1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Một số giải pháp góp phần thúc đẩy quá trình thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện đông hưng, tỉnh thái bình từ kinh nghiệm mô hình thí điểm xã trọng quan

122 389 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 122
Dung lượng 1,79 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong những năm qua nhiều chương trình phát triển nông nghiệp-nông dân-nông thôn đã được thực hiện như: Chương trình tam nông, chương trình giống, chương trình khoa học công nghệ, chương

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ

công trình nghiên cứu nào khác

Tác giả

Nguyễn Thị Thùy Dung

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Sau thời gian 2 năm học tại Trường Đại học Lâm Nghiệp Việt Nam, chương trình đào tạo Cao học Khóa 18 (2010 – 2012), chuyên ngành Kinh tế

nông nghiệp, hiện nay tôi đã hoàn thành luận văn tốt nghiệp cho khóa học:

“Một số giải pháp góp phần thúc đẩy quá trình thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình từ kinh nghiệm mô hình thí điểm xã Trọng Quan”

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu nhà trường đã tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập

Cảm ơn các thầy cô trong Khoa đào tạo sau Đại học, thầy cô bộ môn trong và ngoài trường đã nhiệt tình giảng dạy và truyền đạt kiến thức, giúp đỡ tạo điều kiện cho tôi trong công tác, học tập

Đặc biệt tôi xin chân thành cảm ơn TS Lê Minh Chính người đã chỉ bảo, hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn các nhà khoa học, các chuyên gia đã tận tình giúp

đỡ, đóng góp ý kiến xây dựng trong quá trình thực hiện luận văn

Qua đây cũng cho phép tôi được gửi lời cảm ơn tới các cán bộ, xã viên

ủy ban nhân dân và toàn thể nhân dân xã Trọng Quan

Cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình, động viên của gia đình, bạn bè, đồng nghiệp và các học viên trong lớp K18B KTNN giúp tôi hoàn thành luận văn

Do điều kiện thời gian và năng lực có hạn, bản thân tôi cũng đã cố gắng, nỗ lực hết mình song bài luận văn chắc chắn sẽ không tránh khỏi những khiếm khuyết Rất mong các thầy cô, các nhà khoa học, các đồng nghiệp tiếp tục đóng góp ý kiến chỉ bảo để tôi có thêm cơ hội tiếp thu nâng cao kiến thức chuyên môn của bản thân./

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày tháng năm 2012

Tác giả

Nguyễn Thị Thùy Dung

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục các từ viết tắt vi

Danh mục các bảng vii

Danh mục các hình viii

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 5

1.1 Cơ sở lý luận 5

1.1.1 Khái niệm nông nghiệp, nông dân, nông thôn 5

1.1.2 Khái niệm phát triển nông thôn 5

1.1.3 Nông thôn mới 5

1.1.4 Nội dung Bộ tiêu chí Quốc gia về NTM 8

1.1.5 Nguyên tắc xây dựng NTM 9

1.1.6 Mục tiêu của chương trình NTM 9

1.1.7 Vai trò chủ thể của người dân trong quá trình xây dựng NTM 10

1.1.8 Nội lực của cộng đồng 12

1.2 Cơ sở thực tiễn 12

1.2.1 Một số chủ trương của Đảng và Nhà nước Việt Nam về xây dựng NTM 12

1.2.2 Một số chủ trương của tỉnh Thái Bình về xây dựng NTM 13

1.2.3 Cơ sở thực tiễn từ kinh nghiệm một số nước trên thới giới trong xây dựng NTM 13 1.2.4 Cơ sở thực tiễn từ kinh nghiệm ở Việt Nam trong xây dựng NTM 20

Trang 4

CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU 25

2.1 Đặc điểm cơ bản của địa bàn nghiên cứu 25

2.1.1 Giới thiệu chung về địa bàn huyện Đông Hưng 25

2.1.4 Giới thiệu chung về địa bàn xã Trọng Quan 31

2.2 Phương pháp nghiên cứu 34

2.2.1 Phương pháp chọn địa điểm nghiên cứu, khảo sát 34

2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu 35

2.2.3 Phương pháp chuyên gia 36

2.2.4 Phương pháp xử lý số liệu 36

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 37

3.1 Kết quả xây dựng NTM ở huyện Đông Hưng 37

3.2 Những khó khăn trong quá trình xây dựng NTM ở Đông Hưng 40

3.3 Phương hướng, nhiệm vụ xây dựng NTM ở huyện Đông Hưng 42

3.4 Kế hoạch phát triển xã Trọng Quan giai đoạn 2009-2013 theo tiêu chí NTM 43 3.5 Kết quả thực hiện xây dựng NTM tại xã Trọng Quan 47

3.5.1 Kết quả thực hiện tiêu chí quy hoạch 53

3.5.2 Kết quả thực hiện nhiệm vụ hạ tầng kinh tế- xã hội 56

3.5.3 Kết quả thực hiện nhiệm vụ kinh tế và tổ chức sản xuất 67

3.5.4 Kết quả thực hiện nhiệm vụ văn hóa – xã hội – môi trường 73

3.5.5 Kết quả thực hiện nhiệm vụ hệ thống chính trị 75

3.6 Nhân tố ảnh hưởng đến kết quả xây dựng NTM trên địa bàn xã Trọng Quan 79

3.6.1 Vốn, nguồn vốn 79

3.6.2 Công tác tuyên truyền 80

3.6.3 Thực trạng sự tham gia của người dân vào chương trình XDNTM ở xã Trọng Quan 81

Trang 5

3.7 Bài học kinh nghiệm qua mô hình thí điểm thực hiện chương trình xây dựng NTM tại xã Trọng Quan 88 3.8 Một số giải pháp đề xuất góp phần thực hiện chương trình xây dựng NTM trên địa bàn huyện Đông Hưng từ kinh nghiệm thí điểm tại xã

Trọng Quan 92 KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 99 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 6

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

CNH - HĐH Công nghiệp hóa – hiện đại hóa

NTM Nông thôn mới CSHT Cơ sở hạ tầng

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

3.1 Đánh giá kết quả thực hiện đề án xây dựng ntm xã trọng quan so

với 19 tiêu chí

49

3.2 Tình hình sử dụng đất trên địa bàn xã Trọng Quan 54 3.3 Kết quả thực hiện tiêu chí giao thông ở xã Trọng Quan 58 3.4 Kết quả thực hiện tiêu chí thủy lợi tại xã Trọng Quan 60 3.5 Thực trạng cơ sở vật chất trường học tại xã Trọng Quan 61 3.6 Hiện trạng cơ sở vật chất văn hóa xã Trọng Quan 64

3.9 Thống kê số lượng lao động theo ngành nghề tại xã Trọng Quan 69 3.10 Kết quả thực hiện chương trình NTM của Trọng Quan giai đoạn

Trang 8

3.4 Đường bờ vùng xã Trọng Quan đang được đầu tư phục vụ dân

sinh và sản xuất nông nghiệp

59

3.5 Trường Mầm non Xã Trọng Quan đầu tư xây dựng mới theo tiêu

chí nông thôn mới

62

3.8 Đồ thị cơ cấu kinh tế xã Trọng Quan trước và sau khi xây dựng NTM 67 3.9 Đồ thị cơ cấu lao động theo nghành nghề tại xã Trọng Quan 70

Trang 9

ĐẶT VẤN ĐỀ 1.Tính cấp thiết của đề tài

Ở Việt Nam tính đến năm 1999 dân số sống ở vùng nông thôn chiếm 76,5%, năm 2009 chiếm 70,4%, năm 2011 chiếm 69,4% Chính vì thế cuộc sống và tổ chức nông thôn ảnh hưởng rất mạnh mẽ đến toàn xã hội

Trong những năm qua nhiều chương trình phát triển nông nghiệp-nông dân-nông thôn đã được thực hiện như: Chương trình tam nông, chương trình giống, chương trình khoa học công nghệ, chương trình khuyến nông, khuyến lâm bên cạnh đó, với nhiều chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn như: Chương trình mục tiêu quốc gia về nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn; Chương trình 135; Chương trình mục tiêu xóa đói giảm nghèo; Quyết định 131/2009/QĐ-TTg ngày 21/1/2009 về một số chính sách ưu đãi, khuyến khích đầu tư và quản lý khai thác chương trình cấp nước sạch nông thôn; Nghị quyết 02/NĐ-CP ngày 8/10/2010 của chính phủ về khuyến nông; Nghị định 80/NĐ-CP ngày 19/5/2011 về định hướng giảm nghèo bền vững thời kỳ 2011-2020 , Các chương trình, dự án đã góp phần giúp khu vực nông nghiệp, nông thôn có bước phát triển khá toàn diện, năm 2011 Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản tăng 5,2% so cùng kỳ năm trước Trong đó, nông nghiệp tăng 4,78%; lâm nghiệp tăng 5,74%; thủy sản tăng 6,39% Kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội được tăng cường, bộ mặt nông thôn có nhiều đổi mới, an ninh - chính trị, trật tự an toàn được giữ vững

Tuy nhiên, sau 25 năm thực hiện đường lối đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo, thành tựu đạt được chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế: Nông nghiệp phát triển còn kém bền vững, sức cạnh tranh thấp, chuyển giao khoa học – công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực còn hạn chế Nông nghiệp, nông thôn phát triển thiếu quy hoạch, kết cấu hạ tầng như giao thông, thủy lợi, trường học, trạm y tế, cấp nước…còn yếu kém, môi trường ngày

Trang 10

càng ô nhiễm Đời sống vật chất, tinh thần của người nông dân còn thấp, tỷ lệ

hộ nghèo cao, chênh lệch giàu nghèo giữa nông thôn và thành thị còn lớn phát sinh nhiều vấn đề xã hội bức xúc

Với thực trạng nông thôn hiện nay chưa đáp ứng được yêu cầu công nghiệp hóa- hiện đại hóa, do đó đòi hỏi phải có sự đột phá trên tất các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội, môi trường nhằm phát triển nông thôn bền vững, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của dân cư nông thôn

Để giải quyết những vấn đề này theo quyết định số 800/QĐ-TTg của Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới (NTM) giai đoạn 2010-2020, Chính phủ đã triển khai chương trình xây dựng NTM giai đoạn 2011 – 2015, định hướng đến năm 2020 với 19 bộ tiêu chí

Sau khi xây dựng NTM trên 11 xã điểm của Trung ương, thực tế đã chứng minh được rằng, người dân ở đó đang được tiếp cận và thụ hưởng nền sản xuất phát triển, cuộc sống sung túc hơn, diện mạo sạch sẽ, thôn xóm văn minh và quản lý dân chủ hơn

Xã Trọng Quan là một trong 8 xã của tỉnh Thái Bình được chọn làm điểm xây dựng NTM từ năm 2009, đến tháng 2 năm 2012 xã đã hoàn thành 13/19 tiêu chí, hoàn thành việc xây dựng đề án xây dựng NTM và các đề án thành phần, giờ đây diện mạo của xã đã thay đổi rất lớn Nhận thấy xây dựng NTM là một tất yếu để phát triển nông thôn tôi mạnh dạn chọn đề tài nghiên

cứu: “Một số giải pháp góp phần thúc đẩy quá trình thực hiện chương trình xây dựng NTM trên địa bàn huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình từ kinh nghiệm mô hình thí điểm xã Trọng Quan” nhằm đánh giá thực trạng,

tiềm lực và xác định các điều kiện, để đáp ứng tiêu chí xã NTM cũng như cách tiếp cận để thúc đẩy quá trình xây dựng NTM trên địa bàn huyện trong thời gian tới

Trang 11

Kết quả của nghiên cứu này hết sức cần thiết trong giai đoạn hiện nay với công cuộc xây dựng NTM trên địa bàn cả nước nói chung và tỉnh Thái Bình nói riêng, qua đó rút ra nhiều bài học kinh nghiệm phổ biến cho huyện nhà Đông Hưng trong công cuộc xây dựng NTM thời gian tới

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu tổng quát

Đề xuất các giải pháp góp phần thúc đẩy quá trình thực hiện chương trình xây dựng NTM trên địa bàn huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình từ kinh nghiệm mô hình thí điểm xã Trọng Quan

2.2 Mục tiêu cụ thể

+ Hệ thống hoá được cơ sở lý luận về xây dựng NTM

+ Đánh giá kết quả thực hiện chương trình xây dựng NTM, rút ra bài học kinh nghiệm từ xã Trọng Quan – Đông Hưng – Thái Bình

+ Đề xuất một số giải pháp góp phần thúc đẩy chương trình xây dựng NTM trên địa bàn Huyện Đông Hưng từ kinh nghiệm mô hình thí điểm xã Trọng Quan

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài

Đề tài nghiên cứu thực hiện ở phạm vi xã điểm Trọng Quan, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình

3.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài

Phạm vi về nội dung: Đề tài nghiên cứu việc thực hiện NTM ở phạm vi

xã điểm Trọng Quan, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình

Phạm vi về không gian: Địa giới hành chính xã Trọng Quan, huyện

Đông Hưng, tỉnh Thái Bình

Phạm vi về thời gian: Nghiên cứu số liệu các năm 2009- 2012

Trang 12

4 Nội dung nghiên cứu

- Cơ sở lý luận và thực tiễn về nông thôn, phát triển nông thôn và xây dựng NTM

- Đánh giá thực trạng xã Trọng Quan so với các tiêu chí NTM vào thời điểm nghiên cứu

- Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả xây dựng NTM trên địa bàn xã Trọng Quan

- Rút ra được bài học kinh nghiệm qua mô hình thí điểm thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới tại xã Trọng Quan

- Đề xuất các giải pháp nhằm đẩy nhanh, rút ngắn tiến trình xây dựng NTM trên địa bàn huyện Đông Hưng trong quá trình xây dựng NTM

Trang 13

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Khái niệm nông nghiệp, nông dân, nông thôn

- Nông nghiệp là quá trình sản xuất ra lương thực, thực phẩm cung cấp cho

con người và tạo ra của cải cho xã hội

- Nông dân là những người lao động cư trú ở nông thôn, tham gia sản xuất

NN, sống chủ yếu bằng ruộng vườn sau đó đến ngành nghề khác và tư liệu chính

là đất đai

- Nông thôn là khái niệm dùng để chỉ một vùng hành chính bên ngoài

thành thị, ở đó một cộng đồng người chủ yếu là nông dân sống và làm việc,

có mật độ dân cư thấp, có kết cấu hạ tầng kém phát triển hơn, có trình độ dân trí, trình độ tiếp cận thông tin và sản xuất hàng hóa kém hơn

1.1.2 Khái niệm phát triển nông thôn

Phát triển nông thôn là những thay đổi cần thiết ở vùng nông thôn, tuy nhiên những gì coi là cần thì lại khác nhau ở từng nước, từng vùng, từng địa phương theo quan điểm thông thường, bản chất của phát triển là tăng trưởng

và hiện đại hóa mang lại lợi ích cho người nghèo

Phát triển nông thôn là quá trình nhằm cải thiện và nâng cao đời sống của người dân nông thôn một cách bền vững về kinh tế xã hội, văn hóa và môi trường, quá trình này trước hết là do nỗ lực từ chính người dân nông thôn và

có sự hỗ trợ tích cực của Chính phủ và các tổ chức khác

1.1.3 Nông thôn mới

Theo tinh thần Nghị quyết 26-NQ/T.Ư của Trung ương, nông thôn mới

là khu vực nông thôn có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước hiện đại;

cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với

Trang 14

phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; an ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao; theo định hướng xã hội chủ nghĩa

Với tinh thần đó, nông thôn mới có năm nội dung cơ bản Thứ nhất là nông thôn có làng xã văn minh, sạch đẹp, hạ tầng hiện đại Hai là sản xuất bền vững, theo hướng hàng hóa Ba là đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao Bốn là bản sắc văn hóa dân tộc được giữ gìn và phát triển Năm là xã hội nông thôn được quản lý tốt và dân chủ

Xây dựng NTM là gì?

Xây dựng NTM là cuộc cách mạng và cuộc vận động lớn để cộng đồng

dân cư ở nông thôn đồng lòng xây dựng thôn, xã, gia đình của mình khang trang, sạch đẹp; phát triển sản xuất toàn diện (nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ); có nếp sống văn hoá, môi trường và an ninh nông thôn được đảm bảo; thu nhập, đời sống vật chất, tinh thần của người dân được nâng cao

Xây dựng NTM là sự nghiệp cách mạng của toàn Đảng, toàn dân, của

cả hệ thống chính trị NTM không chỉ là vấn đề kinh tế - xã hội, mà là vấn đề kinh tế - chính trị tổng hợp

Xây dựng NTM giúp cho nông dân có niềm tin, trở nên tích cực, chăm chỉ, đoàn kết giúp đỡ nhau xây dựng nông thôn phát triển giàu đẹp, dân chủ, văn minh

Vì sao phải xây dựng NTM?

Do kết cấu hạ tầng nội thôn (điện, đường, trường, trạm, chợ, thủy lợi, còn nhiều yếu kém, vừa thiếu, vừa không đồng bộ); nhiều hạng mục công trình đã xuống cấp, tỷ lệ giao thông nông thôn được cứng hoá thấp; giao thông nội đồng ít được quan tâm đầu tư; hệ thống thuỷ lợi cần được đầu tư

Trang 15

nâng cấp; chất lượng lưới điện nông thôn chưa thực sự an toàn; cơ sở vật chất

về giáo dục, y tế, văn hoá còn rất hạn chế, mạng lưới chợ nông thôn chưa được đầu tư đồng bộ, trụ sở xã nhiều nơi xuống cấp Mặt bằng để xây dựng cơ

sở hạ tầng nông thôn đạt chuẩn quốc gia rất khó khăn, dân cư phân bố rải rác, kinh tế hộ kém phát triển

Do sản xuất nông nghiệp manh mún, nhỏ lẻ, bảo quản chế biến còn hạn chế, chưa gắn chế biến với thị trường tiêu thụ sản phẩm; chất lượng nông sản chưa đủ sức cạnh tranh trên thị trường Chuyển dịch cơ cấu kinh tế, ứng dụng khoa học công nghệ trong nông nghiệp còn chậm, tỷ trọng chăn nuôi trong nông nghiệp còn thấp; cơ giới hoá chưa đồng bộ

Do thu nhập của nông dân thấp; số lượng doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn còn ít; sự liên kết giữa người sản xuất và các thành phần kinh tế khác ở khu vực nông thôn chưa chặt chẽ Kinh tế hộ, kinh tế trang trại, hợp tác xã còn nhiều yếu kém Tỷ lệ lao động nông nghiệp còn cao,

cơ hội có việc làm mới tại địa phương không nhiều, tỷ lệ lao động nông lâm nghiệp qua đào tạo thấp; tỷ lệ hộ nghèo còn cao

Do đời sống tinh thần của nhân dân còn hạn chế, nhiều nét văn hoá truyền thống đang có nguy cơ mai một (tiếng nói, phong tục, trang phục ); nhà ở dân cư nông thôn vẫn còn nhiều nhà tạm, dột nát Hiện nay, kinh tế - xã hội khu vực nông thôn chủ yếu phát triển tự phát, chưa theo quy hoạch

Do yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, cần

3 yếu tố chính: đất đai, vốn và lao động kỹ thuật Qua việc xây dựng NTM sẽ triển khai quy hoạch tổng thể, đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa

Mặt khác, mục tiêu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp Vì vậy, một nước công nghiệp không thể để nông nghiệp, nông thôn lạc hậu, nông dân nghèo khó

Trang 16

1.1.4 Nội dung Bộ tiêu chí Quốc gia về NTM

Bộ tiêu chí quốc gia về NTM, được Thủ tướng Chính phủ ký quyết định ban hành vào tháng 4-2009, là sự hợp thành của 19 nội dung tiêu chí cụ

thể, phân thành 5 nhóm (xem chi tiết ở phụ lục)

Bảng 1.1 Nội dung Bộ tiêu chí Quốc gia về NTM

Trang 17

-5 nhóm là: Nhóm 1: Quy hoạch, nhóm 2: Hạ tầng kinh tế xã hội,

nhóm 3: Kinh tế và tổ chức sản xuất, nhóm 4: Văn hóa- xã hội - môi trường, nhóm 5: Hệ thống chính trị

1.1.5 Nguyên tắc xây dựng NTM

- Nội dung xây dựng NTM hướng tới thực hiện Bộ tiêu chí Quốc gia được qui định tại Quyết định 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ

- Xây dựng NTM theo phương châm phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng dân cư địa phương là chính, Nhà nước đóng vai trò định hướng, ban hành các tiêu chí, quy chuẩn xã đặt ra các chính sách, cơ chế hỗ trợ và hướng dẫn Các hoạt động cụ thể do chính cộng đồng người dân ở thôn, xã bàn bạc dân chủ để quyết định và tổ chức thực hiện

- Được thực hiện trên cơ sở kế thừa và lồng ghép các chương trình MTQG, chương trình hỗ trợ có mục tiêu, các chương trình, dự án khác đang triển khai ở nông thôn, có bổ sung dự án hỗ trợ đối với các lĩnh vực cần thiết;

có cơ chế, chính sách khuyến khích mạnh mẽ đầu tư của các thành phần kinh tế; huy động đóng góp của các tầng lớp dân cư

- Được thực hiện gắn với các quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế -

xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng của mỗi địa phương (xã, huyện, tỉnh); có quy hoạch và cơ chế đảm bảo cho phát triển theo quy hoạch (trên cơ sở các tiêu chuẩn kinh tế, kỹ thuật do các Bộ chuyên ngành ban hành)

- Là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội; cấp uỷ Đảng, chính quyền đóng vai trò chỉ đạo, điều hành quá trình xây dựng quy hoạch, kế hoạch, tổ chức thực hiện; Hình thành cuộc vận động “toàn dân xây dựng NTM“

do Mặt trận Tổ quốc chủ trì cùng các tổ chức chính trị - xã hội vận động mọi tầng lớp nhân dân phát huy vai trò chủ thể trong việc xây dựng NTM

1.1.6 Mục tiêu của chương trình NTM

Trang 18

Xây dựng xã NTM nhằm đạt được được những mục tiêu cơ bản như sau: Không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của dân cư nông thôn; Nâng cao dân trí, đào tạo nông dân có trình độ sản xuất cao, có nhận thức chính trị đúng đắn, đóng vai trò làm chủ NTM

Xây dựng nền nông nghiệp phát triển bền vững theo hướng hiện đại Nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả trong sản xuất Sản phẩm nông nghiệp có sức cạnh tranh cao

Xây dựng NTM có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội đồng bộ và hiện đại, nhất là đường giao thông, thủy lợi, trường học, trạm y tế, khu dân cư,…; xây dựng xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, văn minh, giàu đẹp, bảo vệ môi trường sinh thái, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc; an ninh trật tự được giữ vững theo định hướng xã hội chủ nghĩa

Hệ thống chính trị ở nông thôn dưới sự lãnh đạo của Đảng được tăng cường, xây dựng giai cấp nông dân, củng cố liên minh công nhân - nông dân -

trí thức

1.1.7 Vai trò chủ thể của người dân trong quá trình xây dựng NTM

Đúng như câu nói của Hồ Chí Minh: “ Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong” Sự tham gia của người dân vào chương trình xây dựng NTM được coi là nhân tố quan trọng, quyết định đến

sự thành công hay thất bại của chương trình Mô hình NTM được thực hiện nhằm phát huy tối đa sự tham gia của người dân vào quá trình phát triển theo phương châm: “ dân biết, dân bàn, dân đóng góp, dân làm, dân kiểm tra, dân quản lý và dân hưởng thụ”

- Dân biết: Là quyền lợi, nghĩa vụ và sự hiểu biết của người nông dân

về kiến thức bản địa có thể đóng góp vào quá trình quy hoạch nông thôn, quá trình khảo sát thiết kế các công trình xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn

Trang 19

- Dân bàn: Sự tham gia ý kiến của người dân liên quan đến kế hoạch phát triển sản xuất, các giải pháp, các hoạt động nông dân trong nội bộ cộng đồng dân cư hưởng lợi

- Dân làm: Chính là sự tham gia lao động trực tiếp từ người dân vào các hoạt động phát triển nông thôn tạo cơ hội cho người dân có việc làm, tăng thu nhập

- Dân đóng góp: Là một yếu tố không chỉ ở phạm trù vật chất, tiền bạc

mà còn là phạm trù nhận thức quyền sở hữu và tính trách nhiệm, tăng tính tự giác của từng người dân trong cộng đồng Hình thức đóng góp có thể là : tiền, sức lao động, vật tư, trí tuệ

- Dân kiểm tra: Thông qua các chương trình, hoạt động có sự giám sát

và đánh giá của người dân, để thực hiện các quy chế dân chủ cơ sở của Đảng

và Nhà nước nói chung và nâng cao hiệu quả của công trình việc kiểm tra có thể được tiến hành ở tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư trên các khía cạnh kỹ thuật và tài chính

- Dân quản lý: Do có sự tham gia của người dân, các công trình sau khi hoàn thành cần được quản lý trực tiếp của một tổ chức do dân hưởng lợi lập ra

để tránh tình trạng không rõ ràng vể chủ sở hữu

- Dân hưởng thụ: Hưởng tất cả những thành quả chương trình mang lại

Cụ thể vai trò chủ thể của nông dân trong từng công việc:

- Tham gia ý kiến vào đề án xây dựng NTM và bản đồ án quy hoạch NTM cấp xã;

- Tham gia vào lựa chọn những công việc gì cần làm trước và việc gì làm sau để thiết thực với yêu cầu của người dân trong xã và phù hợp với khả năng, điều kiện của địa phương

- Quyết định mức độ đóng góp trong xây dựng các công trình công cộng của thôn, xã

- Cử đại diện (Ban giám sát) để tham gia quản lý và giám sát các công trình xây dựng của xã

Trang 20

- Tổ chức quản lý, vận hành và bảo dưỡng các công trình sau khi hoàn thành

1.1.8 Nội lực của cộng đồng

- Công sức, tiền của do người dân và cộng đồng tự bỏ ra để chỉnh trang nơi ở của gia đình mình như: Xây dựng, nâng cấp nhà ở; xây dựng đủ 3 công trình vệ sinh; cải tạo, bố trí lại các công trình phục vụ khu chăn nuôi hợp vệ sinh theo chuẩn NTM; cải tạo lại vườn ao để có thu nhập và cảnh quan đẹp; sửa sang cổng ngõ, tường rào đẹp đẽ, khang trang

- Đầu tư cho sản xuất ngoài đồng ruộng hoặc cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ để có thu nhập cao

- Đóng góp, xây dựng các công trình công cộng của làng xã như giao thông thôn, xóm; kiên cố hóa kênh mương; vệ sinh công cộng

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Một số chủ trương của Đảng và Nhà nước Việt Nam về xây dựng NTM

- Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng về xây dựng NTM

- Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 5 tháng 8 năm 2008 của Ban chấp hành

TW Đảng khóa X về “Nông nghiệp - Nông dân - Nông thôn” (Tam nông)

- Nghị quyết 24/2008/NQ-CP về chương trình hành động của Chính phủ

- Quyết định 491/QĐ-TTg ngày 16/9/2009 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Bộ tiêu chí Quốc gia NTM

- Ban Bí thư TW Đảng có thông báo 238-TB/TW tháng 4 – 2009 về việc xây dựng thí điểm mô hình NTM

- Quyết định 800/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt “Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM giai đoạn 2010 – 2020”

- Quyết định số 1013/QĐ-TTg ngày 01 tháng 7 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập Ban chỉ đạo Trung ương chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng NTM giai đoạn 2010 – 2020

Trang 21

1.2.2 Một số chủ trương của tỉnh Thái Bình về xây dựng NTM

- Quyết định số 1369/QĐ-UBND, ngày 14/7/2011 của UBND tỉnh Thái Bình về việc phê duyệt kế hoạch phân bổ vốn Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM năm 2011

- Nghị quyết 02 - NQ/TU của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh về xây dựng NTM giai đoạn 2011 – 2015 định hướng đến năm 2020

- Quyết định số 09/2011/QĐ-UBND,ngày 16/8/2011 về việc Ban hành quy định một số cơ chế, chính sách hỗ trợ và quản lý đầu tư xây dựng công trình kết cấu hạ tầng NTM tỉnh Thái Bình, giai đoạn 2011-2015

- Hướng dẫn số 01/HD-LN ngày 17/ 8 /2011 về Thực hiện một số cơ chế, chính sách hỗ trợ và quản lý đầu tư xây dựng công trình kết cấu hạ tầng NTM tỉnh Thái Bình, giai đoạn 2011-2015 ban hành kèm theo Quyết định số 09/2011/QĐ-UBND ngày 16/8/2011 của UBND tỉnh

- Kế hoạch số 20/KH-UBND, ngày 16/8/2011 về Dồn điền, đổi thửa đất nông nghiệp thực hiện quy hoạch xây dựng NTM

1.2.3 Cơ sở thực tiễn từ kinh nghiệm một số nước trên thới giới trong xây dựng NTM

Phát triển nông thôn là mục tiêu quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế bình ổn xã hội, nhằm đạt đến sự phát triển bền vững cho mỗi quốc gia Tuy nhiên mỗi quốc gia có một quốc sách phát triển phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của đất nước mình

- Kinh nghiệm phát triển NTM của Trung Quốc – xí nghiệp Hương Trấn trong lĩnh vực nông thôn

Xí nghiệp Hương Trấn là một loại hình xí nghiệp kinh tế do nông dân

tự nguyện thành lập ngay tại quê hương mình trên cơ sở sử dụng lợi thế về tài nguyên, lao động và các nguồn lực kinh tế khác dưới sự quản lý của chính quyền các cấp, sự lãnh đạo của Đảng và quan tâm giúp đỡ của Nhà nước

Trang 22

Xí nghiệp Hương Trấn là một hình thức mới của công nghiệp hóa nông thôn, đã đẩy mạnh tốc độ công nghiệp hóa đất nước, làm giảm chênh lệch giàu nghèo giữa thành thị và nông thôn Tuy vậy, Trung Quốc rất chú ý tới phát triển nông nghiệp, lấy sản xuất nông nghiệp là chính và lấy xí nghiệp Hương Trấn làm trụ cột để phát triển nông nghiệp và nông thôn

Như vậy có thể nói rằng xí nghiệp Hương Trấn là mô hình đặc biệt của Trung Quốc và nó đã được nhân rộng ra những vùng ở nông thôn tạo nên sức mạnh kinh tế to lớn, giải quyết những vấn đề xã hội gay cấn và mang ý nghĩa kinh tế xã hội sâu sắc Xí nghiệp Hương Trấn đã tạo ra cho nông dân tự lập trong thu nhập, ổn định đời sống vật chất và tinh thần cho nông dân Trung Quốc

- Hàn Quốc xây dựng NTM qua mô hình Làng mới

Hàn Quốc vào những năm đầu 60 vẫn là một nước chậm phát triển , nông nghiệp là nghành sản xuất chính, 2/3 dân số sống ở khu vực nông thôn, cuộc sống người dân nghèo nàn, an phận thủ thường, họ cho rằng nghèo là do

số phận, là do kết quả của cha ông để lại, do lãnh đạo đất nước thiếu năng lực, nông dân thiếu tinh thần trách nhiệm về bản thân mình mà chỉ đổ tại cho khách quan bên ngoài,những suy nghĩ còn mang tính thụ động và ỷ lại ở phần đông nông dân cần được thay đổi, do vậy các chính sách mới cần phải khơi dậy được niền tin và tính tích cực đối với việc phát triển nông thôn, khơi dậy tính độc lập, hăng say lao động của đội ngũ nông dân ở khu vực nông thôn là làm thay đổi những suy nghĩ thụ động và ỷ lại ở hầu hết nhân dân sống trong khu vực nông thôn và nâng cao vai trò của họ trong cuộc sống

Mục tiêu chính của chính sách mới là: Người dân có niềm tin và trở nên tích cực đối với sự nghiệp phát triển nông thôn, làm việc chăm chỉ, cần

cù, sáng tạo, độc lập và cộng đồng Phong trào làng mới nhấn mạnh đến yếu

tố quan trọng nhất tạo động lực cho phát triển là “ phát triển tinh thần của

Trang 23

người nông dân”, lấy kích thích vật chất nhỏ để kích thích tinh thần và qua đó phát huy nội lực tiềm tàng to lớn của nông dân

Phong trào Làng mới (SU) ra đời với 3 tiêu chí: cần cù (chăm chỉ), tự lực vượt khó và hợp tác (hiệp lực cộng đồng) Năm 1970, sau những dự án thí điểm đầu tư cho nông thôn có hiệu quả, Chính phủ Hàn Quốc đã chính thức phát động phong trào SU và được nông dân hưởng ứng mạnh mẽ Họ thi đua cải tạo nhà mái lá bằng mái ngói, đường giao thông trong làng, xã được mở rộng, nâng cấp; các công trình phúc lợi công cộng được đầu tư xây dựng Phương thức canh tác được đổi mới, chẳng hạn, áp dụng canh tác tổng hợp với nhiều mặt hàng mũi nhọn như nấm và cây thuốc lá để tăng giá trị xuất khẩu Chính phủ khuyến khích và hỗ trợ xây dựng nhiều nhà máy ở nông thôn, tạo việc làm và cải thiện thu nhập cho nông dân

Bộ mặt nông thôn Hàn Quốc đã có những thay đổi hết sức kỳ diệu Chỉ sau 8 năm, các dự án phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn cơ bản được hoàn thành Trong 8 năm từ 1971-1978, Hàn Quốc đã cứng hóa được 43.631km đường làng nối với đường của xã, trung bình mỗi làng nâng cấp được 1.322m đường; cứng hóa đường ngõ xóm 42.220km, trung bình mỗi làng là 1.280m; xây dựng được 68.797 cầu (Hàn Quốc là đất nước có nhiều sông suối), kiên

cố hóa 7.839km đê, kè, xây 24.140 hồ chứa nước và 98% hộ có điện thắp sáng Đặc biệt, vì không có quỹ bồi thường đất và các tài sản khác nên việc hiến đất, tháo dỡ công trình, cây cối, đều do dân tự giác bàn bạc, thỏa thuận, ghi công lao đóng góp và hy sinh của các hô ̣ cho phong trào Nhờ phát triển giao thông nông thôn nên các hộ có điều kiện mua sắm phương tiện sản xuất

Cụ thể là, năm 1971, cứ 3 làng mới có 1 máy cày, thì đến năm 1975, trung bình mỗi làng đã có 2,6 máy cày, rồi nâng lên 20 máy vào năm 1980 Từ đó, tạo phong trào cơ khí hóa trong sản xuất nông nghiệp, áp dụng công nghệ cao, giống mới lai tạo đột biến, công nghệ nhà lưới, nhà kính trồng rau, hoa quả đã

Trang 24

thúc đẩy năng suất, giá trị sản phẩm nông nghiệp, tăng nhanh Năm 1979, Hàn Quốc đã có 98% số làng tự chủ về kinh tế

Thắng lợi đó được Hàn Quốc tổng kết thành 6 bài học lớn

Thứ nhất, phát huy nội lực của nhân dân để xây dựng kết cấu hạ tầng

nông thôn - phương châm là nhân dân quyết định và làm mọi việc, “nhà nước

bỏ ra 1 vật tư, nhân dân bỏ ra 5-10 công sức và tiền của” Dân quyết định loại công trình, dự án nào cần ưu tiên làm trước, công khai bàn bạc, quyết định thiết kế và chỉ đạo thi công, nghiệm thu công trình Sự trợ giúp này chính là chất xúc tác thúc đẩy phong trào NTM, dân làng tự quyết định mức đó ng góp đất, ngày công lao đô ̣ng cho các dự án

Thứ hai, phát triển sản xuất để tăng thu nhập Khi kết cấu hạ tầng phục

vụ sản xuất được xây dựng, các cơ quan, đơn vị chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, giống mới, khoa học công nghệ giúp nông dân tăng năng suất cây trồng, vật nuôi, xây dựng vùng chuyên canh hàng hóa Chính phủ xây dựng nhiều nhà máy ở nông thôn để chế biến và tiêu thụ nông sản cũng như có chính sách tín dụng nông thôn, cho vay thúc đẩy sản xuất Từ năm 1972 đến năm 1977, thu nhập trung bình của các hô ̣ tăng lên 3 lần

Thứ ba, đào tạo cán bộ phục vụ phát triển nông thôn Hàn Quốc, xác

định nhân tố quan trọng nhất để phát triển phong trào SU là đội ngũ cán bộ cơ

sở theo tinh thần tự nguyện và do dân bầu Hàn Quốc đã xây dựng 3 trung tâm đào tạo quốc gia và mạng lưới trường nghiệp vụ của các ngành ở địa phương Nhà nước đài thọ, mở các lớp học trong thời gian từ 1-2 tuần để trang bị đủ kiến thức thiết thực như kỹ năng lãnh đạo cơ bản, quản lý dự án, phát triển cộng đồng

Thứ tư, phát huy dân chủ để phát triển nông thôn Hàn Quốc thành lập

hội đồng phát triển xã, quyết định sử dụng trợ giúp của chính phủ trên cơ sở

Trang 25

công khai, dân chủ, bàn bạc để triển khai các dự án theo mức độ cần thiết của địa phương

Thứ năm, phát triển kinh tế hợp tác từ phát triển cộng đồng Hàn Quốc

đã thiết lập lại các hợp tác xã (HTX) kiểu mới phục vụ trực tiếp nhu cầu của dân, cán bộ HTX do dân bầu chọn, hoạt đô ̣ng cung cấp đầu vào cho sản xuất, tiếp thị nông sản, bảo hiểm nông thôn và các dịch vụ khác

Thứ sáu, phát triển và bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường bằng sức mạnh

toàn dân Chính phủ quy hoạch, xác định chủng loại cây rừng phù hợp, hỗ trợ giống, tập huấn cán bộ kỹ thuật chăm sóc vườn ươm và trồng rừng để hướng dẫn và yêu cầu tất cả chủ đất trên vùng núi trọc đều phải trồng rừng, bảo vệ rừng Nếu năm 1970, phá rừng còn là quốc nạn, thì 20 năm sau, rừng xanh đã che phủ khắp nước, và đây được coi là một kỳ tích của phong trào SU Phong trào SU của Hàn Quốc đã biến đổi cộng đồng vùng nông thôn cũ thành cộng đồng NTM ngày một đẹp hơn và giàu hơn Khu vực nông thôn trở thành

xã hội năng động có khả năng tự tích lũy, tự đầu tư và tự phát triển Phong trào SU, với mức đầu tư không lớn, đã góp phần đưa Hàn Quốc từ một nước nông nghiệp la ̣c hậu trở nên giàu có

Thái Lan: Sự trợ giúp mạnh mẽ của nhà nước

Thái Lan vốn là một nước nông nghiệp truyền thống với dân số nông thôn chiếm khoảng 80% dân số cả nước Để thúc đẩy sự phát triển bền vững nền nông nghiệp, Thái Lan đã áp dụng một số chiến lược như: Tăng cường vai trò của cá nhân và các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp; đẩy mạnh phong trào học tập, nâng cao trình độ của từng cá nhân và tập thể bằng cách mở các lớp học và các hoạt động chuyên môn trong lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn; tăng cường công tác bảo hiểm xã hội cho nông dân, giải quyết tốt vấn đề nợ trong nông nghiệp; giảm nguy cơ rủi ro và thiết lập hệ thống bảo hiểm rủi ro cho nông dân

Trang 26

Đối với các sản phẩm nông nghiệp, Nhà nước đã hỗ trợ để tăng sức cạnh tranh với các hình thức, như tổ chức hội chợ triển lãm hàng nông nghiệp, đẩy mạnh công tác tiếp thị; phân bổ khai thác tài nguyên thiên nhiên một cách khoa học và hợp lý, từ đó góp phần ngăn chặn tình trạng khai thác tài nguyên bừa bãi và kịp thời phục hồi những khu vực mà tài nguyên đã bị suy thoái; giải quyết những mâu thuẫn có liên quan đến việc sử dụng tài nguyên lâm, thủy hải sản, đất đai, đa dạng sinh học, phân bổ đất canh tác Trong xây dựng kết cấu hạ tầng, Nhà nước đã có chiến lược trong xây dựng và phân bố hợp lý các công trình thủy lợi lớn phục vụ cho nông nghiệp Hệ thống thủy lợi bảo đảm tưới tiêu cho hầu hết đất canh tác trên toàn quốc, góp phần nâng cao năng suất lúa và các loại cây trồng khác trong sản xuất nông nghiệp Chương trình điện khí hóa nông thôn với việc xây dựng các trạm thủy điện vừa và nhỏ được triển khai rộng khắp cả nước…

Về lĩnh vực công nghiệp phục vụ nông nghiệp, chính phủ Thái Lan đã tập trung vào các nội dung sau: Cơ cấu lại ngành nghề phục vụ phát triển công nghiệp nông thôn, đồng thời cũng xem xét đến các nguồn tài nguyên, những kỹ năng truyền thống, nội lực, tiềm năng trong lĩnh vực sản xuất và tiếp thị song song với việc cân đối nhu cầu tiêu dùng trong nước và nhập khẩu

Thái Lan đã tập trung phát triển các ngành mũi nhọn như sản xuất hàng nông nghiệp, thủy, hải sản phục vụ xuất khẩu, thúc đẩy mạnh mẽ công nghiệp chế biến nông sản cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, nhất là các nước công nghiệp phát triển Ngành công nghiệp chế biến thực phẩm ở Thái Lan phát triển rất mạnh nhờ một số chính sách sau:

Chính sách phát triển nông nghiệp: Một trong những nội dung quan

trọng nhất của kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội thời kỳ 2000-2005 là kế hoạch cơ cấu lại mặt hàng nông sản của Bộ Nông nghiệp Thái Lan, nhằm mục đích nâng cao chất lượng và sản lượng của 12 mặt hàng nông sản, trong đó có

Trang 27

các mặt hàng: gạo, dứa, tôm sú, gà và cà phê Chính phủ Thái Lan cho rằng, càng có nhiều nguyên liệu cho chế biến thì ngành công nghiệp chế biến lương thực thực phẩm mới phát triển và càng thu được nhiều ngoại tệ cho đất nước Nhiều sáng kiến làm gia tăng giá trị cho nông sản được khuyến khích trong chương trình Mỗi làng một sản phẩm và chương trình Quỹ làng

Chính sách bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm: Chính phủ Thái

Lan thường xuyên thực hiện chương trình quảng bá vệ sinh an toàn thực phẩm Năm 2004, Thái Lan phát động chương trình “Năm an toàn thực phẩm

và Thái Lan là bếp ăn của thế giới” Mục đích chương trình này là khuyến khích các nhà chế biến và nông dân có hành động kiểm soát chất lượng vệ sinh thực phẩm để bảo đảm an toàn cho người tiêu dùng trong nước và xuất khẩu Bên cạnh đó, Chính phủ thường xuyên hỗ trợ cho doanh nghiệp cải thiện chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm Do đó, ngày nay, thực phẩm chế biến của Thái Lan được người tiêu dùng ở các thị trường khó tính, như Hoa

Kỳ, Nhật Bản và EU, chấp nhận

Mở cửa thị trường khi thích hợp: Chính phủ Thái Lan đã xúc tiến

đầu tư, thu hút mạnh các nhà đầu tư nước ngoài vào liên doanh với các nhà sản xuất trong nước để phát triển ngành công nghiệp chế biến thực phẩm, thông qua việc mở cửa cho các quốc gia dù lớn hay nhỏ vào đầu tư kinh doanh Trong tiếp cận thị trường xuất khẩu, Chính phủ Thái Lan là người đại diện thương lượng với chính phủ các nước để các doanh nghiệp đạt được lợi thế cạnh tranh trong xuất khẩu thực phẩm chế biến Bên cạnh đó, Chính phủ Thái Lan có chính sách trợ cấp ban đầu cho các nhà máy chế biến và đầu tư trực tiếp vào kết cấu hạ tầng như: Cảng kho lạnh, sàn đấu giá và đầu tư vào nghiên cứu và phát triển; xúc tiến công nghiệp và phát triển doanh nghiệp vừa

và nhỏ Xúc tiến công nghiệp là trách nhiệm chính của cục xúc tiến công nghiệp thuộc Bộ Công nghiệp, nhưng việc xúc tiến và phát triển công nghiệp

Trang 28

chế biến thực phẩm ở Thái Lan do nhiều cơ quan cùng thực hiện Chẳng hạn, trong Bộ Nông nghiệp và Hợp tác xã, cùng với cục xúc tiến nông nghiệp, Cục Hợp tác xã giúp nông dân xây dựng hợp tác xã để thực hiện các hoạt động, trong đó có chế biến thực phẩm; Cục Thủy sản giúp đỡ nông dân từ nuôi trồng, đánh bắt đến chế biến thủy sản Cơ quan Tiêu chuẩn sản phẩm công nghiệp thuộc Bộ Công nghiệp xúc tiến tiêu chuẩn hoá và hệ thống chất lượng;

Cơ quan Phát triển công nghệ và khoa học quốc gia xúc tiến việc áp dụng khoa học và công nghệ cho chế biến; Bộ Đầu tư xúc tiến đầu tư vào vùng nông thôn

Một số kinh nghiệm trong phát triển nông nghiệp, nông thôn nêu trên cho thấy, những ý tưởng sáng tạo, khâu đột phá và sự trợ giúp hiệu quả của nhà nước trên cơ sở phát huy tính tự chủ, năng động, trách nhiệm của người dân để phát triển khu vực này, có ý nghĩa và vai trò hết sức quan trọng đối với việc công nghiệp hóa, hiện đại hóa thành công nông nghiệp - tạo nền tảng thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

1.2.4 Cơ sở thực tiễn từ kinh nghiệm ở Việt Nam trong xây dựng NTM

Phát triển nông thôn Việt Nam đã trải qua nhiều mô hình, mỗi mô hình gắn liền với giai đoạn phát triển của đất nước

Mô hình chuyển giao ruộng đất cho hộ nông dân

Mô hình phát triển nông thôn nổi bật giai đoạn này là giao ruộng đất về tay người nông dân, với mục tiêu người cày có ruộng Nhà nước thực hiện chính sách cách ruộng đất và triển khai công tác khuyến nông Nhờ vậy kinh

tế hộ nông dân phát triển, hàng triệu người dân hăng hái sản xuất, nông nghiệp sau 3 năm khôi phục kinh tế đã đạt được mức tăng trưởng khá cao Có thể xem đây là thời kỳ “hoàng kim” của nông nghiệp nông thôn Việt Nam kể

từ sau năm 1939

Trang 29

Kinh nghiệm mô hình nông thôn phát triển khá theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hợp tác hóa, dân chủ hóa

Chương trình đã triển khai trên 14 xã điểm sau đó tăng lên thành 18 xã vào năm 2004, trong thời gian đó các tỉnh cũng lựa chọn 200 xã đưa vào xây dựng mô hình bằng nguồn ngân sách tỉnh Việc thực hiện chương trình đã mang lại những kết quả cao đáng khích lệ, cơ sở hạ tầng và bộ mặt nông thôn của các xã điểm đã có sự thay đổi đáng kể, nhiều hệ thống nước sạch cũng như việc xử lý chất thải đã hoạt động hiệu quả

Bên cạnh những kết quả đạt được, mô hình phát triển nông thôn cấp xã còn có những hạn chế như sau:

Nhiều mô hình sản xuất còn quá thiên về nông nghiệp, chưa có đầu tư thỏa đáng vào phát triển nghành nghề, công nghiệp nông thôn, dịch vụ và các vấn đề văn hóa nội dung dân chủ chưa được thể hiện rõ trong các dự án.Nội dung nâng cao năng lực cho cán bộ cấp xã rất mờ nhạt

Quy hoạch phát triển các xã điểm chưa thực sự phù hợp do vấn đề đầu

tư đòi hỏi phải có số vốn lớn lên đến hàng chục tỷ đồng, với tâm lý ỷ lại trông chờ vào kinh phí của nhà nước nên không có động lực để thu hút nguồn vốn đóng góp của nhân dân

Việc phối hợp tổ chức thực hiện mô hình của các cấp, các nghành từ Trung ương đến cơ sở chưa tập trung đồng bộ, đội ngũ cán bộ xã tuy được đào tạo nhưng vẫn còn nhiều hạn chế

Việc thực hiện chương trình vẫn chủ yếu xuất phát từ mong muốn của cấp trên đưa xuống, sự tham gia của người dân từ khâu đề xuất những công trình thiết yếu cho đời sống, sản xuất đến việc quản lý điều hành còn rất yếu, nhiều nơi còn có tình trạng người dân không trực tiếp tham gia mà chỉ được vận động khi cần đóng góp

Trang 30

Một số kinh nghiệm sau 2 năm thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM ở tỉnh Nghệ An

Nghệ An Là một tỉnh có số xã thực hiện chương trình XDNTM đứng thứ 2 so với các tỉnh, thành trong cả nước (435 xã) chỉ đứng sau Thanh Hoá Sau 2 năm thực hiện chương trình đến nay toàn tỉnh có 12 xã đạt từ 13 tiêu chí trở lên, đặc biệt có một số xã đạt 16-17 tiêu chí như: Sơn Thành, Nghi Thái, Nghĩa Đồng, Thịnh Sơn, Diễn Hồng… các xã này trở thành điểm sáng có sức lan toả, khích lệ cán bộ và nhân dân trong tỉnh chung tay xây dựng NTM

Qua kết quả ban đầu 2 năm thực hiện chương trình xây dựng NTM tỉnh Nghệ An rút ra một số bài học kinh nghiệm sau đây:

Thứ nhất, Để đạt được mục tiêu Nghị quyết số 03-NQ/TW của Tỉnh uỷ

đề ra đến năm 2015 toàn tỉnh có 20% số xã (90/435 xã) đạt chuẩn NTM, trước tiên phải làm tốt công tác tuyên truyền sâu rộng để nâng cao nhận thức trong Đảng và cộng đồng dân cư về mục đích yêu cầu, nội dung, phương pháp và cách làm các cơ chế chính sách của nhà nước về xây dựng NTM… để cả hệ thống chính trị và người dân hiểu rõ đây là một chương trình phát triển về kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội tổng thể, toàn diện và lâu dài (không phải là một dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng đơn thuần);

Thứ hai, Phải coi trọng tác xây dựng và đào tạo đội ngũ cán bộ nòng

cốt ở các cấp, nhất là đội ngũ cán bộ cấp thôn bản, như chúng ta thường nói

“cán bộ nào phong trào ấy” nếu cán bộ nhận thức đúng, có tâm và có tầm thì

họ rất vững vàng tự tin, đoàn kết trong hành động thực tiễn, phát huy vai trò của người đứng đầu cấp uỷ chính quyền các cấp là rất quan trọng Thực tiễn

đã chứng minh ở các huyện miền núi như: Tương Dương, Con Cuông, Tân

Kỳ, Thị xã Thái Hoà mặc dù điều kiện kinh tế xã hội và đời sống nhân dân còn khó khăn lại đi đầu trong việc chuyển đổi sản xuất, hiến hàng chục nghìn

m2 đất để mở đường và làm được hàng chục km đường giao thông nông thôn

Trang 31

đạt chuẩn và ngược lại ở một số địa phương có điều kiện hơn nhưng phong trào lại rất yếu, có nơi còn đổ lỗi cho khách quan là do không có kinh phí, do dân không đồng thuận…

Thứ ba, Trong quá trình xây dựng NTM việc nâng cao thu nhập cho

người dân là một việc làm tiền đề để làm cơ sở thực hiện các tiêu chí tiếp theo nên các cấp cần có cách làm chủ động, sáng tạo, phù hợp với điều kiện và đặc điểm của từng xã tránh rập khuôn, máy móc

Thứ tư, Trong xây dựng NTM phải đa dạng hoá các nguồn lực, đa

dạng hoá cách làm, tận dụng các tiềm năng lợi thế của địa phương, sáng suốt lựa chọn nội dung nào làm trước, nội dung nào làm sau, nội dung nào xuyên suốt, nội dung nào mang tính đột phá; mức độ đến đâu cho phù hợp để xây dựng NTM Theo phương châm “Huy động nguồn lực từ cộng đồng là quyết định, sự tham gia của doanh nghiệp và xã hội là quan trọng, sự hỗ trợ từ ngân sách nhà nước là cần thiết” do bước đầu chúng ta mới thực hiện chương trình chưa có kinh nghiệm trong huy động nguồn lực (cơ chế lồng ghép và huy động các nguồn lực chưa được thông qua) nên các địa phương rất lúng túng; trong xây dựng cơ sở hạ tầng từng hạng mục nhà nước hỗ trợ bao nhiêu, nhân dân đóng góp bao nhiêu, qua hai năm thực hiện chương trình bài học rút ra cho thấy nhà nước chỉ hỗ trợ một phần thì nhân dân đóng góp hai phần (năm

2011 nhu cầu 796 tỷ đồng nhà nước hỗ trợ trực tiếp 78 tỷ đồng đáp ứng 9,8%; năm 2012 nhu cầu 979 tỷ đồng nhà nước hỗ trợ gần 87,3 tỷ đồng đáp ứng 11,2%) nhưng các địa phương huy động các nguồn lực được trên 30% nhu cầu, chưa kể các hạng mục công trình do dân tự thực hiện như cải tạo nâng cấp nơi ăn chốn ở, công trình vệ sinh, cải tạo vườn tạp cảnh quan môi trường…

Thứ năm, Để xây dựng NTM, cần có sự tập trung chỉ đạo cụ thể, liên

tục, đồng bộ và huy động được sự tham gia của cả hệ thống chính trị Thực tế cho thấy ở đâu có phân công nhiệm vụ rõ ràng, cụ thể; tăng cường công tác

Trang 32

kiểm tra, sơ kết, tổng kết thì ở đó chương trình đi vào chiều sâu, giai đoạn đầu một số đoàn thể chính trị xã hội rất nhiệt tình hăng hái muốn được tham gia chương trình bởi họ nghĩ tham gia chương trình để được thực hiện dự án, bảo

vệ quyền lợi cho hội viên; chứ không phải là tham gia là để vận động từng hội viên, đoàn viên thực hiện từng phần nhiệm vụ cụ thể của chương trình nhằm mang lại lợi ích của cả cộng đồng trong đó có cá nhân mình; trong xây dựng NTM vai trò của Ban chỉ đạo, Ban quản lý do Bí thư, chủ tịch đứng đầu là rất quan trọng, nhưng cấp trên lại đóng vai trò then chốt trong việc định hướng, ban hành cơ chế chính sách, theo dõi đôn đốc, tháo gỡ khó khăn kịp thời cho

cơ sở, tổng kết cách làm hay và sáng tạo để nhân rộng, có khen thưởng kịp thời xứng đáng

Trang 33

CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG

PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đặc điểm cơ bản của địa bàn nghiên cứu

2.1.1 Giới thiệu chung về địa bàn huyện Đông Hưng

Điều kiện tự nhiên

Vị trí địa lý

Đông Hưng có tổng diện tích tự nhiên là 19.840 ha, nằm ở vị trí trung tâm của tỉnh Thái Bình, được bao bọc bởi 5 huyện và thị xã Thái Bình, có vị trí địa lý như sau:

- Phía Bắc giáp huyện Quỳnh Phụ

- Phía Nam giáp huyện Vũ Thư, thị xã Thái Bình và huyện Kiến Xương

- Phía Đông giáp huyện Thái Thuỵ

- Phía Tây giáp huyện Hưng Hà

Huyện gồm thị trấn là Đông Hưng (huyện lỵ) và 43 xã: Đông Cường, Đông Xá, Đông Phương, Đông Sơn, Đông La, Đông Kinh, Đông Giang, Đông Hà, Đông Các, Đông Hợp, Đông Động, Đông Vinh, Đông Tân, Đông Lĩnh, Đông Phong, Đông Huy, Đông Á, Đông Hoàng, Đông Xuân, Đông Dương, Đông Quang, Trọng Quan, Đồng Phú, Liên Giang, Đô Lương, Phú Lương, Nguyên Xá, Phong Châu, Phú Châu, Minh Châu, An Châu, Hợp Tiến,

Mê Linh, Chương Dương, Thăng Long, Lô Giang, Hoa Lư, Hoa Nam, Minh Tân, Hồng Việt, Hồng Châu, Hồng Giang, Bạch Đằng

Đông Hưng có 35 km đường quốc lộ, 11 km đường tỉnh lộ Quốc lộ 10

và Quốc lộ 39 chạy qua huyện tạo sự liên hoàn hệ thống giao thông, là điều kiện thuận lợi để giao lưu phát triển kinh tế-xã hội

Hệ thống đường bộ kết hợp với đường thuỷ như Tiên Hưng, Thuyền Quan, Sa Lung tạo điều kiện cho giao lưu kinh tế với các huyện trong Tỉnh và

Trang 34

với các tỉnh trong toàn quốc mà đặc biệt là vùng ảnh hưởng của tam giác tăng trưởng kinh tế Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh

Với vị trí địa lý và hệ thống giao thông thuận lợi là điều kiện để huyện phát triển kinh tế năng động, đa dạng, giao lưu hoà nhập với việc phát triển kinh tế - xã hội, khoa học kỹ thuật trong tỉnh và toàn quốc

Địa hình

Địa hình của Đông Hưng tương đối bằng phẳng, có độ dốc từ Tây sang Đông, từ Bắc xuống Nam, độ dốc nhỏ hơn 1%/1km, độ cao trung bình so với mặt nước biển từ 1 - 1,5m Địa hình của Đông Hưng được xếp vào loại khu vực có độ chia cắt phức tạp, đây là vùng tương đối cao, trừ vùng phía Bắc của sông Trà Lý Đất đai được hình thành sớm, chịu ảnh hưởng của phù sa sông Thái Bình, phía Nam của huyện có địa hình thấp

Địa hình của Đông Hưng cũng có độ chia cắt, hình thành những tiểu vùng khác nhau về độ cao, thấp, tạo nên vùng thâm canh tăng vụ, bố trí cây trồng và hệ thống thuỷ lợi cũng có thuận lợi và hạn chế nhất định

Khí hậu

- Đông Hưng nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, hàng năm có 4 mùa rõ rệt: Xuân, hạ, thu, đông Mùa hạ và mùa đông là hai mùa chính, mùa xuân và mùa thu là hai mùa chuyển tiếp

Trang 35

+ Mưa chiếm lượng nhỏ, khoảng 15-20% tổng lượng mưa cả năm + Nhiệt độ trung bình là 220C, nhiệt độ tối thấp là 4,10C + Gió: Gió hướng Bắc, Đông Bắc và Đông Tuy gió không mạnh nhưng hay gây ra lạnh đột ngột

+ Độ ẩm không khí: Lượng bốc hơi trong mùa đông thường gặp, thời tiết khô hanh, nồm, nắng nóng; Ngày khô hanh độ ẩm thấp; Độ bốc hơi cao thường xuất hiện vào đầu mùa, trong thời kỳ này hay gặp hạn

- Các mùa chuyển tiếp thể hiện sự thay đổi của 2 hệ thống gió mùa: Đông bắc (mùa đông) và Tây nam (mùa hè) Do đó các đặc tính khí tượng, thời tiết rất không ổn định Song hai mùa chuyển tiếp có nhiều tính chất gần với mùa hè Như vậy khí hậu Đông Hưng là khí hậu gió mùa nhiệt đới nóng

ẩm thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp Song tính biến động mạnh mẽ với nhiều hiện tượng thời tiết như bão, dông, gió Tây Nam, gió bấc v.v cũng đòi hỏi phải có biện pháp phòng tránh úng, hạn, bão, lụt

Thuỷ văn

Nhìn chung nguồn nước của Đông Hưng dồi dào, nước tưới lấy từ sông Trà Lý và sông Luộc qua các cống dưới đê như Hậu Thượng, Đồng Cống, Bến Hộ, Quan Hoả, Thuyền Quan

Đông Hưng có 3 sông lớn chảy qua:

- Phía Nam có sông Trà Lý, là ranh giới với huyện Vũ Thư, thị xã Thái Bình và huyện Kiến Xương Đoạn chảy qua huyện dài khoảng 20 km

Hệ thống trong đê có 2 sông chính là sông Tiên Hưng và sông Sa Lung

- Sông Tiên Hưng chảy xuyên qua huyện, có chiều dài 28,5 km, rộng trung bình 120m, chia huyện thành hai vùng rõ rệt: phía Bắc và phía Nam sông Tiên Hưng

- Sông Sa Lung có chiều dài 18 km, rộng trung bình 50m

Trang 36

- Sông Thống Nhất kéo dài từ Cống Vực đến xã Đông Giang, dài 16

Đặc điểm nổi bật của chế độ thuỷ văn của huyện là được phân thành 2 vùng rõ rệt, do con sông Tiên Hưng tạo ra: Vùng phía Bắc sông Tiên Hưng là

11 xã, tưới tiêu kém hơn 35 xã phía Nam sông Tiên Hưng Nhìn chung, thuỷ văn của huyện thuận lợi về nguồn nước tưới cho sản xuất nông nghiệp, kể cả trong mùa khô, bồi đắp phù sa cho vùng đất ngoài đê và một số vùng trong

đê Mặt hạn chế là hàng năm phải đầu tư sức người, sức của vào việc tu bổ đê điều, nạo vét kênh mương

Chế độ thuỷ văn của huyện phụ thuộc vào chế độ thuỷ văn của sông Trà

Lý và được phân thành hai múi rõ rệt: mùa mưa và mùa khô Mực nước ngoài sông luôn lớn hơn trong đồng nên rất thuận lợi cho việc lấy nước phù sa tưới cho các cánh đồng, chỉ có 1 - 2 tháng vào mùa đông là mực nước ngoài sông thấp hơn trong đồng

Nhìn chung, Đông Hưng có hệ thống sông ngòi dày đặc, có nguồn nước phong phú, có lượng phù sa lớn tạo nên sự bồi tụ phù sa màu mỡ, phì nhiêu, đồng thời đáp ứng đủ nước tưới cho toàn bộ diện tích đất canh tác

Trang 37

Các nguồn tài nguyên

+ Đất phèn (S): Đất phèn của huyện thuộc loại đất phèn trung bình và

ít, chiếm tỷ lệ diện tích nhỏ, tập trung ở những xã phía Đông của huyện

+ Đất phù sa: Gồm đất ngoài đê được bồi tụ thường xuyên và trong đê không được bồi tụ do đó biến đổi theo hướng glây hoá, loang lổ đỏ vàng, glây

ở địa hình thấp, đỏ vàng ở địa hình cao Đất phù sa hầu như độ phì nhiêu thực

tế được thể hiện rõ qua thâm canh khai thác Do bồi tụ của 2 hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình hoặc 2 hệ phủ lên nhau nên chia thành nhiều loại, trong đó phù sa là chủ yếu

Tài nguyên nước

Nguồn nước mặt: Đông Hưng có 3 sông lớn là sông Tiên Hưng, sông

Sa Lung, sông Trà Lý cùng hệ thống sông ngòi chằng chịt kết hợp với hệ thống đầm, hồ, ao phong phú Do đó nguồn nước mặt của huyện khá dồi dào, cung cấp đầy đủ cho sinh hoạt của nhân dân và nước cho sản xuất nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ

Nguồn nước ngầm: mực nước nông và khối lượng lớn song việc khai thác sử dụng mới ở mức hạn chế để phục vụ nước sạch ở nông thôn Trong tương lai nguồn nước ngầm sẽ được khai thác nhiều hơn để phục vụ sinh hoạt cho nhân dân Vì nguồn nước mặt đã bị ô nhiễm do nước thải công nghiệp, do

sử dụng thuốc trừ sâu, phân bón hoá học và nước thải sinh hoạt ở đô thị và nông thôn

Trang 38

Cảnh quan môi trường

Cảnh quan của Đông Hưng mang đặc trưng cơ bản của vùng Đồng bằng Bắc Bộ, đặc điểm thuần nông với địa hình bằng phẳng, đồng ruộng và làng xóm phân bố hài hoà, hạ tầng phát triển tạo một cảnh quan hấp dẫn cho việc du lịch sinh thái

Môi trường không khí và nguồn nước ở Đông Hưng ít bị ảnh hưởng do

ô nhiễm của khí thải công nghiệp, nước thải công nghiệp cũng như rác thải sinh hoạt của dân cư vì Đông Hưng chưa có những khu công nghiệp tập trung

và những khu dân cư tập trung

Trong thời gian tới, nhằm thúc đẩy nền kinh tế của Huyện tăng trưởng thì việc phát triển công nghiệp trên địa bàn Huyện là điều tất yếu Đồng bộ với phát triển công nghiệp, các nhà đầu tư và các nhà lãnh đạo cần có những biện pháp nhằm bảo vệ môi trường khỏi ô nhiễm khói thải, nước thải công nghiệp Đây chính là hướng phát triển một nền kinh tế toàn diện, bền vững

Thực trạng phát triển kinh tế

Diện tích tự nhiên của Huyện là 19.840,04 ha, với dân số 292.600 người Đất hẹp, người đông, bình quân diện tích đất canh tác/đầu người thấp, nền kinh tế thuần nông

Trong những năm qua nhân dân Đông Hưng đã đạt được những thành tựu quan trọng về nhiều mặt, đời sống của nhân dân đã được nâng lên đáng

kể, hạ tầng cơ sở phát triển như giao thông, thuỷ lợi, trường học, bệnh viện, trạm xá và các công trình văn hoá phúc lợi, sức khoẻ và trình độ dân trí được nâng lên Trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường Đông Hưng đứng trước nhiều thử thách để phát triển hoà nhập với nhịp độ phát triển kinh

tế trong Tỉnh và cả nước

Trang 39

Dân số

Dân số Đông Hưng là 292.600 người, trong đó nam giới chiếm 48,6%,

nữ giới chiếm 51,4% Dân số Đông Hưng thuần nhất là dân tộc kinh

Đông Hưng là một huyện đất chật, người đông, có mật độ dân số cao so với các huyện trong Tỉnh Bình quân 1 xã có 5489 người Xã có dân số đông nhất là Đông Sơn, có 9713 người, bình quân 1.445 người/km2, xã có dân số thấp nhất là Đông Phong, có 2.813 người, bình quân 1.069 người/km2

Tiềm năng

Đông Hưng có địa hình tương đối bằng phẳng, điều kiện tự nhiên rất thuận lợi cho trồng cấy lúa nước, chăn nuôi gia súc gia cầm và phát triển tiểu thủ công nghiệp

Đông Hưng có hệ thống giao thông đường bộ, đường thủy bao bọc xung quanh, thuận tiện cho phát triển dịch vụ thương mại, giao lưu buôn bán

Đến Đông Hưng có thể tham quan đền Bạch Đằng, lăng Phạm Huy Đỉnh, làng Nguyên Xá và các lễ hội như: Hội Hậu Trung, Hậu Thượng, làng Giàng, Thượng Liệt, lễ múa rối…

2.1.4 Giới thiệu chung về địa bàn xã Trọng Quan

Về đặc điểm tự nhiên, địa giới hành chính xã Trọng Quan:

Trọng Quan là một xã nội đồng được hình thành từ 7 thôn Tràng Vinh, Tràng Sinh, Tràng Quan, Hưng Quan, Vinh Hoa, Vinh Quan, Vinh Tiến, trong đó có 5 thôn loại 2 và 2 thôn loại 3, cách trung tâm huyện 6km về phía tây nam Phía đông giáp các xã Đông Quang và Đông Dương, huyện Đông Hưng; Phía nam giáp các xã Tân Phong và Phúc Thành, huyện Vũ Thư (ranh giới tự nhiên là sông Trà Lý); Phía tây giáp các xã Đồng Phú và Minh Châu, huyện Đông Hưng; Phía bắc giáp xã Phú Châu, huyện Đông Hưng

Với diện tích đất tự nhiên 531,5 ha, diện tích đất trồng lúa là 357.5ha , đất nông nghiệp là 407,5 ha Đất đai màu mỡ đồng thời do được bao bọc bởi 2 con sông Trà Lý và Sa Lung nên rất thuận tiện cho việc lấy phù sa và tiêu

Trang 40

thoát nước trong mùa mưa lũ, cánh đồng tương đối bằng phẳng, thuận tiện cho canh tác sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là sản xuất cây vụ đông

Bảng 2.1 Tình hình dân số tại xã Trọng Quan

Chỉ tiêu Số

hộ

Tỉ lệ (%)

Số khẩu (người)

Tỉ lệ (%) BQ/Hộ

Lao động (LĐ)

BQ lao động /Hộ

1 Theo thôn

Tràng Vinh 183 8,09 555 8,14 3,03 362 1,97 Tràng Sinh 276 12,2 835 12,26 3,02 485 1,95 Tràng Quan 444 19,64 1301 19,10 2,93 754 1,70 Hưng Quan 458 20,26 1501 22,04 3,27 851 1,86 Vinh Hoa 319 14,11 945 13,87 2,96 572 1,80 Vinh Quan 410 18,14 1197 17,57 2,92 713 1,74 Vinh Tiến 168 7,43 476 6,98 2,83 270 1,62

2 Theo mức thu nhập toàn xã

Ngày đăng: 31/08/2017, 08:33

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

2.1  Đồ thị tỷ lệ mức thu nhập toàn xã 33 - Một số giải pháp góp phần thúc đẩy quá trình thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện đông hưng, tỉnh thái bình từ kinh nghiệm mô hình thí điểm xã trọng quan
2.1 Đồ thị tỷ lệ mức thu nhập toàn xã 33 (Trang 8)
Bảng 1.1. Nội dung Bộ tiêu chí Quốc gia về NTM - Một số giải pháp góp phần thúc đẩy quá trình thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện đông hưng, tỉnh thái bình từ kinh nghiệm mô hình thí điểm xã trọng quan
Bảng 1.1. Nội dung Bộ tiêu chí Quốc gia về NTM (Trang 16)
Hình 2.2. Đồ thị tỷ lệ mức thu nhập toàn xã - Một số giải pháp góp phần thúc đẩy quá trình thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện đông hưng, tỉnh thái bình từ kinh nghiệm mô hình thí điểm xã trọng quan
Hình 2.2. Đồ thị tỷ lệ mức thu nhập toàn xã (Trang 41)
Hình 2.1. Đồ thị tỷ lệ mức thu nhập toàn xã - Một số giải pháp góp phần thúc đẩy quá trình thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện đông hưng, tỉnh thái bình từ kinh nghiệm mô hình thí điểm xã trọng quan
Hình 2.1. Đồ thị tỷ lệ mức thu nhập toàn xã (Trang 41)
Bảng 3.2. Tình hình sử dụng đất trên địa bàn xã Trọng Quan - Một số giải pháp góp phần thúc đẩy quá trình thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện đông hưng, tỉnh thái bình từ kinh nghiệm mô hình thí điểm xã trọng quan
Bảng 3.2. Tình hình sử dụng đất trên địa bàn xã Trọng Quan (Trang 62)
Hình 3.3. Đường giao thông trục thôn ở Trọng Quan - Một số giải pháp góp phần thúc đẩy quá trình thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện đông hưng, tỉnh thái bình từ kinh nghiệm mô hình thí điểm xã trọng quan
Hình 3.3. Đường giao thông trục thôn ở Trọng Quan (Trang 65)
Hình 3.4. Đường bờ vùng xã Trọng Quan đang được đầu tư phục - Một số giải pháp góp phần thúc đẩy quá trình thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện đông hưng, tỉnh thái bình từ kinh nghiệm mô hình thí điểm xã trọng quan
Hình 3.4. Đường bờ vùng xã Trọng Quan đang được đầu tư phục (Trang 67)
Bảng 3.4. Kết quả thực hiện tiêu chí thủy lợi tại xã Trọng Quan - Một số giải pháp góp phần thúc đẩy quá trình thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện đông hưng, tỉnh thái bình từ kinh nghiệm mô hình thí điểm xã trọng quan
Bảng 3.4. Kết quả thực hiện tiêu chí thủy lợi tại xã Trọng Quan (Trang 68)
Hình 3.5. Trường Mầm non Xã Trọng Quan đầu tư xây dựng mới - Một số giải pháp góp phần thúc đẩy quá trình thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện đông hưng, tỉnh thái bình từ kinh nghiệm mô hình thí điểm xã trọng quan
Hình 3.5. Trường Mầm non Xã Trọng Quan đầu tư xây dựng mới (Trang 70)
Hình 3.7. Trụ sở làm việc của UBND xã Trọng Quan - Một số giải pháp góp phần thúc đẩy quá trình thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện đông hưng, tỉnh thái bình từ kinh nghiệm mô hình thí điểm xã trọng quan
Hình 3.7. Trụ sở làm việc của UBND xã Trọng Quan (Trang 73)
Hình 3.8. Đồ thị cơ cấu kinh tế xã Trọng Quan trước và sau khi xây dựng - Một số giải pháp góp phần thúc đẩy quá trình thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện đông hưng, tỉnh thái bình từ kinh nghiệm mô hình thí điểm xã trọng quan
Hình 3.8. Đồ thị cơ cấu kinh tế xã Trọng Quan trước và sau khi xây dựng (Trang 75)
Bảng 3.7. Cơ cấu kinh tế xã Trọng Quan - Một số giải pháp góp phần thúc đẩy quá trình thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện đông hưng, tỉnh thái bình từ kinh nghiệm mô hình thí điểm xã trọng quan
Bảng 3.7. Cơ cấu kinh tế xã Trọng Quan (Trang 76)
Bảng 3.14. Kết quả phỏng vấn chất lượng của CSHT - Một số giải pháp góp phần thúc đẩy quá trình thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện đông hưng, tỉnh thái bình từ kinh nghiệm mô hình thí điểm xã trọng quan
Bảng 3.14. Kết quả phỏng vấn chất lượng của CSHT (Trang 96)
Hình  thức - Một số giải pháp góp phần thúc đẩy quá trình thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện đông hưng, tỉnh thái bình từ kinh nghiệm mô hình thí điểm xã trọng quan
nh thức (Trang 114)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm