Trong hoàn cảnh đó, việc nhìn nhận một cách đúng đắn về vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa, nhận diện các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của nó, sẽ cho phép đưa ra những chính sách
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Hồng
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình nghiên cứu đề tài, từ khi hoàn thành đề cương cho đến giai đoạn viết và thực hiện luận văn, tôi luôn nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy cô giáo, gia đình, bạn bè, đồng nghiệp Những sự giúp đỡ nhiệt tình
đó đã tạo điều kiện thuận lợi và động lực cho tôi hoàn thành quá trình viết luận
văn theo kế hoạch Cho đến thời điểm này, Luận văn thạc sĩ với đề tài: “Nghiên cứu đề xuất bổ sung, hoàn thiện chính sách phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Thành phố Hòa Bình tỉnh Hòa Bình” của tôi đã hoàn thành
Với tất cả sự biết ơn sâu sắc và tình cảm trân thành nhất, tôi xin bày tỏ lời cảm ơn của mình đối với TS.Nguyễn Quang Hà, người đã trực tiếp hướng dẫn khoa học cho tôi và các thầy cô giáo của trường Đại Học Lâm Nghiệp Việt Nam
đã giúp đỡ tôi Đồng thời, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn của mình đến các phòng ban chức năng tỉnh Hòa Bình, các doanh nghiệp tôi điều tra trên địa bàn thành phố Hòa Bình và các cán bộ của tỉnh đã giúp tôi thu thập được thông tin và số liệu phục vụ cho Luận văn Tôi cũng xin cảm ơn gia đình, đồng nghiệp, bạn bè
đã giúp đỡ tôi trong suốt thời gian qua
Luận văn của tôi có những hạn chế nhất định, vì vậy, tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo, các đồng nghiệp, bạn bè và những độc giả quan tâm đến vấn đề được đề cập trong luận văn để tôi tiếp tục hoàn thiện luận văn của mình
Tôi xin chân thành cảm ơn và kính chúc sức khỏe!
Trang 3MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các từ viết tắt v
Danh mục các bảng vi
Danh mục các hình vii
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Nội dung nghiên cứu 4
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 5
1.1 Cơ sở lý luận của chính sách phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa 5
1.1.1 Doanh nghiệp nhỏ và vừa và vai trò của chúng trong nền kinh tế thị trường 5
1.1.2 Chính sách khuyến khích phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa 16
1.2 Cơ sở thực tiễn về chính sách phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa 28
1.2.1 Trên thế giới 28
1.2.2 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 31
1.3 Tổng quan các công trình đã nghiên cứu có liên quan 33
Chương 2: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 35
2.1 Đặc điểm cơ bản của thành phố hòa bình tỉnh hòa bình 35
2.1.1 Giới thiệu chung về địa bàn thành phố Hòa Bình tỉnh Hòa Bình 35
2.1.2 Các đặc điểm tự nhiên 35
2.1.3 Các đặc điểm kinh tế xã hội 38
2.1.4 Khái quát tình hình và kết quả hoạt động của thành phố Hòa Bình 40
Trang 42.2 Phương pháp nghiên cứu 41
2.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu, khảo sát 42
2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu, tài liệu 42
2.2.3 Phương pháp xử lý số liệu, phân tích số liệu 43
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 45
3.1 Phân tích thực trạng chính sách phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa tại thành phố Hòa Bình 45
3.1.1 Thực trạng Chính sách phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa hiện nay ở Việt Nam và ở thành phố Hòa Bình 45
3.1.2 Thực trạng về tác động của chính sách phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa trên thực tế từ năm 2009 đến năm 2011 61
3.1.3 Rào cản trong tiếp cận chính sách 77
3.1.4 Tổng hợp các hạn chế đối với phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa 84
3.2 Các giải pháp nhằm bổ sung, hoàn thiện chính sách phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa tại thành phố Hòa Bình tỉnh Hòa Bình 89
3.2.1 Phương hướng nâng cao chất lượng chính sách phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa 89
3.2.2 Các giải pháp đề xuất nhằm bổ sung, hoàn thiện chính sách phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa tại thành phố Hòa Bình tỉnh Hòa Bình 90
KẾT LUẬN 99 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DNNN Doanh nghiệp Nhà nước
DNNVV Doanh nghiệp nhỏ và vừa
TNHH Trách nhiệm hữu hạn
DNTN Doanh nghiệp tư nhân
BHXH Bảo hiểm xã hội
BHYT Bảo hiểm y tế
BHTN Bảo hiểm thất nghiệp
KPCĐ Kinh phí công đoàn
GCNQSHĐ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Trang 63.6 Đặc điểm công nghệ các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong sản xuất 67
3.9 Các hình thức lựa chọn lao động của doanh nghiệp 70
3.15 Việc áp dụng sổ sách kế toán chính thức trong doanh nghiệp nhỏ và vừa 77
3.17 Thời gian và số lượng cho các thủ tục hành chính 81
3.19 Hỗ trợ kinh doanh từ Chính phủ và hệ thống xã hội 83
Trang 73.2 9 yếu tố có ảnh hưởng chủ yếu đến doanh nghiệp nhỏ và vừa 52
3.3 Vị trí của các cơ quan liên quan đến hỗ trợ DNNVV ở Việt Nam 60
Trang 8ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Tính cấp thiết của đề tài
Với mục tiêu hoàn thành về cơ bản công cuộc chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường vào năm 2020, Việt Nam đang không ngừng chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng phát triển khu vực tư Phát triển nhanh khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa là một trong những giải pháp tích cực cho mục tiêu đó
Doanh nghiệp nhỏ và vừa có ưu thế về tính linh hoạt, nó có thể hoạt động trong mọi ngành, mọi lĩnh vực mà pháp luật không cấm kinh doanh Chỉ với một
số vốn nhỏ, chủ sở hữu đã có thể khởi nghiệp ở bất kỳ đâu bởi kinh doanh nhỏ dễ tìm vị trí hoạt động
Trong điều kiện đi lên từ một nước nghèo, vốn nhàn rỗi trong dân có hạn, thị trường lại chưa phát triển, kinh nghiệm và kiến thức kinh doanh của đa số người dân hầu như chưa có, thì khởi sự từ kinh doanh nhỏ là hoàn toàn hợp lý Xét
ở khía cạnh khác, khi Việt nam đang thực hiện chiến lược tăng trưởng đi đôi với công bằng xã hội thì kinh doanh nhỏ chính là giải pháp tạo việc làm cho đông đảo người lao động, là phương thức thay đổi nếp suy nghĩ và làm ăn của người nông dân lúa nước chưa quen với sản xuất hàng hóa, với cơ chế thị trường Hơn nữa, kinh doanh nhỏ giúp người lao động tìm được địa chỉ đầu tư nguồn lực nhỏ bé của mình, tạo lập những bậc thang đầu tiên cho sự gia tăng thu nhập và mức sống
Song, bên cạnh những ưu điểm về tính linh hoạt, suất đầu tư thấp, doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng rất dễ phá sản khi phải đối mặt với các biến động kinh tế Với số lượng chiếm tỷ lệ áp đảo trong nền kinh tế, những dao động của khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa thực sự trở thành vấn đề với toàn xã hội Mặt khác, hoạt động của kinh doanh nhỏ cũng dễ gây ảnh hưởng tiêu cực tới sản xuất và đời sống, trước hết là vấn đề ô nhiễm môi trường do nó thường nằm xen kẽ với các khu dân
cư Những hạn chế đó của khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa không chỉ của riêng một quốc gia nào
Nhiều quốc gia, kể cả những quốc gia phát triển đã chú trọng đến loại hình kinh doanh có quy mô nhỏ và vừa, tạo điều kiện cho họ hoạt động thuận lợi Các chính sách
Trang 9đối với khu vực này đều theo hướng khuyến khích và hỗ trợ doanh nghiệp phát triển nhằm thực hiện mục tiêu tăng trưởng đi đôi với công bằng xã hội
Việt Nam đã chú trọng vấn đề này ngay từ khi mới bắt đầu công cuộc đổi mới cơ chế kinh tế Từ cuối những năm 1980, chủ trương cho phép phát triển kinh
tế tư nhân đã được khẳng định rõ trong các văn kiện chính thức Cùng với thời gian, các chính sách về khu vực này càng thể hiện rõ quan điểm của Đảng và Nhà nước Khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa đến nay đã có số lượng chiếm tới 96% tổng số doanh nghiệp cả nước Một số doanh nghiệp đã khẳng định được vị thế trên thị trường trong và ngoài nước Không ít doanh nghiệp có đóng góp tích cực vào công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, góp phần xóa đói giảm nghèo Song, thực tế đó chưa đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của quốc gia Khu vực này cần phải phát triển nhanh hơn, mạnh mẽ hơn, bền vững hơn
Từ năm 2006, chủ trương đẩy mạnh phát triển khu vực này được thể hiện trong chương trình hoạt động của Chính phủ Nhưng các giải pháp trong chính sách phát triển khối doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn chưa đảm bảo cho doanh nghiệp phát triển ổn định, bền vững Khi có biến động kinh tế phần lớn các doanh nghiệp nhỏ và vừa phải đối mặt với nguy cơ phá sản Đặc biệt, là các doanh nghiệp nhỏ
và vừa ở các tỉnh lẻ, các tỉnh miền núi nguy cơ phá sản rất cao
Gần đây nhất, năm 2009, Chính phủ ra nghị định số 56/2009/NĐ-CP về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa Nội dung của nghị định này có giúp khối doanh nghiệp nhỏ và vừa đứng vững và phát triển? Những chính sách mà chính phủ đưa ra đã đi vào thực tế ra sao? Tác động như thế nào đến doanh nghiệp nhỏ và vừa? Các doanh nghiệp nhỏ và vừa đã được nhận những gì từ những chính sách ấy?
Hòa Bình là một tỉnh miền núi, Toàn tỉnh 2.047 doanh nghiệp và chủ yếu
là doanh nghiệp nhỏ và vừa Và khối doanh nghiệp này tập trung chủ yếu tại thành phố Hòa Bình (840 doanh nghiệp nhỏ và vừa) còn lại nằm giải rác ở các huyện khác Song vấn đề phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa ở thành phố Hòa Bình còn gặp rất nhiều khó khăn Các chính sách của Chính phủ cũng như của tỉnh
Trang 10Hòa Bình về trợ giúp các doanh nghiệp nhỏ và vừa có được các doanh nghiệp trên địa bàn hưởng ứng và nó có thiết thực với các doanh nghiệp hay không? có gì ưu điểm và hạn chế của chính sách khi đi vào thực tế nơi đây? Giải pháp nào để chính sách phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa trở thành công cụ hữu ích cho sự phát triển bền vững của khối doanh nghiệp này?
Xuất phát từ yêu cầu cấp thiết của thực tiễn, dưới sự hướng dẫn của
TS.Nguyễn Quang Hà, chúng tôi tiến hành nghiên cứu thực hiện đề tài :
“Nghiên cứu đề xuất bổ sung, hoàn thiện chính sách phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa tại thành phố Hòa Bình tỉnh Hòa Bình”
2 Mục tiêu nghiên cứu
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Là chính sách phát triển doanh nghiệp
nhỏ và vừa và tác động của chúng trên thực tế
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài :
+Phạm vi về nội dung:
Trang 11Các văn bản chính thức có liên quan đến tổ chức, hoạt động của doanh nghiệp nhỏ và vừa
Kết quả triển khai các chính sách này trên thực tiễn, thể hiện ở thực trạng khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa hiện nay, được minh họa bằng các số liệu : Điều tra mẫu về thực trạng phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa dưới tác động của các chính sách hiện nay tại thành phố Hòa Bình tỉnh Hòa Bình Các số liệu báo cáo khác về doanh nghiệp nhỏ và vừa
+Phạm vi về không gian: thành phố Hòa Bình tỉnh Hòa Bình
+Phạm vi về thời gian: từ năm 2009 đến năm 2011
4 Nội dung nghiên cứu
- Hệ thống hóa những lý luâ ̣n và thực tiễn về chính sách phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa
- Đánh giá hiệu quả chính sách phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa
- Đề xuất các giải pháp bổ sung, hoàn thiện chính sách phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa
Trang 12Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN
DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA
Doanh nghiệp nhỏ và vừa trong bất kỳ nền kinh tế nào cũng tìm thấy chỗ đứng của nó Điều đó xuất phát từ vai trò của loại hình doanh nghiệp này trong việc đáp ứng những yêu cầu tất yếu của đời sống kinh tế mà ngay cả ở các nước công nghiệp phát triển cũng không thể phủ nhận Nhiều quốc gia đã sớm chú ý đến việc khuyến khích phát triển khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa, coi đó là một công cụ hữu hiệu để thực hiện các mục tiêu kinh tế vĩ mô nhanh và có hiệu quả
Việt Nam đã và đang trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nên khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa càng cần được chú ý hơn để những diễn biến của nó không những không làm ảnh hưởng tiêu cực tới xu thế chung, mà còn phải góp phần giải quyết các mục tiêu kinh tế vĩ mô của quốc gia Trong hoàn cảnh đó, việc nhìn nhận một cách đúng đắn về vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa, nhận diện các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của
nó, sẽ cho phép đưa ra những chính sách phù hợp nhằm phát huy tối đa tiềm năng của khu vực này
1.1 Cơ sở lý luận của chính sách phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa
1.1.1 Doanh nghiệp nhỏ và vừa và vai trò của chúng trong nền kinh tế thị trường
Với tỷ lệ lớn về số lượng, khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa có tác động đáng kể tới tổng thể nền kinh tế Không làm thay đổi mạnh mẽ các quan hệ kinh
tế, cũng không chi phối thị trường bằng sức mạnh của lợi thế quy mô như các doanh nghiệp lớn, mà khu vực này len lỏi vào tất cả các ngành nghề, lĩnh vực, chiếm lĩnh các phân đoạn thị trường và đáp ứng nhu cầu của sản xuất và đời sống
ở những nơi mà doanh nghiệp lớn thường bỏ qua do chi phí cơ hội quá lớn
Dưới đây, chúng ta xem xét các vấn đề: quan niệm thế nào là doanh nghiệp nhỏ và vừa, chúng có đặc điểm riêng gì cần quán triệt trong việc hoạch định chính sách, mức độ đóng góp của chúng vào tăng trưởng kinh tế và giải quyết các vấn đề
Trang 13xã hội cũng như những khiếm khuyết mà các doanh nghiệp này thường mắc phải,
gây trở ngại cho sản xuất và đời sống của cộng đồng
1.1.1.1 Khái niệm và đặc điểm doanh nghiệp nhỏ và vừa
a, Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa theo tiêu chí phân loại quốc tế và Việt Nam
Khi sự tập trung tư bản đã làm hình thành và phát triển những tổ chức kinh doanh có quy mô khổng lồ thì thuật ngữ doanh nghiệp nhỏ và vừa đã xuất hiện để chỉ các đơn vị kinh doanh có quy mô đối lập Lúc đầu, tên gọi doanh nghiệp nhỏ
và vừa chỉ là quy ước trong giới kinh doanh Cùng với thời gian thuật ngữ “doanh nghiệp nhỏ và vừa” được sử dụng một cách phổ biến và ngay cả trong các văn bản chính thức với tư cách một khu vực của nền kinh tế Đồng thời, các chính phủ cũng giành cho loại hình này sự quan tâm nhiều hơn, và do đó đã ra đời các quy định chính thức ở nhiều quốc gia
Tiêu chí xếp loại doanh nghiệp ở mỗi nước mặc dù khác nhau về chi tiết, song đều hướng vào các chỉ tiêu: mức sử dụng lao động, quy mô vốn và doanh thu Trong đó, hầu hết các nước đều lấy tiêu chí về số lượng lao động làm căn cứ đầu tiên cho việc phân loại, một số nước sử dụng thêm tiêu chí thứ hai hay thứ ba
Nhật Bản là một trong những nước đi đầu trong việc đưa ra quy định về tiêu chí để coi một doanh nghiệp thuộc loại nhỏ và vừa Từ năm 1963, Luật cơ bản
về kinh doanh nhỏ đã quy định: cơ sở kinh doanh nhỏ là cơ sở có vốn không quá
50 triệu yên và sử dụng không quá 300 người, trong lĩnh vực thương mại và dịch
vụ thì không quá 10 triệu yên và không quá 50 người Trong đó, doanh nghiệp siêu nhỏ là doanh nghiệp sử dụng không quá 10 công nhân, doanh nghiệp nhỏ sử dụng từ 10 đến 100 công nhân
Ngày nay, nhiều nước áp dụng tiêu chi phân loại của Ngân hàng Thế giới: doanh nghiệp siêu nhỏ có mức sử dụng nhân công từ 1 đến 9 người; doanh nghiệp nhỏ từ 10 đến 49 người và doanh nghiệp vừa từ 50 đến 299 người; những doanh nghiệp sử dụng từ 300 công nhân trở lên dược coi là doanh nghiệp lớn
Việc đưa ra khái niệm và tiêu chí phân loại doanh nghiệp có một ý nghĩa rất lớn về phía nhà hoạch định chính sách Vì vậy, Nhà nước ta đã từng bước có quy
Trang 14định cụ thể cho phù hợp trình độ phát triển của nền kinh tế và các thước đo giá trị tại từng thời kỳ Năm 1998, Chính phủ ban hành công văn số 681/CP-KTN ngày
20 tháng 6 năm 1998 về “Định hướng chiến lược và chính sách phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa” Theo đó, doanh nghiệp có vốn đăng ký dưới 5 tỷ đồng và/ hoặc có số lao động thường xuyên dưới 200 người được coi là doanh nghiệp nhỏ
và vừa Việc áp dụng một hay cả hai tiêu chí này tùy thuộc vào điều kiện cụ thể của từng ngành, từng lĩnh vực hay địa phương
Theo thời gian, tiêu chí “mức sử dụng lao động” đã được thay đổi lại cho phù hợp với các quy định quốc tế, tiêu chí giới hạn tối đa về vốn cũng thay đổi cho phù hợp mức thay đổi sức mua của đồng tiền quốc gia
Năm 2001, Theo Nghị định 90/2001/NĐ - CP ngày 23 tháng 11 năm 2001 của Chính phủ về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, thì:
“Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng
ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có số vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người.”
Nhưng đến năm 2009, tiêu chí về phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa có sự thay đổi khá nhiều và phân loại chi tiết hơn:
Theo nghị định số 56/2009/NĐ-CP ban hành ngày 30 tháng 6 năm 2009 về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa thì:
“Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên), cụ thể như sau:
Trang 15Bảng 1.1 Phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa theo quy mô
Quy mô
Khu vực
Doanh nghiệp siêu nhỏ
Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa
Số lao động
Tổng nguồn vốn
Số lao động
Tổng nguồn vốn
Số lao động
I Nông, lâm
nghiệp và thủy sản
10 người trở xuống
20 tỷ đồng trở xuống
từ trên 10 người đến
200 người
từ trên 20
tỷ đồng đến 100 tỷ đồng
từ trên
200 người đến 300 người
II Công nghiệp và
xây dựng
10 người trở xuống
20 tỷ đồng trở xuống
từ trên 10 người đến
200 người
từ trên 20
tỷ đồng đến 100 tỷ đồng
từ trên
200 người đến 300 người
III Thương mại và
dịch vụ
10 người trở xuống
10 tỷ đồng trở xuống
từ trên 10 người đến
50 người
từ trên 10
tỷ đồng đến 50 tỷ đồng
từ trên 50 người đến 100 người
Nguồn: Trích nghị định số 56/2009/NĐ-CP
Với chuẩn mới trong tiêu chí xếp loại quy mô doanh nghiệp, không ít doanh nghiệp “bị xuống hạng”, điều này cũng đồng nghĩa với họ “được ưu đãi” hơn, và cũng do đó tỷ trọng doanh nghiệp nhỏ và vừa trong tổng số doanh nghiệp của nền kinh tế cũng tăng lên, chiếm tới trên chín mươi phần trăm trong tổng số doanh nghiệp cả nước
Trang 16b, Đặc điểm của doanh nghiệp nhỏ và vừa
Doanh nghiệp nhỏ và vừa được tổ chức theo những mô hình rất khác nhau
ở mỗi ngành, lĩnh vực khác nhau, trong những điều kiện, hoàn cảnh khác nhau Nhưng khu vực kinh doanh nhỏ ở các nền kinh tế đều có chung những đặc điểm sau:
Thứ nhất, có tính linh hoạt cao
Với suất đầu tư khiêm tốn, doanh nghiệp nhỏ và vừa rất dễ khởi sự, dễ hoạt động, dễ tiêu thụ một khối lượng sản phẩm cũng nhỏ tương ứng với khối lượng vốn của nó, dễ chuyển hướng kinh doanh khi chủ sở hữu muốn
Mặt khác, các cơ sở kinh doanh nhỏ dễ dàng di chuyển địa điểm kinh doanh, chuyển mục đích kinh doanh do tinh đơn giản của công nghệ và mặt bằng cho sản xuất, kinh doanh
Thứ hai, có tính địa phương
Khối lượng sản phẩm hàng hóa, dịch vụ mà mỗi doanh nghiệp nhỏ và vừa cung cấp rất nhỏ bé so với nhu cầu của thị trường, do đó, doanh nghiệp rất dễ tiêu thụ hàng hóa cũng như tìm nguồn cung ứng các yếu tố đầu vào Thực tế, doanh nghiệp nhỏ và vừa có khả năng thích nghi với những điều kiện khác nhau ở các vùng địa phương Tổ chức kinh doanh ở quy mô nhỏ và vừa có khả năng khai thác tốt các nguồn lực tiềm tàng của địa phương Trước hết là có thể huy động những khoản vốn nhỏ trong dân vào sản xuất những mặt hàng phục vụ đời sống, sản xuất
ở địa phương Tiếp đến là huy động được nguồn nhân lực đông đảo ở các địa phương, nhất là nhân lực nhàn rỗi theo thời vụ Ngoài ra, doanh nghiệp nhỏ và vừa được phân
bố rải rác ở tất cả các địa phương còn do tính đa dạng của các nguồn lực mà mỗi địa phương có thể cung ứng cho sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp
Tuy nhiên, việc phân bố rải rác như vậy cũng đặt ra yêu cầu đối với các nhà hoạch định và thực thi chính sách trong việc đảm bảo tính tiêu chuẩn hóa của sản xuất kinh doanh và bảo vệ môi trường
Trang 17Thứ ba, thường sử dụng công nghệ đơn giản
Đặc tính này xuất phát từ quy mô vốn Công nghệ đơn giản có thuận lợi là suất đầu tư thấp, có thể sử dụng nhiều nhân công và phần lớn là lao động phổ thông, chi phí tiền lương cho nhân công không cao, hiệu suất sử dụng máy móc cao do tính chuyên dụng của chúng thấp (các máy công cụ càng đơn giản, càng có thể sử dụng vào nhiều công đoạn sản xuất các loại sản phẩm khác nhau) Song, điều này cũng gây không ít khó khăn cho chính doanh nghiệp cũng như các nhà hoạch định chính sách Đó là, trình độ công nghệ thấp cộng với trình độ tay nghề của người lao động thấp kéo theo năng suất lao động thấp và mức phế phẩm cao,
do đó chất lượng hàng hóa thấp và mức sử dụng tài nguyên cao Công nghệ thô sơ còn gây ô nhiễm môi trường, nhất là trong các ngành chế biến có sử dụng hóa chất
và các ngành có lượng chất thải lớn
Thứ tư, năng lực cạnh tranh thấp
Doanh nghiệp nhỏ và vừa thường có phạm vi hoạt động trong địa phương Thị trường nhỏ và mang tính địa phương ít gây áp lực cho doanh nghiệp Song, ngược lại, doanh nghiệp nhỏ và vừa ở các vùng xa xôi vì vậy cũng ít năng động hơn Sức ỳ khá lớn là một trong những yếu tố làm phân hóa mạnh khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa Song, sự chi phối của yếu tố địa phương chỉ là nhỏ, các yếu tố nội lực của doanh nghiệp mới đóng vai trò quyết định Có thể thấy rõ là doanh nghiệp nhỏ và vừa có điểm yếu là trình độ công nghệ ít hiện đại, nhân công trình
độ tay nghề có hạn, sản phẩm có số lượng hạn chế, chất lượng không cao, trình độ quản lý có hạn, chủ sở hữu nhiều khi chưa có trình độ và kinh nghiệm trong kinh doanh Như vậy, mức độ chủ động của doanh nghiệp trong kinh doanh là có hạn
Thứ năm, dễ tổn thương trước các biến động kinh tế
Đặc tính này là hệ quả của quy mô các yếu tố về vốn, công nghệ, trình độ nhân công, năng lực quản lý của chủ doanh nghiệp Doanh nghiệp nhỏ và vừa có mức rút lui khỏi thị trường khá cao, nhưng tỷ lệ gia nhập mới cũng rất lớn Tình trạng này phụ thuộc rất nhiều vào diễn biến của nền kinh tế Ngay cả ở các nước phát triển, số phận doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng khá bấp bênh Vấn đề này đặt ra
Trang 18trước các nhà hoạch định chính sách nhiệm vụ luôn theo dõi và có chính sách phù hợp để tạo điều kiện kinh doanh ổn định cho khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa vốn rất nhạy cảm trước các biến động kinh tế Một ví dụ là, đầu năm 2008, khi nền kinh tế thế giới phải chịu áp lực về giá năng lượng quá cao, khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa của ta phải đối mặt với nguy cơ phá sản là khá lớn Vì vậy năm 2009, Chính phủ Việt Nam đã ban hành nghị định số 56/2009/NĐ-CP nhằm giúp doanh nghiệp nhỏ và vừa đứng vững qua biến động này
Thứ sáu, có mức độ phi chính thức khá cao
Sự không rõ ràng trong tổ chức kinh doanh dễ dẫn tới sự lẫn lộn giữa loại hình kinh doanh hộ gia đình với doanh nghiệp nhỏ, đặc biệt loại siêu nhỏ Doanh nghiệp có quy mô càng nhỏ, càng dễ vi phạm pháp luật, từ không đăng ký, không
có địa chỉ rõ ràng và ổn định, đến việc không đảm bảo điều kiện tối thiểu cho người lao động, trốn thuế, ngoài ra còn các hành vi phạm pháp luật khác
Khu vực này do đó rất cần sự quan tâm hỗ trợ từ phía chính phủ Đưa ra những chính sách hợp lý đối với khu vực này sẽ góp phần không nhỏ cho việc thực hiện chiến lược phát triển kinh tế xã hội chung của quốc gia nói chung và của từng địa phương cụ thể
1.1.1.2 Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nền kinh tế thị trường
Có mặt ở tất cả các lĩnh vực, các ngành kinh tế quốc dân, các địa phương, doanh nghiệp nhỏ và vừa chứng minh tính không thể thiếu của nó trong bất cứ nền kinh tế thị trường nào
* Đóng góp phần quan trọng vào tổng sản lượng quốc nội
Doanh nghiệp nhỏ và vừa đóng góp phần quan trọng vào tổng sản lượng hàng hóa, dịch vụ của nền kinh tế Ở nước ta, doanh nghiệp có quy mô thuộc loại nhỏ và vừa, phân bố ở hầu khắp các địa phương Hàng năm, khu vực này đóng góp cho nền kinh tế khoảng 45% tổng sản phẩm quốc nội (GDP)
Trang 19* Đáp ứng nhu cầu đa dạng của thị trường
Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa đối với việc thỏa mãn nhu cầu thị trường không chỉ thể hiện ở các con số tỷ lệ đóng góp vào tổng sản phẩm xã hội Cái thiết thực hơn đối với phúc lợi kinh tế xã hội là nó thỏa mãn được những nhu cầu đa dạng của đời sống và sản xuất mà sản xuất lớn không bao quát hết được
Đó là những nhu cầu về các dịch vụ tại chỗ, về những mặt hàng mang tính địa phương, cần số lượng nhỏ (tính đặc dụng, tính đơn chiếc), hay những hàng hóa và dịch vụ có chất lượng ở tiêu chuẩn thấp phù hợp với khả năng thanh toán của một
bộ phận dân chúng, các mặt hàng truyền thống hay hàng thủ công, mà sản xuất hàng loạt không thể đáp ứng được
Doanh nghiệp nhỏ và vừa phân bố ở hầu khắp các địa bàn có khả năng cung cấp cho thị trường địa phương hàng hóa và dịch vụ phục vụ sản xuất và đời sống dân
cư, phù hợp với thị hiếu và khả năng thanh toán của các tác nhân trong vùng
* Là loại hình kinh doanh bổ sung cho kinh doanh lớn
Sản xuất lớn cần các nguồn lực lớn Doanh nghiệp lớn vì thế thường đóng ở các trung tâm kinh tế, có thị trường lớn, thuận tiện đường giao thông và các dịch
vụ Những vùng nông thôn xa xôi không đủ yếu tố cho doanh nghiệp lớn hoạt động, nhưng, đó lại là nơi có thể cung cấp một phần các yếu tố sản xuất, nhất là nguyên liệu cho các ngành công nghiệp chế biến Doanh nghiệp nhỏ và vừa có mặt tại mọi vùng là sự bổ sung cần thiết cho các trung tâm kinh tế lớn Hoạt động đa dạng của doanh nghiệp này trong việc thu gom, sơ chế nguyên liệu, dịch vụ vận tải nhỏ sẽ tạo thành mạng lưới cung cấp đầu vào trung gian cho doanh nghiệp lớn hơn Chuyên môn hóa trong các thị trường đầu vào như vậy giúp tiết kiệm chi phí
xã hội Chính vì vậy, ngay cả ở các nước công nghiệp phát triển, khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn giữ một vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân
* Tạo ra nhiều việc làm
Số lượng doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm tỷ trọng lớn trong nền kinh tế, do
đó, tổng số việc làm khu vực này tạo ra cũng rất lớn Kinh nghiệm các nước cho thấy, phát triển khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa là biện pháp giải quyết nạn thất
Trang 20nghiệp rất hiệu quả Một đặc trưng của khu vực này là không yêu cầu khắt khe về trình độ tay nghề của lao động do đẳng cấp thấp của sản phẩm mà nó cung ứng cho thị trường, nhờ đó, nó có thể giải quyết được việc làm cho đông đảo người lao động Trong điều kiện nền kinh tế chưa phát triển, chất lượng lao động còn hạn chế, thì phát triển khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa tỏ ra có hiệu quả
* Huy động tiềm năng địa phương một cách tối ưu
Phân bố rộng khắp ở mỗi địa phương, dễ dàng di chuyển sang vị trí mới, doanh nghiệp nhỏ và vừa có ưu thế trong việc tìm nguồn cung ứng các yếu tố đầu vào thuận tiện nhất Trong điều kiện địa lý của Việt Nam, điều này hết sức có ý nghĩa khi nó giúp làm giảm chi phí vận chuyển
Có thể nói, trong điều kiện nguồn nguyên liệu chưa được quy hoạch thành vùng chuyên canh để có thể cung ứng với số lượng lớn, chất lượng đạt tiêu chuẩn, thì tổ chức kinh doanh theo quy mô nhỏ và vừa là phương thức cho phép tận dụng được những khả năng tiềm tàng của địa phương
* Góp phần xóa đói giảm nghèo và phát triển đồng đều giữa các vùng
Khuyến khích và tạo điều kiện cho mọi người dân tham gia kinh doanh một mặt giúp tăng thu nhập, mặt khác để họ làm quen với cơ chế thị trường, nhờ đó xóa bỏ dần các vấn đề xã hội do nghèo đói sinh ra Tổ chức kinh doanh ở quy mô nhỏ và vừa dễ được chấp nhận ở thời kỳ đầu khi vốn liếng còn nhỏ, kinh nghiệm
còn hạn chế và các quan hệ kinh doanh còn mong manh
Phân bố rộng khắp các địa bàn, doanh nghiệp nhỏ và vừa góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đặc biệt trong nông nghiệp, nhờ đó làm thay đổi bộ mặt nông thôn, vùng sâu, vùng xa Hoạt động trên hầu hết các lĩnh vực, các ngành kinh tế quốc dân, doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể đáp ứng nhu cầu mọi mặt của sản xuất, đời sống ngay tại địa bàn tuy rằng trên một góc độ nào đó, mức độ thỏa mãn nhu cầu người tiêu dùng của sản phẩm từ khu vực này có thể chưa hoàn hảo
Nhờ sự có mặt của doanh nghiệp nhỏ và vừa, chênh lệch giữa các địa phương, các vùng, các tầng lớp dân cư ngày càng thu hẹp lại
Trang 21* Là tiền đề tạo ra các doanh nghiệp lớn
Thị trường là nơi kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh của mỗi doanh nghiệp Trải qua thử thách đó, tự mỗi doanh nghiệp sẽ hoặc là ổn định, phát triển hay phải rút khỏi thị trường Nhưng không phải lúc nào doanh nghiệp đơn lẻ cũng có thể tự tích lũy để trở thành doanh nghiệp lớn hơn Tập trung tư bản là hình thức được chúng ta biết đến như một phương thức có hiệu quả và không tốn thời gian Liên kết, hợp tác, hợp nhất, … giữa các doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể nhanh chóng hình thành những tổ hợp lớn đủ sức đứng vững trong cạnh tranh ngày càng gay gắt
Doanh nghiệp nhỏ và vừa có khả năng liên kết dễ dàng với các doanh nghiệp khác dưới nhiều hình thức Cách đơn giản nhất là trở thành “vệ tinh” cho doanh nghiệp lớn hơn Đây là phương thức hiệu quả để mở rộng công suất của các doanh nghiệp mà không cần tăng vốn đầu tư Phương thức này tạo nên những tổ hợp sản xuất kinh doanh trên cơ sở phân công và hiệp tác giữa các doanh nghiệp
có quy mô khác nhau Hình thức tổ chức sản xuất như vậy đã được áp dụng ở nhiều nước tiên tiến Một mặt làm giảm chi phí do mở rộng quy mô doanh nghiệp, mặt khác tránh được rủi ro cho các doanh nghiệp do tính độc lập của mỗi đơn vị tham gia hợp tác theo kiểu vệ tinh Tiếp theo, sự hợp nhất giữa các doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng rất có hiệu quả Sự hợp nhất này có thể dựa trên sự đồng nhất về ngành kinh tế kỹ thuật, cũng có thể là sự phối hợp giữa các khâu của quá trình tái sản xuất để hình thành nên các công ty kinh doanh đa ngành Nhờ đó, làm tăng sức cạnh tranh của doanh nghiệp
* Góp phần đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là sự nghiệp của toàn dân Doanh nghiệp nhỏ và vừa, trong quá trình hoạt động của nó, luôn phải tìm cách áp dụng công nghệ mới để tồn tại trong điều kiện tiến bộ kỹ thuật công nghệ nhanh chóng như ngày nay Những cải tiến có tính đột phá trong công nghệ, việc đầu tư mới hay nâng cấp trang thiết bị của doanh nghiệp góp phần làm tăng tổng tư bản xã hội của nền kinh tế và do đó tăng khả năng sản xuất củ nền kinh tế Bên cạnh đó, không ít
Trang 22doanh nghiệp còn góp vốn vào việc xây dựng những công trình hạ tầng của địa phương theo phương thức nhà nước và nhân dân cùng làm Động thái này giúp chính phủ có thể tập trung vốn vào các công trình trọng điểm của quốc gia
Một hình thức khác cũng rất phổ biến là các doanh nghiệp nhỏ và vừa khi nhận gia công hàng xuất khẩu cũng được nhận chuyển giao công nghệ từ phía khách đặt hàng nước ngoài Phương thức này mặc dù có nhiều hạn chế như phụ thuộc vào khách hàng nước ngoài, phải chấp nhận giá gia công thấp, song, bù lại, doanh nghiệp có ngay trang thiết bị, các thiết kế mẫu và thị trường tiêu thụ trong hoàn cảnh thiếu vốn, thiếu kinh nghiệm cũng như các mối quan hệ thương trường
* Góp phần tăng kim ngạch xuất khẩu
Doanh nghiệp nhỏ và vừa có ưu thế trong việc phát triển sản xuất các mặt hàng truyền thống, hàng thủ công nhờ tổ chức được các cơ sở sản xuất nhỏ, nằm rải rác trong các vùng nông thôn, nơi có lao động nhàn rỗi thời vụ và lao động thủ công ở các làng nghề Hoạt động sản xuất hàng xuất khẩu không tập trung cũng được loại hình doanh nghiệp này khai thác theo phương thức đặt hàng các hộ gia đình Hình thức xuất khẩu hàng thủ công, mỹ nghệ, hàng truyền thống rất được các thị trường quốc tế ưa chuộng Nhờ đó, doanh nghiệp mang lại nguồn thu ngoại
tệ cho quốc gia, tăng tích lũy cho bản thân doanh nghiệp
Trang 23* Tạo điều kiện cho doanh nhân trưởng thành
Khởi sự với số vốn không đáng kể, con đường kinh doanh tuy chưa có nhiều thuận lợi, nhưng ngược lại đó cũng là bước tập dượt để doanh nhân học hỏi, tích lũy kiến thức và kinh nghiệm Thực tế có nhiều doanh nhân trưởng thành từ kinh doanh nhỏ ban đầu Đối với Việt Nam, chưa phát triển sản xuất hàng hóa, thị trường còn kém phát triển, dân chúng chưa quen kinh doanh, thì khởi nghiệp từ quy mô nhỏ là hình thức phổ biến đối với khu vực tư Vấn đề còn lại là cần có sự khuyến khích, hướng dẫn, hỗ trợ từ phía chính phủ để doanh nhân có cơ hội phát triển
Với vai trò ngày càng quan trọng trong nền kinh tế, tuy nhiên trong quá trình phát triển của mình các doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam tồn tại những hạn chế nhất định:
- Khó khăn trong việc đầu tư công nghệ mới, đặc biệt là công nghệ đòi hỏi vốn lớn, từ đó ảnh hưởng tới năng suất lao động, chất lượng hiệu quả, hạn chế khả năng cạnh tranh trên thị trường
- Bị động trong các quan hệ thị trường, khả năng cạnh tranh, tiếp thị, khó khăn trong việc thiết lập mở rộng hợp tác với bên ngoài
- Dễ xảy ra tình trạng trốn lậu thuế, một số doanh nghiệp còn trốn đăng ký hoặc kinh doanh không đúng như đăng ký, làm hàng giả, hàng kém chất lượng, hoạt động phân tán khó quản lý
Các doanh nghiệp nhỏ và vừa phải đối mặt với nhiều khó khăn, nhưng tình hình vẫn còn rất lạc quan
1.1.2 Chính sách khuyến khích phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa
Khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa có nhiều ưu điểm, nhưng cũng không ít điểm yếu Trong điều kiện cạnh tranh gay gắt của thị trường, doanh nghiệp nhỏ và vừa rất dễ bị tổn thương trước các biến động kinh tế Thực tế này đặt ra cho các nhà quản lý những yêu cầu riêng khi hoạch định chính sách cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa Đối với một nền kinh tế mới nổi như Việt Nam, chính sách đối với khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa càng có ý nghĩa lớn trong việc hướng khu vực này phát triển theo những mục tiêu chiến lược của quốc gia
Trang 241.1.2.1 Sự cần thiết khách quan của chính sách phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa
a, Vai trò của nhà nước đối với sự phát triển của khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa
Nhà nước có thể cải thiện được tình thế khó khăn của các doanh nghiệp nhỏ
và vừa nếu có chính sách khuyến khích phát triển khu vực này một cách hợp lý Bên cạnh đưa ra và triển khai thực hiện các chính sách hỗ trợ đối với khu vực này, nhà nước còn tạo điều kiện cho các tổ chức phi chính phủ trong nước và quốc tế hoạt động thuận lợi trên lãnh thổ, đồng thời cung cấp thông tin, giúp doanh nghiệp
dễ dàng tiếp cận với sự hỗ trợ của các tổ chức này
Nhà nước cũng có thể dùng quyền lực của mình để đặt ra các quy định buộc doanh nghiệp nhỏ và vừa thực hiện ngay khi bắt đầu công việc kinh doanh của họ
Đó là các quy định liên quan đến sự phát triển bền vững của toàn bộ nền kinh tế, bao gồm quy định về bảo vệ môi trường, bảo vệ các công trình công cộng, tôn trọng quy ước cộng đồng trên địa bàn có doanh nghiệp, tiêu chuẩn hóa các cấp sản phẩm, tiêu chuẩn tối thiểu về trình độ công nghệ theo từng thời kỳ
Đối với khu vực doanh nghiệp mang tính đặc thù này, nhà nước có thể phân cấp quản lý cho các địa phương áp dụng các chính sách hỗ trợ cụ thể đối với doanh nghiệp trong vùng nhằm đảm bảo cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể phối hợp tốt với các doanh nghiệp lớn hơn trong hoạt động sản xuất kinh doanh, một mặt tạo việc làm ổn định cho doanh nghiệp nhỏ hơn Mặt khác, doanh nghiệp lớn có thể mở rộng quy mô mà không nhất thiết phải tăng vốn đầu tư
b, Sự cần thiết khách quan của việc hoạch định chính sách kinh tế áp dụng riêng cho khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa
* Kinh doanh nhỏ cần được hướng dẫn để nâng cao hệ số an toàn trong quá trình hoạt động
Doanh nghiệp nhỏ và vừa rất dễ khởi sự, nhưng cũng rất dễ bị tổn thương
và dễ bị phá sản Những thăng trầm của khu vực này ảnh hưởng lớn đến nền kinh
tế do tính chất số đông của nó Bên cạnh đó, chủ doanh nghiệp nhỏ thường là người mới bắt đầu bước vào kinh doanh, thiếu kiến thức và kinh nghiệm, dễ gặp rủi ro trên thương trường Hướng dẫn kinh doanh, tiêu chuẩn hóa một số vấn đề cơ
Trang 25bản trong kinh doanh nhỏ là rất cần thiết để giúp đỡ chủ sở hữu có chiến lược hành động đúng đắn, chấp nhận mạo hiểm ở mức độ có thể, từng bước nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
* Cần có chính sách khuyến khích và ràng buộc để doanh nghiệp kinh doanh hợp pháp
Kinh doanh nhỏ rất dễ vi phạm các quy định của pháp luật Nổi bật là hoạt động không đăng ký, vi phạm chế độ về quản lý tài chính, thuế, bảo vệ môi trường, đảm bảo các lợi ích cơ bản của người lao động, chất lượng sản phẩm, nhất
là các sản phẩm liên quan đến sức khỏe cộng đồng Ngoài ra còn có các hiện tượng tiêu cực khác như hối lộ quan chức, thỏa thuận ăn chia với cán bộ thu thuế, Song, bản thân chủ doanh nghiệp nhiều khi không ý thức hết được tác hại của những hành vi vi phạm đó, hoặc không biết phải làm thế nào để tránh vi phạm mà vẫn ổn định kinh doanh Một lý do điển hình cho việc vi phạm pháp luật là nhiều chủ doanh nghiệp không hiểu biết về pháp luật liên quan đến kinh doanh Vì vậy, chính sách riêng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa sẽ giúp chủ doanh nghiệp dễ tiếp cận và hiểu biết pháp luật hơn Mặt khác, tạo môi trường kinh doanh thuận lợi bằng các chính sách sẽ thúc đẩy doanh nghiệp tự nguyện thực hiện nghĩa vụ của
họ trước Nhà nước và xã hội
* Giúp doanh nghiệp giải quyết khó khăn trong hoạt động kinh doanh
Khó khăn lớn nhất của doanh nghiệp nhỏ và vừa là thiếu vốn Quy mô nhỏ đồng nghĩa với năng lực tài sản thấp, vì thế doanh nghiệp nhỏ và vừa khó tiếp cận với các nguồn tín dụng chính thức Nếu áp dụng chung với các quy định cho chủ thể khác, doanh nghiệp nhỏ và vừa sẽ gặp nhiều khó khăn về tài chính
Ngoài ra, doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn trong suốt quá trình hoạt động của nó cũng do quy mô Bao gồm chi phí thời gian cho thủ tục hành chính, tiếp cận thông tin,
Vì vậy, cần có chính sách hỗ trợ bằng nhiều hình thức: tư vấn về pháp lý,
tư vấn về cải tiến quản trị doanh nghiệp, cải tiến công nghệ, tạo điều kiện cho doanh nghiệp tiếp cận các nguồn lực một cách minh bạch, dễ dàng,
Trang 26* Cần có chính sách hướng sự phát triển của doanh nghiệp vào thực hiện mục tiêu quốc gia
Chiếm tỷ lớn trong khu vực doanh nghiệp, doanh nghiệp nhỏ và vừa phải góp phần không nhỏ vào công cuộc xây dựng nền tảng cho phát triển bền vững
Đó là việc đưa ra các chính sách phù hợp để doanh nghiệp nhỏ và vừa thực sự là một bộ phận không thể tách rời trong nền kinh tế quốc dân Trong đó, doanh nghiệp nhỏ và vừa thực hiện các công đoạn dịch vụ, sản xuất, tiêu thụ hàng hóa bổ trợ cho doanh nghiệp lớn, hoặc hoạt động ở những khu vực không đủ điều kiện cho doanh nghiệp lớn hoạt động
c, Vai trò của chính sách phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa
Vai trò của chính sách khuyến khích phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa thể hiện ở các điểm chủ yếu sau:
* Chính sách khuyến khích và hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể giúp doanh nghiệp khắc phục được những điểm yếu trong tổ chức và hoạt động của họ
Doanh nghiệp nhỏ và vừa kém năng lực cạnh tranh cả trên thị trường đầu vào và thị trường đầu ra Yếu tố mang tính quyết định việc huy động các nguồn lực khác là vốn Một trong những tiêu chí xếp doanh nghiệp vào loại nhỏ và vừa là quy mô vốn Do đó, trang thiết bị và công nghệ đơn giản, khả năng trả lương cho lao động thấp dẫn đến khó thu hút lao động có tay nghề phù hợp, hoạt động khai thác thị trường nguyên liệu kém năng động là những điểm yếu tự thân của doanh nghiệp nhỏ và vừa Hiện trạng đó dẫn đến năng suất thấp, chất lượng sản phẩm cấp thấp Thị trường tiêu thụ sản phẩm của các doanh nghiệp nhỏ và vừa vì thế chủ yếu trong vùng địa phương
Trang 27* Giúp doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể đứng vững và phát triển trong điều kiện cạnh tranh khốc liệt của thị trường
Doanh nghiệp nhỏ và vừa rất dễ tổn thương trước các biến động kinh tế Như ta đã biết, tính ổn định của doanh nghiệp thường cùng chiều với quy mô Doanh nghiệp nhỏ và vừa ít khả năng chịu đựng các thử thách dài hạn của thị trường Các kiểu kinh doanh chộp dật sẽ giúp doanh nghiệp tăng trưởng nhanh, nhưng cũng rất dễ rơi vào bế tắc nếu thị trường có xu thế biến động trái với dự báo của doanh nghiệp Bên cạnh đó, để có thể tiêu thụ được sản phẩm, doanh nghiệp thường phải chấp nhận phương thức bán chịu, hiện tượng sử dụng vốn gối đầu nhau giữa các doanh nghiệp nhỏ và vừa là rất phổ biến, điều đó dễ gây hiện tượng
đổ vỡ theo chuỗi khi một doanh nghiệp trong mắt xích quan hệ đó mất khả năng thanh toán Nguy cơ phá sản của 60 - 70% doanh nghiệp nhỏ và vừa ở ta năm
2008 là một ví dụ điển hình Vì vậy, cần thiết phải có các chính sách trợ giúp từ phía chính phủ và các tổ chức phi chính phủ đối với khu vực này để tránh nguy cơ phá sản hàng loạt khi có biến động kinh tế
* Ngăn ngừa các hành vi gây tổn hại cho nền kinh tế từ phía doanh nghiệp nhỏ và vừa
Hoạt động của doanh nghiệp nhỏ và vừa luôn tiềm ẩn nguy cơ gây nguy hại cho nền kinh tế Biểu hiện trước hết là nhiều doanh nghiệp không đăng ký kinh doanh Tiếp đến, trong quá trình kinh doanh, doanh nghiệp nhỏ và vừa có nhiều hoạt động không tuân thủ chế độ quản lý thống nhất của nhà nước, ví dụ chế độ số sách kế toán, chế độ bảo hộ lao động, bảo hiểm xã hội và các quyền lợi khác cho người lao động, đặc biệt là mức độ trốn thuế
Do tính cơ động của việc bố trí mặt bằng sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp nhỏ và vừa thường nằm xen lẫn với các khu dân cư Tiếng ồn quá mức cho phép, chất thải không qua xử lý, sử dụng lãng phí nguồn tài nguyên, nhất là những tài nguyên chưa thu phí (nước ngầm chẳng hạn), không tôn trọng các quy trình kỹ thuật như sử dụng bừa bãi chất bảo vệ thực vật, chưa tiêu chuẩn hóa sản phẩm,
Trang 28không tôn trọng các quy ước xã hội trong cộng đồng khu dân cư, , là hiện tượng rất phổ biến nếu không có các quy định chặt chẽ và người thực thi mẫn cán
Những hiện tượng vi phạm pháp luật và quy tắc cộng đồng không chỉ ảnh hưởng một chiều từ doanh nghiệp tới môi trường và cộng đồng, trong dài hạn, nó làm giảm doanh thu của doanh nghiệp, thậm chí buộc doanh nghiệp tự rút khỏi thị trường Ngoài ra, tồn tại hiện tượng này quá lâu sẽ không khuyến khích các doanh nghiệp làm
ăn chân chính Về phía các nhà hoạch định, đây rõ ràng là bài toán khó
* Buộc doanh nghiệp nhỏ và vừa thực hiện nghĩa vụ của người sử dụng lao động theo những quy định của pháp luật lao động
Như đã nói ở trên, ít có doanh nghiệp nhỏ và vừa quan tâm tới việc thực hiện các nghĩa vụ của họ trước cộng đồng và với người lao động Bên cạnh ưu điểm tạo việc làm tại chỗ cho đông đảo người lao động, việc sử dụng lao động ở khu vực này còn nhiều vấn đề Điều dễ thấy đầu tiên là điều kiện làm việc của người lao động không được đảm bảo như: thiếu các phương tiện bảo hộ lao động, mặt bằng sản xuất chật hẹp, tiếng ồn, bụi công nghiệp, dễ gây bệnh nghề nghiệp Trong khi đó, những quyền lợi cơ bản của người lao động không được thực hiện, nổi bật là rất ít doanh nghiệp đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế cho người lao động làm việc thường xuyên Đối với lao động thời vụ, các quyền lợi này hầu như không bao giờ có Vì vậy, có chính sách quy định rõ nghĩa vụ của các bên trong quan hệ lao động ở doanh nghiệp nhỏ và vừa, đặc biệt đối với loại siêu nhỏ, sẽ giúp khắc phục được vấn đề trên
* Có chính sách hỗ trợ để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa
Đa số chủ sở hữu thiếu trình độ và kinh nghiệm điều hành doanh nghiệp Đây là tình trạng chung ở các nền kinh tế chưa phát triển sản xuất hàng hóa Chưa
có thói quen kinh doanh, thiếu nhạy cảm trước những biến động kinh tế, và như vậy, họ rất dễ buộc phải rút khỏi thị trường
Trang 29Nước ta cũng trong tình trạng này, ở thời kỳ đầu chủ doanh nghiệp nhỏ và vừa chủ yếu chưa qua đào tạo chuyên nghiệp về kinh doanh, gần đây hiện tượng này đã được cải thiện nhưng chưa phổ biến
1.1.2.2 Những nội dung chủ yếu của chính sách phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa
a, Mục tiêu của chính sách
* Khuyến khích phát triển mạnh mẽ khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa
Một trong những điều kiện tiên quyết của kinh tế thị trường là tính độc lập
về quyền tài sản, từ đó, các yếu tố thị trường mới có cơ hội phát huy tác dụng của
nó Phát triển khu vực tư là giải pháp đúng hướng nhằm nhanh chóng tạo ra một lực lượng doanh nghiệp hùng hậu hoạt động theo cơ chế thị trường, một đội ngũ doanh nhân năng động Doanh nghiệp nhỏ và vừa chủ yếu thuộc khu vực tư, hoạt động của nó được điều tiết chủ yếu bởi chính các yếu tố thị trường Quy mô khiêm tốn trong thời kỳ đầu chính là khởi điểm cho các doanh nghiệp tư có quy mô lớn thời kỳ sau
Sự đúng đắn của việc phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa còn xuất phát từ những ưu thế của loại hình doanh nghiệp này trong việc khai thác một cách hiệu quả các khả năng tiềm tàng của mỗi địa phương, từ lợi thế trong sử dụng nguồn nhân lực phổ thông, tận dụng nguyên liệu tại chỗ hay cấp thấp, sản xuất ra nhiều mặt hàng cấp thấp giá rẻ phù hợp nhu cầu và khả năng chi trả của đông đảo dân cư địa phương, … Do đó, mục tiêu đầu tiên của chính sách là khuyến khích phát triển khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa
* Doanh nghiệp phát triển bền vững
Yếu thế về quy mô vốn, doanh nghiệp nhỏ và vừa không mấy dễ dàng trong điều kiện cạnh tranh gay gắt của thị trường Để khu vực này có thể ổn định và phát triển, cần thiết phải có sự hỗ trợ từ bên ngoài Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chính sách của chính phủ giữ vị trí hết sức quan trọng trong việc tạo điều kiện, hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, giúp họ đứng vững và phát triển nhanh, có hiệu quả Mối quan tâm của doanh nghiệp là nâng cao năng lực cạnh tranh, khắc phục được điểm yếu, phát huy thế mạnh, lợi dụng cơ hội thị
Trang 30trường để tăng trưởng nhanh chóng Có chính sách tư vấn đúng đắn, hỗ trợ kịp thời sẽ cho phép doanh nghiệp tự tìm hướng đi đạt mục tiêu của họ Con đường phát triển như vậy sẽ tránh những đổ vỡ không cần thiết cho doanh nghiệp
* Khuyến khích doanh nghiệp tuân thủ đúng pháp luật và bảo vệ môi trường, giữ gìn tài nguyên thiên nhiên
Dễ vi phạm pháp luật là đặc tính vốn có của loại hình này Điều đó xuất phát từ tính phân bố tản mạn và dễ cơ động của loại doanh nghiệp này Nhiều doanh nghiệp hoạt động không đăng ký, không đóng thuế, vi phạm trật tự xã hội, ô nhiễm môi trường, sử dụng lãng phí tài nguyên thiên nhiên, sản phẩm độc hại, Chính sách riêng cho khu vực này nhằm tạo điều kiện cho doanh nghiệp tiếp cận
và nâng cao hiểu biết pháp luật, nâng cao trách nhiệm với cộng đồng và tổng thể nền kinh tế
b, Nguyên tắc cơ bản của việc hoạch định chính sách phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa
Thứ nhất, nội dung của chính sách một mặt hướng vào giải quyết khó khăn
cho doanh nghiệp, tôn trọng lợi ích của doanh nghiệp, nhưng phải đặt trong lợi ích của tổng thể nền kinh tế quốc dân
Thứ hai, cơ chế tác động của chính sách phải dựa trên cơ sở các yếu tố thị
trường, nói cách khác phải tôn trọng các quy luật khách quan của nền kinh tế thị trường Do đó, phương pháp tác động của chính sách cần mềm dẻo, linh hoạt và không can thiệp sâu vào các quan hệ nội bộ của doanh nghiệp
Thứ ba, hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa phải luôn đi đôi với việc yêu cầu
doanh nghiệp tuân thủ pháp luật
Thứ tư, hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa theo hướng phát triển bền vững Thứ năm, luôn chú ý tính hiệu quả của chính sách
c, Nội dung chủ yếu của chính sách phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa
Chính sách phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa bao gồm những nội dung chủ yếu sau :
Trang 31* Có thể sử dụng chính sách khuyến khích phát triển để hướng doanh nghiệp gia nhập vào những ngành nhất, định phù hợp với định hướng phát triển nền kinh tế quốc dân
Việc doanh nghiệp gia nhập một ngành hay lĩnh vực nào là tùy thuộc vào các yếu tố thị trường Khả năng vốn, kinh nghiệm của chủ sở hữu, nhu cầu của thị trường, mức lợi nhuận bình quân của ngành, áp lực cạnh tranh và các rào cản gia nhập ngành, là những yếu tố ảnh hưởng đến quyết định địa chỉ đầu tư của chủ doanh nghiệp Song, các chủ sở hữu chưa có kinh nghiệm đều không thể dự đoán được xu thế vận động của nền kinh tế, và do đó, họ thường đầu tư theo cảm tính hay phong trào Kết quả hoạt động kinh doanh của các chủ đầu tư này phụ thuộc khá nhiều vào may rủi Bài học rút ra từ thực tế thương trường thường rất đắt giá Trong điều kiện vốn liếng có hạn, doanh nghiệp có thể không thể khôi phục lại sau thất bại Chính vì vậy, thông qua chính sách hỗ trợ có thể cung cấp thông tin đầy
đủ và minh bạch, tư vấn để doanh nghiệp tìm hướng đầu tư vào những ngành, lĩnh vực có độ an toàn cao hơn, hoặc bằng các chính sách khuyến khích, ưu đãi để doanh nghiệp đầu tư vào các ngành có giá trị gia tăng cao, ngành sử dụng nhiều nhân công, theo định hướng chiến lược chung
cơ hội phát triển Tiếp theo là sự hỗ trợ bằng chính sách giáo dục Một hệ thống trường đào tạo nghề đủ tiêu chuẩn ở các bậc, cung cấp cho nền kinh tế lực lượng nhân công chuyên nghiệp là điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp nhỏ và vừa tuyển được lao động có tay nghề phù hợp Ngoài ra, có cơ chế để doanh nghiệp có thể tiếp cận dễ dàng các nguồn tín dụng chính thức
Trang 32* Kết hợp giữa hỗ trợ với các quy định bắt buộc
Doanh nghiệp nhỏ và vừa rất dễ trốn tránh nghĩa vụ của họ, đặc biệt thuế và các nghĩa vụ tài chính Không ít doanh nghiệp rất năng động và tích cực trong việc hoàn thành nghĩa vụ với Nhà nước và xã hội, nhưng trước hiện tượng trốn tránh nghĩa vụ của các doanh nghiệp khác họ dễ thoái lui theo tâm lý số đông Vì vậy, thiết lập kỷ cương là một trong những mục tiêu quan trọng của chính sách phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa Kinh nghiệm các nước cho thấy làm tốt vấn đề này
sẽ củng cố thêm nền tảng cho sự phát triển chung và khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa nói riêng
* Cải cách hành chính hướng vào việc tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của doanh nghiệp nhỏ và vừa
Chi phí cho các thủ tục hành chính, bao gồm chi phí về thời gian, chi phí cho các loại giấy tờ để đăng ký hoạt động kinh doanh và xin cấp các loại giấy phép có liên quan đến sản xuất kinh doanh, chi phí tiếp đại diện cơ quan quản lý, chi phí cho việc nộp thuế (gồm cả thời gian và thủ tục), làm tăng chi phí kinh doanh Doanh nghiệp càng nhỏ, chi phí bình quân cho các công việc này càng lớn
Có một mối quan hệ giữa sự phức tạp trong thủ tục hành chính với việc doanh nghiệp trốn tránh các nghĩa vụ của họ Đơn giản hóa thủ tục, giảm sự phiền hà từ phía cán bộ quản lý cũng phải được coi là một phần của chính sách phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa Vấn đề này ở nhiều nước đã thực hiện từ những năm đầu của chương trình khuyến khích phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa
d, Yêu cầu đối với chính sách phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa
* Hướng dẫn dân chúng tham gia vào công việc kinh doanh
Công việc kinh doanh vượt khỏi quy mô gia đình đòi hỏi ở chủ sở hữu nhiều kiến thức hơn Trước hết là thói quen mạo hiểm, tiếp đến là độ nhạy cảm trong việc nắm bắt và dự đoán các diễn biến của thị trường, ngoài ra các quan hệ với khách hàng, hiểu biết về công nghệ của ngành mình kinh doanh, nắm vững thông tin thị trường, thông tin về đối thủ cạnh tranh, và vô vàn kiến thức, kinh nghiệm khác
Trang 33Thực tiễn cho thấy cần thiết phải có các chính sách riêng để hướng dẫn kinh doanh nhỏ, khuyến khích dân chúng tham gia vào kinh doanh, một mặt nhằm khai thác tiềm năng trong dân từ đó cải thiện thu nhập cho người dân, một mặt nhằm nhanh chóng hình thành một hệ thống thị trường các loại, đáp ứng yêu cầu của một nền kinh tế thị trường
* Có các chính sách hỗ trợ phù hợp điều kiện thực tiễn và nhu cầu của sản xuất, kinh doanh của khu vực này
Tìm hiểu khó khăn của doanh nghiệp nhỏ và vừa để đưa ra chính sách hỗ trợ kịp thời, đúng đối tượng, đúng địa điểm, đúng ngành nghề cần khuyến khích, Sự hỗ trợ không nhất thiết nhiều về số lượng, mà quan trọng hơn là vấn đề hiệu quả Bên cạnh đó, việc hỗ trợ doanh nghiệp luôn gắn lợi ích doanh nghiệp với lợi ích xã hội, lợi ích trước mắt với lợi ích lâu dài Sự hỗ trợ phải đạt mục tiêu làm doanh nghiệp tự trưởng thành trong khuôn khổ pháp luật
Trong điều kiện nước ta hiện nay, doanh nghiệp nhỏ và vừa gặp khó khăn lớn nhất là thiếu vốn, vì vậy hỗ trợ về tiếp cận tín dụng được đặt lên hàng đầu Tiếp đến là hỗ trợ về bố trí mặt bằng sản xuất Chính quyền các địa phương có thể tạo điều kiện cho doanh nghiệp có mặt bằng sản xuất hợp lý mà không ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp, đời sống dân cư địa phương Đồng thời cũng cần cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho doanh nghiệp kịp thời để doanh nghiệp có tài sản thế chấp cho các hợp đồng tín dụng Một sự hỗ trợ rất quan trọng khác là hỗ trợ
về thông tin, pháp luật Chủ sở hữu doanh nghiệp cần có kiến thức về quản lý, cần
có thông tin kinh tế, thị trường, hiểu biết về pháp luật kinh doanh, pháp luật lao động, chế độ quản lý tài chính, thuế, và hàng loạt vấn đề khác Ngoài ra, hỗ trợ về
kỹ thuật, về các mối liên doanh, liên kết với các doanh nghiệp lớn hơn, các hoạt động có tính chất tạo điều kiện cho doanh nghiệp từ phía chính quyền địa phương Cuối cùng, vấn đề hạ tầng cơ sở cũng là một khó khăn đối với doanh nghiệp Cơ sở
hạ tầng liên quan tới rất nhiều vấn đề, trong đó, các công trình từ ngân sách nhà nước không thể đáp ứng ngay nhu cầu phát triển Đã có nhiều địa phương áp dụng giải pháp “Nhà nước và nhân dân cùng làm” để xây dựng đường giao thông cấp xã
Trang 34và liên xã, trong đó, nhiều doanh nghiệp tư đã đóng góp phần tích cực Đây cũng là phương thức tốt để tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển ở mọi nơi, mọi địa bàn
* Khuyến khích doanh nghiệp nhỏ và vừa tăng cường đổi mới trang thiết bị, hiện đại hóa công nghệ
Đây là yêu cầu phù hợp với quy luật phát triển Với tỷ trọng lớn số doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ, trang thiết bị còn thô sơ, công nghệ đơn giản, thì công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa phải được coi là sự nghiệp của toàn dân,
đi đầu là các đơn vị kinh doanh
Trong chiến lược phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa cần có các quy định
về tiêu chuẩn kỹ thuật đối với sản xuất, chất lượng sản phẩm, mức độ ô nhiễm và tiếng ồn trong phạm vi nhất định, để từng bước thực hiện tiêu chuẩn hóa đối với khu vực kinh doanh này
* Có chính sách khuyến khích doanh nghiệp nhỏ và vừa gia nhập các ngành sản xuất
Mặc dù nền kinh tế nước ta có tốc độ tăng trưởng khá cao trong những năm qua, song về thực chất, giá trị mới sáng tạo không nhiều Như chúng ta đã biết, tài nguyên thiên nhiên chiếm một tỷ lệ lớn trong tổng giá trị sản phẩm quốc nội, bên cạnh đó một khối lượng lớn giá trị hàng hóa do các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài sản xuất ra trên lãnh thổ Đa số doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia vào các ngành thương mại, dịch vụ Thương mại và dịch vụ rất cần thiết cho việc phục vụ sản xuất và đời sống, thúc đẩy quá trình tái sản xuất Song, với số lượng quá lớn doanh nghiệp tham gia vào lĩnh vực này đã làm tăng sức ép cạnh tranh và cạnh tranh thiếu lành mạnh Hơn nữa, hiện tượng đầu cơ, mua bán lòng vòng không những không tạo ra giá trị mới cho nền kinh tế mà còn góp phần đẩy chi phí lưu thông lên cao Khi xảy ra các biến động kinh tế, hệ thống này rất dễ đổ vỡ Nền tảng vững chắc cho phát triển kinh tế trước hết phải là sản xuất ra của cải vật chất
Có cơ chế khuyến khích doanh ngiệp đầu tư vào các ngành sản xuất vật chất đang thực sự là một yêu cầu căn bản đối với thực tiễn Việt Nam hiện nay
Trang 35* Có chính sách khuyến khích doanh nghiệp nhỏ và vừa hoạt động ở những vùng xa xôi
Nội dung này nhằm góp phần thực hiện mục tiêu xóa đói giảm nghèo mà Nghị quyết của Đảng đề ra
Đối với nông dân, cần có chính sách khuyến khích họ trở thành nhà kinh doanh trong nông nghiệp và các hoạt động dịch vụ sản xuất nông nghiệp, nhằm đưa nông nghiệp phát triển, nhờ đó thực hiện chủ trương chuyển dịch cơ cấu kinh
tế địa phương và công nghiệp hóa nông nghiệp
1.2 Cơ sở thực tiễn về chính sách phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa
1.2.1 Trên thế giới
Sự hiện hữu của doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nền kinh tế thị trường là tất yếu của đời sống kinh tế Song diễn biến thăng trầm trong sự nghiệp kinh doanh của mỗi doanh nghiệp cũng như mức độ đóng góp của khu vực này vào mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội lại phụ thuộc rất nhiều vào thái độ của Chính phủ Thực tiễn một số nước trong khu vực đã chứng minh điều đó
1.2.1.1 Nhật bản
Nhật Bản được coi là quốc gia biết khai thác có hiệu quả mọi nguồn lực của mình và cả của thế giới Tạo cơ hội cho tất cả dân chúng kinh doanh là một trong những bí quyết của thành công đó
Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Nhật Bản không phải bằng con đường tự phát như ở một số quốc gia khác Chính phủ của đất nước này đưa ra nhiều chương trình hỗ trợ một cách có hệ thống và lâu dài Có thể nói, chính sách phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa của Nhật được coi là một trong những nhân tố góp phần đưa quốc gia này nhanh chóng hồi phục nền kinh tế bị tàn phá trong Chiến tranh thế giới lần thứ hai và trở thành một trong những cường quốc hàng đầu thế giới
Các biện pháp hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa của Nhật khá đa dạng Trước hết là ở việc ban hành và triển khai các văn bản pháp luật nhằm chính thức bảo hộ phát triển loại hình kinh doanh này Năm 1957, Nhật ban hành Luật về các
Trang 36tổ chức kinh doanh nhỏ và vừa, theo đó, các nhà kinh doanh nhỏ được phép cùng nhau lập hội để giúp nhau góp tiền, góp sức cho sản xuất Năm 1963 ban hành Luật cơ bản về kinh doanh nhỏ Nội dung là hướng tới sự cải thiện năng suất lao động vốn quá thấp do tình trạng lạc hậu của công nghệ trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa Luật đưa ra các quy định về quy mô của doanh nghiệp nhỏ và vừa, quy định về chính sách hỗ trợ từ phía chính phủ trong việc ứng dụng kỹ thuật hiện đại, cải tiến công nghệ, hợp lý hóa sản xuất, sắp xếp việc liên doanh, liên kết giữa các đơn vị nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh Tiếp đến, cũng trong năm 1963, một đạo luật về đẩy mạnh hiện đại hóa kinh doanh nhỏ cũng được thông qua Trong đó quy định chế độ cung cấp vốn và hướng dẫn hoạt động cho các cơ sở kinh doanh nhỏ như xác định các loại nghề, vạch ra những chương trình hiện đại hóa, về phía chính phủ có nhiệm vụ hướng dẫn lập các-ten, cung ứng vốn, tư vấn,…
Chính sách phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa được thực hiện chủ yếu bằng các khoản tín dụng ưu đãi và dịch vụ hỗ trợ đặc biệt Chính sách kinh tế năm
2008 tập trung vào vấn đề trợ giá cho doanh nghiệp nhỏ và vừa
Bên cạnh các biện pháp hỗ trợ trực tiếp, việc chính phủ Nhật Bản thực thi chiến lược tăng trưởng đi đôi với công bằng xã hội cũng tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa phát triển
1.2.1.2 Đài Loan
Sau khi tách khỏi lục địa và giành được tự do từ chế độ thuộc địa của Nhật, Đài Loan bắt buộc phải lựa chọn một hướng đi riêng cho mình Bối cảnh chính trị phức tạp lúc đó được coi là một yếu tố có ảnh hưởng lớn đến con đường đi lên rất đặc thù của Đài Loan Một trong những nét điển hình của nền kinh tế này là sự phát triển mạnh mẽ các doanh nghiệp nhỏ và vừa
Lúc đầu, doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Đài Loan ra đời và phát triển trên cơ
sở các yếu tố tự nhiên và truyền thống Vào những năm giữa thế kỷ hai mươi, các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Đài Loan phát triển mạnh mẽ dựa trên các yếu tố khách quan của thị trường Đó là: nhu cầu của thị trường trong nước, nhất là những vùng nông thôn xa xôi chưa phát triển thị trường; cơ hội xuất khẩu hàng dễ
Trang 37dàng nhờ sự chuyển dịch các ngành sản xuất sử dụng nhiều lao động từ các nước công nghiệp phát triển phương Tây sang Về phía mình, Đài Loan chưa thể có ngay một lượng vốn thật lớn xây dựng hàng loạt doanh nghiệp hiện đại Bù lại, nền kinh tế này có lực lượng lao động đông đảo, và người Hoa vốn có kinh nghiệm truyền thống trong tổ chức kinh doanh quy mô gia đình
Nguyên nhân chủ yếu đưa đến thành công nhanh chóng trong phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Đài Loan là: chính quyền có các chính sách hỗ trợ như chính sách hiện đại hóa nông nghiệp trong những năm 1970, chính sách hỗ trợ, tư vấn kỹ thuật, chính sách thuế hợp lý để tạo sức mạnh cho lực lượng sản xuất nông nghiệp Bên cạnh đó, các chính sách còn hướng vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh
tế nông nghiệp sang sản xuất những mặt hàng có giá trị kinh tế cao
Ngoài ra, chính sách giáo dục và đào tạo nghề của Đài Loan chú trọng không những chương trình giáo dục phổ thông mà điểm đặc biệt là ở hệ thống trường dạy nghề đào tạo theo quy mô lớn và thống nhất về tiêu chuẩn, tại đó đào tạo các kỹ năng nhằm tạo ra một đội ngũ lao động có tay nghề cao và đồng đều Việc tuyển chọn lao động trong điều kiện như vậy giúp doanh nghiệp nhỏ và vừa đảm bảo được chất lượng sản phẩm và rút ngắn khoảng cách với doanh nghiệp lớn
về năng suất
1.2.1.3 Thái Lan
Khác với Đài Loan, tốc độ tăng trưởng cao của Thái Lan lại nhờ ở việc phát triển kinh doanh lớn và tập trung phát triển theo vùng Ở Thái Lan tồn tại hai hình ảnh trái ngược nhau: một Thái Lan thịnh vượng ở Băng cốc, một Thái Lan nghèo đói và lạc hậu ở phần còn lại Kết quả của việc tập trung thái quá nguồn lực cho riêng Băng cốc
và một số vùng phụ cận đã làm nền kinh tế này mất cân đối nghiêm trọng và đặt Thái Lan trước nguy cơ khủng hoảng từ đầu những năm 1980
Chỉ đến thời kỳ này, các nhà hoạch định của Thái Lan mới bắt đầu sửa sai bằng các giải pháp trong kế hoạch 5 năm lần thứ năm (1982-1986) Trên cơ sở nhận thức sâu sắc bài học đắt giá về sự bỏ qua vai trò của các doanh nghiệp vừa và nhỏ, chính phủ đã triển khai các dự án phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa ở nông
Trang 38thôn, khuyến khích các ngành thu hút nhiều lao động Trên thực tế, tác động của các dự án này còn khiêm tốn
Song, về cơ bản, chú ý khuyến khích và hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nhỏ
và vừa được coi là giải pháp phù hợp để cải thiện tình trạng đói nghèo ở các vùng nông thôn xa xôi của Thái Lan
1.2.2 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Rất khác nhau về thời điểm, về bối cảnh kinh tế, chính trị trong nước và quốc tế, nhưng những chính sách mà các quốc gia thành công trong việc sử dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa như một công cụ hữu hiệu để đạt mục tiêu tăng trưởng đi đôi với công bằng xã hội lại luôn giữ được giá trị của nó cùng thời gian
Lợi thế đi sau là ở việc rút kinh nghiệm từ các nước thành công và thất bại của những nước đi trước Việt Nam trong chiến lược phát triển nền kinh tế thị trường nhưng không xa rời mục tiêu đảm bảo công bằng xã hội, xóa đói giảm nghèo, có thể tìm thấy những bài học kinh nghiệm từ các quốc gia trong khu vực
Có thể tóm tắt ở những điểm sau:
1.2.2.1 Có chiến lược và kế hoạch phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ
Bài học đầu tiên về tốc độ tăng trưởng thần kỳ của Nhật chính là vai trò của nhà nước với việc hoạch định chiến lược và kế hoạch phát triển, trong đó luôn giành cho kinh doanh nhỏ một vị trí xứng đáng ở tất cả các thời kỳ Ngược lại, sự coi nhẹ khu vực này cũng là một trong những nguyên nhân của việc phát triển không đều và bất ổn ở Thái Lan
Trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, bên cạnh việc chú trọng phát triển các cơ sở kinh tế hiện đại, có quy mô lớn, không thể bỏ qua hay coi nhẹ việc phát triển kinh tế theo chiều rộng Kinh doanh nhỏ một mặt giải quyết vấn đề việc làm và thu nhập cho đông đảo người lao động, một mặt tạo tiền đề cho doanh nhân tích lũy kinh nghiệm và vốn để mở mang kinh doanh Kết hợp hài hòa các khu vực kinh doanh lớn, nhỏ; hiện đại và truyền thống trong nền kinh tế cho phép giải quyết đồng thời các mục tiêu kinh tế xã hội trong dài hạn và ngắn hạn, tạo điều kiện cho dân chúng tự kinh doanh để chính phủ tập trung vào các công trình lớn
Trang 391.2.2.2 Cải cách ruộng đất và công nghiệp hóa nông nghiệp
Đặc trưng nổi bật của các nước Châu Á là đi lên từ nền kinh tế nông nghiệp Tạo điều kiện cho nông dân có ruộng là bước đi đầu tiên của công cuộc cải tổ nông nghiệp Tiếp đến là việc giúp họ kinh doanh có hiệu quả không chỉ trên phần đất đó mà cả trong các lĩnh vực khác như công nghiệp, dịch vụ phục vụ sản xuất nông nghiệp, đời sống dân cư địa phương, làm thay đổi bộ mặt nông thôn Nông dân trở thành những chủ kinh doanh nhỏ, nâng cao năng suất lao động trong nông nghiệp, giải phóng một phần lớn sưc lao động khỏi sản xuất nông nghiệp, đây chính là khởi đầu cho nền sản xuất hiện đại trong tương lai
1.2.2.3 Có chính sách riêng đối với khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa
Nói đến chính sách phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa là nói đến các chính sách hỗ trợ Vấn đề đặt ra là hỗ trợ doanh nghiệp nào? hỗ trợ cái gì? hỗ trợ bao nhiêu? hỗ trợ khi nào? hỗ trợ như thế nào?
Mỗi quốc gia thành công có một phương thức hỗ trợ riêng, phù hợp đặc điểm của nước mình Nhưng nhìn chung đều giống nhau về những vấn đề cơ bản:
- Phát triển các công trình công cộng
- Hỗ trợ về vốn
- Tư vấn và hỗ trợ kỹ thuật đi đôi với các yêu cầu về hiện đại hóa
- Hỗ trợ về phát triển nguồn nhân lực
- Đội ngũ công chức có năng lực và đạo đức nghề nghiệp
1.2.2.4 Đảm bảo tính minh bạch trong thực thi chính sách
Nguyên nhân thành công của Nhật Bản, Đài Loan và cũng là thất bại của
Thái Lan một phần ở năng lực bộ máy quản lý Chính sách sẽ vẫn chỉ là chính sách một khi thực thi không nghiêm túc Ngoài ra, nạn tham nhũng ở các cấp chính quyền cũng làm chệch hướng và giảm hiệu quả của chính sách
Trang 401.2.2.5 Kết hợp giữa quyền lực nhà nước với sức thuyết phục của các tổ chức xã hội
Chính quyền địa phương có thể tạo điều kiện cho các tổ chức xã hội hoạt
động chính thức tham gia vào các chương trình tư vấn kinh doanh, tín dụng nhân dân, … để giúp dân chúng tham gia kinh doanh, giúp đỡ nhau khi gặp khó khăn
1.3 Tổng quan các công trình đã nghiên cứu có liên quan
Để phục vụ phát triển loại hình doanh nghiệp nhỏ và vừa cho tương xứng với vai trò của nó trong nền kinh tế Ở trên thế giới nói chung cũng như ở nước
ta nói riêng đã có nhiều nghiên cứu về các giải pháp, chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa:
Đề tài: “Kết quả khảo sát doanh nghiệp năm 2005 tại 30 tỉnh, thành phố phía Bắc” của Trung tâm Hỗ trợ kỹ thuật Doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Hà Nội
năm 2005, đã có những đánh giá toàn diện về quá trình phát triển của khối doanh nghiệp nhỏ và vừa phía bắc
Đề tài: “Hỗ trợ phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ trong lĩnh vực công nghiệp phục vụ nông nghiệp ở Hà Nội giai đoạn hiện nay” tác giả Vũ Tuấn Anh,
luận văn thạc sĩ năm 2004 Trong luận văn tác giả đã chỉ ra mối liên hệ công nông nghiệp; các nhân tố ảnh hưởng đến doanh nghiệp vừa và nhỏ trong lĩnh vực công nghiệp phục vụ nông nghiệp; thực trạng các mô hình hỗ trợ cũng như chính sách hỗ trợ đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ trong công nghiệp phục vụ nông nghiệp ở Hà Nội từ đó đưa ra được một số phương hướng hoàn thiện
Vào năm 2007 trong bài viết: “Vai trò của Nhà nước trong việc nâng cao sức cạnh tranh cho các doanh nghiệp ở nông thôn” TS Chu Tiến Quang -Viện
Nghiên cứu kinh tế trung ương đã đề cập tới việc hỗ trợ nâng cao nâng lực cạnh trạnh của DN nói chung và doanh nghiệp nhỏ và vừa nói riêng thông qua vận dụng các chính sách của đảng và nhà nước như luật cạnh tranh, luật doanh nghiệp (2005) tạo môi trường sản xuất kinh doanh bình đẳng, minh bạch giữa các loại hình doanh nghiệp trên mỗi vùng sản xuất ở nông thôn