nước, lúa mỳ, ngô, đậu tương, khoai tây, bông, cây cải dầu, mía, táo, cam quýt, cao su thiên nhiên, bò thịt, dê thịt, bò sữa, lợn hơi và sản phẩm xuất khẩu, vv Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp Trung Quốc, tại 9 vùng ưu tiên trồng 4 loại cây lương thực, thực phẩm trọng điểm là lúa nước, lúa mỳ, ngô và đậu tương đã vượt 85% năng suất, góp phần tăng sản lượng lương thực toàn quốc, kim ngạch xuất khẩu táo tươi tại 2 vùng
ưu tiên trồng táo chiếm khoảng 70% kim ngạch xuất khẩu táo cả nước [34]
Từ thực tế trên cho thấy, biện pháp quy hoạch vùng ưu tiên trồng sản phẩm cây nông nghiệp đã tỏ rõ ưu thế
Bản quy hoạch này xác định, đến năm 2015 sẽ hình thành một loạt vùng sản xuất nông nghiệp ưu thế, có ảnh hưởng nhất định trong và ngoài nước; thiết lập một loạt các huyện trọng điểm sản xuất nông nghiệp ưu thế, hình thành lên những khu vực quy phạm về ưu tiên sản xuất nông nghiệp hiện đại Để xử lý tốt quan hệ lẫn nhau giữa các gống cây ưu tiên khác nhau trong cùng một khu vực; bản quy hoạch còn nêu lên khái niệm về vùng sản xuất nông nghiệp phức hợp, nêu rõ phương hướng phát triển của các loại cây trồng trong vùng này Các phương thức thực thi đảm bảo thực hiện nhiệm vụ mục tiêu đề ra, gồm: tăng cường nghiên cứu phát triển và mở rộng ứng dụng khoa học kỹ thuật, nắm rõ các cơ sở sản xuất nông nghiệp có ưu thế, thúc đẩy kết nối tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp tại các khu vực ưu tiên, không ngừng củng
cố, hoàn thiện, đẩy mạnh nội lực của hệ thống chính sách ưu tiên phát triển nông nghiệp, tăng cường khả năng hỗ trợ của các khu vực ưu thế này
Trang 21Chính phủ Trung Quốc đã công bố “Văn kiện số 1” năm 2009 về vấn
đề được Đảng và Chính phủ Trung Quốc xác định là quan trọng nhất trong năm, cần được tập trung chỉ đạo, tổ chức thực hiện trên phạm vi cả nước Đây
là “Văn kiện số 1” năm thứ 6 liên tục, kể từ năm 2004, tập trung vào các vấn
đề “Tam nông”; trong đó xác định: Phải tiếp tục coi “Tam nông” là trọng điểm đầu tư, tăng thêm trợ cấp trực tiếp; tiếp tục nâng cao giá tối thiểu trong thu mua lương thực, mở rộng dự trữ của nhà nước đối với lương thực, dầu ăn
và thịt lợn; tăng cường ủng hộ tài chính cho các khu vực sản xuất lương thực chủ yếu nhằm đảm bảo tăng thu nhập cho nông dân [6] “Văn kiện số 1” cũng chỉ đạo phải ổn định quan hệ nhận khoán đất ở nông thôn, nông dân có thể chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo nguyên tắc tự nguyện và có bồi thường, tiếp tục thi hành chế độ bảo vệ đất canh tác nghiêm ngặt nhất và chế
độ sử dụng đất tiết kiệm
b) Kinh nghiệm ở các nước Đông Nam Á
Đông Nam Á, trừ Phi-li-pin, cải cách ruộng đất khá thành công, nông nghiệp tiểu nông phát triển Giống mới và tiến bộ kỹ thuật của “cách mạng xanh” giúp nông nghiệp tăng trưởng 4%/năm suốt giai đoạn từ 1950 - 1980 Xuất khẩu nông sản chiếm 6 - 7% kim ngạch thế giới, dẫn đầu là Thái Lan, In-đô-nê-xi-a và Ma-lai-xi-a Tuy nhiên, các nước Đông Nam Á vẫn chưa thoát khỏi “bẫy quy mô sản xuất nhỏ” Ở In-đô-nê-xi-a năm 1983, gần 50% nông hộ dưới 0,5 ha và chỉ có 5,8% hộ trên 3 ha Ở Phi-li-pin năm 1991, 66% nông dân có quy mô dưới 2 ha, trong đó 19% dưới 0,5 ha Công nghệ phần lớn nhập từ nước ngoài, đầu tư cho giáo dục và dạy nghề ở nông thôn có tiến
bộ nhưng thua xa so với các nước Đông Á Giống như các nước Âu, Mỹ trước đây, khi kinh tế tăng trưởng nhanh lại xuất hiện sự “coi nhẹ nông nghiệp” Từ giữa thập kỷ 90, GDP nông nghiệp chỉ chiếm 22%, tình trạng “coi nhẹ nông nghiệp” xuất hiện Tỉ lệ đầu tư cho nông nghiệp và cho công nghiệp chế biến
Trang 22nông sản giảm mạnh Đông Nam Á tăng trưởng nông nghiệp giảm xuống 3%/năm, Việt Nam vài năm gần đây cũng bắt đầu giảm In-đô-nê-xi-a, Phi-li-pin mất cân đối lương thực
c) Kinh nghiệm của Nhật Bản và Đài Loan
Nhật Bản và Đài Loan đất chật, người đông (trung bình nông hộ Nhật Bản năm 1878 là 1 ha, năm 1962 là 1,8 ha), sản xuất lúa nước là chính Giống như Việt Nam, trong quá trình công nghiệp hoá, lao động rút ra từ nông nghiệp rất ít Ở Nhật Bản (1878 - 1912), lao động nông nghiệp giảm từ 15,5 triệu xuống 14,5 triệu người, chỉ tương đương mức tăng dân số tự nhiên Giai đoạn đầu công nghiệp hoá ở Đài Loan, mỗi năm 0,3 - 2,3% lao động ra khỏi nông thôn [3] Nhật Bản và Đài Loan giúp nông dân xây dựng tổ chức kinh tế
- xã hội, trọng tâm là nông hội và liên minh HTX Nhà nước thông qua HTX
và nông hội tiến hành các chương trình đầu tư phát triển nông nghiệp, nông thôn, xoá đói, giảm nghèo HTX tổ chức theo nguyên tắc hoàn toàn tự nguyện, bình đẳng và dân chủ ra quyết định Hội đồng quản trị từ cơ sở đến trung ương đều do xã viên bầu, giám đốc điều hành do hội đồng tuyển và hợp đồng, bảo vệ và phản ánh quyền lợi của nhân dân
Về kinh tế, HTX và nông hội khống chế buôn bán và xuất nhập khẩu vật tư nông nghiệp, nông sản Nông hội làm chủ toàn bộ cung ứng vật tư đầu vào và sản phẩm đầu ra của sản xuất nông nghiệp, nắm giữ các ngân hàng, doanh nghiệp, chợ bán buôn, sở hữu kho tàng, bến bãi chính, Nông hội Đài Loan cho vay 50 tỉ USD, chiếm 40% tín dụng cho nông dân Nông hội là tổ chức độc quyền mua bán, dự trữ nông sản chính (gạo, nấm, măng tây) và phân phối phân bón, vật tư nông nghiệp cho nông dân Gần 50% chợ bán buôn nông sản, 62% chợ thủy sản do kinh tế hợp tác của nông dân nắm giữ Một HTX ở Nhật Bản đầu tư trung bình khoảng hơn 5 triệu USD, tổng đầu tư HTX khoảng 12,52 tỉ USD HTX nông nghiệp ở Nhật Bản là kênh tiêu thụ
Trang 23nông sản chính (gạo trên 90%; rau, hoa quả, sữa tươi, thịt bò trên 50%) và bán hàng chính cho nông dân (phân bón 94,5%, bao bì 81,9%, hoá chất nông nghiệp 70%, vật liệu cách nhiệt 68%, thức ăn gia súc 35,5%, ô tô 24,4% và hàng tiêu dùng 15,6%)
Nòng cốt của sản xuất nông nghiệp là nông dân sở hữu nhỏ, 100% là thành viên HTX và nông hội Mọi chính sách phát triển sản xuất đều hướng vào đối tượng này Nhật Bản đánh thuế nông nghiệp theo hạng đất và ổn định hàng chục năm, duy trì giá nông sản cao, giá vật tư thấp, khuyến khích nông dân đầu tư sản xuất, kinh doanh Phát triển khoa học kỹ thuật nông nghiệp được coi là biện pháp hàng đầu, tập trung vào kỹ thuật tưới nước, phân bón, giống mới, tăng năng suất cây trồng
d, Kinh nghiệm của Hàn Quốc
Hàn Quốc đất chật, người đông, điều kiện tự nhiên không thuận cho sản xuất nông nghiệp Từ kế hoạch 5 năm lần thứ ba (1971 - 1976), lãnh đạo Hàn Quốc tìm cách lập lại “tăng trưởng cân đối giữa khu vực công nghiệp và nông nghiệp”, phát triển nông nghiệp được đưa lên hàng đầu, ngang hàng với hai mục tiêu tăng xuất khẩu và xây dựng công nghiệp nặng Chính phủ đầu tư 2 tỉ USD cho phát triển nông thôn, lấy vật chất và chính sách để kích thích tinh thần, thay đổi cách suy nghĩ, tạo cho cư dân nông thôn niềm tin ở bản thân, thái độ tự chủ, làm việc hợp tác Tổng thống Hàn Quốc tuyên bố: “Nếu chúng
ta phát huy được tinh thần chăm chỉ, tự lực vượt khó và hợp tác, tiềm ẩn trong mỗi người dân nông thôn, tôi tin rằng tất cả các làng, xã sẽ có cuộc sống thịnh vượng đó là phương hướng hành động của mô hình "Làng mới" (Saemaul Undong)" Nhờ phong trào “Làng mới” nhân dân quen làm việc tập thể, kinh
tế hợp tác phát triển Đầu thập kỷ 90, gần 6.700 xí nghiệp “Làng mới” ra đời làm dịch vụ kỹ thuật, giao thông vận tải, sửa chữa cơ điện, sản xuất dệt, sợi, chế biến nông sản, giấy, thuỷ tinh, hoá chất, cơ khí nhỏ, thiết bị điện, điện tử;
Trang 24thu hút hàng trăm nghìn lao động nông thôn, tăng thu nhập phi nông nghiệp cho cư dân nông thôn Phong trào “Làng mới” một mặt tạo việc làm và thu nhập cho đông đảo lao động nông nghiệp, mặt khác nâng cao tay nghề và khả năng quản lý, cải thiện ý thức và phong cách làm việc của lao động nông thôn, đáp ứng nhu cầu công nghiệp
e) Một số bài học chính sách quan trọng từ thực tiễn thế giới
- Nông nghiệp phát triển là điều kiện tiên quyết để CNH thành công: cung cấp đủ lương thực, thực phẩm, nguyên liệu và lao động phục vụ phát
triển công nghiệp
- Nông nghiệp giai đoạn đầu tăng trưởng dựa trên cải cách ruộng đất, tạo động lực và cơ hội bình đẳng cho phần lớn nông dân, tiếp đến cần tăng năng lực và bảo vệ nông dân trong thị trường bằng hệ thống HTX và liên kết với hệ thống doanh nghiệp trên thị trường
- Phát triển khoa học và chuyển giao công nghệ, gắn đại học với các viện nghiên cứu và hệ thống khuyến nông Nông dân chủ động tiếp cận công nghệ, thiết bị tiên tiến, tăng năng suất, chất lượng, bảo đảm tăng trưởng nông nghiệp ổn định, hiệu quả
- Tạo điều kiện tích tụ đất đai, mở rộng quy mô sản xuất, phát triển nông hộ lớn hoặc trang trại để cơ giới hoá, tăng năng suất lao động, tăng khả năng cạnh tranh
- Tạo điều kiện để nông dân sản xuất giỏi, trở thành nông dân chuyên nghiệp sản xuất hàng hoá Thông qua tổ chức hợp tác, trang bị cho họ kỹ năng sản xuất, quản lý nông hộ, năng lực tiếp thu khoa học - công nghệ và nắm bắt thị trường thành thạo
- Huy động cộng đồng chủ động xây dựng quy hoạch nông nghiệp, nông thôn phù hợp với sản xuất lớn và mức sống hiện đại Hình thành không
Trang 25gian nông thôn có kết cấu hạ tầng và dịch vụ đáp ứng nhu cầu đời sống (cả văn hoá, môi trường ) và hỗ trợ sản xuất
- Phải liên kết chặt giữa phát triển công nghiệp, đô thị với nông nghiệp, nông thôn bằng cách đưa công nghiệp và dãn đô thị về nông thôn, hỗ trợ công nghiệp phục vụ nông nghiệp, nông thôn, thu hẹp khoảng cách thu nhập nông thôn và đô thị, lấy thị trường nông thôn nuôi công nghiệp phát triển Hỗ trợ lao động nông nghiệp thay đổi tập quán sinh hoạt và làm việc bằng phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa ở nông thôn và đào tạo nghề
1.2.2.2 Sơ lược về tình hình sản xuất nông sản hàng hoá ở Việt Nam
- Sản xuất nông lâm nghiệp và thuỷ sản thời kỳ 2001 - 2005 tiếp tục đạt tốc độ tăng trưởng tương đối cao và ổn định, đảm bảo an ninh lương thực, cung cấp ngày càng nhiều sản phẩm cho nhu cầu tiêu dùng của dân cư, cho công nghiệp chế biến và gia tăng đáng kể kim ngạch xuất khẩu cho đất nước Giá trị sản xuất nông lâm nghiệp và thuỷ sản tăng bình quân hàng năm 5,4%, vượt chỉ tiêu kế hoạch đề ra là tăng 4,8%/năm, trong đó nông nghiệp tăng 4,1%; lâm nghiệp tăng 1,4%; thuỷ sản tăng 12,1% Cơ cấu nông lâm nghiệp
và thuỷ sản đã chuyển dịch theo hướng giảm dần tỷ trọng ngành nông nghiệp
và tăng tỷ trọng ngành thuỷ sản
Sản lượng lúa thời kỳ 2001 - 2005 đạt 173,1 triệu tấn, bình quân mỗi năm 34,6 triệu tấn, riêng sản lượng lúa năm 2005 đạt 35,79 triệu tấn, tăng 3,26 triệu tấn so với năm 2000 Năm 2005 sản lượng ngô đạt 3,76 triệu tấn, gấp 1,87 lần sản lượng năm 2000 Diện tích gieo trồng các cây màu, cây công nghiệp và rau quả tăng nhanh cả về số lượng và tỷ trọng, từ 4.979 nghìn ha và 39,4% tổng diện tích gieo trồng năm 2000 lên 5.901,4 nghìn ha và 44,6% năm
2005 Sản lượng cà phê bình quân thời kỳ 2001 - 2005 đạt 787,5 nghìn tấn/năm, tăng 56,2% so với thời kỳ 1996 - 2000 Sản lượng cao su năm 2005 đạt 468,6 nghìn tấn, gấp 1,6 lần sản lượng năm 2000 Sản lượng chè năm
Trang 262005 đạt 534,2 nghìn tấn, bình quân mỗi năm trong 5 năm 2001 - 2005 sản lượng chè tăng 11,2% Sản lượng hạt điều nhân sản xuất năm 2005 đã đạt 232 nghìn tấn, gấp 3,4 lần sản lượng năm 2000 Sản lượng hồ tiêu năm 2005 đạt khoảng 77 nghìn tấn, gấp gần 2 lần sản lượng năm 2000 và gấp 8,9 lần năm
1990 Sản lượng 8 loại cây ăn quả chủ yếu (cam, quýt, chuối, dứa, xoài, nhãn, vải, chôm chôm) năm 2005 tăng 54% so với sản lượng năm 2000 Chăn nuôi trong 5 năm qua đã phát triển mạnh theo hướng sản xuất hàng hoá, đã đáp ứng nhu cầu thực phẩm tăng nhanh và tăng tỷ trọng trong sản xuất nông nghiệp Tính đến thời điểm 01/8/2005, đàn trâu cả nước có 2,92 triệu con, tăng 25 nghìn con so với năm 2000; đàn bò có 5,5 triệu con, tăng 1,41 triệu con, riêng đàn bò sữa gấp gần 3 lần; đàn lợn có 27,4 triệu con, tăng 7,2 triệu con; sản lượng thịt các loại đạt 2812,2 nghìn tấn, bằng 1,8 lần; sản lượng sữa bằng 3,8 lần Chăn nuôi gia cầm bị ảnh hưởng nặng của dịch cúm gia cầm nên chỉ bằng mức năm 2000[35]
Sau hơn 20 năm đổi mới, nông nghiệp nước ta đạt được những thành tựu hết sức to lớn; đặc biệt là xuất khẩu nhóm hàng nông, lâm, thủy sản Quy
mô và tốc độ tăng trưởng xuất khẩu được mở rộng ở mức cao
- Giá trị sản xuất nông nghiệp theo giá trị hiện hành phân theo ngành hoạt động (2010) là: giá trị sản xuất ngành trồng trọt đạt 396,7 ngàn tỷ đồng; giá trị sản xuất ngành chăn nuôi đạt 135,1 nàn tỷ đồng và giá trị sản xuất dịch
vụ 8,4 ngàn tỷ đồng
- Giá trị sản xuất lâm nghiệp theo giá trị hiện hành phân theo ngành hoạt động (2010) là: trồng và chăm sóc rừng đạt 2711,1 tỷ đồng; khai thác gỗ
và lâm sản khác đạt 14011,8 tỷ đồng; thu nhặt sản phảm từ rừng không pải gỗ
và lâm sản khác đạt 936,2 tỷ đồng; dịch vụ lâm nghiệp đạt 1055,6 tỷ đồng
- Giá trị sản xuất thủy sản theo giá trị hiện hành phân theo ngành hoạt động (2010) là: khai thác đạt 58863,0 tỷ đồng và nuôi trồng đạt 94306,9 tỷ đồng
Trang 27Hầu hết các chỉ tiêu đặt ra cho cả hai giai đoạn (2001 - 2005 và 2006 - 2010) đều đạt được mục tiêu, có một số chỉ tiêu vượt cả mục tiêu năm 2010, như cà phê (mục tiêu năm 2010 là 958 triệu, sản phẩm này đã vượt mức gần 1
tỷ USD), cao su (mục tiêu 980 triệu USD, năm 2007 đã vượt 500 triệu USD), hạt tiêu (vượt mục tiêu là 296 triệu USD) hoặc xấp xỉ như thủy sản (đạt 3,323
tỷ USD so với mục tiêu là 3,997 tỷ USD), nằm trong tốp 10 nước xuất khẩu thủy sản lớn nhất thế giới [4] Xuất khẩu gạo đứng thứ 2 thế giới, năm 2005 đạt sản lượng gạo xuất khẩu 5,2 triệu tấn [4]
1.3 Những vấn đề về hiệu quả sử dụng đất và đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
1.3.1 Khái quát về hiệu quả và hiệu quả sử dụng đất
Có nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả Trước đây, người ta thường quan niệm kết quả chính là hiệu quả Sau này, người ta nhận thấy rõ
sự khác nhau giữa hiệu quả và kết quả Nói một cách chung nhất thì hiệu quả chính là kết quả như yêu cầu của công việc mang lại [33]
Trong sản xuất, hiệu quả có nghĩa là hiệu suất, là năng suất Trong kinh doanh, hiệu quả là lãi suất, lợi nhuận Trong lao động nói chung, hiệu quả là năng suất lao động được đánh giá bằng số lượng thời gian hao phí để sản xuất
ra một đơn vị sản phẩm, hoặc bằng số lượng sản phẩm được sản xuất ra trong một đơn vị thời gian [10]
Từ những khái niệm chung về hiệu quả, ta xem xét trong lĩnh vực sử dụng đất thì hiệu quả là chỉ tiêu chất lượng đánh giá kết quả sử dụng đất trong hoạt động kinh tế, thể hiện qua lượng sản phẩm, lượng giá trị thu được bằng tiền Đồng thời về mặt hiệu quả xã hội là thể hiện mức thu hút lao động trong quá trình hoạt động kinh tế để khai thác sử dụng đất Riêng đối với ngành nông nghiệp, cùng với hiệu quả kinh tế về giá trị và hiệu quả về mặt sử dụng lao động trong nhiều trường hợp phải coi trọng hiệu quả về mặt hiện vật là
Trang 28sản lượng nông sản thu hoạch được, nhất là các loại nông sản cơ bản có ý nghĩa chiến lược (lương thực, sản phẩm xuất khẩu…) để đảm bảo sự ổn định
về kinh tế - xã hội đất nước [10]
Như vậy, hiệu quả sử dụng đất là kết quả của cả một hệ thống các biện pháp tổ chức sản xuất, khoa học, kỹ thuật, quản lý kinh tế và phát huy các lợi thế, khắc phục các khó khăn khách quan của điều kiện tự nhiên, trong những hoàn cảnh cụ thể còn gắn sản xuất nông nghiệp với các ngành khác của nền kinh tế quốc dân, gắn sản xuất trong nước với thị trường quốc tế [10]
Hiện nay, các nhà khoa học đều cho rằng, vấn đề đánh giá hiệu quả sử dụng đất không chỉ xem xét đơn thuần ở một mặt hay một khía cạnh nào đó
mà phải xem xét trên tổng thể các mặt bao gồm: hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường
1.3.1.1 Hiệu quả kinh tế
Theo Các Mác thì quy luật kinh tế đầu tiên trên cơ sở sản xuất tổng thể
là quy luật tiết kiệm thời gian và phân phối có kế hoạch thời gian lao động theo các ngành sản xuất khác nhau Theo nhà kinh tế Samuel – Nordhuas thì
“Hiệu quả là không lãng phí” Theo các nhà khoa học Đức (Stienier, Hanau, Rusteruyer, Simmerman) hiệu quả kinh tế là chỉ tiêu so sánh mức độ tiết kiệm chi phí trong một đơn vị kết quả hữu ích và mức tăng kết quả hữu ích của hoạt động sản xuất vật chất trong một thời kỳ, góp phần làm tăng thêm lợi ích cho
xã hội [24]
Hiệu quả kinh tế là phạm trù chung nhất, nó liên quan trực tiếp tới nền sản xuất hàng hoá với tất cả các phạm trù và các quy luật kinh tế khác nhau
Vì thế, hiệu quả kinh tế phải đáp ứng được 3 vấn đề:
- Một là mọi hoạt động của con người đều phải quan tâm và tuân theo quy luật “tiết kiệm thời gian”;
Trang 29- Hai là hiệu quả kinh tế phải được xem xét trên quan điểm của lý thuyết hệ thống;
- Ba là hiệu quả kinh tế là một phạm trù phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinh tế bằng quá trình tăng cường các nguồn lực sẵn có phục vụ các lợi ích của con người
Hiệu quả kinh tế được hiểu là mối tương quan so sánh giữa lượng kết quả đạt được và lượng chi phí bỏ ra trong hoạt động sản xuất kinh doanh Kết quả đạt được là phần giá trị thu được của sản phẩm đầu ra, lượng chi phí bỏ ra
là phần giá trị của nguồn lực đầu vào Mối tương quan đó cần xem xét cả
về phần so sánh tuyệt đối và tương đối cũng như xem xét mối quan hệ chặt chẽ giữa hai đại lượng đó
Từ những vấn đề trên có thể kết luận rằng: Bản chất của phạm trù kinh
tế sử dụng đất là “với một diện tích đất đai nhất định sản xuất ra một khối lượng của cải vật chất nhiều nhất với một lượng chi phí về vật chất và lao động thấp nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về vật chất của xã hội" [24]
1.3.1.2 Hiệu quả xã hội
Hiệu quả xã hội là mối tương quan so sánh giữa kết quả xét về mặt
xã hội và tổng chi phí bỏ ra Hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội có mối quan hệ mật thiết với nhau và là một phạm trù thống nhất Theo Nguyễn Duy Tính [41], hiệu quả về mặt xã hội của sử dụng đất nông nghiệp chủ yếu được xác định bằng khả năng tạo việc làm trên một đơn vị diện tích đất nông nghiệp
Hiệu quả xã hội được thể hiện thông qua mức thu hút lao động, thu nhập của nhân dân Hiệu quả xã hội cao góp phần thúc đẩy xã hội phát triển, phát huy được nguồn lực của địa phương, nâng cao mức sống của nhân dân
Sử dụng đất phải phù hợp với tập quán, nền văn hoá của địa phương thì việc
sử dụng đất bền vững hơn
Trang 301.3.1.3 Hiệu quả môi trường
Hiệu quả môi trường được thể hiện ở chỗ: Loại hình sử dụng đất phải bảo vệ được độ màu mỡ của đất đai, ngăn chặn được sự thoái hoá đất bảo
vệ môi trường sinh thái Độ che phủ tối thiểu phải đạt ngưỡng an toàn sinh thái (>35%) đa dạng sinh học biểu hiện qua thành phần loài [28]
1.3.2 Đặc điểm, nguyên tăc đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 1.3.2.1 Đặc điểm
Nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp là rất cần thiết, có thể xem xét ở các mặt [24]:
+ Quá trình sản xuất trên đất nông nghiệp phải sử dụng nhiều yếu tố đầu vào kinh tế Vì thế, khi đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trước tiên phải được xác định bằng kết quả thu được trên một đơn vị diện tích cụ thể (thường là 1 ha), tính trên 1 đồng chi phí, trên 1 công lao động
+ Trên đất nông nghiệp có thể bố trí các cây trồng, các hệ thống luân canh, do đó cần phải đánh giá hiệu quả từng loại cây trồng, từng công thức luân canh
+ Thâm canh là biện pháp sử dụng đất nông nghiệp theo chiều sâu, tác động đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trước mắt và lâu dài Vì thế, cần phải nghiên cứu hậu quả của việc sử dụng phân bón và thuốc trừ sâu, nghiên cứu ảnh hưởng của việc tăng đầu tư thâm canh đến quá trình sử dụng đất
+ Phát triển nông nghiệp chỉ có thể thích hợp được khi con người biết làm cho môi trường cùng phát triển Do đó, khi đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp cần quan tâm đến những ảnh hưởng của sản xuất nông nghiệp đến môi trường xung quanh
+ Hoạt động sản xuất nông nghiệp mang tính xã hội rất sâu sắc Vì vậy, khi đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp cần quan tâm đến những tác
Trang 31động của sản xuất nông nghiệp đến các vấn đề xã hội khác như: giải quyết việc làm, tăng thu nhập, nâng cao trình độ dân trí nông thôn…
1.3.2.2 Nguyên tắc lựa chọn chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
Việc lựa chọn các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp cần phải dựa trên những nguyên tắc cụ thể:
+ Hệ thống các chỉ tiêu phải có tính thống nhất, toàn diện và tính hệ thống Các chỉ tiêu phải có mối quan hệ hữu cơ với nhau, phải đảm bảo tính
so sánh có thang bậc [20], [26]
+ Để đánh giá chính xác, toàn diện cần phải xác định các chỉ tiêu cơ bản biểu hiện hiệu quả một cách khách quan, chân thật và đúng đắn theo quan điểm và tiêu chuẩn đã chọn, các chỉ tiêu bổ sung để hiệu chỉnh chỉ tiêu cơ bản làm cho nội dung kinh tế biểu hiện đầy đủ hơn, cụ thể hơn [19]
+ Các chỉ tiêu phải phù hợp với đặc điểm và trình độ phát triển nông nghiệp ở nước ta, đồng thời có khả năng so sánh quốc tế trong quan hệ đối ngoại, nhất là những sản phẩm có khả năng hướng tới xuất khẩu
+ Hệ thống các chỉ tiêu phải đảm bảo tính thực tiễn, tính khoa học và phải có tác dụng kích thích sản xuất phát triển
1.3.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và phát triển nông nghiệp sản xuất hàng hoá
* Nhóm yếu tố về điều kiện tự nhiên
Điều kiện tự nhiên (đất, nước, khí hậu, thời tiết ) có ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp Bởi vì, các yếu tố của điều kiện tự nhiên là tài nguyên để sinh vật tạo nên sinh khối Do vậy, cần đánh giá đúng điều kiện tự nhiên để trên cơ sở đó xác định cây trồng, vật nuôi chủ lực phù hợp và định hướng đầu tư thâm canh đúng
Trang 32Theo Mác, điều kiện tự nhiên là cơ sở hình thành địa tô chênh lệch I Theo N.Borlang - người được giải Noben về giải quyết lương thực cho các nước phát triển cho rằng: Yếu tố duy nhất quan trọng hạn chế năng suất cây trồng ở tầm cỡ thế giới của các nước đang phát triển, đặc biệt đối với nông dân thiếu vốn là độ phì của đất Và sản xuất nông nghiệp được coi là ngành kinh doanh năng lượng ánh sáng mặt trời dựa trên các điều kiện tự nhiên, kinh
tế xã hội khác [25]
Điều kiện về đất đai, khí hậu thời tiết có ý nghĩa quan trọng đối với sản xuất nông nghiệp Nếu điều kiện tự nhiên thuận lợi, các hộ nông dân có thể lợi dụng những yếu tố đầu vào không kinh tế thuận lợi để tạo ra nông sản hàng hoá với giá rẻ
* Nhóm các yếu tố kỹ thuật canh tác
Biện pháp kỹ thuật canh tác là tác động của con người vào đất đai, cây trồng, vật nuôi, nhằm tạo nên sự hài hoà giữa các yếu tố của quá trình sản xuất
để hình thành, phân bố và tích luỹ năng suất kinh tế Đây là những vấn đề thể hiện sự hiểu biết về đối tượng sản xuất, về thời tiết, về điều kiện môi trường và thể hiện những dự báo thông minh của người sản xuất Lựa chọn các tác động
kỹ thuật, lựa chọn chủng loại và cách sử dụng các đầu vào phù hợp với các quy luật tự nhiên của sinh vật nhằm đạt được các mục tiêu đề ra là cơ sở để phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hoá Theo Frank Ellis và Douglass C.North, ở các nước phát triển, khi có tác động tích cực của kỹ thuật, giống mới, thuỷ lợi, phân bón tới hiệu quả thì cũng đặt ra yêu cầu mới đối với tổ chức sử dụng đất
Có nghĩa là ứng dụng công nghệ sản xuất tiến bộ là một đảm bảo vật chất cho kinh tế nông nghiệp tăng trưởng nhanh dựa trên việc chuyển đổi sử dụng đất Cho đến giữa thế kỷ 21, trong nông nghiệp nước ta, quy trình kỹ thuật có thể góp phần đến 30% của năng suất kinh tế Như vậy, nhóm các biện pháp kỹ thuật đặc biệt có ý nghĩa quan trọng trong quá trình khai thác đất theo chiều sâu
và nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp [25]
Trang 33* Nhóm các yếu tố kinh tế tổ chức
+ Công tác quy hoạch và bố trí sản xuất
Phát triển sản xuất hàng hoá phải gắn với công tác quy hoạch và phân vùng sinh thái nông nghiệp Cơ sở để tiến hành quy hoạch dựa vào điều kiện
tự nhiên, kinh tế - xã hội đặc trưng cho từng vùng Việc phát triển sản xuất nông nghiệp phải đánh giá, phân tích thị trường tiêu thụ và gắn với quy hoạch công nghiệp chế biến Đó sẽ là cơ sở để phát triển sản xuất, khai thác các tiềm năng của đất đai, nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và phát triển sản xuất hàng hoá
+ Hình thức tổ chức sản xuất: Các hình thức tổ chức sản xuất ảnh hưởng trực tiếp đến việc khai thác, nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp Vì vậy, cần phải thực hiện đa dạng hoá các hình thức hợp tác trong nông nghiệp, xác lập một hệ thống tổ chức sản xuất, kinh doanh phù hợp và giải quyết tốt mối quan hệ giữa sản xuất, dịch vụ và tiêu thụ nông sản hàng hoá Tổ chức có tác động lớn đến hàng hoá của hộ nông dân là: Tổ chức dịch
vụ đầu vào và đầu ra
+ Dịch vụ kỹ thuật: Sản xuất hàng hoá của hộ nông dân không thể tách rời những tiến bộ kỹ thuật và việc ứng dụng các tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất Vì sản xuất nông nghiệp hàng hoá phát triển đòi hỏi phải không ngừng nâng cao chất lượng nông sản và hạ giá thành nông sản phẩm [25]
* Nhóm các yếu tố kinh tế - xã hội
Phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá cũng giống như ngành sản xuất vật chất khác của xã hội, nó chịu sự chi phối của quy luật cung cầu, chịu sự ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố đầu vào, quy mô các nguồn lực như: đất, lao động, vốn sản xuất, thị trường, kiến thức và kinh nghiệm trong sản xuất và tiêu thụ nông sản [12]
+ Thị trường là nhân tố quan trọng, dựa vào nhu cầu của thị trường nông dân lựa chọn hàng hoá để sản xuất Theo Nguyễn Duy Tính (1995)
Trang 34[28], ba yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp là năng suất cây trồng, hệ số quay vòng đất và thị trường cung ứng đầu vào và tiêu thụ đầu ra Trong cơ chế thị trường, các nông hộ hoàn toàn tự do lựa chọn hàng hoá họ có khả năng sản xuất, đồng thời họ có xu hướng hợp tác, liên doanh, liên kết để sản xuất ra những nông sản hàng hoá mà nhu cầu thị trường cần với chất lượng cao đáp ứng nhu cầu thị hiếu của khách hàng Muốn mở rộng thị trường phải phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng, hệ thống thông tin, dự báo, mở rộng các dịch vụ tư vấn Đồng thời, quy hoạch các vùng trọng điểm sản xuất hàng hoá để người sản xuất biết nên sản xuất cái gì? bán ở đâu? mua tư liệu sản xuất và áp dụng khoa học công nghệ gì? Sản phẩm hàng hoá của Việt Nam đa dạng, phong phú về chủng loại, chất lượng, giá rẻ và đang được lưu thông trên thị trường là điều kiện thuận lợi cho phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá có hiệu quả [16]
+ Hệ thống chính sách về đất đai, điều chỉnh cơ cấu đầu tư, hỗ trợ có ảnh hưởng lớn đến sản xuất hàng hoá của nông dân Đó là công cụ để nhà nước can thiệp vào sản xuất nhằm khuyến khích hoặc hạn chế sản xuất các loại nông sản hàng hoá
+ Sự ổn định chính trị - xã hội và các chính sách khuyến khích đầu tư phát triển nông nghiệp của Nhà nước Cùng với những kinh nghiệm, tập quán sản xuất nông nghiệp, trình độ năng lực của các chủ thể kinh doanh, là những động lực thúc đẩy sản xuất nông nghiệp hàng hoá
1.4 Những xu hướng phát triển nông nghiệp trên thế giới và Việt Nam 1.4.1 Những xu hướng phát triển nông nghiệp trên thế giới
Theo Đường Hồng Dật [10], trên con đường phát triển nông nghiệp mỗi nước đều chịu ảnh hưởng của các điều kiện khác nhau, nhưng phải giải quyết vấn đề chung sau:
Trang 35+ Không ngừng nâng cao chất lượng nông sản, năng suất lao động trong nông nghiệp, nâng cao hiệu quả đầu tư;
+ Mức độ và phương thức đầu tư vốn, lao động, khoa học và quá trình phát triển nông nghiệp Chiều hướng chung nhất là phấn đấu giảm lao động chân tay, đầu tư nhiều lao động trí óc, tăng cường hiệu quả của lao động quản lý và tổ chức;
+ Mối quan hệ giữa phát triển nông nghiệp và môi trường
Từ những vấn đề chung trên, mỗi nước lại có chiến lược phát triển nông nghiệp khác nhau và có thể chia làm hai xu hướng:
* Nông nghiệp công nghiệp hoá: Sử dụng nhiều thành tựu và kết quả
của công nghiệp, sử dụng nhiều vật tư kỹ thuật, dùng trang thiết bị máy móc sản xuất theo quy trình kỹ thuật chặt chẽ gần như công nghiệp, đạt năng suất cây trồng vật nuôi và năng suất lao động cao Khoảng 10% lao động xã hội trực tiếp làm nông nghiệp nhưng vẫn đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng và xuất khẩu Tuy nhiên, nông nghiệp công nghiệp hoá gây nên nhiều hậu quả sinh thái nghiêm trọng, gây ô nhiễm môi trường làm giảm tính đa dạng sinh học, làm hao hụt nguồn gen thiên nhiên [1]
Theo cách hiểu gần đây nhất được đưa ra: Nông nghiệp công nghiệp hoá là một nền nông nghiệp được công nghiệp hoá khi áp dụng đầy đủ các thành tựu của một xã hội công nghiệp vào nông nghiệp Các thành tựu đó thể hiện trên nhiều mặt: thông tin, điện tử, sinh học, hoá học, cơ khí… Thực tế cho thấy ở nhiều nước công nghiệp phát triển, nền nông nghiệp công nghiệp hoá thể hiện theo cách này đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể Tuy nhiên, nhược điểm của nền nông nghiệp này là không chú ý đầy đủ đến các tác động của hoạt động sản xuất nông nghiệp lên môi trường tự nhiên [10]
* Nông nghiệp sinh thái: Khái niệm nông nghiệp sinh thái được đưa ra
nhằm khắc phục những nhược điểm của nông nghiệp công nghiệp hoá Nông
Trang 36nghiệp sinh thái nhấn mạnh việc đảm bảo tuân thủ những nguyên tắc về sinh học trong nông nghiệp Mục tiêu của nông nghiệp sinh thái là:
- Tránh những tác hại do sử dụng hoá chất và phương pháp công nghiệp gây ra;
- Cải thiện chất lượng dinh dưỡng thức ăn;
- Nâng cao độ phì nhiêu của đất bằng phân bón hữu cơ, tăng hàm lượng mùn trong đất…
- Giảm thiểu ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí [1]
Gần đây nhiều nhà khoa học đã nghiên cứu nền nông nghiệp bền vững,
đó là một dạng của nông nghiệp sinh thái với mục tiêu sản xuất nông nghiệp
đi đôi với giữ gìn bảo vệ môi trường sinh thái đảm bảo cho nông nghiệp phát triển bền vững, lâu dài
Trong thực tế phát triển theo những dạng tổng hợp, đan xen các xu hướng vào nhau ở nhiều mức độ khác nhau Cụ thể như :
- “Cách mạng xanh’’ đã được thực hiện ở các nước đang phát triển
của Châu Á, Mỹ La Tinh và đem lại những bước phát triển lớn vào thập niên 60 Thực chất cuộc cách mạng này dựa chủ yếu vào việc áp dụng các giống cây lương thực có năng suất lúa cao (lúa nước, lúa mì, ngô ), xây dựng hệ thống thuỷ lợi, sử dụng nhiều loại phân hoá học “Cách mạng xanh” dựa vào một số yếu tố sinh học, một số yếu tố hoá học và thành tựu của công nghiệp [10]
- “Cách mạng trắng’’ được thực hiện dựa vào việc tạo ra các giống gia
súc có tiềm năng cho sữa cao, vào những tiến bộ khoa học đạt được trong việc tăng năng suất và chất lượng các loại gia súc, trong các phương thức chăn nuôi mang ít nhiều tính chất công nghiệp Cuộc cách mạng này đã tạo được những bước phát triển lớn trong chăn nuôi ở một số nước và được thực hiện trong mối quan hệ chặt chẽ với “cách mạng xanh” [10]
Trang 37- “Cách mạng nâu’’ diễn ra trên cơ sở giải quyết mối quan hệ giữa
nông dân với ruộng đất Trên cơ sở khơi dậy lòng yêu quý của nông dân đối với đất đai, khuyến khích tính cần cù của họ để tăng năng suất và sản lượng trong nông nghiệp [10]
Cả ba cuộc cách mạng này mới chỉ dừng lại ở việc tháo gỡ những khó khăn trước mắt mà chưa thể là cơ sở cho một chiến lược phát triển nông nghiệp lâu dài và bền vững
Từ những bài học của lịch sử phát triển nông nghiệp, những thành tựu đạt được của khoa học công nghệ, ở giai đoạn hiện nay muốn đưa nông nghiệp đi lên phải xây dựng và thực hiện một nền nông nghiệp trí tuệ Bởi vì, tính phong phú đa dạng và đầy biến động của nông nghiệp đòi hỏi những hiểu biết và những xử lý đầy trí tuệ và rất biện chứng Nông nghiệp trí tuệ thể hiện
ở việc phát hiện, nắm bắt và vận dụng các quy luật tự nhiên và xã hội trong mọi mặt hoạt động của hệ thống nông nghiệp phong phú, biểu hiện ở việc áp dụng các giải pháp phù hợp, khoa học Nông nghiệp trí tuệ là bước phát triển
ở mức cao, là sự kết hợp ở đỉnh cao của các thành tựu sinh học, công nghiệp, kinh tế, quản lý được vận dụng phù hợp với điều kiện của mỗi nước, mỗi vùng [10]
1.4.2 Phương hướng phát triển nông nghiệp Việt Nam trong những năm tới
Trên cơ sở thành tựu kỹ thuật nông nghiệp của hơn 20 năm đổi mới, dựa trên những dự báo về khoa học kỹ thuật, căn cứ vào điều kiện cụ thể, phương hướng chủ yếu phát triển nông nghiệp Việt Nam trong 10 năm tới sẽ là:
+ Tập trung sản xuất nông sản hàng hoá theo nhóm ngành hàng, nhóm sản phẩm [15], dựa trên cơ sở dự báo cung cầu của thị trường nông sản trong nước, thế giới và khai thác tốt lợi thế so sánh của các vùng
+ Xác định cơ cấu sản phẩm trên cơ sở các tiềm năng tự nhiên, kinh tế,
xã hội của từng vùng, lấy hiệu quả kinh tế tổng hợp làm thước đo để xác định
Trang 38cơ cấu, tỷ lệ sản phẩm hợp lý về các chỉ tiêu, kế hoạch đối với từng nông sản hàng hoá [15]
+ Chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp theo hướng tăng tỷ trọng ngành chăn nuôi, nhóm cây công nghiệp, rau quả so với cây lương thực Giảm tỷ trọng lao động nông nghiệp xuống còn 50% [15], tăng quỹ đất nông nghiệp bình quân trên một lao động nông nghiệp Đồng thời đẩy mạnh công nghiệp hoá, phát triển ngành nghề công nghiệp, dịch vụ ngoài nông nghiệp Mặt khác, cần phải phát triển mạnh các ngành nghề, dịch vụ trong nông nghiệp để giải quyết lao động nông nhàn
+ Tiếp tục hoàn thiện cơ chế chính sách phù hợp với yêu cầu cao hơn của công nghiệp hoá [15] Để khuyến khích sản xuất nông sản hàng hoá, tăng sản phẩm xuất khẩu, cần tiếp tục tạo lập đồng bộ các yếu tố của kinh tế thị trường và từng bước hoàn thiện nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa Đặc biệt là thị trường ruộng đất, tạo ra sự lưu chuyển đất nông nghiệp nhằm tạo ra các doanh nghiệp sản xuất nông nghiệp hàng hoá với quy mô thích hợp [2]
+ Đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ trong nông nghiệp Cần ứng dụng đồng bộ các yếu tố khoa học công nghệ vào sản xuất nông sản hàng hoá, nâng cao trình độ khoa học công nghệ trong sản xuất, chế biến, lưu thông tiếp thị nông sản hàng hoá
Sản phẩm làm ra chứa đựng một lượng tri thức khoa học - kỹ thuật và
tổ chức quản lý cao để không ngừng nâng cao năng suất, chất lượng, hạ giá thành sản phẩm [28] và tiếp cận tích cực nhất với kinh tế tri thức đang diễn ra trên toàn cầu
Đại hội Đảng lần thứ X đã đề ra mục tiêu chiến lược về CNH - HĐH đất nước là: Đến năm 2020 phấn đấu đưa nước ta cơ bản thành nước công nghiệp, có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ xã
Trang 39hội tiến bộ phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất… Trong cơ cấu kinh tế, tuy nông nghiệp tiếp tục phát triển mạnh, song công nghiệp và dịch vụ vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong GNP và trong lao động xã hội Đặc biệt, coi trọng CNH - HĐH nông nghiệp và nông thôn, phát triển toàn diện nông, lâm, ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến… Hình thành các vùng tập trung chuyên canh, có cơ cấu hợp lý về cây trồng, vật nuôi, có sản phẩm hàng hoá nhiều về số lượng và tốt về chất lượng, đảm bảo an toàn lương thực cho xã hội, đáp ứng yêu cầu của công nghiệp chế biến và thị trường trong nước, thị trường thế giới Qua đúc kết kinh nghiệm trong nửa sau của thế kỷ
20 và tham khảo kinh nghiệm một số nước trong khu vực và thế giới, chúng
ta có thể khẳng định con đường phát triển nông nghiệp Việt Nam từ thế kỷ 20 bước vào thế kỷ 21 là nông nghiệp sản xuất hàng hoá trên cơ sở CNH - HĐH với mức độ phù hợp yêu cầu của nông nghiệp bền vững [27]
Trang 40Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đặc điểm của Thành phố Hòa Bình
2.1.1 Điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý
Vị trí địa lý
Thành phố Hòa Bình là Thành phố đô thị hóa loại ba có vị trí ở vùng núi thấp thuộc tỉnh Hòa Bình Là Trung tâm chính trị - hành chính, kinh tế, giáo dục, văn hóa của tỉnh với tổng diện tích tự nhiên 14.442,98 ha
Địa giới hành chính:
- Phía Bắc giáp huyện Thanh Sơn (tỉnh Phú Thọ)
- Phía Đông giáp huyện Kỳ Sơn, Kim Bôi
- Phía Tây giáp huyện Đà Bắc
- Phía Nam giáp huyện Cao Phong
Hệ thống lưới điện trên toàn thành phố đã được nâng cấp các hệ thống điện đường đã được đầu tư xây dựng trên các trục đường chính