Thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 khóa X, về “Nông nghiệp, nông dân, nông thôn”, bằng nhiều nguồn như vốn sự nghiệp nông thôn, Chương trình 135 giai đoạn II và vốn viện trợ của Chính phủ
Trang 1ĐỨC MINH NHUỆ
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ MỘT SỐ MÔ HÌNH
KHUYẾN NÔNG TẠI HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN GIAI ĐOẠN 2012 - 2015
LUẬN VĂN THẠC SĨ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
Thái Nguyên - 2016
Trang 2ĐỨC MINH NHUỆ
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ MỘT SỐ MÔ HÌNH KHUYẾN NÔNG TẠI HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN GIAI ĐOẠN 2012 - 2015
Chuyên ngành: Phát triển nông thôn
Mã số: 60.62.01.16
LUẬN VĂN THẠC SĨ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Lê Sỹ Trung
Thái Nguyên - 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực, khách quan và chưa từng được sử dụng để bảo vệ một học
vị nào
Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này
đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Thái Nguyên, tháng 8 năm 2016
Tác giả luận văn
Đức Minh Nhuệ
Trang 4Nhân dịp hoàn thành luận văn này, tôi xin bày tỏ lời biết ơn sâu sắc
nhất tới PGS.TS Lê Sỹ Trung là người đã trực tiếp hướng dẫn khoa học,
tận tình chỉ bảo, giúp đỡ, truyền đạt những kiến thức quý báu và dành những tình cảm tốt đẹp cho tác giả trong suốt thời gian học tập cũng như trong thời gian thực hiện luận văn
Cuối cùng tác giả xin chân thành cảm ơn các đồng nghiệp, bạn bè và người thân trong gia đình đã luôn bên cạnh giúp đỡ, động viên tác giả trong suốt thời gian học tập và hoàn thành luận văn
Xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 8 năm 2016
Tác giả luận văn
Đức Minh Nhuệ
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU vii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ, HÌNH ẢNH viii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu của đề tài 2
3 Ý nghĩa của đề tài 3
3.1 Ý nghĩa khoa học 3
3.2 Ý nghĩa thực tiễn 3
Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 4
1.1 Cơ sở khoa học 4
1.2 Cơ sở pháp lý 4
1.3 Tổng quan nghiên cứu Khuyến nông trên Thế giới và ở Việt Nam 5
1.3.1 Trên thế giới 5
1.3.2 Ở Việt Nam 9
1.3.2.1 Chức năng nhiệm vụ của Khuyến nông Việt Nam 15
1.3.2.2 Các kết quả nghiên cứu về khuyên nông trồng trọt 16
1.3.2.3 Đánh giá chung 20
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22
2.1 Đối tượng nghiên cứu 22
Trang 62.2 Phạm vi nghiên cứu 22
2.3 Nội dung nghiên cứu 22
2.4 Phương pháp nghiên cứu 22
2.4.1 Quan điểm và cách tiếp cận đề tài 22
2.4.2 Phương hướng giải quyết vấn đề của đề tài: 23
2.4.3 Phương pháp nghiên cứu chung: 24
2.4.3.1 Lựa chọn điểm và dung lượng mẫu điều tra 25
2.4.3.2 Các phương pháp nghiên cứu 25
2.4.3.3 Hệ thống chỉ tiêu cần thu thập 27
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 28
3.1 Kết quả xây dựng các mô hình khuyến nông (trồng trọt) tại huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên đã được triển khai 28
3.1.1 Thông tin cơ bản đối tượng điều tra 28
3.1.2 Lựa chọn mô hình và địa điểm nghiên cứu 29
3.2 Công tác tổ chức, thực hiện xây dựng mô hình và các biện pháp kỹ thuật áp dụng 31
3.2.1 Tổ chức triển khai, xây dựng và quản lý MH khuyến nông như sau: 31
3.2.1.1 Quy mô, điều kiện để thực hiện các mô hình trình diễn và tham gia triển khai các mô hình khuyến nông 31
3.2.1.2 Mức độ hỗ trợ và đối tượng nhận hỗ trợ từ nguồn kinh phí trung ương, địa phương trong thực hiện mô hình khuyến nông trên địa bàn huyện Điện Biên 32
3.2.1.3 Quy trình triển khai mô hình khuyến nông 34
3.2.1.4 Các biện pháp kỹ thuật đã áp dụng trong xây dựng mô hình 36
3.2.2 Đánh giá kết quả chuyển giao 40
3.2.2.1 Kết quả thực hiện kế hoạch 40
3.2.2.2 Kết quả nghiên cứu về năng suất các loại cây trồng của mô hình Khuyến nông 41
Trang 73.3 Hiệu quả của mô hình Khuyến nông 44
3.3.1 Hiệu quả về kinh tế 44
3.3.2 Hiệu quả về xã hội 49
3.3.2.1 Tác động về nhận thức 49
3.3.2.2 Kết quả nhân rộng mô hình 51
3.3.2.3 Tác động về việc làm 52
3.3.2.4 Tác động về môi trường 53
2.3.3 Thị trường tiêu thụ 54
3.4 Thuận lợi, khó khăn, cơ hội và thách thức trong xây dựng mô hình khuyến nông 54
3.4.1 Thuận lợi 54
3.4.2 Khó khăn 57
3.4.3 Cơ hội 59
3.4.4 Thách thức 59
3.5 Đánh giá chung: 60
3.6 Giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả công tác xây dựng mô hình khuyến nông trồng trọt 61
3.6.1 Giải pháp về tổ chức thực hiện xây dựng mô hình khuyến nông 61
3.6.2 Giải pháp về hoàn thiện tổ chức bộ máy khuyến nông 65
3.6.3 Giải pháp về phát triển nguồn lực 66
3.6.4 Giải pháp về kỹ thuật 66
3.6.5 Giải pháp về chính sách 67
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 68
1 Kết luận 68
2 Kiến nghị 69
TÀI LIỆU THAM KHẢO 70
Trang 8DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
NN & PTNT : Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 3.1: Thông tin về đối tượng điều tra đánh giá 30
Bảng 3.2: Định mức triển khai xây dựng mô hình 33
Bảng 3.3: Kết quả thực hiện xây dựng các mô hình 40
Bảng 3.4: Kết quả điều tra năng suất cây trồng của các hộ tham gia MH 42
Bảng 3.5: Hiệu quả cho 1ha mô hình Lúa gieo thẳng với kinh tế hộ 44
Bảng 3.6: Hiệu quả cho 1ha mô hình sản xuất Ngô lai với kinh tế hộ 46
Bảng 3.7: Hiệu quả cho 1ha mô hình Nhân giống Đậu tương DT84 với kinh tế hộ 47
Bảng 3.8: Nhận thức của người dân khi có MH khuyến nông 50
Bảng 3.9: Kết quả và nhân rộng mô hình khuyến nông 51
Bảng 3.10: Công việc tính cho 1ha 53
Trang 10DANH MỤC BIỂU ĐỒ, HÌNH ẢNH
Biểu đồ 1: Năng suất, lãi của MH gieo thẳng bằng công cụ sạ hàng qua các
năm 45
Biểu đồ 2: Năng suất, lãi của MH sản xuất Ngô lai qua các năm 47
Biểu đồ 3: Năng suất, lãi của MH Nhân giống Đậu tương DT84 qua các năm 48
Hình 1: MH Ngô lai thực hiện tại xã Thanh Nưa năm 2012 105
Hình 2: MH Ngô lai thực hiện tại xã Thanh Hưng năm 2013 105
Hình 3: MH Ngô lai thực hiện tại xã Na Ư năm 2014 106
Hình 4: MH Lúa gieo thẳng thực hiện tại xã Na Ư năm 2012 106
Hình 5: MH Lúa gieo thẳng thực hiện tại xã Thanh Luông năm 2013 107
Hình 6: MH Lúa gieo thẳng thực hiện tại xã Thanh Nưa năm 2014 107
Hình 7: MH Đậu tương thực hiện tại xã Thanh Luông năm 2012 108
Hình 8: MH Đậu tương thực hiện tại xã Na Ư năm 2015 108
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Điện Biên là một huyện biên giới nằm ở phía Tây Nam tỉnh Điện Biên, cách thành phố tỉnh lỵ khoảng 10 km với tổng diện tích tự nhiên là 163.972,86 ha, trong đó: Đất Nông nghiệp là 145.417,60 ha, chiếm 88,68% diện tích đất tự nhiên; đất phi nông nghiệp 5.861,96 ha chiếm 3,58%; đất chưa
sử dụng 12.693,3 ha chiếm 7,74% Trong diện tích đất nông nghiệp bao gồm: Diện tích đất sản xuất nông nghiệp là 74.417,60 ha; đất lâm nghiệp là 70.546,16 ha; đất nuôi trồng thủy sản 737,32 ha; đất nông nghiệp khác 19,89 ha; Kinh tế nông nghiệp và phát triển nông thôn của huyện những năm qua đã phát triển tương đối khá Năm 2015 diện tích lúa cả năm đạt: 13.204,8 ha, năng suất bình quân 49,29 tạ/ha, sản lượng 65.082,2 tấn (bao gồm cả lúa nương); diện tích Ngô: 4.713 ha, năng suất bình quân 46,11 tạ/ha, sản lượng 21.444 tấn; diện tích Đậu tương: 450 ha, sản lượng 772,9 tấn Giá trị sản xuất nông nghiệp năm 2015 đạt 984.218 triệu đồng tăng 23.538 triệu đồng so với năm 2014 [Niên giám thống kê năm 2015]
Xuất phát từ những đặc điểm về điều kiện tự nhiên, trình độ sản xuất…
Đảng bộ, huyện Điện Biên xác định phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn
là một trong những mũi nhọn cần tập trung nhằm nâng cao đời sống nhân dân Thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 khóa X, về “Nông nghiệp, nông dân, nông thôn”, bằng nhiều nguồn như vốn sự nghiệp nông thôn, Chương trình
135 giai đoạn II và vốn viện trợ của Chính phủ Đan Mạch…, huyện Điện Biên đã thực hiện chuyển giao 116 mô hình sản xuất nông nghiệp với tổng kinh phí khoảng trên 13 tỷ đồng Với mục đích tạo điều kiện thuận lợi nhất giúp đồng bào các dân tộc trên địa bàn phát triển kinh tế phù hợp với điều kiện gia đình, sát với đặc điểm thực tế phát triển sản xuất của người dân, huyện đã thực hiện chuyển giao ứng dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật chủ yếu gắn với những mô hình trồng trọt
Trang 12Trong những năm qua các chương trình khuyến nông đã có những hoạt động khá phong phú, phù hợp với mục tiêu đề ra và bước đầu đã giúp cho bà con nông dân trong tỉnh nâng cao được hiểu biết về kỹ thuật canh tác, ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật và nâng cao được thu nhập thông qua việc trực tiếp tham gia xây dựng và phát triển nhân rộng các mô hình khuyến nông
Hoạt động của các mô hình khuyến nông đã góp phần không nhỏ vào việc thực hiện các dự án phát triển nông thôn, xoá đói, giảm nghèo không ngừng cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của người dân nông thôn Đặc biệt là các mô hình khuyến nông đã thiết lập được các hệ thống, các mô hình khuyến nông ở nhiều thôn, bản, nhằm trình diễn kỹ thuật để người dân học tập, làm theo và hàng loạt các giống mới đã được trồng thử nghiệm có năng suất cao, thời gian sinh trưởng ngắn với nhiều phương thức, kỹ thuật khác nhau để từ đó lựa chọn các giống cây trồng, phương thức sản xuất, kỹ thuật phù hợp cho các tiểu vùng sinh thái để nâng cao năng suất, sản lượng
Tuy nhiên bên cạnh đó cũng có nhiều vấn đề tồn tại cần được bổ xung, rút kinh nghiệm như lựa chọn vùng sản xuất, kỹ thuật áp dụng cho từng giống cây trồng, quy mô các mô hình thực hiện cũng như hiệu quả, tác động của các
mô hình
Xuất phát từ yêu cầu đó, đề tài: “Đánh giá hiệu quả một số mô hình
khuyến nông tại huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên giai đoạn 2012 - 2015” là
hết sức cần thiết
2 Mục tiêu của đề tài
- Đánh giá được các mô hình khuyến nông trồng trọt tại huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên từ năm 2012 - 2015 về các mặt phương pháp tổ chức thực hiện, hiệu quả kinh tế, xã hội và những khó khăn trong quá trình thực hiện
- Rút ra được những bài học kinh nghiệm, cho việc thực thi các chương trình, dự án, mô hình khuyến nông ở huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên
- Lựa chọn và đề xuất được các giải pháp phát triển các mô hình tại khu vực nghiên cứu và những nơi có điều kiện sinh thái và nhân văn tương đồng
Trang 133 Ý nghĩa của đề tài
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1.1 Cơ sở khoa học
Trong những năm qua, công tác khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư nhằm chuyển giao những tiến bộ kỹ thuật mới, những thông tin mới về quản
lý sản xuất, kinh doanh và thị trường đến với hộ nông dân đã phát huy được tác dụng tích cực, góp phần phát triển sản xuất nông - lâm và ngư nghiệp và kinh tế nông thôn, được nông dân hoan nghênh và hưởng ứng Tuy nhiên nền nông nghiệp nước ta từ nền nông nghiệp tự cấp, tự túc theo cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung trước đây chuyển sang nền nông nghiệp hàng hóa theo cơ chế thị trường, trong nông nghiệp lấy hộ nông dân làm đơn vị sản xuất kinh doanh tự chủ thì hoạt động khuyến nông như thế nào để đạt được hiệu quả cao hơn vẫn là vấn đề thời sự, vẫn là đề tài được sự thu hút quan tâm của các cấp, các ngành, các nhà khoa học và các cán bộ quản lý Nói một cách khác, hiện nay trong điều kiện nguồn lực còn hạn chế, trong điều kiện xóa cơ chế bao cấp, tổ chức hoạt động khuyến nông như thế nào để giúp đỡ thiết thực được nông dân, nhất là nông dân nghèo ở những vùng xa xối, hẻo lánh, vùng dân tộc thiểu số và những người lao động ngành nghề sống ở nông thôn để họ biết cách làm ăn, sản xuất kinh doanh, biết cách tự giải quyết lấy vấn đề đặt ra ở làng xóm, quê hương để nông dân ta, nông thôn ta sớm thoát khỏi cảnh nghèo nàn lạc hậu, có đời sống ấm no hạnh phúc đang trở thành một nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước ta
1.2 Cơ sở pháp lý
- Chương IV Kinh phí hoạt động và chính sách khuyến nông, khuyến ngư; Điều 13, Điều 14, Điều 16, Điều 17 của Nghị định số 56/2005/ NĐ-CP ngày 26/4/2005 của chính phủ về Khuyến nông - Khuyến ngư;
- Mục 1, 2, 3, 4, 5 phần II: Những quy định cụ thể của Thông tư số 30/2006/TTLT-BTC-BNN&PTNT-BTS ngày 06/4/2006 về việc hướng dẫn
Trang 15việc quản lý và sử dụng kinh phí sự nghiệp kinh tế đối với hoạt động khuyến nông, khuyến ngư;
- Thông tư liên tịch số: 50/TTLT ngày 21/05/2007 về việc sửa đổi, bổ sung Thông tư 30/2006/TTLT-BTC-BNN&PTNT ngày 06/4/2006 hướng dẫn việc quản lý và sử dụng kinh phí sự nghiệp đối với hoạt động Khuyến nông - Khuyến ngư;
- Nghị quyết số 26 NQ/TW ngày 5 tháng 8 năm 2008 Hội nghị lần thứ
7 Ban Chấp hành Trung ương khoá X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn;
- Điều 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17 của Nghị định
số 02/2010/NĐ-CP ngày 08/01/2010 của Chính phủ về Khuyến nông;
- Điều 4, 5, 6, 7 của Thông tư liên tịch số 183/2010/TTLT-BTC-BNN ngày 15 tháng 11 năm 2010 Hướng dẫn chế độ quản lý, sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước cấp đối với hoạt động Khuyến nông;
- Mục 2a, b; mục 4; III Định hướng quy hoạch sử dụng đất và phát triển sản xuất nông nghiệp của Quyết định 124/QĐ-TTg ngày 02/02/2012 của Thủ tướng Chính phủ, về việc phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển sản xuất ngành nông nghiệp đến năm 2020 và tầm đến 2030;
- Quyết định số 212/QĐ-UBND ngày 25/3/2015 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Điện Biên về việc phê duyệt Đề án Tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững đến năm 2020, trên địa bàn tỉnh Điện Biên
1.3 Tổng quan nghiên cứu Khuyến nông trên Thế giới và ở Việt Nam 1.3.1 Trên thế giới
Các hoạt động khuyến nông, kết quả sản xuất nông nghiệp và vai trò
khuyến nông của một số nước trên thế giới
* Mỹ (1914)
- Một trong những điều kiện hoạt động khuyến nông là cần có nguồn kinh phí tài trợ giúp đỡ nông dân, Mỹ là một trong những nước hoạt động khuyến nông của Nhà nước khá sớm
Trang 16- Năm 1914, Mỹ ban hành đạo luật Khuyến nông và thành lập Hệ thống Khuyến nông Quốc gia, giai đoạn này có 8.861 hội nông dân, với khoảng 3.050.150 hội viên
- Năm 1843, Sớm nhất ở NewYork nhà nước cấp nguồn kinh phí khá lớn cho phép Uỷ Ban Nông nghiệp bang thuê tuyển những nhà khoa học nông nghiệp có năng lực thực hành tốt làm giảng viên khuyến nông xuống các thôn,
xã đào tạo những kiến thức về khoa học và thực hành nông nghiệp cho nông dân [10]
- Năm 1853, Edward Hitchcoch, là chủ tịch trường Đại học Amherst và
là thành viên của UBNN bang Massachuisetts đã có nhiều công lao đào tạo khuyến nông cho nông dân và học sinh, sinh viên Ông cũng là người sáng lập
ra Hội nông dân và Học viện nông dân
- Từ cuối những năm 80 của thế kỷ trước Nhà nước đã quan tâm đến công tác đào tạo khuyến nông trong trường Đại học, năm 1891 bang NewYork đã hỗ trợ 10.000 USD cho công tác đào tạo khuyến nông Đại học
- Mỹ là quốc gia có 6% dân sống bằng nghề nông nghiệp nhưng nền nông nghiệp Mỹ được xếp vào nhóm những nước nông nghiệp phát triển Nhiều sản phẩm nông nghiệp của Mỹ chiếm lĩnh thị trường thế giới như ngô, đậu tương; (Sản lượng đậu tương năm1985 đạt 55 triệu tấn, năm 2001 đạt 70 triệu tấn, tăng 15 triệu tấn /6 năm, xuất khẩu lớn nhất TG: 16,9 triệu tấn/năm, đạt khoảng 54 % lượng đậu tương xuất khẩu của thế giới Ngô 2000 - 2001 đạt 335 triệu tấn, xuất khẩu 70 triệu tấn = 69 % TG) [17]
* Ở Ấn Độ (1960)
- Hệ thống khuyến nông Ấn Độ được thành lập tương đối sớm vào năm
1960 Vào thời điểm này tình hình sản xuất nông nghiệp nói chung, lương thực nói riêng của Ấn Độ đang là vấn đề rất bức xúc, trước thực trạng này Chính phủ Ấn Độ có chủ trương quyết tâm giải quyết vấn đề lương thực; sự
ra đời của hệ thống khuyến nông, Ấn Độ lúc này là cần thiết và tất yếu, thành công của nông nghiệp Ấn Độ những năm sau đó có vai trò đóng góp đáng kể
Trang 17của khuyến nông Đã nói đến nông nghiệp Ấn Độ phải nói tới thành tựu 3 cuộc cách mạng
(i) Cách mạng xanh: Đây là cuộc cách mạng tiêu biểu nhất Đã nói đến nông nghiệp Ấn Độ phải nói đến cuộc cách mạng xanh; đã nói đến cách mạng xanh phải nói đến nông nghiệp Ấn Độ Thực chất của cuộc cách mạng xanh là cuộc cách mạng về giống cây trồng nói chung, và đặc biệt là cách mạng về giống cây lương thực: lúa nước, lúa cạn, lúa mỳ, ngô khoai Hàng loạt các giống lúa thấp cây, năng suất cao ra đời đã làm tăng vọt năng suất và sản lượng lương thực của quốc gia này
(ii) Cách mạng trắng: Là cuộc cách mạng sản xuất sữa bò, sữa trâu Nơi trên đất Ấn Độ đều có nhà máy sữa, Khuyến nông có vai trò cực kỳ quan trọng như vấn đề giải quyết đầu vào: Vốn sản xuất, giống trâu bò sữa, kỹ thuật chăn nuôi và giải quyết đầu ra: Thu gom tiêu thụ sản phẩm, chế biến sản phẩm sữa
(iii) Cách mạng nâu: Sau cuộc cách mạng trắng tiếp đến cuộc cách mạng nâu, đó là cuộc cách mạng sản xuất thịt xuất khẩu [7]
* Ở Thái Lan (1967)
- Thái Lan là quốc gia nông nghiệp với trên 60% dân số sống bằng nghề nông nghiệp Điều kiện đất đai, khí hậu nóng ẩm gần tương đồng với Việt Nam Thái Lan là quốc gia hoạt động khuyến nông cũng khá tiêu biểu,
hệ thống khuyến nông Nhà nước được thành lập năm 1967 Về mặt thành tựu của khuyến nông Thái Lan thể hiện ở mấy điểm sau:
+ Hàng năm nguồn vốn cho khuyến nông khá lớn khoảng 120 - 150 và thậm chí 200 triệu USD, lượng kinh phí này gấp hơn 20 lần kinh phí khuyến nông hàng năm của nước ta
+ Nhiều năm nay Thái Lan là quốc gia đứng hàng thứ nhất xuất khẩu lương thực trên thế giới (xuất khẩu khoảng 7 triệu tấn gạo/năm)
+ Hiện nay Thái Lan rất coi trọng chất lượng giống cây trồng, sản xuất rau quả an toàn, phát triển nuôi trồng thủy sản [7]
Trang 18* Ở Trung Quốc (1970)
- Năm 1928 Viện Đại học Nông nghiệp tỉnh Triết Giang thành lập phân khoa khuyến nông
- Năm 1929 Chính phủ Trung Quốc đã xác định: “Ngành khuyến nông
do các cơ quan nông nghiệp phụ trách, đặt tiêu chuẩn cải thiện phương pháp sản xuất nông nghiệp, gia tăng năng suất, cải thiện tổ chức nông thôn và sinh hoạt nông dân, phổ biến kiến thức về khoa học nông nghiệp, thành lập các HTX nông dân sản xuất và tiêu thụ”
- Trung Quốc tổ chức HTX và Công xã nhân dân từ 1951 - 1978 nên giai đoạn này công tác khuyến nông chỉ triển khai đến HTX, nội dung khuyến nông giai đoạn này coi trọng phổ biến đường lối chủ trương nông nghiệp của Đảng
và Chính phủ cũng như chuyển giao TBKT (tiến bộ kỹ thuật) nông nghiệp, xây dựng các mô hình điểm trình diễn đến thăm quan học tập và áp dụng
- Sau 1978 tổ chức sản xuất nông nghiệp Trung Quốc có thay đổi theo hướng phát triển kinh tế nông hộ song song với kinh tế tập thể quốc doanh
- Năm 1991, thực hiện công nghiệp hoá và hiện đại hoá nông thôn, Nghị quyết của BCH TW Đảng khóa VIII rất coi trọng khoa học công nghệ nông nghiệp và giáo dục khuyến nông; xây dựng khu sản xuất trình diễn; đưa cán bộ nông nghiệp xuống nông thôn, thực hiện thực tế sản xuất nông nghiệp
- Có thể nói những năm gần đây nông nghiệp Trung Quốc khá phát triển Hiện nay Trung Quốc có 3 mũi nhọn về nông nghiệp được thế giới thừa nhận:
+ Lúa lai: Khi mà sản xuất nông nghiệp cây lúa đạt năng suất thấp dưới
5 tấn thóc/ha thì thành công của “Cách mạng xanh” đã giúp các nước tăng năng suất sản lượng lúa bằng các giống lúa thấp cây, chống đổ, chịu thâm canh, tăng năng suất và sản lượng Khi mà năng suất lúa nhiều nước đạt 5-8 tấn/ha, để tăng năng suất cao hơn nữa trên 8 tấn/ha thì hiệu quả áp dụng những giống lúa tiến bộ thông thường không thể có được, công nghệ sản xuất lúa lai cho phép chúng ta có thể nâng cao năng suất lúa nước đạt trên 8 tấn/ha không phải là vấn đề khó khăn [7]
Trang 191.3.2 Ở Việt Nam
* Trước năm 1993
- Đã từ xa xưa Tổ tiên ta đã có những hoạt động khuyến nông, tục truyền vua Hùng Vương nước Văn Lang đã dạy dân xã Minh Nông (Vĩnh Phúc) cấy lúa, sau đó không lâu cây lúa đã là cây trồng chủ lực, người Văn Lang thờ Thần Nông, vị thần nông nghiệp của người Việt cổ
- Năm 981, thời Đinh - Lê đã có phong tục “Lễ hạ điền” của nhà vua, nhà vua chọn ngày, giờ khắc đẹp đầu năm xuống đồng cày sá đất đầu tiên, Hoàng hậu ngồi quay tơ dệt lụa Hành cử này của Nhà vua và Hoàng hậu có ý nghĩa rất lớn khích lệ mọi người dân ra sức tăng gia sản xuất, chúc mong cho một năm mới sản xuất nông nghiệp bội thu Sau này Bác Hồ cũng học tập cha ông xưa: Bác Hồ những năm sau giải phóng miền Bắc 1954, cứ vào ngày đẹp đầu xuân Bác trồng cây và tưới nước cho cây
- Tháng 4/1945, Hồ Chủ Tịch trong lễ bế giảng khóa chỉnh huấn cán bộ tại Việt Bắc, Người đã căn dặn các cán bộ ta trước khi ra về: “Các chú ra về phải làm tốt công tác khuyến nông, ra sức phát triển nông nghiệp, chống giặc đói, diệt giặc dốt”, người người thực hiện “Hũ gạo tiết kiệm”
- Từ năm 1950 - 1957, chủ yếu từ năm 1955 - 1956 chúng ta thực hiện cải cách ruộng đất (CCRĐ), thực hiện khẩu hiệu “Người cày có ruộng”, đây là cuộc cách mạng lớn chưa từng có trong lịch sử nông nghiệp nước ta Chúng ta
đã tịch thu hơn 81 vạn ha ruộng đất của địa chủ , 106.448 trâu bò cùng với 1.846.000 nông cụ chia cho 2.104.158 hộ nông dân và nhân dân lao động (72,8% hộ nông thôn miền Bắc) Kết quả này đã tạo điều kiện và khích lệ nông dân ra sức tăng gia sản xuất [12]
- Từ năm 1956 - 1958, kế tiếp ngay sau CCRĐ nông dân dưới sự lãnh đạo của Đảng, Chính phủ thực hiện “Đổi công, vần công”, nông dân tương thân, tương ái giúp nhau trong sản xuất nông nghiệp
- Năm 1960 ở miền Nam lập các Nha khuyến nông trực thuộc Bộ cải cách điền địa Nông - Ngư mục, thành lập các Hợp tác xã (HTX) sản xuất
Trang 20nông nghiệp bậc thấp, 1968 HTX bậc cao, 1974 HTX toàn xã Tổ chức HTX sản xuất nông nghiệp vào giai đoạn này có một ý nghĩa lịch sử lớn lao Tổ chức HTX sản xuất nông nghiệp nông dân “Cùng làm, cùng hưởng” đã tạo điều kiện cực kỳ quan trọng giúp cho Đảng và Nhà nước huy động được mức
độ tối đa sức người, sức của phục vụ cho tiền tuyến, phục vụ cho công cuộc đấu tranh chống Mỹ cứu nước giải phóng miền Nam, thống nhất Đất nước, công tác khuyến nông giai đoạn này chủ yếu triển khai đến HTX Phương pháp khuyến nông chủ yếu đưa tiến bộ kỹ thuật (TBKT) vào sản xuất, xây dựng các mô hình HTX sản xuất tiến bộ như: HTX Tân Phong, HTX Vũ Thắng Thái Bình [7]
- Năm 1961 sinh viên các trường Đại học Nông nghiệp tham gia đi thực
tế sản xuất nông nghiệp tại các HTX, nông trường quốc doanh là một trong những nội dung đào tạo quan trọng của nhà trường nhằm thực hiện phương châm đào tạo “Học kết hợp với hành”; thực hiện, thực tiễn hóa tay nghề của các sinh viên nông nghiệp
- Từ năm 1963 - 1973, Bộ Nông nghiệp tổ chức các “Đoàn chỉ đạo sản xuất nông nghiệp giúp ” các tỉnh Các Đoàn chỉ đạo sản xuất nông nghiệp là
tổ chức nông nghiệp của Chính phủ do Bộ Nông nghiệp tổ chức và quản lý nhưng hoạt động giúp các địa phương hoạt động của Đoàn chỉ đạo sản xuất nông nghiệp thực chất làm các công việc khuyến nông như: giúp các địa phương thực hiện các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước về nông nghiệp, đưa các tiến bộ kỹ thuật nông nghiệp vào sản xuất; phấn đấu thực hiện mục tiêu 5 tấn thóc/ha [7]
- Năm 1966 Thái Bình là tỉnh đầu tiên ở miền Bắc đạt 5 tấn thóc/ha, năm 1974 toàn miền Bắc đạt 5 tấn thóc/ha, năm 1988 huyện Hưng Hà (Thái Bình) đạt 10 tấn thóc/ha
- Từ năm 1964 - 1980 nhìn chung nông nghiệp trì trệ kém phát triển, đời sống nông dân gặp nhiều khó khăn Nguyên nhân có nhiều nhưng chủ yếu
do chiến tranh, chúng ta phải tập trung mọi nỗ lực cho công cuộc đấu tranh
Trang 21giải phóng miền Nam, giành độc lập dân tộc và thống nhất đất nước Mặt khác sau giải phóng miền Nam năm 1975 đến 1980 miền Bắc vẫn còn duy trì HTX sản xuất nông nghiệp là một thực tế bất cập, mất cân đối giữa quan hệ sản xuất với lực lượng sản suất [7]
- Trước thực trạng sản xuất nông nghiệp trì trệ và đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn, tháng 1 năm 1981, Chỉ thị 100 của BCH TW Đảng:
“Khoán sản phẩm cuối cùng đến nhóm và người lao động” còn gọi là “Khoán 100” được ra đời HTX nông nghiệp chỉ quản lý 5 khâu: Đất - Nước - Giống - Phân bón và bảo vệ thực vật Còn toàn bộ các khâu khác khoán cho nhóm và người lao động “Khoán 100” đã có tác dụng to lớn khích lệ nông dân sản xuất, ngoài sản lượng nông sản phải nộp HTX còn lại người nông dân được tự
do sử dụng
- Sau 7 năm thực hiện “Khoán 100”, Đảng ta xem xét rút kinh nghiệm:
“Khoán 100” có nhiều ưu điểm thúc đẩy nông nghiệp phát triển nhưng vẫn còn nhiều hạn chế: Nông dân chưa thực sự chủ động sản xuất kinh doanh có hiệu quả trên đồng ruộng, ao hồ, chuồng trại chăn nuôi người nông dân chưa có thể chủ động sản xuất kinh doanh vì những khâu then chốt như: giống, phân bón, nông dân vẫn phải phụ thuộc vào sự quản lý của HTX Mảnh đất họ trồng trọt
vụ này, vụ sau có thể thay đổi nên không ai nghĩ đến thâm canh, bảo vệ và duy trì độ phì của đất để vụ sau năng suất cao hơn vụ trước; thứ nữa nông dân còn phải đóng góp nhiều khoản như: nộp sản của 5 khâu HTX quản lý và đóng góp quỹ phúc lợi Những hộ nông dân có vốn, có lao động, có trình độ dân trí cao sản xuất có hiệu quả Có nhiều hộ nông dân cuộc sống vẫn không khỏi đói nghèo do bởi nguồn lực sản xuất thiếu lao động, thiếu vốn do gặp rủi ro trong cuộc sống, do trình độ dân trí thấp sản xuất không có hiệu quả đã dẫn đến nợ sản nhiều vụ, nhiều năm Chính vì vậy ngày 5/4/1988, Bộ chính trị BCH TW Đảng khóa V ra Nghị quyết 10: “Cải tiến quản lý kinh tế trong nông nghiệp”, còn gọi là “Khoán 10” Nghị quyết 10 được thực hiện và hoàn thiện vài năm sau đó đã chuyển đổi hẳn cơ chế quản lý kinh tế trong nông nghiệp, ruộng đất
Trang 22giao cho nông dân quản lý lâu dài 20 năm đối với đất nông nghiệp, 50 năm đối với đất lâm nghiệp Chuyển đổi từ cơ chế sản xuất tập thể tự cung, tự cấp, sản xuất theo kế hoạch hóa Nhà nước sang sản xuất kinh tế hộ gia đình và trang trại Người nông dân chủ động sản xuất kinh doanh trên mảnh đất, ao hồ, chuồng trại của mình theo hướng nông nghiệp hàng hóa có sự điều tiết của Nhà nước, nông nghiệp của đất nước có cơ hội ngày càng phát triển mạnh [12]
- Ngay năm 1988, An Giang khá sáng tạo đã vận dụng cơ chế sản xuất mới trong điều kiện cụ thể của địa phương, học tập kinh nghiệm của các nước thành lập Trung tâm Khuyến nông nhằm đáp ứng cho nhu cầu sản xuất nông nghiệp của nông dân trong tỉnh
- Năm 1991, cũng như An Giang, Bắc Thái thành lập Trung tâm Khuyến nông
- Năm 1992, Để điều phối và lãnh đạo công tác khuyến nông của đất nước, Bộ Nông nghiệp thành lập “Ban điều phối Khuyến nông”
* Từ năm 1993
Có thể nói rằng, hiện nay quy mô và tính chất hoạt động khuyến nông rộng lớn và phức tạp hơn trước đây rất nhiều bởi vì đối tượng trực tiếp của hoạt động khuyến nông là hộ nông dân, chứ không thể chỉ thông qua hoạt động của hợp tác xã nông nghiệp, của tập đoàn sản xuất hoặc các doanh nghiệp Nhà nước trong nông nghiệp
Để giải quyết vấn đề nêu trên ngày 02/3/1993 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Nghị định số 13/CP về công tác khuyến nông Theo nghị định này, Nhà nước sẽ tổ chức hệ thống khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư (gọi tắt
là Khuyến nông) trên phạm vi cả nước từ Trung ương tới cơ sở, cho phép thành lập các tổ chức khuyến nông tự nguyện của các đoàn thể, các tổ chức kinh tế - xã hội và tư nhân, đồng thời ban hành các chính sách khuyến nông
để giúp đỡ nông dân phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn
Khuyến nông cây trồng nông nghiệp đã tập trung vào các chương trình khuyến nông trọng điểm được Chính phủ phê duyệt và đã đáp ứng nhu cầu
Trang 23của người dân, nhiều tiến bộ kỹ thuật mới được chuyển tải đến nông dân và được áp dụng rộng rãi vào sản xuất thông qua xây dựng các mô hình trình diễn, sau đây là một số chương trình điển hình, có hiệu quả rõ rệt nhất [7]
- Hiệu quả chương trình Khuyến nông phát triển lúa lai
Chương trình này bắt đầu từ năm 1991 bằng mô hình khuyến nông trên diện tích 53,5 ha ở HTX Phú Lập (Phú Xuyên - Hà Tây) sau đó mỗi năm mở rộng 100 mô hình, bình quân năng suất đạt 8 - 9 tấn/ha Ở những mô hình này
đã thu hút hơn 20.000 người đến tham quan học tập, vì vậy việc trồng lúa lai đại trà được mở ra rất nhanh Chủ trương phát triển lúa lai được triển khai thông qua mạng lưới khuyến nông, đến năm 2000 diện tích lúa lai được triển khai thông qua mạng lưới khuyến nông, đạt 330.000 ha, sau 8 năm phát triển, sản lượng lúa lai làm tăng sản lượng lúa 1,5 triệu tấn
Mạng lưới khuyến nông chuyển giao công nghệ sản xuất hạt giống lúa lai cho nông dân cũng phát triển nhanh Sự hỗ trợ trong 8 năm với kinh phí 18,6 tỷ đồng, đã tổ chức được 32 điểm trên 2.523 ha ruộng sản xuất hạt giống lúa lai F1 Năm 1992 bắt đầu sản xuất thử hạt giống F1 ở HTX trên diện tích
170 ha, năng suất mới chỉ đạt 300kg/ha nhưng không sử dụng được vì độ lẫn quá cao Sau khi rút được kinh nghiệm từ 1993 các mô hình sản xuất F1 ở HTX đã thành công Năm 2000 sản xuất 500 ha, năng suất bình quân đạt 1.800 kg/ha Từ chỗ hoàn toàn phụ thuộc giống của nước ngoài, đến nay đã tự túc được 13% yêu cầu hạt giống
Chương trình lúa lai đã huấn luyện kỹ thuật cho 28.980 nông dân, tổ chức tham quan hội nghị đầu bờ cho hàng vạn người, diện tích lúa lai đã mở rộng trên 30 tỉnh ở khắp 5 vùng kinh tế sinh thái
Qua chương trình khuyến nông phát triển lúa lai cho thấy mặc dù lúa lai là một công nghệ cao trong khi trình độ của nông dân nước ta còn thấp, với
cơ sở vật chất kỹ thuật còn nghèo nhưng biết tổ chức và có phương pháp khuyến nông hợp lý thì vẫn thành công FAO đánh giá nước ta là một trong những nước tiếp thu nhanh và có kết quả hàng đầu về lúa lai [11]
Trang 24- Hiệu quả chương trình khuyến nông phát triển ngô lai
Chương trình khuyến nông ngô lai đã kết hợp chặt chẽ với Viện nghiên cứu ngô để xây dựng mô hình sản xuất giống ngô lai Chương trình này đã chi 16,4 tỷ đồng để xây dựng mô hình khuyến nông sản xuất, huấn luyện nông dân
ở 15 tỉnh với qui mô 10.400 ha và gần 8.500 hộ tham gia sản xuất hạt giống hàng năm Các mô hình khuyến nông sản xuất giống ngô lai F1 đều thành công, giống ngô lai sản xuất từ trong nước với giá rẻ hơn so với giống ngô lai nhập ngoại nên các địa phương có điều kiện phát triển diện tích ngô lai rất nhanh Sau 8 năm phát triển (1992 - 1999) diện tích ngô lai đạt 1,68 triệu ha
Tỷ lệ sử dụng ngô lai từ 20% diện tích năm 1992 tăng lên 65% diện tích năm
1999 Sản lượng ngô tăng lên do sử dụng ưu thế lai là 1,7 triệu tấn Hầu hết các tỉnh trong cả nước đã nắm được công nghệ sản xuất hạt giống ngô lai F1, tiêu biểu là Đồng Nai, Tây Ninh, Sơn La, Hà Tây, Vĩnh Phúc, Long An, Thanh Hóa, Gia Lai, Cao Bằng, huyện Củ Chi (TP.HCM), Quảng Nam, Tuyên Quang, Sóc Trăng … Từ chỗ giống ngô lai phải mua từ nước ngoài đến nay nước ta đã hoàn toàn tự túc giống ngô lai Việc không phải nhập giống ngô hàng năm đã tiết kiệm cho Nhà nước 12,8 triệu USD Cùng với giống ngô lai của các hãng ngô nước ngoài, chương trình phát triển ngô lai được đánh giá là một trong những chương trình thành công nhất trong năm qua [11]
- Hiệu quả chương trình Khuyến nông chuyển đổi cơ cấu mùa vụ
Chương trình này nhằm mục đích hướng dẫn nông dân sử dụng quỹ đất một cách hợp lý, né tránh bất lợi của thiên tai và được thực hiện ở các tỉnh miền núi, ven biển miền Trung, Đồng bằng sông Cửu Long Nội dung cơ bản của chương trình là chuyển từ chế độ canh tác 3 vụ lúa bấp bênh sang 2 vụ lúa
ăn chắc hoặc 2 vụ lúa 1 vụ màu Đối với các tỉnh miền núi chủ yếu thực hiện tăng vụ trên đất 1 vụ lúa Mô hình này đã thực hiện 10.086 ha với kinh phí chi 4,7 tỷ đồng
Đến nay đã có 300.000 ha chuyển đổi mùa vụ theo chế độ canh tác mới, trong đó có 15.000 ha ở miền núi, 100.000 ha ở Đồng bằng sông Cửu
Trang 25Long và 180.000 ha ở các tỉnh ven biển miền Trung Ngoài các chương trình trên đây còn thực hiện các chương trình khuyến nông khác như: Phát triển lúa lai vùng khó khăn, phát triển giống lúa đặc sản, thực hiện kỹ thuật để lúa tái sinh ở chân ruộng úng trũng, gieo trồng khoai tây hạt, làm mạ ném, mạ che phủ nilon…đều đã trở thành tập quán mới, được nông dân các địa phương tiếp thu rộng rãi như Hà Giang, Tuyên Quang, Yên Bái, Ninh Bình, Lào Cai, Đồng Tháp, Cần Thơ, Hà Tĩnh…[11]
- Hiệu quả chương trình Khuyến nông cây ăn quả
Nước ta có lợi thế phát triển cây ăn quả nhiệt đới, có thể mở rộng cả diện tích một số cây ăn quả ôn đới với diện tích khoảng 500.000 ha nhưng chất lượng giống chưa cao nên hạn chế chất lượng và cạnh tranh cây ăn quả trên thị trường Chương trình đã xây dựng 35 vườn ươm nhân giống cây sạch bệnh và chất lượng cao theo phương pháp tiên tiến để có giống cải tạo vườn tạp Xây dựng 785 ha vườn cây ăn quả thâm canh, nhập các giống cây ăn quả chịu nhiệt (như quýt Ôn châu, bưởi Sa điền, lê, cam…) và giống cây ăn quả
ôn đới để trồng thử và thăm dò tính thích ứng ở Sapa, phối hợp và tổ chức các cuộc thi để chọn ra các cây ưu trội, cây đặc sản ở các địa phương, lựa chọn được 136 hộ cây ăn quả được giải trong cả nước
Phối hợp với TW Hội làm vườn và Hội làm vườn các tỉnh triển khai chương trình khuyến viên, xây dựng mô hình VAC thâm canh hiệu quả rõ, đặc biệt ở các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long, Tây Nguyên, miền núi và trung du phía Bắc Chương trình Khuyến nông cây ăn quả đã tập chung phổ cập nhanh giống mới, giống đặc sản địa phương và kỹ thuật mới, góp phần vào việc cải tạo vườn tạp, phát triển hình thức trang trại, nhà vườn cây ăn quả
du lịch, bước đầu phổ cập công nghệ, bảo quản chế biến…[11]
1.3.2.1 Chức năng nhiệm vụ của Khuyến nông Việt Nam
* Nghị định số 56/2005/NĐ-CP ngày 24/6/2005 và Thông tư số 60/2005/TT/BNN đã qui định mục tiêu Khuyến nông - Khuyến ngư;
Trang 26* Để phù hợp với thực tế sản xuất mới hiện nay, Nghị định số 02/2010/NĐ-CP ngày 08/01/2010 và Thông tư liên tịch số183/2010/TTLT-BTC-BNN ngày 15/11/2010 hướng dẫn chế độ quản lý, sử dụng kinh phí Nhà nước cấp đối với hoạt động Khuyến nông:
- Phổ biến những tiến bộ kỹ thuật trồng trọt, chăn nuôi, công nghệ chế biến nông lâm thủy sản và những kinh nghiệm điển hình tiên tiến cho nông dân
- Bồi dưỡng kiến thức quản lý kinh tế cho nông dân để sản xuất kinh doanh có hiệu quả
- Phối hợp với các cơ quan cung cấp cho nông dân những thông tin về thị trường, giá cả nông sản để nông dân bố trí sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả cao
- Nâng cao nhận thức về chủ trương, chính sách, pháp luật, kiến thức,
kỹ năng về khoa học kỹ thuật, quản lý, kinh doanh cho người sản xuất
- Góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn; nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, phát triển sản xuất theo hướng bền vững, tạo việc làm, tăng thu nhập, xóa đói giảm nghèo, góp phần thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn
- Huy động nguồn lực từ các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp trong và ngoài nước tham gia Khuyến nông
1.3.2.2 Các kết quả nghiên cứu về khuyên nông trồng trọt
Nghiên cứu hệ thống trồng trọt nhằm bố trí lại các bộ phận trong hệ thống hoặc chuyển đổi chúng để tăng hệ số sử dụng đất, sử dụng đất có hiệu quả hơn, tận dụng lợi thế của mỗi vùng sinh thái nông nghiệp cũng như sử dụng một cách có hiệu quả tiền vốn, lao động và kỹ thuật để nâng cao giá trị sản xuất cũng như lợi nhuận trên một đơn vị diện tích canh tác để tiến tới xây dựng nền nông nghiệp bền vững (Nguyễn Duy Tính,1995)
Chương trình khuyến nông cây ngô của Cục Khuyến nông và Khuyến lâm đã dành phần lớn kinh phí phối hợp với chương trình ngô Quốc gia và Viện nghiên cứu ngô giúp cho các tỉnh tổ chức sản xuất hạt giống ngô lai đơn,
Trang 27lai kép, lai không quy ước Trong 3 năm (1994 - 1996) với kinh phí trên 3 tỷ đồng hỗ trợ các địa phương đã tổ chức sản xuất gần 400 ha ngô giống F1, với sản lượng khoảng 700 tấn, tiết kiệm tiền nhập giống cho Nhà nước hơn 1 triệu USD, nông dân được mua giống ngô lai với giá rẻ để gieo trồng 40.000 ha từ giống ngô của Chương trình Khuyến nông, góp phần tăng trưởng khoảng 70.000 tấn ngô thịt, trị giá tương đương 140 tỷ đồng Đó là một trong các Chương trình khuyến nông có hiệu quả cao, là chiếc cầu nối giữa Viện nghiên cứu ngô với nông dân và được các địa phương đồng tình [3]
Theo Nguyễn Tấn Hinh và cộng sự (2005) đối với hệ thống canh tác chuyên lúa tại các tỉnh miền Bắc trên các vùng có điều kiện thâm canh thay thế các giống cũ đã được sử dụng nhiều năm, khả năng chống chịu kém bằng các giống có thời gian sinh trưởng trung bình, chịu thâm canh năng suất cao như giống lúa MT163, năng suất đạt 65-75 tạ/ha, thậm chí trên 80 tạ/ha Còn trong hệ thống 2 lúa - 1 màu, việc đưa giống ĐB1 (giống lúa thuần ngắn ngày
có tiềm năng năng suất cao) thay thế giống Khang Dân 18, năng suất trung bình 62,4 tạ/ha, đã tăng 5-12 tạ/ha, đồng thời đảm bảo thời vụ gieo trồng vụ đông trong khung thời vụ tốt nhất
Tác giả Trần Danh Thìn (2001) khi nghiên cứu vai trò cây đậu tương ở một số tỉnh trung du, miền núi phía Bắc đã đưa ra kết luận: Sử dụng phân khoáng, phối hợp giữa đạm, lân và vôi trong thâm canh không những nâng cao năng suất, hiệu quả kinh tế của việc trồng đậu tương, mà còn có tác dụng tạo ra một khối lượng lớn chất xanh, làm tăng độ che phủ đất và cung cấp nhiều chất hữu cơ cho đất qua tàn dư thực vật, điều này có ý nghĩa với việc cải tạo đất đồi thoái hoá, chua, nghèo hữu cơ ở vùng trung du, miền núi
Tác giả Nguyễn Hữu Thành (2009) nghiên cứu nông nghiệp Bắc Ninh cho thấy: Sản xuất các loại cây trồng chủ lực của tỉnh là lúa, đậu tương là phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế của tỉnh nhưng chưa có vùng sản xuất hàng hóa lớn Cơ cấu cây trồng chủ yếu sử dụng các giống có năng suất cao, nhưng chất lượng chưa cao, một số loại cây đậu tương, ngô chủ yếu vẫn dùng
Trang 28giống cũ, áp dụng biện pháp kỹ thuật truyền thống nên năng suất, hiệu quả kinh tế không cao, bón phân chưa cân đối dẫn đến cây trồng bị sâu bệnh nhiều Tác giả đã đề xuất biện pháp kỹ thuật trồng đậu tương đông cải tiến bằng phương pháp gieo vãi hoặc gieo trực tiếp vào gốc rạ đúng thời vụ, dùng giống DT84 làm tăng thu nhập so với canh tác cũ 41,9%
Ở Việt Nam, ngô được coi là cây lương thực quan trọng đứng thứ hai sau cây lúa Trong những năm gần đây, việc gia tăng diện tích và sản lượng ngô có ý nghĩa quan trọng trong an ninh lương thực và có dư lương thực để xuất khẩu Tuy nhiên, năng suất ngô nước ta vẫn còn rất thấp, chỉ đạt 36,5 tạ/ha so với thế giới là 49,5 tạ/ha Bởi vậy, ngoài việc chọn lọc giống theo hướng thâm canh, chúng ta cần phải bổ sung vào cơ cấu những giống chín sớm, năng suất cao, chống chịu tốt, nhằm khai thác quỹ đất bỏ hóa, bỏ trống
vụ Xuân ở miền núi, vụ Thu Đông ở Tây Bắc và Tây Nguyên (Bùi mạnh Cường, 2007b; Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam, 2009)
Phương pháp nghiên cứu hệ thống cây trồng về sau được Viện Nghiên cứu Lúa Quốc tế (IRRI) và các chương trình nghiên cứu về cơ cấu cây trồng quốc gia trong Mạng lưới hệ thống cây trồng Châu Á sử dụng và phát triển Quá trình nghiên cứu liên quan đến một loạt các hoạt động khuyến nông trồng trọt trong nông trại, tổ chức thực hiện theo các bước sau (Hien Bui Huy and Thi Nguyen Trong, 2001; Phạm Văn Hiền và Trần Danh Thìn, 2009):
(1) Chọn điểm: Địa điểm nghiên cứu là một hoặc vài loại cây trồng Tiêu chí để chọn điểm nghiên cứu là có tiềm năng năng suất, đại diện cho vùng rộng lớn, nông dân sẵn sàng hợp tác, sẽ rất thuận lợi nếu chọn điểm nghiên cứu được Chính phủ ưu tiên vì chương trình sản xuất sau này sẽ thực hiện dễ dàng hơn
(2) Mô tả điểm nghiên cứu: Điểm nghiên cứu sau khi chọn sẽ được mô
tả về đặc điểm tự nhiên (khí hậu, đất đai…), kinh tế - xã hội, hiện trạng, hệ thống cây trồng cần phải được đánh giá
Trang 29(3) Thiết kế hệ thống cây trồng mới: Các mô hình cây trồng được thiết
kế trên những đặc điểm của điểm nghiên cứu, nhằm đạt được sản lượng, lợi nhuận cao, ổn định và bảo vệ môi trường sinh thái
(4) Thử nghiệm hệ thống cây trồng mới: Cây trồng được thử nghiệm trên ruộng nông dân, nhằm xác định khả năng thích nghi và ổn định của chúng Chỉ tiêu theo dõi gồm năng suất nông học, hiệu quả sử dụng đất, yêu cầu về tài nguyên (lao động, vật tư và hiệu quả kinh tế)
(5) Đánh giá sản xuất thử: Những mô hình canh tác có năng suất và hiệu quả được xác định dựa trên kết quả thử nghiệm, sau đó đưa vào sản xuất thử nhằm đánh giá khả năng thích nghi trên diện rộng của mô hình triển vọng trước khi xây dựng những chương trình sản xuất ở quy mô lớn hơn
(6) Chương trình sản xuất đại trà: Sau khi xác định những hệ thống canh tác thích hợp nhất và những biện pháp kỹ thuật liên hoàn kèm theo, các
tổ chức khuyến nông với sự giúp đỡ của tổ chức chính quyền, xây dựng chương trình quảng bá, thực hiện chương trình sản xuất
Hoàng Công Mệnh (2014) Nghiên cứu hệ thống cây trồng nông nghiệp
đã đánh giá hiệu quả của cơ cấu cây trồng mới tại huyện Điện Biên về hiệu quả kinh tế: Khi áp dụng mô hình canh tác mới, khi triển khai các mô hình giá trị sản xuất sẽ tăng từ 416,45 tỷ đồng lên 703,55 tỷ đồng do thay đổi các giống có năng suất cao, chất lượng tốt hơn và tăng vụ mở rộng diện tích gieo trồng Hiệu quả xã hội: Áp dụng công thức luân canh, tăng vụ góp phần tạo thêm việc làm, có khoảng 500 nghìn công lao động mới được tạo ra, tăng thu nhập, đời sống nông dân được cải thiện, mang lại ý nghĩa xã hội lớn đối với huyện thuần nông như Điện Biên; Nông dân tiếp cận được giống mới, phương thức canh tác cải tiến, hiệu quả hơn và bảo vệ, cải thiện được môi trường Hiệu quả môi trường: Khi áp dụng mô hình canh tác mới, sẽ bảo vệ và cải thiện được môi trường đất, các tính chất của đất được cải thiện Hệ số sử dụng đất ruộng tăng từ 1,96 lần như hiện nay lên 2,31 lần, thời gian đất được che
Trang 30phủ nhiều hơn, làm cho đất giảm thoát hơi nước và kết quả cuối cùng là dinh dưỡng đất được cải thiện theo hướng tốt dần lên
Qua 2 vụ thí nghiệm cho thấy năng suất thực thu các giống đậu tương
có sự khác nhau, Giống ĐT22 đạt năng suất thực thu cao nhất (23,0 tạ/ha), cao hơn đối chứng 4,52 tạ/ha, tương đương 24,4%, đến giống Đ9804 (21,61 tạ/ha), đều cao hơn so với giống đối chứng VX92
Qua 2 năm thí nghiệm, năng suất thực thu của các giống ngô có sự khác nhau Hai giống LCH9 và LVN885 có năng suất thực thu cao hơn so với giống đối chứng (LVN10) 5-8 tạ/ha, tăng hơn so với giống đối chứng 10-16%
Kết quả thí nghiệm các giống mới của 2 loại cây trồng cho thấy hiệu quả của cây đậu tương là cao nhất (giống ĐT22) và cây ngô (giống LVN885), đạt 19,47 triệu đồng/ha
Với mô hình đề xuất tăng vụ cây đậu tương thì tính chất hóa học của đất có sự biến đổi, pH của đất tăng từ 4,10 lên 4,16 Hàm lượng chất hữu cơ tăng từ 2,62% lên 2,92%; đạm tổng số tăng từ 0,11% lên 0,14%; lân tổng số tăng từ 0,12% tăng lên 0,13%, lân dễ tiêu tăng từ 6,6 mg lên 8,1mg/100g đất, kali dễ tiêu tăng từ 18,3mg lên 20,7 mg/100g đất Nhìn chung, sau 2 năm thí nghiệm, độ chua và một số chất dinh dưỡng trong đất được cải thiện [6]
1.3.2.3 Đánh giá chung
Công tác Khuyến nông được nhiều tổ chức quốc tế và phi chính phủ quan tâm trong các dự án phát triển nông nghiệp, nhiều cách tiếp cận và phương pháp khuyến nông mới đã được áp dụng và bước đầu được thể chế hóa ở địa phương
Điểm qua các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan tới
đề tài nghiên cứu cho thấy, trên thế giới công trình nghiên cứu đánh giá các
dự án về nông nghiệp được triển khai tương đối toàn diện ở hầu hết các nước, nội dung đánh giá cũng khá phong phú từ mặt kỹ thuật cho tới các vấn đề kinh tế, xã hội và môi trường Đặc biệt là các phương pháp, cách tiếp cận và đánh giá đã được chuẩn hóa nên độ chính xác của kết quả cao
Trang 31Ở Việt Nam các công trình nghiên cứu đánh giá của các dự án về nông nghiệp, tác động môi trường Đặc biệt quan tâm chú ý trong những năm gần đây khi quan điểm phát triển bền vững được đưa vào các đề tài, dự án nghiên cứu như một điều bắt buộc Nội dung đánh giá các mô hình liên quan đến đề tài hoặc là được đánh giá lồng ghép trong các chương trình, đề tài/ dự án hoặc được tiến hành một cách riêng rẽ Ba vấn đề trong đánh giá được các tác giả nghiên cứu quan tâm là: Hiệu quả về kinh tế; Hiệu quả về môi trường và hiệu quả về xã hội, phương pháp đánh giá cũng dần được hoàn thiện và tiếp cận được với khu vực và thế giới Tuy nhiên, việc đánh giá các mô hình ở nước ta thường mới chỉ dừng lại ở bước đầu, vì khi tiến hành đánh giá giống cây trồng trong các mô hình thường còn nhỏ, chưa mang lại đầy đủ hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường, khi các dự án/đề tài kết thúc, công việc theo dõi và đánh giá các mô hình sau này gần như không được quan tâm, đây là một trong những vấn đề tồn tại ở nước ta cần được khắc phục trong thời gian tới
Những kết quả nghiên cứu, đánh giá về công tác khuyến nông, các phương pháp áp dụng trên thế giới và trong nước có liên quan là những tài liệu tham khảo có giá trị của đề tài trong việc đánh giá hiệu quả các mô hình khuyến nông tại huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên giai đoạn 2012 - 2015
Trang 32Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các mô hình khuyến nông trồng trọt,
ở huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên thực hiện trong giai đoạn 2012 - 2015
2.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về địa điểm: Đề tài giới hạn trong phạm vi huyện Điện Biên
- Về nội dụng: Đề tài giới hạn mô hình khuyến nông về trồng trọt gồm: + MH Lúa gieo thẳng bằng công cụ sạ hàng;
+ MH Nhân giống Đậu tương DT84;
+ MH Sản xuất Ngô lai
+ Đánh giá kết quả xây dựng mô hình, kế hoạch triển khai, phương pháp, tổ chức thực hiện, kết quả thực hiện và những khó khăn
+ Đánh giá hiệu quả của các mô hình khuyến nông trồng trọt: Đề tài chỉ đánh giá hiệu quả về kinh tế, xã hội
2.3 Nội dung nghiên cứu
Để đạt được các mục tiêu đề ra, đề tài tập trung nghiên cứu các nội dung sau:
2.3.1 Kết quả xây dựng các mô hình trình diễn khuyến nông trồng trọt tại khu vực nghiên cứu:
2.3.2 Công tác tổ chức thực hiện và các biện pháp kỹ thuật xây dựng mô hình 2.3.3 Tác động của các mô hình khuyến nông đến phát triển kinh tế, xã hội 2.3.4 Thuận lợi, khó khăn, cơ hội và thách thức trong xây dựng mô hình 2.3.5 Giải pháp phát triển các mô hình khuyến nông cho khu vực nghiên cứu
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Quan điểm và cách tiếp cận đề tài
- Các mô hình khuyến nông trồng trọt của huyện Điện Biên được thực hiện trên địa bàn các xã và thôn, bản, nơi có những đặc điểm tự nhiên, kinh tế,
Trang 33xã hội và nhân văn khác nhau; những phân tích và đánh giá phải tính đến các yếu tố này
- Đánh giá hiệu quả các mô hình khuyến nông trồng trọt triển khai, thực hiện trên địa bàn các xã của huyện Điện Biên được tổng hợp, xem xét, đánh giá, các mặt về kỹ thuật và xã hội
- Mô hình được thực hiện với sự tham gia của các hộ gia đình và một
số tổ chức chính quyền địa phương, vì vậy phương pháp đánh giá được áp dụng là có sự tham gia:
+ Cán bộ khuyến nông từ tỉnh đến cơ sở
+ Cán bộ địa phương các cấp, tỉnh, huyện, xã, thôn, bản
+ Các hộ dân tham gia thực hiện mô hình:
- Vì đối tượng đánh giá khá đa dạng từ các giống khác nhau, biện pháp canh tác, sinh trưởng, phát triển của cây trồng cho tới các yếu tố xã hội, nên phương pháp chuyển giao sẽ được áp dụng cho từng loại giống cây trồng cũng khác nhau
2.4.2 Phương hướng giải quyết vấn đề của đề tài:
Được mô hình hóa theo sơ đồ sau đây:
Trang 34Sơ đồ phương hướng giải quyết vấn đề của đề tài
2.4.3 Phương pháp nghiên cứu chung:
Điều tra, khảo sát và sử dụng phương pháp đánh giá nhanh nông thôn
có sự tham gia (PRA) để thu thập các số liệu, sử dụng các phương pháp toán thống kê trong sinh học để xử lý các số liệu trên máy vi tính với các phần mềm thông dụng như Excel, Foxpro,
Thu thập các số liệu đã có từ dự án/mô hình
- Nội dung hoạt động
- Số lượng các mô hình
- Địa điểm xây dựng
- Các thông tin khác
Phân loại đối tượng đánh giá
- Các loại mô hình đã xây dựng
- Quy mô xây dựng
số liệu
Đề xuất các khuyến nghị và viết báo cáo
Trang 352.4.3.1 Lựa chọn điểm và dung lượng mẫu điều tra
Chọn 4 xã đại diện cho các vùng sinh thái khác nhau ở huyện Điện Biên đó là xã Na Ư, Thanh Nưa, Thanh Luông và xã Thanh Hưng
Chọn mẫu điều tra: Chọn 90 hộ tham gia mô hình ở 4 xã trong khu vực nghiên cứu để điều tra, những hộ được điều tra là những hộ đại diện cho từng
mô hình (lúa, ngô, đậu tương), mỗi xã điều tra 3 loại mô hình khác nhau, chọn
ra 7 - 8 hộ/1mô hình để điều tra chọn mẫu
Cách chọn: Thu thập danh sách các hộ qua Trạm Khuyến nông - khuyến ngư huyện Điện Biên, Trung tâm Khuyến nông tỉnh sau đó từ danh sách chọn ngẫu nhiên các hộ tham gia mô hình
2.4.3.2 Các phương pháp nghiên cứu
Nội dung 1: Đánh giá kết quả đạt được của các mô hình về diện tích,
năng suất của từng loại cây trồng
* Phương pháp thu thập số liệu:
- Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp: Kế thừa số liệu nhằm rút ngắn khối lượng và thời gian nghiên cứu, những tài liệu được tài liệu kế thừa gồm:
+ Những thông tin về mô hình
+ Các báo cáo, tiến độ, theo dõi kiểm tra giám sát và các báo cáo đánh giá thường kỳ của mô hình
+ Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của địa điểm thực hiện mô hình + Các quy trình, quy phạm, hướng dẫn kỹ thuật cũng như các kết quả nghiên cứu có liên quan
- Phương pháp điều tra số liệu sơ cấp: Chọn mẫu điều tra trong khu vực nghiên cứu theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên, phỏng vấn trực tiếp chủ
hộ bằng các câu hỏi đã được chuẩn bị trước và in sẵn Thu thập các thông tin
sơ cấp tại các hộ tham gia mô hình trên địa bàn nghiên cứu
Nội dung 2, 3, 4, 5: Đánh giá hiệu quả của mô hình đến kinh tế - xã
hội; tổ chức thực hiện xây dựng mô hình; thuận lợi, khó khăn, cơ hội, thách thức và giải pháp
Trang 36- Áp dụng phương pháp điều tra đánh giá nông thôn có sự tham gia của người dân (PRA) với một số công cụ sau:
Điều tra phỏng vấn cán bộ chuyển giao và các cơ quan có liên quan xây dựng mô hình bằng bảng câu hỏi đã chuẩn bị trước, phương pháp này thường được sử dụng khuyến khích để có sự tham gia của nhiều cá nhân và cơ quan
có liên quan
+ Công cụ SWOT để phân tích những thuận lợi và khó khăn, cơ hội và thách thức, trong phát triển các mô hình khuyến nông, phân tích tổng hợp những khó khăn và đề xuất các giải pháp cho các dạng mô hình khuyến nông
- Phương pháp khảo sát ngoài hiện trường, để kiểm chứng lại kết quả điều tra phỏng vấn các hộ và ghi hình minh họa
- Phương pháp xử lý số liệu: áp dụng cho những tài liệu sơ cấp Những tài liệu này sau khi thu thập được sẽ được nhập vào máy tính thông qua bộ office Excel dạng cơ sở dữ liệu và được sử lý bằng Pivot Talbe
* Nhóm các phương pháp phân tích thông tin
- Phân tổ thống kê: Phân hộ tham gia mô hình theo từng loại cây trồng
về diện tích, mức đầu tư, hỗ trợ, các chỉ tiêu cấu thành năng suất (công thức tính đã được cán bộ chỉ đạo kỹ thuật của mô hình thực hiện; ĐVT: đồng; diện tích (ha); năng suất (tạ/ha)
- Phương pháp so sánh, đối chứng: Đem kết quả đạt được so sánh với
số liệu ban đầu xác định tỉ lệ % hoàn thành, hoặc so sánh kết quả đạt được với các chỉ tiêu năng suất cây trồng theo yêu cầu mô hình/dự án
- Phương pháp phân tích hiệu quả của mô hình qua từng năm
- Phương pháp tính hiệu quả kinh tế
+ Các chỉ tiêu tính toán hiệu quả kinh tế: Năng suất cây trồng, tổng thu nhập, tổng chi phí, lợi nhuận
Các công thức được sử dụng để tính toán hiệu quả kinh tế:
+ Tổng thu (GR) = Tổng sản lượng (Y) x giá bán (P)
Trang 37Trong đó: P là giá trị một đơn vị sản phẩm ở thời điểm thu hoạch Y là tổng sản lượng trên một đơn vị diện tích
+ Tính tổng chi phí biến động (TVC) bao gồm tất cả các chi phí giống, vật tư, lao động cho sản xuất một vụ hay một năm
TVC = Chi phí vật chất + công lao động
+ Chi phí vật chất = chi phí sản xuất cây trồng (phân bón + giống + thuốc BVTV + tưới nước + làm đất + dịch vụ tuốt lúa)
+ Thu nhập thuần (RAVC) = GR - TVC
Chi phí vật chất + Phương pháp phân tích, tổng hợp logic theo bảng và biểu đồ minh họa
2.4.3.3 Hệ thống chỉ tiêu cần thu thập
- Các mô hình khuyến nông trồng trọt thực hiện trong giai đoạn 2012-2015
- Các đơn vị triển khai xây dựng mô hình và địa điểm thực hiện
- Diện tích, số hộ tham gia của từng mô hình
- Các chính sách liên quan trong quá trình xây dựng mô hình
- Kết quả đạt được: Năng suất (tạ/ha), nhân rộng mô hình (về diện tích,
số hộ tham gia) của mô hình: Lúa, Ngô, Đậu tương
- Chi phí đầu tư trong quá trình xây dựng mô hình
- Thị trường tiêu thụ
- Giá bán của từng loại nông sản
- Báo cáo tổng kết của các đơn vị thực hiện mô hình
- Phiếu điều tra của từng hộ tham gia xây dựng mô hình
Trang 38Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 3.1 Kết quả xây dựng các mô hình khuyến nông (trồng trọt) tại huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên đã được triển khai
3.1.1 Thông tin cơ bản đối tượng điều tra
* Năm 2012: Trung tâm khuyến nông tỉnh Điện Biên xây dựng 7 mô hình, qui mô 78,07 ha thuộc các chương trình sau:
- Chương trình Khuyến nông Quốc gia:
+ Mô hình tại huyện Điện Biên: 9,6ha Ngô lai; 12,2ha Đậu tương; 9,1ha Lúa lai
- Chương trình dự án Khoa học:
+ Mô hình tại huyện Tủa Chùa: 15ha Lúa lai; 15ha Ngô lai; 10 ha Đậu tương
- Trạm Khuyến nông - khuyến ngư huyện Điện Biên xây dựng mô hình: + Mô hình Lúa gieo thẳng 7,17ha tại xã Na Ư
* Năm 2013: Trung tâm khuyến nông tỉnh Điện Biên xây dựng 9 mô hình, qui mô 91,7ha thuộc các chương trình sau:
- Chương trình Khuyến nông Quốc gia:
+ Mô hình tại huyện Điện Biên: 15ha Lúa gieo thẳng; 15 Ngô lai; 15ha Lúa giống chất lượng
- Chương trình Khuyến nông Quốc gia:
+ Mô hình tại huyện Điện Biên: 15ha Lúa gieo thẳng; 15ha Lúa giống chất lượng; 10ha Đậu tương
Trang 39- Dự án DANIDA
+ Mô hình tại huyện Tuần Giáo: 8,2ha Lúa lai
- Chương trình dự án Khoa học:
+ Mô hình tại huyện Mường Chà: 10ha Lúa nương LC93-1; 5 ha Đậu tương
- Trạm Khuyến nông - khuyến ngư huyện Điện Biên xây dựng mô hình: + Mô hình Ngô lai 5ha; 2ha Lúa tại xã Na Ư
* Năm 2015: Trung tâm khuyến nông tỉnh Điện Biên xây dựng 7 mô hình, qui mô 70,2ha thuộc các chương trình sau:
- Chương trình Khuyến nông Quốc gia:
+ Mô hình tại huyện Điện Biên: 15ha Lúa gieo thẳng; 11,2 Ngô lai; 15ha Lúa giống chất lượng
- Dự án DANIDA
+ Mô hình tại huyện Điện Biên: 10ha Lúa lai
+ Mô hình tại huyện Điện Biên Đông: 4ha Đậu tương trồng xen Đào
- Chương trình dự án Khoa học:
+ Mô hình tại huyện Mường Chà: 10 ha Đậu tương
- Trạm Khuyến nông - khuyến ngư huyện Điện Biên xây dựng mô hình: + Mô hình Đậu tương 5 ha tại xã Na Ư
3.1.2 Lựa chọn mô hình và địa điểm nghiên cứu
Qua số liệu tổng hợp từ Trung tâm Khuyến nông tỉnh Điện Biên và Trạm Khuyến nông - khuyến ngư huyện Điện Biên cho thấy; trong vòng 4 năm (2012- 2015) đã triển khai được 31 mô hình khuyến nông, qui mô 310,17 ha với các loại cây trồng thuộc đối tượng nghiên cứu của luận văn, các mô hình về chăn nuôi, lâm nghiệp, cây ăn quả tác giả không liệt kê vào trong luận văn
Vì thời gian có hạn nên tác giả sẽ tiến hành lựa chọn một số mô hình điển hình, triển khai ở các xã khác nhau để đánh giá theo các nội dung của đề tài:
- Mô hình ở huyện Điện Biên lấy 4 xã đại diện cho vùng sinh thái khác nhau của huyện, mỗi xã lấy 3 mô hình với các loại cây trồng khác nhau
- Mô hình có tính đại diện do các đơn vị triển khai
Trang 40Bảng 3.1: Thông tin về đối tượng điều tra đánh giá
STT Tên
mô hình
Năm thực hiện
Địa điểm
triển khai
Diện tích (ha)
Số
hộ tham gia
Số
điểm
triển khai
Số người phỏng vấn
1 Sản xuất Ngô lai