4 1.1.2 Chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cho các hộ nông dân có đất bị thu hồi.. Mục tiêu nghiên cứu 2.1 Mục tiêu tổng quát: Nhằm đưa ra
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tôi xin cam đoan các thông tin, số liệu trong trích dẫn là rõ nguồn gốc
Hà nội, ngày tháng năm 2012
Học viên
Bùi Thị Phương Quỳnh
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian học tập khóa học cao học tại trường Đại Học Lâm Nghiệp Hà Nội tôi đã nhận được dạy bảo nghiêm túc của các thầy cô giáo Các thầy cô đã chỉ bảo, và truyền đạt cho tôi những kiến thức từ thực tế, các vấn đề sẽ xảy ra, và nhưng biến động của xã hội, những kiến thức về chuyên môn, văn hóa Chính những điều đó để tôi có thành quả như ngày hôm nay là luận văn thạc sĩ
Tôi xin bày tỏ long cảm ơn chân thành nhất tới:
T.S Lê Minh Chính - giáo viên hướng dẫn khoa học, đã nhiệt tình hướng dẫn, góp ý chỉ bảo và động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Các PGS, T.S, các thầy cô giáo ở khoa đào tạo sau đại học, Khoa kinh
tế chuyên ngành kinh tế nông nghiệp đã giảng dạy và chỉ bảo tôi hoàn thành chương trình học tập và thực hiện luận văn
Các cán bộ, chủ tịch UBND xã Phúc Thành, Lê Ninh, sở Tài nguyên và môi trường Huyện Kinh Môn, chủ đầu tư dự án Nhà máy Nhiệt điện Hải Dương, đã giúp đỡ, hướng dẫn cho tôi trong suốt thời gian điều tra, thu thập tài liệu cho luận văn
Người dân, nơi bị thu hồi đất đã cung cấp những thông tin, cũng như tạo điều kiện thuận lợi, trả lời ở các phiếu để giúp tôi hoàn thành số liệu trong luận văn
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các bạn bè, đồng nghiệp, ban lãnh đạo
cơ quan đã tận tình và tạo mọi điều kiện cho tôi trong thời gian tôi viết luận văn này
Hà Nội, Ngày tháng năm 2012
Trang 3MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các từ viết tắt vi
Danh mục các bảng vii
Danh mục các hình viii
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TÁI ĐỊNH CƯ 4
1.1 Cơ sở lý luận về tái định cư 4
1.1.1 Một số khái niệm liên quan đến di dân, tái định cư 4
1.1.2 Chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cho các hộ nông dân có đất bị thu hồi 8
1.2 Chính sách về tái định cư không tự nguyện của Ngân hàng Thế giới 11
1.3 Sự cần thiết của tái định cư trong việc ổn định và nâng cao mức sống cho các hộ dân 11
1.4 Vai trò của các công ty và chính quyền địa phương trong việc di dân, tái định cư 15
1.5 Tình hình nghiên cứu, giải quyết các vấn đề tái định cư 17
Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29
2.1 Đặc điểm cơ bản của Huyện Kinh Môn tỉnh Hải Dương 29
2.1.1 Khái quát chung về Huyện Kinh Môn 29
2.1.2 Các đặc điểm tự nhiên của huyện Kinh Môn 32
2.1.3 Các đặc điểm kinh tế - xã hội của huyện Kinh Môn 34
Trang 42.1.4 Khái quát về tình hình kinh tế và kết quả thực hiện quá trình tái
định cư trên địa bàn huyện Kinh Môn tỉnh Hải Dương 39
2.2 Phương pháp nghiên cứu 43
2.2.1 Phương pháp chọn địa điểm nghiên cứu, khảo sát 43
2.2.3 Phương pháp xử lý số liệu 45
2.2.4 Hệ thống chỉ tiêu sử dụng trong nghiên cứu đề tài 45
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 46
3.1 Khái quát tình hình tái định cư của các hộ trên địa bàn huyện Kinh Môn tỉnh Hải Dương 46
3.1.1 Điểm tái định cư Phúc Thành Kinh Môn Hải Dương 46
3.1.2 Điểm nghiên cứu Lê Ninh 52
3.1.3 Những kinh nghiệm về tái định cư và nâng cao mức sống cho các hộ dân trên địa bàn Huyện Kinh Môn tỉnh Hải Dương 55
3.2 Tình hình thu hồi đất, bồi thường hỗ trợ cho phát triển các cụm công nghiệp trên địa bàn 58
3.2.1 Tình hình thực hiện việc thu hồi đất, di dân cho phát triển nhà máy nhiệt điện 58
3.2.2 Tình hình thực hiện chính sách hỗ trợ tái định cư của các Doanh Nghiệp 61
3.2.3 Tình hình thực hiện chính sách hỗ trợ tái định cư của các cấp chính quyền địa phương 63
3.2.4 Kết quả của việc thu hồi đất bồi thường hỗ trợ tái định cư 67
3.2.5 Những thuận lợi và khó khăn trong việc thu hồi đất, hỗ trợ tái định cư 76
3.3 Thực trạng đời sống của các hộ tái định cư trên địa bàn huyện Kinh Môn tỉnh Hải Dương 78
Trang 53.3.1 Thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các hộ thuộc diện tái định cư 78 3.3.2 Những thuận lợi và khó khăn về chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các hộ tái định cư, nguyên nhân của những khó khăn đó 83 3.3.3 Thực trạng việc làm, thu nhập của các hộ thuộc diện tái định cư ( thu hồi đất) 85 3.3.4 Tác động của việc xây dựng khu công nghiệp, khu dân cư mới, nhà máy đến các hộ thuộc diện tái định cư 88 3.4 Giải pháp góp phần ổn định và nâng cao mức sống cho các hộ nông dân thuộc diện tái định cư trên địa bàn huyện Kinh Môn tỉnh Hải Dương 90 KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 97 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6KDC Khu dân cư
UBND Ủy ban nhân dân
GPMB Giải phóng mặt bằng
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
2.1 Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh năm 2011 36 3.1 Tình hình nhân khẩu của các hộ điều tra 48 3.2 Cơ cấu ngành nghề của xã Phúc Thành 50
3.4 Hiện trạng sử dụng đất quy hoạch nhà máy 59 3.5 Quy hoạch khu tái định cư Xã Phúc Thành 62 3.6 Tổng số tiền được bồi thường khi nhà máy quy hoạch
3.13 Giá trị sản lượng ngành Nông Nghiệp xã Lê Ninh 82 3.14 Thực trạng về điều kiện sinh hoạt của hộ tái định cư 84 3.15 Độ tuổi lao động của hộ bị thu hồi đất xã Phúc Thành 86 3.16 Số lượng lao động trong các ngành nghề của xã Phúc
Thành
87
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH
1.1 Ảnh vườn hoa lan sau khi dự án bị thu hồi 23
1.3 Một góc khu tạm cư ở P.An Lợi Đông, Q.2, TP.HCM 25 1.4 Ảnh sạt nở khu tái định cư Huồi Siu 27
2.1 Ảnh về toàn cảnh cánh đồng rộng lớn bao quanh sông
kinh Thày
32
3.1 Hình ảnh cây hành trong vụ đông xuân 47 3.2 Cơ cấu kinh tế nông nghiệp của xã Lê Ninh 74 3.3 Cơ cấu kinh tế nông nghiệp của xã Phúc Thành 79
Trang 9ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Tính cấp thiết của đề tài
Kinh môn là huyện miền núi của Hải Dương với diện tích 1662 Km2 Dân số hơn 1.703.492 người (theo điều tra dân số năm 2009) Huyện nằm kề bên 2 tuyến đường quốc lộ 5A và 18 là 2 tuyến giao thông quan trọng của quốc gia và vùng trọng điểm kinh tế phía bắc
Nhìn chung vị trí địa lý của huyện khá lý tưởng: cách Hà nội khoảng 80
km, giao thông thuỷ bộ tương đối thuận lợi nên có điều kiện giao lưu kinh tế với bên ngoài và đón nhận các cơ hội đầu tư trong và ngoài nước
Dự án nhà máy Nhiệt điện Hải Dương là nguồn điện bổ xung cho chương trình phát triển nguồn điện lực Việt Nam, đáp ứng nhu cầu cao về tốc
độ tăng trưởng điện năng phục vụ phát triển kinh tế xã hội đất nước, phụ tải lưới điện khu vực, cũng như tam giác Hà Nội- Hải Phòng- Quảng Ninh
Chính vì thế khi quy hoạch xây dựng nhà máy đã phải thu hồi 300ha đất thuộc 3 xã Phúc Thành – Quang Trung – Lê Ninh Đã lấy đi cơ hội cũng như các điều kiện kinh tế xã hội của vùng
Việc giải phóng mặt bằng liên quan đến vấn đề thu hồi đất đai và trách nhiệm tái định cư cho các hộ dân sống ở địa bàn bị ảnh hưởng của nhà máy nhiệt điện Hải Dương Vì vậy công tác di dời dân tái định cư giữ vai trò quan trọng và không thể thiếu trong dự án đổi mới phát triển kinh tế theo kết cấu kiến trúc thượng tầng như vậy
Trong những năm gần đây, việc thực hiện Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa đất nước đã lấy đi rất nhiều diện tích đất đai của khu vực nông nghiệp, nông thôn, làm cho khu vực này có những biến động rất mạnh Nông dân là những những người sinh sống ở nông thôn, cuộc sống của họ sống chủ yếu vào nông nghiệp, nay bị mất nhiều diện tích (chủ yếu là đất sản xuất nông nghiệp) nên họ gặp rất nhiều khó khăn Cần phải có những giải pháp hợp lý
Trang 10Các dự án đều đem lại hiệu quả kinh tế - xã hội cho vùng đó nhưng không thể tránh khỏi những tồn tại mà làm cho nhiều nhà quản lý phải hoạch định những chiến lược cụ thể và phải đặt ra nhiều giả thuyết Tái định cư cho các hộ dân như thế nào? Thu hồi và hỗ trợ đền bù ra sao? Các điều kiện kinh tế - xã hội, sinh hoạt, môi trường văn hóa – chính trị, phúc lợi đáp ứng như nào cho phù hợp??
Giải quyết các vấn đề trước mắt như việc làm, thu nhập các vấn đề an sinh xã hội, văn hóa, y tế, giáo dục để đảm bảo cuộc sống cho người dân không bị sáo trộn bởi sự biến đổi mạnh về môi trường sống
Chính vì vậy tôi đã lựa chọn đề tài “ Giải pháp góp phần ổn định và nâng cao mức sống cho các hộ nông dân thuộc diện tái định cư trên địa bàn huyện Kinh Môn tỉnh Hải Dương”
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu tổng quát:
Nhằm đưa ra giải pháp góp phần ổn định và nâng cao mức sống cho
các hộ nông dân thuộc diện tái định cư trên địa bàn huyện Kinh Môn tỉnh Hải Dương
2.2 Mục tiêu cụ thể:
- Khái quát hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về vấn đề di dân, tái định cư
- Phân tích đánh giá thực trạng về việc làm, thu nhập, đời sống của các
hộ nông dân thuộc diện tái định cư của Dự Án Nhà máy nhiệt điện Hải Dương
Tìm hiểu những nhân tố kinh tế - xã hội làm thay đổi mức sống của cộng đồng dân cư sau khi thu hồi đất
- Đề xuất một số định hướng và giải pháp góp phần ổn định và nâng cao mức sống, phát triển sản xuất, đảm bảo cuộc sống vật chất và tinh thần cho người dân tái định cư
Trang 113 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Các vấn đề về việc làm, cơ cấu kinh
tế - xã hội, thu nhập, mức sống của người dân thuộc diện tái định cư trên địa bàn Huyện Kinh Môn – Tỉnh Hải Dương
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi về nội dung:
Phân tích, đánh giá về vấn đề liên quan tới việc di dân, tái định cư cho các hộ nông dân bị ảnh hưởng, về việc làm, thu nhập, cơ cấu kinh tế - lao động và mức sống của các hộ sau khi tái định cư trên địa bàn Huyện Kinh Môn – Tỉnh Hải Dương
Phạm vi về không gian: Ba xã Phúc Thành – Quang Trung – Lê Ninh
của Huyện Kinh Môn – Tỉnh Hải Dương
Phạm vi về thời gian: 2010 - 2012
4 Nội dung nghiên cứu
- Cơ sở lý luận và những khái niệm cơ bản về sự biến đổi mức sống của nhóm dân cư sau tái định cư
- Khảo sát và đánh giá đúng thực trạng mức sống của nhóm dân cư sau khi bị thu hồi đất
- Tìm hiểu những nhân tố kinh tế- xã hội làm thay đổi mức sống của cộng đồng dân cư sau khi bị thu hồi đất trên địa bàn Huyện Kinh Môn – Tỉnh Hải Dương
- Đưa ra những giải pháp, khuyến nghị nhằm ổn định và nâng cao chất lượng sống của nhóm dân cư sau khi bị hồi đất trên địa bàn Huyện Kinh Môn – Tỉnh Hải Dương
Trang 12Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TÁI ĐỊNH CƯ
1.1 Cơ sở lý luận về tái định cư
1.1.1 Một số khái niệm liên quan đến di dân, tái định cư
1.1.1.1 Vấn đề di dân
Di dân luôn diễn ra trong suốt tiến trình phát triển của loài người và lịch sử Trong xã hội cũ người ta di chuyển nhiều để tồn tại, dù trải qua nhiều hình thái kinh tế khác nhau, song di dân vẫn tồn tại và tiếp diễn theo thời gian
và không gian Di dân từ nông thôn ra thành thị ở những nước đang phát triển như Việt Nam đang diễn ra mạnh mẽ, đây không phải là hiện tượng mới dưới tác động của đô thị hóa, mà còn do các công trình kiến thiết nhằm phát triển
xã hội, xây dựng cầu đường, các Nhà máy xí nghiệp, các khu công nghiệp mọc lên hàng loạt Chính yếu tố đó là tiền đề dẫn đến việc di dân của con người trong thời đại phát triển ngày nay
Về mặt bản chất, di dân không phải là một hiện tượng sinh học như sinh đẻ mà nó là một quá trình, lặp đi lặp lại theo vòng đời của con người, đây
là hiện tượng căn bản để phân biệt di dân với các hiện tượng dân số khác Khi mức sinh thấp và hiện tượng già hóa dân số, thì nhu cầu nguồn nhân lực trẻ cần được duy trì và đáp ứng được nhu cầu của kinh tế, văn hóa, xã hội thì di dân và dịch chuyển dân số là hết sức cần thiết, giữ vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế, xã hội
Lý thuyết di dân của Ravenstein(1889) nói về quy luật di dân, Ông cho
rằng đa số di dân di chuyển ở phạm vi ngắn, một số sẽ di chuyển xa là di
chuyển đến các thành phố lớn Quá trình đô thị hóa, Các khu công nghiệp sẽ
thu hút dân số từ các vùng ngoại ô vào trung tâm Khoảng trống vùng ngoại ô
sẽ được lấp đầy cư dân vùng khác đến Cư dân ở trung tâm nhỏ sẽ chuyển đến
Trang 13trung tâm lớn hơn Cứ như vậy, quá trình di dân diễn ra theo nhiều giai đoạn
kế tiếp theo hướng di chuyển về trung tâm đô thị lớn Thông thường các trung tâm thương mại, công nghiệp lớn sẽ thu hút những vùng xung quanh và vùng
xa hơn Mỗi dòng di dân sẽ tạo ra dòng di dân ngược lại Mức di dân nông thôn có xu hướng cao hơn mức di dân ở các đô thị do Nhà nước và chính phủ đang có những chủ trương, chính sách nhằm phát triển nông thôn tương xứng với thành phố, các Huyện thị xã cũng có những chính sách thu hút đầu tư của các tập đoàn kinh tế lớn để phát triển quê hương vì thế vấn đề di dân nông thôn cũng đang diễn ra rất phổ biến và mạnh mẽ
Lý thuyết di dân của Hawley (1950) thì cho rằng áp lực về đất nông nghiệp tác động đến vấn đề di cư Đất nông nghiệp là một nhân tố quan trọng thúc đẩy di dân không ngừng nghỉ, và cho đến thời đại công nghiệp bây giờ thì việc tìm kiếm đất sản xuất nông nghiệp là nguyên nhân lớn nhất của di cư Mật độ dân số cao làm giảm đất nông nghiệp bình quân đầu người, vì thế làm giảm mức cung cấp lương thực và việc làm của dân cư Ngược lại mật độ dân
số thấp cung cấp nhiều cơ hội kinh tế và lợi ích dân cư, chính những yếu tố này là nhân tố “hút” và “đẩy” Thúc đẩy di cư từ nơi có mật độ dân số cao đến nơi có mật độ dân số thấp
Lý thuyết của Lee (1966) cho rằng quyết định di dân được dựa trên bốn nhóm nhân tố - Các nhân tố gắn bó với nơi ở gốc
- Các yếu tố gắn với nơi sẽ đến
- Các trở ngại di cư
- Các nhân tố thuộc về người di cư Mỗi một địa điểm, nơi gốc và nơi đến đều có những ưu điểm và hạn chế trên nhiều lĩnh vực như thu nhập, việc làm, nhà ở, phúc lợi xã hội, giáo dục, chăm sóc sức khỏe, thậm chí là khí hậu…sẽ được người định cư cân nhắc Thông thường, các điều kiện kinh tế khó khăn ở nơi gốc là nhân tố
Trang 14“đẩy” chủ yếu của việc xuất cư, trong khi cải thiện điều kiện kinh tế của nơi đến là nhân tố “hút” quan trọng nhất của việc nhập cư Việc đưa ra quyết định định cư còn được tính toán dựa trên các chi phí vật chất và tinh thần, mà khoảng cách địa lí là một vấn đề quan trọng nhất vì điều này không chỉ tăng chi phí vận chuyển mà còn tăng các chi phí vô hình do phải đối mặt với môi trường xa lạ, khó hội nhập Cuối cùng việc di cư phụ thuộc vào những phẩm chất cá nhân của từng người, điều này nhà nghiên cứu thường gọi là tính chọn lọc di cư (migration selectivity) Lý thuyết của Lee là rất có ích cho việc
nghiên cứu nhân tố vĩ mô và cả vi mô của di cư [Lê Thanh Sang, 2008]
Di dân trở thành một lĩnh vực được quan tâm của viện nghiên cứu phát triển xã hội Trong nghiên cứu này, những người di cư được đề cập đến như một trong các nhóm thiệt thòi và cần được bảo trợ tốt hơn, lý thuyết di dân đã chỉ ra tầm quan trọng tương đối của hình thái di chuyển khác nhau tương ứng với trình độ phát triển của xã hội
Từ những lý thuyết về di dân của các Nhà Khoa học nghiên cứu ta có thể hiểu đơn giản khái niệm di dân
- Theo nghĩa rộng: Di dân là sự chuyển dịch bất kỳ của con người trong một không gian và thời gian nhất định kèm theo sự thay đổi nơi cư trú tạm thời hay vĩnh viễn
- Theo nghĩa hẹp: Di dân là sự di chuyển dân cư từ một đơn vị lãnh thổ này đến một đơn vị lãnh thổ khác, nhằm thiết lập một nơi cư trú mới trong một khoảng thời gian nhất định
Có thể khái quát di dân là sự di chuyển dân cư từ địa điểm này sang địa điểm khác, đó là một hiện tượng xã hội xảy ra trong suốt quá trình phát triển lịch sử của nhân loại dưới tác động của những nguyên nhân kinh tế, xã hội khác nhau qua các thời kỳ
Trang 15Di dân làm ảnh hưởng đến các vấn đề về dân số, kinh tế, xã hội, môi trường Xét trên góc độ toàn thế giới thì di dân không làm ảnh hưởng đến số lượng dân số nói chung, nhưng đối với từng nước từng quốc gia và khu vực thì nó lại tác động không nhỏ Di dân ảnh hưởng trực tiếp đến quy mô dân số,
sự chuyển dịch của một bộ phận dân cư sẽ làm cho quy mô dân số và sức ép dân số tại nơi đó giảm và ngược lại, Nó tác động không nhỏ trong việc phân
bố lại lực lượng sản xuất, nguồn lao động theo lãnh thổ và khu vực kinh tế
Từ những lý thuyết và phân tích thực tế thì việc di dân có nhiều loại hình nhưng theo tính chất di dân có hai loại là di dân tự nguyện và di dân ép buộc
Di dân tự nguyện là trường hợp người dân di chuyển tự nguyện theo đúng mong muốn và yêu cầu của mình
Di dân ép buộc diễn ra trái với nguyện vọng của dân, không như mình mong muốn xảy ra
Theo đặc trưng thì cũng có 2 loại là di dân tự phát và di dân có tổ chức
Di dân tự phát là hình thức di dân mang tính cá nhân do bản thân người di chuyển hoặc bộ phận gia đình quyết định, không có và không phụ thuộc vào
kế hoạch và sự hỗ trợ của nhà nước và các cấp chính quyền
Di dân có tổ chức là hình thức di chuyển dân cư theo kế hoạch và các chương trình, dự án do nhà nước, chính quyền các cấp vạch ra, tổ chức và chỉ đạo thực hiện với sự tham gia của các tổ chức đoàn thể xã hội
Với Việt Nam công tác di dân được thiết lập trên cơ sở các hoạch định chính sách của Nhà Nước, thông qua các chương trình dự án nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng
Đề tài nghiên cứu sẽ đề cập đến tình trạng di dân có tổ chức, đó là di dân
để xây dựng Nhà máy Nhiệt điện Hải Dương, phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội
Trang 161.1.1.2 Tái định cư
Tái định cư là vấn đề chung của các quốc gia, đặc biệt là các quốc gia
đã và đang phát triển theo quy luật chung của loài người Đây là điều tất yếu của quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa mà Việt Nam cũng không nằm ngoài quy luật chung đó khi đất nước ta đang trong thời kỳ phát triển đi lên theo đường lối lãnh đạo của Đảng và Nhà nước thực hiện chủ chương xây dựng Đất Nước theo Chủ nghĩa Xã Hội Cần có kiến trúc thượng tầng và cơ
sở vững chắc thành một hệ thống như một bộ xương khổng lồ để có thể đưa nước ta hòa nhập và phát triển cùng với các cường quốc khác trên thế giới Chính vì thế mà ngày càng nhiều dự án đầu tư được triển khai trên các lĩnh vực cần có mặt bằng rộng lớn, phải trưng thu đất đai để giải phóng mặt bằng; các dự án xây dựng các công trình giao thông, thủy lợi, các khu công nghiệp,
du lịch, bến cảng đặc biệt là các khu tái định cư, khu dân cư mới, các dự án xây dựng công trình Nhà máy Nhiệt điện… điều này kéo theo vấn đề phải tái định cư ổn định nơi ăn, chỗ ở công việc cho hàng trăm người và thay đổi cuộc sống vốn có của họ
Tái định cư hiểu theo nghĩa rộng là mọi ảnh hưởng, tác động tới tài sản
và tới cuộc sống của những người bị mất tài sản hoặc nguồn thu nhập do dự
án phát triển gây ra, bất kể họ có phải di chuyển hay không
Theo nghĩa hẹp thì tái định cư chỉ là sự di chuyển của các hộ bị ảnh hưởng tới định cư ở nơi ở mới
1.1.2 Chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cho các hộ nông dân có đất bị thu hồi
Ở nước ta, các quy định của pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư ngày càng phù hợp hơn với yêu cầu của thực tế cũng như yêu cầu của các quy luật kinh tế Quan tâm tới lợi ích của những người bị thu hồi đất, Nghị định 197/2004/NĐ-CP sau một thời gian thực hiện, đặc biệt là sau sự ra đời của
Trang 17NĐ 84/2007/NĐ-CP đã thể hiện được tính khả thi và vai trò tích cực của các văn bản pháp luật Vì thế, công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trong thời gian qua đã đạt được các kết quả khá khả quan, thể hiện trên một số khía cạnh chủ yếu sau:
Thứ nhất, đối tượng được bồi thường, hỗ trợ, tái định cư ngày càng được xác định đầy đủ chính xác, phù hợp với tình hình thực tế của đất nước, giúp cho công tác quản lý đất đai của Nhà nước được nâng cao, người nhận đền bù cũng thấy thỏa đáng
Thứ hai, mức bồi thường hỗ trợ ngày càng cao tạo điều kiện cho người dân bị thu hồi đất có thể khôi phục lại tài sản bị mất Một số biện pháp hỗ trợ
đã được bổ sung và quy định rất rõ ràng, thể hiện được tinh thần đổi mới của Đảng và Nhà nước nhằm giúp cho người dân ổn định về đời sống và sản xuất Thứ ba, việc bổ sung quy định về quyền tự thỏa thuận của các nhà đầu tư cần đất với người sử dụng đất đã góp phần giảm sức ép cho các cơ quan hành chính trong việc thu hồi đất
Thứ tư, trình tự thủ tục tiến hành bồi thường hỗ trợ tái định cư đã giải quyết được nhiều khúc mắc trong thời gian qua, giúp cho các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện công tác bồi thường, tái định cư đạt hiệu quả Thứ năm, các địa phương bên cạnh việc thực hiện các quy định Luật đất đai năm 2003, các Nghị định hướng dẫn thi hành, đã dựa trên sự định hướng chính sách của Đảng và Nhà nước, tình hình thực tế tại địa phương để ban hành các văn bản pháp luật áp dụng cho địa phương mình, làm cho công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được thực hiện hợp lý và đạt hiệu quả cao hơn Chẳng hạn như: Quyết định 143/QĐ-UB sửa đổi bổ sung một số vấn đề
về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của UBND Thành phố Hồ Chí Minh ngày 15/08/2007; Quyết định số 80/2005/QĐ-UB của UBND thành phố Hà Nội,
QĐ 40/2009 của UBND tỉnh Hải Dương, QĐ 30/2011 UBND tỉnh HD thay
Trang 18thế cho quyết định 30/2010 của UBND tỉnh Hải Dương…Do đã vận dụng các chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư thỏa đáng nên việc thu hồi đất tiến hành bình thường, mặc dù vẫn còn những khiếu nại nhưng con số này ít và không gây trở ngại đáng kể trong quá trình thực hiện
Thứ sáu, nhận thức về tầm quan trọng, ý nghĩa nhân văn cũng như tính chất phức tạp của vấn đề thu hồi đất, tái định cư của các nhà quản lý, hoạch định chính sách, của chính quyền địa phương được nâng lên Chính phủ đã có nhiều nỗ lực để tạo điều kiện vật chất và kỹ thuật trong việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
Đội ngũ cán bộ làm công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư có năng lực
và có nhiều kinh nghiệm ngày càng đông đảo; sự chia sẻ kinh nghiệm thực tiễn của công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư giữa các bộ, ban, ngành có các dự án đầu tư ngày càng được mở rộng và có hiệu quả
Nhờ những cải thiện quy định pháp luật về phương pháp tổ chức, về năng lực cán bộ thực thi giải phóng mặt bằng, tiến độ giải phóng mặt bằng trong các dự án đầu tư gần đây đã được rút ngắn hơn so với các dự án cũ, góp phần giảm bớt tác động tiêu cực đối với người dân cũng như đối với dự án Việc thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đã giúp cho đất nước
ta xây dựng cơ sở vật chất, phát triển kết cấu hạ tầng, xây dựng khu chế xuất, khu công nghiệp, khu công nghệ cao, các dự án trọng điểm của Nhà nước, cũng như góp phần chuyển đổi cơ cấu nền kinh tế, ổn định đời sống sản xuất cho người có đất bị thu hồi
Tuy nhiên, bên cạnh những thành công đó chúng ta cũng còn những tồn tại, vướng mắc khi tiến hành bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, trong đó đặc biệt
là vấn đề giá đền bù, gây những tác động tiêu cực đối với thị trường bất động sản
Trang 191.2 Chính sách về tái định cư không tự nguyện của Ngân hàng Thế giới
Chính sách an toàn xã hội của NHTG bao gồm Chính sách hoạt động (OP) 4.12 về Tái định cư không tự nguyện và OP 4.10 về Người bản địa Những chính sách này mô tả mục tiêu và các hướng dẫn cần phải tuân thủ trong những trường hợp có thu hồi đất không tự nguyện, hạn chế không tự nguyện việc tiếp cận hay sử dụng các nguồn tài nguyên, hoặc các khu vực được bảo vệ nghiêm ngặt, và trường hợp có liên quan tới người dân tộc thiểu
số Mục đích của Chính sách hoạt động OP 4.12 là nhằm tránh tái định cư không tự nguyện tới mức có thể, hoặc giảm thiểu những tác động bất lợi về xã hội và kinh tế do tái định cư không tự nguyện gây nên OP 4.12 khuyến khích
sự tham gia của những người BAH trong quá trình lập kế hoạch và thực hiện tái định cư Mục tiêu kinh tế chính của chính sách này là hỗ trợ những người BAH cùng với các nỗ lực của họ để cải thiện hoặc ít nhất khôi phục thu nhập
và mức sống sau khi di dời Chính sách còn quy định việc bồi thường và những biện pháp tái định cư khác để đạt được các mục tiêu mà chính sách đề
ra cũng như yêu cầu bên vay chuẩn bị các công cụ tái định cư phù hợp trước khi NHTG thẩm định dự án được đề xuất
Để chuẩn bị và thực hiện các hoạt động thu hồi đất, bồi thường và TĐC, chính sách của NHTG yêu cầu thực hiện tham vấn chặt chẽ với người
bị ảnh hưởng và giảm thiểu những tác động tiêu cực tiềm tàng đến người dân, trong đó có chú ý tới các vấn đề về DTTS, giới và những nhóm dễ bị tổn thương khác Đồng thời, các chính sách cũng quy định việc phổ biến thông tin cho người BAH, giám sát và đánh giá việc thực hiện bồi thường và TĐC
1.3 Sự cần thiết của tái định cư trong việc ổn định và nâng cao mức sống cho các hộ dân
Tái định cư giúp cho người dân ổn định nơi ăn chỗ ở, An cư mới lập nghiệp
Trang 20Khi mất đất họ phải thay đổi môi trường sống vốn có mà từ trước tới nay họ đã tồn tại và sinh sống, nhưng do tác động của các Dự án mà họ phải chấp nhận di dời từ nơi chôn rau cắt rốn để đến một nơi mới và họ hi vọng một tương lai tốt đẹp hơn chuyển đổi cơ cấu kinh tế từ Nông nghiệp sang Công nghiệp – Dịch vụ Vì thế chỗ ở mới chính là điều kiện cần để họ có thể
ổn định cuộc sống, tập trung vào công việc Các điều kiện ban đầu như kinh
tế, văn hóa giáo dục, y tế ở nơi tái định cư phải đáp ứng kịp thời và đầy đủ, cho con cái họ không phải bỏ bê học hành, và được chăm sóc với các dịch vụ
y tế cộng đồng tốt nhất
Về cơ bản nước ta vẫn là một nước nông nghiệp, với 70% dân số sống
ở nông thôn, nhưng diện tích đất cho sản xuất nông nghiệp rất hạn chế và đang có xu hướng giảm dần Đời sống của nông dân vẫn rất bấp bênh Làm gì
và làm như thế nào để họ ổn định và vươn lên làm giàu, nhất là những nơi đông đảo nông dân thuộc diện thu hồi đất phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa?
Việt Nam có khoảng hơn 9 triệu ha đất nông nghiệp, trong đó có hơn 4 triệu ha đất trồng lúa, bình quân mỗi nông dân có khoảng 480m2 đất canh tác Trong những năm qua nhiều diện tích đất đã chuyển đổi làm khu công nghiệp 80% trong số đó là đất nông nghiệp Khoảng 50% diện tích bị thu hồi là những khu vực đất màu mỡ trồng hai vụ lúa, một vụ màu một năm và nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Vài năm gần đây xuất hiện tình trạng các tỉnh đua nhau làm sân gôn Đến nay cả nước đã có 141 sân gôn ở 39 tỉnh, thành phố, sử dụng tới 49.268ha đất, trong đó có 2.625ha đất trồng lúa Việc thu hồi đất nông nghiệp đã tác động đến đời sống của gần một triệu hộ gia đình với khoảng hơn 3 triệu người
Kết quả điều tra tình hình ruộng đất của nông dân tại 12 tỉnh trên cả nước doViện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương và Trường Đại học Cô-
Trang 21pen-ha-ghen (Đan Mạch) cho thấy, có tới 6% số hộ nông dân không hề có mảnh đất nông nghiệp nào trong nhiều năm như: Đắk Lắk gần 9% số hộ, Long An 9,4% và Khánh Hòa là 18,4% số hộ không có đất nông nghiệp Tỷ
lệ hộ nông dân không có đất 6% thấp hơn nhiều so với tỷ lệ hộ mất đất 14% là một thực tế đáng lo ngại
Quá trình thu hồi đất nông nghiệp, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách cụ thể đối với người nông dân như bồi thường,
hỗ trợ giải quyết việc làm, đào tạo chuyển đổi nghề, hỗ trợ tái định cư Tuy nhiên, trên thực tế có tới 67% số lao động nông nghiệp vẫn đang giữ nguyên nghề cũ sau khi bị thu hồi đất, 13% chuyển sang nghề mới và có tới 25% đến 30% số lao động không có việc làm hoặc có việc làm không ổn định Thực trạng này dẫn đến kết quả là 53% số hộ nông dân bị thu hồi đất có thu nhập giảm so với trước kia, chỉ có 13% số hộ có thu nhập khá hơn trước Trung bình mỗi hộ bị thu hồi đất có 1,5 lao động rơi vào tình trạng không có việc làm và mỗi ha đất bị thu hồi sẽ làm mất việc của 13 lao động Trong nhóm lao động bị thu hồi đất chỉ có khoảng 27% đã tốt nghiệp phổ thông, 14% được đào tạo nghề ngắn hạn Đặc biệt là, số lao động đã quá tuổi tuyển dụng (trên
35 tuổi) chiếm rất đông và hầu như không có cơ hội tìm được việc làm Ngoài
ra, một bộ phận không nhỏ nông dân vẫn còn trông chờ, ỷ lại vào chính sách đền bù mà chưa cố gắng vượt khó khăn tự tìm kiếm việc làm
Nhiều người dân những tưởng sau khi “nhường” ruộng cho các nhà máy, các khu công nghiệp thì đời sống con cháu mình sẽ khá hơn Nhưng trên thực tế là, vừa mất đất thì kéo theo thất nghiệp, đói nghèo, tệ nạn xã hội đã và đang làm cho nhiều gia đình lâm vào cảnh khốn đốn, nhiều người phải rời bỏ quê hương kiếm sống Nhiều hộ gia đình nông dân “ôm” tiền đền bù mà không biết làm gì để sống Vài năm sau, khoản tiền ít ỏi ấy cứ vơi dần nên phải đi làm thuê, làm mướn, sống cầm chừng Cùng với việc mở rộng, phát
Trang 22triển các khu công nghiệp, nhiều nông dân mất đất, thiếu việc làm, hệ lụy là các vấn đề xã hội phức tạp nảy sinh nhức nhối, đáng lo ngại nhất là tầng lớp thanh niên rất dễ bị lôi kéo vào những cám dỗ của các tệ nạn xã hội
Làm thế nào để người nông dân sau khi bị thu hồi đất có cuộc sống ổn định và từng bước vươn lên làm giàu?
Chính phủ ban hành Nghị định số 02/2010/NĐ-CP về khuyến nông Nghị định này nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của nông dân, tăng thu nhập, thoát đói nghèo vươn lên làm giàu thông qua các hoạt động đào tạo cho nông dân về kỹ năng, về cung ứng dịch vụ, sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả cao, thích ứng với các điều kiện sinh thái, khí hậu và thị trường Nghị định chỉ rõ: Nhà nước sẽ bồi thường và tập huấn cho người sản xuất về chính sách, pháp luật; tập huấn truyền nghề cho nông dân trong các lĩnh vực khuyến nông thông qua các hình thức: mô hình trình diễn; tổ chức các lớp học ngắn hạn, gắn lý thuyết với thực hành; thông qua các phương tiện truyền thông, như: báo chí, tờ rơi, tài liệu; qua chương trình đào tạo từ xa trên truyền hình, truyền thanh; xây dựng các kênh truyền hình dành riêng cho nông nghiệp, nông dân, nông thôn; ưu tiên dành thời lượng cho đào tạo nông dân trên truyền hình, qua trang thông tin điện tử khuyến nông trên internet; tổ chức khảo sát, học tập trong và ngoài nước Nghị định cũng quy định, việc đào tạo nông dân và đào tạo cán bộ hoạt động khuyến nông do giảng viên nòng cốt là các chuyên gia, cán bộ khuyến nông có trình độ đại học trở lên, các nông dân giỏi; các cá nhân điển hình tiên tiến có nhiều kinh nghiệm trong sản xuất kinh doanh, có đóng góp, cống hiến cho xã hội, cộng đồng, đã qua đào tạo về kỹ năng khuyến nông Ngoài ra, người nông dân còn được tư vấn
về chính sách và pháp luật liên quan đến phát triển nông nghiệp, nông thôn; ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ, tổ chức, quản lý để nâng cao năng suất, chất lượng, an toàn vệ sinh thực phẩm, giảm giá thành, nâng cao sức
Trang 23cạnh tranh của sản phẩm, trang bị cho chủ trang trại, chủ doanh nghiệp vừa và nhỏ về lập dự án đầu tư, tìm kiếm mặt bằng sản xuất, huy động vốn, tuyển dụng và đào tạo lao động, lựa chọn công nghệ, tìm kiếm thị trường; hợp đồng tiêu thụ sản phẩm; hợp đồng bảo hiểm sản xuất kinh doanh và cung ứng vật tư nông nghiệp
Nghị định thực sự là chỗ dựa quan trọng giúp nông dân sớm được tiếp xúc với các lớp bồi dưỡng, tập huấn về chính sách, pháp luật, tập huấn, truyền nghề trong các lĩnh vực khuyến nông Nhưng, để chính sách của Nhà nước thực sự đi vào cuộc sống rất cần sự năng động và sự vào cuộc tích cực của các cấp, các ngành, các địa phương
1.4 Vai trò của các công ty và chính quyền địa phương trong việc di dân, tái định cư
Công ty, Doanh nghiệp chính là chủ đầu tư của các Dự án liên quan đến việc thu hồi đất xây dựng cơ sở hạ tầng, thu hồi và giải phóng mặt bằng Trước khi xây dựng các dự án mà phải thu hồi diện tích đất ở của các hộ dân đang sinh sống trên địa bàn có dự án phải quy hoạch, trong từng dự án cụ thể: Chủ đầu tư phải lập phương án tái định cư cho những hộ thuộc đối tượng phải
di dời chỗ ở gồm các nội dung:
+ Số hộ gia đình, cá nhân bố trí đất tái định cư (theo từng đối tượng), gồm: số hộ tái định cư trên phần đất còn lại, số hộ tự tìm đất làm nhà ở
+ Diện tích đất được giao cho từng hộ gia đình, cá nhân, trong đó chia ra: diện tích đất ở (đất tái định cư); diện tích đất ở được bồi thường để thay thế đất sản xuất nông nghiệp, đất vườn, ao liền kề đất ở bị thu hồi;
+ Giá đất tái định cư; giá bán nhà ở, giá cho thuê nhà ở thuộc sở hữu nhà nước (nếu có); mức hỗ trợ chênh lệch tiền sử dụng đất tái định cư, diện tích đất tái định cư được tính hỗ trợ cho từng hộ gia đình và tổng hợp chung của dự án
Trang 24+ Số tiền sử dụng đất do người được giao đất phải nộp; số tiền chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất đai phải nộp theo quy định của pháp luật;
dự kiến số thu tiền sử dụng đất tái định cư; tiền bán nhà tái định cư (nếu có);
+ Chính sách hỗ trợ tại nơi ở mới (nơi tái định cư)
- Phải có Phương án giao đất sản xuất nông nghiệp cho các hộ tái định
cư (nếu có) theo quỹ đất của địa phương, đối với vùng dự án thủy lợi, thủy điện phải có phương án định canh, định cư
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm lập và thực hiện các dự án tái định cư để bảo đảm phục vụ tái định cư cho người bị thu hồi đất phải di chuyển chỗ ở
Chính quyền địa phương giúp cho người dân lắm rõ luật, giải quyết và làm dung hòa các mâu thuẫn có thể xảy ra đối với người dân và chủ đầu tư, giúp cho người dân hiểu quyền lợi và nghĩa vụ của mình,
* Quyền:
- Đăng ký đến ở nơi tái định cư bằng văn bản;
- Được ưu tiên đăng ký hộ khẩu cho bản thân, các thành viên khác trong gia đình về nơi ở mới và được ưu tiên chuyển trường cho các thành viên trong gia đình trong độ tuổi đi học;
- Được từ chối vào khu tái định cư nếu khu tái định cư không đảm bảo các điều kiện như đã thông báo và niêm yết công khai;
- Được cung cấp mẫu thiết kế nhà miễn phí
Bên cạnh đó phải thực hiện Nghĩa vụ:
- Thực hiện di chuyển vào khu tái định cư theo đúng thời gian theo quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;
- Xây dựng nhà, công trình theo đúng quy hoạch và thực hiện các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật;
- Nộp tiền mua nhà ở hoặc tiền sử dụng đất theo quy định của pháp luật
Trang 251.5 Tình hình nghiên cứu, giải quyết các vấn đề tái định cư
Các công trình đã nghiên cứu về vấn đề liên quan đến luận văn
Trong những năm vừa qua, do yêu cầu của cả lý luận và thực tiễn, đã có một số công trình nghiên cứu trên các phương diện khác nhau về di dời, giải tỏa và TĐC Có thể điểm qua một số công trình tiêu biểu như sau:
- Thứ nhất: "Tái định cư trong các dự án phát triển: chính sách và thực tiễn" (TS Phạm Mộng Hoa - TS Lâm Mai Lan, Nxb Khoa học xã hội, Hà
Nội, 2000)
Với công trình này, các tác giả đã tập trung trình bày nội dung của các Nghị định, Thông tư quy định về mặt pháp lý đối với việc đền bù, giải tỏa và trách nhiệm của Nhà nước đối với người bị thu hồi đất; đồng thời chỉ ra những khiếm khuyết và hạn chế của chính sách hiện hành trên cơ sở so sánh
sự khác biệt giữa chính sách TĐC của Việt Nam với chính sách TĐC của các
tổ chức quốc tế Ngoài ra, tác giả cũng đề xuất, kiến nghị, bổ sung và điều chỉnh những chính sách hiện hành, làm cho những chính sách này phù hợp với yêu cầu thực tiễn
Thứ hai: "Chính sách di dân châu Á" (Dự án VIE/95/ 2004 Nxb Nông
nghiệp - Hà Nội, 1998).Trong công trình này đã có nhiều bài viết đề cập ở những góc độ khác nhau của việc di dời, giải toả,di dân TĐC tác giả bàn đến thực trạng công tác TĐC hiện nay ở nước ta và tập trung trình bày những nội dung chính của các văn bản pháp lý liên quan đến đền bù và TĐC
Tiếp theo, bài viết "Di dân nhập cư với vấn đề phát triển một đô thị mới như thành phố Hồ Chí Minh", tác giả Lê Văn Thành bước đầu đề cập đến
những khó khăn, thiệt thòi về việc làm mà người dân TĐC phải đương đầu
- Thứ ba: "Tình hình thực hiện chính sách đền bù, TĐC và khôi phục cuộc sống cho những người bị ảnh hưởng bởi các dự án đầu tư phát triển tại các
đô thị và khu công nghiệp" (Trần Xuân Quang, Hà Nội, 8/1997)
Trang 26Đây là công trình đã khá thành công trong việc đưa ra những đánh giá có tính khái quát về tình hình thực hiện các chính sách đền bù, TĐC cho những người dân bị ảnh hưởng bởi các dự án
- Thứ tư: "Tái định cư bắt buộc” (Ngân hàng Phát triển châu Á,1995)
Trong tài liệu này,TĐC bắt buộc được xác định là chính sách đền bù và hỗ trợ
ổn định lại cuộc sống
Mục tiêu đặt ra cho việc TĐC là phải đảm bảo sau khi TĐC, những người
bị ảnh hưởng bởi dự án ít nhất đạt tới mức sống như họ lẽ ra có được nếu không có dự án
- Thứ năm: “Hiện trạng và triển vọng cải thiện nhà ở, mức sống, môi trường sống của người nghèo đô thị - trường hơp Thành phố Hồ Chí Minh”
(chủ nhiệm đề tài: GS.Tương Lai-1994).Với phương pháp điều tra Xã hội học, các tác giả đã thành công trong việc mô tả, đánh giá mức sống của nhóm người nghèo đô thị
- Thứ sáu: "Giải pháp để phát triển sản xuất cho bản Vân Kiều ở khu TĐC
xã Xuân Lộc-huyện Phú Lộc” (Trần Hữu Toàn và Mai Văn Xuân, đăng trên
tap chí Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) Từ thực trạng người dân TĐC gặp khó khăn trong phát triển sản xuất, các tác giả đã khuyến nghị các giải pháp để giải quyết vấn đề này
Tình hình thực tế trên thế giới và trong nước
Trên thế giới
TRUNG QUỐC
Ở Trung Quốc, có thể nói, mục tiêu bao trùm lên chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư là hạn chế đến mức tối đa việc thu hồi đất, giải tỏa mặt bằng, cũng như số lượng người bị ảnh hưởng bởi việc thu hồi đất để thực hiện dự án đầu tư Nếu như việc thu hồi đất là không thể tránh khỏi thì có sự chuẩn bị cẩn thận phương án đền bù, trên cơ sở tính toán đầy đủ lợi ích của nhà nước,
Trang 27tập thể và cá nhân, đảm bảo cho những người bị thu hồi đất có thể khôi phục lại hoặc cải thiện mức sống so với trước khi bị thu hồi đất
Theo quy định của pháp luật Trung Quốc, khi Nhà nước thu hồi đất thì người nào sử dụng đất sau đó sẽ có trách nhiệm bồi thường Người bị thu hồi đất được thanh toán ba loại tiền: tiền bồi thường đất đai, tiền trợ cấp về tái định cư, tiền trợ cấp bồi thường hoa màu trên đất Cách tính tiền bồi thường đất đai và tiền trợ cấp tái định cư căn cứ theo tổng giá trị tổng sản lượng của đất đai những năm trước đây rồi nhân với hệ số Tiền bồi thường cho hoa màu, cho các loại tài sản trên đất được tính theo giá cả hiện tại
Mức bồi thường cho giải tỏa mặt bằng được thực hiện theo nguyên tắc đảm bảo cho người dân có cuộc sống bằng hoặc cao hơn nơi ở cũ Việc quản lý giải phóng mặt bằng được giao cho các cục quản lý tài nguyên đất đai ở địa phương đảm nhiệm Tổ chức, cá nhân được quyền sử dụng thửa đất nào sẽ trả tiền thuê một đơn vị xây dựng giải tỏa mặt bằng
Để giải quyết nhà ở cho người dân khi giải phóng mặt bằng, phương thức chủ yếu của Trung Quốc là trả tiền và hỗ trợ bằng cách tính ba khoản sau: Một là, giá cả xây dựng lại, chênh lệch giữa giá xây dựng lại nhà mới và nhà cũ; Hai là, giá đất tiêu chuẩn; Ba là, trợ cấp về giá cả Ba khoản này cộng lại
là tiền bồi thường về nhà ở
Việc bồi thường nhà ở cho dân ở thành phố khác với việc bồi thường cho dân ở nông thôn, bởi có sự khác nhau về hình thức sở hữu đất đai ở thành thị
và nông thôn Đối với nhà ở của người dân thành phố, nhà nước bồi thường bằng tiền là chính, với mức giá do thị trường bất động sản quyết định qua các
tổ chức trung gian để đánh giá, xác định giá Với người dân nông thôn, nhà nước thực hiện theo những cách thức rất linh hoạt, theo đó, mỗi đối tượng khác nhau sẽ có cách bồi thường khác nhau: tiền bồi thường về sử dụng đất đai; tiền bồi thường về hoa màu; bồi thường tài sản tập thể
Trang 28Theo đánh giá của một số chuyên gia tái định cư, sở dĩ Trung Quốc có những thành công nhất định trong công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư là
do thứ nhất, đã xây dựng các chính sách và thủ tục rất chi tiết, ràng buộc đối với các hoạt động tái định cư, đảm bảo mục tiêu tạo cơ hội phát triển cho người dân tái định cư, tạo các nguồn lực sản xuất cho những người tái định
cư Thứ hai, năng lực thể chế của các chính quyền địa phương khá mạnh Chính quyền cấp tỉnh chịu trách nhiệm hoàn toàn trong việc thực hiện chương trình bồi thường hỗ trợ tái định cư Thứ ba, quyền sở hữu đất tập thể làm cho việc thực hiện bồi thường hỗ trợ tái định cư có nhiều thuận lợi, đặc biệt là ở nông thôn Tiền đền bù cho đất đai bị mất không trả cho từng hộ gia đình mà được cộng đồng sử dụng để tìm kiếm, phát triển đất mới hoặc mua của các cộng đồng sở tại hay dùng để phát triển kết cấu hạ tầng Chính quyền thôn, xã chịu trách nhiệm phân chia cho các hộ bị ảnh hưởng
Bên cạnh những thành công như vậy, chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của Trung Quốc cũng bộc lộ những tồn tại nhất định mà chủ yếu là vấn đề việc làm; tốc độ tái định cư chậm, thiếu đồng bộ, thực hiện giải phóng mặt bằng trước khi xây xong nhà tái định cư các công trình xây dựng lớn có ảnh hưởng đến quá trình tái định cư, di dân của người dân Trung Quốc như xây dựng các đập lớn Đập Tam Hiệp là một minh chứng cụ thể
Đập Tam Hiệp được hoàn thành xây dựng vào tháng 7 vừa qua khi tua bin cuối cùng hòa lưới điện quốc gia và công trình này đạt công suất tối đa 22,5 gigawatt, nhiều hơn tổng sản lượng điện của Pakistan hay Thụy Sĩ
Trong quá trình xây dựng con đập cao 181m trên tại sông Dương Tử ở tỉnh
Hồ Bắc, miền Trung Trung Quốc, giới chức nước này đã di dời, tái định cư 1,3 triệu người sống trong khu vực dự định xây thành lòng hồ rộng 1.045km2
– tức rộng hơn diện tích Singapore
Trang 29Trung Quốc đã di dời, tái định cư 1,3 triệu dân trong suốt 17 năm thi công đập Tam Hiệp Sau khi dự án 59 tỉ USD này hoàn thành, hàng chục nghìn người buộc phải dời đi lần thứ hai vì nguy cơ sạt lở đất dọc bờ đập
Đó là lời nhắc nhở về những thách thức về môi trường và xã hội mà dự
án thủy điện lớn nhất thế giới này đặt ra Dù dự án chỉ vấp phải sự phản đối yếu ớt của những người dân buộc phải di dời, tái định cư lần thứ hai, nhưng những hệ lụy về môi trường của nó cũng như các dự án đầu tư khổng lồ khác tại Trung Quốc đã trở thành vấn đề nóng trước thềm cuộc chuyển giao quyền lực quan trọng vào cuối năm nay
Giờ đây, 30.000 người trong số tái định cư của Đập Tam Hiệp lại phải chuyển tới một nơi tái định cư mới vì những rủi ro về địa chất 10.000 người khác có thể cũng phải tái di dời trong vòng 3-5 năm nữa vì lý do tương tự - Đài truyền thanh Trung Quốc dẫn lời ông Liu Yuan, một quan chức Bộ Đất đai nước này, đưa tin
Ngoài việc người dân bị di dời, tái định cư, công trình thủy điện lớn nhất thế giới còn bị chỉ trích vì nguồn nước ô nhiễm Hàng trăm nhà máy, hầm mỏ và cống xả nước thải đã xuất hiện dọc theo lòng hồ Tam Hiệp cùng với tốc độ đô thị hóa tăng nhanh Theo tổ chức Sông ngòi quốc tế - một tổ chức phi chính phủ đặt tại California (Mỹ), lượng nước thải xả ra hồ Tam Hiệp đã tăng gấp đôi trong thời gian 2000-2005
“Sau khi đập Tam Hiệp được xây dựng, mức độ suy giảm chất lượng nước trở nên rất dễ nhận thấy và không thể đảo ngược quá trình này lại được…Dòng chảy bị chậm lại, vì vậy khả năng tự làm sạch của nó bị suy giảm”
Thái Lan
Ở Thái Lan, cũng giống như ở nhiều nước khác trong khu vực châu Á, quá trình đô thị hoá diễn ra nhanh chóng, mọi giao dịch về đất đai đều do cơ chế thị trường điều tiết Tuy nhiên, với những dự án do Chính phủ quản lý,
Trang 30việc đền bù được tiến hành theo trình tự: tổ chức nghe ý kiến người dân; định giá đền bù
Giá đền bù phụ thuộc vào từng khu vực, từng dự án Nếu một dự án mang tính chiến lược quốc gia thì nhà nước đền bù với giá rất cao so với giá thị trường Nhìn chung, khi tiến hành lấy đất của dân, nhà nước hoặc cá nhân đầu
tư đều đền bù với mức cao hơn giá thị trường
Hàn Quốc
Vào những năm 70 của thế kỷ trước, trước tình trạng di dân ồ ạt từ các vùng nông thôn vào đô thị, thủ đô Xơ-un đã phải đối mặt với tình trạng thiếu đất định cư trầm trọng trong thành phố Để giải quyết nhà ở cho dân nhập cư, chính quyền thành phố phải tiến hành thu hồi đất của nông dân vùng phụ cận Việc đền bù được thực hiện thông qua các công cụ chính sách như hỗ trợ tài chính, cho quyền mua căn hộ do thành phố quản lý và chính sách tái định cư Các hộ bị thu hồi đất có quyền mua hoặc nhận căn hộ do thành phố quản lý, được xây tại khu đất được thu hồi có bán kính cách Xơ-un khoảng 5 km Vào những năm 70 của thế kỷ trước, khi thị trường bất động sản bùng nổ, hầu hết các hộ có quyền mua căn hộ có thể bán lại quyền mua căn hộ của mình với giá cao hơn nhiều lần so với giá gốc
Tại Việt Nam
Tái định cư trong lịch sử nam tiến dưới chế độ phong kiến Việt Nam Trong lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam, ngoài chủ trương di dân nhằm phân bố lại lực lượng dân cư, đưa dân từ những vùng đông đúc hoặc dân không có ruộng đất lưu tán khắp nơi đến khai hoang lập thành làng xã mới, qua đó mở rộng diện tích canh tác, tăng thêm đơn vị hành chính, ổn định tình hình kinh tế xã hội trong phạm vi đồng bằng Bắc bộ, còn có những trường hợp di dân để mở rộng lãnh thổ, củng cố an ninh quốc phòng làm bàn đạp cho công cuộc mở cõi về phương Nam
Trang 31Trước đây khi xã hội chưa phát triển theo công nghiệp hóa hiện đại hóa, ông cha ta di dân đến những vùng đất màu mỡ, tạo được cuộc sống ấm lo hạnh phúc khi chuyển đến nơi ở mới, cơ sở hạ tầng còn lạc hậu, chủ yếu là khai phá ruộng làm nông nghiệp Nhưng họ lại thấy thỏa mãn với nơi ở mới
Còn giờ đây khi công nghệ đã phát triển, đất nước đổi mới đi lên theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa cơ sở vật chất hạ tầng khang trang và đầy đủ thì lại kéo theo những hậu quả của những cuộc suy thoái về đất, về môi trường như nước, không khí, rồi các tệ nạn xã hội Điều đó không thể tránh khỏi theo quy luật tự nhiên
Khi các dự án “treo” thì người dân lại có cuộc sống an cư lạc nghiệp, minh chứng rõ nhất ví dụ như:
TP.HCM Tại những khu vực này, người dân đã có sự “an cư lạc nghiệp”, thoát khỏ i những ngày sống trong tâm trạng ta ̣m bợ
Hình 1.1 ảnh vườn hoa lan sau khi dự án bị thu hồi
Ba ̀ Lê Thi ̣ Hoa (ngu ̣ khu phố 9, P.Hiê ̣p Bình Chánh, quâ ̣n Thủ Đức) chăm sóc vườn lan 500m2 của gia đình Trước đây nhà bà nằm trong khu quy hoa ̣ch “treo”, giờ đây quy hoa ̣ch được xóa nên gia đình yên tâm đầu
tư sản xuất
Trang 32Nhìn vườn lan của bà Lê Thị Hoa (khu phố 9, P.Hiệp Bình Chánh) đang rực rỡ khoe sắc, không ai nghĩ rằng trước đó nơi đây là vườn ổi ngập úng, bỏ hoang Anh Võ Lê Thanh Tuấn, con bà Hoa, cho biết: “Từ khi biết đất nằm trong khu quy hoạch dự án khu dân cư Hiệp Bình Chánh, nhà tôi bỏ hoang vườn ổi luôn Tới khi nghe xóa dự án, mẹ tôi mới bỏ tiền cải tạo đất, nâng nền, xây dựng hệ thống tưới tiêu và xây trụ trồng lan trên phần diện tích khoảng 2.000m2 Bây giờ lan đã ra hoa, kinh tế gia đình ngày một ổn định”
Trong khi quỹ nhà ở tái định cư cho những hộ dân bị giải tỏa trên địa bàn TP.HCM chỉ đáp ứng được 30% thì ngay bản thân những gia đình “may mắn được nhận căn hộ” cũng bức bối muốn bỏ đi vì không được quan tâm
Gia đình chị Trần Thị Hoa bị ảnh hưởng bởi dự án Tân Hóa - Lò Gốm
và được đưa về tái định cư (TĐC) ở khu Vĩnh Lộc B (H.Bình Chánh) hơn 1 năm Nhưng hôm chúng tôi ghé thăm, hộ khẩu nhà chị vẫn còn ở P.3, Q.11 Việc chứng nhận giấy tờ, kể cả lĩnh tiền trợ cấp và thuốc chữa bệnh cho mẹ già chị Hoa đều phải về lại Q.11
Hình 1.2: Chung cư TĐC Bắc Rạch Chiếc (Q.9)
Mặc dù có quy mô lớn, phục vụ cho những hộ dân bị giải tỏa bởi các
dự án trọng điểm của TP nhưng khu TĐC Vĩnh Lộc B mới đưa vào sử dụng khoảng 1 năm đã bắt đầu có dấu hiệu xuống cấp, đường dẫn vào khu chung
cư bị băm nát, chưa có chợ, bệnh viện
Trang 33Tình trạng xuống cấp cũng diễn ra mấy năm nay tại khu TĐC Lý Chiêu Hoàng (Q.Bình Tân) Ông Trần Cường, Tổ trưởng lô A, KP.5, P.An Lạc cho biết, một số cửa sổ bị rơi bể, tầng trên cùng có nhiều hộ dân bị thấm dột, nền đất xung quanh sụt lún, có nơi lún đến 30 cm Người dân đã yêu cầu chủ đầu
tư sửa chữa nhưng đến nay vẫn chưa thực hiện “Khổ nhất là 6 hồ chứa nước sạch sinh hoạt của chung cư bị thủng đáy, nước bẩn ở ngoài tràn vào khiến nước đục thường xuyên Khu TĐC đã đưa vào sử dụng từ năm 2006 đến nay
mà người dân vẫn chưa nhận được giấy chủ quyền nhà”, ông Cường cho hay
Tại khu chung cư TĐC Bắc Rạch Chiếc (Q.9) còn thê thảm hơn khi đã khánh thành hơn 4 năm nay nhưng hiện chỉ lèo tèo một vài hộ dân sinh sống Khung cảnh trông rất hoang tàn với rác bẩn, mạng nhện giăng khắp nơi Nhiều hạng mục: cửa sổ, lan can, nền đã xuống cấp Một hộ dân TĐC tại chung cư này cho hay, người dân có suất TĐC không ai chịu vào ở do đến nay đường dẫn vào không có, chỉ là những con đường mòn tạm bợ, xuống cấp
Tại các chung cư như: Tân Mỹ (Q.7), Thạnh Mỹ Lợi (Q.2), Phạm Viết Chánh (Q.Bình Thạnh) hầu hết người dân TĐC đã sang nhượng lại để tản đi nơi khác vì ở chung cư họ không thể có công việc phù hợp để mưu sinh
Hình 1.3 Một góc khu tạm cư ở P.An Lợi Đông, Q.2, TP.HCM
Sở Xây dựng TP.HCM cho biết, qua thống kê từ các quận huyện, trong giai đoạn 2012 - 2020, trên địa bàn TP sẽ tiếp tục triển khai 154 dự án trọng
Trang 34điểm, ảnh hưởng đến hơn 63.000 hộ dân, trong đó dự kiến phải TĐC cho gần 29.000 hộ Riêng trong giai đoạn 2012 - 2015, có tới 14.655 hộ có nhu cầu TĐC, trong khi quỹ nhà, đất sẵn có chỉ có thể cân đối cho 4.482 hộ (chiếm 30%)
Theo Sở Xây dựng, từ năm 2009 UBND TP chỉ đạo ngưng tạm ứng ngân sách để mua lại quỹ nhà TĐC, mà phải sử dụng từ nguồn vốn bồi thường giải phóng mặt bằng của chính dự án trọng điểm để mua Đây là chủ trương đúng nhằm khắc phục tình trạng vốn ngân sách TP phải chi 2 lần, đó là vừa chi cho công tác bồi thường, vừa chi mua nhà TĐC Thế nhưng, trên thực
tế tại các quận huyện, chủ trương này chưa tạo được sự chủ động trong việc chuẩn bị trước quỹ nhà TĐC Nếu dùng tiền bồi thường mua quỹ nhà sẽ ảnh hưởng đến lượng tiền chi trả cho các hộ dân không có nhu cầu nhận nhà TĐC Bên cạnh đó, việc kêu gọi xã hội hóa đầu tư quỹ nhà TĐC cũng gặp khó khăn
vì các nhà đầu tư đều yêu cầu các quận huyện phải ký kết hợp đồng mua quỹ nhà trước khi thi công, trong khi đó dự án bồi thường chưa được lập và phê duyệt để có nguồn thanh toán
Tình hình các điểm tái định cư ở một số địa phương đang rất lo lắng đến nhiều vấn đề xảy ra như:
Nghệ An
Dân hoang mang vì sạt lở ở khu tái định cư
Do mưa liên tục trong nhiều ngày qua, điểm TĐC Huồi Siu, Huồi Lạn
thuộc địa phận xã Tiền Phong, huyện Quế Phong, Nghệ An đã bị sạt lở
nghiêm trong, đe dọa tính mạng người dân nơi đây
Điểm TĐC này có diện tích 341 ha, là nơi ở mới của người dân bản Huồi Muồng, xã Đồng Văn - nhân dân vùng lòng hồ thủy điện Hủa Na Tuy nhiên
do mưa lớn trong nhiều ngày qua, điểm TĐC này đang bị sạt lở nghiêm trọng, nhiều điểm sạt lở sâu cách nhà chưa đầy 5m Một vài ý kiến của các chủ hộ khi đến nơi ở mới
Ông Lô Văn Kiều chia sẻ, mấy ngày này gia đình ông ăn không ngon, ngủ không yên; cả đêm cố dỏng tai nghe xem có tiếng đất sạt xuống không, sẵn sàng tinh thần chạy “Tưởng chuyển đến khu tái định cư mới, gia đình
Trang 35có nền nhà an toàn, không ngờ chỉ mấy tháng mà đã sạt lỏ nhiều thế này, không biết sau này còn mưa gia đình tôi còn có nhà ở nữa không”, ông Kiều than thở
Một người dân khác là ông Lô Văn Châu cho biết: “Gia đình tôi chuyển
ra từ đầu tháng 4, mới ở được mấy tháng mà nền đã bị sạt lở nhiều quá, nhiều lần kiến nghị lên cấp trên xây kè chắn nhưng không thấy họ nói gì, muốn xây các công trình phụ cũng không có đất mà xây, tôi sợ sau này mưa nhiều nhà cũng sập luôn”
Bà con không yên tâm khi phải sống trong những ngôi nhà sát hố sâu, nền nhà xuất hiện nhiều vết nứt, lún sụt Hơn 100 hộ dân ở khu tái định cư Huồi Siu, Huồi Lạn mong chính quyền sớm có biện pháp khắc phục để có thể yên tâm sản xuất, sinh hoạt
Phó chủ tịch xã Đồng Văn Ông Kim Ngọc Chiến - cho biết: “Không chỉ khu tái định cư Huồi Siu, Huồi Lạn ở xã Tiền Phong, mà tất cả các điểm tái định cư ở xã Đồng Văn đang bị sạt lở, chúng tôi cũng đã kiến nghị với nhà thầu nhưng công tác khắc phụ rất chậm làm người dân lo lắng”
Một số hình ảnh khu tái định cư Huồi Siu - Huồi Lạn bị sạt lở nghiêm trọng:
Hình 1.4 ảnh sạt nở khu tái định cư Huồi Siu
Trang 36Phước Thuận
Khu tái định cư Đồng Sam thông Quảng Vân xã Phước Thuận này
được chính quyền địa phương cấp đất từ năm 2010 để di dời 61 hộ gia đình
tại các vùng có nguy cơ sạt lở, vùng bị lũ lụt uy hiếp
Hình 1.5 ảnh Khu tái định cư Đồng Sam
Tình trạng không có điện trong hơn một năm qua thực sự đã khiến cho việc sinh hoạt của người dân tại khu tái định cư Đồng Sam trở nên khó khăn
Một số hộ tự kéo điện nhờ những gia đình khác ở xa nên nguồn điện không ổn định và tốn kém
Hiện 30 gia đình đã có nhà kiên cố, 31 hộ còn lại đang chuẩn bị xây nhà trước mùa mưa lũ năm nay
Trang 37
Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
2.1 Đặc điểm cơ bản của Huyện Kinh Môn tỉnh Hải Dương
2.1.1 Khái quát chung về Huyện Kinh Môn
Kinh Môn là một huyện của tỉnh Hải Dương, giáp với Hải Phòng và Quảng Ninh Một dãy núi đất trong hệ thống núi vòng cung Đông Triều làm xương sống của cả huyện Về núi non, Kinh Môn cảnh trí tương đối giống Chí Linh, nhưng Kinh Môn còn đặc biệt là có những núi đá xanh rải rác, sông bao bọc, cánh đồng rộng lớn Trong các sách thường phân loại Kinh Môn là huyện bán sơn địa nhưng nếu không đến Kinh Môn, thì không thể hình dung
sự đặc sắc của thiên nhiên Kinh Môn
Với diện tích: 1662 Km2 Dân số hơn 1.703.492 người (theo điều tra dân số năm 2009).Trong đó:
+ Mật độ dân số trung bình: 1.044,26 người/km2
+ Dân số thành thị: 324.930 người
+ Dân số nông thôn: 1.378.562 người
+ Nam: 833.459 người
+ Nữ: 870.033 người
Giao thông & cơ sở hạ tầng:
Tỉnh Hải Dương có hệ thống cơ sở hạ tầng khá hoàn chỉnh, tạo điều kiện thuận lợi cho kinh tế - xã hội của tỉnh phát triển
+ Hệ thống giao thông: gồm đường bộ, đường thuỷ, đường sắt; Phân bố hợp lý, giao lưu rất thuận lợi tới các tỉnh
- Đường bộ: có 4 tuyến đường quốc lộ qua tỉnh dài 99 km, đều là đường cấp I, cho 4 làn xe đi lại thuận tiện:
Trang 38- Đường sắt: Tuyến Hà Nội - Hải Phòng chạy song song với quốc lộ 5, đáp ứng vận chuyển hàng hoá, hành khách qua 7 ga trong tỉnh
Tuyến Kép - Bãi Cháy chạy qua huyện Chí Linh, là tuyến đường vận chuyển hàng lâm nông thủy sản ở các tỉnh miền núi phía Bắc ra nước ngoài qua cảng Cái Lân, cũng như hàng nhập khẩu và than cho các tỉnh
- Đường thuỷ: với 400 km đường sông cho tầu, thuyền 500 tấn qua lại
dễ dàng Cảng Cống Câu công suất 300.000 tấn /năm và hệ thống bến bãi đáp ứng về vận tải hàng hoá bằng đường thuỷ một cách thuận lợi
Hệ thống giao thông trên bảo đảm cho việc giao lưu kinh tế từ Hải Dương đi
cả nước và nước ngoài rất thuận lợi
Thế mạnh của Kinh Môn là có khu công nghiệp Nhị Chiểu, nhưng chính khu công nghiệp này mang lại mặt trái rất nan giải Hàng chục nhà máy
xi măng thi nhau nhả khói trên diện tích chật hẹp của bốn xã “khu đảo”, một mặt đã biến khu vực này thành đô thị, đời sống cải thiện, nhưng môi trường khu vực này bị phá huỷ nghiêm trọng Cây cối khu vực Minh Tân, Phú Thứ bị bao phủ một màu bụi vàng, bệnh tật có nguy cơ đe dọa người dân Mặt trái của phát triển nhìn thấy nhãn tiền
Một mặt trái của phát triển sản xuất xi măng là phá hoại cảnh quan Trước đây, Khu Nhị Chiểu được người Kinh Môn tự hào gọi là “Hạ Long cạn”, nó cùng với các dãy núi đá Thủy Nguyên hợp thành một quần thể cảnh quan kỳ thú Nay mới làm xi măng hai mươi năm, hầu hết núi non sạt hết, những dãy núi khổng lồ cũng dần tiêu vong, ngày biến mất trên mặt đất đã có thể tính được Các chuyên gia Bộ Công nghiệp và những người làm xi măng đến từ Đài Loan Họ tính dứt khoát 50 năm nữa vùng này sẽ thành bằng địa, rồi đến lúc khai thác đá phải chui xuống đất như khai thác than ở Quảng Ninh Làm nên một dãy núi mất hàng triệu triệu năm, phá nó rất nhanh Rồi đến một lúc, e rằng chính chúng ta mới đau xót thấy cái lợi làm xi măng chắc sẽ nhỏ
Trang 39hơn nhiều so với giá trị địa chính trị, lịch sử và để khai thác cho ngành du lịch Con cháu chúng ta chắc sẽ phán xử chúng ta
Nếu biết khai thác du lịch, có thể một tua du lịch Kinh Môn xứng đáng trở thành một tua du lịch đặc sắc có một không hai Quần thể núi An Phụ với tượng Hưng đạo vương Quốc Tuấn chính là điểm nhấn Cách xa An Phụ vài cây số là quần thể Động Kính Chủ với những di tích độc đáo Như đã nói, nơi đây có nhiều văn bia, mà nổi tiếng nhất là bài thơ của Phạm Sư Mạnh khắc ca ngợi thời Trùng Hưng Đáng tiếc là cách đây 1-2 năm Cả quần thể này gồm nhiều núi đá, qua thời gian chỉ còn rất ít, năm vừa qua, lại rộ lên chuyện một doanh nghiệp đánh đá lấy ở núi Lĩnh Đông, của cải của thời xưa chắc đang mai một dần đi Nhưng vẫn hi vọng một huyện Kinh Môn sẽ đổi mới và phát triển theo hướng bền vững
Rồi đây, đường 188 sẽ làm, cùng với nó là cầu sang Hoàng Thạch, đi một mạch từ Hải Phòng, qua Phú Thái đến Quảng Ninh không còn phải qua phà nữa, thị trấn Nhị Chiểu, Phú Thứ sẽ phồn thịnh hơn, nhưng cái bụi đó vẫn đầy trời, những núi đá cảnh quan đẹp tuyệt vời của Khu vực ấy sẽ hết thì không biết sự phồn thịnh ấy sẽ mất hết dư vị đặc sắc, giống như người con gái
đã mất hết duyên chăng?
Kinh Môn chỉ là một huyện trong tỉnh Hải Dương, chắc rằng Hải Dương kiêu hãnh vì có vùng đất này, và Kinh Môn cũng ý thức được sự kiêu hãnh ấy Nhưng giống như nuôi một đứa con, giá như Hải Dương thấu hiểu Kinh Môn hơn thì đứa con ấy lớn khôn hơn, đẹp rực rỡ và lâu bền hơn
Huyện Kinh Môn có ưu thế về điều kiện tự nhiên, đất đai thổ nhưỡng thích hợp gieo cấy lúa nếp cái hoa vàng Gạo nếp ở Kinh Môn thơm, ngon vừa thơm lại đậm đà
Trang 40Hình 2.1 ảnh về toàn cảnh cánh đồng rộng lớn bao quanh sông
kinh Thày
2.1.2 Các đặc điểm tự nhiên của huyện Kinh Môn
Huyện Kinh Môn nằm ở phần lãnh thổ phía đông của tỉnh Hải Dương,
phía bắc giáp tỉnh Quảng ninh, phía đông giáp thành phố Hải Phòng, phía tây
nam giáp huyện Kim thành, phía tây bắc giáp huyện Nam sách và Chí linh
của Tỉnh Hải Dương Huyện nằm kề bên 2 tuyến đường quốc lộ 5A và 18 là 2
tuyến giao thông quan trọng của quốc gia và vùng trọng điểm kinh tế phía
bắc Huyện được bao bọc và chia cắt bởi 4 sông lớn (sông Kinh Môn, sông
Kinh thầy, sông Đá vách, sông Hàn mấu)
Nhìn chung vị trí địa lý của huyện khá lý tưởng: cách Hà nội khoảng 80
km, nằm trong vùng Kinh tế trọng điểm phía bắc, lại nằm kế bên 2 trung tâm
kinh tế lớn là Quảng ninh và Hải phòng, giao thông thuỷ bộ tương đối thuận lợi
nên có điều kiện giao lưu kinh tế với bên ngoài và đón nhận các cơ hội đầu tư