Nhằm sử dụng rừng và đất lâm nghiệp trên địa bàn huyện hiệu quả, quản lý bảo vệ rừng tốt hơn, đẩy nhanh hơn nữa trồng rừng kinh tế, phòng hộ môi trường, sinh thái, cảnh quan du lịch; xây
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Luận văn Thạc sỹ khoa học lâm nghiệp “Nghiên cứu đề xuất quy
hoạch bảo vệ và phát triển rừng huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội giai đoạn
2012 -2020" được hoàn thành theo chương trình Đào tạo Sau đại học của
trường Đại học Lâm nghiệp, niên khóa 2010 - 2012
Với tấm lòng biết ơn sâu sắc của bản thân, tôi xin gửi lời cảm ơn sự hướng dẫn quý báu, nhiệt tình, đầy trách nhiệm và nhiệt huyết của thầy giáo PGS.TS Nguyễn Bá Ngãi, người thầy đã bồi dưỡng, khuyến khích, và truyền đạt những kiến thức và kinh nghiệm quý báu cho tác giả trong suốt thời gian học tập, công tác cũng như thực hiện luận văn
Qua đây, cho phép tôi được gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo đã trực tiếp tham gia giảng dạy, các thầy cô giáo trong khoa Đào tạo Sau đại học trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam
Nhân dịp này tôi cũng xin bày tỏ sự cảm ơn tới Uỷ ban nhân dân huyện
Ba Vì, Hạt Kiểm lâm Ba Vì, Ban quản lý Vườn Quốc gia Ba Vì, gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Đề tài được hoàn thành với sự nỗ lực cố gắng của bản thân song do kiến thức và thời gian còn hạn chế nên không tránh khỏi những thiếu sót nhất định, rất mong đón nhận được những ý kiến đóng góp từ phía các Nhà khoa học, thầy cô để đề tài được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn./
Hà Nội, ngày 30 tháng 10 năm 2012
Học viên
Nguyễn Thị Vân
Trang 2MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cảm ơn ………
Mục lục ………
Danh mục các từ viết tắt ………
Danh mục các bảng………
i
ii
v
vi
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1 Nhận thức chung về quy hoạch 3
1.1.1.Trên thế giới 5
1.1.2.Ở Việt Nam 10
Chương 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 19
2.1 Mục tiêu nghiên cứu 19
2.1.1 Mục tiêu tổng quát 19
2.1.2 Mục tiêu cụ thể 19
2.2 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 19
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu 19
2.2.2 Phạm vi nghiên cứu 19
2.3 Nội dung nghiên cứu 19
2.4 Phương pháp nghiên cứu 20
2.4.1 Phương pháp luận 20
2.4.2 Thu thập các tài liệu thứ cấp 21
2.4.3 Phương pháp điều tra khảo sát bổ sung ngoại nghiệp 23
2.4.4 Phương pháp tổng hợp phân tích tài liệu 23
Trang 33.3.2 Lao động, việc làm và mức sống dân cư 32
3.3.3 Giáo dục đào tạo 33
3.3.4 Y tế, chăm sóc sức khỏe nhân dân 33
3.3.5 Văn hóa, thông tin, thể thao 34
3.3.6 Tình hình thực hiện các chính sách xã hội, xóa đói giảm nghèo 34 3.3.7 Cơ sở hạ tầng 35
3.3.8 Hiện trạng về an ninh, quốc phòng 36
3.3.9 Đánh giá chung về đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội 37 Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 39
4.1 Cơ sở quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng huyện Ba Vì 39
4.1.1 Những căn cứ pháp lý 39
Trang 44.1.2 Cơ sở thực tiễn 42
4.2.1 Hiện trạng sử dụng đất đai chung (19 xã có rừng và đất lâm nghiệp)
43
4.2.2 Diện tích đất lâm nghiệp huyện Ba Vì 44
4.2.3 Diện tích đất lâm nghiệp phân theo đơn vị hành chính 45
4.2.4 Diện tích đất lâm nghiệp phân theo chủ quản lý 46
4.2.5.Diện tích đất lâm nghiệp phân theo 3 loại rừng 48
4.3.6 Hoạt động của các dự án lâm nghiệp 56
4.3.7 Những tồn tại và nguyên nhân của công tác bảo vệ và phát triển rừng
58
4.3.8 Dự báo nhu cầu và tiềm năng phát triển rừng huyện Ba Vì 61
4.4 Đề xuất các nội dung cơ bản của quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng
huyện Ba Vì giai đoạn 2012-2020 64
4.4.1 Phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ bảo vệ và phát triển rừng huyện Ba
Vì đến năm 2020 64
4.4.2 Quy hoạch đất lâm nghiệp 67
4.4.3 Quy hoạch 3 loại rừng 69
4.4.4 Quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng huyện Ba Vì 76
4.4.5 Tổng hợp vốn đầu tư thực hiện quy hoạch và dự toán hiệu quả 89
Trang 54.4.6 Đề xuất các giải pháp thực hiện quy hoạch 93 KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KHUYẾN NGHỊ 100
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
1 Bộ NN&PTNT Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
11 Sở NN&PTNT Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
3.1 Một số chi tiêu kinh tế tổng hợp của huyện ba Vì 29
4.3 Diện tích đất lâm nghiệp phân theo đơn vị hành chính 45 4.4 Diện tích đất lâm nghiệp theo chủ quản lý 47 4.5 Diện tích đất lâm nghiệp phân theo chức năng 48
4.7 Tổng hợp diện tích thí điểm cho thuê môi trường 57 4.8 Dự báo dân số 16 xã khu vực vùng đệm VQG Ba Vì 61 4.9 Quy hoạch đất lâm nghiệp theo 3 loại rừng 68 4.10 Quy hoạch diện tích cho thuê môi trường 73
4.13 Kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng huyện Ba Vì 88
Trang 8ĐẶT VẤN ĐỀ
Hiện nay, vai trò của rừng nói riêng hay ngành Lâm nghiệp nói chung không những được đánh giá ở khía cạnh kinh tế thông qua những sản phẩm trước mắt thu được từ rừng mà còn tính đến những lợi ích to lớn về xã hội, môi trường mà rừng và nghề rừng mang lại Sự tác động đến rừng và đất rừng không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến nghề rừng và sự phát triển kinh tế - xã hội tại khu vực có rừng mà còn tác động nhiều mặt đến các khu vực phụ cận cũng như nhiều ngành sản xuất khác Do vậy, để sử dụng tài nguyên rừng một cách bền vững và lâu dài, việc xây dựng phương án quy hoạch hợp lý là yêu cầu cấp thiết đối với các nhà quản lý
Quy hoạch Bảo vệ và phát triển rừng là một hoạt động vừa mang tính khoa học vừa mang tính pháp lý của hệ thống các biện pháp kỹ thuật, kinh tế,
xã hội Quy hoạch Bảo vệ và phát triển rừng thực chất là quá trình ra quyết định sử dụng rừng và đất rừng như một tư liệu sản xuất đặc biệt, nhằm mục tiêu sử dụng rừng và đất rừng một cách hiệu quả
Công tác Quy hoạch Bảo vệ và phát triển rừng luôn được chú trọng và coi là nhiệm vụ chiến lược trong quản lý rừng và đất rừng Năm 2004 Luật Bảo vệ và phát triển rừng ra đời và Nghị định số 23/2006/NĐ-CP về thi hành Luật bảo vệ và phát triển rừng của Chính phủ yêu cầu tỉnh, huyện, xã phải xây dựng quy hoạch và kế hoạch bảo vệ phát triển rừng Trên cơ sở đó tiến hành
sử dụng các biện pháp Quy hoạch Bảo vệ và phát triển rừng nhằm đưa ra phương pháp phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội cho từng địa phương
Huyện Ba Vì, thuộc thành phố Hà Nội, nằm về phía Tây Bắc và cách trung tâm thành phố 53 km Rừng và đất rừng của huyện giữ vai trò rất quan trọng trong việc phòng hộ đầu nguồn, bảo vệ môi trường, bảo vệ đa dạng sinh học và phát triển kinh tế xã hội Thấy rõ được vai trò và tầm quan trọng của
Trang 9rừng, trong nhiều năm qua Đảng và Chính phủ đã không ngừng đầu tư xây
dựng và phát triển rừng
Huyện Ba Vì có 1/3 diện tích đồi núi, chủ yếu có địa hình cao dốc, chia cắt phức tạp, giao thông đi lại gặp nhiều khó khăn, đây là nơi sinh sống chủ yếu của đồng bào các dân tộc Kinh, Dao, Mường với tập quán canh tác lạc hậu, trình độ dân trí hạn chế, đời sống còn nhiều thiếu thốn Chính vì vậy, việc xây dựng và phát triển rừng trên địa bàn gặp rất nhiều khó khăn, hệ thống rừng nơi đây chưa đáp ứng được yêu cầu về phòng hộ, bảo vệ môi trường, phát triển kinh tế - xã hội và an ninh quốc phòng
Nhằm sử dụng rừng và đất lâm nghiệp trên địa bàn huyện hiệu quả, quản
lý bảo vệ rừng tốt hơn, đẩy nhanh hơn nữa trồng rừng kinh tế, phòng hộ môi trường, sinh thái, cảnh quan du lịch; xây dựng các trang trại rừng cũng như xây dựng và phát triển rừng khu vực Tây Bắc của thành phố Hà Nội, việc quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng ổn định và bền vững trên địa bàn huyện là việc làm vô cùng cấp thiết và quan trọng hiện nay, tạo vành đai xanh, bảo vệ sinh thái cho Thủ đô Hà Nội
Việc nghiên cứu, quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội nhằm bố cục hợp lý về mặt không gian tài nguyên rừng và bố trí cân đối các hạng mục sản xuất kinh doanh, làm cơ sở cho việc lập kế hoạch, định hướng cho sản xuất kinh doanh lâm nghiệp đáp ứng nhu cầu lâm sản cho nền kinh tế quốc dân, cho kinh tế địa phương, cho xuất khẩu và cho đời sống nhân dân, đồng thời phát huy những tác dụng có lợi khác của rừng
Để có những cơ sở, luận cứ góp phần quy hoạch phát triển lâm nghiệp trên địa bàn huyện cho phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương, nhằm quản
lý, bảo vệ chặt chẽ, sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên quý giá, phục vụ cho mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của huyện, tác giả tiến hành nghiên cứu đề
tài:“Nghiên cứu đề xuất quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng huyện Ba Vì,
thành phố Hà Nội giai đoạn 2012 -2020"
Trang 10Chương 1
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Nhận thức chung về quy hoạch
Quy hoạch nói chung và quy hoạch lâm nghiệp nói riêng là một hoạt động định hướng nhằm sắp xếp, bố trí tổ chức các hoạt động không gian và thời gian một cách hợp lý vào thời điểm hiện tại và phù hợp với mục tiêu trong tương lai
Với những áp lực và hiện trạng sử dụng đất đai như hiện nay cho thấy nguồn tài nguyên đất đai ngày càng khan hiếm và có giới hạn, dân số thế giới gia tăng nhanh Do đó, đòi hỏi phải có sự đối chiếu hợp lý giữa các kiểu sử dụng đất đai và loại đất đai để đạt được khả năng tối đa về sản xuất ổn định và
an toàn lương thực, đồng thời cũng bảo vệ được hệ sinh thái cây trồng và môi trường đang sống
Quy hoạch sử dụng đất đai (QHSDĐĐ) là nền tảng trong tiến trình này Đây là một thành phần cơ sở có liên quan đến hệ sinh thái các vùng núi,
sa mạc hoang vu, hay các vùng đồng bằng ven biển, đồng thời lại nằm trong mục tiêu phát triển và bảo vệ rừng, đất trồng và tài nguyên ven biển QHSDĐĐ là yếu tố chính trong tất cả yêu cầu phát triển và bảo vệ các vùng đất đai nông nghiệp
Hiện nay có rất nhiều tài liệu nghiên cứu định nghĩa về QHSDĐĐ khác nhau từ đó đưa đến những việc phát triển quan điểm và phương pháp được sử dụng trong QHSDĐĐ cũng khác nhau
Quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng là một hoạt động vừa mang tính khoa học vừa mang tính pháp lý của hệ thống các biện pháp kỹ thuật, kinh tế,
xã hội Thực chất đó là quá trình ra quyết định sử dụng rừng và đất rừng như một tư liệu sản xuất đặc biệt, nhằm mục tiêu sử dụng rừng và đất rừng một cách
Trang 11hiệu quả Công tác quy hoạch bảo vệ và phát triển lâm nghiệp luôn được chú trọng và coi là nhiệm vụ chiến lược trong quản lý rừng và đất rừng
Quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng là một bộ phận cấu thành của quy hoạch tổng thể phát triển nông thôn Do đó công tác quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng cần có sự phối hợp chặt chẽ với quy hoạch tổng thể phát triển kinh
tế - xã hội nông thôn nhằm tránh sự chồng chéo, hạn chế lẫn nhau giữa các ngành Thực chất của công tác quy hoạch là tổ chức không gian và thời gian phát triển cho một ngành hoặc một lĩnh vực sản xuất trong từng giai đoạn cụ thể Mỗi ngành kinh tế muốn tồn tại và phát triển thì nhất thiết phải thực hiện quy hoạch, sắp xếp một cách hợp lý mà trong đó công tác điều tra cơ bản phục vụ cho quy hoạch phát triển phải đi trước một bước Quy hoạch bảo vệ
và phát triển rừng có ý nghĩa rất quan trọng đối với ngành lâm nghiệp nói riêng và sự phát triển kinh tế xã hội nói chung Nếu công tác quy hoạch bảo
vệ và phát triển lâm nghiệp được chú ý quan tâm đúng mức thì sự phát triển của ngành lâm nghiệp sẽ mang lại tính bền vững, trong điều kiện ngược lại sẽ gặp những trở ngại, khó khăn Ngày nay khi nhu cầu của xã hội về lâm sản đáp ứng cho nguyên liệu, gỗ, củi … ngày càng cao, tạo áp lực ngày càng lớn vào tài nguyên rừng và đất rừng thì vấn đề quy hoạch bảo vệ và phát triển
rừ ng một cách bền vững càng trở lên quan trọng và cấp thiết hơn bao giờ hết,
và đã trở thành một nguyên tắc hàng đầu trong chiến lược phát triển lâm nghiệp của mỗi quốc gia nói riêng và trên toàn thế giới nói chung [5]
Cách nhìn nhận về quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng sao cho hợp lý
đã được nhiều tác giả khác nhau đề cập tới ở những mức độ rộng hẹp khác nhau Việc đưa ra một khái niệm thống nhất là một điều rất khó thực hiện, song phân tích qua các khái niệm cho thấy có những điểm giống nhau, đó là dựa trên quan điểm về sự phát triển bền vững thì các hoạt động có liên quan
Trang 12đến đất đai phải được xem xét một cách toàn diện và đồng thời nhằm đảm bảo
nó một cách lâu dài và bền vững
Những nội dung chủ yếu thường được chú ý là các yếu tố về mặt kinh
tế, bảo vệ môi trường, bảo vệ các hệ sinh thái đa dạng sinh học và các đặc điểm xã hội, nhân văn Quá trình phát triển của việc quản lý sử dụng đất trên thế giới luôn gắn liền với lịch sử phát triển xã hội loài người
1.1.1.Trên thế giới
Sự phát sinh của quy hoạch lâm nghiệp gắn liền với sự phát triển kinh
tế tư bản chủ nghĩa Do công nghiệp và giao thông vận tải phát triển nên khối lượng gỗ yêu cầu ngày càng tăng Sản xuất gỗ đã tách khỏi nền kinh tế địa phương của phong kiến và bước vào thời đại kinh tế hàng hoá tư bản chủ nghĩa Thực tế sản xuất lâm nghiệp không còn bó hẹp trong việc sản xuất gỗ đơn thuần mà cần phải có ngay những lý luận và biện pháp nhằm đảm bảo thu hoạch và lợi nhuận lâu dài Trên cơ sở như vậy lý luận về quy hoạch lâm nghiệp, bảo vệ phát triển rừng dần hình thành
Theo Dent, QHSDĐĐ như là phương tiện giúp cho lãnh đạo quyết định
sử dụng đất đai như thế nào thông qua việc đánh giá có hệ thống cho việc chọn mẫu hình trong sử dụng đất đai, mà trong sự lựa chọn này sẽ đáp ứng với những mục tiêu riêng biệt, và tự đó hình thành nên chính sách và chương trình cho sử dụng đất đai [17]
Quy hoạch lâm nông nghiệp được xác nhận như là một chuyên ngành bắt đầu bằng các quy hoạch vùng ngay từ thế kỷ 17 Theo Olschowy [25] vào thời gian này quy hoạch quản lý rừng và lâm sinh ở Châu Âu được xem như
là một lĩnh vực phát triển ở mức cao trên cơ sở QHSD đất
Vào thế kỷ 18, theo Behrens [28] thì “Lý thuyết về khu nông nghiệp” của Johan H Thuenen đưa ra năm 1826 đã đánh dấu mốc lịch sử về lợi dụng canh tác nông nghiệp của các diện tích đất đai tại Đức Lý thuyết này chỉ chú
Trang 13ý đến các yếu tố kinh tế xã hội cho quy hoạch sản xuất nông nghiệp Ông cho rằng khoảng cách giữa khu sản xuất và nơi tiêu thụ sản phẩm là một tham số kinh tế, các khu sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, chăn nuôi cần được quy hoạch xung quanh trung tâm tiêu thụ sản phẩm Vì vậy, hình thành “Vành đai Thuenen” là cơ sở cho quy hoạch sản xuất lâm nông nghiệp
Vào thế kỷ 19, có các giả thuyết về “ Vùng đồng nhất ”, từ đó hình thành lý thuyết về “ Phép vi phân không gian địa lý” để tạo các nhân tố kinh
tế trong quy hoạch Vào đầu thế kỷ 20, lý thuyết về “Phép vi phân không gian địa lý ” được sử dụng để giao đất cho khu công nghiệp Lần đầu tiên các nhân
tố địa thế được Weber đề cập cho quy hoạch vào năm 1909 [32] Thêm vào
đó, Christaller năm 1933 [30] đã xây dựng khung khái niệm về “Các khu vực trung tâm” cho quy hoạch vùng Có thể cho rằng những ý tưởng của Weber năm 1921 trong tác phẩm “Hình thành các Bang hợp lý” bằng lý thuyết tổ chức với các khái niệm “Lập địa hợp lý” và “Năng suất sử dụng” mở đầu thời
kỳ quy hoạch phát triển lâm nông nghiệp [33] Theo lý thuyết trên thì việc phân chia đất đai theo địa lý với vùng sản xuất là nền tảng của quy hoạch vùng cho sản xuất lâm nông nghiệp
Tại Mỹ, bang Wiscosin đã ra đạo luật sử dụng đất đai vào năm 1929, tiếp theo là xây dựng kế hoạch sử dụng đất đầu tiên cho vùng Oneide của Wiscovin Kế hoạch này đã xác định các diện tích cho sử dụng lâm nghiệp, nông nghiệp và nghỉ ngơi giải trí Hạn chế của quy hoạch này là tạo việc khai thác rừng quảng canh, không kiểm soát lửa rừng và chống xói mòn
Tại Châu Âu, vào thập kỷ 30 và 40 quy hoạch ngành giữ vai trò lấp chỗ trống của quy hoạch vùng được xây dựng vào đầu thế kỷ Năm 1946 Jacks G.V đã cho ra đời chuyên khảo đầu tiên về phân loại đất đai với tên “Phân loại đất đai cho quy hoạch sử dụng đất” [24] Đây cũng là tài liệu đầu tiên đề cập đến đánh giá khả năng của đất cho quy hoạch sử dụng đất
Trang 14Tại Đức, tác giả Haber năm 1972 đã xuất bản tài liệu “Khái niệm về sử dụng đất khác nhau” Đây được coi là lý thuyết sinh thái về quy hoạch sử dụng đất dựa trên quan điểm về mối quan hệ hợp lý giữa tính đa dạng của hệ sinh thái cũng như sự ổn định của chúng với năng suất và khả năng điều chỉnh [31] Từ năm 1967 Hội đồng nông nghiệp châu Âu đã phối hợp với tổ chức FAO tổ chức nhiều hội nghị về phát triển nông thôn và quy hoạch sử dụng đất Các hội nghị đều khẳng định rằng quy hoạch các ngành sản xuất như nông nghiệp, lâm nghiệp, chế biến loại nhỏ phải dựa trên cơ sở quy hoạch đất đai [22] Năm 1971 và 1975 các chuyên gia tư vấn họp tại Rome (Italia)
và Geneve (Thụy Sỹ) để thảo luận về phương pháp luận quy hoạch nông thôn Nội dung các cuộc thảo luận đã đề cập đến các phương pháp cùng tham gia trong quy hoạch cấp vĩ mô
Năm 1985 một nhóm chuyên gia tư vấn quốc tế về quy hoạch sử dụng đất được tổ chức FAO thành lập nhằm xây dựng một quy trình quy hoạch sử dụng đất Theo Purnell năm 1988, mục tiêu của quy hoạch sử dụng đất đựợc các chuyên gia xác định là “Thiết lập các kế hoạch thực tiễn có khả năng sử dụng tốt nhất các loại đất đai nhằm đạt được các mục tiêu khác nhau để tăng sản xuất quốc gia, cải thiện đời sống, bảo vệ môi trường, đạt các lợi ích xã hội và giải trí” Bốn câu hỏi nền tảng của quy hoạch đất đai là [26]: Các vấn đề nào đang tồn tại
và mục tiêu quy hoạch là gì? Có các phương án sử dụng đất nào? Phương án nào
là tốt nhất? Có thể vận dụng vào thực tế như thế nào?
Wilkingson năm 1985 nghiên cứu quy hoạch sử dụng đất theo khía cạnh luật pháp Ông đề nghị “Một hệ thống luật pháp thích hợp cần được phát triển nhằm mục đích: cung cấp chính sách và mục tiêu rõ ràng của Nhà nước
về đất đai, thiết lập các tổ chức sử dụng đất phù hợp, yêu cầu sử dụng theo quy trình kế hoạch và kỹ thuật, tăng cường sự thông hiểu về sử dụng đất và khuyến khích xây dựng cơ chế giám sát và cưỡng chế” [27]
Trang 15Năm 1988, Dent và nhiều tác giả nghiên cứu sâu về quy trình quy hoạch Ông khái quát quy hoạch sử dụng đất trên 3 cấp khác nhau và mối quan hệ của các cấp: kế hoạch sử dụng đất cấp quốc gia, cấp vùng (tỉnh, huyện) cấp cộng đồng (xã, thôn) Ông còn đề xuất quá trình quy hoạch gồm 4 giai đoạn và 10 bước [21]
Trong khi xây dựng khung đánh giá đất đai, lần đầu tiên tổ chức FAO năm 1976 đã đề xuất cấu trúc khung quy hoạch sử dụng đất với 10 điểm chính [22] Trong đó phân loại đánh giá và đề xuất các kiểu và dạng sử dụng đất được xét như là các bước chính trong quá trình quy hoạch Năm 1980, Buchwald đề xuất quá trình quy hoạch 8 bước, trong đó những nghiên cứu đánh giá về sinh thái và kinh tế xã hội được đề cập tách biệt ở các bước khác nhau [29] Điểm hạn chế này tạo nên sự thiếu tính liên ngành trong quy hoạch Maydell năm 1984 cho rằng 4 điểm chính trong quá trình quy hoạch nông lâm nghiệp tại các nước nhiệt đới là: phân tích xu hướng nghĩa là phân tích hiện trạng và phát triển; xác định mục tiêu và nhiệm vụ; phân tích phương pháp và tiến hành đánh giá
Xem xét đến các khía cạnh riêng, có thể dẫn ra đây một số quy trình quy hoạch được nhiều chương trình, dự án áp dụng Theo Zimmermann năm
1989 tổ chức GTZ của Đức đưa ra và thử nghiệm quy trình quy hoạch tại nhiều nước, trong đó có dự án Lâm nghiệp xã hội Sông Đà của Việt Nam Quy trình này dựa trên quá trình phân tích tình hình, chuẩn đoán hiện trạng và phân tích mục tiêu Các kỹ thuật của phương pháp phân tích tối ưu hóa mục tiêu (ZOPP) được sử dụng [34] Năm 1987, Spitzer đề xuất các bước quy hoạch sử dụng đất đa mục tiêu, trong đó nhấn mạnh xác định mục tiêu và chọn phương pháp lập kế hoạch như sau: Chuẩn đoán trong thu thập thông tin
và dự đoán cơ hội, tư vấn trong đánh giá, lập kế hoạch và điều phối, thực hiện trong điều phối và giám sát
Trang 16Phạm vi quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng vào thời kỳ đầu thế kỷ 18 chỉ giải quyết việc “khoanh khu chặt luân chuyển”, có nghĩa là đem trữ lượng hoặc diện tích tài nguyên rừng đem chia đều cho từng năm của chu kỳ khai thác và tiến hành khoanh khu chặt luân chuyển theo trữ lượng hoặc diện tích Phương thức này phục vụ cho phương thức kinh doanh rừng chồi, chu kỳ khai thác ngắn
Vào thế kỷ 19, sau cách mạng công nghiệp, phương thức kinh doanh rừng chồi được thay bằng phương thức kinh doanh hạt với chu kỳ khai thác dài Phương thức “Chia đều” của Hating đã thay thế phương thức” khoanh khu chặt luân chuyển” bằng cách chia chu kỳ khai thác thành 20 thời kỳ lợi dụng và cũng lấy đó khống chế chặt hằng năm
Phương pháp “Bình quân thu hoạch” ra đời, với quan điểm là giữ đều mức thu hoạch trong chu kỳ khai thác hiện tại, đồng thời vẫn đảm bảo thu hoạch được liên tục trong chu kỳ sau Và đến cuối thế kỷ 19, phương pháp
“Lâm phần kinh tế” của Judeich xuất hiện, phương pháp này khác với phương pháp “Bình quân thu hoạch” Về căn bản, Judeich cho rằng những lâm phần nào đảm bảo thu hoạch được nhiều tiền nhất sẽ được đưa vào diện khai thác Hai hương pháp”Bình quân thu hoạch” và “Lâm phần kinh tế” chính là tiền
đề của hai phương pháp tổ chức kinh doanh và tổ chức rừng khác nhau
Phương pháp “Bình quân thu hoạch” và sau này là phương pháp”Cấp tuổi” chịu ảnh hưởng của ‘Lý luận rừng tiêu chuẩn”, và có nghĩa là rừng phải
có kết cấu tiêu chuẩn về tuổi cũng như về diện tích và trữ lượng, vị trí và đưa các cấp tuổi cao vào diện tích khai thác Phương pháp “Lâm phần kinh tế” và hiện nay là phương pháp “ Lâm phần” không căn cứ vào tuổi rừng mà dựa vào đặc điểm cụ thể của mỗi lâm phần tiến hành phân tích, xác định sản lượng
và biện pháp kinh doanh, phương thức điều chế rừng
Một vài kết luận rút ra từ kinh nghiệm của thế giới
Trang 17Tổng kết các tài liệu nghiên cứu có liên quan đến quy hoạch lâm nông nghiệp và sử dụng đất cấp địa phương trên thế giới, tác giả có một số kết luận phục vụ cho nghiên cứu quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng cấp huyện ở Việt Nam như sau:
Mặc dù đã có những nghiên cứu đề xuất và thử nghiệm về quy hoạch sử dụng đất nhưng chưa có một lý thuyết hoàn chỉnh về quy hoạch lâm nông nghiệp cấp địa phương Tuy vậy, những nghiên cứu và quy trình quy hoạch trên thế giới có thể được nghiên cứu và áp dụng trong điều kiện ở Việt Nam theo các hướng sau:
- Quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng cấp huyện phải lấy quy hoạch sử dụng đất làm nền tảng, kết hợp hài hoà giữa ưu tiên của cấp trên với nhu cầu của cộng đồng thông qua sự tham gia trực tiếp của người dân
- Phân tích được mối quan hệ tác động lẫn nhau của các cấp quy hoạch lâm nông nghiệp để xác định rõ nội dung và phương pháp quy hoạch bảo vệ
và phát triển rừng có tính đặc thù riêng của mỗi cấp
- Các phương pháp đánh giá đất đai của FAO, quy trình lập kế hoạch sử dụng đất cần được áp dụng trong quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng cấp huyện, nhưng đòi hỏi phải điều chỉnh phù hợp với hoàn cảnh của cộng đồng
nông thôn Việt Nam
Trang 18mục đích sử dụng mà được giao cho tổ chức, cá nhân quản lý và sử dụng Luật đất đai nêu rõ trong mục 2 quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất tại điều 23
là lập quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất đai là một trong những nội dung quản lý Nhà nước đối với đất đai [4] Luật Đất đai là cơ sở pháp lý cơ bản nhất cho quy hoạch nông lâm nghiệp Luật bảo vệ và phát triển rừng năm
2004 phân định rõ 3 loại rừng làm cơ sở cho quy hoạch lâm nghiệp [5]
Như vậy, Đảng và Nhà nước đã chú trọng đến quy hoạch nông lâm nghiệp cấp địa phương, coi quy hoạch sử dụng đất là cơ sở nền tảng cho các quy hoạch khác và là cơ sở cho giao đất, lập kế hoạch sử dụng đất, xây dựng các dự án phát triển Tuy nhiên, cho đến nay chưa có các quy định cụ thể về quy hoạch lâm nông nghiệp cấp địa phương, đặc biệt là cấp xã Những điểm liên quan đến quy hoạch lâm nông nghiệp cấp xã chưa được thống nhất Trên thực tế cấp xã mới có định hướng và mục tiêu phát triển sản xuất nông nghiệp
và lâm nghiệp Ngay cả khi xây dựng định hướng phát triển kinh tế - xã hội và sản xuất cũng gặp một số khó khăn khi vận dụng những chính sách có liên quan Một số vấn đề liên quan đến Luật Đất đai và Luật Bảo vệ và Phát triển rừng cần thống nhất, nhất là việc phân định các loại đất trong luật đất đai và phân loại rừng trong luật bảo vệ và phát triển rừng Các văn bản dưới luật cần
cụ thể hoá cho từng điều kiện địa phương đảm bảo tính đa mục đích sử dụng của đất đai, tạo điều kiện cho quy hoạch lâm nông nghiệp tránh chồng chéo và mâu thuẫn
Đầu thập kỷ 90, các vấn đề quy hoạch lâm nông nghiệp cấp vi mô được nhiều tác giả đề cập và nghiên cứu Các nghiên cứu của Reichenberg (1992) [22] và các nhà nghiên cứu trong nước đều cho rằng Việt Nam chưa có quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch nông nghiệp và lâm nghiệp cấp vi mô được xây dựng trên cơ sở xem xét mọi khía cạnh của tất cả các ngành trong tương lai,
vì vậy việc tiến hành quy hoạch lâm nông nghiệp còn thiếu cơ sở thực hiện
Trang 19Năm 1990 Tổng cục quản lý ruộng đất có ban hành bản hướng dẫn quy hoạch
sử dụng đất vi mô Nhiều tỉnh đã triển khai thực hiện quy hoạch vi mô theo hướng dẫn này Tuy nhiên, khi triển khai gặp những khó khăn về phương pháp chưa thống nhất
Trong đầu những năm 90, Luật Bảo vệ và Phát triển rừng ra đời năm 1991 được sửa đổi thay thế vào năm 2004, Luật Đất đai sửa đổi năm
1993 và đặc biệt là các Nghị định 02/CP năm 1994, Nghị định 01/CP năm
1995, Nghị định 64/CP năm 1993 là cơ sở tiền đề cho quy hoạch lâm nông nghiệp cấp xã Cùng lúc ra đời của Luật Đất đai, Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, nhiều người cho rằng quy hoạch vĩ mô là quy hoạch phản ánh hiện trạng và phân chia 3 loại đất sử dụng và 3 loại rừng Hai định nghĩa mới được xác nhận cho quy hoạch quốc gia và cấp tỉnh Các nhà khoa học trong nước và nước ngoài đều cho rằng quan điểm quy hoạch nông lâm nghiệp cấp địa phương nên theo các hướng sau:
Tiến hành nghiên cứu và thực thi khả năng kết hợp quy hoạch lâm nông nghiệp dựa vào chức năng sử dụng của đất với đánh giá tiềm năng của đất
Rà soát và xem xét lại hệ thống chính sách nhằm hướng tới đa mục đích sử dụng đất đai bằng việc đa dạng hóa các hoạt động sản xuất trong mỗi bản quy hoạch của cộng đồng
Gắn 2 quá trình quy hoạch đất đai với giao đất và coi là 2 bộ phận có quan hệ chặt chẽ để làm cơ sở cho quy hoạch sản xuất lâm nông nghiệp ở mỗi địa phương, mỗi cộng đồng
Nghiên cứu và thử nghiệm các phương pháp cùng tham gia trong quá trình quy hoạch phát triển lâm nông nghiệp, xác định và phân tích rõ các chủ thể trong quy hoạch lâm nông nghiệp cấp xã
Ở Việt Nam, những hiểu biết về kinh nghiệm sử dụng đất đã bắt đầu được chú ý và tổng hợp thành tài liệu từ thế kỷ 15 Lê Quý Đôn trong Vân
Trang 20Đài Loại Ngữ đã khuyên nông dân áp dụng luân canh với cây họ đậu để tăng năng suất lúa
Năm 1963 các vấn đề về quy hoạch sử dụng đất được khởi xướng ở Việt Nam Trước đây việc quy hoạch sử dụng đất thường dựa vào các đơn vị hành chính (tỉnh, huyện, xã), quy hoạch theo ngành (Nông, lâm, thuỷ sản), hoặc là quy hoạch dựa theo điều kiện tự nhiên theo từng vùng, từng khu vực
Đầu thập kỷ 90, các vấn đề quy hoạch lâm nông nghiệp cấp vi mô được nhiều tác giả đề cập và nghiên cứu Các nghiên cứu của Reichenberg (1992) [22] và các nhà nghiên cứu trong nước đều cho rằng Việt Nam chưa có quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch nông nghiệp và lâm nghiệp cấp vi mô được xây dựng trên cơ sở xem xét mọi khía cạnh của tất cả các ngành trong tương lai, vì vậy việc tiến hành quy hoạch lâm nông nghiệp còn thiếu cơ sở thực hiện
Nghiên cứu và thí điểm đầu tiên về quy hoạch sử dụng đất và giao đất
lâm nghiệp cấp xã được thực hiện tại xã Tử Nê huyện Tân Lạc và xã Hang Kia, Pà Cò huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình do Dự án đổi mới chiến lược phát triển lâm nghiệp thực hiện năm 1993 Một trong những bài học rút ra được qua việc thực thi dự án là công tác quy hoạch sử dụng đất phải được coi là một nội dung chính và cần được thực hiện trước khi giao đất trên cơ sở tôn trọng tập quán nương rẫy cố định, lấy xã làm đơn vị để lập kế hoạch và giao đất, có sự tham gia tích cực của người dân, già làng, trưởng bản và chính quyền xã Hạn chế của chương trình này là chưa có kế hoạch sử dụng chi tiết nên khó tránh khỏi các mâu thuẫn của cộng đồng phát sinh sau quy hoạch Bản đánh giá về trường hợp Tử Nê cho thấy cần phải có một kế hoạch sử dụng đất chi tiết hơn hiện nay thì mới đáp ứng được yêu cầu, tránh được các mâu thuẫn của cộng đồng phát sinh sau quy hoạch
Sự tham gia của người dân trong quá trình quy hoạch là một khái niệm mới Vũ Văn Mễ và Desloges năm 1996 cho rằng "Điểm quan trọng là thu hút
Trang 21người dân tham gia vào tất cả các giai đoạn trong quá trình quy hoạch sử dụng đất và giao đất lâm nghiệp ngay từ khi bắt đầu Sự tham gia này tất nhiên sẽ khác nhau về phạm vi và mức độ tùy theo nội dung hoạt động và giai đoạn tiến hành" [7]
Trong công trình “Đất rừng Việt Nam”, Nguyễn Ngọc Bình (1996) [1]
đã đưa ra những quan điểm nghiên cứu và phân loại đất rừng trên cơ sở những đặc điểm cơ bản của đất rừng Việt Nam
Năm 1997, Đặng Văn Phụ, Hà Quang Khải [8] trong chương trình tập huấn hỗ trợ lâm nghiêp xã hội của Trường đại học lâm nghiệp đã đưa ra khái niệm về hệ thống sử dụng đất và đề xuất một số hệ thống, kỹ thuật sử dụng đất bền vững trong điều kiện Việt Nam Trong đó các tác giả đã đi sâu phân tích quan điểm về tính bền vững: Khái niệm tính bền vững và phát triển bền vững; Hệ thống sử dụng đất bền vững; Kỹ thuật sử dụng đất bền vững; Các chỉ tiêu đánh giá tính bền vững trong các hệ thống và kỹ thuật sử dụng đất
Tài liệu tập huấn về quy hoạch sử dụng đất và giao đất lâm nghiệp có sự tham gia của người dân, tác giả Trần Hữu Viên (1997) [18] đã kết hợp phương pháp quy hoạch sử dụng đất trong nước và của một số dự án quốc tế đang áp dụng tại một số vùng có dự án ở Việt Nam Trong đó tác giả đã trình bày về khái niệm và nguyên tắc chỉ đạo quy hoạch sử dụng đất và giao đất có người dân tham gia
Xung quanh chủ đề phân loại đất đã có nhiều công trình khác triển khai thực hiện trên các vùng sinh thái Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu trên chỉ mới dừng lại ở mức độ nghiên cứu cơ bản, thiếu biện pháp đề xuất cần thiết cho việc sử dụng đất, công tác điều tra phân loại đã không gắn liền với công tác sử dụng đất Những thành tựu về nghiên cứu đất đai trong giai đoạn trên là cơ sở quan trọng góp phần vào việc bảo vệ, cải tạo, quản lý và sử dụng đất đai một cách có hiệu quả trong cả nước
Trang 22Ở Việt Nam, công tác quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng cũng được triển khai từ thời kì Pháp thuộc Từ năm 1955-1957, tiến hành sơ thám và mô
tả để ước lượng tài nguyên Từ năm 1958-1959 tiến hành thống kê trữ lượng rừng miền Bắc Đến năm 1964 công tác quy hoạch mới áp dụng ở miền Bắc
Từ năm 1965 đến nay, quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng ngày càng được tăng cường và mở rộng Viện điều tra quy hoạch rừng kết hợp chặt chẽ với lực lượng điều tra quy hoạch của các Sở nông nghiệp, không ngừng cải tiến phương pháp điều tra, quy hoạch của nước ngoài cho phù hợp với điều kiện tài nguyên rừng ở nước ta
Lê Sỹ Việt, Trần Hữu Viên (1999) [19]: Đầu thế kỷ 18, phạm vi quy hoạch lâm nghiệp mới chỉ giải quyết việc “khoanh khu chặt luân chuyển” có nghĩa là đem trữ lượng hoặc diện tích tài nguyên rừng chia đều cho từng năm của chu kỳ khai thác và tiến hành khoanh khu chặt luân chuyển theo trữ lượng hoặc diện tích Phương thức này phục vụ cho phương thức kinh doanh rừng chồi, chu kỳ khai thác ngắn
So với lịch sử phát triển của các nước khác thì quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng nước ta hình thành và phát triển muộn hơn nhiều Vì vậy những nghiên cứu cơ bản về kinh tế, xã hội, kỹ thuật và tài nguyên rừng làm
cơ sở cho công tác quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng chưa được giải quyết, nên công tác này ở nước ta đang trong giai đoạn vừa tiến hành vừa nghiên cứu
áp dụng
Theo Chiến lược phát triển Lâm nghiệp quốc gia giai đoạn 2006-2020
một trong những tồn tại mà Bộ NN&PTNT đánh giá là: “ Công tác quy hoạch nhất là quy hoạch dài hạn còn yếu và chậm đổi mới, chưa kết hợp chặt chẽ với quy hoạch của các ngành khác, còn mang nặng tính bao cấp và thiếu tính khả thi Chưa quy hoạch 3 loại rừng hợp lý và chưa thiết lập được lâm phần
Trang 23ổn định trên thực địa” Đây cũng là nhiệm vụ nặng nề và cấp bách đối với
ngành lâm nghiệp ở nước ta hiện nay
Các văn bản chính sách của Nhà nước đề cập đến quy hoạch phát triển lâm nghiệp thể hiện qua: Hiến pháp của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt
Nam năm 1992 nêu “Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ đất đai theo quy hoạch và pháp luật, đảm bảo sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả Nhà nước giao đất cho các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài” Luật đất đai năm 2003 quy định rõ 3 nhóm đất với 6 quyền chung của
người sử dụng đất, tùy theo từng loại đất và mục đích sử dụng mà được giao cho tổ chức, cá nhân quản lý và sử dụng Luật bảo vệ và phát triển rừng năm
2004 quy định về quản lý, bảo vệ, phát triển, sử dụng rừng, quyền và nghĩa vụ của chủ rừng, phân định rõ 3 loại rừng Nghị định 23 về thi hành Luật Bảo vệ
và phát triển rừng quy định về việc: quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng; giao rừng, cho thuê rừng; thống kê, kiểm kê, theo dõi diễn biến tài nguyên rừng; tổ chức quản lý rừng, bảo vệ rừng, phát triển rừng và sử dụng rừng Nhằm cụ thể hóa hơn nữa công tác quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng,
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã ban hành thông tư
05/2008/TT-BNN hướng dẫn lập quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng, làm cơ sở cho công tác quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng Thông tư này hướng dẫn trình tự, thủ tục, nội dung lập, thẩm định, điều chỉnh và phê duyệt quy hoạch,
kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng của tỉnh, của huyện, của xã Phần III của Thông tư có quy định về trình tự, nội dung, lập, thẩm định, phê duyệt quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng Trong đó nội dung của quy hoạch bảo vệ phát triển rừng cấp huyện được hướng dẫn cụ thể tại khoản 2 mục II của phần
này Nội dung quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng cấp huyện gồm có: 1 Khái quát tình hình hiện trạng rừng và sử dụng đất lâm nghiệp; 2 Đề nghị điều chỉnh quy hoạch rừng và đất lâm nghiệp; 3 Xác định phương hướng, mục
Trang 24tiêu, nhiệm vụ bảo vệ phát triển rừng trong kỳ quy hoạch; 4 Xác định các biện pháp kỹ thuật chủ yếu, tiến độ thực hiện và vốn đầu tư về bảo vệ, phát triển rừng; 5 Xác định các giải pháp thực hiện quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng; 6 Tổng hợp nhu cầu vốn đầu tư; 7.Xác định danh mục các dự án
ưu tiên cần đầu tư trọng điểm (nếu có)[2
Tổng kết các tài liệu nghiên cứu có liên quan đến quy hoạch lâm nông nghiệp và sử dụng đất, cho phép rút ra một số kết luận phục vụ cho nghiên cứu quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng cấp huyện ở Việt Nam như sau:
Hiện tại Việt Nam chưa có nhiều nghiên cứu đầy đủ về quy hoạch lâm nông nghiệp cũng như quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng, nhìn chung đã có một vài nghiên cứu thử nghiệm được thực hiện nhưng chưa đầy đủ, chưa được tổng kết, đánh giá và phát triển thành phương pháp luận
Ở các chương trình, dự án khác nhau thì áp dụng một phương pháp quy hoạch khác nhau, thiếu sự thống nhất chung về mặt phương pháp một cách toàn diện Do đặc thù về điều kiện khác nhau của từng vùng nên việc phân biệt giữa quy hoạch sử dụng đất và kế hoạch sử dụng đất còn một số điểm chưa được phân biệt rõ Phương pháp quy hoạch dựa trên thuộc tính của đất đai mà ít xem đến tiềm năng của đất đai, nhu cầu, khả năng thích ứng của cây trồng và thị trường Phương pháp quy hoạch có sự tham gia của người dân đang được chú ý và thí điểm ở một số nơi Những kết quả đưa ra tuy đạt được một số thành công nhưng chưa được tổng kết, hiệu quả của quy hoạch chưa được khẳng định
Nội dung của quy hoạch lâm nông nghiệp tuy đã được xác định tương đối rõ ràng ở một số nghiên cứu và chương trình dự án, nhưng vẫn chưa có sự thống nhất về mặt quan điểm giữa quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch lâm nông nghiệp
Trang 25Cùng với sự phát triển đi lên của kinh tế xã hội thì quy hoạch luôn phải
đi trước một bước Quy hoạch bảo vệ và phát triển lâm nghiệp cũng vậy, nó luôn đi theo phát triển kinh tế xã hội, nó đảm bảo và thể hiện được tầm nhìn của các nhà lãnh đạo trong việc phân vùng kinh tế và sử dụng một cách tối đa
có hiệu quả nhưng hài hoà giữa các vùng trong chiến lược phát triển lâm nghiệp chung của đất nước
Ở Việt Nam đã tiến hành quy hoạch bảo vệ và phát triển lâm nghiệp cho các cấp quản lý, kinh doanh và các cấp quản lý lãnh thổ ở tầm vĩ mô, vi
mô Trên cơ sở quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng trong phạm vi lãnh thổ một quốc gia, xác định phương hướng, nhiệm vụ phát triển lâm nghiệp trên toàn quốc, xác định tiến độ thực hiện từng hạng mục làm cơ sở cho việc quy hoạch bảo vệ và phát triển lâm nghiệp của các tỉnh Khi lập quy hoạch sử dụng đất phải thu thập nhu cầu sử dụng đất cho các mục đích của các đơn vị hành chính trực thuộc Trong quy hoạch sử dụng đất của mỗi cấp phải thể hiện phương án phân bổ quỹ đất đối với diện tích thuộc nhiệm vụ quy hoạch của cấp mình
Việc lập quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng phải đồng bộ với việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và phải căn cứ vào quy hoạch sử dụng đất của địa phương
Quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng cấp huyện phải phù hợp với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội của tỉnh và định hướng quy hoạch phát triển lâm nghiệp toàn tỉnh và cả nước
Trang 26Chương 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu nghiên cứu
2.2 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các nội dung và phương pháp quy hoạch bảo vệ phát triển rừng huyện Ba Vì
2.2.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu trên diện tích được quy hoạch làm đất lâm nghiệp sau khi quy hoạch 3 loại rừng của huyện Ba Vì
2.3 Nội dung nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu các nội dung chủ yếu sau:
- Cơ sở lý luận và thực tiễn cho quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng
huyện Ba Vì;
- Hiện trạng tài nguyên rừng và đất lâm nghiệp của huyện Ba Vì;
- Đánh giá công tác bảo vệ phát triển rừng huyện Ba Vì;
Trang 27- Quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng huyện Ba Vì;
- Tổng hợp nhu cầu vốn đầu tư cho công tác quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng huyện Ba Vì;
- Xác định các giải pháp thực hiện quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng huyện Ba Vì
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp luận
Cách tiếp cận trong nghiên cứu về cơ sở khoa học và cơ sở thực tiễn, từ
đó đề xuất những nội dung cho công tác quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng huyện Ba Vì giai đoạn 2012- 2020, dựa trên các quan điểm sau:
- Quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng, thực chất là một hệ thống các biện pháp dựa trên những căn cứ về kinh tế - kỹ thuật và pháp luật của Nhà nước để bố trí, sử dụng các loại đất rừng hợp lý theo không gian và thời gian một cách hiệu quả, nhằm phát huy triệt để tiềm năng về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội cũng như các nguồn lực khác để thu được hiệu quả tối đa trên quan điểm bền vững trong việc quản lý và sử dụng đất lâm nghiệp
- Quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng là một lĩnh vực phải được xem xét một cách toàn diện và cụ thể theo từng ngành, từng lĩnh vực bởi nó có quan
hệ mật thiết với nhiều yếu tố của hoạt động sản xuất kinh doanh, bao gồm: Chế độ, chính sách, điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội và tài nguyên môi trường Do đó công tác quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng chỉ
có thể thành công khi nó xây dựng dựa trên sự xem xét, nghiên cứu và kết hợp một cách đồng bộ các yếu tố trên và khi những yếu tố đó, những điều kiện đó có thay đổi, thì sự thay đổi của công tác quy hoạch là điều bắt buộc,
để hướng tới quản lý và sử dụng đất một cách tối ưu nhất
- Công tác quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng được xem là hợp lý khi
nó đạt được cả những mục tiêu trước mắt, mục tiêu lâu dài đồng thời phải phù
Trang 28hợp với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội trong toàn khu vực Muốn vậy, khi tiến hành quy hoạch cần phải giải quyết tốt mối quan hệ giữa hiện tại và tương lai, cục bộ và toàn diện, chi tiết và tổng thể cũng như mối quan hệ giữa cung và cầu
2.4.2 Thu thập các tài liệu thứ cấp
Nhóm thông tin về chính sách, pháp luật: Thu thập các văn bản quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành gồm: Luật, nghị định, nghị quyết, thông tư, quyết định, chỉ thị
Các tài liệu có sẵn liên quan đến địa bàn nghiên cứu được thu thập trực tiếp từ xã, huyện và các cơ quan liên quan như Chi cục kiểm lâm, Hạt kiểm lâm, Sở NN&PTNT và các cơ quan hữu quan khác, bao gồm:
- Báo cáo kết quả rà soát quy hoạch lại 3 loại rừng của thành phố Hà Nội và tỉnh Hà Tây (cũ), tháng 12/2006;
- Số liệu quy hoạch kiểm kê, thống kê đất đai của huyện Ba Vì giai đoạn 2000 – 2009;
- Bản đồ hiện trạng sử dụng đất những năm gần đây của huyện Ba Vì;
- Kết quả theo dõi diễn biến rừng của Hạt Kiểm lâm Ba Vì;
- Dự thảo Đề án xây dựng nông thôn mới huyện Ba Vì giai đoạn
Các tài liệu đã có ở địa phương được thu thập bao gồm:
- Tài liệu về dân sinh kinh tế;
Trang 29- Tài liệu về địa chất thổ nhưỡng;
- Tài liệu về khí tượng thủy văn;
- Tài liệu về đất đai:
+ Bản đồ hiện trạng sử dụng đất của huyện;
+ Bản đồ các dạng đất của huyện;
+ Các loại bản đồ quy hoạch của các dự án
- Tài liệu về kết quả thực hiện Luật đất đai, giao đất, giao rừng trên địa bàn huyện;
- Tài liệu về tình hình quản lý sử dụng đất;
- Tài liệu về công tác khuyến lâm và các tài liệu khác có liên quan;
- Nhóm thông tin về xã hội: Các thông tin tài liệu về xã hội được thu thập từ phòng Thống kê huyện Ba Vì bao gồm:
+ Dân số: Tiến hành thu thập các số liệu thống kê về dân số, tình hình tăng dân số tự nhiên;
+ Lao động, việc làm: Số lao động, tình hình sử dụng lao động, nhu cầu, tiềm năng nguồn lao động ở địa phương;
+ Văn hóa, giáo dục, y tế;
+ Cơ sở hạ tầng: Đánh giá thực trạng mạng lưới giao thông, điện, hệ thống thuỷ lợi và các công trình phúc lợi trên địa bàn
- Nhóm kinh tế nông nghiệp: Đánh giá quy mô, tốc độ tăng trưởng, tỷ trọng trong cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu nội ngành về các lĩnh vực sau:
+ Sản xuất nông nghiệp;
+ Sản xuất lâm nghiệp;
+ Chăn nuôi;
+ Thuỷ sản
Trang 30- Nhóm thông tin tổng hợp: Bao gồm các chỉ tiêu tổng hợp về kinh tế -
xã hội, nhân văn và môi trường
2.4.3 Phương pháp điều tra khảo sát bổ sung ngoại nghiệp
Trên cơ sở các tài liệu và thông tin được kế thừa có chọn lọc tiến hành điều tra khảo sát thực địa nhằm kiểm nghiệm và bổ sung cho những tài liệu và thông tin này, cụ thể:
- Khảo sát thực địa để nắm tổng quát về tình hình sử dụng đất, tình hình
sử dụng rừng, tình hình giao đất, giao rừng;
- Rà soát bản đồ hiện trạng sử dụng đất, giao đất, giao rừng kết hợp với việc phân tích diễn biến tài nguyên rừng theo thời gian;
- Kết hợp giữa các nguồn tài liệu được kế thừa và điều tra thực địa nhằm
bổ sung và loại trừ những sai sót, làm cơ sở đối chứng và chọn lọc số liệu
chuẩn để thực hiện đề tài
2.4.4 Phương pháp tổng hợp phân tích tài liệu
- Nghiên cứu các văn bản quy phạm pháp luật và các văn bản khác có liên quan đến công tác quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng của huyện Ba Vì, làm căn cứ để xây dựng các nội dung cơ bản cần thực hiện đối với quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng cấp huyện, và là cơ sở để tác giả đề xuất các giải pháp thực hiện quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng Các giải pháp được đưa
ra có nội dung phù hợp với quy định của các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành
- Các thông tin liên quan đến điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội như: vị trí dịa lý, địa hình địa thế, khí hậu thời tiết, đất đai, tài nguyên động thực vật, thực trạng phát triển kinh tế, dân số, thành phần dân tộc, cơ sở hạ tầng được
kế thừa từ nguồn tài liệu của các cơ quan chuyên môn thuộc tỉnh, huyện, xã
và thông tin được chọn lọc, làm cơ sở cho nội dung điều kiện cơ bản của địa bàn nghiên cứu
Trang 31- Tổng hợp phân tích các thông tin chuyên đề như: Tình hình sử dụng đất, tình hình sản xuất lâm nghiệp, hoạt động du lịch sinh thái trên địa bàn huyện Khai thác tối đa các thông tin từ các bản đồ hiện trạng sử dụng đất, bản đồ địa hình, bản đồ phân chia các loại rừng Bản đồ quy hoạch được xây dựng dựa trên bản thuyết minh và tuân theo đúng các quy định về làm bản đồ
- Các thông tin điều tra phục vụ cho quy hoạch bảo vệ và phát triển lâm nghiệp được tổng hợp theo phương pháp tối ưu hóa mục tiêu và phân tích đa tiêu chuẩn áp dụng cho xây dựng kế hoạch Trong quá trình xử lý tài liệu, tiến hành chỉnh lý và sắp xếp các thông tin theo thứ tự ưu tiên mức độ quan trọng của vấn đề phân tích các ý kiến quan điểm để lựa chọn tìm ra giải pháp
2.4.5 Phương pháp xử lý số liệu
- Xử lý số liệu bằng phần mềm Microsoft Excel
- Số hoá và xây dựng bản đồ hiện trạng, bản đồ quy hoạch bằng phần mềm Mapinfo
Trang 32Chương 3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI
- Phía Đông giáp Thị xã Sơn Tây;
- Phía Nam giáp tỉnh Hòa Bình;
- Phía Tây giáp tỉnh Phú Thọ;
(Chi tiết danh sách các xã có diện tích rừng và đất lâm nghiệp, phụ lục -bảng 3)
Trang 33- Vùng đồi gò: gồm 13 xã có diện tích tự nhiên là: 14.480,15 ha, chiếm 34,66% diện tích toàn huyện Vùng này có địa hình thấp dần từ độ cao 100m xuống 20m
- Vùng đồng bằng sông Hồng: có địa hình bằng phẳng, gồm 11 xã có diện tích tự nhiên là: 8.032,11 ha, chiếm 18,48% diện tích toàn huyện
Nhìn chung địa hình, địa thế của huyện đa dạng, phong phú phù hợp với nhiều loại cây trồng lâm, nông nghiệp Tuy nhiên do địa hình chia cắt mạnh, độ dốc lớn rất khó khăn cho công tác bảo vệ và phát triển rừng, đặc biệt một số diện tích không còn rừng đất đai bị xói mòn rửa trôi đã ảnh hưởng không nhỏ đến các hoạt động sản xuất nông nghiệp và đời sống môi sinh của người dân trong vùng
3.1.3 Khí hậu, thủy văn
+ Độ ẩm không khí trung bình năm từ 83 - 85%
+ Gió: Gió Đông nam thổi từ tháng 4 đến tháng 10 Gió Đông bắc thổi
từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau
+ Các yếu tố khí hậu như mưa đá, sương muối, gió lốc và gió khô nóng cũng thường xảy ra nên ảnh hưởng đến sản xuất nông, lâm nghiệp, đặc biệt là hiện tượng cháy rừng vào mùa khô
* Thủy văn
Trang 34- Trên địa bàn huyện Ba Vì có sông Hồng, sông Đà, sông Tích và các suối, thác, hồ Suối hai, hồ Cẩm Quỳ, hồ Yên Hồng…
- Thủy văn: Nước của các sông, suối, hồ phụ thuộc nhiều vào lượng mưa trong năm Do vậy mùa mưa lượng nước ở các sông, suối, hồ chiếm 80 - 85% lượng nước cả năm, mùa cạn chỉ vào khoảng 15 - 20%
3.1.4 Địa chất, thổ nhưỡng
Theo tài liệu địa chất miền Bắc Việt Nam của Tổng cục địa chất, xét về mặt cấu tạo địa chất thuộc hệ uốn nếp Tây Bắc Việt Nam qua thời kỳ dài trong quá trình phát triển địa chất, chịu nhiều tác động của các vận động tạo sơn và trầm tích, nên nền địa chất - đá mẹ rất phức tạp Tuy nhiên, qua tài liệu địa chất kết hợp điều tra, khảo sát tại thực địa có thể xác định loại đất chính với các đặc điểm cơ bản sau:
- Nhóm dạng đất Feralit vùng núi thấp phát triển trên đá trầm tích và biến chất có kết cấu hạt mịn Đặc điểm cơ bản loại đất này như sau:
+ Phân bố ở độ cao 500 - 700 m, thuộc phần sườn trên và đỉnh các hệ thống núi trung bình, trên địa bàn các xã Yên Bài, xã Ba Vì
+ Đất được hình thành trên các loại đá mácma và đá biến chất có nguồn gốc mácma nên khả năng phong hoá tương đối mạnh Các dạng đất thuộc nhóm này đều có tầng dày từ 50 - 80 cm, với tầng mùn thô phân giải yếu và tiếp đó là tầng mẫu chất (đá mẹ đang phong hoá), thành phần cơ giới trung bình
+ Phần lớn diện tích loại đất này có lớp thực bì che phủ thuộc các trạng thái rừng tự nhiên, song chủ yếu là các trạng thái rừng non đang phục hồi và rừng nghèo
- Nhóm đất bồi tụ : Phân bố chủ yếu vùng đồng bằng, đặc trưng của nhóm dạng đất này gồm phân bố ở đoạn cuối của các dãy núi và ven các sông suối
Trang 35Nhìn chung đất đai huyện Ba Vì còn tốt, phù hợp với nhiều loại cây trồng lâm, nông nghiệp, đất có tầng trung bình, thành phần cơ giới nhẹ, hàm lượng mùn khá Tuy nhiên, do độ dốc lớn, vào mùa mưa tập trung, tại những nơi không có độ che phủ của rừng gây ra xói mòn, rửa trôi, sạt lở đất…
3.1.5 Tài nguyên du lịch
Ba Vì có rất nhiều danh lam thắng cảnh nổi tiếng, thuận lợi cho phát triển kinh doanh du lịch Với hồ Suối Hai, Vườn quốc gia Ba Vì có nhiều cảnh quan đẹp; rừng nguyên sinh có khí hậu mát mẻ, hệ thống suối, thác nước, hồ đập có ở khắp nơi có thể đầu tư xây dựng nhiều điểm du lịch hấp dẫn du khách trong và ngoài nước
Mặt khác, Ba Vì có rất nhiều di tích lịch sử, văn hóa được Nhà nước công nhận, xếp hạng Tính đến nay có hơn 300 di tích, trong đó có 67 di tích được xếp hạng, đặc biệt có 03 di tích được xếp hạng Quốc gia là điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch
3.2 Tình hình kinh tế
3.2.1 Kinh tế chung
Những năm gần đây, nền kinh tế của huyện Ba Vì đã có mức
tăng trưởng cao Tổng giá trị sản xuất tăng từ 1.275 tỷ đồng năm 2005 lên
1843 tỷ đồng năm 2008 ước đạt 3238 tỷ đồng; năm 2010 tăng bình quân hàng năm 13,1%/năm trong 3 năm 2006-2008; 20,5%/năm trong 5 năm 2006-2010 Riêng 02 năm gần đây tăng khá cao 32,5%/ năm Tương tự, giá trị tăng thêm ( giá so sánh 94) cũng tăng với nhịp độ khá cao, tương ứng 12,7%/năm, và 17,9%/năm , 02 năm gần đây (2009-2010) tăng trưởng ở mức 26%/năm
Sự tăng trưởng cao những năm gần đây xuất phát từ đóng góp ngày càng cao của khu vực phi nông nghiệp, từ 62% trong 5 năm 2006-2010 và 70% trong 02 năm 2009-2010
Trang 36
Bảng 3.1 Một số chi tiêu kinh tế tổng hợp của huyện ba Vì
- Nông –lâm – ngư Tỷ đồng 600 1.050 1.721 20,5 23,5
- Công nhiệp – xây dựng Tỷ đồng 260 400 618 15,4 18,9
Tổng sản phẩm của huyện
(GTTT,GDP) giá ss1994 Tỷ đồng 730 1.046 1.664 12,7 17,9
- Nông –lâm – ngư Tỷ đồng 340 520 776 15,2 17,9
- Công nhiệp – xây dựng Tỷ đồng 85 171 323 26,2 30,6
Tổng sản phẩm của huyện
(GTTT,GDP) giá hiện hành Tỷ đồng 1.050 2.284 4.086 29,6 31,2
- Nông –lâm – ngư Tỷ đồng 533 1.154 1.699 29,4 26,1
- Công nhiệp – xây dựng Tỷ đồng 138 384 682 40,5 37,6
- Công nhiệp – xây dựng % 13,2 16,8 16,7
GDP/người( giá thực tế) Tr.đồng 4,0 8,6 15,1
(Nguồn: Phòng Thống kê huyện- Năm 2010)
3.2.2 Ngành nông nghiệp
Tổng giá trị sản xuất (giá ss 94) nhóm ngành nông nông nghiệp năm
2009 đạt 1262 tỷ đồng, giá trị tăng thêm (GDP) đạt 553 tỷ đồng, tăng 63% so năm 2005; năm 2010 đạt 1.721 tỷ đồng, giá trị tăng thêm đạt 776 tỷ đông
Trong cơ cấu ngành nông nghiệp, tỷ trọng ngành trồng trọt có xu hướng giảm dần (từ 71,7% năm 2005 xuống 61% năm 2009, năm 2010 là 53%), ngành chăn nuôi tăng lên tương ứng từ 28,3% lên 47% Cơ cấu sản
Trang 37phẩm ngành trồng trọt, chăn nuôi đang từng bước có sự chuyển dịch phù hợp với nhu cầu ngày càng cao của thị trường
Trồng trọt
Tổng diện tích gieo trồng toàn huyện năm 2009 là 25.766ha, năm 2010 đạt 26930 ha Giá trị sản xuất và giá trị tăng thêm bình quân 1ha canh tác đều tăng lên 75 triệu đồng và 44,5 triệu đồng năm 2009, tăng 2,02 lần so năm 2005, năm 2010 đạt 79 triệu đồng và 45,5 triệu đồng năm Hệ số sử dụng đất đạt khá 2,42 lần
Do ứng dụng tiến bộ về khoa học kỹ thuật trong sản xuất, năng suất bình quân cây lúa, ngô, đậu tương, lạc đều tăng Sản lượng lương thực có hạt năm
2009 đạt 92.639 tấn, năm 2010 đạt 96.381 tấn, trong đó sản lượng lúa đạt 76.173 tấn và 77.606 tấn Bình quân lương thực đầu người năm 2009 là 343,1kg/ người, năm 2010 là 350 kg/ người
Chăn nuôi
Tổng giá trị sản xuất ngành chăn nuôi năm 2007 đạt 449 tỷ đồng, năm
2009 đạt 671 tỷ đồng Tỷ trọng ngành chăn nuôi trong cơ cấu nội bộ ngành nông nghiệp cũng không ngừng tăng lên, từ 23% năm 2005 lên 39% năm
2009, năm 2010 đạt 47% Sản phẩm ngành chăn nuôi đang chuyển hướng mạnh theo hướng sản xuất hàng hóa, phát triển chăn nuôi theo mô hình trang trại Đặc biệt chăn nuôi bò sữa đang phát triển rất nhanh từ 2.500 con năm
2009, lên 3.800 con năm 2010, sản lượng sữa 9.500 tấn, có 02 nhà máy chế biến sữa trên địa bàn huyện
3.2.3 Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và xây dựng
Giá trị sản xuất ngành công nghiệp năm 2009 đạt 455 tỷ đồng (giá ss94)
tăng 75% so năm 2005 Tỷ trọng ngành công nghiệp xây dựng trong cơ cấu GDP đạt 13,2% năm 2005, tăng lên 16,8% năm 2008 và 16,6% năm 2009 Sản phẩm ngành công nghiệp chủ yếu là chế biến nông, lâm sản, đồ uống; sản
Trang 38xuất và chế biến chè xanh, chè đen, chè ô Long cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu; chế biến sữa, tinh bột sắn, sản xuất vật liệu xây dựng và khai thác khoáng sản, cơ khí, may mặc, đồ mộc dân dụng
Giá trị ngành sản xuất xây dựng phụ thuộc trực tiếp vào chương trình đầu tư Tổng vốn đầu tư bao gồm các nguồn vốn từ ngân sách Nhà nước, nguồn vốn đầu tư của các doanh nghiệp và nguồn vốn đầu tư của các hộ gia đình Cùng với khối lượng đầu tư tăng mạnh, tổng giá trị ngành xây dựng cũng tăng lên từ 125 tỷ đồng năm 2005 lên 130 tỷ đồng năm 2008 và 288 tỷ đồng năm 2010, tương ứng theo giá hiện hành từ 141 tỷ, lên 550 tỷ và 1121
tỷ, tăng trưởng bình quân 18,2%/ năm (năm 2006-2010)
3.2.4 Dịch vụ
Tổng doanh thu ngành dịch vụ năm 2009 đạt 559 tỷ dồng ( giá ss94) tăng 34,5% so năm 2005, năm 2010 đạt 899 tỷ đồng, tăng so với cùng kỳ 60%
Mạng lưới chợ nông thôn được đầu tư phát triển rộng khắp ở các khu vực tập trung ở các khu đông dân cư ở các xã, đảm bảo nhu cầu giao lưu bán buôn, trao đổi sản phẩm hàng hóa của nhân dân
Trên địa bàn huyện Ba Vì có 15 đơn vị doanh nghiệp đang hoạt động kinh doanh du lịch ổn định đã tạo được thương hiệu đối với khách du lịch nội
và ngoại vùng Hà Nội như khu du lịch Suối Hai, Ao Vua, Khoang Xanh – Suối Tiên… Tổng lượt khách năm 2009 đạt 1,1 triệu lượt khách trong đó có 6.000 lượt khách quốc tế tăng 63% so với năm 2005, năm 2010 dự kiến thu hút 1.5 triệu lượt khách
Doanh thu ngành du lịch năm 2009 đạt 70 tỷ đồng tăng 123,6% so với năm 2006 và thu hút được 1.000 lao động mỗi năm Vì vậy cần đa dạng hơn nữa các sản phẩm du lịch nhằm tạo nên sức thu hút hơn nữa đối với khách du lịch trong nước và nước ngoài
Trang 393.3 Thực trạng phát triển xã hội
3.3.1 Dân số, dân tộc
- Năm 2008 dân số Ba Vì là 2 652 000 người, năm 2010 là: 2 700 000 người, trong đó người dân tộc Dao và dân tộc Mường là 25.040 người chiếm 9,3% dân số toàn huyện
Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên có xu hướng giảm dần từ 0,93% năm 2008
và 0,92% năm 2010
Mật độ dân số bình quân có xu thế tăng lên, năm 2008 là 626 người/km2, năm 2010 là 637 người/km2 Chủ yếu là dân số nông thôn, dân số
đô thị không lớn chiếm 5,2% dân số toàn huyện
3.3.2 Lao động, việc làm và mức sống dân cư
- Tổng lao động trong độ tuổi năm 2008 là 1294 000 người, chiếm 48,8% dân số toàn huyện, năm 2010 là 1394 000 người, chiếm 51.5% dân số toàn huyện
- Lao động trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp có xu thế giảm dần, từ 86,5% năm 2005 còn 84% năm 2010 Ngược lại lao động trong các ngành phi nông nghiệp có xu hướng tăng 13,5% năm 2005 lên 16% năm 2010
Tỷ lệ lao động qua đào tạo năm 2008 là 15%, năm 2010 ước đạt 25% Trong 5 năm, từ năm 2006 đến năm 2010 Ba Vì đã tạo thêm bình quân mỗi năm khoảng 7.700-7.800 việc làm mới Nếu không tính những người không có khả năng lao động, đang đi học, nội trợ và không có nhu cầu lao động thì tỷ lệ lao động không có việc làm chỉ trên dưới 2% Đây là những chỉ tiêu khá tích cực đối với nền kinh tế còn nặng về sản xuất nông nghiệp như huyện Ba Vì
Thu nhập bình quân đầu người tăng từ 4 triệu đồng năm 2005 và 15,1 triệu đồng năm 2010 ( tương đương 246 USD và 851 USD), tương ứng mức chi tiêu cho tiêu dùng bình quân đầu người của dân cư năm 2008 khoảng 7
Trang 40triệu đồng, năm 2010 khoảng 11-12 triệu đồng/năm Nhờ thu nhập tăng mà nhiều chi tiêu về mức sống cũng được cải thiện như tỷ lệ học sinh đến trường,
tỷ lệ người lớn biết chữ, các chỉ tiêu về y tế, sức khỏe cộng đồng
3.3.3 Giáo dục đào tạo
- Trường Mầm non : Toàn huyện có 36 trường, đã chuyển đổi 100% trường mầm non bán công sang mần non công lập tự chủ, thành lập mới trường mầm non tư thục Lương Thế Vinh Tổng số lớp mầm non là 363 lớp, 9.776 cháu ra lớp, đạt tỉ lệ 88% Tổng số nhóm nhà trẻ là 136 nhóm, 2.639 cháu ra lớp, đạt tỉ lệ 23,1%
- Trường Tiểu học : Toàn huyện có 34 trường tiểu học, với tổng số 684 lớp, 18.883 học sinh Tỉ lệ huy động trẻ 6 tuổi ra lớp đạt 100%
- Trường THCS: Hiện toàn huyện có 33 trường THCS và 2 trường PTCS, với tổng số 442 lớp, 14.716 học sinh Tỉ lệ huy động học sinh ra lớp 6 đạt 99%
- Trường THPT, trung tâm giáo dục thường xuyên: gồm 8 trường, trong
đó có 1 trường dân lập Lương Thế Vinh, với tổng số 210 lớp, 9.562 học sinh
Về hệ thống cơ sở vật chất giáo dục, toàn ngành giáo dục huyện hiện có tổng số 1.367 phòng học, trong đó có 707 phòng kiên cố Tỉ lệ trường có phòng thư viện đạt 59%, tỉ lệ trường có phòng thí nghiệm, thiết bị đạt 47,8% Tổng số trường đạt chuẩn quốc gia hiện nay là 18 trường, đạt tỉ lệ 16,1% Với
hệ thống cơ sở vật chất phòng học, phòng chức năng còn thiếu Đối với cấp tiểu học hiện mới có 70% học 2 buổi trên ngày
3.3.4 Y tế, chăm sóc sức khỏe nhân dân
Năm 2009 mạng lưới cơ sở y tế huyện Ba Vì gồm:
1 bệnh viện đa khoa, 1 trung tâm y tế, 3 phòng đa khoa khu vực ( Minh Quang, Tản Lĩnh, Bất Bạt ), 31 trạm y tế xã, thị trấn Tổng số cán bộ y tế trên địa bàn là 448 cán bộ, trong đó: bác sĩ 51, dược sĩ 2, cao đẳng điều dưỡng 2