Thời gian qua, công tác thu hút các dự án đầu tư sản xuất - kinh doanh trên địa bàn huyện Lương Sơn có chiều hướng phát triển tích cực, các dự án mới đang triển khai thủ tục theo quy địn
Trang 1LƯU THỊ THẢO
GIẢI PHÁP GÓP PHẦN TĂNG CƯỜNG THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ CHO PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT KINH DOANH TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN LƯƠNG SƠN, TỈNH HOÀ BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
Hà Nội, 2012
Trang 2LƯU THỊ THẢO
GIẢI PHÁP GÓP PHẦN TĂNG CƯỜNG THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ CHO PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT KINH DOANH TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN LƯƠNG SƠN, TỈNH HOÀ BÌNH
Chuyªn ngµnh: Kinh tế nông nghiệp
M· sè: 60.31.10
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS NGUYỄN VĂN TUẤN
Hà Nội, 2012
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian học tại trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam, theo chương trình đào tạo Cao học Khoá 18 ( 2010-2012), chuyên ngành Kinh tế Nông nghiệp tôi xây dựng đề cương và đi nghiên cứu, thực tập với nội dung
"Giải pháp góp phần tăng cường thu hút vốn đầu tư cho phát triển sản xuất kinh doanh trên địa bàn huyện Lương Sơn, tỉnh Hoà Bình" nay đã hoàn thành Luận
văn tốt nghiệp cho khoá học
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu nhà trường đã tạo điều kiện tốt cho tôi suốt quá trình học tập tại trường Cảm ơn các Thầy, cô giáo trong khoa Đào tạo Sau Đại học, thầy cô giáo trong khoa Kinh tế và QTKD đã nhiệt tình giảng dạy truyền đạt kiến thức
Đặc biệt cảm ơn sự giúp đỡ quý báu của PGS.TS Nguyễn Văn Tuấn đã tạo điều kiện, chỉ bảo, hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực tập và hoàn thành Luận văn tốt nghiệp
Tôi xin trân trọng cảm ơn các cơ quan: Phòng tài chính kế hoạch, Phòng Tài nguyên và Môi trường, Chi cục Thống kê huyện Lương Sơn, đã tạo mọi điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực tập thu được kết quả tốt
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa được sử dụng để công bố công trình khoa học nào, các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, tháng 12 năm 2012
Lưu Thị Thảo
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cảm ơn i
Mục lục ii
Danh mục các chữ viết tắt v
Danh mục các bảng vi
Danh mục các các hình vi
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương I CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1 Cơ sở lý luận về đầu tư và thu hút vốn đầu tư 3
1.1.1 Cơ sở lý luận về đầu tư 3
1.1.1.1 Khái niệm về đầu tư 3
1.1.1.2 Các hình thức đầu tư 3
1.1.1.3 Môi trường đầu tư 5
1.1.2 Nội dung quản lý Nhà nước về đầu tư 11
1.1.3 Lý luận về vốn đầu tư và thu hút vốn đầu tư 12
1.1.3.1 Vốn đầu tư 12
1.1.3.2 Nguồn vốn đầu tư 13
1.1.3.3 Một số phương pháp tạo lập nguồn vốn đầu tư: 17
1.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến sức thu hút các nguồn vốn đầu tư 19
1.1.4.1 Các nguồn lực và tiềm năng phát triển 19
1.1.4.2 Nhân tố chính trị - xã hội 21
1.1 4.3 Sự phát triển của nền kinh tế 22
1.1.4.4 Ổn định môi trường kinh tế vĩ mô 24
1.1.4.5 Các chính sách khuyến khích đầu tư 25
1.2 Thực tiễn về thu hút vốn đầu tư vào phát triển sản xuất kinh doanh 25
1.2.1.Kinh nghiệm thu hút vốn đầu tư trên thế giới 25
1.2.1.1 Kinh nghiệm thu hút VĐT cho PTSXKD của các nước ASEAN 26
1.1.2.2 Kinh nghiệm thu hút VĐT trực tiếp nước ngoài của Trung Quốc 29
1.2.2 Kinh nghiệm thu hút vốn đầu tư của Việt Nam 33
Chương II ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 36
Trang 52.1 Các đặc điểm cơ bản của huyện Lương Sơn tỉnh Hoà Bình 36
2.1.1 Các đặc điểm về tự nhiên 36
2.1.1.1 Vị trí địa lý 36
2.1.1.2 Địa hình huyện Lương Sơn 37
2.1.1.3 Khí hậu thủy văn 38
2.1.1.4 Đất đai, tài nguyên 39
2.1.2 Các đặc điểm kinh tế xã hội 41
2.1.2.1 Dân số, lao động 41
2.1.2.2 Đặc điểm hệ thống cơ sở hạ tầng 43
2.1.2.3 Sự phát triển các ngành kinh tế của huyện 44
2.1.3 Đánh giá chung về điều kiện cơ bản của Huyện Lương Sơn 47
2.1.3.1 Những thuận lợi 47
2.1.3.2 Những khó khăn 48
2.2 Phương pháp nghiên cứu 50
2.2.1 Phương pháp chọn địa điểm nghiên cứu khảo sát 50
2.2.2 Phương pháp khảo sát, thu thập số liệu, tài liệu: 50
2.2.2.1 Đối với các số liệu thứ cấp: 50
2.2.2.2 Đối với các số liệu sơ cấp: 51
2.2.3 Phương pháp xử lý số liệu: 51
2.2.4 Phương pháp chuyên gia 55
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 56
3.1 Thực trạng hoạt động đầu tư cho SXKD trên địa bàn huyện Lương Sơn 56
3.1.1 Tổng vốn đầu tư trên địa bàn huyện Lương sơn 56
3.1.1.1.Cơ cấu vốn đầu tư theo nguồn VĐT trên địa bàn huyện Lương Sơn 56 3.1.1.2 Cơ cấu vốn đầu tư theo lĩnh vực của huyện Lương Sơn 58
3.1.2 Vốn đầu tư cho lĩnh vực SXKD trên địa bàn huyện Lương sơn 61
3.1.2.1 Tổng mức đầu tư cho SXKD 61
3.1.2.2 Cơ cấu đầu tư cho SXKD trên địa bàn huyện Lương Sơn 64
3.1.2.3 Tình hình triển khai hoạt động đầu tư vào SXKD trên địa bàn huyện Lương Sơn 68
3.2 Thực trạng môi trường đầu tư của huyện Lương Sơn 70
3.2.1 Về cơ chế, chính sách thu hút đầu tư 70
3.2.2 Về đầu tư hạ tầng kỹ thuật các khu công nghiệp 71
3.2.4 Về công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị tư tưởng: 72
Trang 63.2.5 Đào tạo nguồn nhân lực 72
3.2.6 Công tác giải phóng mặt bằng 73
3.2.7 Công tác xây dựng cơ sở hạ tầng 73
3.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến sức thu hút đầu tư cho phát triển SXKD trên trên địa bàn huyện Lương Sơn 75
3.3.1 Kiểm định chất lượng thang đo 75
3.3.2 Thực hiện phân tích nhân tố khám phá EFA 76
3.3.2.1 Các phép kiểm định cho EFA từ kết quả khảo sát 76
3.3.2.2 Kết quả của mô hình EFA 78
3.3.3 Phân tích hồi quy bội 79
3.4 Những thành công, tồn tại và nguyên nhân về thu hút vốn đầu tư cho SXKD trên địa bàn huyện Lương sơn 83
3.4.1 Những thành công về thu hút vốn đầu tư cho SXKD trên địa bàn huyện 83 3.4.2 Các tồn tại và nguyên nhân trong công tác thu hút vốn đầu tư cho phát triển SXKD trên địa bàn huyện Lương Sơn 84
3.4.2.1 Cơ sở hạ tầng 84
3.4.2.2 Công tác quy hoạch 84
3.4.2.3 Thủ tục hành chính 85
3.4.2.4 Công tác giải phóng mặt bằng 85
3.4.2.5 Chất lượng nguồn nhân lực 85
3.5- Giải pháp đề xuất góp phần tăng cường thu hút vốn đầu tư cho phát t riển SXKD trên địa bàn huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình 86
3.5.1 Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính 86
3.5.2 Xây dựng và hoàn thiện cơ sở hạ tầng 87
3.5.3 Giải pháp về nguồn nhân lực 89
3.5.4 Đẩy mạnh hoạt động xúc tiến đầu tư 90
3.5.5 Nhóm giải pháp về giải phóng mặt bằng 90
3.5.6 Làm tốt công tác quy hoạch và nâng cao chất lượng quy hoạch 91
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 93 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
2.1 Cơ cấu đất đai huyện Lương Sơn - Hoà Bình 40 2.2 Hiện trạng dân số, lao động huyện Lương Sơn 42 2.3 Tình hình KT-XH của huyện Lương Sơn 2009 - 2011 45
2.4 Thang đo các yếu tố ảnh hưởng và mức độ sẵn lòng đầu tư của các
3.1 Tổng vốn đầu tư vào huyện Lương Sơn giai đoạn từ năm 2009 –
3.2 Cơ cấu vốn đầu tư theo lĩnh vực Sản xuất kinh doanh trên địa bàn
huyện Lương Sơn giai đoạn 2009 - 2011 59 3.3 Tổng vốn đầu tư vào SXKD theo loại hình DN 63 3.4 Cơ cấu vốn đầu tư vào SXKD theo lĩnh vực SXKD 66 3.5 Tình hình triển khai đầu tư vào SXKD 69 3.6 Các thang đo không đáp ứng yêu cầu chất lượng 75 3.7 Các biến đặc trưng và thang đo chất lượng tốt 76 3.8 Kiểm định KMO and Bartlett's Test 76 3.9 Tổng phương sai được giải thích - Total Variance Explained 77 3.10 Ma trận nhân tố xoay Rotated Component Matrixa 78 3.11 Tóm tắt mô hình - Model Summaryb 79
3.13 Vị trí quan trọng của các yếu tố 82
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
3.1 Biểu đồ cơ cấu vốn đầu tư theo lĩnh vực trên địa bàn huyện Lương
3.2 Biểu đồ cơ cấu vốn đầu tư vào SXKD theo lĩnh vực SXKD 65
Trang 10ĐẶT VẤN ĐỀ 1- Tính cấp thiết của đề tài
Vốn đầu tư là một yếu tố cơ bản cho phát triển kinh tế xã hội Việc đảm bảo huy động các nguồn vốn cho đầu tư phát triển là một trong những điều kiện quan trọng để thực hiện thành công các mu ̣c tiêu theo Quy hoa ̣ch tổng thể phát triển kinh tế– xã hô ̣i đến năm 2020
Trong nền kinh tế hiện nay, vốn đầu tư cho phát triển kinh tế nói chung
và vốn đầu tư cho phát triển sản xuất kinh doanh nói riêng là một vấn đề đặc biệt quan trọng, cần được quan tâm giải quyết Việc thu hút vốn đầu tư cho phát triển sản xuất kinh doanh phải đảm bảo đáp ứng được nhu cầu đầu tư phát triển, đồng thời việc thu hút vốn đó phải đạt được hiệu quả kinh tế cao Hoạt động thu hút vốn đầu tư được xem trọng vì chỉ có cách thu hút các nguồn vốn đầu tư thì mới có thể đẩy nhanh và mạnh nền kinh tế Có như vậy mới tạo ra được những bước đột phá mới và có thể bỏ qua được một số giai đoạn nghiên cứu mà tận dụng ngay những thành tựu khoa học kỹ thuật cũng như sức mạnh của những nguồn vốn có sẵn
Huyện Lương Sơn là huyện cửa ngõ của tỉnh Hoà Bình, tiếp giáp với Thủ đô Hà Nội và các tỉnh đồng bằng sông Hồng, được xác định là vùng kinh
tế trọng điểm của tỉnh Hoà Bình với những lợi thế không phải huyện nào cũng
có Vị trí này tạo cho Lương Sơn những lợi thế đặc thù trong phát triển kinh
tế, nhất là công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, thương mại, du lịch và sản xuất nông nghiệp sạch chất lượng cao Lương Sơn đang thực sự là điểm đến của các nhà đầu tư trong và ngoài nước Cả tỉnh có 8 Khu công nghiệp thì Lương Sơn đã có 3 Khu công nghiệp nằm trong quy hoạch các Khu công nghiệp quốc gia đang triển khai đầu tư hạ tầng, thu hút đầu tư
Trang 11Thời gian qua, công tác thu hút các dự án đầu tư sản xuất - kinh doanh trên địa bàn huyện Lương Sơn có chiều hướng phát triển tích cực, các dự án mới đang triển khai thủ tục theo quy định, nhiều dự án đã đi vào hoạt động
Tuy nhiên việc thu hút các nguồn vốn đầu tư cho phát triển sản xuất kinh doanh của Huyện mới chỉ dừng lại ở việc dựa vào các chính sách do Tỉnh và UBND huyện đề ra Chính vì vậy, có rất ít sự lựa chọn các nhà đầu tư nên dẫn tới chất lượng đầu tư chưa cao, chưa lựa chọn được các nhà đầu tư tốt nhất phù hợp với các chính sách phát triển kinh tế mà huyện và Tỉnh đề ra
Với mong muốn giúp huyện nhà thu hút ngày càng nhiều các nguồn vốn đầu tư cho phát triển sản xuất kinh doanh một cách có hiệu quả, tôi đã
chọn đề tài: “Giải pháp góp phần tăng cường thu hút vốn đầu tư cho phát triển sản xuất kinh doanh trên địa bàn huyện Lương Sơn, tỉnh Hoà Bình"
2- Mục tiêu nghiên cứu
Trang 12Chương I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Cơ sở lý luận về đầu tư và thu hút vốn đầu tư
1.1.1 Cơ sở lý luận về đầu tư
1.1.1.1 Khái niệm về đầu tư
Đầu tư theo nghĩa rộng có nghĩa là quá trình ứng ra các nguồn lực ở
hiện tại để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm đem lại cho nhà đầu tư các kết quả nhất định trong tương lai với hy vọng kết quả này lớn hơn các chi phí
Theo nghĩa hẹp, đầu tư là những hoạt động sử dụng các nguồn lực ở
hiện tại nhằm đem lại cho nhà đầu tư hoặc xã hội kết quả trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã sử dụng để đạt được kết quả đó
Như vậy, đầu tư là những hoạt động sử dụng các nguồn lực hiện có để làm tăng thêm các tài sản vật chất, nguồn nhân lực và trí tuệ để cải thiện mức sống của dân cư hoặc để duy trì khả năng hoạt động của các tài sản và nguồn lực sẵn có [3, tr 32- 35]
1.1.1.2 Các hình thức đầu tư
Luật đầu tư của Việt nam quy định có các hình thức đầu tư chủ yếu là đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp
Trang 13 Đầu tư trực tiếp
+ Đầu tư trực tiếp bao gồm các hình thức sau đây:
- Thành lập tổ chức kinh tế 100% vốn của nhà đầu tư trong nước hoặc 100% vốn của nhà đầu tư nước ngoài
- Thành lập tổ chức kinh tế liên doanh giữa các nhà đầu tư trong nước
và nhà đầu tư nước ngoài
- Đầu tư theo hình thức hợp đồng BCC, hợp đồng BOT, hợp đồng BTO, hợp đồng BT
- Đầu tư phát triển kinh doanh
- Mua cổ phần hoặc góp vốn để tham gia quản lý hoạt động đầu tư
- Đầu tư thực hiện việc sáp nhập và mua lại doanh nghiệp
- Các hình thức đầu tư trực tiếp khác
+ Đầu tư thành lập tổ chức kinh tế bao gồm các hình thức sau đây:
- Doanh nghiệp tổ chức và hoạt động theo Luật doanh nghiệp;
- Tổ chức tín dụng, doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm, quỹ đầu tư và các tổ chức tài chính khác theo quy định của pháp luật;
- Cơ sở dịch vụ y tế, giáo dục, khoa học, văn hoá, thể thao và các cơ sở dịch vụ khác có hoạt động đầu tư sinh lợi;
- Các tổ chức kinh tế khác theo quy định của pháp luật
- Các hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã tổ chức và hoạt động theo Luật hợp tác xã; hộ kinh doanh theo quy định của pháp luật
Đầu tư gián tiếp
Đầu tư gián tiếp tại Việt Nam có các hình thức sau đây:
- Mua cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu và các giấy tờ có giá khác;
- Đầu tư thông qua quỹ đầu tư chứng khoán;
- Đầu tư thông qua các định chế tài chính trung gian khác
Trang 14Đầu tư thông qua mua, bán cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu và giấy tờ có giá khác của tổ chức, cá nhân và thủ tục thực hiện hoạt động đầu tư gián tiếp theo quy định của pháp luật về chứng khoán và các quy định khác của pháp luật có liên quan
1.1.1.3 Môi trường đầu tư
Theo Wim P.M Vijverberg, khái niệm môi trường đầu tư được hiểu là bao gồm tất cả các điều kiện liên quan đến kinh tế, chính trị, hành chính, cơ
sở hạ tầng tác động đến hoạt động đầu tư và kết quả hoạt động của doanh nghiệp [3, tr.53 - 55]
Có rất nhiều các vấn đề ảnh hưởng tới đầu tư đối với các doanh nghiệp nhất là các vấn đề liên quan đến chính sách như tài chính, tín dụng, chính sách thương mại, chính sách thị trường lao động, các quy định, cơ sở hạ tầng, các vấn đề liên quan đến thu mua và tiêu thụ, chính sách thuế, chính sách phát triển các khu công nghiệp và các vấn đề liên quan đến hỗ trợ kỹ thuật và tài chính khác Với khái niệm này, môi trường đầu tư được hiểu khá rộng
Một cách hiểu khác về môi trường đầu tư đó là tổng hợp các yếu tố: điều kiện về pháp luật, kinh tế, chính trị-xã hội, các yếu tố về cơ sở hạ tầng, năng lực thị trường và cả các lợi thế của một quốc gia, có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động đầu tư của các nhà đầu tư tại một quốc gia
Như vậy các khái niệm môi trường đầu tư dù tiếp cận ở góc độ nào cũng đề cập đến môi trường tiến hành các hoạt động đầu tư kinh doanh, các yếu tố có ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư
Do vậy, có thể khẳng định: Môi trường đầu tư là tổng hoà các yếu tố có ảnh hưởng đến công cuộc đầu tư của các nhà đầu tư ở quốc gia hay địa phương nhận đầu tư Nó bao gồm các yếu tố chính như: tình hình chính trị, chính sách – pháp luật, vị trí địa lý - điều kiện tự nhiên, trình độ phát triển kinh tế, đặc điểm văn hoá – xã hội, nguồn lao động và mức độ hội nhập kinh
Trang 15tế quốc tế… Các nhóm yếu tố này có thể làm tăng khả năng sinh lãi hoặc rủi
ro cho các nhà đầu tư
Môi trường đầu tư được hình thành từ các yếu tố sau đây:
Các yếu tố tự nhiên
+ Vị trí địa lý
Một quốc gia được cho là có thế mạnh về kinh tế khi nằm trong khu vực phát triển kinh tế sôi động, có đường giao thông quốc tế (đường biển, đường hàng không) Yếu tố vị trí địa lý có ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp tới môi trường đầu tư
+ Tài nguyên thiên nhiên
Quốc gia nào được thiên nhiên ưu đãi một nguồn tài nguyên dồi dào phong phú thì có thể dựa vào việc khai thác nguồn tài nguyên phong phú đó nhằm tích luỹ vốn cho phát triển Đây là một yếu tố quan trọng tuy nhiên không phải là yếu tố sống còn Ví dụ như Nhật Bản là một quốc gia nghèo tài nguyên khoáng sản song nền kinh tế Nhật phát triển thuộc hàng đầu thế giới
Các yếu tố kinh tế, xã hội
+ Lao động và dân số
Lao động quyết định đến sự tăng trưởng của 1 quốc gia Nhân tố tác động tới chất lượng môi trường đầu tư là chất lượng lao động và nhân tố chất lượng lao động ngoài việc phụ thuộc vào yếu tố văn hoá truyền thống nó còn phụ thuộc chủ yếu vào hệ thống giáo dục đào tạo, phát triển nguồn nhân lực của quốc gia đó Như vậy, giáo dục đào tạo có vai trò trọng tâm làm tăng chất lượng nguồn vốn nhân lực, cải thiện môi trường đầu tư
Yếu tố dân số có ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng môi trường đầu
tư Một quốc gia có dân số đông là thị trường tiêu thụ sản phẩm đầy tiềm năng và để xem xét thị trường tiêu thụ sản phẩm cần tìm hiểu kết cấu của dân
số (ví dụ dân số trẻ hay già, nhiều nam hay nữ ….)
Trang 16+ Các ngành công nghiệp phụ trợ
Ngành công nghiệp phụ trợ là những ngành mà doanh nghiệp có thể phối hợp và chia sẻ trong chuỗi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, chúng có tính chất bổ trợ ở các khâu của quá trình sản xuất
Ngành công nghiệp phụ trợ bao gồm sản xuất chi tiết linh kiện, các công nghệ sản phẩm đầu vào để sản xuất ra sản phẩm cuối cùng Sức cạnh tranh của các doanh nghiệp trong ngành phụ trợ càng mạnh thì tiềm năng cạnh tranh của doanh nghiệp mũi nhọn càng lớn, cơ hội thành công trong cạnh tranh của doanh nghiệp càng cao
Các nhà đầu tư thường quan tâm tới hoạt động và sự phát triển của các ngành công nghiệp phụ trợ Sự hiện diện của các cụm công nghiệp phụ trợ là một lợi thế cho nhà đầu tư, giúp họ giảm thiểu chi phí sản xuất và quốc gia nào có một ngành công nghiệp phụ trợ phát triển cũng có lợi thế trong thu hút nguồn vốn đầu tư
Trang 17 Các yếu tố môi trường thể chế kinh tế, chính trị, pháp luật
Các nhà đầu tư luôn đòi hỏi một môi trường đầu tư với mức độ ổn định
về kinh tế và chính trị Sự ổn định về chính trị và tiềm lực kinh tế vững chắc, dồi dào, bền vững là cơ sở cho an toàn tài chính
An toàn tài chính là một trạng thái tài chính ổn định không bị nguy hiểm từ các tác động bên ngoài hay bên trong, không tự gây hại cho mình đồng thời ngăn chặn được sự tấn công phá hoại từ bên ngoài Chỉ khi có sự đảm bảo an toàn về tài chính thì các nhà đầu tư mới có thể yên tâm khi mang vốn đi đầu tư
+ Thể chế kinh tế
Thể chế kinh tế là những quy tắc, cơ chế thực hiện và tổ chức gắn liền được hình thành một cách tất yếu nhằm điều chỉnh hành vi ứng xử của các chủ thể hoạt động tìm kiếm lợi nhuận cùng các lợi ích xã hội khác trong một nền kinh tế nhất định, phản ánh trình độ phát triển của nền kinh tế tương ứng
Theo nghĩa hẹp, thể chế kinh tế thường được đề cập như là thể chế kinh
tế chính thức Về phương diện này thể chế kinh tế được hiểu là những quy định được thể hiện thành văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan tố chức
có thẩm quyền ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ kinh tế nói chung
Khi đặt thể chế kinh tế trong mối quan hệ với môi trường đầu tư thì thể chế được phân loại thành:
Thể chế kinh tế đối với việc giảm thiểu chi phí đầu tư: bao gồm các thể chế về tài chính như chính sách về thuế và tín dụng
Thể chế kinh tế giảm thiểu rủi ro của hoạt động đầu tư: bao gồm mức
độ ổn định của chính sách hay thể chế kinh tế, thể chế đảm bảo quyền tài sản của nhà đầu tư
Trang 18Thể chế kinh tế đối với tăng cường cạnh tranh: thuộc nhóm thể chế này
là những quy tắc hay quy định luật pháp về việc thừa nhận việc điều tiết đối với việc gia nhập hay rút lui khỏi thị trường
Các ảnh hưởng của thể chế kinh tế đến môi trường đầu tư thể hiện trên các khía cạnh sau đây:
+ Ảnh hưởng của thể chế liên quan tới chi phí hoạt động sản xuất của nhà đầu tư đối với môi trường đầu tư
- Thể chế thuế và môi trường đầu tư: tác động của thuế đối với tính hấp dẫn của môi trường đầu tư thường được nhìn thấy một cách trực tiếp Trên thực tế cho thấy một sự tác động ngược chiều giữa mức thuế suất cao và tính hấp dẫn của môi trường đầu tư, với mức thuế cao thường làm giảm sức hấp dẫn của môi trường đầu tư và do đó làm mức tăng trưởng kinh tế giảm Thể chế thuế ảnh hưởng tiêu cực tới môi trường đầu tư song môi trường đầu tư tốt phải đảm bảo lợi ích của cả nhà đầu tư và doanh nghiệp, do đó để nhà đầu tư
có cơ sở hạ tầng thuận lợi thì cần phải đánh đổi giữa thuế và lợi nhuận
- Thể chế thị trường tài chính và tác động tới môi trường đầu tư: thể chế này có quan hệ mật thiết với chi phí của doanh nghiệp và do đó sẽ thúc đẩy hoạt động đầu tư nếu như tính hoàn thiện cao Ngược lại nếu thể chế này làm tăng chi phí đầu tư sẽ làm giảm tính hấp dẫn của môi trường đầu tư.Tác động của thị trường tài chính với hiệu quả thấp, tính thiếu ổn định cao thường làm chi phí đầu tư cao
+ Ảnh hưởng của nhóm thể chế liên quan tới rủi ro trong hoạt động đầu tư đối với môi trường đầu tư: nhóm thể chế này chịu tác động mạnh mẽ
của chính phủ do vậy những quy tắc do chính phủ đặt ra liên quan tới vấn đề này sẽ có tác động rất lớn với tính hấp dẫn của môi trường đầu tư
- Sự ổn định của thể chế kinh tế: sự bất ổn định luôn đóng vai trò trung tâm trong những cân nhắc về đầu tư, bất ổn định trong chính sách là những
Trang 19nhân tố cản trở lớn nhất đối với các quyết định đầu tư Khi những chính sách, thể chế kinh tế không ổn định hoặc thiếu minh bạch sẽ làm giảm sức hấp dẫn của môi trường đầu tư Những lo ngại về sự không ổn định của chính sách có thể bắt đầu từ tính chất mơ hồ của chính sách hoặc thể chế hiện hành Thậm chí ngay cả khi chính sách được thể hiện một cách rõ ràng trên giấy tờ thì chưa hẳn đã hết quan ngại về việc các chính sách đó được thực thi như thế nào trên thực tế Một môi trường đầu tư được coi là hấp dẫn khi và chỉ khi các thể chế loại trừ hay hạn chế tối đa những bất định đối với nhà đầu tư
- Thể chế đảm bảo quyền tài sản bao gồm hiến pháp, những quy định
về chế độ sở hữu, hệ thống luật pháp và các quy định về cấp giấy chứng nhận quyền tài sản …Việc đảm bảo quyền tài sản có ý nghĩa hai mặt đối với việc tạo lập môi trường đầu tư hấp dẫn Việc đảm bảo quyền tài sản bảo đảm cho nhà đầu tư thu được thành quả từ công cuộc đầu tư của mình Khi các quyền tài sản được bảo vệ bởi một thể chế phù hợp, minh bạch thì các nhà đầu tư yên tâm hơn khi đem vốn đi đầu tư và làm tăng tính hấp dẫn của môi trường đầu tư Thể chế đảm bảo quyền tài sản cải thiện môi trường đầu tư rõ rệt qua các chức năng cụ thể như xác lập quyền về đất đai, tạo sự thuận lợi trong việc thực hiện hợp đồng Đối với các tài sản trí tuệ như bằng sáng chế, phát minh, thương hiệu, bản quyền tác giả … để có được chúng phải đòi hỏi rất nhiều chi phí Do vậy trong hoạt động của các tập đoàn, doanh nghiệp phát triển luôn có
sự hiện diện của của thể chế đảm bảo việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ Như vậy một môi trường đầu tư được coi là hấp dẫn khi cơ chế đảm bảo quyền tài sản trí tuệ mạnh
+ Ảnh hưởng của nhóm thể chế liên quan tới cạnh tranh đối với môi trường đầu tư
-Thể chế điều tiết đối với việc gia nhập hay rút lui khỏi thị trường.Thể chế điều tiết có thể tác động đến môi trường đầu tư qua những ảnh hưởng của
Trang 20nó đối với cạnh tranh, cạnh tranh đóng vai trò quan trọng đối với môi trường đầu tư bằng cách tạo cơ hội cho các doanh nghiệp mới và mang động lực để các nhà đầu tư tiến hành đổi mới và nâng cao năng suất Việc dỡ bỏ những cản trở từ hoạt động điều tiết phi lý của chính phủ là một trong những cách thức làm cho môi trường đầu tư trở nên hấp dẫn hơn Những hồ sơ và thủ tục cồng kềnh là biểu hiện tính rối của thể chế điều tiết Việc làm thủ tục đầu tư kinh doanh rắc rối làm mất thời gian và làm gia tăng chi phí của nhà đầu tư do
đó làm giảm tính hấp dẫn của môi trường đầu tư Việc loại bỏ hay giảm bớt các rào cản thể chế để tạo ra sự cạnh tranh trên thị trường và tạo ra một môi trường đầu tư thông thoáng hơn
1.1.2 Nội dung quản lý Nhà nước về đầu tư
Nội dung quản lý nhà nước về đầu tư được quy định theo các Điều tại chương X – Quản lý nhà nước về đầu tư của Luật đầu tư như sau:
- Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách về đầu tư phát triển
- Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về đầu tư
- Hướng dẫn, hỗ trợ nhà đầu tư thực hiện dự án đầu tư và giải quyết những vướng mắc, yêu cầu của nhà đầu tư
- Cấp, thu hồi Giấy chứng nhận đầu tư
- Hướng dẫn, đánh giá hiệu quả đầu tư, kiểm tra, thanh tra và giám sát hoạt động đầu tư; giải quyết khiếu nại, tố cáo, khen thưởng và xử lý vi phạm trong hoạt động đầu tư
- Tổ chức hoạt động đào tạo nguồn nhân lực liên quan đến hoạt động đầu tư
- Tổ chức hoạt động xúc tiến đầu tư
- Theo dõi, đánh giá và báo cáo hoạt động đầu tư theo quy định của pháp luật Nội dung theo dõi, đánh giá đầu tư bao gồm:
Trang 21+ Việc ban hành văn bản hướng dẫn pháp luật theo thẩm quyền và thực hiện các quy định của pháp luật về đầu tư;
+ Tình hình thực hiện các dự án đầu tư theo quy định của Giấy chứng nhận đầu tư;
+ Kết quả thực hiện đầu tư của cả nước, các Bộ, ngành và các địa phương, các dự án đầu tư theo phân cấp;
+ Báo cáo cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp, cơ quan nhà nước quản
lý đầu tư cấp trên về kết quả đánh giá đầu tư, kiến nghị các biện pháp xử lý những vướng mắc và vi phạm pháp luật về đầu tư
1.1.3 Lý luận về vốn đầu tư và thu hút vốn đầu tư
Hiểu theo nghĩa trực tiếp, vốn là phần giá trị tài sản quốc gia được tích luỹ dưới dạng tiền, giá trị của tài sản hữu hình và vô hình nhằm mục đích sinh lợi được chuyển đổi thông qua các hình thức đầu tư thành những tư liệu sản xuất cần thiết khác để sử dụng vào quá trình sản xuất và tái sản xuất xã hội
Trong nền kinh tế thị trường quan niệm vốn được mở rộng với các đặc trưng cơ bản sau: Vốn được biểu hiện bằng giá trị của những tài sản; vốn được biểu hiện bằng tiền, nhưng không phải tất cả mọi nguồn tiền đều là vốn; vốn còn
là một hàng hoá đặc biệt; vốn còn thể hiện dưới dạng tiềm năng và lợi thế vô hình
Như vậy, Sự biểu hiện bằng tiền tất cả các nguồn lực đã bỏ ra để thực hiện đầu tư gọi là vốn đầu tư Để có thể tạo được những tài sản vật chất cụ thể, nhất thiết phải sử dụng vốn đầu tư thông qua hoạt động đầu tư
Trang 221.1.3.2 Nguồn vốn đầu tư
Bản chất của nguồn vốn đầu tư:
Xét về bản chất, nguồn hình thành vốn đầu tư chính là phần tiết kiệm hay tích luỹ mà nền kinh tế có thể huy động được để đưa vào quá trình tái sản xuất xã hội Điều này được cả kinh tế học cổ điển, kinh tế chính trị học Mác -
Lê nin và kinh tế học hiện đại chứng minh
Trong tác phẩm “Của cải của các dân tộc” (1776), Adam Smith, một đại diện điển hình của trường phái kinh tế học cổ điển đã khẳng định: “Tiết kiệm là nguyên nhân trực tiếp gia tăng vốn Lao động tạo ra sản phẩm để tích luỹ cho quá trình tiết kiệm Nhưng dù có tạo ra bao nhiêu chăng nữa, nhưng không có tiết kiệm thì vốn không bao giờ tăng lên”
Sang thế kỷ XIX, khi nghiên cứu về cân đối kinh tế, về các mối quan
hệ giữa các khu vực của nền sản xuất xã hội, về các vấn đề có liên quan trực tiếp đến tích luỹ, C Mác đã chứng minh rằng: Trong một nền kinh tế với hai khu vực, khu vực I sản xuất tư liệu sản xuất và khu vực II sản xuất tư liệu tiêu dùng Cơ cấu tổng giá trị của từng khu vực đều bao gồm (c+v+m) trong đó c
là phần tiêu hao vật chất, (v+m) là phần giá trị mới sáng tạo ra Khi đó, điều kiện để đảm bảo tái sản xuất mở rộng không ngừng thì nền sản xuất xã hội phải đảm bảo (v +m) của khu vực I lớn hơn tiêu hao vặt chất (c) của khu vực
Trang 23Đối với khu vực II, yêu cầu phải đảm bảo:
(c+v+m) II < (v+m) I + (v+m)II
Có nghĩa là toàn bộ giá trị mới của cả hai khu vực phải lớn hơn giá trị sản phẩm sản xuất ra của khu vực II Chỉ khi điều kiện này được thoả mãn, nền kinh tế mới có thể dành một phần thu nhập để tái sản xuất mở rộng Từ
đó quy mô vốn đầu tư cũng sẽ gia tăng
Như vậy, để đảm bảo gia tăng nguồn lực cho sản xuất, gia tăng quy mô đầu tư, một mặt phải tăng cường sản xuất tư liệu sản xuất ở khu vực I, đồng thời phải sử dụng tiết kiệm tư liệu sản xuất ở cả hai khu vực Mặt khác, phải tăng cường sản xuất tư liệu tiêu dùng ở khu vực II, thực hành tiết kiệm tiêu dùng trong sinh hoạt ở cả hai khu vực
Với phân tích như trên, chúng ta thấy rằng theo quan điểm của C.Mác, con đương cơ bản và quan trọng về lâu dài để tái sản xuất mở rộng là phát triển sản xuất và thực hành tiết kiệm ở cả trong sản xuất và tiêu dùng, hay nói cách khác, nguồn lực cho đầu tư tái sản xuất mở rộng chỉ có thể được đáp ứng
do sự gia tăng sản xuất và tích luỹ của nền kinh tế
Quan điểm về bản chất của nguồn vốn đầu tư lại tiếp tục được các nhà kinh tế học hiện đại chứng minh Trong tác phẩm nổi tiếng “Lý thuyết tổng quát về việc làm, lãi suất và tiền tệ” của mình, John Maynard Keynes đã chứng minh được rằng: Đầu tư chính bằng phần thu nhập mà không chuyển vào tiêu đùng Đồng thời ông cũng chỉ ra rằng, tiết kiệm chính là phần dôi ra của thu nhập so với tiêu dùng:
Trang 24Hay: (I) = (S)
Theo Keynes, sự cân bằng giữa tiết kiệm và đầu tư xuất phát từ tính chất song phương của các giao dịch giữa một bên là nhà sản xuất và bên kia là người tiêu dùng Thu nhập chính là mức chênh lệch giữa doanh thu từ bán hàng hoá hoặc cung ứng dịch vụ và tổng chi phí Nhưng toàn bộ sản phẩm sản xuất ra phải được bán cho người tiêu dùng hoặc cho các nhà sản xuất khác Mặt khác đầu tư hiện hành chính bằng phần tăng thêm năng lực sản xuất mới trong kỳ Vì vậy, xét về tổng thể phần dôi ra của thu nhập so với tiêu dùng mà người ta gọi là tiết kiệm không thể khác với phần gia tăng năng lực sản xuất
mà người ta gọi là đầu tư
Tuy nhiên, điều kiện cân bằng trên chỉ đạt được trong nền kinh tế đóng Trong đó, phần tiết kiệm của nền kinh tế bao gồm tiết kiệm của khu vực tư nhân và tiết kiệm của chính phủ Điểm cần lưu ý là tiết kiệm và đầu tư xem xét trên góc độ toàn bộ nền kinh tế không nhất thiết được tiến hành bởi cùng một cá nhân hoặc doanh nghiệp nào Có thể có cá nhân, doanh nghiệp tại một thời điểm nào đó có tích luỹ nhưng không trực tiếp tham gia đầu tư Trong khi
đó, có một số cá nhân, doanh nghiệp lại thực hiện đầu tư khi chưa hoặc tích luỹ chưa đủ Khi đó, thị trường vốn sẽ tham gia giải quyết vấn đề bằng việc điều tiết khoản vốn từ nguồn dư thừa hoặc tạm thời dư thừa sang cho người
có nhu cầu sử dụng Ví dụ, nhà đầu tư có thể phát hành cổ phiếu, trái phiếu (nếu đáp ứng được một số điều kiện nhất định và tuân thủ quy trình thủ tục nhất định) để huy động vốn thực hiện một dự án đầu tư nào đó từ các doanh nghiệp, hộ gia đình hay các cá nhân - người dư thừa hoặc tạm thời dư thừa vốn
Trong nền kinh tế mở, đẳng thức đầu tư bằng tiết kiệm của nền kinh tế không phải bao giờ cũng được thiết lập Phần tích luỹ của nền kinh tế có thể lớn hơn nhu cầu đầu tư tại nước sở tại, khi đó vốn có thể được chuyển sang
Trang 25nước khác để thực hiện đầu tư Ngược lại, vốn tích luỹ của nền kinh tế có thể
ít hơn nhu cầu đầu tư, khi đó nền kinh tế phải huy động tiết kiệm từ nước ngoài Trong trường hợp này, mức chênh lệch giữa tiết kiệm và đầu tư được thể hiện trên tài khoản vãng lai
CA = S – I
Trong đó: CA là tài khoản vãng lai (current account)
Như vậy, trong nền kinh tế mở, nếu nhu cầu đầu tư lớn hơn tích luỹ nội
bộ của nền kinh tế và tài khoản vãng lai bị thâm hụt thì có thể huy động vốn đầu tư từ nước ngoài Khi đó, đầu tư nước ngoài hoặc vay nợ có thể trở thành một trong những nguồn vốn đầu tư quan trọng của nền kinh tế Nếu tích luỹ của nền kinh tế lớn hơn nhu cầu đầu tư trong nước trong điều kiện thặng dư tài khoản vãng lai thì quốc gia đó có thể đầu tư vốn ra nước ngoài hoặc cho nước ngoài vay vốn nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của nền kinh tế
Các nguồn vốn đầu tư
Nguồn vốn trong nước
Nguồn vốn trong nước được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm toàn bộ các nguồn lực được đưa vào vòng chu chuyển của nền kinh tế Nó không chỉ bao gồm tiền vốn biểu hiện bằng tài sản hiện vật như máy móc, vật tư, lao động, đất đai, tài nguyên mà nó còn bao gồm giá trị của những tài sản vô hình như
Hình 1.1 Sơ đồ về các nguồn vốn đầu tư
Trang 26vị trí địa lý, thành tựu khoa học công nghệ, bản quyền phát minh sáng chế Các bộ phận cấu thành nguồn vốn trong nước gồm có nguồn vốn ngân sách Nhà nước (bao gồm cả vốn của doanh nghiệp nhà nước) và nguồn vốn tư nhân (bao gồm cả vốn của các doanh nghiệp dân doanh)
Nguồn vốn nước ngoài
Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là vốn của các doanh nghiệp và cá nhân nước ngoài đầu tư sang các nước khác và trực tiếp quản lý quá trình sử dụng nhằm mục đích thu lợi nhuận và thu hồi vốn bỏ ra
Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) là vốn đầu tư của các Chính phủ nước ngoài được thực hiện dưới hình thức viện trợ hoàn lại hoặc viện trợ không hoàn lại hay cho vay ưu đãi
Nguồn vốn viện trợ phi chính phủ nước ngoài là vốn viện trợ của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài
1.1.3.3 Một số phương pháp tạo lập nguồn vốn đầu tư:
+ Khuyến khích huy động vốn từ tiết kiệm tư nhân:
Trên cơ sở giả thiết một nền kinh tế cạnh tranh thuần tuý, các nhà kinh
tế cổ điển Anh thế kỷ 19 cho rằng sự can thiệp của Chính phủ vào quyết định đầu tư và tiết kiệm của tư nhân có thể làm giảm tính hiệu quả kinh tế
Tiết kiệm của các hộ gia đình đã trở thành một nguồn lớn hình thành cung vốn đầu tư Ngoài ra, khoản thu nhập giữ lại của một đơn vị kinh doanh cũng là một nguồn quan trọng hình thành nên vốn đầu tư Tiết kiệm của các đơn vị kinh doanh bao gồm tiết kiệm từ lợi nhuận
Lãi suất làm cân bằng cung tiết kiệm với cầu đầu tư kinh doanh Một lãi suất cao hơn sẽ khuyến khích tiết kiệm dẫn đến đường cong cung tiết kiệm đi lên Một lãi suất thấp hơn sẽ giảm chi phí tiền vay kinh doanh, cầu đầu tư dốc xuống Giao điểm của cung tiết kiệm và cầu đầu tư sẽ xác định mức lãi suất
Trang 27Tuy nhiên theo các nhà kinh tế trường phái Keynes cho rằng, lãi suất phải được xác định theo cung và cầu tiền tệ Do vậy chương trình tiết kiệm của các hộ gia đình và chương trình đầu tư của các doanh nghiệp thường không trùng hợp với nhau vì họ là những nhóm khác nhau, hành động theo các suy xét khác nhau
Tiết kiệm phụ thuộc vào thu nhập, còn đầu tư lại là một hàm số của tỷ suất lợi nhuận kỳ vọng Hiện thời các nước kém phát triển ít có thiên hướng chấp nhận các quyết định tiết kiệm của các hộ gia đình và đơn vị kinh doanh trên cơ sở thị trường tự do vì thấy rằng, Chính phủ có vai trò tích cực trong việc tăng tỷ lệ hình thành vốn bằng việc tạo ra tỷ lệ tiết kiệm cao
+ Khai thác các nguồn lực nhàn rỗi:
Lao động dư thừa, theo Ragnar Nurkse, Chính phủ nên sử dụng số lao
động dư thừa có năng suất cận biên thấp hoặc bằng “0” trong nông nghiệp để thực hiện các dự án đầu tư cơ bản như các công trình giao thông công cộng, bệnh viện, trường học hay nhà ở công nhân Ở các công trình này có thể dựa vào những người ruột thịt để có lương thực, thực phẩm Như vậy, sự hình thành vốn mới, hay tiết kiệm được tạo lập mà thật sự không phải chi phí hoặc chi phí thấp
Một số vấn đề khác của cách tiếp cận Nurkse là việc sử dụng lao động nông nghiệp dư thừa sẽ kích thích các nguồn lực với các chi phí thay thế cao Công nhân trong các dự án đầu tư cơ bản sẽ cần một số tư liệu (như các dụng
cụ thô sơ) để làm đường bộ, đường sắt, nhà cửa và nhà máy Ngoài ra, nếu công nhân chuyển vào sinh sống tại thành phố, sẽ phải xây dựng thêm nhà cửa, đường giao thông, trường học, bệnh viện và các dịch vụ khác
+ Năng lực vốn chưa dùng
Hiện tượng sử dụng vốn kém hiệu quả còn khá phố biến ở các quốc gia đang phát triển Các phương tiện vận chuyển bị bỏ quên do chưa được sửa
Trang 28chữa hoặc thiếu phụ tùng thay thế, các công trình nhà cửa bỏ hoang, các mương tưới tiêu khô nước, các nhà máy sử dụng dưới công suất do hư hỏng
về mặt cơ khí, thiếu vật tư hoặc thiếu thị trường tiêu thụ
Tuy nhiên cũng phải nhìn nhận một cách có hiệu quả vì nhiều lý do: vì công nghệ do các nước phát triển chuyển giao không thích hợp với nhu cầu; hơn nữa, nhiều nước đang phát triển có thể chỉ thu hút có hiệu quả con số hạn chế về vốn đầu tư
1.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến sức thu hút các nguồn vốn đầu tư
Vốn đầu tư đưa vào một nền kinh tế nhiều hay ít cũng như hiệu quả của việc sử dụng các nguồn vốn ấy phụ thuộc vào một số yếu tố như: Các nguồn lực và tiềm năng phát triển của địa phương, sự tăng trưởng và phát triển bền vững của nền kinh tế, sự ổn định của môi trường kinh tế vĩ mô và các chính sách khuyến khích đầu tư
1.1.4.1 Các nguồn lực và tiềm năng phát triển
Nguồn lực ở đây bao gồm: Nguồn lực về con người, thể hiện qua số lượng và chất lượng lao động; tiềm lực về khoa học công nghệ thể hiện qua việc sở hữu và áp dụng những công nghệ tiên tiến vào quản lý và sản xuất Tiềm năng phát triển bao gồm: điều kiện tự nhiên (vị trí, địa hình, khí hậu), tiềm năng về tài nguyên khoáng sản, tài nguyên đất, tài nguyên nước, tài nguyên rừng và tiềm năng phát triển kinh tế chưa được khai thác hết ở các ngành, lĩnh vực
+ Nhân tố địa điểm, vị trí địa lý
Những quốc gia, những địa phương nằm giữa những vị trí huyết mạch của khu vực, của quốc gia, gần cảng biển, gần sân bay, thuận lợi trong giao thông vận tải sẽ là yếu tố môi trường thuận lợi để thu hút vốn đầu tư
+ Nhân tố tài nguyên thiên nhiên
Trang 29Các nguồn tài nguyên thiên nhiên đó là tài nguyên khoáng sản và được thể hiện ở số lượng, trữ lượng của từng loại tài nguyên khoáng sản, khả năng khai thác khoáng sản Thực tế tài nguyên khoáng sản là có hạn Mặt khác việc khai thác tài nguyên khoáng sản đã gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng về môi trường Do đó Chính phủ các nước đã phải đưa ra các chính sách quản lý chặt chẽ tài nguyên thiên nhiên, khuyến khích việc thăm dò, tìm kiếm tài nguyên một cách hiệu quả và tiết kiệm…Xuất phát từ nguồn lực tài nguyên hạn chế,
đã khiến các nhà đầu tư thường tìm kiếm nơi có nhiều tài nguyên thiên nhiên
và có chính sách thông thoáng để đầu tư Những nước giàu tài nguyên thì thu hút được nhiều nhà đầu tư
+ Nhân tố nguồn nhân lực
Mọi hoạt động sản xuất kinh doanh muốn thực hiện được cần phải có con người Khi các nhà đầu tư, đặc biệt là các nhà đầu tư nước ngoài đem vốn đến một quốc gia, họ không thể di chuyển toàn bộ các nguồn lực và phương tiện sản xuất đến quốc gia đó, vì vậy họ sử dụng nguồn lực tại chỗ là chủ yếu
Khi một nền kinh tế có nguồn lao động dồi dào và đáp ứng được nhu cầu sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư nhanh chóng đưa dự án vào hoạt động Ở đây xét đến cả số lượng và chất lượng lao động
Số lượng lao động phụ thuộc vào quy mô dân số và tỉ lệ dân số ở trong
độ tuổi lao động, nguồn lao động của một quốc gia có số lượng lớn sẽ đáp ứng được nhu cầu mở rộng quy mô sản xuất và vận hành những sự án có quy
mô lớn Tuy nhiên, như vậy chưa đủ, trong khi sản xuất đòi hỏi yêu cầu về chất lượng cao thì chất lượng lao động là vấn đề quan trọng hơn hết, nếu như
có hàng triệu lao động mà trình độ và kỹ năng của họ chỉ có thể sản xuất thủ công, là các lao động cơ bắp thì cũng chẳng có ý nghĩa gì Chất lượng lao động thể hiện ở khả năng sáng tạo và trình độ qua đào tạo, nó phụ thuộc vào những truyền thống lao động và công tác giáo dục, đào tạo
Trang 30Khi lao động có chất lượng cao, thứ nhất họ sẽ tham gia vào sản xuất tốt hơn vì những kiến thức họ có không phải là nhỏ, bao gồm cả những kiến thức cơ bản và kinh nghiệm qua thời gian Hơn nữa, họ sẽ tiếp thu nhanh hơn khoa học kỹ thuật, giảm bớt chi phí đào tạo cho nhà đầu tư, ảnh hưởng không nhỏ đến thu hút vốn đầu tư
1.1.4.2 Nhân tố chính trị - xã hội
Sự ổn định về chính trị, thể chế chính trị, sự nhất quán trong chủ trương, đường lối, chính sách cơ bản của nhà nước luôn là yếu tố tạo môi trường đầu tư kinh doanh hấp dẫn các nhà đầu tư Đặc trưng nổi bật về sự tác động của những yếu tố chính trị đối với hoạt động đầu tư thể hiện ở những mục đích mà thể chế chính trị nhằm tới
Thể chế chính trị giữ vai trò định hướng, chi phối toàn bộ các hoạt động trong xã hội trong đó các hoạt động đầu tư kinh doanh của các nhà đầu
tư thông qua vai trò của nhà nước cầm quyền Với vai trò tạo lập, thúc đẩy, điều chỉnh và duy trì tốc độ phát triển kinh tế, nhà nước tạo lập một môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi, quy định những khuôn khổ pháp lý, duy trì trật tự kỷ cương trong xã hội và các hoạt động kinh tế, duy trì sự ổn định kinh tế vĩ mô, quyết định tiền đồ kinh tế của một đất nước
Sự ổn định về chính trị sẽ tạo ra môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi, một nhà nước mạnh, thực thi hữu hiệu các chính sách phát triển KTXH sẽ đem lại lòng tin và tính hấp dẫn cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước
Trong một xã hội ổn định về chính trị, các nhà đầu tư được đảm bảo an toàn về đầu tư, quyền sở hữu tài sản, các nhà đầu tư sẽ sẵn sàng bỏ vốn đầu tư lớn và dài hạn, mức độ yên tâm của các nhà đầu tư được củng cố thông qua sự đánh giá về mức độ rủi ro chính trị (rủi ro chính trị là mức độ mà các biến cố và hoạt động chính trị có khả năng gây ra những tác động tiêu cực đối với môi trường đầu tư, với lợi nhuận dài hạn tiềm tàng của các dự án của các nhà đầu tư)
Trang 31Ngoài ra còn có một số yếu tố rất quan trọng của môi trường chính trị
là xu thế chính trị, đây là định hướng chính trị của nhà nước sẽ áp dụng trong chính sách điều hành quốc tế và các nhà đầu tư
Định hướng chung của nền kinh tế sẽ phản ánh những chính sách kiểm soát và điều hành nền kinh tế quốc gia, những chính sách này sẽ làm cho mức
độ rủi ro tăng hoặc giảm tuỳ theo mức độ nhất quán và mở cửa của chúng, những chính sách này được thể chế hoá thành các đạo luật và chúng có hiệu lực pháp lý đối với các hoạt động kinh doanh
Các nhân tố về chính sách có ý nghĩa rất lớn và ảnh hưởng lớn đến môi trường thu hút đầu tư Chính sách tốt và tạo điều kiện hỗ trợ nhà đầu tư mới thành lập, hoặc hỗ trợ động viên tinh thần hoặc cung cấp hạ tầng kỹ thuật như điện nước, hoặc chính sách về thuế, đào tạo lao động.v.v sẽ làm cho các nhà đầu tư yên tâm
1.1 4.3 Sự phát triển của nền kinh tế
Để đánh giá một nền kinh tế được coi là có phát triển hay không người
ta dựa vào một số chỉ tiêu chính như: Quy mô GDP, tốc độ tăng trưởng hàng năm, cơ cấu kinh tế, các chỉ tiêu về phúc lợi công cộng và chăm sóc con người
Để có thể tạo ra sự phát triển, trước hết, phải có mức tăng trưởng hàng năm thông qua giá trị tổng sản phẩm Sự tăng trưởng này ảnh hưởng đến việc thu hút các nguồn vốn đầu tư ở hai góc độ: Một là, khi GDP tăng, có nghĩa là hiệu quả của vốn đầu tư được nhìn nhận theo chiều hướng tốt Từ đó, các nhà đầu tư có sự tin tưởng đối với các hoạt động kinh tế và tăng cường đầu tư vào Bất kì một nhà đầu tư nào khi bỏ vốn vào một nền kinh tế, dù với mục đích tìm kiếm lợi nhuận hay là các nguồn viện trợ đều mong muốn những đồng vốn ấy được sử dụng với hiệu quả cao nhất
Trang 32Chính vì vậy, nơi họ muốn tìm kiếm và sẵn sàng đầu tư phải là nơi cho
họ thấy được nguồn vốn sẵn có được sử dụng như thế nào Hai là, khi nền kinh tế tăng trưởng nhanh sẽ có mức tiết kiệm cao hơn và từ đó tăng cường vốn đầu tư Ở đây không xét đến việc thu hút thêm các nguồn vốn từ bên ngoài mà là vốn từ bản thân nền kinh tế thông qua tiết kiệm Vì xét theo lý thuyết kinh tế cổ điển cho một nền kinh tế đóng thì:
GDP= C+S; Trong đó: C là mức tiêu dùng; S là mức tiết kiệm
Và xét theo lý thuyết thì: S = I (trong đó I là mức đầu tư của nền kinh tế) Như vậy: GDP = C+ I, hay I = GDP- C
Mức tiêu dùng C của người dân cũng tăng lên khi họ có thu nhập cao hơn, nhưng nó cũng bị giới hạn bởi các quy luật sinh học, và xét theo góc độ nào đó, khi mức tiêu dùng C tăng lên, tức là các sản phẩm trên thị trường bán được nhiều hơn, từ đó khuyến khích các doanh nghiệp và các hoạt động dịch
vụ phát triển
Vấn đề đặt ra ở đây là phải giải quyết tốt mối quan hệ giữa tiết kiệm và tiêu dùng Làm sao để thu hút được nguồn vốn từ tiết kiệm của người dân, biến nó thành vốn đầu tư phát triển kinh tế xã hội
Cơ cấu kinh tế cũng ảnh hưởng đến thu hút các nguồn vốn đầu tư Thường thì nhà đầu tư nào cũng muốn đầu tư vào những ngành nghề, lĩnh vực đem lại lợi nhuận cao, có khả năng thu hồi vốn nhanh và đảm bảo Nếu chia nền kinh tế thành ba ngành chủ yếu: Nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ thì những nơi thu hút nhiều vốn vẫn là công nghiệp và dịch vụ
Chính vì vậy, những nền kinh tế có cơ cấu tỉ lệ công nghiệp và dịch vụ chiếm tỉ lệ cao thì sẽ thu hút được nhiều vốn đầu tư hơn vì ở đây đã tồn tại sẵn những điều kiện cho các ngành này phát triển như: Cơ sở hạ tầng, vùng nguyên liệu, thị trường truyền thống, nguồn lao động Điều này giải thích tại sao phần lớn vốn đầu tư nước ngoài là vốn lưu chuyển giữa các nước phát triển
Trang 33Phát triển kinh tế sẽ tạo điều kiện phát triển cơ sở hạ tầng Cơ sở hạ tầng giống như một nền móng vững chắc cho mọi công cuộc đầu tư, vì muốn sản xuất kinh doanh phải có điện, nước đảm bảo, giao thông thuận tiện, các dịch vụ công cộng phát triển Vì vậy, bất cứ nhà đầu tư nào cũng muốn bỏ vốn vào địa bàn có lợi nhất
1.1.4.4 Ổn định môi trường kinh tế vĩ mô
Sự ổn định môi trường kinh tế vĩ mô ở đây được nhìn nhận thông qua: sự
ổn định về kinh tế xã hội, ổn định về chính trị, môi trường kinh doanh và ổn định trong các chính sách tiền tệ Một quốc gia muốn thu hút vốn đầu tư cho phát triển kinh tế xã hội, trước hết, đó phải là nơi không xảy ra các cuộc chiến tranh, các cuộc nội chiến và khủng bố Đó phải là một quốc gia có các chính sách kinh tế ổn định, không có sự thay đổi liên tục về chính sách pháp luật vì khi đó sẽ ảnh hưởng rất lớn và theo xu hướng tiêu cực đối với các nhà đầu tư
Các chính sách tiền tệ phải làm sao hạn chế được lạm phát và chống giảm phát, ổn định tỉ giá và lãi suất Kinh tế không thể phát triển mà không có lạm phát, song vấn đề là ở chỗ làm sao để kiểm soát được lạm phát, giữ nó ở một tỉ lệ có lợi cho phát triển, tránh mất giá đồng tiền quá lớn
Các nhà đầu tư không thể yên tâm và ổn định sản xuất tại một nước mà giá trị đồng tiền của nước đó liên tục thay đổi, nó ảnh hưởng trực tiếp đến việc xuất nhập khẩu của doanh nghiệp Hơn nữa, giá trị của đồng nội tệ còn ảnh hưởng đến lợi nhuận thực tế mà các nhà đầu tư thu được tại một thị trường xác định
Lãi suất sẽ có ảnh hưởng lớn đến dòng chảy của vốn vào trong nước hay ra ngoài, ở đây cần có một sự tương xứng giữa lãi suất trong nước và thị trường thế giới Vì vậy, lãi suất phải có xu hướng cao hơn thế giới để các nhà đầu tư dồn nhiều vốn vào trong nước hơn Mặt khác, một mức lãi suất cao còn
là điều kiện để bảo toàn nguồn vốn trong nước, tránh thất thoát ra ngoài
Trang 341.1.4.5 Các chính sách khuyến khích đầu tư
Một môi trường đầu tư thông thoáng và thuận tiện luôn là nơi mà các nhà đầu tư muốn tìm đến Vì vậy, các quốc gia đều đã và đang thực hiện các biện pháp nhằm cải tạo môi trường đầu tư của mình, trong đó vai trò của các chính sách khuyến khích đầu tư rất quan trọng, bao gồm những quy định cụ thể về trình tự, thủ tục đầu tư, các biện pháp ưu đãi đối với từng ngành, lĩnh vực và từng vùng cụ thể
Các nhà đầu tư mong muốn các thủ tục nhanh chóng và đơn giản, đồng thời có những ưu đãi về thuế, giá thuê đất, về tạo điều kiện cho sử dụng cơ sở
hạ tầng
Trên đây là những yếu tố có ảnh hưởng lớn đến việc thu hút các nguồn vốn đầu tư vào một nền kinh tế, những ảnh hưởng này được xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau, song nhìn chung nó sẽ có những tác động tích cực tới việc thu hút ngày càng nhiều vốn đầu tư cho phát triển kinh tế xã hội khi các nhân tố này được cân bằng và giữ ở mức độ thích hợp Còn như thế nào là thích hợp thì lại phụ thuộc vào điều kiện và mục tiêu phát triển kinh tế- xã hội của mỗi địa phương
1.2 Thực tiễn về thu hút vốn đầu tư vào phát triển sản xuất kinh doanh
1.2.1.Kinh nghiệm thu hút vốn đầu tư trên thế giới
Các nước có nền kinh tế phát triển và đang phát triển trên thế giới đã có nhiều kinh nghiệm và thành công trong lĩnh vực thu hút và sử dụng vốn đầu tư phát triển, góp phần làm cho nền kinh tế tăng trưởng và phát triển nhanh hơn
Tuy nhiên, kết quả đạt được ở mỗi quốc gia là không giống nhau, vì
nó tuỳ thuộc vào mức độ và cách thức quản lý, sự điều tiết của Nhà nước và đặc điểm tình hình kinh tế xã hội của mỗi nước Chúng ta có thể tham khảo kinh nghiệm của các số nước ASEAN và Trung Quốc trong việc thu hút vốn đầu tư phát triển Sản xuất kinh doanh
Trang 351.2.1.1 Kinh nghiệm thu hút vốn đầu tư cho phát triển Sản xuất kinh doanh của các nước ASEAN
Những năm 50 và những năm đầu của thập niên 60 của thế kỷ XX, các nước ASEAN đều thực hiện chiến lược "phát triển thay thế nhập khẩu" nhằm giảm bớt sự phụ thuộc đối với hàng nhập khẩu từ bên ngoài Các nước này đã tìm cách hạn chế tối đa hàng thành phẩm công nghiệp nhập từ các nước công nghiệp phát triển, tập trung phát triển một số ngành công nghiệp trong nước thay thế hàng nhập khẩu, mở rộng thị trường nội địa và tận dụng tối đa vốn đầu tư trong nước
Các nước này đều chú ý đầu tư xây dựng thêm nhiều ngành và cơ sở công nghiệp quốc doanh Tuy nhiên, hiệu quả kinh tế còn thấp, vì trong điều kiện nền kinh tế "mở", hàng hoá trong nước không thể cạnh tranh được với hàng hoá nước ngoài Kết quả là các nước này vẫn phải tiếp tục nhập khẩu các loại nguyên liệu, kỹ thuật, máy móc, thiết bị từ bên ngoài và nền kinh tế của
họ ngày càng lệ thuộc chặt chẽ hơn vào các nước công nghiệp phát triển
Tình trạng đó đã hạn chế sự phát triển kinh tế, làm cho các nước này (trừ Singapore) không hoà nhập được với nền kinh tế thế giới Đến giữa thập niên 60, kinh tế các nước ASEAN đã đi vào tình trạng bế tắc, lạm phát và giá cả tăng không kiểm soát được, nợ nước ngoài ngày càng nhiều Thị trường trong nước không được mở rộng, nhiều doanh nghiệp trong nước bị phá sản do kinh doanh thua lỗ Tất yếu đã kéo theo sự mất ổn định về chính trị và xã hội
Từ năm 1969, các nước ASEAN đã tìm ra một chiến lược mới: "Phát triển theo hướng xuất khẩu" Sự thay đổi chiến lược này nhằm tận dụng tối đa nguồn vốn và công nghiệp tiên tiến từ bên ngoài vào, việc khai thác mọi tiềm năng của mỗi nước, tập trung phát triển những ngành công nghiệp có thể xuất khẩu được, từng bước cạnh tranh và chiếm lĩnh thị trường thế giới Vì vậy, các ngành công nghiệp khai khoáng và chế biến hướng vào xuất khẩu có điều
Trang 36kiện phát triển nhanh, thúc đẩy quá trình liên kết kinh tế đối ngoại Chiến lược này phù hợp với nhu cầu của các nước đang phát triển cần nhiều vốn và công nghệ hiện đại, còn các nước phát triển lại có nhu cầu đầu tư và chuyển giao công nghệ đến các nước đang phát triển Như vậy, mối quan hệ kinh tế giữa các nước được mở rộng trên nguyên tắc "hai bên cùng có lợi"
Để thực hiện chiến lược này, chính phủ các nước ASEAN đã rút kinh nghiệm trong việc điều chỉnh nền kinh tế, đã xây dựng và hoàn thiện một số
hệ thống điều tiết gồm các luật, chính sách kinh tế, đặc biệt là chính sách thu hút vốn đầu tư từ các nguồn vốn trong và ngoài nước
Nguồn vốn đầu tư trong nước ở các nước này là khá cao, chủ yếu do làm tốt việc khuyến khích tiết kiệm tiêu Chẳng hạn, ở Thái Lan và Inđônêxia tỷ lệ tiết kiệm so với GDP là 22%, Malaixia là 28%, Singapore là 26% Tỷ lệ tiết kiệm đạt được như vậy là do Chính phủ các nước đã có chính sách khuyến khích gửi tiền tiết kiệm, điều chỉnh lãi suất hợp lý Nguyên tắc chung là lãi suất tiết kiệm dương, nghĩa là phải cao hơn mức lạm phát, có như vậy mới khuyến khích các tổ chức và cá nhân gửi tiền tiết kiệm cũng như sử dụng vốn vay có hiệu quả
Tất cả các nước đều khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển,
kể cả các doanh nghiệp vừa và nhỏ Họ cho rằng có như vậy mới sử dụng được mọi nguồn vốn trong dân cư Bởi vậy, trong tổng số vốn đầu tư xây dựng cơ bản thì vốn của tư nhân thường chiếm tỷ trọng lớn Tỷ lệ đó ở Singapore trong năm 1968 là 58,5%, năm 1971 là 74%, năm 1973 là 68,6%, năm 1975 là 92,6%, năm 1980 là 90,9% và năm 1988 là 82,9% [22]
Hình thức huy động vốn khác cũng khá phong phú và linh hoạt Các hình thức cổ phiếu, trái phiếu, thị trường chứng khoán rất phát triển Hoạt động của thị trường chứng khoán đã góp phần quan trọng vào việc huy động vốn, tạo điều kiện cho vốn di chuyển dễ dàng đến những khu vực kinh doanh
có hiệu quả và bổ sung cho hoạt động của hệ thống ngân hàng Nguồn vốn
Trang 37của tư bản nước ngoài được coi là yếu tố cơ bản để phát triển kinh tế các nước ASEAN Nguồn vốn này bao gồm các khoản viện trợ, vốn vay để tự đầu tư và vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài
Các nước ASEAN cho rằng đầu tư trực tiếp có lợi hơn nên đặc biệt khuyến khích hình thức này Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ASEAN tăng mạnh nhất là vào nửa cuối thập niên 70 của thế kỷ XX Đầu tư trực tiếp nước ngoài không chỉ là nguồn bổ sung hết sức cần thiết, mà còn góp phần vào quá trình chuyển giao công nghệ, giúp cho các nhà kinh doanh trong nước có được những kinh nghiệm quý báu về tổ chức quản lý Hình thức này cũng tạo khả năng tập trung vốn nhanh hơn và giải quyết tốt vấn đề thị trường tiêu thụ
Vì vậy các nước ASEAN đều có các chính sách mở cửa rộng rãi để thu hút vốn đầu tư nước ngoài Nội dung cơ bản của các chính sách đó là:
- Khuyến khích tư bản nước ngoài đầu tư bằng cách đề ra các chính sách ưu đãi bảo đảm và tạo điều kiện thuận lợi cho tư bản nước ngoài đầu tư
và nhanh chóng phát huy hiệu quả vốn đầu tư Các nước ASEAN đều đã sớm ban hành luật đầu tư nước ngoài, trong đó bảo đảm không quốc hữu hoá, xác định rõ quyền sở hữu kinh doanh của nhà tư bản nước ngoài
- Nhà nước bảo hiểm đối với tư bản nước ngoài không hạn chế đầu tư vào các ngành then chốt, miễn là đầu tư nhiều vốn dùng nhiều công nhân, có
kỹ thuật hiện đại và quy trình công nghệ mới, dùng nguyên liệu trong nước
- Các đối tượng kinh doanh đó còn được hưởng ưu đãi về tài chính như: miễn thuế, bảo đảm cung cấp nguồn lao động ổn định và rẻ, cho phép tự
do hồi hương vốn và lợi nhuận Riêng ở Singapore và Malaixia thì Nhà nước không hạn chế tỷ lệ cổ phần của nước ngoài trong các ngành sản xuất
- Tạo không khí ổn định chính trị, môi trường kinh doanh thuận lợi cho các hoạt động của các công ty tư bản nước ngoài Thực hiện chế độ nhập
Trang 38cảnh, thậm chí cả việc cư trú dễ dàng đối với các nhà tư bản công nghiệp và chuyên gia kỹ thuật nước ngoài
- Xây dựng trước các cơ sở hạ tầng có sẵn, hệ thống cung cấp điện, nước, nhà ở, bưu điện, kho hàng, giao thông thuận lợi, cho thuê với giá rẻ, nhằm giúp các nhà đầu tư nước ngoài nhanh chóng đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh, rút ngắn được vòng quay của vốn
- Lập ra các khu vực mậu dịch tự do "khu công nghiệp chế biến xuất khẩu" hoặc "khu công nghiệp tự do" để thực hiện toàn bộ các biện pháp nói trên
Việc thực hiện có hiệu quả thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước của các nước ASEAN đã góp phần quan trọng thúc đẩy tốc độ phát triển kinh tế -
Tính từ năm 1979 đến hết tháng 11/1997, Trung Quốc đã thành lập được 302.400 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, với tổng số vốn đầu tư nước ngoài là 593,42 tỷ đô la Mỹ Trong đó vốn thực tế được sử dụng là 216,6 tỷ đô la Mỹ, tỷ lệ vốn được sử dụng là 37,76% Vào thời điểm cuối năm
1996, ở Trung Quốc đã có khoảng 140.000 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đang hoạt động Khoảng 200 trong tổng số 500 tập đoàn kinh doanh lớn nhất thế giới đã đầu tư vào Trung Quốc Từ năm 1993 đến nay, Trung Quốc
Trang 39chỉ đứng thứ hai thế giới, sau Hoa Kỳ xét về khối lượng thu hút FDI Rõ ràng một khối lượng FDI lớn như vậy đã góp phần quan trọng vào việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế và công nghiệp hoá ở Trung Quốc [4, tr 53]
Các chính sách và biện pháp chủ yếu trong thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài của Trung Quốc:
- Mở rộng địa bàn thu hút vốn và tạo môi trường kinh doanh thuận lợi: là một quốc gia rộng lớn, mọi vùng đều thiếu vốn đầu tư, Trung Quốc
không thể cùng một lúc mở cửa mọi miền Các khu vực ven biển nói chung có nhiều thuận lợi hơn về giao thông, cơ sở hạ tầng nên được chọn mở cửa trước, ở các khu vực này các tỉnh Quảng Đông và Phúc Kiều giàu có tiềm năng được chọn là nơi để Trung Quốc thành lập các đặc khu kinh tế Từ các đặc khu này, theo phương châm "đi chậm mà chắc" vừa làm vừa rút kinh nghiệm, Trung Quốc đã mở rộng thành tuyến mở cửa với 14 thành phố mở ven biển, sau đó mở cửa cả khu vực đồng bằng và châu thổ các con sông, tạo thành cục diện mở cửa "toàn phương vị" từ Nam đến Bắc, từ Đông sang Tây
Đồng thời với quá trình mở rộng địa bàn thu hút vốn đầu tư, Trung Quốc đã thực hiện nhiều chính sách tạo dựng môi trường đầu tư thuận lợi Đó
là dùng vốn vay kết hợp huy động các nguồn lực trong nước để xây dựng và cải tạo cơ sở hạ tầng, phát triển các tuyến đường bộ, đường sắt, sân bay, bến cảng Theo số liệu thống kê, một tỷ lệ lớn trong tổng số vốn 734,9 tỷ đô la
Mỹ đầu tư tài sản cố định trong thời kỳ từ 1990 - 1995 ở Trung Quốc được đầu tư vào xây dựng cơ sở hạ tầng Bên cạnh đó, Trung Quốc còn coi trọng việc hoàn thiện các môi trường pháp lý để tiếp nhận FDI [4, tr 76]
- Các chính sách ưu đãi đầu tư: để khuyến khích các nhà đầu tư nước
ngoài tăng cường đầu tư vào Trung Quốc, Chính phủ Trung Quốc đã thực hiện nhiều chính sách ưu đãi, đặc biệt là về thuế Trong thời kỳ đầu mở cửa, các cơ sở mới thành lập với thời gian liên doanh hơn 10 năm được hưởng chế
Trang 40độ miễn thuế thu nhập trong một năm đầu làm ra lãi và được giảm 50% thuế thu nhập trong 2 năm tiếp theo Về sau, thời gian miễn thuế và giảm thuế tăng lên là 2 năm miễn thuế và 3 năm giảm thuế Ở các đặc khu nhập khẩu vật tư được miễn thuế hải quan từ 5% đến 25% Ngoài ra còn có nhiều ưu đãi khác
áp dụng cho các doanh nghiệp có vốn FDI, nhằm khuyến khích các hoạt động: tái đầu tư, kéo dài kỳ hạn kinh doanh hay những ưu đãi về khu vực đầu
tư Để khuyến khích phát triển các ngành nông nghiệp, thông tin, năng lượng hay phát triển sản xuất trong các khu vực miền Trung và miền Tây, Trung Quốc còn đưa ra nhiều chế độ ưu đãi mới, với những quy định cụ thể để đưa vốn FDI vào những ngành và những khu vực này
- Đa dạng hoá các hình thức đầu tư và chủ đầu tư:
+ Về hình thức đầu tư cho đến nay ở Trung Quốc vẫn có 3 hình thức chính, đó là: doanh nghiệp chung vốn kinh doanh, doanh nghiệp hợp tác kinh doanh và doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài Vì sợ tỷ lệ các doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài quá lớn sẽ ảnh hưởng đến các ngành sản xuất trong nước hay chủ quyền lãnh thổ nên đã hạn chế hình thức đầu tư này Tuy nhiên, hiện nay Trung Quốc đang tháo gỡ dần những hạn chế đối với hình thức đầu tư doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài
Bên cạnh các hình thức trên, Trung Quốc còn chủ động khuyến khích các loại hình đầu tư khác thông qua các luồng lưu thông vốn quốc tế như: gây các quỹ đầu tư, quỹ bảo hiểm, các hình thức mua bán chứng khoán, lưu thông vốn có phần những hình thức này gián tiếp làm tăng nguồn vốn đầu tư cho đất nước Trung Quốc
+ Về chủ đầu tư: Từ lâu, Hoa Kiều ở Hồng Kông, Đài Loan và Ma Cao rất muốn đầu tư vào Trung Quốc, một thị trường với những tiềm năng khổng lồ về tài nguyên, về sức mua và nguồn lao động rẻ Bên cạnh đó gần 30 triệu người Hoa ở khu vực Đông Nam Á với tài kinh doanh có vốn lớn, lại