1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu khả năng phát triển kinh tế hộ nông dân ở huyện thạch hà, tỉnh hà tĩnh trong điều kiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn

146 152 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 146
Dung lượng 1,54 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phân tích ảnh hưởng của các nguồn lực đến khả năng phát triển kinh tế hộ nông dân trong điều kiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn ở Huyện Thạch Hà .... vùng sản xu

Trang 1

NGUYỄN VIỆT DŨNG

NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ NÔNG DÂN Ở HUYỆN THẠCH HÀ, TỈNH HÀ TĨNH TRONG

ĐIỀU KIỆN CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA

NÔNG NGHIỆP VÀ NÔNG THÔN

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

Hà Nội, 2012

Trang 2

NGUYỄN VIỆT DŨNG

NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ NÔNG DÂN Ở HUYỆN THẠCH HÀ, TỈNH HÀ TĨNH TRONG

ĐIỀU KIỆN CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA

NÔNG NGHIỆP VÀ NÔNG THÔN

Chuyên ngành: Kinh tế nông nghiệp

Mã số: 60.620.115

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS TRẦN HỮU DÀO

Hà Nội, 2012

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình hoc tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của các cơ quan, các cấp lãnh đạo và các cá nhân Nhân dịp này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới:

Thầy giáo hướng dẫn luận văn TS Trần Hữu Dào và các thầy cô giáo đã trực

tiếp giảng dạy, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Ban giám hiệu, Khoa đào tạo sau đại học Trường Đại học Lâm Nghiệp, Cục Thống kê, Sở Nông nghiệp & PTNT tỉnh Hà Tĩnh, UBND huyện Thạch Hà, phòng Nông nghiệp, phòng Thống kê, phòng Tài nguyên Môi trường huyện Thạch Hà Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới sự giúp đỡ nhiệt tình của các hộ nông dân ở 3 xã: Thạch Long, Thạch Bàn, Bắc Sơn

Tôi xin chân thành cảm ơn những người thân trong gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này

Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa được sử dụng bảo vệ một học vị nào

Mọi sự giúp đỡ trong việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong đề tài đã được chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội, tháng 11 năm 2012

Tác giả luận văn

Nguyễn Việt Dũng

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Lời cảm ơn ……… ……… i

Mục lục……… ….ii

Danh mục các từ viết tắt……….…v

Danh mục các bảng………vi

Danh mục các hình ……… vii

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ NÔNG DÂN TRONG ĐIỀU KIỆN CÔNG NGHIỆP HÓA - HIỆN ĐẠI HÓA NÔNG NGHIỆP VÀ NÔNG THÔN 4

1.1 Cơ sở lý luận về phát triển kinh tế hộ nông dân trong điều kiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn 4

1.1.1 Khái niệm về hộ, hộ nông dân, kinh tế hộ nông dân 4

1.1.2 Phân loại hộ nông dân 6

1.1.3 Đặc điểm của kinh tế hộ nông dân 7

1.1.4 Vai trò của kinh tế hộ nông dân đối với sự phát triển nông nghiệp và nông thôn [22,23] 9

1.1.5 Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn 10

1.1.6 Những nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế hộ nông dân trong điều kiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn [7, 12] 13

1.2 Tổng quan về phát triển kinh tế hộ nông dân trong điều kiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn 18

1.2.1 Trên thế giới 18

1.2.2 Ở Việt Nam 26

1.2.3 Một số công trình nghiên cứu có liên quan 31

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA HUYỆN THẠCH HÀ – TỈNH HÀ TĨNH VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 35

2.1 Đặc điểm cơ bản của Huyện Thạch Hà – Tỉnh Hà Tĩnh 35

Trang 5

2.1.1 Đặc điểm tự nhiên của Huyện Thạch Hà 35

2.1.2 Tài nguyên thiên nhiên 39

2.1.3 Thực trạng môi trường 44

2.1.4 Đặc điểm kinh tế - xã hội của Huyện Thạch Hà – Tỉnh Hà Tĩnh 45

2.1.5 Đánh giá về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và môi trường của huyện 48

2.1.6 Định hướng phát triển kinh tế - xã hội của huyện Thạch Hà đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 51

2.2 Phương pháp nghiên cứu 52

2.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu, khảo sát 52

2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu, tài liệu 53

2.2.3 Phương pháp xử lý, phân tích số liệu 54

2.2.4 Hệ thống chỉ tiêu sử dụng trong nghiên cứu đề tài 56

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 57

3.1 Thực trạng tình hình phát triển kinh, xã hôi của huyện Thạch Hà và của các xã điều tra 57

3.1.1 Thực trạng phát triển kinh tế, xã hội của huyện Thạch Hà 57

3.1.2 Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội chung của các xã điều tra 68

3.2 Thực trạng phát triển kinh tế hộ nông dân trong điều kiện công nghiệp, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn 75

3.2.1 Tình hình phát triển kinh tế hộ hộ nông dân trong vùng 75

3.2.2 Tình hình về chủ hộ nông dân 79

3.2.3 Các yếu tố sản xuất của hộ 80

3.2.4.Tổ chức hoạt động sản xuất của các hộ 89

3.2.5 Kết quả sản xuất của hộ nông dân 92

3.2.6 Thu nhập và đời sống của hộ nông dân 96

3.3 Phân tích ảnh hưởng của các nguồn lực đến khả năng phát triển kinh tế hộ nông dân trong điều kiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn ở Huyện Thạch Hà 103

3.3.1 Nhóm các yếu tố bên trong nội bộ hộ nông dân 103

Trang 6

3.3.2 Nhóm các yếu tố bên ngoài 108 3.3.3 Ý kiến và nguyện vọng của hộ nông dân để phát triển kinh tế hộ trong điều kiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn ở Huyện Thạch Hà 109

3.4 Những giải pháp chủ yếu nhằm phát triển kinh tế hộ nông dân trong điều kiện CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn ở huyện Thạch Hà – tỉnh

PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

STT Viết tắt Viết đầy đủ

1 CNH, HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

3 SXKD Sản xuất kinh doanh

4 TLSX Tư liệu sản xuất

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

2.1 Cơ cấu các loại đất của huyện Thạch Hà năm 2011 40 2.2 Cơ cấu sử dụng đất huyện Thạch Hà năm 2011 43 2.3 Một số chỉ tiêu kinh tế - xã hội của huyện Thạch Hà năm 2011 46

3.1 So sánh cơ cấu kinh tế (tính theo giá trị sản xuất) của huyện Thạch

Hà với Hà Tĩnh và cả nước năm 2011

60

3.2 Giá trị và cơ cấu sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản 60

3.4 Số lượng một số loại gia súc, gia cầm trên địa bàn huyện 2009-2011 63 3.5 Diện tích, sản lượng ngành lâm nghiệp trên địa bàn huyện 64 3.6 Diện tích, sản lượng sản xuất ngành thủy sản trên địa bàn huyện 65

3.8 Cơ cấu tổng giá trị thu nhập của các xã điều tra năm 2011 71 3.9 Dân số, lao động của các xã điều tra năm 2011 75 3.10 Cơ cấu hộ nông dân theo 03 nhóm thu nhập 77 3.11 Tình hình cơ bản của các chủ hộ được điều tra năm 2011 80 3.12 Cơ cấu đất đai của nông hộ điều tra năm 2011 82 3.13 Một số chỉ tiêu về lao động và nhân khẩu điều tra năm 2011 83 3.14 Cơ cấu lao động trong độ tuổi của các hộ nông dân năm 2011 84

Trang 9

3.15 Trình độ học vấn của chủ hộ điều tra ở vùng 85 3.16 Vốn bình quân của nông hộ năm 2011 theo vùng nghiên cứu 87 3.17 Quy mô vốn bình quân hộ nông dân tại thời điểm điều tra 88 3.18 Tư liệu sản xuất chủ yếu bình quân của hộ nông dân năm 2011 theo

nhóm thu nhập

89

3.19 Cơ cấu các nhóm hộ nông dân theo hướng sản xuất kinh doanh chính 91 3.20 Quy mô và cơ cấu chi phí sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản 92 3.21 Tổng thu từ sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản ở hộ điều tra 94 3.22 Tổng thu từ ngoài sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản ở hộ điều tra

phân theo theo xã

96

3.23 Tổng thu từ ngoài sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản ở hộ điều tra

phân theo theo nhóm thu nhập

hộ nông dân ở vùng điều tra năm 2011

109

3.29 Tổng hợp ý kiến và nguyện vọng của hộ nông dân 111

Trang 10

DANH MỤC CÁC HÌNH

3.1 Biểu đồ tăng trưởng kinh tế trên địa bàn huyện qua các năm 58 3.2 Biểu đồ cơ cấu kinh tế của huyện Thạch Hà qua các năm 59 3.3 Biểu đồ cơ cấu hộ nông dân theo thu nhập (Phân loại hộ theo số lượng) 77 3.4 Biểu đồ cơ cấu hộ nông dân theo thu nhập (Phân loại hộ theo tỷ lệ) 78

Trang 11

ĐẶT VẤN ĐỀ

1 Tính cấp thiết của đề tài

Công nghiệp hoá, hiện đại hoá (CNH, HĐH) nông nghiệp, nông thôn là chủ trương lớn của Đảng, đồng thời cũng là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của quá trình CNH, HĐH đất nước Từ trước đến nay, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến sự phát triển nông nghiệp, nông thôn và đã có những chủ trương, chính sách đúng đắn để đẩy nhanh sự phát triển của khu vực này

Trong quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn việc phát triển kinh tế hộ nông dân có ý nghĩa quan trọng trong sự phát triển nông nghiệp và đổi mới nông thôn ở nước ta Cùng với sự phát triển của kinh tế - xã hội nói chung và ngành nông nghiệp nói riêng thì kinh tế hộ nông dân không ngừng phát triển cả về quy mô và tính chất Một bộ phận hộ nông dân chuyển từ quy mô nhỏ thành quy mô lớn, trao đổi sản phẩm trên thị trường Họ sử dụng có hiệu quả đất đai, tiền vốn, lao động, đời sống từng bước được nâng cao và đã vươn lên làm giàu

Tuy nhiên, do có sự khác nhau về điều kiện, khả năng kinh nghiệm sản xuất, định hướng tư duy cho nên có sự chênh lệch về thu nhập và mức sống giữa các hộ Bên cạnh những hộ nông dân vươn lên mạnh mẽ, vẫn tồn tại một bộ phận khá lớn

hộ nông dân gặp nhiều khó khăn trong sản xuất

Để giải quyết được điều đó, trước hết cần phải có những giải pháp thiết thực

và hữu hiệu nhằm phát triển mạnh kinh tế hộ nông dân trong điều kiện CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn, trên cơ sở đánh giá đúng đắn thực trạng kinh tế hộ nông dân

Huyện Thạch Hà nằm ở giữa tỉnh Hà Tĩnh với tổng diện tích đất tự nhiên 35.503,78 ha, trong đó diện tích đất sản xuất nông nghiệp 23.176,66 ha, chiếm 65,289% diện tích tự nhiên, dân số 134.005 người chủ yếu làm nông nghiệp Huyện

có tiềm năng lớn về phát triển nông lâm ngư nghiệp Quá trình phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn của huyện theo hướng CNH, HĐH trong thời gian qua

đã đóng góp không nhỏ cho sự phát triển kinh tế chung của toàn huyện Tuy nhiên,

sự phát triển đó chưa tương xứng với tiềm năng lợi thế, chưa hình thành rõ nét các

Trang 12

vùng sản xuất tập trung gắn với công nghiệp chế biến, thị trường tiêu thụ, hiệu quả kinh doanh thấp, sức cạnh tranh kém, chênh lệch về thu nhập của dân cư còn cao… Cần thiết phải có các giải pháp để thúc đẩy nhanh kinh tế hộ nông dân theo hướng phát huy lợi thế so sánh, xây dựng một nền sản xuất hàng hoá lớn gắn với thị trường, khả năng cạnh tranh cao Chính vì vậy, nghiên cứu phát triển kinh tế hộ nông dân trong điều kiện CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn là hết sức cần thiết đối với từng vùng, từng địa phương và phạm vi toàn quốc Do đó tôi chọn đề tài:

“Nghiên cứu khả năng phát triển kinh tế hộ nông dân ở Huyện Thạch Hà - Tỉnh

Hà Tĩnh trong điều kiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn” làm luận văn tốt nghiệp

2 Mục tiêu nghiên cứu

- Đề xuất một giải pháp nhằm phát triển kinh tế hộ nông dân ở huyện Thạch

Hà - tỉnh Hà Tĩnh trong điều kiện CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài

Các hộ nông dân ở huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh

3.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài

- Phạm vi về không gian:

Nghiên cứu tại huyện Thạch Hà - tỉnh Hà Tĩnh (chủ yếu tập trung nghiên cứu

03 xã đại diện: Thạch Bàn, Bắc Sơn, Thạch Long thuộc 3 vùng sinh thái khác nhau của huyện)

Trang 13

+ Đánh giá tình hình phát triển kinh tế hộ nông dân ở huyện Thạch Hà - tỉnh

Hà Tĩnh trong điều kiện CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn

+ Đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng phát triển kinh tế hộ nông dân ở huyện Thạch Hà - tỉnh Hà Tĩnh trong điều kiện CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn

+ Đề xuất các giải pháp nhằm phát triển kinh tế hộ nông dân ở huyện Thạch

Hà - tỉnh Hà Tĩnh trong điều kiện CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn

Trang 14

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ NÔNG DÂN TRONG ĐIỀU KIỆN CÔNG NGHIỆP HÓA - HIỆN ĐẠI HÓA

NÔNG NGHIỆP VÀ NÔNG THÔN

1.1 Cơ sở lý luận về phát triển kinh tế hộ nông dân trong điều kiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn

1.1.1 Khái niệm về hộ nông dân, kinh tế hộ nông dân

1.1.1.1 Khái niệm hộ nông dân

Về hộ nông dân, tác giả Frank Ellis định nghĩa "Hộ nông dân là các hộ gia

đình làm nông nghiệp, tự kiếm kế sinh nhai trên những mảnh đất của mình, sử dụng chủ yếu sức lao động của gia đình để sản xuất,thường nằm trong hệ thống kinh tế lớn hơn, nhưng chủ yếu đặc trưngbởi sự tham gia cục bộ vào các thị trường và có

xu hướng hoạt động với mức độ không hoàn hảo cao" [30]

Nhà khoa học Traianốp cho rằng "Hộ nông dân là đơn vị sản xuất rất ổn định"

và ông coi "hộ nông dân là đơn vị tuyệt vời để tăng trưởng và phát triển nông

nghiệp"

Luận điểm trên của ông đã được áp dụng rộng rãi trong chính sách nông nghiệp tại nhiều nước trên thế giới, kể cả các nước phát triển Đồng tình với quan điểm trên của Traianốp, hai tác giả Mats Lundahl và Tommy Bengtsson bổ sung và

nhấn mạnh thêm "Hộ nông dân là đơn vị sản xuất cơ bản" Chính vì vậy, cải cách

kinh tế ở một số nước những thập kỷ gần đây đã thực sự coi hộ nông dân là đơn vị sản xuất tự chủ và cơ bản, từ đó đã đạt được tốc độ tăng trưởng nhanh trong sản xuất nông nghiệp và phát triển nông thôn

Ở nước ta, có nhiều tác giả đề cập đến khái niệm hộ nông dân Theo nhà khoa

học Lê Đình Thắng (năm 1993) cho rằng: "Nông hộ là tế bào kinh tế xã hội, là hình

thức kinh tế cơ sở trong nông nghiệp và nông thôn" [17]

Đào Thế Tuấn (1997) cho rằng: “Hộ nông dân là những hộ chủ yếu hoạt động

nông nghiệp theo nghĩa rộng, bao gồm cả nghề rừng, nghề cá và hoạt động phi

Trang 15

nông nghiệp ở nông thôn” Còn theo nhà khoa học Nguyễn Sinh Cúc, trong phân

tích điều tra nông thôn năm 2001 cho rằng: "Hộ nông nghiệp là những hộ có toàn

bộ hoặc 50% số lao động thường xuyên tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp các hoạt động trồng trọt, chăn nuôi, dịch vụ nông nghiệp (làm đất, thuỷ nông, giống cây trồng, bảo vệ thực vật, ) và thông thường nguồn sống chính của hộ dựa vào nông nghiệp" [22]

Nghiên cứu những khái niệm trên đây về hộ nông dân của các tác giả và theo nhận thức cá nhân, tôi cho rằng:

- Hộ nông dân là những hộ sống ở nông thôn, có ngành nghề sản xuất chính là nông nghiệp, nguồn thu nhập và sinh sống chủ yếu bằng nghề nông Ngoài hoạt động nông nghiệp, hộ nông dân còn tham gia các hoạt động phi nông nghiệp (như tiểu thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụ ) ở các mức độ khác nhau

- Hộ nông dân là một đơn vị kinh tế cơ sở, vừa là một đơn vị sản xuất vừa là một đơn vị tiêu dùng Như vậy, hộ nông dân không thể là một đơn vị kinh tế độc lập tuyệt đối mà còn phải phụ thuộc vào các hệ thống kinh tế lớn hơn của nền kinh tế quốc dân Khi trình độ phát triển lên mức cao của CNH, HĐH, thị trường, xã hội càng mở rộng và đi vào chiều sâu, thì các hộ nông dân càng phụ thuộc nhiều hơn vào các hệ thống kinh tế rộng lớn không chỉ trong phạm vi một vùng, một nước Điều này càng có ý nghĩa đối với các hộ nông dân nước ta trong tình hình hiện nay

1.1.1.2 Kinh tế hộ nông dân

Kinh tế hộ nông dân là hình thức tổ chức kinh tế cơ sở của xã hội, trong đó các nguồn lực của đất đai, lao động, tiền vốn và tư liệu sản xuất được coi là của chung

để tiến hành sản xuất Có chung ngân quỹ, ngủ chung một nhà, ăn chung, mọi quyết định trong sản xuất kinh doanh và đời sống là tuỳ thuộc vào chủ hộ, được Nhà nước thừa nhận, hỗ trợ và tạo điều kiện phát triển

Có ý kiến khác lại cho rằng, kinh tế hộ nông dân bao gồm toàn bộ các khâu của quá trình tái sản xuất mở rộng: sản xuất, phân phối, trao đổi, tiêu dùng Kinh tế

hộ nông dân thể hiện được các loại hộ hoạt động kinh tế trong nông thôn như hộ nông nghiệp, hộ nông - lâm - ngư nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ, thương

Trang 16

nghiệp, ngư nghiệp

Như vậy, kinh tế nông hộ là một hình thức cơ bản và tự chủ trong nông nghiệp Nó được hình thành và phát triển một cách khách quan, lâu dài, dựa trên sự

tư hữu các yếu tố sản xuất, là loại hình kinh tế có hiệu quả, phù hợp với sản xuất nông nghiệp, thích ứng, tồn tại và phát triển trong mọi chế độ kinh tế xã hội

1.1.2 Phân loại hộ nông dân

Có nhiều cách phân loại hộ nông dân khác nhau:

- Căn cứ vào mục tiêu và cơ chế hoạt động gồm có: [21]

+ Hộ nông dân hoàn toàn tự cấp không có phản ứng với thị trường: loại hộ này có mục tiêu là tối đa hoá lợi ích, đó là việc sản xuất các sản phẩm cần thiết để tiêu dùng trong gia đình Để có đủ sản phẩm, lao động trong nông hộ phải hoạt động cật lực và đó cũng được coi như một lợi ích, để có thể tự cấp tự túc cho sinh hoạt,

sự hoạt động của họ phụ thuộc vào: Khả năng mở rộng diện tích đất đai; có thị trường lao động để họ mua nhằm lấy lãi; có thị trường lao động để họ bán sức lao động để có thu nhập; có thị trường sản phẩm để trao đổi nhằm đáp ứng nhu cầu của mình

+ Hộ nông dân sản xuất hàng hoá chủ yếu: loại hộ này có mục tiêu là tối đa hoá lợi nhuận được biểu hiện rõ rệt và họ có phản ứng gay gắt với thị trường vốn, ruộng đất, lao động

- Theo tính chất của ngành sản xuất hộ gồm có:

+ Hộ thuần nông: là loại hộ chỉ thuần tuý sản xuất nông nghiệp

+ Hộ chuyên nông: là loại hộ chuyên làm các ngành nghề như cơ khí, mộc nề, rèn, sản xuất nguyên vật liệu xây dựng, vận tải, thủ công mỹ nghệ, dệt, may, làm dịch vụ kỹ thuật cho nông nghiệp

+ Hộ kiêm nông: là loại hộ vừa làm nông nghiệp vừa làm nghề tiểu thủ công nghiệp, nhưng thu từ nông nghiệp là chính

+ Hộ nông lâm kết hợp: là hộ vừa làm nông nghiệp kết hợp với lâm nghiệp

Trang 17

Sự phân nhóm này mang tính chất tương đối, trong phạm vi luận văn để thuận tiện cho việc nghiên cứu và phân tích, tôi chia thành: hộ thuần nông, hộ nông lâm kết hợp và hộ làm hỗn hợp

- Căn cứ vào mức thu nhập của nông hộ: Hộ giàu, hộ khá, hộ Trung bình, hộ nghèo

và hộ đói

Sự phân biệt này dựa vào quy định chung của cả nước hoặc quy định của địa phương Trong luận văn này để đơn giản cho việc phân loại hộ nông dân theo thu nhập, tôi chia thành 3 nhóm như sau:

+ Nhóm 1: Hộ có thu nhập lớn hơn 17 triệu tại thời điểm điều tra

+ Nhóm 2: Hộ có thu nhâp khoảng nhỏ hơn 17 triệu và lớn hơn 12 triệu + Nhóm 3: Hộ có thu nhập nhỏ hơn 12 triệu tại thời điểm điều tra

1.1.3 Đặc điểm của kinh tế hộ nông dân

Nhìn chung kinh tế hộ nông dân có những đặc điểm cơ bản sau: [21,22]

- Kinh tế hộ nông dân là hình thức kinh tế có quy mô gia đình, các thành viên

có mối quan hệ gắn bó với nhau về kinh tế cũng như huyết thống Về mức độ phát triển có thể trải qua các hình thức: kinh tế hộ sinh tồn, kinh tế hộ tự cấp tự túc và kinh tế hộ sản xuất hàng hoá

- Đất đai là yếu tố quan trọng nhất trong các tư liệu sản xuất của hộ nông dân Cuộc sống của họ gắn liền với ruộng đất Giải quyết mối quan hệ giữa nông dân và đất đai là giải quyết vấn đề cơ bản về kinh tế nông hộ Ở nước ta, từ năm 1988 khi Nhà nước giao quyền sử dụng ruộng đất lâu dài cho các hộ nông dân, sản xuất nông nghiệp, mà đặc biệt là sản xuất lúa, đã có mức tăng cao về năng suất và số lượng Người nông dân phấn khởi trong sản xuất

- Kinh tế hộ chủ yếu sử dụng lao động gia đình, việc thuê mướn lao động mang tính chất thời vụ không thường xuyên hoặc thuê mướn để đáp ứng nhu cầu khác của gia đình Một thực tế là hiệu quả sử dụng lao động trong nông nghiệp rất cao, khác với các ngành kinh tế khác

- Sản xuất của hộ nông dân là tập hợp các mục đích kinh tế của các thành viên trong gia đình, thường nằm trong một hệ thống sản xuất lớn hơn của cộng đồng

Trang 18

Kinh tế hộ nông dân là tế bào kinh tế của sản xuất nông nghiệp, tất yếu có quan hệ với thị trường song mức độ quan hệ còn thấp, chưa gắn chặt với thị trường Nếu tách họ ra khỏi thị trường họ vẫn tồn tại

- Kinh tế hộ nông dân có cấu trúc, tổ chức gồm nhiều thành viên liên kết với

nhau vô cùng chặt chẽ với nhau bởi quan hệ hôn nhân và huyết thống Điều này làm cho nó có sức mạnh nội lực, biểu hiện cụ thể là: Có sự nhất trí cao trong việc tổ chức sản xuất, quản lý, phân phối và tiêu dùng sản phẩm lao động; sẵn sàng chủ động cống hiến không tiếc công sức cho sự phát triển của gia đình; có khả năng ứng

xử nhanh nhạy, kịp thời trong mọi tình huống Do đó kinh tế hộ nông dân có khả năng hạn chế đến mức thấp nhất về mâu thuẫn lợi ích, và có sức sống dẻo dai, bền

bỉ Đặc điểm này không chỉ phản ánh tính khác biệt của kinh tế hộ nông dân với các hình thức kinh tế khác, mà còn ảnh hưởng đến qui mô, cơ cấu và hoạt động của chính kinh tế hộ nông dân

- Kinh tế hộ nông dân là tổ hợp kinh tế mang tính thống nhất giữa quyền sở hữu, quyền quản lý và quyền sử dụng các yếu tố sản xuất, đồng thời thống nhất đảm nhiệm tất cả các khâu của quá trình sản xuất tái sản xuất Do đó, kinh tế hộ nông dân vừa là đơn vị sản xuất vừa là đơn vị tiêu dùng

- Kinh tế hộ nông dân có tính cơ động linh hoạt và có khả năng tự điều chỉnh cao trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mình Thật vậy, nếu gặp rủi ro thì nó

có thể chuyển một phần sản phẩm tất yếu thành sản phẩm thặng dư, hoặc lấy thu nhập của ngành này bù cho ngành khác nhằm tạo nguồn lực đầu tư cho quá trình sản xuất tiếp theo Điều đó là do kinh tế hộ nông dân không chỉ có sức sống dẻo dai mà còn thích ứng với nền kinh tế thị trường hiện đại, có khả năng tham gia cạnh tranh kinh tế và sẵn sàng chấp nhận rủi ro trong sản suất, kinh doanh

- Kinh tế hộ nông dân có cơ cấu sản xuất tổ chức quản lý sản xuất và tiêu thụ

sản phẩm vận động theo xu hướng thương phẩm hóa, chuyên môn hóa và đa dạng hóa Trong nền kinh tế thị trường kinh tế hộ nông dân có cơ cấu sản xuất tổ chức quản lý sản xuất và tiêu thụ sản phẩm vận động theo xu hướng thương phẩm hóa, chuyên môn hóa và đa dạng hóa gắn liền với tiến bộ của khoa học công nghệ, phù

Trang 19

hợp với điều kiện tự nhiên, truyền thống ngành nghề và yêu cầu của thị trường, thực hiện theo hướng thuần nông hoặc nông, lâm, ngư kết hợp với các ngành nghề Do

đó, đặc điểm này nói lên tính khác biệt rất cơ bản trong hoạt động sản xuất kinh doanh của kinh tế hộ nông dân so với hoạt động của các ngành kinh tế công nghiệp khác

- Kinh tế hộ nông dân có địa bàn và phạm vi hoạt động rất rộng, lại phụ thuộc

đậm nét vào những điều kiện tự nhiên Chính điều đó làm cho hộ nông dân gặp không ít khó khăn trong việc giải quyết những vấn đề lớn liên quan đến những khâu của quá trình sản xuất và hiệu quả của sản xuất nông nghiệp như: vấn đề thủy lợi, phòng trừ dịch bệnh cho vật nuôi, cây trồng, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật để thực hiện thâm canh tăng năng suất, tìm kiếm thị trường, Đây là những thách thức lớn trong điều kiện hiện nay

1.1.4 Vai trò của kinh tế hộ nông dân đối với sự phát triển nông nghiệp và nông thôn [22,23]

- Thứ nhất, hộ nông dân là đơn vị kinh tế cơ sở chứa đựng một hệ thống các nguồn lực (đất đai, vốn, lao động, tư liệu sản xuất ) và sở hữu các sản phẩm mà mình sản xuất ra

- Thứ hai, hộ nông dân là đơn vị duy trì, tái tạo và phát triển các nguồn lực có hiệu quả cao Với tư cách là đơn vị kinh tế tự chủ, hoạt động sản xuất theo cơ chế thị trường, các hộ nông dân nước ta đã tích cực đẩy mạnh phát triển sản xuất một cách năng động, đa dạng, phù hợp với năng lực và điều kiện cụ thể của mỗi hộ, góp phần quan trọng tạo ra thị trường hàng hoá ngày càng phong phú, dồi dào ngay tại các vùng nông thôn Mặt khác, dưới tác động khách quan của các quy luật kinh tế thị trường, các hộ nông dân đang tìm mọi biện pháp để nâng cao năng lực sản xuất, chất lượng sản phẩm, nâng cao hiệu sản xuất, trên cơ sở sử dụng tốt các nguồn lực sẵn có của từng hộ về vốn, đất đai, lao động, tư liệu sản xuất và tri thức Hệ thống nguồn lực của hộ được sử dụng theo phương thức khác nhau do điều kiện và khả năng sản xuất của từng hộ khác nhau Việc coi hộ là đơn vị tự chủ, đã giúp cho hộ nông dân có điều kiện chủ động đầu tư thâm canh, cải tạo đất làm cho đất ngày càng

Trang 20

tốt hơn và sử dụng tiền vốn, lao động có hiệu quả hơn Họ biết tích luỹ vốn bằng cách “lấy ngắn nuôi dài” trong sản xuất để mở rộng quy mô sản xuất Sản xuất có thu nhập cao là điều kiện để hộ có thể tái đầu tư các nguồn lực Gia đình là tế bào của xã hội, là nơi nuôi dưỡng các thành viên trong gia đình, là đơn vị tạo nguồn lao động, tái sản xuất sức lao động xã hội

Ở nước ta, kinh tế hộ nông dân phát triển mạnh trong những năm gần đây (nhất là kinh tế trang trại gia đình) đã thể hiện vai trò, ưu thế của nó cả về mặt kinh

tế, xã hội, văn hoá và môi trường Có thể khẳng định:

- Kinh tế hộ nông dân sản góp phần thúc đẩy tăng trưởng và phát triển của nông nghiệp và kinh tế nông thôn

- Kinh tế hộ nông dân góp phần giải quyết các vấn đề về văn hoá - xã hội trong nông thôn:

- Kinh tế hộ nông dân hoá góp phần bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường sinh thái:

1.1.5 Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn

1.1.5.1 Quan niệm công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn [2]

- CNH, HĐH nông nghiệp: là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá lớn, gắn với công nghiệp chế biến và thị trường; thực hiện cơ khí hoá, điện khí hoá, thuỷ lợi hoá, ứng dụng các thành tựu khoa học, công nghệ, trước hết là công nghệ sinh học, đưa thiết bị, kỹ thuật và công nghệ hiện đại vào các khâu sản xuất nông nghiệp nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nông sản hàng hoá trên thị trường

- CNH, HĐH nông thôn: là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng tăng nhanh tỷ trọng giá trị sản phẩm và lao động các ngành công nghiệp

và dịch vụ; giảm dần tỷ trọng sản phẩm và lao động nông nghiệp; xây dựng kết cấu

hạ tầng kinh tế – xã hội, quy hoạch phát triển nông thôn, bảo vệ môi trường sinh thái; tổ chức lại sản xuất và xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp; xây dựng nông thôn dân chủ, công bằng, văn minh, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân ở nông thôn

Trang 21

1.1.5.2 Nội dung cơ bản của công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn [2, 7]

- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng hiện đại:

Thứ nhất, chuyển nền nông nghiệp độc canh sang nền nông nghiệp đa canh với

việc hình thành các vùng sản xuất tập trung quy mô lớn Vì vậy, việc chuyển dịch

cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng tạo nên sự đa dạng trong sản xuất và sản phẩm, biến nền nông nghiệp chủ yếu dựa vào sản xuất lúa gạo và hoa màu thành nền nông nghiệp hàng hóa phong phú, đa dạng sẽ đáp ứng tốt hơn nhu cầu của xã hội

Thứ hai, chuyển nền nông nghiệp và kinh tế nông thôn từ trạng thái khép kín

sang nền nông nghiệp đa hàng hóa, hướng mạnh vào xuất khẩu, mở rộng phân công

và hợp tác lao động Chỉ trên cơ sở sản xuất hàng hóa phát triển mới kích thích và thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất, áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ, tạo sự phát triển kinh tế nói chung và nông nghiệp, nông thôn nói riêng Kinh tế hàng hóa phát triển cũng sẽ thúc đẩy quá trình xã hội hóa sản xuất, đẩy mạnh phân công và hợp tác, mở rộng thị trường, tạo sự tích tụ và tập trung sản xuất nhanh chóng, từng bước chuyển nền sản xuất nhỏ, lạc hậu lên nền sản xuất lớn, hiện đại

Thứ ba, chuyển kinh tế nông thôn thuần nông sang phát triển kinh tế nông thôn

tổng hợp nông - công nghiệp - dịch vụ và chuyển dịch lao động nông nghiệp sang lĩnh vực phi nông nghiệp Vì vậy, CNH, HĐH phải tác động tích cực vào nông nghiệp, nông thôn theo hướng phát triển kinh tế nông thôn tổng hợp, bao gồm cả nông nghiệp, công nghiệp và thương mại, du lịch, dịch vụ trong đó giảm tỷ trọng giá trị nông nghiệp, tăng tỷ trọng giá trị các nghành sản xuất phi nông nghiệp Trong

đó, một phận lao động sẽ được dịch chuyển sang lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ

Thứ tư, chuyển dịch cơ cấu thành phần kinh tế theo hướng phát huy cao độ các

nguồn lực trong vùng nông thôn

- Thực hiện cơ giới hóa, điện khí hóa, thủy lợi hóa và sinh học hóa trong nông nghiệp

Trang 22

- Phát triển công nghiệp nông thôn, trong đó chú trọng phát triển các làng nghề truyền thống và làng nghề mới Công nghiệp nông thôn là bộ phận của công nghiệp với các trình độ phát triển khác nhau, phân bổ ở nông thôn, gắn liền với sự phát triển kinh tế xã hội ở nông thôn bao gồm nhiều nghành nghề, đan kết chặt chẽ với kinh tế nông thôn, nhất là sản xuất nông nghiệp Công nghiệp nông thôn không phải

là toàn bộ các hoạt động phi nông nghiệp hoặc bó hẹp trong các hoạt động tiểu thủ công nghiệp ở nông thôn, mà bao gồm bộ phận sản xuất công nghiệp và các dịch vụ

có tính chất công nghiệp ở nông thôn của thợ thủ công chuyên nghiệp và không chuyên nghiệp; các doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, các hợp tác

xã, các tổ sản xuất công nghiệp và thủ công nghiệp, các xí nghiệp công nghiệp khác, quy mô vừa và nhỏ mà hoạt động của nó trực tiếp gắn với kinh tế ở nông thôn

Vì vậy, trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH trong nông nghiệp việc kết hợp phát triển công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ nông thôn ngay từ đầu là hết sức cần thiết đối với một nước thực hiện công nghiệp hóa từ nông nghiệp

- Phát triển nguồn nhân lực cho nông nghiệp, nông thôn:

CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn là sự nghiệp của toàn dân,nhưng trước hết

và trực tiếp là sự nghiệp của nông dân Vì vậy, trình độ của nông dân, đặc biệt là của cán bộ quản lý các cấp ở nông thôn có định hướng rất lớn đến thành công của quá trình này Người nông dân Việt Nam đã có hàng nghàn năm gắn bó với sản xuất nông nghiệp, nên kiến thức của họ về kỹ thuật nông nghiệp cũng gắn rất chặt với kỹ thuật canh tác cổ truyền, còn những kiến thức hiện đại về phát triển nông nghiệp, nông thôn vẫn còn rất thấp, thậm chí nhiều nơi ở vùng sâu, vùng xa còn chưa tiếp cận Họ chỉ quen với cung cách làm ăn của tư duy sản xuất nhỏ, do đó năng suất lao động thấp, làm không đủ ăn Vì vậy, việc đầu tiên phát triển nguồn nhân lực cho nông nghiệp, nông thôn là rất có ý nghĩa, bỡi không có đầu tư nào mang lại nguồn lực lớn như đầu tư vào nguồn nhân lực, đặt biệt là đầu tư cho giáo dục sử dụng nguồn nhân lực trình độ cao sẽ là tăng hàm lượng chất xám trong giá trị hàng hóa,

do đó nâng cao sức cạnh tranh của nông sản phẩm

Trang 23

- Xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật, kinh tế- xã hội nông thôn, đưa nông thôn phát triển ngày càng văn minh, hiện đại CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn phải xây dựng và phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng phục vụ sản xuất và đời sống ở nông thôn Nói đến kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội nông thôn là nói tới những điều kiện phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt ở nông thôn, bao gồm: hệ thống 7 hạ tầng kinh tế, kỹ thuật như: điện, nước, giao thông, thông tin liên lạc, phương tiện đi lại ,

và hệ thống hạ tầng kinh tế, xã hội như: phòng khám đa khoa, bệnh viện, các loại hình thức trường học (mầm non, tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông, dạy nghề ở nông thôn), các loại hình dịch vụ văn hóa như thư viện, bưu điện

1.1.6 Những nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế hộ nông dân trong điều kiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn [7, 12]

Trong sản xuất kinh doanh nông nghiệp, sự phát triển kinh tế hộ nông dân trong điều kiện CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn chịu sự tác động bởi các nhóm yếu như điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế và khả năng tổ chức quản lý và sản xuất, điều kiện về khoa học kỹ thuật và các chính sách của Nhà nước

1.1.6.1 Các nhân tố về điều kiện tự nhiên

a Vị trí địa lý và đất đai

Vị trí đại lý có ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp và đến sự phát triển kinh tế hộ nông dân Những hộ nông dân có được những vị trí thuận lợi như gần đường giao thông, gần cơ sở chế biến nông sản, gần thị trường tiêu thụ sản phẩm, gần trung tâm các khu công nghiệp, đô thị lớn sẽ có điều kiện phát triển sản xuất hàng hoá Thực tế cho thấy, càng ở những vùng xa do vị trí không thuận lợi nên kinh tế hộ nông dân kém phát triển

Những nhân tố về điều kiện tự nhiên phải kể đến là các ưu đãi của tự nhiên có ảnh hưởng trực tiếp đến mảnh đất mà người nông dân canh tác, như thời tiết khí hậu, quá trình hình thành đất có tác động quyết định đến độ phì tự nhiên, vị trí của mảnh đất đó, hay có thể nói gọn lại là địa tô chênh lệch 1 Đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu trong nông nghiệp, quỹ ruộng đất nhiều hay ít, tốt hay xấu đều có ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả sản xuất; đến khả năng sản xuất hàng hoá

Trang 24

b Khí hậu và môi trường sinh thái

Khí hậu thời tiết có ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp Điều kiện thời tiết, khí hậu có lượng mưa, độ ẩm, nhiệt độ, ánh sáng có mối quan hệ chặt chẽ đến sự hình thành và sử dụng các loại đất Những nơi có điều kiện thời tiết, khí hậu thuận lợi, được thiên nhiên ưu đãi sẽ hạn chế được những bất lợi, những rủi ro

do thiên nhiên gây ra và có cơ hội để phát triển nông nghiệp, tăng cường nông sản hàng hoá của các hộ nông dân

Môi trường sinh thái cũng ảnh hưởng đến phát triển kinh tế hộ nông dân, nhất

là nguồn nước, không khí Bởi vì, những cây trồng và con gia súc tồn tại và phát triển theo quy luật sinh học Nếu môi trường sinh thái thuận lợi thì cây trồng, con gia súc phát triển tốt, cho năng suất sản phẩm cao Nếu môi trường sinh thái không phù hợp dẫn đến cây trồng, gia súc phát triển, năng suất, chất lượng sản phẩm giảm,

từ đó sản xuất hiệu quả của hộ nông dân thấp

1.1.6.2 Các nhân tố về điều kinh tế và tổ chức quản lý

a Yếu tố về lao động, vốn sản xuất và cơ sở hạ tầng nông thôn

Người lao động phải có trình độ học vấn và kỹ năng lao động để tiếp thu tiến

bộ khoa học kỹ thuật về kinh nghiệm sản xuất tiên tiến Trong sản xuất phải giỏi chuyên môn, kỹ thuật mới mạnh dạn áp dụng thành tựu khoa học vào sản xuất nhằm đem lại lợi nhuận cao Trình độ học vấn và trình độ chuyên môn, cũng như kinh nghiệm sản xuất của người chủ hộ có vị trí quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến sự thành công và thất bại trong sản xuất hàng hoá của hộ nông dân

Vốn là điều kiện không thể thiếu trong quá trình sản xuất kinh doanh Nó là một yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất và lưu thông hàng hoá Vốn là một trong những yếu tố quyết định sự hình thành hộ sản xuất hàng hoá Khi có quy mô vốn đủ lớn kinh tế hộ mới chuyển thành kinh tế trang trại gia đình

Muốn sản xuất có hiệu quả, năng suất lao động cao cần phải sử dụng một hệ thống công cụ phù hợp Ngày nay với kỹ thuật canh tác tiên tiến, công cụ sản xuất nông nghiệp đã không ngừng được cải tiến và đem lại hiệu quả kinh tế rất lớn cho các hộ nông dân Năng suất cây trồng, vật nuôi không ngừng tăng lên, chất lượng

Trang 25

sản phẩm được đảm bảo tốt hơn Do đó nó ảnh hưởng rất lớn đến kết quả sản xuất của hộ nông dân

Cơ sở hạ tầng chủ yếu trong nông nghiệp nông thôn bao gồm: đường giao thông nông thôn, hệ thống thuỷ lợi, hệ thống điện, trang thiết bị trong nông nghiệp Đây là yếu tố quan trọng trong quá trình phát triển sản xuất hàng hoá của kinh tế hộ nông dân Thực tế cho thấy, nơi nào cơ sở hạ tầng phát triển nơi đó sản xuất phát triển, thu nhập tăng, đời sống của các hộ nông dân được cải thiện

b Yếu tố thị trường

Nói đến thị trường là nói đến yêu cầu của xã hội đối với nông phẩm Trong cơ chế thị trường, các hộ nông dân hoàn toàn tự do lựa chọn hàng hoá họ có khả năng sản xuất Đối với từng hộ nông dân, để đáp ứng yêu cầu thị trường về nông sản hàng hoá, họ có xu hướng liên kết, hợp tác sản xuất với nhau

Nói cách khác thị trường là một quá trình mà trong đó người mua và người bán tác động qua lại để xác định giá cả và sản lượng Cơ chế thị trường bao gồm nhiều nhân tố: hàng hoá, tiền, mua, bán, cung cầu tác động qua lại với nhau

Sản xuất hàng hoá phụ thuộc chủ yếu vào giá cả trên thị trường, những sản phẩm nào được giá thì hộ nông dân chú ý phát triển Vì vậy nhu cầu thị trường sẽ quyết định hộ sản xuất với số lượng hàng hoá bao nhiêu và theo tiêu chuẩn chất lượng nào Thực tế cho thấy vùng nào có thị trường thuận lợi, nơi đó có sản xuất hàng hoá phát triển

Trong cơ chế thị trường, các hộ nông dân hoàn toàn tự do lựa chọn hàng hoá

mà thị trường cần và họ có khả năng sản xuất Từ đó kinh tế hộ có điều kiện phát triển sản xuất hàng hoá

c Yếu tố về hợp tác trong sản xuất kinh doanh

Trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, để cạnh tranh có hiệu quả các

hộ nông dân càng cần có sự hợp tác để có thêm vốn, thêm nhân lực, thêm kinh nghiệm sản xuất và tiến hành sản xuất hàng hoá có hiệu quả cao hơn, tự vệ chống lại sự chèn ép (ép cấp, ép giá) của tư thương Thực tế trong thời gian qua cho thấy,

để đáp ứng yêu cầu của thị trường về nông sản hàng hoá, các hộ nông dân phải liên

Trang 26

kết, hợp tác lại với nhau để sản xuất, hỗ trợ nhau về vốn, kỹ thuật và điều quan trọng là giúp nhau tiêu thụ nông sản phẩm Nhờ có các hình thức liên kết hợp tác

mà các hộ nông dân có điều kiện áp dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật và công nghệ mới vào sản xuất nhằm nâng cao năng suất cây trồng, năng suất gia súc và năng suất lao động của mình

1.1.6.3 Các nhân tố về khoa học kỹ thuật công nghệ

a Yếu tố kỹ thuật canh tác

Do điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của mỗi vùng có khác nhau, với yêu cầu giống cây, con khác nhau đòi hỏi phải có kỹ thuật canh tác khác nhau Trong nông nghiệp, tập quán, kỹ thuật canh tác của từng vùng, từng địa phương có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sản xuất nông nghiệp và phát triển kinh tế hộ nông dân sản xuất hàng hoá

b Yếu tố ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ

Sản xuất của hộ nông dân không thể tách rời những tiến bộ khoa học kỹ thuật,

vì nó tạo ra cây trồng, vật nuôi có năng suất cao, chất lượng tốt Thực tế cho thấy những hộ nhạy cảm với tiến bộ kỹ thuật về giống, công nghệ sản xuất, hiểu biết thị trường, dám đầu tư lớn và chấp nhận những rủi ro trong sản xuất nông nghiệp, họ giầu lên rất nhanh Nhờ có công nghệ mà các yếu tố sản xuất như lao động, đất đai, sinh vật, máy móc và thời tiết khí hậu được kết hợp với nhau để tạo ra sản phẩm nông nghiệp Như vậy, việc ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất hàng hoá phát triển, thậm chí những tiến bộ kỹ thuật có thể làm thay đổi hẳn trình

độ sản xuất của một vùng

1.1.6.4 Các nhân tố thuộc về quản lý vĩ mô của Nhà nước

Nhóm các yếu tố này bao gồm các chính sách, chủ trương của Đảng và Nhà nước như: Chính sách thuế, chính sách ruộng đất, chính sách bảo hộ sản phẩm, trợ giá nông sản phẩm, miễn thuế cho sản phẩm mới, chính sách cho vay vốn, giải quyết việc làm, chính sách đối với đồng bào đi xây dựng vùng kinh tế mới… Ngoài các yếu tố như đã nêu ở trên, hộ nông dân còn có những điều kiện khác ảnh hưởng đến mức độ sản xuất, đó là việc nắm bắt được nhu cầu thị trường; khả năng gắn sản

Trang 27

xuất, chế biến và bao tiêu sản phẩm, đồng thời phải có kỹ năng tổ chức sản xuất và tiếp cận thị trường, có sản phẩm thặng dư

Các chính sách kinh tế có ảnh hưởng lớn đến sản xuất của nông hộ Chính sách kinh tế là công cụ đắc lực để Nhà nước can thiệp vào sản xuất, khuyến khích hoặc hạn chế sản xuất loại nông sản hàng hoá Từ năm 1988 trở lại đây, theo tinh thần Nghị quyết 10 giao quyền sử dụng đất lâu dài cho các hộ nông dân và hàng loạt các chính sách được ban hành như chính sách thị trường thống nhất trong cả nước, chính sách một giá, chính sách cho nông dân vay vốn, chính sách thuế đất v.v , sản xuất hàng hoá đã phát triển nhanh chưa từng có Từ chỗ phải nhập khẩu lương thực triền miên trong vài thập kỷ, năm 1989 nước ta đã có 1,4 triệu tấn gạo hàng hoá để xuất khẩu và từ đó đến nay trung bình hàng năm đã xuất 1,5 - 2,0 triệu tấn gạo và một số nông sản khác như cao su, cà phê v.v Giá trị nông sản xuất khẩu tăng nhanh

Nhóm các yếu tố tác động, ảnh hưởng đến phát triển kinh tế hộ nông dân được minh hoạ qua hình 1.1

Trang 28

Hình 1.1 Sơ đồ ảnh hưởng của các yếu tố đến sự phát triển kinh tế hộ nông

dân trong điều kiện CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn

1.2 Tổng quan về phát triển kinh tế hộ nông dân trong điều kiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn

Quản lý vĩ mô

Chính sách thuế Chính sách đất đai Chính sách tín dungdụng

Sản xuất hộ nông dân

Kinh tế-Tài chính

Vốn-Cơ cấu, kết cấu

hạ tầng Thị trường

Kỹ năng lao động Liên kết- Hợp tác

Điều kiện tự nhiên

Vị trí địa lý Đất đai khí hậu Môi trường

Khoa học- Công

nghệ

Kỹ thuật canh tác

Ứng dụng KHKT

Trang 29

tập trung các chính sách, giải pháp để đưa nhanh các tiến bộ khoa học công nghệ và phục vụ sản xuất, từ giống cây trồng, vật nuôi đến vật tư, kỹ thuật, máy móc thiết

bị, công nghệ sản xuất và chế biến nông sản trên cơ sở tham khảo và vận dụng kinh nghiệm của thế giới nhưng có chọn lọc, cải tiến, sáng tạo nhằm đạt hiệu quả kinh tế cao với chi phí thấp Đồng thời khuyến khích việc thành lập các hợp tác xã dịch vụ đầu vào và đầu ra để phục vụ cho sản xuất kinh doanh của các trang trại và hộ nông dân Số trang trại chuyên làm nông nghiệp trong giai đoạn 1960-2002 giảm trên 3 lần, từ 2 triệu xuống chỉ còn 620.000 cơ sở Các trang trại có thu nhập từ nghề nông nghiệp giảm dần, làm nghề ngoài nông nghiệp tăng lên Mạng lưới các hợp tác xã cung ứng vốn, vật tư, thiết bị nông nghiệp và tiêu thụ nông sản có chân rết đến từng làng xã Ở Nhật Bản có hơn 400.000 hợp tác xã dịch vụ nông thôn đã cung cấp cho nông nghiệp 70% phân bón, 50% hóa chất khác, 40% thức ăn gia súc, 45% máy công nghiệp và đảm nhiệm tiêu thụ 95% sản phẩm lúa gạo, 25% rau quả, 16% sản phẩm thịt

Nhà nước khuyến khích phát triển ngành nghề truyền thống hướng vào các hàng hoá tinh, mẫu mã đẹp, giá thành hạ để thu hút lao động nông thôn và tăng thu nhập cho nông dân Đặc biệt Chính phủ Nhật Bản đã thành công trong việc xây dựng mô hình phát triển công nghiệp 3 tầng theo nguyên tắc liên hoàn có quan hệ chặt chẽ với nhau, hỗ trợ nhau phát triển Trong đó tầng 3 là công nghiệp hộ gia đình nông dân thực hiện các hợp đồng gia công sản xuất các chi tiết máy đơn giản, yêu cầu kỹ thuật thấp cho các xí nghiệp ở tầng 2 và cả tầng 1 Hoạt động của hệ thống công nghiệp 3 tầng đã thúc đẩy chuyển dịch lao động từ khu vực nông nghiệp sang khu vực công nghiệp ngay tại các vùng nông thôn

b Thái Lan

Thái Lan là một nước trong khu vực Đông Nam châu Á, vốn là nước độc canh cây lúa nước đã vươn lên với tốc độ tăng trưởng nhanh gắn với đa dạng hóa trong sản xuất nông nghiệp Thái Lan chủ trương ưu tiên đặc biệt cho việc chuyển dịch từ độc canh cây lúa sang đa dạng cây con trong nông nghiệp để thúc đẩy nhanh nền kinh tế quốc dân và kinh tế hộ nông dân Thái Lan ứng dụng nhanh các thành

Trang 30

quả khoa học - công nghệ sinh học, hóa học, thủy lợi cũng như công nghiệp hóa nhanh ngành nông nghiệp: cơ giới hóa làm đất, thu hoạch, chế biến Sản phẩm nông nghiệp có sức cạnh tranh ở thị trường trong nước và trên thế giới do chất lượng cao, giá thành thấp Chính phủ Thái Lan chủ động phát triển nông nghiệp, nâng cao khả năng cạnh tranh với nước ngoài, mở rộng thị trường xuất khẩu, khuyến khích nông dân trồng các loại cây có giá trị xuất khẩu lớn, xây dựng các công trình thủy lợi, trợ giá cho sản xuất nông nghiệp thông qua việc giảm giá phân bón, thuốc trừ sâu, giảm thuế nhập khẩu máy móc, công cụ, các thiết bị nông nghiệp

và thông qua thị trường xuất khẩu để nâng giá nông sản Từ đó thu nhập của người dân trong nông nghiệp được nâng cao

Song trong quá trình thực hiện có bộc lộ một số vấn đề còn tồn tại: đó là việc mất cân bằng sinh thái, là hậu quả của một nền nông nghiệp làm nghèo kiệt đất đai Kinh tế vẫn mất cân đối giữa các vùng, xu hướng nông dân rời bỏ nông thôn ra thành thị lâu dài hoặc rời bỏ nông thôn theo mùa vụ ngày càng gia tăng

c Trung Quốc

Ở Trung Quốc, từ năm 1982 đã nhanh chóng thực hiện chế độ khoán đến từng

hộ Năm 1984 Nhà nước giao quyền sử dụng ruộng đất lâu dài cho nông dân Đồng thời Chính phủ đưa ra chính sách khuyến khích tích cực việc mở mang ngành nghề

và dịch vụ, khuyến khích sản xuất hàng hoá và khuyến khích các thành phần kinh tế trong nông thôn cũng phát triển Cải cách giá cả thu mua nông sản theo hình thức

“cách kéo giá cả hợp lý”, để bảo trợ sản xuất và thu nhập của nông dân Đẩy mạnh phát triển các xí nghiệp Hương trấn với ngành nghề chính như gia công nông phẩm, phát triển công nghiệp, dịch vụ trên cơ sở “li nông bất li hương”, “lấy công bù nông” đã tạo điều kiện cho phát triển sản xuất nông nghiệp hiện đại hoá nông nghiệp và thu hút được số lao động dư thừa trong nông nghiệp Xây dựng hệ thống dịch vụ xã hội ở nông thôn: ngoài nông nghiệp, công nghiệp Hương trấn, hệ thống dịch vụ ở nông thôn đã hình thành như một ngành độc lập Hệ thống dịch vụ ra đời trước hết đáp ứng nhu cầu sản xuất hàng hóa theo mô hình kinh tế hộ Hệ thống dịch vụ này có thể làm cầu nối giữa hộ gia đình và thị trường Nhà nước luôn duy trì

Trang 31

được vai trò quản lý vĩ mô trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn để phát triển kinh tế hộ nông dân theo hướng CNH, HĐH

d Malaixia

Ở Malaixia kinh tế hộ nông dân đã đóng góp phần quan trọng vào phát triển nông nghiệp, kinh tế hộ sản xuất hàng hoá ngày càng chiếm ưu thế Năm 1998, với việc phát triển CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn, áp dụng các thành tựu khoa học

kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp từ khâu chế biến đến khâu tiêu thụ, hướng phát triển kinh tế hộ nông dân theo mô hình trang trại,nền kinh tế trang trại gia đình đóng góp 9% kim ngạch xuất khẩu và 11% GDP, thu hút tới 88% lực lượng lao động nông nghiệp , góp phần rõ rệt trong việc xoá đói giảm nghèo, nâng cao thu nhập và liên kết các bang nghèo xa xôi vào sự thống nhất kinh tế đa sắc tộc của quốc gia

1.2.1.2 Kinh tế trang trại một số nước Châu Âu

a Pháp

Ở Pháp, với việc chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp theo hướng CNH, HĐH và tập trung phát triển kinh tế hộ trong theo hướng trang trại mà năm 1955 có 2.285.000 trang trại, đến năm 2003 còn 801.400 trang trại Tốc độ trang trại giảm mỗi năm bình quân 2,7% Diện tích bình quân của các trang trại tăng lên Diện tích trang trại qua các năm có xu hướng tăng lên ở Pháp năm 1955 là 12 ha, năm 2003

có 35,1 ha Số trang trại dưới 5 ha chiếm 27,6%, số trang trại từ 5-20 ha chiếm 22,6

%, số trang trại trên 20 ha chiếm 49,8% Bình quân quy mô về diện tích của trang trại ở Pháp là 29,2 ha, 42% thu nhập của trang trại là từ ngoài nông nghiệp Hiện nay, các trang trại gia đình sản xuất ra lượng nông sản gấp 2,2 lần nhu cầu trong nước với tỷ suất hàng hoá về ngũ cốc là 95%, thịt sữa 70-80%, rau quả trên 70% và riêng năm 1991 đã xuất khẩu trên 24 triệu tấn ngũ cốc

b Mỹ

Phát triển kinh tế hộ nông dân theo hình thức trang trại gia đình đã và đang là lực lượng chủ yếu sản xuất ra các loại nông sản, đáp ứng nhu cầu đa dạng của con người Nước Mỹ là nơi có kinh tế trang trại phát triển với trình độ cao Năm 1950 ở

Mỹ có 5.648.000 trang trại và các trang trại có xu hướng giảm dần về số lượng

Trang 32

Năm 1960 có 3.962.000 trang trại, năm 1970 có 2.954.000, năm 2002 còn 1.925.000 trang trại Trong khi đó diện tích bình quân của các trang trại cũng tăng lên, năm 1950 là 86 ha, năm 1960 là 120 ha, năm 1970 là 151 ha, và năm 2002 là 198,7 ha Hiện nay, ở Mỹ các trang trại gia đình đã sản xuất ra hơn 50% sản lượng đậu tương và ngô của toàn thế giới, xuất khẩu 40-50 triệu tấn lúa mỳ, 50 triệu tấn ngô, đậu tương Các trang trại ở Mỹ nhờ áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất kinh doanh nên sản lượng nông sản làm ra của một lao động nông nghiệp đến năm 1990 đủ để nuôi được 80 người

c Anh

Tại Anh từ cuối thế kỷ XVII cuộc Cách mạng Tư sản đã phá bỏ triệt để chế

độ bãi chăn thả công và các cơ chế có lợi cho nông dân nghèo, nên đã thúc đẩy quá trình tập trung hoá ruộng đất và tập trung hoá các nông trại nhỏ Tuy vậy sang giữa thế kỷ XIX chế độ bãi chăn thả công và nông trại nhỏ chiếm một tỷ lệ cao Sau chiến tranh thế giới thứ hai, diện tích nông trại bình quân lên đến 36 ha nông trại nhỏ dưới 5 ha chiếm 1/3

d Hà Lan

Ở Hà Lan quy mô đất canh tác bình quân một nông trại là 10 ha, họ sử dụng lao động gia đình là chủ yếu, chỉ thuê 1-2 lao động những lúc mùa vụ căng thẳng, nông trại có đủ công cụ máy móc cần thiết, có 17% số trang trại nuôi từ 100 - 300 con lợn và chiếm 43,7% đàn lợn của cả nước, một lao động nông nghiệp nuôi được

112 người Quy mô bình quân đất canh tác của một nông trại là 31,7ha, 87% số trang trại sử dụng lao động gia đình là chủ yếu, khoảng 13% số trang trại có thuê từ

1 đến 2 lao động, một lao động nông nghiệp nuôi được 160 người

1.2.1.4 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

Từ thực tế phát triển kinh tế nông nghiệp ở một số nước với trình độ phát triển và chế độ chính sách khác nhau cho thấy:

- Ở các nước phát triển, trong giai đoạn đầu có số lượng nông trại lớn với quy mô nhỏ Theo bước tiến của công nghiệp hóa, số lượng nông trại giảm dần, quy

mô nông trại tăng lên Nông sản phẩm hàng hóa tăng lên nhanh chóng Do đó, đã

Trang 33

thúc đẩy những tiến bộ về khoa học kỹ thuật, về cơ giới hóa, điện khí hóa và ngày này là tin học hóa đang ngày càng xâm nhập nông nghiệp, nông thôn

- Ở các nước đang phát triển, kinh tế nông nghiệp gia đình ở dạng kinh tế nông hộ tự cấp, tự túc còn chiếm một bộ phận quan trọng Bộ phận kinh tế nông hộ chuyển sang kinh tế nông trại sản xuất hàng hóa ngày một nhiều Sự chuyển dịch này là một bước đi tất yếu, một quy luật khách quan Bước đi nhanh hay chậm là tùy thuộc vào trình độ dân trí, tiến bộ khoa học kỹ thuật, thể chế nhà nước và các chính sách khuyến khích có hiệu lực

Qua nghiên cứu quá trình phát triển kinh tế hộ nông dân trong điều kiện CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn của một số nước trên thế giới, có thể rút ra một

số bài học cho quá trình phát triển kinh tế hộ nông dân trong điều kiện CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn ở nước ta như sau:

- Để xây dựng một nền công nghiệp hiện đại trong thời kỳ đầu cần tập trung phát triển nông nghiệp và đặc biệt là kinh tế hộ nông dân, coi đó là điều kiện cơ bản

để ổn định đời sống nhân dân, tạo nguồn tích lũy từ nội bộ nền kinh tế cho công cuộc CNH, HĐH Nghiên cứu kinh nghiệm ở các nước và lãnh thổ cho thấy, để phát triển kinh tế phải dựa vào tiềm năng thế mạnh của nền kinh tế dân tộc, khai thác và

sử dụng có hiệu quả các nguồn lực sẵn có để phát triển Hầu như Chính phủ các nước đều có chủ trương bắt đầu từ sản xuất nông nghiệp, lấy tăng trưởng nông nghiệp làm cơ sở để ổn định đời sống xã hội, tạo nguồn tích lũy ban đầu cho CNH, HĐH, nâng cao thu nhập người dân nông thôn Để làm được điều đó, trong cơ cấu ngành nông nghiệp phải chuyển dịch theo hướng đa dạng hóa, phá bỏ độc canh, phát triển nông nghiệp toàn diện, đưa chăn nuôi, thủy sản thành ngành sản xuất chính Chính sách đa dạng hóa nông nghiệp, lấy nông nghiệp làm điểm tựa đã làm cho thu nhập của nông dân tăng lên, giúp họ tham gia vào thị trường mua sắm hàng hóa, làm tăng cầu, góp phần tiêu thụ hàng hóa công nghiệp, tạo lập được thị trường trực tiếp cho các ngành công nghiệp nội địa Trong giai đoạn đầu phát triển kinh tế, Chính phủ của hầu hết các nước đều có chủ trương coi trọng sản xuất nông nghiệp, lấy tăng trưởng nông nghiệp là cơ sở để ổn định đời sống xã hội và tích luỹ bước

Trang 34

đầu cho công nghiệp Để phát triển công nghiệp, không phải quốc gia nào cũng có thể nhờ được sự trợ giúp của nước ngoài mà hầu như phải dựa vào nguồn tích luỹ từ một ngành sản xuất truyền thống là nông nghiệp Tích luỹ của nông nghiệp mà chủ yếu là tích lũy kinh tế của các hộ nông dân đã mang lại cho nền kinh tế các nước dưới nhiều hình thức, trong đó chủ yếu bằng địa tô, thuế, tiết kiệm của nông dân và xuất khẩu nông sản

- Nhà nước thực hiện các chính sách kích thích bằng lợi ích kinh tế đối với nông dân thông qua việc tài trợ “đầu vào”, chính sách trợ giá nông sản, chính sách thuế, tín dụng ưu đãi đối với những mặt hàng nông sản mới để giảm rủi ro khi tham gia vào thị trường trong nước và thế giới Thời kỳ 1991 - 1995, chính phủ Thái Lan cho vay vốn với lãi suất thấp dưới 5%/năm và vay vật tư giá rẻ, trả bằng thóc hoặc các nông sản khác Ngoài thành phần chủ yếu trong sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn là kinh tế hộ nông dân, Chính phủ các nước đều quan tâm và có chính sách hỗ trợ, khuyến khích xây dựng mạng lưới các hợp tác xã dịch vụ để phục vụ các yếu tố đầu vào như vật tư nông nghiệp, dịch vụ kỹ thuật, tín dụng… và tiêu thụ các sản phẩm đầu ra cho các hộ gia đình, nông dân

- Áp dụng chính sách đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn để chuyển

từ chỗ chỉ nhằm phát triển một vài loại nông sản truyền thống sang phục vụ các loại cây trồng mới, các ngành sản xuất mới và các hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn Từ đó có thể phát triển tốt kinh tế hộ nông dân

- Tập trung triển khai các công trình nghiên cứu, ứng dụng rộng rãi những thành tựu khoa học và công nghệ tiên tiến vào trồng trọt, chăn nuôi, vào công nghiệp chế biến và dịch vụ nông thôn nhằm khuyến khích phát triển nhanh các loại sản phẩm mới có giá trị kinh tế cao Kinh tế nông nghiệp, nông thôn chỉ có thể phát triển khi mọi thành phần kinh tế trong khu vực hướng vào sản xuất hàng hoá, trong

đó nông dân là lực lượng chủ yếu tham gia sản xuất nông nghiệp Qua nghiên cứu cho thấy, điều kiện cơ bản đầu tiên để nông dân sản xuất nông sản hàng hoá là được quyền sở hữu tư liệu sản xuất (trong đó có ruộng đất) và tổ chức sản xuất bằng hình thức tập trung hoá ruộng đất dưới nhiều hình thức khác nhau như chuyển nhượng,

Trang 35

thuê thầu… Do tập trung chuyên môn hoá sản xuất nông nghiệp nên các hộ gia đình nông dân có điều kiện thâm canh tăng năng suất, tập trung sản xuất một khối lượng nông sản hàng hoá lớn đủ sức cạnh tranh trên thị trường Sản xuất hàng hoá trong nông nghiệp đã kéo theo các ngành công nghiệp cơ khí, hoá chất, điện, chế biến…có được thị trường nội địa và các ngành dịch vụ tiêu thụ hàng hoá, cung ứng vật tư - kỹ thuật, dịch vụ tài chính…trong khu vực nông thôn hình thành và phát triển Kết quả của các hoạt động trên đã tạo động lực thúc đẩy cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn chuyển dịch theo hướng nông - công nghiệp, dịch vụ và làm cho tình hình kinh tế hộ phát triển mạnh mẽ, dẫn đến bộ mặt kinh tế xã hội nông thôn chuyển dần theo hướng đô thị hoá

- Để phát triển kinh tế hộ nông dân theo hướng CNH, HĐH thì Nhà nước cần quan tâm xây dựng kết cấu hạ tầng phục vụ cho sản xuất nông nghiệp và nông thôn, trong đó huyết mạch là các công trình thuỷ lợi, giao thông và điện Phát triển kết cấu hạ tầng ở nông thôn trước tiên là nhằm vào mục tiêu sản xuất nông sản hàng hoá, sau đó là bảo đảm tính cân đối trong nền kinh tế quốc dân Đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng làm cho chi phí vận chuyển hàng hoá giảm, mở rộng thị trường nông sản cho nông dân, hoạt động dịch vụ ở nông thôn phát triển hơn, giao lưu hàng hoá nông thôn được thuận lợi Đồng thời còn là động lực thúc đẩy các ngành công nghiệp cơ khí, gia công, chế biến… hình thành và phát triển ngay tại địa bàn nông thôn như “xí nghiệp Hương trấn” ở Trung Quốc, xí nghiệp tầng 2 và 3 ở Nhật Bản Bằng chủ trương xây dựng xí nghiệp Hương trấn (Trung Quốc), đưa công nghiệp về nông thôn (Nhật Bản)… đã giúp các nước và lãnh thổ giải quyết việc làm cho phần lớn lực lượng lao động dư thừa ở nông thôn Đó chính là biện pháp nhằm chuyển đổi nền nông nghiệp thuần nông sang đa canh, đa ngành, phát triển kinh doanh tổng hợp nông, công nghiệp và dịch vụ trên địa bàn nông thôn

- Phát triển kinh tế hộ nông dân trong điều kiện CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn khi thực hiện quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn, hầu hết các nước đã từng bước tập trung phát triển các ngành nghề thủ công truyền thống, tạo điều kiện để phát triển công nghiệp và dịch vụ nông thôn Tuỳ

Trang 36

theo điều kiện của mỗi nước, các nước thực hiện CNH, HĐH nông nghiệp với các chương trình cơ khí hoá, hoá học hoá, thuỷ lợi hoá và ứng dụng tiến bộ công nghệ sinh học vào sản xuất, bảo quản, chế biến nông sản Thành công trong bước đi này làm cho năng suất cây trồng, vật nuôi và năng suất lao động tăng lên, từ đó kinh tế

hộ tăng lên

Tóm lại, qua nghiên cứu việc phát triển kinh tế hộ nông dân trong điều kiện CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn ở một số nước trên thế giới, một số kinh nghiệm rút ra được từ thực tế phát triển Đó sẽ là những bài học quý báu giúp nước

ta thực hiện thành công việc phát triển kinh tế hộ nông dân trong điều kiện CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và phát triển đất nước

Vì vậy, từ khi có Chỉ thị 100 (01/1981), ngày 31-1-1981 của Ban Bí thư về

Trang 37

cải tiến công tác khoán, mở rộng khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động trong hợp tác xã, đặc biệt là từ Nghị quyết số 10-NQ/TƯ ngày 5-4-1988 của Bộ Chính trị về đổi mới quản lý nông nghiệp đã tạo cơ sở quan trọng để kinh tế hộ nông dân trở thành đơn vị kinh tế tự chủ trong nông nghiệp Hộ nông dân được tiến hành sản xuất hàng hoá, hạch toán kinh doanh và có đầy đủ tư cách pháp nhân và quyền bình đẳng như mọi chủ thể kinh tế khác thì mô hình kinh tế hộ mới được chú

ý, kinh tế hộ từng bước được khởi sắc và phát triển

Với mục tiêu giải phóng sức lao động, phát huy mọi tiềm năng của các thành phần kinh tế, chuyển nền nông nghiệp nước ta sang sản xuất hàng hoá Nghị quyết

10 đã nêu lên những chủ trương giải pháp cơ bản để phát triển kinh tế hộ, đó là: Giao khoán ruộng đất đến hộ và nhóm hộ xã viên ổn định lâu dài, hoá giá các tư liệu sản xuất và cơ sở vật chất kỹ thuật của hợp tác xã mà tập thể quản lý không có hiệu quả để bán cho xã viên sử dụng Thực hiện việc khoán đến hộ và khuyến khích làm giàu chính đáng Khuyến khích phát triển kinh tế gia đình, kinh tế cá thể và tư nhân trong nông nghiệp Mở rộng thị trường nông sản, chấp nhận quyền tự chủ tiêu thụ nông sản của hộ nông dân Sắp xếp đổi mới cơ chế quản lý hợp tác xã, các đơn

vị kinh tế quốc doanh nông, lâm, ngư nghiệp

Thực hiện đường lối đổi mới, Đảng và Nhà nước đã đề ra một số chủ trương, chính sách lớn nhằm khuyến khích phát triển kinh tế hộ nông dân sản xuất hàng hoá theo hướng CNH, HĐH Nghị quyết số 06 - NQ/TƯ ngày 10 tháng 11 năm 1998 của Bộ chính trị về một số vấn đề phát triển nông nghiệp và nông thôn đã chỉ rõ “ Tiếp tục khuyến khích kinh tế hộ phát triển mạnh mẽ để tạo ra lượng sản phẩm hàng hoá đa dạng có chất lượng, giá trị ngày càng cao, tăng thu nhập cho mỗi gia đình nông dân, cải thiện đời sống mọi mặt ở nông thôn, cung cấp sản phẩm cho đô thị, công nghiệp và xuất khẩu, đồng thời thực hiện việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngày

từ kinh tế hộ” [1, 19]

Trên nền tảng kinh tế tự chủ của hộ nông dân đã hình thành các trang trại được đầu tư vốn, lao động với trình độ công nghệ và quản lý cao hơn, nhằm mở rộng quy mô sản xuất hàng hoá và nâng cao năng suất, hiệu quả và sức cạnh tranh

Trang 38

trong cơ chế thị trường Nghị quyết số 03/2000/NQ -CP ngày 02 tháng 02 năm 2000 của Chính phủ về kinh tế trang trại đã khẳng định “Kinh tế trang trại là hình thức tổ chức sản xuất hàng hoá trong nông nghiệp, nông thôn, chủ yếu dựa vào hộ gia đình, nhằm mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả sản xuất trong lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản, trồng rừng, gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ nông, lâm, thuỷ sản” [1, 19] Nghị quyết đã đề ra các biện pháp về kinh tế và tổ chức nhằm khuyến khích phát triển kinh tế trang trại ở nước ta trong những năm tới Vì vậy, thực hiện đường lối đối của Đảng và Nhà nước, kinh tế hộ nông dân đã phát huy tác dụng to lớn, tạo sức mạnh mới trong sự phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn

1.2.2.2 Kết quả đạt được của việc phát triển kinh tế hộ nông dân trong điều kiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn ở Việt nam

a Thành tựu đạt được [21]

Thành tựu nổi bật của những năm đổi mới vừa qua là đã giải quyết vững chắc vấn đề lương thực, đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, biến Việt Nam từ một nước thiếu lương thực triền miên thành nước xuất khẩu gạo lớn liên tục từ năm

1988 theo hướng năm sau cao hơn năm trước trong nhiều năm liền

Chủ trương, chính sách về giao quyền sử dụng ruộng đất lâu dài cho kinh tế

hộ (đất nông nghiệp 20 năm, đất lâm nghiệp 50 năm) đã nhanh chóng đi vào cuộc sống của hàng triệu hộ nông dân Diện mạo của kinh tế hộ nông dân Việt Nam đã thay đổi một cách cơ bản, nhất là ngày càng có nhiều đóng góp cho việc giải phóng sức sản xuất, nâng cao sản lượng nông nghiệp, mở mang ngành nghề mới, nâng cao thu nhập Theo số liệu điều tra của tổng cục tổng thống kê năm 2008, trên 74,5% số

hộ đã có từ 2 - 4 loại hình hoạt động sản xuất, kinh doanh để tạo thu nhập Cơ cấu

hộ nông dân theo ngành nghề đang chuyển dịch theo hướng tăng dần số lượng và tỷ trọng nhóm các hộ tham gia sản xuất phi nông nghiệp, như công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ; số hộ làm nông, lâm nghiệp và thủy sản giảm từ 80,9% năm 2001 xuống còn 70,9% năm 2006 Giai đoạn 2001 - 2006 GDP nông nghiệp đóng góp 20,23% vào cơ cấu kinh tế, thì trong số đó, đã có tới 40% dân số nông

Trang 39

thôn có nguồn thu từ công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ Đây là một động thái tích cực

Trong bản thân lĩnh vực sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản, số hộ sản xuất thuần túy nông nghiệp giảm dần, trong lúc số hộ tham gia sản xuất lâm nghiệp, thủy sản tăng lên Tuy thời gian phát triển kinh tế trang trại chưa dài, nhưng những kết quả đạt được đã thể hiện là nhân tố mới trong nông nghiệp và nông thôn, góp phần tích cực chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi, cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn Theo số liệu điều tra của tổng cục thống kê, bình quân 10 năm 2000 -

2010 so với bình quân năm năm trước đó, sản lượng lạc tăng 34%, mía tăng 74%,

cà phê tăng 2,8 lần, cao su tăng 87%, hồ tiêu tăng 68%, chè tăng 27,3% Các loại cây ăn quả đặc sản có chất lượng cao phát triển mạnh, nhất là nho, vải thiều, nhãn, mận hậu, cam…đã đem lại hiệu quả kinh tế - xã hội rõ nét ở nhiều vùng trong cả nước Bình quân 5 năm trước đó đàn trâu tăng 5%, đàn bò tăng 10%, đàn lợn tăng 20%, đàn gia cầm tăng 25%, sản lượng trứng tăng 33% Sản lượng lâm nghiệp tiếp tục phát triển, trong khó khăn nhiều mặt những vẫn đạt được kết quả và tiến

độ nhất định trong cả hai lĩnh vực trồng rừng và khai thác gỗ, lâm sản Diện tích trồng rừng năm 1999 đạt 200 nghìn ha, góp phần quan trọng giảm bớt diện tích đất trống đồi núi trọc và tăng tỷ lệ che phủ đất rừng từ năm 1990 là 28,4% lên 33,2% năm 2000

Hiện nay cả nước có gần 150 nghìn trang trại với hơn 900 nghìn ha (bình quân mỗi trang trại khoảng 6 ha) Lấy năm 2006 so với năm 2001, thì vùng Đông Nam Bộ, số lượng trang trại tăng khoảng 30,6%; Đồng Bằng Sông Cửu Long tăng hơn 11,6% Vùng Đồng Bằng sông Cửu Long có số trang trại nhiều nhất, chiếm tỷ trọng hơn 50% tổng số trang trại của cả nước Kinh tế trang trại thời gian qua phát triển với nhiều loại hình: Trang trại trồng cây lâu năm, trang trại chăn nuôi, trang trại nuôi trồng thuỷ sản, trang trại sản xuất kinh doanh tổng hợp Theo điều tra của

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, năm 2006, các trang trại đã sử dụng gần

500 nghìn ha đất và mặt nước Trong đó diện tích cây trồng hàng năm chiếm khoảng 37,3%, diện tích trồng cây lâu năm chiếm 26%, đất lâm nghiệp 18,7%, diện tích mặt nước nuôi trồng thuỷ sản 18% Đột phá lớn nhất trong quá trình chuyển

Trang 40

dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn là nuôi trồng thuỷ sản với hiệu quả cao hơn nhiều lần so với các loại cây trồng, vật nuôi khác Đến nay cả nước đã có khoảng 30 nghìn trang trại nuôi trồng thuỷ sản, thu hút và giải quyết việc làm ổn định hàng trăm nghìn lao động Ở Đồng Bằng Sông Cửu Long, nuôi trồng thuỷ sản được xác định là kinh tế mũi nhọn, chiếm khoảng 78% số trang trại nuôi trồng thuỷ sản của cả nước Năm 2006 bình quân giá trị sản lượng/ha canh tác của trang trại từ

35 triệu đồng đến 50 triệu đồng, trong đó trang trại nuôi trồng thuỷ sản, hoặc cây trồng đặc sản đạt hơn 100 triệu đồng/ ha/ năm Những kết quả trên đã mở ra khả năng và hướng đầu để phát triển kinh tế trang trại

b Khó khăn và thách thức

Qua việc nghiên cứu khả năng phát triển kinh tế hộ nông dân trong điều kiện CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn ở Việt Nam, một số khó khăn và thách thức trong thời gian tới là:

+ Khó khăn và thách thức lớn đối với nông dân nước ta nói chung và kinh tế

hộ nói riêng trong điều kiện CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn là chênh lệch lớn

về năng suất lao động giữa công nghiệp, dịch vụ và nông nghiệp Đây là một trong

số các nguyên nhân chính đang làm tăng thêm khoảng cách cả thu nhập lẫn mức chi tiêu giữa nông thôn và thành thị

+ Tốc độ chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp trong tổng thể nền kinh tế

và trong nội bộ ngành diễn ra chậm Tỷ trọng của sản xuất nông nghiệp trong cơ cấu nông, lâm, ngư nghiệp còn rất lớn (trên 70% giá trị sản xuất toàn ngành) Cơ cấu cây trồng vật nuôi vẫn chưa có thay đổi đáng kể, tỷ trọng chăn nuôi năm 2009 mới đạt trên 27,1% giá trị sản xuất nông nghiệp Tỷ trọng giá trị sản xuất cây công nghiệp trong trồng trọt mới đạt khoảng 25,6% năm 2009 so với mục tiêu 45% Quá trình chuyển đổi bộc lộ một số điểm không chắc chắn: thể hiện qua sự tăng trưởng không ổn định của từng ngành, từng lĩnh vực

+ Khoa học và công nghệ trong nông, lâm, ngư nghiệp phát triển chậm, nhiều mặt còn lạc hậu nên đa số các loại cây trồng, vật nuôi đều có năng suất, chất lượng, khả năng cạnh tranh thấp, giá thành cao, kém hiệu quả và chưa bền vững Quan hệ sản xuất chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển nông nghiệp hàng hóa theo

cơ chế mới

Ngày đăng: 31/08/2017, 08:34

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w