Được hình thành từ ý tưởng giản đơn ban đầu là trả tiền cho các nước đang phát triển để làm giảm phát thải khí CO2 từ ngành rừng, sáng kiến về chương trình REDD được đưa ra tại Hội nghi
Trang 1HÀ THỊ KIM LƯƠNG
NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG THAM GIA CỦA NGƯỜI DÂN VÀO VIỆC THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH REDD VÀ REDD +
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN SA PA, TỈNH LÀO CAI
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
Hà Nội, 2012
Trang 2HÀ THỊ KIM LƯƠNG
NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG THAM GIA CỦA NGƯỜI DÂN VÀO VIỆC THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH REDD VÀ REDD +
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN SA PA, TỈNH LÀO CAI
Chuyên ngành: KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
M· sè: 60.62.01.15
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS LÊ MINH CHÍNH
Hà Nội, 2012
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và kết quả nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu trích dẫn trong quá trình nghiên cứu đều được chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả
Hà Thị Kim Lương
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận án tốt nghiệp với đề tài “Nghiên cứu khả năng tham gia của người dân vào việc thực hiện chương trình REDD và REDD+ trên địa bàn huyện Sa Pa, Tỉnh Lào Cai” ngoài sự cố gắng của bản thân, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của tập thể các thầy, cô giáo trong trường, những nhận xét, đóng góp tích cực cũng như động viên của gia đình và bạn bè
Trước tiên tôi xin chân thành cảm ơn Trường Đại học Lâm Nghiệp, khoa Sau đại học cùng các thầy cô khoa Kinh tế và Quản trị kinh doanh, đặc biệt trân trọng cảm ơn thầy giáo TS Lê Minh Chính đã hướng dẫn, giúp đỡ tận tình để tôi hoàn thành bản luận án này
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các cơ quan: Phòng Kinh tế, Phòng Tài nguyên môi trường, Hạt kiểm lâm huyện, Ban Quản lý rừng phòng hộ, UBND và các hộ gia đình ở các xã Tả Phìn, Thanh Phú, Bản Khoang đã cung cấp thông tin và tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài
Mặc dù tác giả đã rất cố gắng để hoàn thành đề tài nhưng không tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong nhận được những nhận xét, đánh giá và đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo để đề tài được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn !
Ngày tháng 11 năm 2012
Tác giả
Hà Thị Kim Lương
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục từ viết tắt vi
Danh mục các bảng viii
Danh mục các hình viii
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 5
1.1 Cơ sở lý luận về REDD và REDD+ 5
1.1.1 Biến đổi khí hậu 5
1.1.2 Rừng và vai trò của rừng trong công cuộc đáp ứng với biến đổi khí hậu 10
1.1.3 Thế giới ứng phó với biến đổi khí hậu 13
1.1.4 Hệ thống luật pháp, chính sách của Việt Nam nhằm bảo vệ rừng, chống biến đổi khí hậu 15
1.2 Những vấn đề cơ bản về chương trình REDD+ 19
1.2.1 Một số khái niệm liên quan 20
1.2.2 Nguyên tắc hoạt động 20
1.2.3 Cơ chế tài chính và cách thức chi trả 21
1.2.4 Yêu cầu kỹ thuật khi tham gia thực hiện chương trình REDD+ 22
1.3 Bối cảnh thực hiện REDD, REDD+ trên thế giới và ở Việt Nam 24
1.3.1 Trên thế giới 24
1.3.2 Bối cảnh thực hiện REDD và REDD+ ở Việt Nam 26
Trang 6Chương 2 ĐẶC ĐIỂM CỦA ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG
PHÁP NGHIÊN CỨU 32
2.1 Đặc điểm cơ bản của địa bàn nghiên cứu 32
2.1.1 Các đặc điểm tự nhiên 32
2.1.2 Tình hình dân sinh, kinh tế - xã hội 35
2.2 Phương pháp nghiên cứu 37
2.2.1 Phương pháp chọn địa điểm nghiên cứu, khảo sát 37
2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu 39
2.2.3 Phương pháp xử lý số liệu 41
2.2.4 Hệ thống chỉ tiêu sử dụng trong nghiên cứu đề tài 43
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 44
3.1 Thực trạng tài nguyên rừng, công tác quản lý, bảo vệ rừng tại Sa Pa trong những năm gần đây 44
3.1.1 Hiện trạng đất đai, tài nguyên rừng 44
3.1.2 Hệ động, thực vật rừng 45
3.1.3 Mức độ tăng, giảm tài nguyên rừng 46
3.1.4 Công tác quản lý, bảo vệ rừng 47
3.1.5 Tình hình thực hiện giao đất, giao rừng 49
3.2 Dự kiến các nội dung chủ yếu triển khai chương trình REDD và REDD+ trên địa bàn huyện 51
3.2.1 Mục đính, yêu cầu 51
3.2.2 Các nội dung triển khai chủ yếu 52
3.3 Kết quả điều tra 56
3.3.1 Khả năng tham gia chương trình REDD và REDD+ của người dân 56
3.3.3 Đánh giá các nhân tố ảnh hưởng tới khả năng tham gia chương trình REDD+ của người dân 62
Trang 73.3 Đánh giá thuận lợi và khó khăn trong việc triển khai chương trình
REDD và REDD+ trên địa bàn huyện 71
3.3.1 Đánh giá thuận lợi khi triển khai REDD+ tại địa phương 71
3.3.2 Khó khăn và thách thức 73
3.4 Gợi ý về chính sách 76
3.4.1 Đối với địa phương 76
3.4.2 Với các cấp ngành chỉ đạo, xây dựng, hoàn thiện chương trình 78
KẾT LUẬN 81 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BĐKH Biến đổi khí hậu
COP Conferences of the Parties: Hội nghị thượng đỉnh các nước
thành viên (thuộc hiệp định khung về BĐKH) CDM Clean Development Mechanism: Cơ chế phát triển sạch
CER Certified Emission Reduction: Tín chỉ giảm phát thải carbon CERDA Centrer of research & development in upland areas : Trung tâm
nghiên cứu và phát triển vùng cao
FAO Food and Agriculture Organization: Tổ chức lương thực và
nông nghiệp của Liên hợp Quốc FCPF Forest Carbon Partnership Facility: Quỹ đối tác carbon trong
lâm nghiệp GHGs Greenhouse Gases: Khí nhà kính
IPCC Intergovernmental Panel on Climate Change: Ủy ban liên chính
phủ về biến đổi khí hậu IUCN The International Union for Conservation of Nature: Liên minh
bảo tồn thiên nhiên thế giới MRV Monitoring-Report-Vertification: Hệ thống theo dõi, báo cáo,
kiểm chứng PES Payment for Environmental Service: Chi trả dịch vụ môi trường REDD Reducing Emissions from Deforestation and Degradation: Giảm
Trang 9phát thải khí nhà kính từ mất rừng và suy thoái rừng ở các nước đang phát triển
RECOFTC The Center for People and Forests: Trung tâm vì Con người và
Rừng REL Reference Emissions Level: Mức giảm phát thải tham chiếu UNEP United Nations Environment Programme: Chương trình môi
trường Liên hợp quốc UNFCCC The United Nations Framework Convention on Climate
Change: Hiệp định khung về biến đổi khí hậu của Liên hiệp quốc
WMO World Meteorological Organization: Tổ chức khí tượng thế giới
Trang 10DANH MU ̣C CÁC BẢNG
3.1 Khả năng tham gia chương trình của người dân 56 3.2 Khả năng tham gia theo độ tuổi của mẫu điều tra 57 3.3 Khả năng tham gia theo đặc điểm trình độ văn hóa 58 3.4 Khả năng tham gia theo đặc điểm giới tính 59 3.5 Khả năng tham gia theo đặc điểm cơ cấu dân tộc 59
3.7 Đóng góp của rừng vào thu nhập hộ điều tra 61
3.11 Kiểm định các hệ số hồi quy của mô hình 67 3.12 Mô phỏng thay đổi xác suất tham gia chương trình REDD+ 69
DANH MỤC CÁC HÌNH
1.1 Nhiệt độ trung bình bề mặt toàn cầu 1860 - 2000 8
Trang 11ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, biến đổi khí hậu đang được coi là mối đe dọa môi trường nghiêm trọng nhất mà hành tinh của chúng ta đang phải đối mặt Báo cáo đánh giá thứ tư của Ủy ban liên Chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC) công
bố năm 2007 kết luận rằng: Sự nóng lên của khí hậu trái đất hiện nay là một thực tế và sẽ tiếp tục diễn ra Nguyên nhân của vấn đề này là do sự gia tăng nhanh chóng nồng độ khí nhà kính (GHGs) trong khí quyển Sự phát thải khí nhà kính chủ yếu bắt nguồn từ các hoạt động của con người, đặc biệt là từ nửa cuối thế kỷ 20 cho đến nay
Những tác động có thể xảy ra đối với sức khỏe, kinh tế cũng như môi trường sống của chúng ta khiến chúng ta phải hành động Để chống lại sự biến đổi khí hậu mà tác động của nó đến loài người và các hệ sinh thái trên trái đất thậm chí còn chưa lường hết được, tại Hội nghị thượng đỉnh Trái đất ở RiodeJaneiro cộng đồng quốc tế đã thoả thuận và ban hành Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu (1992) Công ước này sau đó được cụ thể hóa bằng Nghị định thư Kyôtô (1997) nhằm ràng buộc nghĩa vụ chống biến đổi khí hậu bằng việc đưa ra định mức giảm phát thải khí nhà kính ở các nước công nghiệp phát triển Bên cạnh đó, việc tăng cường trồng rừng tại các khu đất trống ở vùng nhiệt đới được biết đến như là một biện pháp hiệu quả
để giảm khí CO2, một trong những khí nhà kính chính trong khí quyển (Dyson, 1977) [25] Tuy nhiên, thực tế thì tài nguyên rừng trên thế giới đang ngày càng suy giảm nghiêm trọng cả về diện tích và chất lượng rừng Riêng ở các nước đang phát triển, hàng năm lượng khí thải từ phá rừng và suy thoái rừng chiếm khoảng 20% so với tổng lượng phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính trên toàn cầu Trong hoàn cảnh đó, một cơ chế tài chính thích hợp là điều cần thiết để khuyến khích quản lý rừng bền vững tại các nước đang phát triển
Trang 12Được hình thành từ ý tưởng giản đơn ban đầu là trả tiền cho các nước đang phát triển để làm giảm phát thải khí CO2 từ ngành rừng, sáng kiến về chương trình REDD được đưa ra tại Hội nghi ̣ các nước thành viên lần thứ 11 (COP11) của Công ước khung Liên hợp quốc về Biến đổi khí hâ ̣u (UNFCCC)
tổ chức tại thành phố Montreal, Canada năm 2005 REDD là tên viết tắt của cụm từ tiếng Anh "Reducing Emission from Deforestation and Forest Degradation in Developing Countries" nghĩa là “ Giảm phát thải khí nhà kính thông qua các nỗ lực ha ̣n chế mất rừng và suy thoái rừng ở các nước đang phát triển” Tại các cuộc hội đàm quốc tế gần đây, các nước đã bổ sung thêm
3 nội dung cho REDD và được gọi là REDD+ (gồm bảo tồn, tăng đa dạng sinh học; Tăng cường dự trữ Carbon từ rừng; Quản lý rừng bền vững) Như vậy, ngăn chặn mất rừng, suy thoái rừng là mô ̣t trong những biê ̣n pháp hữu hiê ̣u của Liên hiệp quốc nhằ m bảo vê ̣ trái đất khỏi hiểm họa do biến đổi khí hâ ̣u
Là một nước có bờ biển dài và địa hình dốc, Việt Nam sẽ là một trong những quốc gia trên thế giới chịu tác động xấu nhất của quá trình biến đổi khí hậu Theo thống kê chính thức, Việt Nam đã mất khoảng 6,3 triệu ha rừng từ năm 1943 đến năm 1995 Kể từ đó, Việt Nam duy trì xu hướng phát triển tất
cả các kiểu rừng vào khoảng 2% mỗi năm Tuy nhiên, ngay cả khi tỷ lệ rừng che phủ đã tăng, chất lượng rừng vẫn không ngừng suy thoái Trong khi đó, những khu rừng có diện tích giảm rõ rệt và bị suy thoái nghiêm trọng lại là những khu rừng chứa nhiều carbon nhất
Để thử nghiệm và thể chế hoá thực hiện REDD, Việt Nam đã được Chương trình REDD của Liên hợp quốc (UN-REDD) lựa chọn và hỗ trợ xây dựng và thực hiện thí điểm chiến lược quốc gia về REDD từ năm 2009 Với mục tiêu chính là phòng chống biến đổi khí hậu, chương trình còn gián tiếp hỗ trợ mục tiêu xóa đói giảm nghèo và phát triển kinh tế xã hội nhờ tăng thu nhập cho người dân tham gia quản lý bảo vệ rừng Mặc dù tất cả các ý tưởng
Trang 13đơn giản đó khi biến thành hành động thì trở nên phức tạp hơn rất nhiều Xong với kỳ vọng để cộng đồng sống trong rừng và gần rừng nỗ lực tham gia giảm mất rừng và suy thoái rừng, Việt Nam coi REDD là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của Chương trình mục tiêu quốc gia về ứng phó với biến đổi khí hậu
Sa Pa là một huyện miền núi phía Bắc, thuộc tỉnh Lào Cai, một địa danh du lịch nổi tiếng của cả nước Khí hậu và cảnh quan môi trường nơi đây
có vai trò rất quan trọng, không những góp phần tạo ra môi trường sống trong lành mà còn tạo điều kiện phát triển du lịch, đảm bảo cho phát triển kinh tế -
xã hội bền vững Tuy nhiên, trong những năm trở lại đây, bên cạnh việc tài nguyên rừng ngày càng suy giảm khí hậu Sa Pa cũng có những thay đổi bất thường Cùng với chương trình mục tiêu quốc gia về ứng phó với biến đổi khí hậu, cùng với lòng nhiệt huyết và quyết tâm giảm khí thải qua REED và REDD+ nhưng vẫn còn đó những quan ngại, băn khoăn về tính khả thi của
chương trình, tôi đã lựa chọn đề tài: "Nghiên cứu khả năng tham gia của người dân vào việc thực hiện chương trình REDD và REDD + trên địa bàn huyện Sa Pa, Tỉnh Lào Cai"
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Mục tiêu tổng quát
Nghiên cứu khả năng tham gia của người dân vào chương trình REDD
và REDD+ trên địa bàn huyện Sa Pa, Tỉnh Lào Cai nhằm góp phần thúc đấy việc triển khai thực hiện chương trình
- Mục tiêu cụ thể
Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về REDD và REDD+
Dự kiến được nội dung chủ yếu triển khai chương trình REDD và REDD+ trên địa bàn huyện
Trang 14 Làm rõ được khả năng tham gia của người dân vào việc thực hiện chương trình REDD và REDD+
Đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy việc triển khai thực hiện chương trình
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài
+ Khả năng tham gia của người dân đối với người chương trình REDD
+ Phạm vi về không gian: Đề tài tiến hành nghiên cứu một số xã trên địa bàn huyện Sa Pa
+ Phạm vi về thời gian: Đề tài tập trung thu thập và nghiên cứu số liệu thứ cấp thời kỳ 2009 - 2011; số liệu sơ cấp thu thập qua điều tra các hộ gia đình năm 2012
4 Nội dung nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu khả năng tham gia của người dân đối với chương trình REDD và REDD trên địa bàn huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai
Trang 15Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Cơ sở lý luận về REDD và REDD +
1.1.1 Biến đổi khí hậu
1.1.1.1 Khái niệm và biểu hiện
* Các biểu hiện của biến đổi khí hậu
- Sự nóng lên của khí quyển và Trái đất nói chung
- Sự thay đổi thành phần và chất lượng khí quyển có hại cho môi trường sống của con người và các sinh vật trên Trái đất
- Sự dâng cao mực nước biển do băng tan, dẫn tới sự ngập úng ở các vùng đất thấp, các đảo nhỏ trên biển
- Sự di chuyển của các đới khí hậu tồn tại hàng nghìn năm trên các vùng khác nhau của Trái đất dẫn tới nguy cơ đe dọa sự sống của các loài sinh vật, các hệ sinh thái và hoạt động của con người
- Sự thay đổi cường độ hoạt động của quá trình hoàn lưu khí quyển, chu trình tuần hoàn nước trong tự nhiên và các chu trình sinh địa hoá khác
- Sự thay đổi năng suất sinh học của các hệ sinh thái, chất lượng và thành phần của thuỷ quyển, sinh quyển, các địa quyển [12]
Trang 161.1.1.2 Nguyên nhân của biến đổi khí hậu
Nguyên nhân của sự biến đổi khí hậu hiện nay, tiêu biểu là sự nóng lên toàn cầu đã được khẳng định là do hoạt động của con người (theo "Các lý thuyết về sự hâm nóng toàn cầu phát sinh từ cuối thế kỷ XIX" do những nhà khoa học Thụy Điển nghiên cứu) Kể từ thời kỳ tiền công nghiệp (khoảng từ năm 1750), con người đã sử dụng ngày càng nhiều năng lượng, chủ yếu từ các nguồn nhiên liệu hóa thạch (than, dầu, khí đốt), qua đó đã thải vào khí quyển ngày càng tăng các chất khí gây hiệu ứng nhà kính, làm tăng hiệu ứng nhà kính của khí quyển, dẫn đến tăng nhiệt độ của trái đất
* Hiệu ứng nhà kính được hiểu như sau
Trong thành phần của khí quyển trái đất, khí nitơ chiếm tới 78% khối lượng khí quyển, khí oxy chiếm 21%, còn lại khoảng 1% là các khí khác (acgon, đioxit cacbon, mêtan, ôxit nitơ, nêôn, hêli, hyđro, ôzôn v.v ) và hơi nước Tuy chỉ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ, các khí này có vai trò rất quan trọng đối với sự sống trên trái đất Trước hết, các chất khí nói trên có khả năng hấp thụ bức xạ hồng ngoại do mặt đất phát ra, sau đó, một phần lượng bức xạ này lại được các chất khí đó phát xạ trở lại mặt đất, qua đó hạn chế lượng bức xạ hồng ngoại của mặt đất thoát ra ngoài khoảng không vũ trụ và giữ cho mặt đất khỏi bị lạnh đi quá nhiều, nhất là về ban đêm khi không có bức xạ mặt trời chiếu tới mặt đất
Các chất khí nói trên đã tồn tại từ lâu trong khí quyển và được gọi là các khí nhà kính tự nhiên Nếu không có các chất khí nhà kính tự nhiên, trái đất của chúng ta sẽ lạnh hơn hiện nay khoảng 33 0C, tức là nhiệt độ trung bình
bề mặt trái đất sẽ khoảng -18 0C
Hiệu ứng giữ cho bề mặt trái đất ấm hơn so với trường hợp không có các khí nhà kính được gọi là "hiệu ứng nhà kính"
Trang 17Các cuộc nghiên cứu ở phòng thí nghiệm Mauna Loa Observatory (Hawai) năm 1958 đặt ở độ cao 3.345m đã chứng minh được khí CO2 là nguyên nhân chính yếu của sự gia tăng nhiệt độ (chiếm 50%-60% các khí gây hiệu ứng nhà kính) Kể từ thời kỳ tiền công nghiệp về trước, ít nhất khoảng 10 nghìn năm, nồng độ các khí nhà kính rất ít thay đổi, trong đó khí CO2 chưa bao giờ vượt quá 300ppm (phần triệu) Chỉ riêng lượng phát thải khí CO2 do
sử dụng nhiên liệu hóa thạch đã tăng hàng năm trung bình từ 6,4 tỷ tấn carbon (~ 23,5 tỷ tấn CO2) trong những năm 1990 lên đến 7,2 tỷ tấn carbon (~ 45,9 tỷ tấn CO2) mỗi năm trong thời kỳ 2000 - 2005 Như vậy, sự tăng lên của hàm lượng khí nhà kính từ thời kỳ tiền công nghiệp đến nay làm tăng hiệu ứng nhà kính trong khí quyển dẫn đến sự tăng lên của nhiệt độ trung bình toàn cầu và kéo
theo những hậu quả khác được khẳng định là do các hoạt động của con người 1.1.1.3 Thực trạng biến đổi khí hậu toàn cầu
Báo cáo đánh giá lần thứ 4 của Ủy Ban Liên Chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC) công bố năm 2007 nhận định rằng:
Sự nóng lên của hệ thống khí hậu trái đất hiện nay là chưa từng có và rất rõ ràng từ những quan trắc về sự tăng lên của nhiệt độ không khí và đại dương trung bình toàn cầu, sự tan chảy của băng và tuyết trên phạm vi rộng lớn và sự dâng lên của mực nước biển trung bình toàn cầu
Xu thế tăng nhiệt độ trong chuỗi số liệu 100 năm (1906 - 2005) là 0,740C, lớn hơn xu thế tăng nhiệt độ 100 năm thời kỳ 1901 - 2000, trong đó riêng ở Bắc cực nhiệt độ đã tăng 1,50C, gấp đôi tỷ lệ tăng trung bình toàn cầu
Xu thế tăng nhiệt độ trong 50 năm gần đây là 0,130C/thập kỷ, gấp gần 2 lần xu thế tăng nhiệt độ của 100 năm qua Nhiệt độ tăng tổng cộng từ 1850 -
1899 đến 2001 - 2005 là 0,760C (0,58 - 0,950C)
Trang 18Khoảng 12 năm gần đây (1995 - 2006) nằm trong số 12 năm nóng nhất trong chuỗi số liệu quan trắc bằng máy kể từ 1850 Nhiệt độ trung bình bề mặt toàn cầu từ năm 1860 đến năm 2000 như sau:
Hình 1.1 Nhiệt độ trung bình bề mặt toàn cầu 1860 - 2000
- Mực nước biển trung bình toàn cầu đã tăng với tỷ lệ trung bình 1,8mm/năm trong thời kỳ 1961 - 2003 và với tỷ lệ 3,1mm/năm trong thời kỳ
10 năm 1993 - 2003 Tổng cộng, mực nước biển dâng quan trắc được là
0,31m (± 0,07)/100 năm gần đây
- Diện tích băng biển trung bình năm ở Bắc cực đã thu hẹp với tỷ lệ trung bình 2,7%/1 thập kỷ Riêng trong mùa hè là 7,4%/1 thập kỷ Diện tích cực đại của lớp phủ băng theo mùa ở bán cầu Bắc đã giảm 7% kể từ 1990, riêng trong mùa xuân giảm tới 15%
- Ở Bắc cực, khối băng có độ dày khoảng 3km đang mỏng dần và đã mỏng đi 66cm Ở Nam cực, băng cũng đang tan với tốc độ chậm hơn và những núi băng ở Tây Nam cực đổ sụp Ở Greenland, những lớp băng vĩnh cửu tan chảy Ở Alaska (Bắc Mỹ), nhiệt độ trung bình những năm gần đây đã tăng 1,5
Trang 190C so với trung bình nhiều năm, làm tan băng và diện tích lớp băng vĩnh cửu giảm 40%, lớp băng hàng năm thường dày 1,2m nay chỉ còn 0,3m
1.1.1.4 Thực trạng biến đổi khí hậu ở Việt Nam
Theo số liệu quan trắc, biến đổi của các yếu tố khí hậu ở Việt Nam có những điểm đáng lưu ý sau :
- Nhiệt độ: Trong khoảng 50 năm qua (1951 - 2000), nhiệt độ trung bình năm ở Việt Nam đã tăng lên 0,70C Nhiệt độ trung bình năm của 4 thập
kỷ gần đây (1961 - 2000) cao hơn trung bình năm của 3 thập kỷ trước đó (1931- 1960) Nhiệt độ trung bình năm của thập kỷ 1991 - 2000 ở Hà Nội, Đà Nẵng, thành phố Hồ Chí Minh đều cao hơn trung bình của thập kỷ 1931 -
1940 lần lượt là 0,8; 0,4 và 0,60C Năm 2007, nhiệt độ trung bình năm ở cả 3 nơi trên đều cao hơn trung bình của thập kỷ 1931 - 1940 là 0,8 - 1,30C và cao hơn thập kỷ 1991 - 2000: 0,4 - 0,50C
- Lượng mưa: Trên từng địa điểm, xu thế biến đổi của lượng mưa trung bình năm trong 9 thập kỷ vừa qua (1911- 2000) không rõ rệt theo các thời kỳ
và trên các vùng khác nhau: có giai đoạn tăng lên và có giai đoạn giảm xuống
- Mực nước biển: Theo số liệu quan trắc trong khoảng 50 năm qua ở các trạm Cửa Ông và Hòn Dấu, mực nước biển trung bình đã tăng lên khoảng
20 cm, phù hợp với xu thế chung của toàn cầu
- Số đợt không khí lạnh ảnh hưởng tới Việt Nam giảm đi rõ rệt trong hai thập kỷ gần đây (cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI) Năm 1994 và năm
2007 chỉ có 15-16 đợt không khí lạnh bằng 56% trung bình nhiều năm 6/7 trường hợp có số đợt không khí lạnh trong mỗi tháng mùa đông (XI - III) thấp
dị thường (0-1 đợt) cũng rơi vào 2 thập kỷ gần đây (3/1990, 1/1993, 2/1994, 12/1994, 2/1997, 11/1997) Một biểu hiện dị thường gần đây nhất về khí hậu trong bối cảnh BĐKH toàn cầu là đợt không khí lạnh gây rét đậm, rét hại kéo
Trang 20dài 38 ngày trong tháng 1 và tháng 2 năm 2008 gây thiệt hại lớn cho sản xuất nông nghiệp
- Bão: Vào những năm gần đây, số cơn bão có cường độ mạnh nhiều hơn, quỹ đạo bão dịch chuyển dần về các vĩ độ phía Nam và mùa bão kết thúc muộn hơn, nhiều cơn bão có quỹ đạo di chuyển dị thường hơn
- Số ngày mưa phùn trung bình năm ở Hà Nội giảm dần trong thập kỷ
1981 - 1990 và chỉ còn gần một nửa (15 ngày/năm) trong 10 năm gần đây[5]
1.1.2 Rừng và vai trò của rừng trong công cuộc đáp ứng với biến đổi khí hậu
1.1.2.1 Vai trò của rừng trong công cuộc đáp ứng với biến đổi khí hậu
Rừng là một hệ sinh thái bao gồm quần thể thực vật rừng, động vật rừng, vi sinh vật rừng, đất rừng và các yếu tố môi trường khác, trong đó cây gỗ, tre nứa hoặc hệ thực vật đặc trưng là thành phần chính có độ che phủ của tán rừng từ 0,1 trở lên Rừng gồm rừng trồng và rừng tự nhiên trên đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng [4]
Quản lý tốt tài nguyên rừng có vai trò quan trọng trong việc đối phó với tình trạng biến đổi khí hậu Biến đổi khí hậu và những cánh rừng thực chất có mối liên quan mật thiết với nhau Những thay đổi khí hậu toàn cầu đang gây ảnh hưởng đến các khu rừng, do nhiệt độ hàng năm của trái đất tăng cao hơn
đã làm thay đổi mô hình lượng mưa và các hiện tượng thời tiết khắc nghiệt xảy ra với tần suất nhiều hơn Tuy nhiên, những cánh rừng, trực tiếp là cây xanh giúp thu giữ carbon và biến đổi chúng nhờ quá trình quang hợp, giữ vai trò chủ yếu trong việc giảm khí nhà kính, từ đó giảm nhẹ biến đổi khí hậu Và ngược lại, khi rừng bị phá huỷ hoặc bị khai thác quá mức, bị đốt cháy, chúng
sẽ trở thành nguồn phát thải khí nhà kính
Ngày nay, theo quan sát của các nhà khoa học đã cho thấy trong hệ sinh thái rừng có 5 loại bể chứa Carbon là: sinh khối trên mặt đất (cây trồng và các thảm thực vật khác); sinh khối dưới mặt đất (thảm mục, thảm tươi); rác; gỗ
Trang 21chết và Carbon hữu cơ trong đất, trong rễ cây Các thảm thực vật đã thu giữ một trữ lượng CO2 lớn hơn một nửa khối lượng chất khí đó sinh ra từ sự đốt cháy các nhiên liệu hóa thạch trên thế giới Và từ nguyên liệu Carbon này hằng năm thảm thực vật trên trái đất đã tạo ra được 150 tỷ tấn vật chất khô thực vật Khám phá này càng khẳng định thêm vai trò hệ sinh thái rừng trong việc làm giảm lượng CO2 trong khí quyển [14]
1.1.2.2 Vai trò của các kiểu rừng
Theo Gifford và cộng sự [15], trong chu trình Carbon toàn cầu, lượng Carbon lưu trữ trong thực vật thân gỗ và trong lòng đất khoảng 2,5 Tỷ tấn; trong khi đó khí quyển chỉ chứa 0,8 tỷ tấn và hầu hết lượng Carbon trên trái đất được tích lũy trong sinh khối cây rừng, đặc biệt là rừng mưa nhiệt đới Từ
những nghiên cứu trong lĩnh vực này, Woodwell và Pecan [16] đã đưa ra kết
luận lượng Carbon được lưu giữ trong kiểu rừng mưa nhiệt đới là cao nhất, chiếm hơn 62% tổng lượng Carbon trên bề mặt trái đất, trong khi đó đất trồng trọt chỉ chứa khoảng 1% Điều đó chứng tỏ rằng việc chuyển đổi từ đất rừng sang đất nông nghiệp sẽ làm mất cân bằng sinh thái, gia tăng lượng khí phát thải gây hiệu ứng nhà kính Vì vậy, cần có những giải pháp hữu hiệu để bảo
vệ rừng tự nhiên nói chung, rừng nhiệt đới nói riêng và những chương trình khuyến khích nông dân sử dụng đất theo hướng nông lâm kết hợp
1.1.2.3 Thực trạng suy giảm tài nguyên rừng trên thế giới và ở Việt Nam
Suy thoái rừng là sự thay đổi mang tính tiêu cực ảnh hưởng đến cấu trúc hoặc chức năng của khu rừng, từ đó làm suy giảm khả năng cung cấp các sản phẩm hoặc dịch vụ rừng Trong phạm vi mối quan hệ với biến đổi khí hậu, suy thoái rừng được hiểu là kết quả của sự mất trữ lượng các-bon từ hệ sinh thái
Trang 22* Suy giảm tài nguyên rừng trên thế giới
Theo số liệu của Tổ chức Nông lương thế giới (FAO): tổng diện tích rừng trên thế giới hiện nay khoảng 4 tỉ ha, chiếm gần 30% diện tích đất toàn cầu Hàng năm trên toàn thế giới bị mất đi khoảng 13 triệu ha rừng (trong đó
có khoảng 0,4% là rừng nguyên sinh) và con số này vẫn chưa có dấu hiệu giảm, đặc biệt là trong những năm gần đây những vụ cháy rừng có qui mô lớn
đã xảy ra ngày càng nhiều hơn trước
Từ đó, tổ chức này đã cảnh báo: nạn phá rừng lấy đất sản xuất, làm nhà
ở, nhất là nạn khai thác rừng lấy gỗ một cách bừa bãi và hiểm họa cháy rừng hiện làm cho trái đất ngày càng bị sa mạc hóa, nhiều động thực vật quý hiếm
đã và đang bị diệt chủng Các chuyên gia khí tượng trên thế giới cũng cho biết, nhiệt độ trung bình trên thế giới từ đầu năm 2007 đã cao hơn mức nhiệt
độ trung bình của thế kỷ XX là khoảng 0,720C, gây ra hạn hán kéo dài, mưa lớn, bão tuyết, lũ lụt và sụt lở đất … diễn ra trong những năm trở lại đây thường xuyên hơn Phá rừng cũng là một trong những nguyên nhân chính làm cho lượng CO2 tăng lên - Đây là một trong những nguyên nhân làm biến đổi khí hậu trái đất [20]
* Suy giảm tài nguyên rừng ở Việt Nam
Diện tích rừng Việt Nam đã trải qua nhiều thay đổi quan trọng trong một vài thập kỷ gần đây
Năm 1943, diện tích rừng Việt Nam ước tính có khoảng 14,3 triệu ha (Maurand, 1943), với tỷ lệ che phủ là 43,8%; trên mức an toàn sinh thái là 33% Năm 1976 giảm xuống còn 11 triệu ha với tỷ lệ che phủ còn 34% Năm
1985 còn 9,3 triệu ha và tỷ lệ che phủ là 30% Năm 1995 còn 8 triệu ha và tỷ
lệ che phủ là 28% Năm 1999 cả nước có 10,88 triệu ha rừng và độ che phủ là 33% (Jyrki và cộng sự, 1999) Diện tích rừng bình quân cho 1 người là 0,13
ha (1995), thấp hơn mức trung bình ở Đông Nam Á (0,42%) [18]
Trang 23Trong giai đoạn 2000-2005, độ che phủ rừng tăng bình quân 2,1%/năm Năm 2008 độ che phủ rừng toàn quốc tăng lên 38,2% tương đương với diện tích rừng tăng lên 2.568.000 ha Đến năm 2011, Việt Nam có 13.515.064 ha rừng, trong đó rừng đặc dụng là 2.011.261ha (chiếm 15%), rừng phòng hộ 4.644.404 ha (chiếm 37%), rừng sản xuất 6.677.105 ha (chiếm 47%), còn lại là ngoài quy hoạch rừng và đất lâm nghiệp: 182.294 ha (chiếm 1%) Trong số đó
có 76% là rừng tự nhiên, 24% rừng trồng, độ che phủ rừng toàn quốc đạt 39,7% [3]
Việt Nam là một trong số ít quốc gia Châu Á có mức tịnh tiến diện tích rừng, do đó Việt Nam được đánh giá là đang ở giai đoạn thứ tư trong đường cong diễn biến rừng, tức là diện tích rừng đang tăng Song số liệu cho thấy phần lớn diện tích là rừng trồng thuần loài, còn rừng tự nhiên còn lại thì trong tình trạng là rừng nghèo hoặc đang trong quá trình tái sinh Hơn thế nữa, xu thế chủ đạo vẫn là phương thức phát triển và quản lý rừng manh mún và do vậy ngày càng có nhiều diện tích rừng bị suy thoái [21]
1.1.3 Thế giới ứng phó với biến đổi khí hậu
Từ những năm 1980, chính phủ nhiều nước đã bắt đầu hành động chống lại hiện tượng nóng lên toàn cầu Năm 1988, Chương trình Môi trường Liên hợp quốc (UNEP) và Tổ chức khí tượng thế giới (WMO) đã thành lập
Uỷ ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC) nhằm cung cấp cho các nhà hoạch định chính sách những thông tin khoa học tin cậy có liên quan
Năm 1990, IPCC xuất bản một báo cáo khẳng định rằng sự biến đổi khí hậu là một mối đe dọa đối với toàn nhân loại và kêu gọi một hiệp ước quốc tế Đại hội đồng liên hợp quốc đáp ứng lời kêu gọi này bằng việc chính thức phát động đàm phán công ước khung về sự biến đổi khí hậu Kết quả là tháng 6/1992 Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu (UNFCCC)
đã ra đời
Trang 24UNFCCC được ký kết tại Hội nghị Phát triển và Môi trường Liên hợp
quốc (Hội nghị thượng đỉnh Trái đất) tại Rio de Janeiro, Brazil và có hiệu lực
từ tháng 3/1994 Mục tiêu cuối cùng của Công ước là ổn định nồng độ các khí nhà kính trong khí quyển ở mức an toàn Để đạt được mục tiêu này, tất cả các nước tham gia phải có cam kết chung về các hành động chống lại sự biến đổi khí hậu, điều chỉnh theo điều kiện của từng quốc gia nhằm triển khai thực hiện Công ước Công ước chia các nước tham gia theo 2 nhóm: Các bên Phụ lục I và Các bên ngoài Phụ lục I Các bên Phụ lục I bao gồm các nước công nghiệp, những nước về mặt lịch sử được coi là có nhiều các hoạt động gây ra
sự biến đổi khí hậu Các bên ngoài Phụ lục I chủ yếu bao gồm các nước đang phát triển Công ước đưa ra nguyên tắc bình đẳng và yêu cầu Các bên trong Phụ lục I phải dẫn đầu trong việc tới năm 2000 phải giảm mức phát thải khí nhà kính của họ
Nghị định thư Kyoto là một nghị định của UNFCCC được phê chuẩn
tại Kyoto, Nhật Bản tháng 12 năm 1997, có hiệu lực vào ngày 16/2/2005 sau khi Cộng hoà Liên bang Nga phê chuẩn Nghị định đưa ra nghĩa vụ bắt buộc mang tính pháp lý cho 38 nước công nghiệp bao gồm 11 nước Trung và Đông
Âu, giảm lượng phát thải khí nhà kính xuống một mức trung bình dưới 5,2%
so với mức của năm 1990 Hiện đã có hơn 170 quốc gia trên thế giới tham gia Nghị định thư Kyoto, nhưng chỉ có 60% cam kết giảm phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính trên toàn cầu
Việc cắt giảm lượng phát thải khí nhà kính xuống một mức trung bình dưới 5,2% thực sự là trách nhiệm nặng nề đối với những quốc gia công nghiệp hóa Vì vậy, 3 cơ chế mềm dẻo đã được đưa ra nhằm giúp những nước này có thể đạt được mục tiêu, đồng thời mang lại sự phát triển bền vững cho những quốc gia đang phát triển Đó là cơ chế đồng thực hiện (JI - Joint Implementation), cơ chế buôn bán quyền phát thải quốc tế (IET - International
Trang 25Emission Trade) và cơ chế phát triển sạch (CDM - Clean Development Mechanism)
Trong đó cơ chế JI và IET chỉ là sự giao dịch giữa các quốc gia công nghiệp hóa với nhau, còn cơ chế CDM thực sự là một cơ hội cho các nước đang phát triển (trong đó có Việt Nam) có thể tiếp nhận đầu tư từ các nước phát triển để thực hiện các dự án lớn về trồng rừng, phục hồi rừng, hạn chế tình trạng chuyển đổi mục đích sử dụng đất từ lâm nghiệp sang nông nghiệp, thúc đẩy sản xuất nông nghiệp theo hướng nông lâm kết hợp, tiến tới mục tiêu
phát triển bền vững [9]
1.1.4 Hệ thống luật pháp, chính sách của Việt Nam nhằm bảo vệ rừng, chống biến đổi khí hậu
1.1.4.1 Tham gia các công ước Quốc tế
Để ứng phó với biến đổi khí hậu, phòng ngừa và hạn chế tối thiểu thiệt hại gây ra, Việt Nam đã chủ động và tích cực tham gia các công ước, các chương trình hành động nhằm bảo vệ khí hậu
Chính phủ Việt Nam phê chuẩn Công ước Khung của Liên Hiệp Quốc
về biến đổi khí hậu ngày 16 tháng 11 năm 1994; Nghị định thư Kyoto được phê chuẩn ngày 25 tháng 9 năm 2002 Các văn bản cụ thể liên quan đến việc thực thi các công ước này: Chỉ thị số 35/2005/CT-TTg ngày 17/10/2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc tổ chức thực hiện Nghị định thư Kyoto thuộc Công ước Khung của Liên Hiệp Quốc về biến đổi khí hậu tại Việt Nam; Quyết định số 47/2007/QĐ-TTg ngày 06 tháng 4 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Tài nguyên và Môi trường và các bộ, ngành, địa phương
có liên quan thực hiện Nghị định thư Kyoto và Cơ chế CDM;
Bên cạnh đó, Chính phủ Việt Nam đã ký một số cam kết quốc tế nhằm tham gia các nỗ lực khắc phục những vấn đề môi trường Những cam kết quan trọng gồm Công ước về đa dạng sinh học (CBD) ký kết năm 1992 thông
Trang 26qua Luật đa dạng sinh học 2008 và đưa ra Kế hoạch hành động đa dạng sinh học của Việt Nam, Công ước về buôn bán Quốc tế các loài động, thực vật nguy cấp (CITES) (ký kết năm 1994) và tăng cường lâm luật quản trị rừng và thương mại gỗ (FLEGT) (ký kết năm 2010)
1.1.4.2 Hệ thống luật pháp, chính sách trong nước
Chính phủ cũng đưa ra nhiều quyết sách quan trọng, đưa vào hệ thống pháp luật để điều chỉnh nhằm bảo vệ rừng, chống biến đổi khí hậu
▪ Các chính sách lâm nghiệp cấp quốc gia và khung pháp luật
Ngành lâm nghiệp của Việt Nam có ba nhiệm vụ: Nhiệm vụ thứ nhất
là phát triển kinh tế thông qua thúc đẩy trồng rừng thương mại Nhiệm vụ thứ hai là bảo vệ môi trường nhằm tăng độ che phủ rừng thông qua tái sinh rừng
tự nhiên và trồng mới trên đất bị mất rừng, tăng số lượng dịch vụ môi trường thông qua bảo tồn các nguồn đa dạng sinh học giá trị và rừng phòng hộ Mục tiêu thứ ba là thực hiện trách nhiệm xã hội Các văn bản pháp luật then chốt chính thức hóa tầm nhìn này được trình bày dưới đây
- Chiến lược phát triển ngành lâm nghiệp quốc gia 2006–2020 đã khẳng định công cuộc đổi mới và phát triển đất nước nói chung đòi hỏi phải chuyển ngành "lâm nghiệp truyền thống" - dựa chủ yếu vào khai thác rừng tự nhiên sang ngành "lâm nghiệp xã hội" Do đó, chiến lược đặt mục tiêu cân đối giữa việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế với các khía cạnh xã hội và môi trường của ngành Chiến lược nhấn mạnh đặc biệt vào những nỗ lực tăng độ che phủ rừng, cải thiện đất, bảo vệ nguồn nước và kiểm soát lũ lụt
- Luật Bảo vệ và Phát triển Rừng 2004 đưa ra định hướng các chính sách đầu tư, khuyến khích và hỗ trợ bảo vệ và phát triển rừng, mở rộng diện tích trồng rừng và thị trường lâm sản Điểm cốt lõi của Luật này liên quan đến các khía cạnh bảo tồn, như bảo vệ rừng, các hệ sinh thái, động thực vật, phòng chống cháy rừng và bảo vệ rừng
Trang 27- Luật Đa dạng Sinh học 2008
Luật điều chỉnh các quyền và nghĩa vụ của các tổ chức, hộ gia đình và
cá nhân liên quan đến bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển bền vững Mục đích của Luật này là ngăn ngừa suy giảm đa dạng sinh học, bảo tồn các loại động thực vật quý hiếm và hỗ trợ phát triển xã hội và kinh tế bền vững của đất nước, khuyến khích tham gia bảo tồn và phục hồi đa dạng sinh học, đưa ra kế hoạch thể chế cấp quốc gia và cấp tỉnh bao gồm cả phát triển bền vững các hệ sinh thái tự nhiên
▪ Các chương trình quốc gia về phục hồi và trồng rừng
Chính phủ Việt Nam đã thực thi các chương trình phục hồi rừng từ giữa những năm 1950 và nhiều chương trình với các nỗ lực mạnh mẽ hơn đã
có từ đầu những năm 1990
Hai chương trình trồng rừng quốc gia quy mô lớn là Chương trình 327 (Chương trình phủ xanh đất trống đồi núi trọc) được thực hiện giai đoạn 1993-1998 và Chương trình trồng 5 triệu ha rừng (Chương trình 661) thực hiện trong giai đoạn 1998– 2010 Đây là những sáng kiến lớn về cả mục tiêu, lượng vốn đầu tư và mức độ hỗ trợ chính trị và quốc tế Cả hai chương trình đều phản ánh ưu tiên đặc biệt của nhà nước đối với rừng đặc dụng và rừng phòng hộ và cam kết cung cấp kinh phí cho các hoạt động của chương trình Những chương trình quốc gia này đã có một số tác động tích cực đến ngành lâm nghiệp, đặc biệt là phủ xanh đồi núi trọc , thể hiện qua các báo cáo đã chỉ
ra diện tích đất có rừng tăng từ 9,3 triệu ha năm 1995 lên 12,61 triệu ha năm
2005, tăng 0.3 triệu ha/năm
▪ Các chính sách liên quan đến việc chia sẻ lợi ích từ rừng
Những chính sách này thể hiện sự cam kết của Chính phủ để người dân địa phương được tham gia nhiều hơn vào bảo vệ và quản lý rừng Nói một
Trang 28cách khác, là chủ rừng và được chia sẻ lợi ích, người dân địa phương được khuyến khích quản lý rừng tốt hơn
- Quyết định số 178/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về
"Quyền hưởng lợi, nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân được giao, được thuê, nhận khoán rừng và đất lâm nghiệp"; Quyết định số 147/2007/QD-TTg ngày 10/9/2007 về phát triển rừng sản xuất Các quyết định này phần lớn liên quan đến các dự án có vốn ngân sách nhà nước, với các sản phẩm lâm nghiệp bao gồm gỗ, củi, các sản phẩm nông nghiệp và các dịch vụ du lịch
- Quyết định số 380/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ với mục tiêu là thí điểm chi trả dịch vụ môi trường rừng (PES - Payment for Environmental Service), mở rộng ra toàn quốc thông qua Nghị định số 99 /2010/NĐ-CP năm
2010 Theo Quyết định 380/ Nghị định 99 đặt ra các khoản chi trả cho các dịch vụ môi trường bao gồm cả nguồn nước; cảnh quan và bảo vệ đất Quyết định này xác định nguồn thu từ các dịch vụ này là ngân sách không thuộc nhà nước Trong tổng số tiền thu được Bộ NN&PTNT Quỹ trung ương giữ lại 5%, 10% giữ lại cho Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng cấp tỉnh để trang trải các chi phí làm dịch vụ và 85% còn lại sẽ được trả trực tiếp cho người cung cấp dịch
vụ môi trường [11]
▪ Các chương trình, chiến lược chống biến đổi khí hậu
Chính phủ đang dần hoàn thiện khung pháp lý về biến đổi khí hậu, giảm nhẹ rủi ro thiên tai Các chương trình, chiến lược điển hình gồm:
- Chiến lược Quốc gia về phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai tới 2020
đã được phê chuẩn năm 2007 Mục tiêu của Chiến lược Quốc gia về phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai tới năm 2020 là nhằm “huy động mọi nguồn lực
để thực hiện có hiệu quả công tác phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai từ nay tới 2020 nhằm giảm đến mức thấp nhất thiệt hại về người và tài sản, hạn chế
sự phá hoại tài nguyên thiên nhiên, môi trường và di sản văn hoá, góp phần
Trang 29quan trọng bảo đảm phát triển bền vững của đất nước, bảo đảm quốc phòng,
an ninh.”
- Chương trình Mục tiêu Quốc gia về ứng phó với biến đổi khí hậu được ban hành năm 2008 Mục đích của Chương trình Mục tiêu Quốc gia về ứng phó với biến đổi khí hậu là xác định những tác động đối với các ngành, vùng, làm cơ sở xây dựng các kế hoạch hành động khả thi nhằm ứng phó hiệu quả với biến đổi khí hậu trong ngắn và dài hạn
- Chiến lược Quốc gia về biến đổi khí hậu năm 2011 Quan điểm xuyên suốt của Chiến lược về biến đổi khí hậu là: Chiến lược có tầm nhìn xuyên thế
kỷ, là nền tảng cho các chiến lược khác, coi ứng phó với biến đổi khí hậu là trách nhiệm của toàn hệ thống Đồng thời, tăng cường năng lực thích ứng với biến đổi khí hậu của con người và các hệ thống tự nhiên, phát triển nền kinh
tế carbon thấp nhằm bảo vệ và nâng cao chất lượng cuộc sống, bảo đảm an ninh và phát triển bền vững quốc gia trong bối cảnh biến đổi khí hậu toàn cầu
và tích cực cùng cộng đồng quốc tế bảo vệ hệ thống khí hậu trái đất
1.2 Những vấn đề cơ bản về chương trình REDD +
Trong bối cảnh thực hiện nghị định thư Kyoto thì các nước thuộc nhóm phải cắt giảm khí nhà kính theo cam kết có thể thông qua cơ chế phát triển sạch CDM.Tuy nhiên, giai đoạn cam kết đầu tiên của Nghị định thư sẽ kết thúc vào năm 2012, và từ tháng 5/2007 các cuộc đàm phán quốc tế đã bắt đầu
đề cập đến giai đoạn cam kết tiếp theo Sáng kiến về chương trình REDD được đưa ra ta ̣i Hô ̣i nghi ̣ các nước thành viên lần thứ 11 (COP11) UNFCCC
tổ chức tại thành phố Montreal, Canada năm 2005
Cùng hàng loạt chương trình hành động, REDD và REDD+ là giải pháp tích cực để tạo ra động cơ cho các nước đang phát triển giảm tình trạng mất rừng và giảm suy thoái rừng, từ đó giảm phát thải khí nhà kính và tăng lượng Carbon được hấp thụ và lưu giữ trong rừng
Trang 301.2.1 Một số khái niệm liên quan
- Thị trường Cacbon (Carbon markets)
Là bất kỳ thị trường kinh doanh phát thải các-bon dưới hình thức mua bán tín chỉ các-bon Các thị trường này có thể ở dạng thị trường các-bon tự do (hay thị trường tự nguyện, nơi các mục tiêu giảm phát thải không bị quy định)
và dạng thị trường các-bon bắt buộc (nơi các tín chỉ các-bon được mua bán nhằm đáp ứng các mục tiêu giảm thiểu phát thải đã được quy định) Thị trường các-bon lớn nhất hiện nay là Hệ thống Kinh doanh Phát thải của Liên minh Châu Âu (ETS) Trong thị trường carbon, có 2 khái niệm cần quan tâm: Hạn mức carbon và tín chỉ carbon
+ “Hạn mức Carbon” là lượng Carbon được phép phát thải ấn định cho từng nước
+ “Tín chỉ Carbon” là thuật ngữ kỹ thuật thể hiện kết quả của các dự án theo Cơ chế phát triển sạch (CDM) Một tín chỉ giảm phát thải (CER) là một đơn vị lượng khí gây hiệu ứng nhà kính (GHG) được cắt giảm và được chứng nhận theo quy định của Điều 12, Nghị định thư Kyoto về Cơ chế phát triển sạch (1CER = 1 tấn CO2)
Nguyên tắc hoạt động, cơ chế tài chính và cách thức chi trả, yêu cầu kỹ thuật của REDD như sau [9]
1.2.2 Nguyên tắc hoạt động
Nguyên tắc hoạt động của chương trình REDD và REDD+ như sau: Các nước công nghiệp phát triển bỏ ra một khoản tài chính chuyển cho các nước đang phát triển để đền đáp cho các nước này khi họ dừng tình trạng tàn phá rừng và làm mất rừng Như vậy:
- Các nước đang phát triển cần triển khai các dự án và chính sách nhằm ngăn chặn mất rừng và suy thoái rừng để tăng lượng Carbon lưu trữ trong rừng
Trang 31- Các nước phát triển không phải cắt giảm lượng khí thải quá hạn mức
vì họ đã trả tiền để lưu giữ lượng Carbon trong các khu rừng tại các nước đang phát triển
Khi tham gia REDD, từng nước sẽ đo đếm và giám sát lượng phát thải CO2 từ mất rừng và suy thoái rừng trong phạm vi biên giới nước mình Sau một thời gian nhất định từng nước sẽ tính toán lượng giảm phát thải và nhận được số lượng Tín chỉ Carbon rừng tương ứng Các Tín chỉ Carbon sau đó có thể được đem bán trên thị trường Carbon toàn cầu
1.2.3 Cơ chế tài chính và cách thức chi trả
Cơ chế tài chính và cách thức chi trả trong REDD còn đang trong giai đoạn thảo luận Chi trả trong REDD thông qua Quỹ quốc tế hoặc thông qua
cơ chế thị trường Carbon, hoặc phối hợp cả hai loại trên Tiền được trả cho người chủ của đất rừng khi nguời chủ này dừng việc chặt phá rừng và lưu giữ lượng Carbon trong rừng Cơ chế tài chính và cách thức chi trả trong REDD còn đang trong giai đoạn thảo luận, có 2 đề xuất:
- Đề xuất 1: Thành lập các Quỹ cấp quốc tế hoặc cấp vùng để chi trả + Quỹ được hình thành ở cấp toàn cầu hay cấp khu vực
+ Chính phủ, công ty và các cá nhân cùng góp tiền để cùng tài trợ cho các Chương trình hay Dự án REDD
+ Các chính phủ dùng tiền thuế để chi cho các hoạt động làm tổn hại đến môi trường
+ Một số Quỹ quốc tế và Quỹ song phương đã được thành lập để hỗ trợ các nước đang phát triển chuẩn bị cho REDD trong thời gian này
+ Các nguồn tiền từ Quỹ sẽ được đưa đến các cộng đồng bảo vệ và sử dụng rừng một cách bền vững
Trang 32+ Các chính phủ nhận nguồn tiền từ Quỹ, hàng năm báo cáo cho cơ quan của Liên hiệp quốc về Biến đổi khí hậu về tiến trình bảo vệ và bảo tồn rừng tại nước mình
- Đề xuất 2: Chi trả REDD thông qua cơ chế thị trường Hình thành thị trường cacbon, quy định “Hạn mức Carbon và Tín chỉ Carbon”, các nước công nghiệp mua bán Tín chỉ Carbon trực tiếp với các nước đang phát triển Chi trả REDD qua các Quỹ
Cơ chế mua bán trao đổi Carbon thông qua REDD như sau: Người mua, mua “Tín chỉ Carbon” có nghĩa là họ mua quyền được thải khí nhà kính thay cho việc cắt phát thải khí nhà kính Người bán, bán “Tín chỉ Carbon” từ hoạt động bảo
vệ rừng, trồng rừng và sử dụng rừng bền vững Nếu không tham gia vào hoạt động trồng và sử dụng rừng bền vững sẽ không có thu nhập
REDD+ sẽ tiêu tốn bao nhiêu tiền?
Theo bản báo cáo Đánh giá Kinh tế học Biến đổi Khí hậu của Stern, nguồn lực cần huy động để giảm một nửa lượng phát thải từ rừng đến năm
2030 sẽ dao động từ 17 – 33 tỷ USD mỗi năm
Số tiền này có thể lấy từ đâu?
Tiền có thể được rót trực tiếp từ các định chế tài chính quốc tế hoặc từ các chương trình chính phủ Một số khoản vốn sẵn có được cấp cho các dự án trình diễn REDD thông qua thị trường các-bon tự nguyện, nhưng phần lớn kinh phí mong đợi sẽ được cấp qua thị trường hoặc thông qua các quỹ mới
Sự hình thành của các quỹ này sẽ còn chờ đợi vào đàm phán của UNFCCC trong vài năm tới
1.2.4 Yêu cầu kỹ thuật khi tham gia thực hiện chương trình REDD +
1.2.4.1 Nội dung thực hiện REDD +
Nội dung thực hiện REDD+ bao gồm quản lý, đo đạc, giám sát
Trang 33- Quản lý: Quản lý bao gồm Bảo vệ rừng và Quản lý rừng bền vững Quản lý rừng đảm bảo lượng Carbon từ rừng không bị mất hoặc được tăng lên trong thời gian dài
- Đo đạc, xác định lượng Carbon Đo đạc rừng bằng việc điều tra rừng, bao gồm: Viễn thám (Viễn thám là khoa học thu nhận thông tin của bề mặt trái đất mà không tiếp xúc với bề mặt trái đất); Xác định ô tiêu chuẩn trên thực địa; Đo đếm tại thực địa; Thu thập và quản lý số liệu
- Giám sát kết quả: Để giám sát các kết quả một cách chính xác cần giám sát đo đạc thường xuyên Có sự giám sát của bên thứ ba độc lập Công
bố số liệu kết quả giám sát công khai
Người dân có thể tham gia điều tra, giám sát rừng Người dân địa phương có thể thu thập các số liệu về Carbon từ ô tiêu chuẩn và điều tra thực địa Trong thực tế, không cần đào tạo nhiều nhưng vẫn đo đạc, giám sát được
vì có thể dễ dàng thu được số liệu về Carbon như đếm số lượng cây, đếm các loài cây, đo đường kính ngang ngực của cây…Người dân, cộng đồng sống gần rừng có khả năng giám sát rừng thường xuyên và hiệu quả
1.2.4.2 Một số yêu cầu về quản lý và tiêu chuẩn khi thực hiện REDD+
Mọi nước tham gia REDD đều phải tiến hành điều tra rừng để thu thập
số liệu cần thiết phục vụ cho tính toán lượng giảm phát thải của rừng Cần có một cơ sở dữ liệu đáng tin cậy và được tổ chức tốt
Cần có đội ngũ cán bộ được đào tạo chuyên nghiệp để vận hành hệ thống này Cần một hệ thống quản lý minh bạch Người dân phải được tham gia đầy đủ trong các giai đoạn thực hiện REDD Người dân tự nguyện tham gia, được biết trước, được tham vấn và được thông báo đầy đủ thông tin và ưng thuận Cần một cơ chế chia sẻ lợi ích công bằng và hợp lý
Để có được uy tín với người sẽ mua Tín chỉ Carbon, với nhà đầu tư cần đảm bảo lượng dự trữ Carbon được duy trì đều đặn trong rừng Đảm bảo Tín chỉ
Trang 34Carbon là tin cậy, điều này có nghĩa là 1 Tín chỉ Carbon được trao đổi trên thị trường đúng bằng 1 tấn giảm phát thải có thực trên thực tế và được giữ lâu dài
Do vậy, các kết quả quản lý và đo đạc rừng trong REDD cần được giám sát thường xuyên Cần lựa chọn tiêu chuẩn minh bạch để giám sát
Các kết quả được kiểm chứng bởi tổ chức độc lập thứ ba và thông tin công khai Mỗi nước sẽ tính toán khối lượng khí nhà kính đã được giảm và sau đó yêu cầu được cấp một lượng Tín chỉ Carbon nhất định Yêu cầu này được kiểm chứng bởi một bên thứ ba Tổ chức thứ ba này sẽ đánh giá các số liệu và tính toán để khẳng định rằng yêu cầu cấp Tín chỉ Carbon của nước này
* Các dự án, chương trình
Ngân Hàng Thế giới (World Bank) hiện nay đang đi trước tiên bằng sự thiết lập một thị trường mới mua bán tín dụng REDD Ngân hàng đặt mua các tín dụng trước với các tổ chức để các cơ sở này tham gia khởi động thị trường tín dụng REDD [13]
Một số các công ty đã bắt đầu khai triển các dự án để tham gia vào thị trường này Ngân hàng thương mại McQuarie Bank (Úc) hợp tác đầu tư cùng với tổ chức phi chính phủ Flora and Fauna International (FFI) thiết lập 4 đề án thử nghiệm ở Đông Nam Á, Nam Mỹ và Phi châu trong 4 năm tới Trong đề
án ở Tây Kalimantan (Indonesia), sau khi ký bản ghi nhớ với chính quyền địa phương, McQuarie Bank cung cấp tài chính, tiếp thị và bán tín dụng tuân thủ
Trang 35phù hợp với tiêu chuẩn trong khi FFI thiết kế, phát triển xây dựng, quản lý dự
án bảo vệ rừng cùng với chính quyền sở tại và dân chúng ở địa phương và cung cấp lợi nhuận cho cộng đồng
Tổ chức thương mại Carbon Conservation cũng đã ký với quỹ đầu tư Merril Lynch để bán 9 triệu USD tín dụng Carbon qua đề án sự bảo tồn 750 ngàn hecta rừng Ulu Masen ở bắc Aceh (Sumatra, Indonesia) cùng với chính phủ tỉnh Aceh và tổ chức phi chính phủ FFI
Tổ chức New Forest đang có công trình bảo hộ 200 ngàn hecta rừng cùng với chính phủ Papua New Guinea nhằm tránh các khu rừng này bị phá
để trồng cây cọ dầu, qua đó tín dụng sẽ được bán vào cuối năm 2009 với số lượng khoảng 20 triệu tấn Carbon trong 20 năm giữ rừng trên thị trường tình nguyện (Voluntary Market) như thị trường của Ngân hàng Thế giới Lợi nhuận từ tín dụng bán được một phần sẽ được bỏ vào quỹ chung cho cộng đồng địa phương, số còn lại dùng để điều hành công trình, trả tiền phí cho chính quyền địa phương và lợi nhuận cho các nhà đầu tư [24]
* Các quỹ REDD
Quỹ Chương trình REDD của Liên Hiệp Quốc (UN-REDD) hỗ trợ các quốc gia đang phát triển về các vấn đề mất rừng và suy thoái rừng Chương trình này tập trung xây dựng năng lực, giúp thiết kế các chiến lược quốc gia, thí điểm phương pháp tiếp cận tài chính và công tác tổ chức về thể chế để theo dõi và thẩm tra giảm thiểu tổn thất rừng UNREDD được triển khai ở 9 quốc gia trong đó có Việt Nam Các dự án thí điểm được khởi động ở một số vùng rừng nhiệt đới và sẽ khảo sát những đặc trưng của quá trình vận hành
REDD trên thực tế
Ngân hàng Thế giới hiện đang điều phối một sáng kiến toàn cầu thứ hai: Quỹ Đối tác về Cac-bon Rừng (FCPF) FCPF cũng tương tự như chương
Trang 36trình của Liên Hiệp Quốc, nhưng lớn hơn nhiều về mặt quy mô Nó được triển khai tại 29 nước trong đó có Việt Nam
Hai sáng kiến này có ủy ban điều phối tại các quốc gia mà cả hai quỹ đang hoạt động Họ thường tổ chức các thảo luận về chính sách kế tiếp nhau
để các bên chia sẻ ý tưởng Cả hai sáng kiến đều có một số hoạt động thí điểm
về REDD đang được triển khai ở những nước khác nhau nhằm hiểu rõ hơn về cách thức thực hiện REDD cũng như tính khả thi của các phương thức tiếp cận khác nhau [17]
1.3.2 Bối cảnh thực hiện REDD và REDD + ở Việt Nam
1.3.2.1 Điều kiện thực thi REDD tại Việt Nam
Việt Nam đã tham gia UNFCCC vào tháng 11/1994 và phê chuẩn Nghị định thư Kyoto vào tháng 9/2002 nên chúng ta có đầy đủ cơ sở pháp lý và tiêu chí quốc tế để tham gia REDD
Nhà nước ta rất quan tâm đến bảo vệ và phát triển rừng, gắn liền với phát triển kinh tế - xã hội và xóa đói giảm nghèo ở vùng nông thôn miền núi Bảo vệ và phát triển rừng bền vững cũng là một nội dung quan trọng trong khung Kế hoạch ứng phó với biến đổi khí hậu của Bộ Nông nghiệp và PTNT (Quyết định số 2730/QĐ-BNN-KHCN ngày 05/9/2008)
Những nỗ lực ứng phó của nước ta sẽ là động thái tích cực trong công cuộc giảm nhẹ biến đổi khí hậu, bảo vệ hệ thống khí hậu toàn cầu Ban Chỉ đạo Quốc gia về Chương trình với tư cách là cơ quan đầu mối của Chính phủ
về ứng phó với biến đổi khí hậu Thủ tướng Chính phủ đã nêu rõ rằng cần phải huy động các nguồn lực để thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu, trong đó sự tài trợ của cộng đồng quốc tế là hết sức quan trọng
Bên cạnh đó, Việt Nam có lợi thế là chúng ta có hệ thống quản lý nhà nước chuyên ngành lâm nghiệp thống nhất từ Trung ương đến địa phương tạo
Trang 37điều kiện thuận lợi cho việc triển khai REDD và REDD hứa hẹn sẽ là một cơ chế tài chính hiệu quả để thực hiện các chủ trương, đường lối này
Cùng với chính sách thí điểm chi trả dịch vụ môi trường rừng theo Quyết định 380/2008/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, việc thực hiện REDD hy vọng sẽ tạo nguồn tài chính mới, bền vững là động lực mạnh mẽ khuyến khích người dân và mọi thành phần kinh tế tham gia quản lý và sử dụng rừng bền vững góp phần xóa đói, giảm nghèo, đặc biệt là vùng nông thôn, miền núi
1.3.2.2 Tiến trình thực hiện
Theo Nghị định số 01/2008/NĐ-CP của Chính phủ về chức năng, quyền hạn, nhiệm vụ và tổ chức bộ máy của Bộ Nông nghiệp và PTNT và Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu, Bộ Nông nghiệp và PTNT là cơ quan quản lý nhà nước về lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn trong đó có ngành Lâm nghiệp là cơ quan chủ trì, phối hợp với Bộ Tài nguyên & môi trường (cơ quan đầu mối quốc gia thực thi UNFCCC) và các Bộ, ngành, địa phương nghiên cứu triển khai REDD ở Việt Nam Bộ Nông nghiệp và PTNT đã giao cho Cục Lâm nghiệp là cơ quan chủ trì, phối hợp với các đơn vị trong và ngoài Bộ, các tổ chức quốc tế xây dựng
và triển khai REDD
Thực hiện Quyết định số 02 của Hội nghị lần thứ 13 các bên tham gia UNFCCC (COP13), tháng 02/2008 Việt Nam đã gửi tới Ban thư ký của Công ước tài liệu nêu quan điểm về phương pháp cũng như lộ trình thực hiện REDD, trong đó có đề xuất các hoạt động cần sự hỗ trợ về tài chính và kỹ thuật của cộng đồng quốc tế
Từ ngày 03 – 06/11/2008 tại Hà Nội, Bộ Nông nghiệp & PTNT Việt Nam đã tổ chức hội thảo quốc tế: “Quản lí rừng bền vững ở các quốc gia lưu vực sông Mê Kông để lưu giữ Carbon trong chương trình REDD – Chuẩn bị các khía cạnh kĩ thuật cho REDD” Kết quả hội thảo cho thấy cần xây dựng
Trang 38hệ thống ước tính Carbon lưu giữ quốc gia, bao gồm xây dựng đường cơ sở, giám sát sự thay đổi diện tích rừng, chất lượng rừng, tính toán lượng CO2 hấp thụ của rừng tự nhiên và nâng cao năng lực cho cộng đồng trong giám sát hấp thụ CO2 của rừng [2]
Nhằm tăng cường khả năng phối hợp và lồng ghép các Chương trình,
dự án, huy động tối đa và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực cũng như huy động mọi thành phần kinh tế và các nhà tài trợ tham gia thực thi REDD, Bộ Nông nghiệp & PTNT đã và đang chủ trì, phối hợp với Bộ Tài nguyên & Môi trường cùng các Bộ, ngành có liên quan xây dựng Chương trình REDD quốc gia Việt Nam cũng được nhận hỗ trợ kỹ thuật song phương từ các chính phủ
Úc, Đức, Phần Lan, Nhật Bản và Mỹ và từ Tổ chức bảo tồn thiên nhiên quốc
tế (IUCN), Trung tâm Nông Lâm Thế giới (ICRAF), Winrock và Tổ chức phát triển và Tổ chức phát triển Hà Lan (SNV)
Dưới sự chỉ đạo của Bộ Nông nghiệp & PTNT, Cục Lâm nghiệp – là cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành Lâm nghiệp, đã phối hợp với Vụ Hợp tác Quốc tế và các chuyên gia của FFI, SNV, JICA và một số tổ chức khác xây dựng bản để xuất ý tưởng dự án (R-PIN) kêu gọi sự tài trợ của FCPF và đến tháng 07/2008, bản đề xuất này đã được FCPF phê duyệt và Việt Nam đã chính thức trở thành một trong 14 nước đầu tiên tham gia FCPF Theo đó, Việt Nam được tài trợ 200.000 USD để xây dựng văn kiện đề xuất chi tiết (R-Plan) R-Plan đã được thông qua, Việt Nam đã được nhận khoản tài trợ khoảng 2 triệu USD để thực hiện thí điểm REDD
Thực hiện Quyết định số 2 của Hội nghị lần thứ 13 các bên tham gia UNFCCC (COP13), Bộ Nông nghiệp và PTNT cũng đã gửi thư bày tỏ sự quan tâm và mong muốn được tham gia REDD tới Văn phòng thường trực của Liên Hợp Quốc tại Việt Nam Đáp lại, Chính phủ Na Uy và Chương trình giảm khí thải do phá rừng và suy thoái rừng của Liên Hợp Quốc (UN-REDD)
đã cử đoàn chuyên gia cao cấp sang Việt Nam vào tháng 01/2009 để tìm hiểu
Trang 39mối quan tâm cũng như nhu cầu trợ giúp của Việt Nam trong quá trình xây dựng và triển khai REDD, đồng thời tổ chức các buổi hội thảo giới thiệu về REDD, cơ hội và thách thức trong quá trình thực hiện
Ngày 10/03/2009 tại Panama, đại diện của Cục Lâm nghiệp đã bảo vệ thành công đề xuất ý tưởng Chương trình REDD của Việt Nam tại phiên họp đầu tiên của Hội đồng chính sách của UN-REDD được tổ chức Theo đó, UN-REDD tài trợ cho Việt Nam (cùng một số nước: Indonesia, Brazil, Tanzania ) khoản kinh phí ban đầu khoảng 4,38 triệu USD nhằm nâng cao năng lực cấp quốc gia và địa phương để thực thi REDD
Hoa ̣t đô ̣ng UN-REDD ta ̣i Viê ̣t Nam
Chương trình UN-REDD được thiết kế để hỗ trợ Chính phủ Viê ̣t Nam giải quyết các vấn đề phức ta ̣p về kỹ thuâ ̣t và thể chế chính sách, giúp nâng cao năng lực thực hiện REDD ở trung ương và đi ̣a phương, tăng cường sự tham gia
củ a cô ̣ng đồng người dân đi ̣a phương và đẩy mạnh hợp tác khu vực tiểu vùng sông Mê Công Thờ i gian thực hiê ̣n là 20 tháng (đầu năm 2010 đến tháng 12/2012); tổng vốn đầu tư là 4,38 triê ̣u USD; trên đi ̣a bàn 2 huyê ̣n Di Linh và Lâm Hà, tỉnhLâm Đồng.Các hơ ̣p phần của UN-REDD ta ̣i Viê ̣t Nam gồm:
- Hợp phần thứ nhất: Nâng cao năng lực cho các cơ quan trung ương tham gia chương trình;
- Hợp phần thứ hai: Nâng cao năng lực của các cấp chính quyền đi ̣a phương (tỉnh, huyện, xã, người dân thực hiê ̣n REDD ta ̣i 2 huyê ̣n Di Linh, Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồ ng)
- Hợp phần thứ ba: Hợp tác trao đổi thông tin, kinh nghiê ̣m trong viê ̣c thực hiê ̣n giảm phát thải khí nhà kính bằng các nỗ lực ha ̣n chế mất rừng, suy thoái rừ ng giữa Viê ̣t Nam và các nước khác trong tiểu vùng sông Mê Kông và ASEAN [24]
Việc thực hiê ̣n UN-REDD của Bô ̣ Nông nghiê ̣p và PTNT góp phần đắc lực thực hiê ̣n thành công sáng kiến REDD của cộng đồng quốc tế ở Việt Nam
Trang 40và Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hâ ̣u và Khung chương trình hành đô ̣ng thích ứng với biến đổi khí hâ ̣u của ngành Nông nghiệp và PTNT Đồng thời, sau thời gian thí điểm UN- REDD, tháng 6/2011 chương trình REDD quốc gia được xây dựng Đến ngày 27/6/2012 Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 799/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình
hành động quốc gia về “Giảm phát thải khí nhà kính thông qua nỗ lực hạn chế mất rừng và suy thoái rừng, quản lý bền vững tài nguyên rừng, bảo tồn và nâng cao trữ lượng cácbon rừng” (gọi tắt là chương trình REDD+) giai đoạn
2011 - 2020 Quyết định nêu rõ quan điểm, mục tiêu, phạm vi, và đối tượng thực hiện; Nhiệm vụ trọng tâm; Các Giải pháp; Nguồn vốn thực hiện; Tổ
chức thực hiện; Giám sát và đánh giá chương trình
1.3.2.3 Vai trò và vị thế của cộng đồng dân tộc thiểu số khi thực hiện REDD, REDD +
Khi xem xét vai trò, vị thế của người dân với việc thực hiện chương trình REDD và REDD+ cần xem xét từ 2 phía: Vai trò của người dân và lợi ích người dân nhận được khi tham gia chương trình
- Vai trò của người dân địa phương trong việc thực hiện chương trình
Ngoài các ban quản lý rừng, người dân địa phương là nhóm quản lý rừng lớn nhất ở Việt Nam Rừng dưới sự quản lý địa phương bao gồm rừng giao cho cộng đồng và hộ gia đình, với tổng diện tích lên tới 3.3 triệu hec-ta – hơn ¼ tổng diện tích rừng của cả nước Hơn 19% diện tích rừng (tương đương 2.6 triệu ha)
đang được tạm thời quản lý bởi chính quyền địa phương [25] Một phần hoặc toàn bộ diện tích này dự kiến sẽ được giao cho người dân địa phương
Với số liệu kể trên, rõ ràng người dân địa phương có một vai trò sống còn trong quản lý rừng; họ sẽ là một đối tác không thể thiếu trong tiến trình thực hiện REDD+ Người dân địa phương sẽ có trách nhiệm trực tiếp mang lại kết quả giảm mất rừng và suy thoái rừng trong lâm phận mà họ quản lý Sự quản lý của họ là cần thiết để thực hiện các khả năng duy trì và gia tăng lượng