1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Vài nét về mô hình kinh tế trang trại ở Việt Nam hiện nay

28 249 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 200 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong quá trình công nghiệp hóa, vật cản trở hạn chế sự chuyển dịch cho mô hình trang trại ở nhiều nứơc đang phát triển ở châu á là chưa xóa bỏ đượcquan hệ sở hữu ruộng đất của địa chủ,

Trang 1

ĐẶT VẤN ĐỀ

Để thực hiện thắng lợi mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nướccủa Đảng và Nhà nước, đặc biệt là công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệpnông thôn, đưa nông nghiệp nước ta thoát khỏi tình trạng nghèo nàn lạc hậu từsản xuất tự cấp, tự túc lên sản xuất hàng hóa lớn, thì vấn đề sử dụng đầy đủ vàhiệu quả các yếu tố nguồn lực tự nhiên, kinh tế, xã hội trong nông nghiệp -nông thôn có vai trò hết sức quan trọng

Hàng loạt các chủ trương, chính sách của Nhà nước ra đời đã tạo điềukiện để đánh thức sự phát triển của nông nghiệp nông thôn Trong cơ chế mới,một trong những mô hình kinh tế đang phát huy được hiệu quả cao ở nông thôntrong cả nước là mô hình kinh tế trang trại Trong mô hình này, người sản xuấtđược từng bước tiếp cận với nền khoa học kĩ thuật tiên tiến để hội nhập và pháttriển Vì vậy, kinh tế trang trại đã làm thức dậy được những tiềm năng to lớntrong nông nghiệp, nông thôn và chở thành hình thức phát triển tất yếu kháchquan trong sản xuất kinh doanh nông nghiệp

Tuy nhiên hiện nay các hộ trang trại ở nước ta đang gặp nhiều khó khănnhư thiếu vốn trong sản xuất, gặp khó khăn trong khâu tiêu thụ sản phẩm, ápdụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào trong sản xuất… tạo nhiều thử thách trongquá trình phát triển của kinh tế trang trại

Vì vậy, chúng tôi quyết định chọn đề tài:

"

Vài nét về mô hình kinh tế trang trại ở Việt Nam hiện nay"

để làm chuyên đề tiểu luận cho môn học của mình

Trong chuyên đề này, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu:

- Tham khảo tài liệu

- Duy vật biện chứng

Trang 2

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

I CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Các khái niệm cơ bản

* Kinh tế nông hộ:

Kinh tế nông hộ là đơn vị sản xuất và tiêu dùng của nền kinh tế nôngthôn Kinh tế nông hộ chủ yếu dựa vào lao động gia đình để khai thác đất đai

và các yếu tố sản xuất khác nhằm đem về thu nhập ròng cao nhất Kinh tế nông

hộ là đơn vị kinh tế tự chủ, căn bản dựa vào sự tích lũy, tự đầu tư để sản xuấtkinh doanh nhằm thoát khỏi cảnh nghèo đói và vươn lên giàu có, từ tự túc, tựcấp rồi lên sản xuất hàng hóa và gắn với thị trường

* Kinh tế trang trại:

Kinh tế trang trại là một hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh trongnông, lâm, ngư nghiệp - phổ biến được hình thành và phát triển trên nền tảngkinh tế nông hộ và cơ bản mang bản chất kinh tế hộ Quá trình hình thành vàphát triển kinh tế trang trại gắn với sự tích tụ, tập trung các yếu tố sản xuất kinhdoanh (đất đai, lao động, tư liệu sản xuất – vốn, khoa học kỹ thuật và côngnghệ) để nâng cao năng lực sản xuất và sản xuất nhiều sản phẩm hàng hoá vớinăng suất, chất lượng và hiệu quả cao nhất Kinh tế trang trại là loại hình kinh

tế phát triển bậc cao của kinh tế nông hộ

Kinh tế trang trại có các đặc trưng cơ bản sau:

- Là một trong những hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh nôngnghiệp dựa trên nền tảng kinh tế hộ

- Có nền tảng kinh tế hộ và mang bản chất kinh tế hộ, được thể hiện trên

ba khía cạnh: (1) người quản lý chính là chủ hộ hoặc là một thành viên có đủnăng lực và được sự tín nhiệm của chủ hộ; (2) trang trại có thể sử dụng laođộng làm thuê nhưng lao động của gia đình vẫn là yếu tố trụ cột; (3) có thể tích

tụ, tập trung thêm các yếu tố sản xuất để nâng cao năng lực và hiệu quả sảnxuất

- Con đường hình thành và phát triển cơ bản của trang trại là tái sản xuất

mở rộng không phải chủ yếu bằng phát triển chiều rộng mà chủ yếu phát triểnchiều sâu – thâm dụng kỹ thuật bởi yếu tố vốn, khoa học – kỹ thuật – côngnghệ, bởi năng lực quản trị sản xuất kinh doanh được tăng cường

- Sản xuất hàng hóa lớn gắn với thị trường và chấp nhận cạnh tranh đểphát triển

Trang 3

1.2 Kinh nghiệm phát triển mô hình kinh tế trang trại trên thế giới 1.2.1 Các nước Châu Âu

Cuối thế kỷ XVII, vương quốc Anh là nước công nghiệp hóa sớm nhấtthế giới, quan niệm rằng: trong nền kinh tế hàng hóa tư bản chủ nghĩa, nôngnghiệp cũng phải xây dựng các xí nghiệp tập trung qui mô lớn như các xínghiệp công nghiệp nhưng vì đặc điểm của nông nghiệp là phải tác động vàonhững vật sống (cây trồng, vật nuôi) nên không phù hợp với hình thức sản xuấttập trung qui mô lớn, sử dụng lao động làm thuê tập trung nên cuối cùng hiệuquả của các trang trại gia đình vẫn chiếm ưu thế hơn các xí nghiệp nông nghiệp

tư bản qui mô lớn Cho đến nay, ở các nước tiên tiến trang trại gia đình vẫn tồntại và phát triển mạnh Ngay ở Mỹ, một nước có nền nông nghiệp tiên tiến nhất,quá trình công nghiệp hóa nông nghiệp tiến hành mạnh nhất thì số trang trại giađình vẫn tồn tại và phát triển

1.2.2 Các nước Châu Á

Các nước Châu Á bước vào công nghiệp hoá muộn hơn các nước Âu

Mỹ hàng trăm năm.Vì vậy, kinh tế trang trại sản xuất nông sản hàng hoá phục

vụ công nghiệp hoá cũng xuất hiện muộn hơn Kinh tế trang trại ở Châu Á hiệnnay có sự khác biệt giữa 2 nhóm nước: Các nước công nghiệp phát triển và cácnước đang phát triển

* Kinh tế trang trại ở một số nước công nghiệp hoá phát triển:

Các nước như Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc là những nước ở ĐôngBắc Á đi lên công nghiệp hoá sớm nhất ở Châu Á Do yêu cầu nguồn nguyênliệu cho chế biến nông sản ngày càng cao, kinh tế trang trại ở các nước nàyngày càng phát triển mạnh để thay thế nông nghiệp tiểu nông

Sau chiến tranh thế giới thứ 2, Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc đã chútrọng đế công tác cải cách ruộng đất.Theo đó, kinh tế hộ nông dân tiểu nôngđược giao quyền sử dụng đất lâu dài và trở thành đơn vị sản xuất kinh doanh tựchủ trong đơn vị kinh doanh nông, lâm, ngư nghiệp Nhờ vậy sản xuất kinhdoanh hiệu quả sản xuất kinh doanh ngày càng cao, các nông hộ phát triển ngàycàng nhiều lên kinh tế trang trại

Xét về quy mô, các trang trại Đông Bắc Á có quy mô diện tích rất nhỏ,nhỏ hơn ở Tây Âu từ 20 – 30 lần, nhỏ hơn ở Mỹ 150 – 180 lần Bình quân diệntích đất đai của trang trại ở Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc chỉ trên dưới 1 ha

Ở Nhật Bản từ những năm 50 trở lại đây kinh tế trang trại phát triểnmạnh ở các ngành sản xuất nông, lâm và ngư nghiệp trên tất cả các vùng sản

Trang 4

xuất ra khối lượnh nông sản hàng hoá lớn về lúa gạo, rau quả, thịt, hình thànhcác vùng sản xuất hàng hoá tập trung quy mô lớn.

Cũng giống như các nước Châu Mỹ các trang trại Nhật Bản cũng pháttriển theo hướng giảm số lượng, tăng quy mô trên cơ sở tích tụ ruộng đất Năm

1950 Nhật Bản có 6176 nghìn trang trại thì đến 1995 con số này là 5382 nghìntrang trại mặc dù số lượng trang trại giảm đáng kể nhưng quy mô diện tích bìnhquân 1 trang trại tăng chậm do qũy đất nông nghiệp của Nhật Bản bị hạn chế

1995 trong tổng số gần 2,5 triệu trang trại trồng trọt có gần 60% trang trại cóquy mô từ 0,5 – 1ha, 31% có quy mô lớn hơn khoảng 30% số trang trại chănnuôi lợn thịt có quy mô dưới 100 con, 32% trang trại có quy mô từ 100 - 500con, 28% có quy mô từ 500 – 2000 con và 5% có quy mô trên 2000 con Đốivới chăn nuôi gà thịt, không có trang trại nào có quy mô dưới 300 con, chỉ cótrang trại có quy mô từ 300 con đến 100 nghìn con

Về lao động, phần lớn các trang trại đều sử dụng lao động gia đình ít sửdụng lao động làm thuê do quy mô diện tích nhỏ Trang trại lâm nghiệp và chănnuôi quy mô vừa và lớn có sử dụng lao động làm thuê với mức độ khác nhautuỳ trình độ cơ giới hoá, đến nay, bình quân 1 trang trại với 1ha đất nôngnghiệp có từ 1 – 1,1 lao động nông nghiệp, còn những lao động khác của trangtrại hoạt động kinh tế ngoài nông nghiệp ở trong và ngoài trang trại

Trong quá trình phát triển, các trang trại ở Nhật Bản có sự chuyển dịch

từ thuần nông sang kiêm nghiệp, thu nhập ngoài nông nghiệp ngoài trang trạingày càng tăng Trong 40 năm gần đây các trang trại thuần nông của Nhật Bảngiảm khoảng 3 lần, từ 45% còn 35% trong tổng số trang trại Các trang trạikiêm nghịêp tăng lên đến 85% và thu nhập ngoài nông nghiệp là chính

Về ứng dụng thành tựu khoa học công nghệ, các trang trại ở Nhật Bảntuy có quy mô nhỏ nhưng trong quá trình công nghiệp hoá đã ứng dụng rộng rãicác công nghệ hiện đại về giống cây trồng vật nuôi, các loại vật tư kỹ thuậtnông nghiệp, phân bón cho cây trồng, thức ăn công nghịêp cho gia súc, cácthiết bị nông nghiệp ứng dụng đồng bộ vào quá trình sản xuất, bảo quản, chếbiến, tạo ra năng suất cây trồng vật nuôi cao Từ 1950 – 1990, chi phí lao độnglàm lúa giảm dần từ 2000giờ công xuống còn 500 giờ công Nhiều trang trạitrồng rau, chăn nuôi gia cầm bắt đầu ứng dụng công nghệ tin học trong quátrình sản xuất, nhờ vậy tỷ suất hàng hoá trong các trang trại rất cao, đảm bảonhu cầu lương thực phẩm cho 125 triệu dân: 100% nhu cầu về gạo,81% nhucầu về thịt, trên 90% nhu cầu về trứng sưa, 76% nhu cầu về rau quả

Trang 5

Đài Loan và Hàn Quốc tiến hành công nghiệp hoá sau Nhật Bản nênkinh tế trang trại cũng phát triển sau Quy mô diện tích các trang trại ở đó cũngtrên dưới 1ha và quá trình hình thành và phát triển cũng giống như Nhật Bản.Thời kỳ bắt đầu công nghiệp hoá 1952- 1970 số lượng trang trại tăng từ 679750lên 880274 trang trại và quy mô trang trại bình quân giảm từ 1,29 còn 1,03ha.Thời kỳ công nghiệp hoá đạt trình độ cao 1970 – 1996 số lượng trang trạigiảm còn 779000 và quy mô bình quân tăng lên 1,2ha.

Số lượng và quy mô trang trại chăn nuôi ở Đài Loan tăng đều trong suôtquá trình công nghiệp hoá, 1974 số trang trại chăn nuôi lợn dưới 100 con chiếm99,5% trong tổng số trang trại và 68,63% tổng số đàn lợn Đến 1994 số trangtrại nuôi dưới 100 con lợn giảm xuống còn 53,52% trong tổng số trang trại vàtổng số đàn lợn Số trang trại chăn nuôi lợn quy mô từ 100 – 5000 con trởlên,1994 chiếm 45%tổng số trang trại và 78% tổng số đàn lợn

Cơ cấu sản xuất kinh doanh của trang trại ở Đài Loan cũng có sự chuyểndịch từ thuần nông sang kiêm nghiệp như Nhật Bản

Ở Đài Loan, việc thực hiện tích tụ ruộng đất cho trang trại gặp nhiều khókhăn vì nông dân đi làm nghề khác nhưng không muốn bán ruộng Do vậy ĐàiLoan thực hiện chế độ sản xuất uỷ thác, có thể tập trung quyền sử dụng đất vàocác hộ nông dân,các trang trại ở Đài Loan đã tạo ra khối lươngj nông sản hànghoá cao, đảm bảo nhu cầu thị trường trong nước và xuất khẩu

Ở Hàn Quốc, công nghiệp hoá cũng như kinh tế trang trại phát triển sauNhật Bản và Đài Loan Đặc điểm của trang trại ở Hàn Quốc cũng là quy mônhỏ, Từ thời kỳ 1953 – 1965 số lượng trang trại tăng từ 2.249 lên 2.507 trangtrại, với quy mô bình quân 0,9 ha Thời kỳ 1970 – 1990 số lượng trang trạigiảm xuống 1.700 cơ sở và quy mô tăng lên 1,2 ha

* Kinh tế trang trại ở một số nước đang phát triển:

Ở các nước đang phát triển ở Châu á, công nghiệp hóa mới bắt đầu vàkinh tế trang trại mới hình thành và phát triển Công nghiệp hóa phát triển đãnảy sinh nhu cầu ngày càng lớn về nông sản hành hóa và tất yếu phải hìnhthành kinh tế trang trại thay thế kinh tế tiểu nông

Trong quá trình công nghiệp hóa, vật cản trở hạn chế sự chuyển dịch cho

mô hình trang trại ở nhiều nứơc đang phát triển ở châu á là chưa xóa bỏ đượcquan hệ sở hữu ruộng đất của địa chủ, với phương thức phát canh thu tô, nêncác hộ chưa tự chủ sản xuất như các trang trại ở các nước Đông Bắc Á

Về cải cách ruộng đất, nhiều nước như ấn Độ, Philipin đã tiến hành cảicách ruộng đất từ những năm 50, nhưng kết quả còn nhiều hạn chế, chưa xóa

Trang 6

bỏ được sở hữu ruộng đất của địa chủ nên chưa tạo cơ sở cho sự hình thànhcác trang trại.

Các doanh nghiệp nông nghiệp tư bản tư nhân ở các nước như Malaixia,Indonesia, Ấn Độ… trước đây sử dụng lao động làm thuê để sản xuất nông sảnhàng hóa, dần chuyển sang cơ chế sản xuất mới, giao khoán ruộng đất, cungcấp vật tư và cung cấp kỹ thuật cho các hộ gia đình công nhân sản xuất theohợp đồng, doanh nghiệp thu mua sản phẩm làm ra để chế biến xuất khẩu tạo ramột loạt công nhân, nông dân chủ trại sản xuất hàng hóa cà phê, cao su, chè,tiêu…

Như vậy, ở các nước khác nhau qui mô trang trại cũng khác nhau vàthay đổi theo thời gian, tùy thuộc vào đặc điểm tự nhiên, trình độ cơ giới hóa

và năng suất lao động của mỗi nước Ở nước có bình quân diện tích đất nôngnghiệp thấp thì diện tích đất nông nghiệp bình quân của mỗi trang trại khônglớn lắm, nhưng với sự phát triển của khoa học và công nghệ, các chủ trang trạitập trung đầu tư theo chiều sâu có thể tạo ra khối lượng nông sản hàng hóangày càng lớn trên đơn vị diện tích và thu lợi nhuận cao

1.3 Quá trình nhận thức và lý luận phát triển kinh tế trang trại ở Việt Nam

1.3.1 Khía cạnh pháp lý về quá trình hình thành và phát triển kinh

tế trang trại ở Việt Nam:

Chỉ thị 100 CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng về cải tiến côngtác khoàn, mở rộng “khoán sản phẩm đến nhóm lao động và người lao động”trong hợp tác xã nông nghiệp năm 1981 đã tạo nền tảng cho kinh tế hộ pháttriển

Nghị quyết 10 NQ/TW ngày 05/04/1988 của Bộ Chính trị thừa nhận hộnông dân là đơn vị kinh tế tự chủ ở nông thôn Các thành phần kinh tế đượcđảm bảo quyền bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ trước pháp luật, bảo đảmquyền sử dụng đất đai, giao đất, giao rừng sử dụng ổn định lâu dài vào mụcđích sản xuất nông nghiệp đã tạo nền tảng cho các nông hộ được phát triển vớiqui mô sản xuất lớn hơn Nghị quyết Trung ương 4 khóa VIII (tháng 12/1997)khẳng định “kinh tế trang trại với các hình thức sở hữu khác nhau được pháttriển chủ yếu để trồng cây dài ngày, chăn nuôi đại gia súc, khuyến khích việckhai thác đất hoang”

Tháng 11 năm 1998, Nghị quyết của Bộ Chính trị số 6 NQ/TW khóaVIII chuyên đề vấn đề phát triển nông nghiệp và nông thôn tiếp tục khẳng định

“ở nông thôn Việt Nam hiện nay đang phát triển những mô hình trang trại nông

Trang 7

nghiệp, phổ biến là trang trại gia đình, thực chất là các hộ sản xuất hàng hóavới qui mô lớn hơn, sử dụng lao động, tiền vốn của gia đình là chủ yếu để sảnxuất kinh doanh có hiệu quả”.

Ngày 02 tháng 02 năm 2000 nhận thức được tầm quan trọng của kinh tếtrang trại trong công cuộc phát triển nông nghiệp, phát triển đất nước chính phủ

đã ra nghị quyết chính phủ về kinh tế trang trại Nghị quyết số 03/2000/NQ-CP

để qua đó thống nhất nhận thức về tính chất và vị trí của kinh tế trang trại: phân

bổ lại lao động, dân cư, xây dựng nông thôn mới Định hướng chính sách cụthể như: Chính sách đất đai; Chính sách thuế; Chính sách đầu tư, tín dụng;Chính sách lao động; Chính sách khoa học, công nghệ, môi trường; Chính sáchthị trường; Chính sách bảo hộ tài sản đã đầu tư của trang trại

Thông tư số 69/2000/TTLT/BNN-TCTK ban hành ngày 23 tháng 6 năm

2000, thông tư liên tịch Hướng dẫn tiêu chí để xác định kinh tế trang trại.Thông tư số 82/2000/TT- BTC ban hành ngày 14 tháng 08 năm 2000 hướngdẫn chính sách tài chính nhằm phát triển kinh tế trang trại tuy nhiên nội dungvẫn còn mang tính chất rất định hướng, để áp dụng được còn cần các hướngdẫn cụ thể của UBND từng tỉnh

Thông tư số 62/2000/TTLT/BNN-TCTK ngày 20 tháng 5 năm 2003thông tư liên tịch hướng dẫn tiêu chí để xác định kinh tế trang trại Thông tư74/2003/TT-BNN ngày 4 tháng 7 năm 2003 ban hành để sửa đổi, bổ sung MụcIII Của Thông tư liên tịch 69/2000/TTLT/BNN-TCTK ngày 23/6/2000 hướngdẫn tiêu chí để xác định kinh tế trang trại Ngoài ra các tỉnh tùy theo tình hình

cụ thể địa phương mà đưa ra các nghị quyết và chính sách để cụ thể hoá chínhsách trung ương

1.3.2 Những đặc trưng cơ bản của trang trại, tiêu chí nhận dạng trang trại và loại hình trang trại:

a) Những đặc trưng cơ bản của trang trại:

Theo kết quả hội nghị nghiên cứu kinh tế trang trại Việt Nam của BanKinh tế Trung ương, trang trại có những đặc trưng cơ bản sau:

- Trang trại là một hình thức tổ chức kinh tế trong nông, lâm, ngư nghiệpphổ biến được hình thành trên cơ sở kinh tế hộ nhưng mang tính sản xuất hànghóa rõ rệt

- Các trang trại có sự tập trung tích tụ cao hơn rõ rệt so với mức bìnhquân của các hộ kinh tế gia đình trong xã hội, ở từng vùng về các điều kiện sảnxuất (đất đai, vốn, lao động); đạt khối lượng và tỉ lệ sản phẩm hàng hóa lớn hơn

và thu được lợi nhuận nhiều hơn

Trang 8

- Nhìn chung chủ trang trại là những người có ý chí làm giàu,có điềukiện làm giàu và biết làm giàu, có vốn, trình độ kỹ thuật và khả năng quản lý,

có hiểu biết nhất định về thị trường, bản thân và gia đình thường trực tiếp thamgia lao động quản lý, sản xuất của trang trại đồng thời có thuê mướn thêm laođộng để sản xuất, kinh doanh

- Kinh tế trang trại mang tính chất sản xuất hàng hóa, gắn liền với thịtrường, chính vì vậy có nhu cầu cao hơn hẳn kinh tế hộ mang nặng tính tự cấp,

tự túc về tiếp thị, về sự tác động của khoa học – công nghệ vào sản xuất nôngnghiệp, về sự phát triển của công nghiệp, trực tiếp là công nghiệp bảo quản, chếbiến nông lâm thủy sản, chế tạo nông cụ nhằm tăng năng suất lao động, hạ giáthành sản phẩm vá đáp ứng được đòi hỏi của khác hàng về quy cách, chấtlượng sản phẩm để bảo đảm tiêu thụ hàng hóa, cạnh tranh trên thị trường

Qui mô sử dụng (cũng là mức độ tích tụ) các điều kiện sản xuất (đất đai,vốn, lao động) là những yếu tố cơ bản nhất, quyết định tính chất hàng hóa củatrang trại

b) Tiêu chí định lượng để xác định kinh tế trang trại:

Theo thông tư liên tịch Hướng dẫn tiêu chí để xác định kinh tế trang trại

số 69/2000/TTLT/BNN-TCTK ban hành ngày 23 tháng 6 năm 2000 một hộ sảnxuất nông - lâm nghiệp – thủy sản được xác định là trang trại phải đạt cả haitiêu chí sau:

* Giá trị sản lượng hàng hoá và dịch vụ bình quân/năm: Đối với các tỉnhphía Bắc và Duyên hải miền Trung từ 40 triệu đồng trở lên Đối với các tỉnhphía Nam và Tây Nguyên từ 50 triệu đồng trở lên

* Quy mô sản xuất phải tương đối lớn và vượt trội so với kinh tế nông

hộ tương ứng với từng ngành sản xuất và vùng kinh tế

- Đối với trang trại trồng trọt

(1) Trang trại trồng cây hàng năm: Từ 2ha trở lên đối với các tỉnh phíaBắc và Duyên hải miền Trung Từ 3ha trở lên đối với các tỉnh phía Nam và TâyNguyên

(2) Trang trại trồng cây lâu năm: Từ 3ha trở lên đối với các tỉnh phíaBắc và Duyên hải miền Trung Từ 5ha trở lên đối với ở các tỉnh phía Nam vàTây Nguyên

Trang trại trồng hồ tiêu 0,5ha trở lên

(3) Trang trại lâm nghiệp: Từ 10 ha trở lên đối với các vùng trong cảnước

- Đối với trang trại chăn nuôi

Trang 9

(1) Chăn nuôi đại gia súc (trâu, bò…): Chăn nuôi sinh sản, lấy sữa cóthường xuyên từ 10 con trở lên Chăn nuôi lấy thịt có thường xuyên từ 50 contrở lên.

(2) Chăn nuôi gia súc (lợn, dê…): Chăn nuôi sinh sản có thường xuyênđối với hơn 20 con trở lên, đối với dê, cừu từ 100 con trở lên Chăn nuôi lợnthịt có thường xuyên từ 100 con trở lên (không kể lợn sữa); dê thịt từ 200 contrở lên

(3) Chăn nuôi gia cầm: gà, vịt, ngan, ngỗng, v.v có thường xuyên từ2.000 con trở lên (không tính số đầu con dưới 7 ngày tuổi)

- Trang trại nuôi trồng thuỷ sản

Diện tích mặt nước để nuôi trồng thủy sản có từ 2 ha trở lên (riêng đốivới nuôi tôm thịt theo kiểu công nghiệp từ 1 ha trở lên)

- Đối với các loại sản phẩm nông lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản có

tính chất đặc thù như: trồng hoa, cây cảnh, trồng nấm, nuôi ong, giống thủy sản

và thuỷ đặc sản, thì tiêu chí xác định là giá trị sản lượng hàng hoá (tiêu chí 1)

c) Loại hình trang trại:

* Theo tiêu thức về cách áp dụng mô hình sản xuất:

- Trang trại trồng trọt: là các trang trại trồng cây hàng năm, trồng cây lâunăm, hoặc trồng cây lâm nghiệp

- Trang trại chăn nuôi: là trang trại hoạt động chăn nuôi đại gia súc: trâu,

bò, v.v ; chăn nuôi gia súc: lợn, dê,v.v ; chăn nuôi gia cầm: gà, vịt, ngan,

ngỗng, v.v

- Trang trại nuôi trồng thuỷ sản

- Trang trại sản xuất kinh doanh tổng hợp: là trang trại có từ 2 hoạt độngsản xuất nông, lâm nghiệp và nuôi trồng thủy sản khác nhau trở lên và mỗi hoạtđộng đều đạt về quy mô hoặc mức giá trị hàng hoá và dịch vụ như quy định chotrang trại

* Theo tiêu thức về tính chất và quy mô sở hữu gồm có: Trang trại giađình, trang trại tiểu chủ, trang trại tư nhân

Các trang trại trên còn khác nhau về tính chất và quy mô sử dụng laođộng Trang trại gia đình chủ yếu sử dụng lao động gia đình, trang trại tiểu chủchủ yếu sử dụng lao động thuê mướn, song số lao động thuê mướn thấp hơnmức qui định của pháp luật để xác định doanh nghiệp tư nhân Trang trại tưnhân thì hoàn toàn sử dụng lao động thuê mướn với số lao động thuê mướnbằng hay lớn hơn mức qui định của pháp luật để xác định doanh nghiệp tưnhân

Trang 10

Cả ba loại hình trang trại trên cần được khuyến khích phát triển, tuynhiên trong giai đoạn hiện nay cần ưu tiên phát triển kinh tế trang trại gia đình

vì loại hình trang trại này gần gũi với kinh tế nông hộ và phù hợp với trình độphát triển của lực lượng sản xuất nông nghiệp hiện tại

1.3.3 Tính tất yếu khách quan trong việc phát triển kinh tế trang trại ở Việt Nam:

* Phát triển kinh tế trang trại ở Việt Nam là tất yếu khách quan phù hợp qui luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất:

Xuất phát từ quy luật quan hệ sản xuất phải thích ứng với tính chất vàtrình độ của lực lượng sản xuất Trình độ của lực lượng sản xuất – trình độ củađội ngũ lao động trong nông nghiệp – nhờ vào sự phát triển của khoa học côngnghệ, hệ thống khuyến nông và các chính sách phù hợp trong nông nghiệp ngàycàng được nâng cao Sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất đòi hỏi phảithiết lập quan hệ sản xuất mới để tạo động lực thúc đẩy lực lượng sản xuất pháttrỉển nhanh hơn

* Phát triển kinh tế trang trại ở Việt Nam là tất yếu khách quan phù hợp với mục tiêu công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn:

- Trang trại ra đời tạo mối quan hệ mới giữa công nghiệp và nông

nghiệp trong quá trình phát triển: công nghiệp phát triển tạo ra nhiều sản phẩmmới phục vụ cho nông nghiệp Nhưng với một nền nông nghiệp kém phát triểnthì không đủ điều kiện để ứng dụng những thành quả của công nghiệp pháttriển cũng như không đáp ứng đủ nhu cầu nông sản hàng hóa cho một xã hộiphát triển bởi sự kích thích của công nghiệp Sự ra đời và phát triển của kinh tếtrang trại ở nước ta vào lúc này đã trở nên cần thiết hơn bao giờ hết - chính nó

sẽ tạo ra sự ghép nối hợp lý để đưa công nghiệp và nông nghiệp đất nước đivào con đường công nghiệp hoá - hiện đại hoá

- Sự hình thành kinh tế trang trại là kết quả của quá trình chuyển dịch cơ

cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng sản xuất công nghiệp Đồngthời do đặc điểm ưu thế vốn có của mình nên nền kinh tế trang trại có khả năngđáp ứng những nhu cầu của sự chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp nông thôn đặt

ra Mặt khác sự phát triển của kinh tế trang trại sẽ tạo ra điều kiện và động lựcthúc đẩy chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp nông thôn theo hướng công nghiệphóa nhanh hơn, hiệu quả hơn Mà chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng sảnxuất công nghiệp là nội dung chủ yếu của quá trình công nghiệp hóa ở nước ta

Trang 11

- Trang trại với ưu thế về quy mô, vừa có điều kiện tăng năng suất lao

động, tăng năng suất trên một đơn vị diện tích vừa có khả năng khai thác hữuhiệu lợi thế so sánh của từng vùng , lãnh thổ sẽ thực hiện tốt việc sản xuất rahàng loạt sản phẩm với chi phí thấp nhất nên có điều kiện để cạnh tranh trongnền kinh tế hoạt động theo cơ chế thị trường Trên cơ sở đó thúc đẩy tăngtrưởng cả thị trường đầu ra lẫn thị trường đầu vào Điều này có tác dụng kíchcầu trong tương lai và đây là biện pháp để thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa –hiện đại hóa nông nghiệp ở nước ta

* Phát triển kinh tế trang trại ở Việt Nam là tất yếu khách quan phù hợp với tiến trình phát triển kinh tế và quá trình hội nhập:

Trong thời gian qua kinh tế nông hộ đã có những đóng góp quan trọng

về vốn, đất, lao động và kinh nghiệm phục vụ cho việc mở rộng sản lượngnông nghiệp đáp ứng được nhu cầu trong nước và xuất khẩu

Tuy nhiên khi nền kinh tế nước ta hội nhập sâu với nền kinh tế thế giới,

cụ thể với việc gia nhập WTO, nông dân không còn được bảo hộ bởi các biệnpháp hành chính như hạn ngạch nhập khẩu hay thuế bảo hộ và cung nông sảnhướng tới đáp ứng cầu của thị trường thế giới thì kinh tế trang trại có nhiều lợithế hơn:

- Lợi thế về quy mô sản xuất: diện tích đất, vốn sản xuất, lao động, máymóc, thiết bị của trang trại đều lớn hơn nông hộ Với quy mô các yếu tố đầuvào lớn, chi phí sản xuất sẽ giảm nhanh bởi quy mô sản lượng tăng Chi phí làyếu tố quyết định cạnh tranh sản phẩm Do đó phát triển kinh tế trang trại nôngsản Việt Nam mới có sức cạnh tranh với các nước trong khu vực và các nướcphát triển

- Lợi thế về tỷ suất hàng hoá, đồng nhất chất lượng sản phẩm, và thươnghiệu của sản phẩm: Kinh tế trang trại với quy mô sản xuất lớn tập trung sẽ dễthực hiện quy hoạch phân vùng chuyên môn hóa sản xuất theo lợi thế so sánh,tạo ra sự đồng nhất về chất lượng sản phẩm tạo thương hiệu riêng cho sảnphẩm của trang trại hay vùng Yêu cầu của thị trường thế giới đòi hỏi ngàycàng cao về chất lượng sản phẩm, tiêu chuẩn vệ sinh thực phẩm và nguồn gốc

uy tín của nhà sản xuất, điều này chỉ có sản xuất theo quy mô lớn như trang trạithì mới có khả năng đáp ứng

- Lợi thế về ứng dụng các công nghệ mới trong sản xuất nông nghiệp:Quy mô lớn của diện tích đất và vốn sản xuất sẽ tạo thuận lợi cho việc áp dụngcác công nghệ mới, cơ giới hoá, thâm canh tăng năng suất đất đồng thời gắnvới bảo vệ môi trường, không phá rừng Do đó phát triển kinh tế trang trại thì

Trang 12

nông dân mới duy trì bền vững sức mạnh cạnh tranh của mình khi hội nhập vớinông dân thế giới.

- Lợi thế về nâng cao năng suất lao động: Việt Nam hoàn toàn bất lợi donăng suất lao động nông nghiệp còn quá thấp so với các nước trong khu vực.Theo số liệu của Ngân hàng thế giới Worldbank (2000), năng suất lao độngnông nghiệp của Việt Nam chỉ khoảng 244 USD, tương đương 75% của TrungQuốc, 33% so với Indonesia, 25% so với Thái Lan, 18% so với Philipines và4% so với Malaysia Năng suất lao động phụ thuộc chủ yếu vào 2 yếu tố sau:Năng suất ruộng đất (Giá trị sản phẩm tính trên 1 ha) và năng suất đất-lao động(diện tích đất nông nghiệp tính trên 1 lao động)

Năng suất lao động thấp sẽ làm chi phí sản xuất cao và khó mà cải thiệnđược thu nhập cho nông dân Kinh tế trang trại với tư liệu sản xuất, vốn, sứclao động được tập trung trên qui mô lớn mới có điều kiện phát huy ưu thế phâncông lao động cả chiều rộng lẫn chiều sâu, tạo điều kiện cải thiện, nâng caonăng suất lao động

Kinh tế trang trại là loại hình tổ chức sản xuất mà kinh tế nông nghiệptrên thế giới đã và đang trải qua Hình thức tổ chức sản xuất này đang tỏ ra có

ưu thế, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, của nền sản xuất

xã hội, phù hợp với xu hướng phát triển nông nghiệp thế giới Tóm lại kinh tếtrang trại là mô hình tổ chức sản xuất kinh doanh trong nông nghiệp mà sự xuấthiện của nó nảy sinh từ những yêu cầu khách quan của quá trình phát triển cơchế kinh tế thị trường và phù hợp với chủ trương thực hiện công nghiệp hóa –hiện đại hóa trong lĩnh vực nông nghiệp

1.3.4 Vai trò của kinh tế trang trại trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn Việt Nam:

Ở Việt Nam hiện nay kinh tế trang trại ngày càng thể hiện ưu thế vượttrội so với các loại hình sản xuất khác, trang trại ngày càng tăng lên cả về sốlượng và quy mô, sản phẩm của trang trại ngày càng tăng lên về số lượng vàgiá trị tỷ trọng, giá trị của sản phẩm trang trại ngày một tăng

Trên thế giới các nước phát triển sản phẩm nông nghiệp tuyệt đại đa số

là của trang trại Xu thế phát triển nông nghiệp Việt Nam hiện nay kinh tế trangtrại phù hợp với người nông dân và định hướng phát triển nông nghiệp của Nhànước

* Về mặt kinh tế

Trang 13

- Mục đích sản xuất của trang trại là sản xuất hàng hoá tối đa hoá lợinhuận Vì vậy các trang trại phải ghi chép, hạch toán, tổ chức sản xuất kinhdoanh khoa học, tiếp cận thị trường Điều này đồng nghĩa với việc sử dụnghiệu quả các nguồn lực: giảm chi phí đầu vào và nâng cao giá trị sản xuất đầu

ra đem lại lợi nhuận cao cho chủ trang trại làm giàu chính họ và làm giàu địaphương góp phần thúc đẩy kinh tế nông nghiệp nông thôn

- Chủ trang trại là người sản xuất có quy mô lớn và có điều kiện nuôitrồng con vật nuôi có giá trị kinh tế cao, điều này làm khắc phục dần tình trạngmanh mún, phân tán trong sản xuất nông nghiệp đem lại hiệu quả kinh tế caohơn Điều này cũng đồng nghĩa với việc tạo điều kiện thuận lợi cho ngành côngnghiệp chế biến vì số lượng sản phẩm tương đối lớn, chất lượng đồng đều, quytrình sản xuất đúng kỹ thuật Điều này tạo cho chế biến xuất khẩu thuận lợi thu

về ngoại tệ cho công cuộc phát triển đất nước

- Trang trại là nơi tiếp nhận và truyền tải các tiến bộ khoa học và côngnghệ đến hộ nông dân thông qua chính hoạt động sản xuất của mình

Do được đầu tư cao hơn trên cùng một đơn vị diện tích tạo thêm việclàm trên chính diện tích đó mặt khác giá trị sản xuất lớn cũng đồng nghĩa thunhập của người lao động cao hơn Đặc biệt là các trang trại chăn nuôi, haytrang trại trồng hoà diện tích không lớn nhưng nhu cầu số lao động trên đơn

vị diện tích và thu nhập trên đơn vị diện tích đó tương đối lớn Điều này gópphần thay đổi bộ mặt nnnt tăng số hộ giàu lên, giảm số hộ nghèo đói

Phát triển kinh tế trang trại làm thúc đẩy kết cấu hạ tầng trong nôngthôn, làm gương cho các hộ nông dân về cách thức tổ chức quản lý sản xuất Qua đó thúc đẩy tự thay đổi bộ mặt nông thôn

* Về mặt môi trường

Trang 14

Chủ trang trại là người có nhận thức tiến bộ hơn về tác động của môitrường đến chính quá trình sản xuất của họ và của vùng Do sản xuất tự chủ và

vì lợi ích thiết thực lâu dài họ luôn ý thức bảo vệ môi trường trong phạm vi của

họ và của vùng Đặc biệt là trong chăn nuôi điều này quyết định lớn đến thành

bại của quá trình sản xuất kinh doanh

Như vậy phát triển kinh tế trang trại góp phần bảo vệ môi trường, thúcđẩy quá trình chuyển dịch lao động, cơ giới hóa nông nghiệp, kích thích các

ngành công nghiệp chế biến, công nghiệp cung cấp đầu vào cho nông nghiệp và

các ngành dịch vụ nông nghiệp phát triển do đó thúc đẩy quá trình công nghiệp

hóa hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn Việt Nam

II THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRANG TRẠI Ở VIỆT NAM

2.1 Những thành tựu đạt được 2.1.1 Giai đoạn trước khi có NQ 03/2000/NQ-CP:

Trước khi có nghị quyết 03/2000/NQ-CP và thông tư 69 hướng dẫn tiêuchí xác định kinh tế trang trại nên mỗi vùng có một cách nhìn khác nhau về

kinh tế trang trại

Bảng 1: Số trang trại phân theo địa phương trước khi NQ 03/2000/NQ-CP

Chỉ tiêu Yên Bái Tum Kon Đắc lắc Đồng Lâm Dương Bình Phước Bình

- Lao động thuê thường xuyên (người) 8-10 3-5 4-10 3-5 3-5 3-10

(Nguồn: Tư liệu về kinh tế trang trại, Ban Vật giá chính phủ NXB TP HCM)

2.1.2 Giai đoạn sau khi có Nghị quyết 03/2000/NQ-CP đến nay

Sau khi có Nghị quyết 03/2000/NQ-CP kinh tế trang trại tiếp tục pháttriển và ngày càng đóng vai trò quan trọng trong sản xuất nông, lâm nghiệp và

thuỷ sản

* Giai đoạn từ năm 2000 đến 2006:

Bảng 2: Số trang trại phân theo địa phương

Ngày đăng: 31/08/2017, 09:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w