1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Hoàn thiện chi ngân sách nhà nước cấp huyện cho việc cung cấp hàng hóa, dịch vụ công trên địa bàn huyện triệu sơn, tỉnh thanh hóa

101 143 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 779,87 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cụ thể như: Vai trò, trách nhiệm của nhà nước, chính quyền địa phương về nhận thức đối với việc cung cấp hàng hóa, dịch vụ công, phương thức cung cấp hàng hóa, dịch vụ công và nội dung,

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan rằng luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Nếu nội dung nghiên cứu của tôi trùng lặp với bất kỳ công trình nghiên cứu nào đã được công bố, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm và tuân thủ kết luận đánh giá luận văn của Hội đồng khoa học

Hà Nội, ngày tháng năm 2016

Tác giả luận văn

(ký tên)

Bùi Huy Dũng

Trang 2

LỜI CẢM ƠN Trong thời gian thực hiện luận văn tốt nghiệp, ngoài sự cố gắng nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ của các cá nhân và tổ chức

Trước hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới:

- PGS.TS Vũ Thanh Sơn, người hướng dẫn khoa học, trực tiếp giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn

- Lãnh đạo Trường Đại học Lâm Nghiệp Việt Nam, Khoa sau đại học, các thầy cô giáo bộ môn trong và ngoài trường

- Tôi xin chân thành cảm ơn lãnh đạo các ban ngành thuộc Huyện ủy, UBND huyện Triệu Sơn, Phòng Tài chính – Kế hoạch huyện Triệu Sơn, Chi cục Thống kê huyện Triệu Sơn, UBND các xã, các đơn vị, cá nhân liên quan

đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành tốt nội dung đề tài

Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn tới những người thân trong gia đình, bạn bè đã động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình

Hà Nội, ngày tháng năm 2016

Tác giả Luận văn

Bùi Huy Dũng

Trang 3

MỤC LỤC

Trang Trang phụ bìa

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU vii

DANH MỤC CÁC HÌNH, SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ viii

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHI NSNN CẤP HUYỆN CHO VIỆC CUNG CẤP HÀNG HÓA DỊCH VỤ CÔNG 4

1.1 Hàng hóa, dịch vụ công 4

1.1.1 Khái niệm hàng hóa, dịch vụ công 4

1.1.2 Phân loại hàng hóa, dịch vụ công 8

1.1.3 Tầm quan trọng của hàng hóa, dịch vụ công đối với phát triển kinh tế - xã hội 13

1.2 Chi ngân sách nhà nước cấp huyện 15

1.2.1 Khái niệm chi ngân sách cấp huyện 15

1.2.2 Quy trình, nội dung chi ngân sách cấp huyện 17

1.3 Nội dung chi NSNN cho việc cung cấp hàng hóa, dịch vụ công 21

1.3.1 Qui định chi NSNN chi cho việc cung cấp hàng hóa, dịch vụ công 21

1.4 Kinh nghiệm của địa phương khác và bài học cho Triệu Sơn 33

1.4.1 Kinh nghiệm của địa phương khác về chi NSNN cấp huyện cho cung cấp hàng hóa, dịch vụ công 33

1.4.2 Bài học cho Triệu Sơn 35

Trang 4

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 37

2.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu liên quan 37

2.1.1 Điều kiện tự nhiên 37

2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội: 38

2.1.3 Đặc điểm bộ máy, nhân sự Phòng Tài chính- KH huyện Triệu Sơn 40

2.2 Phương pháp nghiên cứu 43

2.2.1 Các phương pháp kết hợp logic và lịch sử 43

2.2.2 Phân tích - tổng hợp 43

2.3 Phương pháp thống kê 44

2.4 Phương pháp thu thập số liệu 44

2.5 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá 45

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 46

3.1 Thực trạng cung ứng hàng hóa dịch vụ công tại huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa 46

3.1.1 Các loại hàng hóa dịch vụ công ở địa phương 46

3.1.2 Tổ chức cung cấp những hàng hóa dịch vụ công chủ yếu tại địa phương 49

3.2 Thực trạng chi NSNN cho việc cung cấp hàng hóa, dịch vụ công tại huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa, giai đoạn 2012 - 2014 56

3.2.1 Tình hình phân cấp quản lý ngân sách tại địa phương 56

3.2.2 Lập dự toán, phân bổ các khoản chi cung cấp hàng hóa, dịch vụ công 57 3.2.3 Tình hình thực tế chi cung cấp hàng hóa, dịch vụ công tại huyện Triệu Sơn 58

3.3 Kết quả đạt được và những vấn đề khó khăn cần giải quyết 70

3.3.1 Kết quả đạt được 70

3.3.2 Những vấn đề khó khăn cần giải quyết 71

3.4 Dự báo về phát triển hàng hóa và dịch công trên địa bàn tới năm 2020 75

3.4.1 Xu hướng phát triển hàng hóa dịch vụ công trong điều kiện nền kinh tế thị trường 75

Trang 5

3.4.2 Xu hướng đa dạng hóa thành phần kinh tế tham gia cung cấp hàng hóa

dịch vụ công 77

3.4.3 Nhu cầu về hàng hóa dịch vụ công ngày càng đa dạng hóa về chủng loại với chất lượng ngày càng cao 78

3.5 Quan điểm, giải pháp hoàn thiện chi NSNN cho việc cung cấp hàng hóa dịch vụ công tại huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa tới năm 2020 78

3.5.1 Chiến lược phát triển KTXH và chính sách tài chính cho phát triển HHDVC 78

3.5.2 Các quan điểm hoàn thiện chi NSNN cho việc cung cấp hàng hóa dịch vụ công 79

3.5.3 Một số giải pháp hoàn thiện chi NSNN cho việc cung cấp hàng hóa dịch vụ công tại huyện Triệu Sơn đến năm 2020 83

3.6 Kiến Nghị với cơ quan quản lý ngân sách nhà nước 89

3.6.1 Kiến nghị đối với nhà nước 89

3.6.2 Kiến nghị đối với cấp Tỉnh 90

KẾT LUẬN 91 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 6

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BHYT Bảo hiểm y tế

BHXH Bảo hiểm xã hội

UBND Ủy ban nhân dân

VHTT Văn hóa thông tin

XDCB Xây dựng cơ bản

XD NTM Xây dựng nông thôn mới

XD CSHT Xây dựng cơ sở hạ tầng

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

1.1 Phân cấp nhiệm vụ chi cho các cấp ngân sách trong việc cung

3.1 Những hàng hóa, dịch vụ công chủ yếu tại huyện Triệu Sơn 48

3.2 Hoạt động giáo dục đào tạo Huyện Triệu Sơn năm học 2014 -

3.4 Tổng hợp chi NSNN trên địa bàn cho cung cấp hàng hóa, dịch

Trang 8

DANH MỤC CÁC HÌNH, SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ

2.1 Cơ cấu tổ chức của Phòng Tài chính - KH huyện Triệu Sơn 40

3.1 Tình hình chi cung cấp hàng hóa dịch vụ công theo các nhóm

3.3 Chi thường xuyên cung cấp HHDVC của NS huyện 66

Trang 9

ĐẶT VẤN ĐỀ

1 Tính cấp thiết nghiên cứu của đề tài

Trong điều kiện kinh tế thị trường, NSNN là công cụ quan trọng để nhà nước thực hiện các chính sách cung cấp các hàng hóa, dịch vụ công cho xã hội, góp phần tích cực đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, khắc phục những khuyết tật của thị trường và thực hiện công bằng trong phân phối

Huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa là một huyện đồng bằng trung du, có diện tích tự nhiên lớn, dân số đông với trên 20 vạn người, hệ thống tổ chức hành chính rộng với 36 xã, thị trấn và trên 100 đơn vị hành chính sự nghiệp

Để đáp ứng nhu cầu kinh phí cho các đơn vị này, hàng năm ngân sách huyện phải chi hàng trăm tỉ đồng để đảm bảo cho bộ máy hoạt động như: tiền lương, tiền công, chi nghiệp vụ chuyên môn, chi hành chính và chi trực tiếp cho hoạt động cung cấp hàng hóa, dịc vụ công trên địa bàn huyện Nhưng hiện nay trong lĩnh vực chi NSNN cho cung cấp hàng hóa, dịch vụ công ở địa phương còn có những vấn đề bất cập cần phải nghiên cứu hoàn thiện, từ việc nhận thức lý luận đến tổ chức hoạt động thực tiễn Cụ thể như: Vai trò, trách nhiệm của nhà nước, chính quyền địa phương về nhận thức đối với việc cung cấp hàng hóa, dịch vụ công, phương thức cung cấp hàng hóa, dịch vụ công và nội dung, quản lý chi NSNN cho việc cung cấp hàng hóa, dịch vụ công tại địa phương như thế nào là hợp lý, hiệu quả và phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội của địa phương; đồng thời làm thế nào để khai thác có hiệu quả các nguồn lực tại địa phương vào việc phát triển cung cấp hàng hóa, dịch vụ công, giảm gánh nặng chi ngân sách nhà nước cấp huyện

Qua nghiên cứu đề tài: “Hoàn thiện chi NSNN cấp huyện cho việc cung

cấp hàng hóa, dịch vụ công trên địa bàn huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa”,

tác giả mong góp phần làm rõ về bản chất về hàng hóa, dịch vụ công, các nội

Trang 10

dung quản lý chi NSNN cấp huyện và phân tich đánh giá thực trạng chi NSNN của huyện Triệu Sơn cho việc cung cấp hàng hóa, dịch vụ công từ đó đề xuất các nhóm giải pháp nhằm hoàn thiện chi NSNN cho việc cung cấp hàng hóa, dịch vụ công trong điều kiện cụ thể của huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu tổng quát

Luận giải cơ sở lý luận và thực tiễn về hàng hóa, dịch vụ công; phân tích đánh giá thực trạng chi NSNN của huyện Triệu Sơn cho việc cung cấp hàng hóa, dịch vụ công; xác định xu hướng, nhu cầu về HHDVC của đời sống

xã hội từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện chi NSNN cho việc cung cấp hàng hóa, dịch vụ công tại huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Chi NSNN cấp huyện cho hoạt động cung ứng hàng hóa và dịch vụ công trên địa bàn huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa

Trang 11

3.2 Phạm vi nghiên cứu:

- Phạm vi về nội dung: Đề tài nghiên cứu những vấn đề lý luận về hàng hóa, dịch vụ công và thực trạng về chi NSNN cấp huyện cho việc cung cấp hàng hóa, dịch vụ công ở huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hoá

- Phạm vi không gian: Đề tài chỉ nghiên cứu những nội dung liên quan trên địa bàn huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa

- Phạm vi thời gian: Đề tài tập trung nghiên cứu trong 3 năm, từ 2012 đến 2014; giải pháp hiệu lực tới năm 2020

4 Kết cấu của bản luận văn:

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương như sau:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về chi NSNN cấp huyện cho việc

cung cấp hàng hóa dịch vụ công

Chương 2: Đặc điểm địa bàn và phương pháp nghiên cứu

Chương 3: Kết quả nghiên cứu

Trang 12

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHI NSNN CẤP HUYỆN CHO

VIỆC CUNG CẤP HÀNG HÓA DỊCH VỤ CÔNG

1.1.1 Khái niệm hàng hóa, dịch vụ công

Trong cuộc sống hàng ngày con người đã sản xuất ra muôn vàn sản phẩm, dịch vụ thuộc mọi lĩnh vực để phục vụ cho các nhu cầu của nhân loại Theo lý thuyết về hàng hóa của C.Mác thì hàng hóa là sản phẩm của lao động nhằm thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người và được đem ra bán hoặc trao đổi, chứ không phải để người sản xuất tự tiêu dùng

Nhưng theo quan điểm của các nhà kinh tế học thị trường, những cái gì mang lại lợi ích cho con người sử dụng nó và được mua bán trên thị trường được gọi là hàng hóa, dịch vụ Dưới góc độ nghiên cứu khoa học khác nhau, hàng hóa và dịch vụ được phân chia thành nhiều loại riêng biệt

Xét ở góc độ “công” và “tư”, các hàng hóa, dịch vụ được chia thành hai nhóm lớn là: Hàng hóa, dịch vụ tư (cá nhân) và hàng hóa, dịch vụ công (công cộng)

Các tiêu chí cơ bản để phân biệt hàng hóa và dịch vụ công (gọi tắt là HHC) và hàng hóa và dịch vụ tư (gọi tắt là HHT) dựa trên tính chất tiêu dùng của nó, thể hiện dưới hai khía cạnh: (i) tính loại trừ; (ii) tính tranh giành1

Tính loại trừ hàm ý trả lời câu hỏi: ‘có thể ngăn cản mọi người sử dụng

hàng hoá không?’ Lợi ích của hàng hóa đem lại là rộng lớn, phổ quát cho

mọi người hưởng lợi hay chỉ giới hạn hẹp, riêng cho một cá nhân nhất định Những hàng hoá không có tính loại trừ là những hàng hoá mà mọi người đều

có thể tiếp cận sử dụng nó mà không thể ngăn cản Ví dụ, không khí trong

1 PGS TS Vũ Thanh Sơn Cạnh tranh đối với khu vực công trong cung ứng hàng hóa và dịch

vụ - NXB chính trị - Hành chính.

Trang 13

sạch là hàng hoá không loại trừ vì không thể loại trừ bất cứ ai trong xã hội không thở, mọi người hít không khí thoải mái mà không phải trả tiền

Những hàng hóa loại trừ là hàng hóa mà người chiếm hữu nó có thể dễ dàng ngăn cản người khác sử dụng Chẳng hạn, người sở hữu cái bánh có thể không cho phép người khác sử dụng chiếc bánh đó, nếu muốn

Tính tranh giành hàm nghĩa trả lời câu hỏi: “việc sử dụng hành hóa của

người này có làm giảm khả năng tiêu dùng hàng hóa đó của người khác không?” Hàng hóa tranh giành là những hàng hóa mà việc tiêu dùng của người

này sẽ hạn chế hoặc loại bỏ việc sử dụng đồng thời của người khác đối với hàng hóa đó Ví dụ, quả cam được người nào đó ăn rồi thì người khác không còn thưởng thức nó được nữa Đa số hàng hóa, lâu bền và không lâu bền đều có tính tranh giành

Hàng hoá không tranh giành là những hàng hoá mà việc sử dụng của người này không ảnh hưởng đến khả năng sử dụng đồng thời của người khác đối với hàng hóa đó Hàng hoá không tranh giành bao gồm hữu hình và vô hình Chương trình phát thanh trên sóng Radio là hàng hoá không tranh giành Một khi người này mở đài nghe thì việc này cũng không hạn chế người khác nghe đài ở cùng kênh đó Những hàng hoá hữu hình không tranh giành có thể

kể tới như các phong cảnh đẹp, kỳ quan, công trình mỹ thuật công, v.v…

Những hàng hoá đồng thời có tính loại trừ và tính tranh giành gọi là HHT thuần tuý Bánh mỳ là HHT thuần tuý, một người này ăn hết chiếc bánh mỳ thì chắc chắn người khác không còn cái bánh đó để ăn được nữa, số người sử dụng bánh mỳ nhiều sẽ ảnh hưởng tới lượng bánh mỳ cung ứng trong cửa hàng (tranh giành) Đồng thời, những người sở hữu một lượng bánh

mỳ nào đó có thể dễ dàng loại trừ những người khác sử dụng chúng

Ngược lại, những hàng hoá có hội tụ đầy đủ cả hai thuộc tính không loại trừ và không tranh giành gọi là HHC thuần tuý Chẳng hạn, quốc phòng

Trang 14

nhằm ngăn chặn sự tấn công từ bên ngoài, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ quốc gia thì hoạt động này đem lại lợi ích cho tất cả công dân, không thể loại trừ một ai sống trong quốc gia này Mặt khác, có thêm một công dân sinh ra, hưởng lợi

từ hàng hoá này cũng không gây ảnh hưởng tới sự tiêu dùng của những người còn lại trong xã hội

Trong khoảng cách giữa hai cực HHC thuần túy và HHT thuần túy có rất nhiều hàng hóa mang tính giáp ranh Những hàng hóa chỉ có một trong hai đặc điểm của hàng hóa dịch vụ thuần túy với những mức độ khác nhau, tức là vừa

có tính công vừa có tính tư như kết cấu hạ tầng giao thông, y tế, giáo dục, đào tạo, văn hóa thể thao, v.v Cụ thể lý giải rõ hơn một số lĩnh vực Trong lĩnh vực chăm sóc y tế, hoạt động y tế cộng đồng như phòng dịch bệnh mang tính công cao trong khi y tế theo yêu cầu ví dụ khám chữa bệnh theo khả năng kinh tế của

cá nhân lại mang tính tư nhân rất cao Trong lĩnh vực giáo dục cũng cũng có những tình trạng tương tự Việc phổ cập giáo dục phổ thông, đại học mang tính công cao trong khi đó vẫn tồn tại hình thức giáo dục, đào tạo theo khả năng kinh

tế riêng (trả tiền cao hơn để chọn trường học, chọn thầy) mang tính tư nhân cao

Lưu ý rằng việc loại trừ việc sử dụng hàng hóa công không thuần túy thông qua các biện pháp kỹ thuật công nghệ hoặc thu tiền việc sử dụng Chẳng hạn bán vé thu tiền khi vào các khu giải trí công cộng của một địa phương, hay thu phí đường giao thông, truyền hình cáp, truy nhập thông tin trên internet

Một số dịch vụ thuộc lĩnh vực giáo dục (ví dụ hoạt động dạy học), y tế (ví dụ chữa bệnh) là những dịch vụ công không thuần túy Nhà nước có thể phân chia theo khẩu phần các dịch vụ này bằng cách cung cấp một lượng dịch

vụ như nhau đối với tất cả mọi người, chẳng hạn nhà nước đảm bảo phổ cập giáo dục tiểu học cho mọi công dân học không phải trả tiền, do đó không có cạnh tranh trong tiêu dùng và đã trở thành dịch vụ công không thuần túy từ

Trang 15

chính sách của Nhà nước Những người muốn được học thêm ngoài chương trình phổ cập có thể phải trả tiền, hoặc mua các dịch vụ bổ sung do thị trường cung ứng Nhưng những người tiêu dùng ít hơn (theo ví dụ ở đây là học không hết tiểu học) thì không được nhà nước bồi hoàn phần mà người đó không tiêu dùng

Chúng ta không thể loại bỏ một người đó không được hưởng lợi ích của hàng hóa công ngay cả khi anh ta không trả tiền cho việc sử dụng của mình

Ví dụ, không thể cấm một người nào đó không được hưởng lợi từ các hoạt động bảo vệ môi trường của Chính Phủ, cũng như không thể cấm ai đi ra đường phố khi đường phố đã được quét dọn sạch sẽ (mà việc chi phí để quét dọn do Chính Phủ chịu); chúng ta không thể quy định mỗi người chỉ được (hay bắt buộc phải) nghe Radio hay xem Ti vi đối với các chương trình do Chính Phủ cung cấp miễn phí là bao nhiêu thời gian trong một ngày và chỉ được xem (hoặc nghe) chỉ đối với chương trình nào, cũng như không thể định mức được mỗi người chỉ được đi lại bao nhiêu lần trên những đường phố công cộng mà ở đó có phục vụ chiếu sáng ban đêm, quốc phòng là một hàng hóa, dịch vụ công mà Chính Phủ không thể và không muốn loại trừ bất cứ ai không được sử dụng Bản thân một người nào đó có thể không thể từ chối việc tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ công ngay cả khi anh ta không muốn Vì khó loại trừ và khó định mức sử dụng nên rất khó thu tiền việc sử dụng Trong trường hợp người sử dụng phải trả phí cho sự tiêu dùng đó thì rất khó bắt người này phải trả nhiều tiền hơn người khác khi họ cùng sử dụng một thứ hàng hóa

Tóm lại, hàng hóa, dịch vụ công là các hàng hóa, dịch vụ không có tính loại trừ và cũng không có tính tranh giành trong sử dụng để phục vụ các mục tiêu kinh tế xã hội

Trang 16

Trên thực tế, rất nhiều hàng hóa, dịch vụ công được đảm bảo cung cấp thông qua các chính sách của Nhà nước, nhưng Nhà nước không phải là chủ thể duy nhất trực tiếp cung cấp mọi hàng hóa, dịch vụ công cho xã hội, mà trong điều kiện kinh tế thị trường, các chủ thể ngoài Nhà nước cũng có thể cung ứng hàng hóa, dịch vụ công thông qua sự ủy nhiệm của Nhà nước hoặc được Nhà nước đảm bảo các điều kiện cần thiết cho các chủ thể đó cung ứng thông qua những chính sách ưu đãi, hỗ trợ cụ thể

Khi hàng hóa, dịch vụ công được cung cấp theo chính sách của Nhà nước thì Nhà nước có trách nhiệm đảm bảo hỗ trợ nguồn lực để cung cấp và quản lý về chất lượng các hàng hóa, dịch vụ công đó theo những tiêu chuẩn nhất định Trong những trường hợp do Nhà nước trực tiếp đầu tư chi phí cung ứng dịch vụ hoặc đối với một số dịch vụ thiết yếu trong môi trường độc quyền, Nhà nước còn cần phải quản lý giá cả hàng hóa, dịch vụ công và đối tượng phạm vi được cung cấp để đảm bảo sự tiêu dùng và định hướng tiêu dùng (khuyến khích hay tiết kiệm tiêu dùng) của các tầng lớp dân cư, vì lợi ích chung của xã hội

Việc nhà nước đảm bảo cung cấp hàng hóa, dịch vụ công không phải là thời kỳ nào cũng như nhau mà tùy vào điều kiện cụ thể và khả năng về nguồn lực, Nhà nước xác định danh mục hàng hóa công, chất lượng, đối tượng và phạm

vi cần phải cung cấp nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội từng thời kỳ

1.1.2 Phân loại hàng hóa, dịch vụ công

Có nhiều cách phân loại khác nhau về hàng hóa, dịch vụ công, sau đây

là một số cách phân loại chủ yếu:

a) Căn cứ vào lĩnh vực hoạt động

Hàng hóa, dịch vụ công có thể chia thành các lĩnh vực chính sau:

- Hàng hóa, dịch vụ công thuộc lĩnh vực khoa học công nghệ và môi trường: đó là như các phát minh, giải pháp khoa học, công nghệ Ví dụ, khi

Trang 17

một ngôn ngữ lập trình được phát minh, tất cả mọi người đều có thể sử dụng

nó và lợi ích của mỗi người sử dụng không bị giảm sút vì các nhà lập trình khác cũng cùng sử dụng ngôn ngữ đó

- Hàng hóa thuộc lĩnh vực giáo dục, đào tạo: đó là các hoạt động biên

soạn giáo trình, xây dựng phương pháp giáo dục, hoạt động dạy học Ví dụ khi một chương trình giáo dục đã được soạn ra thì việc sử dụng chương trình

đó của người này không làm ảnh hưởng đến việc sử dụng của người khác

- Hàng hóa thuộc lĩnh vực y tế, chăm sóc sức khỏe: đó là các dịch vụ

phòng bệnh (như phun hóa chất diệt muỗi phòng bệnh sốt rét, chiêm chủng, phòng bệnh dịch nguy hiểm ) các dịch vụ khám chữa bệnh cho người nghèo,

tư vấn sức khỏe, phòng chống bệnh xã hội

- Hàng hóa, dịch vụ công thuộc lĩnh vực thị chính và các dịch vụ bảo vệ môi trường: đó là vệ sinh công cộng, chiếu sáng công cộng và các dịch vụ

về bảo vệ môi trường như: xử lý rác thải, nước thải, khắc phục ô nhiễm của các con sông, hồ, không khí

- Hàng hóa thuộc lĩnh vực văn hóa, thông tin, phát thanh - truyền hình:

đó là các hoạt động về lễ hội, tuyên truyền, tổ chức biểu diễn nghệ thuật, giải trí công cộng, sáng tác các tác phẩm nghệ thuật, xây dựng các chương trình phát thanh, truyền hình

- Hàng hóa thuộc lĩnh vực thể dục, thể thao: Đó là các dịch vụ về huấn

luyện, biểu diễn và thi đấu thể dục, thể thao

- Hàng hóa thuộc lĩnh vực giao thông - vận tải: như hệ thống cơ sở hạ

tầng giao thông công cộng, đường bộ, đường sông, đường biển đảm bảo cho việc đi lại, vận tải

- Hàng hóa thuộc lĩnh vực đảm bảo xã hội: Như các dịch vụ cứu trợ xã

hội, chăm sóc đối tượng không nơi nương tựa

- Hàng hóa thuộc lĩnh vực quốc phòng, an ninh: đó là những hàng hóa,

dịch vụ công điển hình do Chính phủ cung cấp, được sử dụng chung và không

Trang 18

có tính loại trừ việc sử dụng đối với bất cứ người nào trong mỗi quốc gia Đó

là sự đảm bảo cuộc sống thanh bình, an toàn cho mọi người dân

- Hàng hóa công thuộc lĩnh vực khác như: đó là cung cấp điện, nước

sinh hoạt, đê điều, thủy lợi nhằm đảm bảo nhu cầu tối thiểu cần thiết cho sản xuất và đời sống con người

b ) Căn cứ vào chủ thể cung cấp hàng hóa, dịch vụ công

- Hàng hóa dịch vụ công do Nhà nước cung cấp

Đó là các hàng hóa, dịch vụ công do Chính phủ và chính quyền các cấp trực tiếp tổ chức cung cấp thông qua việc thành lập và đảm bảo chi phí hoạt động của các cơ sở cung cấp dịch vụ công như: trường học, bệnh viện, các viện nghiên cứu, các đơn vị bảo dưỡng đường giao thông, các đơn vị vệ sinh môi trường, đô thị, xử lý chất thải, các trung tâm huấn luyện, thi đấu thể thao, các đơn vị thuộc lực lượng quốc phòng, an ninh, các đơn vị biểu diễn nghệ thuật, các đài phát thanh truyền hình, các trung tâm tư vấn Nhà nước cũng có thể trực tiếp cung cấp một số dịch vụ công thông qua việc đặt hàng hoặc đấu thầu cung ứng đối với khu vực tư nhân

- Hàng hóa dịch vụ công do tư nhân đảm bảo cung cấp (bao gồm cả

các tổ chức phi Chính Phủ cung cấp)

Tư nhân có thể cung cấp các hàng hóa, dịch vụ công không thuộc độc quyền nhà nước và có thể loại trừ việc sử dụng để có thể thu hồi được chi phí cung ứng chúng thông qua biện pháp bán vé thu phí sử dụng dịch vụ Đây là các cơ sở được tổ chức dưới các hình thức dân lập, tư thục, hoặc các công ty tư nhân Tuy nhiên, hầu hết các hàng hóa, dịch vụ công do tư nhân cung cấp đều có sự gián tiếp tham gia của nhà nước bằng các chính sách hỗ trợ, ưu đãi về thuế và đầu tư: như miễn, giảm thuế, cho vay ưu đãi, ưu tiên

sử dụng đất, lao động và bị nhà nước quản lý về chất lượng, tiêu chuẩn dịch vụ, việc nhà nước hỗ trợ tư nhân cung cấp các dịch vụ này để giá dịch

Trang 19

vụ ở mức có thể phù hợp với phần lớn dân chúng Ở Việt Nam các chính sách về xã hội hóa các hoạt động sự nghiệp nhằm cung cấp các dịch vụ trong các lĩnh vực y tế, giáo dục – đào tạo, thể dục, thể thao của Nhà nước trong thời gian qua là các giải pháp hỗ trợ, thúc đẩy tư nhân tham gia cung cấp các dịch vụ này

- Hàng hóa dịch vụ công do nhà nước và tư nhân cùng cung cấp

Nhằm đa dạng hóa các hình thức cung cấp các hàng hóa, dịch vụ công, kêu gọi sự tham gia của khu vực tư nhân, một số lĩnh vực nhà nước cho tư nhân cùng tham gia cung cấp thông qua các hình thức thành lập các cơ sở bán công, hoặc do nhà nước đầu tư và giao cho tư nhân quản lý thông qua đấu thầu

c) Căn cứ vào mức độ phải trả tiền của người sử dụng hàng hóa, dịch vụ công

- Hàng hóa, dịch vụ công không phải trả tiền trực tiếp khi sử dụng

Đây là những hàng hóa, dịch cụ công mà khi sử dụng, người sử dụng không trực tiếp phải trả tiền, mà do Chính phủ chi phí từ các khoản thu thuế của người dân Những hàng hóa thuộc loại này thường là hàng hóa công thuần

túy, như: các dịch vụ về môi trường, quốc phòng, phòng bệnh "Hàng hóa,

dịch vụ công thuần túy không thể phân bổ theo định suất để tiêu dùng và việc hạn chế người sử dụng chúng dường như không thể trả hay vô cùng đắt đỏ; khi có thêm người sử dụng, mức độ sử dụng hàng hóa của người tiêu dùng còn lại không bị ảnh hưởng" 2

- Hàng hóa dịch vụ công phải trả tiền một phần khi sử dụng

Những hàng hóa, dịch vụ công không thuần túy, được dùng chung nhưng

có thể phân chia theo khẩu phần, người sử dụng có thể phải trực tiếp trả một

2

Vũ Thanh Sơn Cạnh tranh đối với khu vực công trong cung cấp hoàng hóa và dịch vụ Nxb Chính trị - hành chính

Trang 20

phần chi phí sản xuất, cung ứng chúng, còn một phần do Nhà nước bù đắp từ các khoản thuế do người dân đóng góp Việc Nhà nước đảm bảo một phần chi phí trong những trường hợp này thường nhằm hỗ trợ vùng khó khăn và người có thu nhập thấp, đảm bảo sự công bằng xã hội trong phân phối thu nhập

- Hàng hóa dịch vụ công phải trả tiền toàn bộ

Đây là những hàng hóa, dịch vụ công không thuần túy có khả năng loại trừ cao và người sử dụng phải trả toàn bộ chi phí cho việc sử dụng đó, như: dịch vụ truyền hình cáp, dịch vụ đào tạo nghề, dịch vụ truy nhập thông tin trên internet

Việc thu một phần hay thu toàn bộ chi phí sản xuất, cung ứng hàng hóa, dịch vụ công thường gắn liền với chính sách về kinh tế xã hội và khả năng

nguồn lực của Nhà nước trong từng thời kỳ và quan điểm điều tiết tiêu dùng

(tiết kiệm trong tiêu dùng cá nhân và chống lãng phí trong sử dụng hàng hóa, dịch vụ công) Vì thế giữa các quốc gia thường có sự khác nhau trong việc thu

tiền trực tiếp người sử dụng trong cung ứng hàng hóa, dịch vụ công

d) Căn cứ vào tính chất nhu cầu sử dụng của người sử dụng hàng hóa công

- Hàng hóa, dịch vụ công gắn với các nhu cầu vật chất của con người

Đó là những hàng hóa phục vụ cho sản xuất sinh hoạt như: vệ sinh môi trường, thủy lợi, giao thông

- Hàng hóa, dịch vụ công gắn liền với đời sống văn hóa, tinh thần

Đây là những hàng hóa đảm bảo nhu cầu và quyền lợi cơ bản của con người về thể lực, trí lực như: y tế, giáo dục, văn hóa, khoa học, thể thao

- Hàng hóa dịch vụ công gắn liền với nhu cầu đảm bảo an toàn, an ninh

Những hàng hóa này bao gồm quốc phòng, an ninh, trật tự xã hội, phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn

Trang 21

e) Căn cứ vào phạm vi cung cấp hàng hóa, dịch vụ công

- Hàng hóa, dịch vụ chung là những hàng hóa dịch vụ toàn quốc,

những hàng hóa dịch vụ này có thể toàn quốc được sử dụng, không loại trừ ai

và khu vực nào, ví dụ như: đảm bảo quốc phòng đất nước, các chương trình phát thanh, truyền hình của các đài trung ương

- Hàng hóa, dịch vụ nhóm: là những hàng hóa, dịch vụ địa phương, được cung cấp giới hạn trong phạm vi một khu vực, một địa phương mà không sử dụng ở những địa phương khác, ví dụ như: Chương trình phát thanh, truyền hình của các đài địa phương, hệ thống cung cấp nước sạch sinh hoạt,

đê điều, thủy lợi địa phương quản lý

1.1.3 Tầm quan trọng của hàng hóa, dịch vụ công đối với phát triển kinh tế

- xã hội

Do hầu hết các hàng hóa, dịch vụ công khó có khả năng thu hồi vốn, mặt khác có nhiều loại hàng hóa, dịch vụ công khu vực tư nhân không thể cung cấp được hoặc cung cấp không đầy đủ, phạm vi không rộng, không đáp ứng được nhu cầu cần thiết của nhân dân cho nên nhà nước phải đóng vai trò chủ đạo trong việc cung cấp hàng hóa, dịch vụ công cho xã hội Nhà nước thực hiện vai trò này thông qua những hoạt động chủ yếu sau:

- Sản xuất hàng hóa và cung cấp các dịch vụ công, điều tiết và trợ giúp các nhà sản xuất kinh doanh thuộc khu vực tư nhân cung cấp hàng hóa, dịch

vụ công

- Mua hàng hóa và dịch vụ công cung cấp cho xã hội tiêu dùng

Từ đặc trưng của hàng hóa, dịch vụ công và các hoạt động của Nhà nước cho thấy vai trò của Chính Phủ vừa là người sản xuất hàng hóa và dịch

vụ chủ yếu, cung cấp các hàng hóa, dịch vụ công đồng thời cũng vừa là người

trợ giúp các nhà sản xuất tư nhân sản xuất các hàng hóa, dịch vụ công Việc sản xuất hàng hóa, dịch vụ công diễn ra ở các cấp từ chính quyền trung ương đến địa phương Mặt khác, Chính Phủ còn có thể hợp đồng với các nhà sản

Trang 22

xuất tư nhân cung cấp hàng hóa, dịch vụ công trực tiếp cho mình và cho mọi người, ví dụ như việc Chính Phủ ký hợp đồng với các nhà sản xuất tư nhân mua máy bay, xe tăng phục vụ cho việc bảo vệ đất nước, hoặc như Chính Phủ trả tiền dịch vụ chăm sóc sức khỏe

Việc cung cấp hàng hóa, dịch vụ công trong một số lĩnh vực có thể được mở rộng cho khu vực tư nhân, thông qua việc Chính Phủ giao trách nhiệm cung cấp hàng hóa, dịch vụ công cho chủ thể tư nhân mà thông thường trước đây do nhà nước làm, ví dụ như việc giao cho tư nhân xây dựng và vận hành mạng lưới giao thông cao tốc giữa các thành phố, xây dựng trường học, các cơ sở khám chữa bệnh, Mặc dù xu thế giao cho tư nhân cung cấp dịch vụ công ngày càng tăng, song có một số dịch vụ vẫn được xem là không phù hợp với khu vực tư nhân Ví dụ như khó có thể hợp đồng để chủ thể tư nhân cung cấp dịch vụ an ninh, quốc phòng, dịch vụ hành chính công, đầu tư các công trình phúc lợi tại các vùng đặc biệt khó khăn, bảo tồn di sản văn hóa,

Với trách nhiệm của mình, Nhà nước có trách nhiệm bảo đảm các dịch

vụ này cho xã hội, ngay cả khi nhà nước chuyển giao dịch vụ này cho tư nhân cung cấp thì Nhà nước vẫn có vai trò điều tiết đặc biệt, bảo đảm sự công bằng trong phân phối các dịch vụ này Như vậy có thể nói nhà nước là người có vai trò quan trọng nhất, trực tiếp hay gián tiếp trong việc cung cấp các hàng hóa, dịch vụ công cho xã hội

Từ những khái niệm, phân loại, phân tích trên về về hàng hóa, dịch vụ công và đánh giá thực tiễn cho thấy rằng vai trò quan trọng của hàng hóa, dịch vụ công đối với phát triển kinh tế - xã hội Việc nhà nước đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng (Đầu tư công) như: các công trình giao thông, điện, nước, thủy lợi, cầu, bến cảng, khu công nghiệp v.v tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất, lưu thông, phân phối hàng hóa, thu hút đầu tư từ nước ngoài, các doanh nghiệp đầu tư vào sản xuất kinh doanh tại Việt Nam; Đầu tư

Trang 23

cho quốc phòng - an ninh (cung cấp hàng hóa công) đảm bảo tình hình an ninh chính trị, an ninh trật tự an toàn xã hội được giữ vững và ổn định đã tạo

sự tin cậy của các nhà đầu tư, các doanh nghiệp yên tâm phát triển sản xuất, kinh doanh; việc cung cấp các dịch vụ công như: công tác chăm sóc sức khỏe,

GD & ĐT, các công trình văn hóa, dịch vụ hành chính công, cải cách thủ tục hành chính, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, đảm bảo an sinh xã hội,

là động lực cho sự phát triển kinh tế và đã góp phần đảm bảo cho tăng trưởng kinh tế hàng năm, phát triển kinh tế - xã hội bền vững; đồng thời việc cung cấp hàng hóa, dịch vụ công là một trong những biện pháp quan trọng của nhà nước để can thiệp vào thị trường nhằm thực hiện các mục tiêu ổn định, hiệu quả và đảm bảo công bằng xã hội

1.2 Chi ngân sách nhà nước cấp huyện

1.2.1 Khái niệm chi ngân sách cấp huyện

1.2.1.1 Khái niệm NSNN và chi NSNN

Trong cuốn đại từ điển bách khoa LAROUSSE (Paris, 1960) định nghĩa

“Ngân sách là một văn kiện pháp lý dự kiến và cho phép các khoản thu, chi hàng năm của nhà nước, các chính quyền địa phương hoặc của các đơn vị công”

Raymond MuZellec, trong Finances Publiques (tài chính công, Paris, 1995) định nghĩa “Ngân sách (nhà nước) là một văn kiện chính trị, pháp lý và tài chính thống kê toàn bộ các khoản thu và các khoản chi của nhà nước”

Bộ Tài chính Pháp định nghĩa ngân sách nhà nước “là văn kiện trong

đó các khoản thu và các khoản chi hàng năm của nhà nước được dự kiến và cho phép, là toàn bộ các khoản phản ánh tất cả các nguồn thu và tất cả các nhiệm vụ chi của nhà nước trong một năm dân sự; là toàn bộ các tài khoản phản ánh hạn mức kinh phí của một bộ trong một năm dân sự”

Ở Việt Nam, Luật NSNN năm 1996, Luật sửa đổi bổ sung năm 1998, định nghĩa “ngân sách là toàn bộ các khoản thu, chi của nhà nước trong dự

Trang 24

toán đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước”

Luật NSNN năm 2002 3 đã định nghĩa “NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của nhà nước được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước”

Như vậy ta thấy dưới góc độ pháp lý, việc luật hóa cả hình thức và nội dung, trình tự và biện pháp thu, chi NSNN là sự cụ thể hóa quyền lực của nhà nước trong lĩnh vực ngân sách

Dưới góc độ tác nghiệp chuyên môn, NSNN là toàn bộ khoản thu, chi của nhà nước được dự toán và thực hiện trong một năm, theo một quy trình, bao gồm các khâu lập dự toán (kể cả chuẩn bị, thảo luận, quyết định phê chuẩn), chấp hành và quyết toán NSNN

Dưới góc độ quản lý vĩ mô, NSNN là một trong các công cụ có hiệu quả để nhà nước thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình và tác động vào nền kinh tế

Chi NSNN là việc phân phối và sử dụng quỹ NSNN nhằm đảm bảo thực hiện các chức năng của nhà nước theo những nguyên tắc nhất định

1.2.1.2 Chi Ngân sách cấp huyện

Cấp huyện là một cấp chính quyền, cũng với tổ chức cho mình một bộ máy quản lý với hệ thống các cơ quan hành chính, đoàn thể, đơn vị sự nghiệp công lập và chính quyền cấp xã nhằm tổ chức thực hiện các chức năng của Nhà nước Điều này cũng có nghĩa rằng để cho các cơ quan, đoàn thể, tổ chức đó hoạt động được thì cần phải có một quỹ tài chính tập trung, đó chính là Ngân sách huyện

3

Đã có Luật Ngân sách nhà nước 83/2015/QH, có hiệu lực 1/1/2017, nhưng không sử dụng trong luận văn này

Trang 25

Chi Ngân sách huyện là việc chính quyền cấp huyện phân phối và sử dụng quỹ ngân sách nhằm đảm bảo thực hiện các chức năng của Nhà nước, đáp ứng nhu cầu đời sống kinh tế - xã hội theo các nguyên tắc nhất định

Chi Ngân sách cấp huyện gồm các khoản chủ yếu: Chi đầu tư phát triển theo phân cấp; chi thường xuyên đảm bảo hoạt động của bộ máy quản lý cấp huyện; chi bổ sung cho ngân sách cấp dưới; chi chuyển nguồn của huyện

1.2.2 Quy trình, nội dung chi ngân sách cấp huyện

1.2.2.1 Quy trình thu, chi ngân sách cấp huyện

a/ Lập dự toán ngân sách huyện

- Yêu cầu đối với lập dự toán ngân sách huyện:

+ Dự toán ngân sách phải tổng hợp theo từng lĩnh vực thu, chi và theo

cơ cấu giữa chi thường xuyên và chi đầu tư phát triển

+ Dự toán ngân sách phải lập theo đúng yêu cầu, nội dung, biểu mẫu và thời gian quy định

+ Dự toán ngân sách phải kèm theo báo cáo thuyết minh

+ Dự toán ngân sách cấp huyện và xã, thị trấn phải cân bằng thu, chi

- Căn cứ lập dự toán ngân sách huyện hàng năm:

+ Nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh; Chỉ tiêu, nhiệm vụ cụ thể của năm kế hoạch

+ Các luật, pháp lệnh thuế, chế độ thu; Định mức phân bổ ngân sách; Chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi ngân sách do cấp có thẩm quyền quy định

+ Những quy định về phân cấp quản lý kinh tế - xã hội, phân cấp quản

lý ngân sách

+ Việc lập dự toán trong kỳ ổn định ngân sách căn cứ vào tỷ lệ phần trăm (%) phân chia các khoản thu và mức bổ sung cân đối từ ngân sách cấp tỉnh đã được giao; Đối với năm đầu thời kỳ ổn định ngân sách, căn cứ vào chế

độ phân cấp ngân sách và dự toán thu, chi ngân sách huyện do UBND tỉnh giao

Trang 26

+ Số kiểm tra về dự toán ngân sách do Sở Tài chính thông báo

+ Tình hình thực hiện dự toán ngân sách một số năm trước

b/ Chấp hành ngân sách huyện

- Chấp hành thu ngân sách:

+ Chỉ có cơ quan tài chính, cơ quan thuế, hải quan và cơ quan khác được giao nhiệm vụ thu ngân sách (gọi chung là cơ quan thu) được tổ chức thu NSNN

+ Cơ quan thu có nhiệm vụ, quyền hạn như sau: Phối hợp với các cơ quan nhà nước hữu quan tổ chức thu đúng Pháp luật; Chịu sự chỉ đạo, kiểm tra của UBND, các cơ quan chức năng của nhà nước và sự giám sát của HĐND các cấp về công tác thu ngân sách tại địa phương

+ Cơ quan thu các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm đôn đốc, kiểm tra các tổ chức, cá nhân có nghĩa vụ nộp ngân sách phải nộp đầy đủ, đúng hạn các khoản nộp vào NSNN

- Phân bổ và giao dự toán chi ngân sách: Sau khi UBND huyện giao dự toán ngân sách, Phòng Tài chính - KH huyện tiến hành phân bổ và giao dự toán chi ngân sách cho các đơn vị sử dụng ngân sách trực thuộc Dự toán chi thường xuyên giao cho đơn vị sử dụng ngân sách được phân bổ theo từng loại của Mục lục NSNN, dự toán chi đầu tư phát triển giao cho chủ đầu tư, các ban quản lý công trình, dự án được phân bổ theo nguồn vốn và dự án, công trình

+ Nguyên tắc quản lý chi thường xuyên của ngân sách huyện bao gồm: Nguyên tắc quản lý theo dự toán; Nguyên tắc tiết kiệm, hiệu quả; Nguyên tắc chi trực tiếp kiểm soát qua Kho bạc nhà nước

+ Nguyên tắc quản lý chi đầu tư phát triển của ngân sách huyện bao gồm: Nguyên tắc quản lý theo dự toán; Nguyên tắc hồ sơ, tài liệu, thủ tục của

dự án, công trình phải đầy đủ và đảm bảo đúng quy định; Nguyên tắc chi trực tiếp qua Kho bạc nhà nước

Trang 27

c/ Quyết toán ngân sách huyện

- Quyết toán ngân sách và báo cáo quyết toán ngân sách phải bảo đảm các nguyên tắc sau:

+ Số liệu quyết toán NSNN: Số quyết toán thu, chi NSNN là số liệu thu, chi đã thực hạch toán thu, chi NSNN qua Kho bạc nhà nước

+ Số liệu trong báo cáo quyết toán ngân sách phải chính xác, trung thực, đầy đủ

+ Báo cáo quyết toán năm của đơn vị dự toán cấp huyện gửi gửi Phòng Tài chính - KH huyện

+ Báo cáo quyết toán năm gửi cấp có thẩm quyền để thẩm định, phê duyệt phải có xác nhận của Kho bạc Nhà nước về tổng số và chi tiết

+ Báo cáo quyết toán ngân sách của các đơn vị dự toán và của các cấp chính quyền địa phương không được quyết toán chi lớn hơn thu

+ Kho bạc Nhà nước huyện có trách nhiệm tổng hợp số liệu quyết toán gửi Phòng Tài chính - KH huyện để lập báo cáo quyết toán

- Trình tự lập, gửi, xét duyệt báo cáo thu, chi NSNN năm đối với đơn vị

dự toán

- Trình tự lập, thẩm định, phê chuẩn và gửi báo cáo quyết toán thu, chi NSNN năm của ngân sách các cấp chính quyền

d/ Kiểm tra, thanh tra ngân sách huyện

- Thanh tra tài chính có nhiệm vụ thanh tra việc chấp hành thu, chi và quản lý ngân sách

- Thanh tra tài chính phải chịu trách nhiệm về kết luận thanh tra của mình

- Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thanh tra tài chính trong việc thanh tra quản lý, sử dụng ngân sách được quy định trong văn bản riêng của Chính Phủ

Trang 28

1.2.2.2 Nội dung chi ngân sách huyện

Chi Ngân sách huyện luôn gắn liền với các nhiệm vụ kinh tế, chính trị,

xã hội mà Nhà nước đảm nhiệm trong từng thời kỳ và được phân cấp nhiệm

vụ chi của UBND cấp tỉnh quy định; chi ngân sách huyện bao gồm các nội dung sau:

a/ Chi thường xuyên

- Các hoạt động sự nghiệp: kinh tế, giáo dục, đào tạo, dạy nghề, y tế ,

xã hội, văn hóa thông tin, văn học, nghệ thuật, thể dục thể thao, khoa học và công nghệ, môi trường, các nghiệp vụ khác do địa phương quản lý

+ Sự nghiệp kinh tế bao gồm:

Sự nghiệp giao thông: Duy tu, bảo dưỡng và sửa chữa cầu, đường và các công trình giao thông khác; lập biển báo và các biện pháp đảm bảo an toàn giao thông trên các tuyến đường

Sự nghiệp nông nghiệp, thủy lợi, lâm nghiệp: Duy tu bảo dưỡng các tuyến kênh mương, các công trình thủy lợi, các trạm nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp; công tác khuyến nông, khuyến ngư; chi chăn nuôi, bảo vệ nguồn lợi thủy sản, bảo vệ thực vật, phòng chống dịch bệnh giống cây trồng vật nuôi,

Sự nghiệp kiến thiết thị chính: Đo đạc, lập biểu đồ và lưu trữ hồ sơ địa chính , công viên, vỉa hè cây xanh, điện chiếu sáng, môi trường đô thịvà các

+ Công tác đảm bảo xã hội, cứu tế xã hội, cứu đói, phòng chống các tệ nạn xã hội, hưu nông thôn và các hoạt động xã hội khác

Trang 29

+ Về văn hóa thông tin; tuyên truyền cổ động, văn hóa văn nghệ quần chúng, xây dựng bản làng văn hóa và các hoạt động văn hóa xã hội khác

+ Thể dục thể thao, bồi dưỡng, huấn luyện các vận động viên các đội tuyển cấp huyện; các giải thi đấu cấp huyện; quản lý các cơ sở thi đấu thể dục, thể thao và các hoạt động thể dục thể thao khác

+ Các sự nghiệp khác do địa phương quản lý

- Các nhiệm vụ về an ninh quốc phòng, trật tự xã hội do ngân sách huyện đảm bảo theo quy định của chính phủ và các văn bản hướng dẫn thực hiện

- Hoạt động của các cơ quan nhà nước, cơ quan Đảng Cộng sản Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội địa phương

- Hỗ trợ các tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp ở huyện theo quy định của pháp luật

- Thực hiện chính sách xã hội với các đối tượng do huyện quản lý

- Các khoản chi khác theo quy định của pháp luật

b/ Chi đầu tư phát triển

- Đầu tư các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội không có khả năng thu hồi vốn do địa phương quản lý

- Phần chi đầu tư phát triển cho các chương trình mục tiêu quốc gia do địa phương thực hiện

- Các khoản chi đầu tư phát triển khác theo quy định của pháp luật 1.3 Nội dung chi NSNN cho việc cung cấp hàng hóa, dịch vụ công

1.3.1 Qui định chi NSNN chi cho việc cung cấp hàng hóa, dịch vụ công 1.3.1.1 Vai trò của NSNN trong việc cung cấp hàng hóa, dịch vụ công

Trong nền kinh tế thị trường NSNN có các vai trò chủ yếu là:

- Vai trò của một ngân sách tiêu dùng, là công cụ tài chính bảo đảm thực hiện chức năng nhà nước công quyền, bảo vệ Tổ quốc, duy trì sự tồn tại của thể chế chính trị, bảo đảm nguồn tài chính thực hiện chức năng nhà nước công quyền, duy trì sự tồn tại của thể chế chính trị

Trang 30

- Vai trò của một ngân sách phát triển, là công cụ thúc đẩy tăng trưởng,

ổn định và điều chỉnh kinh tế vĩ mô của nhà nước

- Vai trò của một ngân sách điều tiết, là công cụ tài chính bù đắp những khiếm khuyết của thị trường, bảo đảm công bằng xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái

- Vai trò của NSNN được thể hiện khi được nhà nước sử dụng NSNN

có phát huy được vai trò của mình đối với nền kinh tế xã hội hay không phụ thuộc rất nhiều vào bản chất, năng lực của nhà nước trong việc sử dụng NSNN Từ sự phân tích về hàng hóa, dịch vụ công cộng cho thấy NSNN giữ vai trò quan trọng quyết định tới việc cung cấp hàng hóa, dịch vụ công vì:

NSNN đảm bảo cung cấp phần lớn các nguồn lực cho việc thực hiện cung cấp hàng hóa, dịch vụ công thiết yếu cho xã hội, thể hiện:

Thứ nhất: Việc cung cấp các hàng hóa, dịch vụ công cơ bản là do nhà

nước thực hiện là mang lại hiệu quả hơn, đặc biệt là hiệu quả xã hội Vai trò của NSNN đối với việc cung cấp hàng hóa, dịch vụ công được thể hiện ở đây

là xác định cơ cấu mà mỗi khu vực cung cấp để mang lại hiệu quả, từ đó thiết lập cơ chế và điều chỉnh cơ cấu mang lại hiệu quả xã hội; xác định quy mô nên cung cấp bao nhiêu hàng hóa, dịch vụ công để đạt hiệu quả cao nhất, giảm bớt tổn thất xã hội do hạn chế tiêu dùng hay tiêu dùng quá mức về hàng hóa, dịch vụ công

Thứ hai: NSNN hỗ trợ và khuyến khích khu vực tư nhân tham gia đầu

tư cung cấp một số hàng hóa, dịch vụ công, thông qua hỗ trợ xây dựng các công trình cơ sở hạ tầng cho xã hội, đóng góp xây dựng các công trình phúc lợi, trường học, đường xá, công trình thủy lợi

Thư ba: Chi NSNN góp phần thực hiện công bằng xã hội trong việc

hưởng thụ các hàng hóa, dịch vụ công

Trang 31

Để thể hiện các vai trò trên Nhà nước tổ chức xây dựng quy trình chi, chính sách chế độ và thực hiện kiểm soát chi, đảm bảo chất lượng và hiệu quả của các hoạt động cung cấp hàng hóa, dịch vụ công

Quan niệm đúng đắn về vai trò đích thực của NSNN trong kinh tế thị trường sẽ cho phép xác lập và sử dụng có cơ sở khoa học, hiệu quả công cụ ngân sách trong quản lý, điều hành nền kinh tế xã hội

1.3.1.2 Nội dung của chi NSNN

Chi NSNN là việc phân phối và sử dụng quỹ NSNN nhằm đảm bảo thực hiện các chức năng của nhà nước theo những nguyên tắc nhất định Nội dung chi NSNN bao gồm:

a Chi thường xuyên về:

+ Các hoạt động giáo dục, đào tạo, y tế, xã hội, văn hóa, thông tin, thể dục thể thao, sự nghiệp khoa học, công nghệ và môi trường, các sự nghiệp khác

+ Các hoạt động sự nghiệp kinh tế

+ Quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội

+ Hoạt động của các cơ quan Nhà nước

+ Hoạt động của Đảng Cộng sản Việt Nam

+ Hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Liên đoàn lao động Việt Nam, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Hội cựu chiến binh Việt Nam, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Hội nông dân Việt Nam

+ Trợ giá theo chính sách của Nhà nước

+ Các chương trình quốc gia

+ Hỗ trợ quỹ BHXH theo quy định của Chính phủ

+ Trợ cấp cho các đối tượng chính sách xã hội

+ Tài trợ cho các tổ chức xã hội, xã hội nghề nghiệp theo quy định của pháp luật

+ Trả lãi tiền cho nhà nước vay

Trang 32

+ Viện trợ cho các Chính phủ và tổ chức nước ngoài

+ Các khoản chi khác theo quy định của pháp luật

b Chi đầu tư phát triển:

+ Đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội không

có khả năng thu hồi vốn

+ Đầu tư và hỗ trợ cho các doanh nghiệp nhà nước, góp vốn cổ phần liên doanh vào các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực cần thiết có sự tham gia của Nhà nước theo quy định của pháp luật

+ Chi cho quỹ hỗ trợ đầu tư quốc gia và các quỹ hỗ trợ phát triển đối với chương trình, dự án phát triển kinh tế

+ Dự trữ nhà nước

+ Cho vay của Chính phủ cho đầu tư phát triển

+ Chi trả nợ gốc tiền cho nhà nước vay

+ Chi bổ sung quỹ dự trữ tài chính

1.3.1.3 Phân loại chi NSNN

Chi NSNN là việc phân phối và sử dụng quỹ NSNN nhằm đảm bảo thực hiện các chức năng của nhà nước theo những nguyên tắc nhất định Nội dung chi NSNN bao gồm nhiều khoản mục khác nhau Để thực hiện các khoản chi ngân sách có hiệu quả, tức là chi đúng đối tượng, hiệu quả thiết thực, ta cần phân loại chúng theo những tiêu thức khác nhau Có nhiều cách phân loại, nhưng trong phạm vi nghiên cứu bản luận án, luận án nghiên cứu một số cách phân loại chủ yếu sau:

*Căn cứ vào mục đích sử dụng cuối cùng: Theo cách này chia nội dung

chi NSNN ra thành hai nhóm, đó là nhóm chi tích lũy và nhóm chi tiêu dùng

- Chi tích lũy của NSNN là những khoản chi làm tăng cơ sở vật chất và tiềm lực cho nền kinh tế, góp phần tăng trưởng kinh tế Các khoản chi tích lũy

Trang 33

tài chính gồm có: chi đầu tư xây dựng cơ bản, chi cấp vốn lưu động, chi dự trữ vật tư của nhà nước và các khoản chi tích lũy khác

- Chi tiêu dùng của NSNN là những khoản chi không tạo ra sản phẩm vật chất để tiêu dùng trong tương lai Nó bao gồm: chi cho sự nghiệp kinh tế, chi sự nghiệp văn hóa xã hội, chi quản lý hành chính nhà nước, chi quốc phòng an ninh và chi tiêu dùng khác

*Căn cứ vào lĩnh vực chi tiêu, bao gồm: Chi đầu tư phát triển kinh tế,

chi cho y tế, chi cho giáo dục – đào tạo, khoa học, chi cho văn hóa thông tin, thể dục thể thao, chi về đảm bảo xã hội, chi cho quản lý nhà nước, Đảng, đoàn thể, chi cho quốc phòng an ninh, chi trả nợ, chi khác

*Căn cứ theo yếu tố và phương thức quản lý NSNN: nội dung chi

NSNN được chia thành bốn nhóm sau:

- Chi thường xuyên của NSNN là những khoản chi phí phát sinh tương đối đều đặn, bao gồm các khoản chi nhằm duy trì hoạt động thường xuyên của nhà nước Về cơ bản, nó mang tính chất tiêu dùng Chi thường xuyên có nhiều khoản chi khác nhau ta thấy được quy định trong luật NSNN và các văn bản hướng dẫn khác, nói một cách tổng quát thì chi thường xuyên chính là các khoản chi như: chi lương và tiền công, chi mua sắm hàng hóa và dịch vụ, chi chuyển giao thường xuyên

- Chi đầu tư phát triển của NSNN, bao gồm các khoản chi làm tăng cơ

sở vật chất của đất nước và góp phần tăng trưởng kinh tế, nó là các khoản chi mang tính chất chi tích lũy như chi đầu tư XDCB, chi vốn lưu động cho các DNNN, chi các dự án chương trình quốc gia

- Chi trả nợ và viện trợ của NSNN, bao gồm các khoản chi để nhà nước thực hiện nghĩa vụ trả nợ các khoản đã vay trong nước và vay ngoài nước khi đến hạn (bao gồm cả gốc và lãi) và các khoản chi làm nghĩa vụ quốc tế

- Chi dự trữ NSNN, là các khoản chi NSNN để bổ sung quỹ dự trữ nhà nước, quỹ dự trữ tài chính

Trang 34

1.3.1.4 Chi NSNN cho việc cung cấp hàng hóa, dịch vụ công

a) Nội dung chi NSNN cho việc cung cấp hàng hóa, dịch vụ công

Chi NSNN cho cung cấp hàng hóa, dịch vụ công bao gồm các nội dung: + Chi để cung cấp các hàng hóa, dịch vụ công vô hình cho xã hội như: Chi bảo đảm hoạt động cho các đơn vị của nhà nước cung cấp các dịch vụ công cho xã hội, chi quốc phòng nhằm đảm bảo chủ quyền quốc gia, chi an ninh nhằm giữ vững trật tự và an toàn xã hội, chi bảo vệ môi trường, phòng chống dịch bệnh đây là những khoản chi không thu hồi được các chi phí đã cung cấp chúng, vì vậy việc bù đắp các chi phí cung cấp dịch vụ công vô hình chủ yếu được nhà nước thực hiện

+ Chi tiêu để cung cấp các dịch vụ công hữu hình cho xã hội, bao gồm nhiều nội dung chi như: Chi mua sắm trang bị vũ khí, khí tài, xây dựng căn cứ, cho quốc phòng, an ninh; Chi xây dựng và phát triển hệ thống hạ tầng kinh tế (giao thông, thông tin liên lạc, thủy lợi, đê điều ) và chi để xây dựng

cơ sở hạ tầng xã hội (hệ thống trường học, bệnh viện, các cơ sở văn hóa, thể dục thể thao, phát thanh, truyền hình, hệ thống chiếu sáng đô thị )

Các dịch vụ công hữu hình chủ yếu do nhà nước đầu tư Tuy vậy trong nền kinh tế thị trường, nhà nước cần tạo điều kiện và có cơ chế để thu hút vốn của các thành phần kinh tế khác tham gia đầu tư trong phạm vi hướng dẫn và quản lý của nhà nước, đồng thời có thể thu hồi một phần vốn đầu tư thông qua thu phí sử dụng

b) Nguyên tắc yêu cầu trong quản lý chi NSNN cho cung cấp hàng hóa, dịch vụ công

Nguyên tắc quản lý chi NSNN cho việc cung cấp hàng hóa, dịch vụ công, được thể hiện trên một số điểm sau:

Một là, nguyên tắc tập trung thống nhất: Nhà nước chỉ có một NSNN

thống nhất theo Luật NSNN, sự thống nhất này thể hiện bằng pháp luật, bằng

Trang 35

cơ chế chính sách, chế độ và bằng dự toán ngân sách hàng năm từ khâu lập dự toán, quyết định giao dự toán ngân sách, chấp hành ngân sách và quyết toán ngân sách, tất cả các điều đó đều phải thể hiện nguyên tắc tập trung thống nhất của NSNN

Hai là, nguyên tắc đảm bảo tính đầy đủ của ngân sách nhà nước: Mọi

khoản chi của NSNN cho việc cung cấp hàng hóa, dịch vụ công đều phải phản ánh đầy đủ, chính xác, toàn bộ vào NSNN, không được bỏ sót hoặc phản ánh sai lệch một khoản chi nào của NSNN; bảo đảm tính nghiêm ngặt của NSNN, giúp nhà nước nắm và điều hành toàn bộ NSNN, chống tùy tiện, thất thoát, lãng phí, tham nhũng kinh phí của Nhà nước; mọi khoản chi NSNN phải được kiểm soát của KBNN

Ba là, tính trung thực của ngân sách nhà nước: Phản ánh các khoản chi

của NSNN cho cung cấp hàng hóa, dịch vụ công đã diễn ra trong thực tế đúng

sự thật khách quan, không được làm sai lệch số liệu; dự toán, quyết toán phải được kiểm tra, thẩm định nghiêm túc theo một trình tự chặt chẽ, không cho phép cơ quan hành chính tự ý làm điều sai trái mà cơ quan lập pháp đã quyết định NSNN

Bốn là, tính công khai minh bạch: Các khoản chi của NSNN và NSĐP

cho cung cấp hàng hóa, dịch vụ công được Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp thảo luận và biểu quyết công khai, khi được quyết định phải công bố công khai cho nhân dân biết, tính công khai dân chủ của NSNN là thực hiện quyền làm chủ của nhân dân

Năm là, chi NSNN cho việc cung cấp hàng hóa, dịch vụ công phải bảo đảm thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội: Dự toán chi NSNN cho cung cấp hàng hóa,

dịch vụ công phải bám sát và phục vụ đúng mục tiêu kinh tế xã hội

Sáu là, tính kỷ cương theo pháp luật: Phải chấp hành nghiêm túc luật

NSNN và các văn bản pháp quy của nhà nước về quản lý chi NSNN, đảm bảo

Trang 36

trật tự kỷ cương quản lý tài chính của nhà nước, từ Trung ương đến ngân sách địa phương

c) Nội dung quản lý chi NSNN cho việc cung cấp hàng hóa dịch vụ công

Việc quản lý chi NSNN cho cung cấp hàng hóa, dịch vụ công thực hiện theo một chu trình khép kín hoàn chỉnh theo quy định của Luật NSNN từ khâu lập dự toán ngân sách hàng năm, chấp hành ngân sách, quyết toán ngân sách và thanh kiểm tra, đánh giá kết quả, hiệu quả kinh tế xã hội do chi NSNN mang lại

- Đối với việc lập dự toán ngân sách: Nội dung quản lý ở khâu lập dự

toán NSNN đó là kế hoạch chi NSNN cho cung cấp hàng hóa, dịch vụ công phải bám sát kế hoạch phát triển kinh tế xã hội và có tác động tích cực đối với việc thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế xã hội mặt khác việc lập dự toán NSNN hàng năm phải bảo đảm thực hiện đầy đủ và đúng đắn các quan điểm của chính sách kinh tế xã hội quốc gia về cung cấp hàng hóa, dịch vụ công trong từng thời kỳ và yêu cầu của luật NSNN như xác định phạm vi, nội dung các khoản chi, phân định nhiệm vụ chi NSNN cho cung cấp hàng hóa, dịch vụ công giữa các cấp ngân sách

- Đối với việc chấp hành ngân sách: Nội dung quản lý ở khâu chấp

hành ngân sách là khi dự toán ngân sách được giao, phải biến các chỉ tiêu chi, nội dung chi thành hiện thực, thông qua việc chấp hành ngân sách mà tiến hành kiểm tra việc thực hiện các chính sách, chế độ, tiêu chuẩn, định mức về kinh tế tài chính của nhà nước trong việc cung cấp hàng hóa, dịch vụ công Việc quản lý ở khâu chấp hành ngân sách là khâu trọng yếu có ý nghĩa quyết định với một chu trình ngân sách, khâu lập dự toán có thực hiện được hay không là ở khâu chấp hành ngân sách, việc chấp hành ngân sách tốt sẽ có tác dụng tích cực ở khâu xét duyệt, thẩm tra quyết toán

Trang 37

- Đối với việc xét duyệt quyết toán ngân sách hàng năm: Nội dung quản

lý ở khâu quyết toán này đó là phải tổng kết đánh giá lại toàn bộ quá trình hoạt động thu chi ngân sách trong một năm ngân sách theo dự toán được duyệt, cung cấp được đầy đủ các thông tin về quản lý điều hành chi ngân sách của năm ngân sách đã qua để có biện pháp quản lý chi NSNN cung cấp hàng hóa, dịch vụ công trong thời gian tới

d) Phân cấp quản lý chi NSNN cho cung cấp hàng hóa, dịch vụ công

Phân cấp quản lý chi NSNN cho việc cung cấp hàng hóa, dịch vụ công là việc nhà nước xác định phạm vi trách nhiệm và quyền hạn của chính quyền nhà nước các cấp trong việc quản lý, điều hành thực hiện nhiệm vụ chi của ngân sách cung cấp hàng hóa, dịch vụ công, theo Luật ngân sách nhà nước năm 2002 qui định NSNN gồm: NSTW và ngân sách địa phương (NSĐP gồm: NS tỉnh; NS huyện, quận, thành phố trực thuộc tỉnh và NS xã, phường, thị trấn) là hệ thống ngân sách thống nhất nhằm phản ánh, tập trung, đầy đủ, các nguồn tài chính quốc gia được huy động vào tay nhà nước và phân phối sử dụng chúng phục vụ các mục tiêu nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội

Việc phân cấp chi NSNN cho cung cấp hàng hóa, dịch vụ công theo từng ngành và địa phương đúng đắn sẽ đảm bảo phương tiện cho việc duy trì, phát triển hoạt động của các cấp chính quyền nhà nước từ Trung ương đến các địa phương trong việc cung cấp hàng hóa, dịch vụ công, tạo điều kiện phát huy lợi thế nhiều mặt của từng vùng, từng địa phương, từng ngành trong cả nước, nó cho phép quản lý được tốt hơn, chi tiết hơn, sát hơn với thực tế, điều chỉnh các mối quan hệ giữa các cấp chính quyền cũng như mối quan hệ giữa các cấp ngân sách, để phát huy vai trò và công cụ điều chỉnh vĩ mô của NSNN; đồng thời phân cấp quản lý NSNN còn có tác động thúc đẩy phân cấp quản lý kinh tế xã hội ngày càng hoàn thiện hơn, tạo chủ động cho các cấp có

Trang 38

điều kiện huy động đóng góp tại chỗ tham gia cung cấp hàng hóa, dịch vụ công

Theo Luật NSNN năm 2002 có hiệu lực thi hành từ năm ngân sách

2004 thì phân cấp nhiệm vụ chi NSNN được chia thành NSTW và chi NSĐP (bao gồm NS tỉnh, NS huyện và NS xã) những nhiệm vụ chi của NSTW do Trung ương đảm nhiệm, những nhiệm vụ chi của NSĐP do địa phương đảm nhiệm, những nhiệm vụ chi của NSĐP do địa phương xem xét tình hình cụ thể để bố trí nguồn kinh phí cho tỉnh, huyện, xã nhưng vẫn phải đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước, quy định nào tạo sự chủ động hơn cho địa phương trong việc sắp xếp, phân bổ kinh phí chi cho các nội dung

đã định, phục vụ các mục tiêu kinh tế, chính trị xã hội tại địa phương Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định việc phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi giữa ngân sách các cấp chính quyền địa phương phù hợp với phân cấp quản lý kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và trình độ quản lý của mỗi cấp trên địa bàn

Bảng 1.1: Phân cấp nhiệm vụ chi cho các cấp ngân sách trong

việc cung cấp hàng hóa, dịch vụ công

Hàng hóa, dịch vụ

công

Nhiệm vụ chi của các cấp ngân sách theo Luật ngân

sách nhà nước năm 2002NSTW

NSĐP

NS tỉnh NS huyện NS xã Đào tạo sau đại học, đại

học, cao đẳng, THCN,

đào tạo nghề và các

hình thức đào tạo khác

Chi hoạt động cho các đơn

vị thuộc TW quản lý

Chi cho các đơn vị do tỉnh quản lý

Chi theo phân cấp của tỉnh

Các hoạt động phòng

bệnh, khám chữa bệnh

Chi hoạt động cho các đơn

vị thuộc TW

Chi cho các đơn vị do tỉnh quản lý

Chi theo phân cấp của tỉnh

về phòng

Chi hoạt động khác

về y tế

Trang 39

quản lý chống dịch

bệnh (không bao gồm khám, chữa bệnh)

(không bao gồm khám, chữa bệnh)Các hoạt động phòng

chống các tệ nạn xã hội

Chi hoạt động chi các đơn vị thuộc TW quản lý

Chi cho các đơn vị do tỉnh quản lý

Chi cho các hoạt động do huyện quản lý

vị thuộc TW quản lý

Chi cho các đơn vị do tỉnh quản lý

Chi cho các hoạt động do huyện quản lý

Chi cho các hoạt động do

xã quản lý

Chi cho các hoạt động

bồi dưỡng, huấn luyện

viên, vận động viên, các

giải thi đấu thể thao,

quản lý các cơ sở thi

đấu thể thao

Chi cho các hoạt động và

cơ sở thể thao

do TW quản lý

Chi cho các hoạt động và

cơ sở thể thao do tỉnh quản lý

Chi cho các hoạt động và

cơ sở thể thao

do huyện quản lý

Chi cho các hoạt động và

cơ sở thể thao do xã quản lýCác hoạt động nghiên

cứu khoa học và công

nghệ, ứng dụng tiến bộ

kỹ thuật

Chi cho các hoạt động do

TW quản lý

Chi cho các hoạt động do Tỉnh quản lý

Chi công tác ứng dụng tiến

bộ kỹ thuật do huyện quản lý Chi cho các hoạt động

về môi trường

Chi cho các hoạt động do

TW quản lý

Chi cho các hoạt động do tỉnh quản lý

Chi cho các hoạt động do huyện quản lý

Chi cho các hoạt động do

xã quản lý Các hoạt động duy tu

bảo dưỡng sửa chữa

Chi cho các hoạt động do

Chi cho các hoạt động do

Chi cho các hoạt động do

Chi cho các hoạt

Trang 40

cầu, đường, các biện

dưỡng sửa chữa các

tuyến đê, công trình

thủy lợi

Chi cho các hoạt động do

TW quản lý

Chi cho các hoạt động do tỉnh quản lý

Chi cho các hoạt động do huyện quản lý

Chi cho các hoạt động do

xã quản lýCác hoạt động khuyến

nông, khuyến ngư,

khuyến lâm

Chi cho các hoạt động do

TW quản lý

Chi cho các hoạt động do tỉnh quản lý

Chi cho các hoạt động do huyện quản lý

Chi cho các hoạt động do

xã quản lýCác hoạt động bảo vệ

nguồn lợi thủy sản,

phòng chống cháy rừng

Chi cho các hoạt động do

TW quản lý

Chi cho các hoạt động do tỉnh quản lý

Chi cho các hoạt động do huyện quản lýCác hoạt động điều tra

cơ bản, lập bản đồ

Chi cho các hoạt động do

TW quản lý

Chi cho các hoạt động do tỉnh quản lýCác hoạt động an ninh

quốc phòng

Chi cho các hoạt động mua sắm vũ khí duy trì hoạt động của các đơn vị của lực lượng quân đội quốc gia, an ninh quốc gia, an ninh quốc phòng, phòng cháy chữa cháy

Chi cho các hoạt động về dân quân tự

vệ, tập huấn, trật tự xã hội, giáo dục quốc phòng,

XD phương

án phòng thủ khu vực, hỗ trợ công tác phòng cháy

và các hoạt động do tỉnh quản lý

Chi cho các hoạt động quốc phòng toàn dân, dân quân tự vệ, trật tự xã hội, tuyên truyền

do huyện quản lý

Chi cho các hoạt động quốc phòng toàn dân, dân quân

tự vệ, trật

tự xã hội, tuyên truyền do

xã quản lý

Ngày đăng: 31/08/2017, 09:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w