Trong những năm qua việc triển khai và thực hiện các chính sách trợ giúp xã hội trên địa bàn, nhất là vùng ven biển đã được huyện thực hiện nghiêm túc, góp phần đảm bảo cuộc sống của các
Trang 1PHẠM HÙNG MẠNH
ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ HÀI LÒNG CỦA NGƯỜI DÂN TRONG VIỆC THỤ HƯỞNG CÁC CHÍNH SÁCH TRỢ GIÚP XÃ HỘI VÙNG VEN BIỂN HUYỆN NGA SƠN, TỈNH THANH HÓA
CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
Trang 2Tôi cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác
Nếu nội dung nghiên cứu của tôi trùng lắp với bất kỳ công trình nghiên cứu nào đã công bố, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm và tuân thủ kết luận đánh giá luận văn của Hội đồng khoa học
Hà Nội, ngày 06 tháng 6 năm 2016
Người cam đoan
Phạm Hùng Mạnh
Trang 3Trước hết, tôi xin trân trọng cảm ơn và tri ân các thầy, cô giáo Trường Đại Lâm nghiêp trong suốt quá trình đào tạo thạc sĩ đã cung cấp kiến thức và các phương pháp để tôi có thể áp dụng nghiên cứu và giải quyết các vấn đề trong luận văn của mình đạt kết quả tốt Đặc biệt xin trân trọng cảm ơn PGS.TS Trần Hữu Dào, người đã nhiệt tình chỉ bảo, hướng dẫn tôi thực hiện luận văn này
Xin trân trọng cảm ơn Lãnh đạo Sở Lao động-Thương binh và Xã Hội, Thường trực Hội Chữ thập đỏ, Thường trực Hội Bảo trợ Người tàn tật và Trẻ
mồ côi tỉnh Thanh Hóa Xin cảm ơn Thường trực Huyện ủy, lãnh đạo UBND huyện Nga Sơn; Phòng Lao động-TBXH, Hội Chữ thập đỏ huyện Nga Sơn; lãnh đạo UBND và Hội Chữ thập đỏ các xã: Nga Thủy, Nga Tân, Nga Tiến, Nga Thái, Nga Phú và Nga Điền huyện Nga Sơn, cùng các hộ dân của 6 xã đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thu thập thông tin, số liệu, hỗ trợ quá trình khảo sát, phỏng vấn các đối tượng đang thụ hưởng chính sách trợ giúp xã hội và đã có những ý kiến rất quý báu đóng góp giúp tôi thực hiện luận văn này
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Phạm Hùng Mạnh
Trang 4Trang
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Nội dung nghiên cứu 4
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 4
Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ MỨC ĐỘ HÀI LÒNG VÀ CHÍNH SÁCH TRỢ GIÚP XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI DÂN 5
1.1 Chính sách trợ giúp xã hội đối với người dân 5
1.1.1 Khái niệm trợ giúp xã hội và phân loại trợ giúp xã hội 5
1.1.2 Phân loại trợ giúp xã hội 8
1.1.3 Vai trò của chính sách TGXH trên địa bàn huyện 10
1.2 Mức độ hài lòng của người dân trong việc thụ hưởng chính sách bảo trợ xã hội 11
1.2.1 Khái niệm mức độ hài lòng 11
1.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng 14
1.2.3 Sự hài lòng về mức độ tham gia của xã hội vào hoạt động trợ giúp 15
1.2.4 Sự hài lòng về năng lực đội ngũ cán bộ quản lý 27
1.2.5 Sự hài lòng về nhận thức xã hội về chính sách trợ giúp xã hội 30 1.2.6 Các tiêu chí đánh giá về chính sách trợ giúp xã hội 31
Trang 5ở một số địa phương trong tỉnh và bài học kinh nghiệm rút ra cho huyện Nga
Sơn 35
1.3.1 Kinh nghiệm một số huyện ven biển 35
1.3.2 Bài học rút ra cho huyện Nga Sơn 37
Chương 2 ĐẶC ĐIỂM HUYỆN NGA SƠN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 38
2.1 Đặc điểm cơ bản của huyện Nga Sơn 38
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên của huyện Nga Sơn 38
2.1.2 Đặc điểm kinh tế, xã hội của huyện Nga Sơn 39
2.1.3 Đánh giá chung về đặc điểm tự nhiên và kinh tế xã hội của huyện có ảnh hưởng đến tình hình thực hiện chính sách trợ giúp xã hội cho người dân trên địa bàn và người ven biển 44
2.2 Phương pháp nghiên cứu 46
2.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 46
2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu 46
2.2.3 Phương pháp xử lý số liệu thứ cấp và sơ cấp 51
2.2.4 Các tiêu chí đánh giá mức độ hài lòng thụ hưởng về chính sách trợ giúp xã hội 51
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 56
3.1 Thực trạng tình hình thực hiện các chính sách trợ giúp xã hội trên địa bàn huyện Nga Sơn 56
3.1.1 Tình hình thực hiện các chính sách trợ giúp xã hội thường xuyên trên địa bàn huyện Nga Sơn 56
3.1.2 Tình hình thực hiện các chính sách trợ giúp xã hội đột xuất trên địa bàn huyện Nga Sơn 60
3.2 Đánh giá sự hài lòng của người dân trong thụ hưởng chính sách trợ giúp xã hội vùng ven biển huyện Nga Sơn qua điều tra, khảo sát 62
Trang 6các đối tượng người khuyết tật, trẻ mồ côi và người già cô đơn tại các xã vùng ven biển huyện Nga Sơn 623.2.2 Tình hình thực hiện chính sách trợ giúp xã hội đột xuất tại các xã vùng ven biển huyện Nga Sơn 673.2.3 Đánh giá chung về tình hình thực hiện chế độ trợ giúp xã hội 693.2.4 Đánh giá ảnh hưởng của môi trường, thể chế luật pháp và cơ chế chính sách đến việc thực hiện chính sách trợ giúp xã hội 703.2.5 Đánh giá về công tác tổ chức, quản lý nhà nước, năng lực đội ngũ cán bộ và sự phối hợp thực hiện chính sách trợ giúp xã hội 723.2.6 Đánh giá về nhận thức xã hội và sự tham gia của xã hội vào thực hiện chính sách trợ giúp xã hội 743.2.7 Những hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế trong thực hiện chính sách trợ giúp xã hội vùng ven biển huyện Nga Sơn 753.3 Các giải pháp nâng cao chất lượng thực hiện chính sách trợ giúp xã hội cho người dân trong thụ hưởng chính sách xã hội vùng ven biển huyện Nga Sơn giai đoạn tới 87 3.3.1 Phương hướng nâng cao chất lượng thực hiện chính sách trợ giúp
xã hội của huyện Nga Sơn thời gian tới 873.3.2 Các giải pháp nâng cao chất lượng thực hiện chính sách trợ giúp
xã hội 91KẾT LUẬN 103 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7ASXH An sinh xã hội
BHXH Bảo hiểm xã hội
BHYT Bảo hiểm y tế
TGXHĐX Trợ giúp xã hội đột xuất
TGXHTX Trợ giúp xã hội thường xuyên THCS Trung học cơ sở
THPT Trung học phổ thông
UBND Ủy ban nhân dân
ƯĐXH Ưu đãi xã hội
VHVN, TDTT Văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao XDCB Xây dựng cơ bản
Trang 8Trang
Bảng 2.1 Tổng hợp chọn mẫu nghiên cứu 47
Bảng 3.1 Số lượng đối tượng và kinh phí thực hiện trợ giúp xã hội thường xuyên 56
Bảng 3.2 Mức độ bao phủ thực hiện trợ giúp xã hội thường xuyên 57
Bảng 3.3 Tình hình mức trợ cấp xã hội thường xuyên 58
Bảng 3.4 Tình hình thực hiện chế độ trợ giúp xã hội đột xuất 61
Bảng 3.5 Mức độ bao phủ trợ giúp xã hội thường xuyên toàn huyện và 6 xã ven biển 63
Bảng 3.6 Tình hình nhận được các hình thức hỗ trợ đột xuất của các hộ 68
Bảng 3.7 Đánh giá chung về tình hình thực hiện chế độ trợ giúp xã hội 93
Bảng 3.8 Đánh giá ảnh hưởng của môi trường, thể chế, luật pháp và cơ chế chính sách đến việc thực hiện chính sách trợ giúp xã hội 93
Bảng 3.9 Đánh giá về công tác tổ chức, quản lý nhà nước, năng lực đội ngũ cán bộ và sự phối hợp thực hiện chính sách trợ giúp xã hội 93
Bảng 3.10 Đánh giá nhận thức xã hội và sự tham gia của xã hội trong thực hiện chính sách trợ giúp xã hội 93
Bảng 3.11 Dự báo đối tượng trợ giúp xã hội của huyện Nga Sơn đến năm 2020 93
Trang 9ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là nước nghèo, điều kiện tự nhiên khắc nghiệt và trải qua thời gian chiến tranh dài đã dẫn đến có một bộ phận không nhỏ dân cư cần trợ giúp xã hội để được hỗ trợ về đời sống, giáo dục, y tế, nhà ở, nước sạch
Trợ giúp xã hội là các hoạt động giúp đỡ, hỗ trợ những trường hợp khó khăn không có khả năng lao động hoặc những đối tượng rơi vào hoàn cảnh không có khả năng đảm bảo cuộc sống tối thiểu Các chính sách trợ giúp xã hội mang ý nghĩa nhân đạo và nhân văn sâu sắc, đồng thời thể hiện trách nhiệm của Nhà nước đối với người dân; thực hiện tốt các chính sách trợ giúp
xã hội sẽ giúp cho gia tăng công bằng xã hội
Chính sách trợ giúp xã hội cho đối tượng bảo trợ xã hội ở Việt Nam được hình thành từ cách mạng tháng 8 năm 1945, với mục đích là cứu đói cho những người chịu hậu quả chiến tranh, hậu quả thiên tai, trẻ mồ côi, người tàn tật Cùng với quá trình phát triển kinh tế - xã hội, chính sách trợ giúp xã hội
đã được sửa đổi, bổ sung phù hợp với yêu cầu của xã hội, đến nay chính sách trợ giúp xã hội là một trong những chính sách quan trọng của hệ thống chính sách an sinh xã hội
Nga Sơn là một huyện nghèo ven biển của tỉnh Thanh Hóa, thuộc một trong 61 huyện của cả nước trong diện được thụ hưởng chính sách về Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững theo Nghị quyết số 30/A/2008/NQ-
CP của Chính phủ Toàn huyện có 27 xã, thị trấn; trong đó vùng ven biển gồm 6 xã: Nga Thủy, Nga Tân, Nga Tiến, Nga Thái, Nga Phú và Nga Điền đây là xã thường xuyên bị ảnh hưởng của thiên tai, bão và triều cường và có tỷ lệ đối tượng hưởng chính sách trợ giúp xã hội cao so với bình quân chung của huyện Tính đến tháng 12 năm 2015, toàn huyện có 10.828 đối tượng bảo trợ xã hội, trong đó 6 xã vùng biển có 3.499 đối tượng, chiếm 32,3% số đối tượng toàn
Trang 10huyện Trong những năm qua việc triển khai và thực hiện các chính sách trợ giúp xã hội trên địa bàn, nhất là vùng ven biển đã được huyện thực hiện nghiêm túc, góp phần đảm bảo cuộc sống của các đối tượng thụ hưởng
Tuy vậy, quá trình thực hiện chính sách và cơ chế trợ giúp xã hội hiện nay trên địa bàn huyện Nga Sơn vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế và thách thức, thiếu tính đồng bộ và đổi mới chậm; chế độ trợ giúp chưa phù hợp với quá trình tăng trưởng kinh tế, mức sống trung bình của dân cư, mức tiền lương tối thiểu và các chế độ của các chính sách xã hội khác; mức trợ giúp của các đối tượng thuộc các xã ven biển đa số chỉ đáp ứng ở mức 36% đến 54% mức sống tối thiểu của người dân trong vùng Bên cạnh đó, tỷ lệ đối tượng được trợ giúp so với số đối tượng cần trợ giúp hoặc thuộc diện được trợ giúp còn chỉ đạt ở mức từ 70%-80%; việc nhận được sự trợ giúp đột xuất còn chưa kịp thời; số đối tượng lẽ ra được hưởng trợ giúp xã hội lại không được hưởng còn chiếm tỷ lệ từ 5%-7% Xét một cách nghiêm túc, thì người dân và chính quyền địa phương vẫn chưa thực sự hài lòng với kết quả triển khai thực hiện các chính sách trợ giúp xã hội trên địa bàn Sự hạn chế này có nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, trong đó có yếu tố chủ quan từ nghiên cứu xây dựng chính sách và thực thi chính sách Trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế như hiện nay, để góp phần hạn chế tốc độ gia tăng khoảng cách chênh lệch về thu nhập và mức sống giữa nhóm giàu và nhóm nghèo, đòi hỏi cần tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện chính sách trong thời gian tới theo hướng có sự điều chỉnh cho phù hợp để đảm bảo tính đồng bộ, ổn định, khoa học, hội nhập và hài hòa với các chính sách xã hội khác
Chính vì thế, tôi lựa chọn đề tài “Đánh giá mức độ hài lòng của người dân
trong việc thụ hưởng các chính sách trợ giúp xã hội vùng ven biển huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa” làm luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Kinh tế Nông nghiệp
nhằm góp phần đánh giá thêm về cơ sở lý luận và thực tiễn triển khai hiện nay
Trang 112 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở đánh giá thực trạng tình hình thực hiện chính sách trợ giúp
xã hội và mức độ hài lòng của người dân trong việc thụ hưởng các chính sách trợ giúp xã hội, đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần nâng cao chất lượng thực hiện chính sách trợ giúp xã hội cho người dân vùng ven biển của huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu:
Mức độ hài lòng của người dân trong việc thụ hưởng các chính sách trợ giúp xã hội cho người dân vùng ven biển huyện Nga Sơn tỉnh Thanh Hóa
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về nội dung: Nghiên cứu mức độ hài lòng của người dân
trong việc thụ hưởng các chính sách trợ giúp xã hội vùng ven biển huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa
- Phạm vi không gian: Nghiên cứu được thực hiện tại huyện Nga Sơn, tỉnh
Thanh Hóa gồm 6 xã thuộc vùng ven biển huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa
- Phạm vi thời gian:
Trang 12+ Thông tin thứ cấp sử dụng trong đề tài được thu thập từ năm 2013
đến 2015;
+ Thông tin sơ cấp được thực hiện thông qua điều tra khảo sát năm 2016;
4 Nội dung nghiên cứu
- Cơ sở lý luận và thực tiễn về mức độ hài lòng và chính sách trợ giúp
xã hội cho người dân
- Thực trạng tình hình thực hiện chính sách trợ giúp xã hội đối với người dân vùng ven biển huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa
- Đánh giá mức độ hài lòng của người dân trong việc thụ hưởng các chính sách trợ giúp xã hội vùng ven biển huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa
- Đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng thực hiện chính sách trợ giúp
xã hội cho người dân vùng ven biển huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa trong những năm tới
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
5.1 Ý nghĩa lý luận
Việc nghiên cứu luận văn giúp hình thành khung lý thuyết đầy đủ về vấn đề trợ giúp xã hội cho các huyện nghèo của Việt Nam, đặc biệt là những huyện nghèo ven biển
5.2 Ý nghĩa thực tiễn
Trên thực tế, việc nghiên cứu đề tài “ Đánh giá mức độ hài lòng của người dân trong việc thụ hưởng các chính sách trợ giúp xã hội vùng ven biển huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa” giúp rút ra những nguyên nhân chủ yếu của những tồn tại trong việc trợ giúp xã hội đối với người dân vùng ven biển của huyện Nga Sơn và đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách trợ giúp xã hội cho các huyện ven biển nghèo trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa trong thời gian tới
Trang 13Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ MỨC ĐỘ HÀI LÒNG VÀ CHÍNH SÁCH TRỢ GIÚP XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI DÂN 1.1 CHÍNH SÁCH TRỢ GIÚP XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI DÂN
1.1.1 Khái niệm trợ giúp xã hội và phân loại trợ giúp xã hội
1.1.1.1 Khái niệm trợ giúp xã hội
Trợ giúp xã hội được hiểu theo các quan điểm tiếp cận, tính chất, chức năng, hình thức và mô hình khác nhau Phần lớn các tài liệu nghiên cứu đã giải thích thuật ngữ gần với Trợ giúp xã hội như: bảo trợ xã hội, công tác xã hội, phúc lợi xã hội, cứu trợ xã hội, an sinh xã hội, nhưng chưa lý giải một cách toàn diện về khái niệm trợ giúp xã hội
Nguyễn Hải Hữu (2008) cho rằng “Trợ giúp xã hội” được hiểu là giúp
đỡ, trợ giúp một khoản tiền nhất định hoặc trợ giúp một vấn đề cụ thể nào đó cho các đối tượng xã hội [5, 20]
Nguyễn Văn Định (2008) cho rằng “Trợ giúp xã hội” là sự giúp đỡ
thêm của cộng đồng xã hội bằng tiền hoặc bằng các phương tiện thích hợp để người được trợ giúp có thể phát huy được khả năng tự lo liệu cho cuộc sống bản thân và gia đình, sớm hòa nhập với cộng đồng [119, 16]
Nguyễn Ngọc Toản (2010) tổng hợp “Trợ giúp xã hội” là các biện
pháp, giải pháp bảo đảm của Nhà nước và xã hội đối với các đối tượng bảo trợ xã hội nhằm giúp họ khắc phục những khó khăn trước mắt cũng như lâu dài trong cuộc sống Việc bảo đảm này thông qua các hoạt động cung cấp tài chính, vật phẩm, các điều kiện vật chất khác cho đối tượng [13, 28]
Tại Nhật Bản trợ giúp xã hội được dùng gần với phạm trù an sinh xã hội Sự khác nhau cơ bản giữa an sinh xã hội và trợ giúp xã hội là trợ giúp xã hội sử dụng phần lớn nguồn tài chính từ ngân sách nhà nước Trong hoàn
Trang 14cảnh Việt Nam, thuật ngữ trợ giúp xã hội được dùng để chỉ những trợ giúp xã hội từ nguồn ngân sách nhưng không bao gồm các đối tượng của bảo trợ xã hội và cứu trợ xã hội (CTXH)
Mai Ngọc Cường (2009) [11] cho rằng an sinh xã hội là sự đảm bảo thu nhập và một số điều kiện thiết yếu khác cho cá nhân, gia đình và cộng đồng trước những biến động về kinh tế, xã hội và tự nhiên làm cho họ bị giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc mất việc làm, bị ốm đau, bệnh tật hoặc tử vong; cho những người già cô đơn, trẻ mồ côi, người tàn tật, những người yếu thế, nạn nhân chiến tranh, nạn nhân thiên tai thảm họa và trợ giúp xã hội được hiểu theo nhiều cách:
- Trợ giúp xã hội “Là sự giúp đỡ bằng tiền hoặc hiện vật, có tính chất khẩn thiết, “cấp cứu” ở mức độ cần thiết cho những người bị lâm vào cảnh bần cùng không có khả năng tự lo liệu cuộc sống thường ngày của bản thân
và gia đình” [29, 641] Theo đó, những người già yếu cô đơn không có người nuôi dưỡng, trẻ em mồ côi cha mẹ, người tàn tật không có nguồn nuôi dưỡng, người bị bệnh hiểm nghèo không có người chăm sóc, nuôi dưỡng, người và gia đình bị thiên tai, địch họa, gây tác hại nặng nề được Nhà nước và cộng đồng cứu giúp
- Trợ giúp xã hội “Là sự giúp thêm bằng tiền mặt hoặc điều kiện và phương tiện sinh sống thích hợp để đối tượng được giúp đỡ và có thể phát huy khả năng, tự lo liệu cuộc sống của mình và gia đình, sớm hòa nhập với cộng đồng” [29, 641] Theo đó, việc trợ giúp thường tiến hành cho các đối tượng bị suy giảm mức thu nhập, sức khỏe yếu, mất hay thiếu phần lớn phương tiện sinh sống, nơi cư trú, người già yếu, người tàn tật không có nguồn sống ổn định, hoặc gia đình thiếu người trụ cột về thu nhập do ốm đau, tàn tật, chết, người thiếu ăn
Trang 15Tổng hợp các giải thích trên cho thấy, trợ giúp xã hội không chỉ là hoạt động của cộng đồng và xã hội mà là trách nhiệm của Nhà nước, không những thế mà còn là hoạt động có tính chất về công tác xã hội, không chỉ dành riêng cho một, hoặc một số đối tượng xã hội, đồng thời trợ giúp xã hội không phải
là giải pháp toàn diện về an sinh xã hội, mà chỉ là một hợp phần của an sinh
xã hội
Như vậy, trợ giúp xã hội là sự đảm bảo và giúp đỡ của Nhà nước, sự hỗ trợ của nhân dân và cộng đồng về thu nhập và các điều kiện sinh sống bằng các hình thức và biện pháp khác nhau đối với các đối tượng bị lâm vào cảnh rủi ro, bất hạnh, nghèo đói, thiệt thòi, yếu thế hoặc hẫng hụt trong cuộc sống khi họ không đủ khả năng tự lo được cuộc sống tối thiểu của bản thân và gia đình
1.1.1.2 Khái niệm về chính sách trợ giúp xã hội
Chính sách là những quy định của Nhà nước về một vấn đề nào đó nhằm mục tiêu giải quyết những bất cập, bức xúc hay những mong muốn của các thành viên trong xã hội, thông qua việc thực hiện chính sách sẽ tạo được
sự đồng thuận xã hội để hướng vào mục tiêu chung của nhà nước
Mai Ngọc Cường (2009), Chính sách trợ giúp xã hội là những quy định của nhà nước về đối tượng trợ giúp, điều kiện trợ giúp, chế độ trợ giúp, hình thức trợ giúp và quy trình thủ tục thực hiện chính sách trợ giúp, để giúp các đối tượng xã hội có hoàn cảnh khó khăn ổn định cuộc sống và hòa nhập cộng đồng [11]
Chính sách trợ giúp xã hội được xây dựng trên quan điểm phát triển hệ thống trợ giúp xã hội của mỗi quốc gia Với quan điểm tiếp cận đúng, sẽ có được hệ thống chính sách hiệu quả, phát huy được vai trò hỗ trợ các chính sách kinh tế và ổn định xã hội Ngược lại quan điểm không phù hợp, dẫn đến lựa chọn chính sách không phù hợp, gây tốn kém nguồn lực Nhà nước mà không hiệu quả, đôi khi gây hậu quả xấu cho xã hội
Trang 161.1.1.3 Khái niệm về chế độ trợ giúp xã hội
Theo Mai Ngọc Cường (2009) thì: Chế độ trợ giúp xã hội là những quy định cụ thể về mức trợ giúp, trợ cấp; hình thức trợ cấp, trợ giúp có thể bằng tiền hoặc hiện vật và các dịch vụ cung cấp kèm theo (bảo hiểm y tế, phục hồi chức năng miễn phí, ưu tiên tiếp cận dịch vụ y tế, giáo dục, học nghề, tạo việc làm )[11]
1.1.1.4 Khái niệm về cơ chế trợ giúp xã hội
Theo Mai Ngọc Cường (2009) thì: Cơ chế trợ giúp xã hội là những quy định của nhà nước trong việc xác định đối tượng trợ giúp và trong việc lập dự toán, phân bổ ngân sách, cách thức tổ chức chi trợ cấp xã hội hoặc các khoản trợ giúp khác, để thực hiện chính sách trợ giúp các đối tượng xã hội [11]
1.1.1.5 Khái niệm về đối tượng xã hội hay đối tượng trợ giúp xã hội
Đối tượng trợ giúp xã hội là một bộ phận hay nhóm dân cư do các nguyên nhân chủ quan, khách quan khác nhau tác động, phải chịu những hoàn cảnh khó khăn trong sinh hoạt, lao động, cuộc sống và họ cần đến sự trợ giúp của gia đình, cộng đồng, nhà nước thì mới có thể bảo đảm cuộc sống, hòa nhập cộng đồng
1.1.1.6 Khái niệm về đối tượng bảo trợ xã hội
Đối tượng bảo trợ xã hội là một bộ phận của đối tượng xã hội có hoàn cảnh khó khăn do những nguyên nhân chủ quan và khách quan khác nhau, không có nguồn thu nhập, không có khả năng tự bảo đảm cuộc sống ở mức tối thiểu họ cần có sự trợ giúp của gia đình, cộng đồng và nhà nước để đảm bảo
an toàn cuộc sống
1.1.2 Phân loại trợ giúp xã hội
Tùy theo cách tiếp cận khác nhau để phân loại trợ giúp xã hội:
Thứ nhất, phân loại theo phương thức thực hiện
Trang 17- Trợ giúp xã hội đột xuất: Là hình thức hỗ trợ của Nhà nước và cộng đồng giúp đỡ những người không may bị thiên tai, mất mùa hoặc những biến
cố khác nhằm hỗ trợ kịp thời, giúp khắc phục và vượt qua khó khăn sớm ổn định sản xuất và đời sống, đảm bảo thu nhập, không bị rơi xuống nghèo khổ
- Trợ giúp xã hội thường xuyên: Là hình thức trợ giúp xã hội đối với những người hoàn toàn không thể tự lo được cuộc sống trong một thời gian dài, hoặc trong suốt cả cuộc đời của đối tượng được trợ giúp Là loại trợ giúp bằng tiền hoặc bằng hiện vật mà Nhà nước định ra để trợ giúp cho các đối tượng thuộc diện trợ giúp xã hội thường xuyên
Thứ hai, phân loại theo đối tượng cần trợ giúp chính sách
Theo quy định của chính sách trợ giúp xã hội hiện hành (Nghị định của Chính phủ số: 136/2013/NĐ-CP ngày 21/10/2013 Quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội có hiệu lực từ 1/1/2014, tuy nhiên 10/2014 mới có Thông tư hướng dẫn chính thức và bắt đầu thực hiện từ 1/1/2015, trước đó thực hiện theo Nghị định số 67/2007/NĐ-CP ngày 13 tháng 4 năm 2007 của Chính phủ về chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ
và các văn bản pháp luật liên quan), thì đối tượng trợ giúp xã hội gồm các nhóm đối tượng sau:
a) Nhóm trợ giúp xã hội thường xuyên:
Nhóm đối tượng trợ giúp xã hội thường xuyên có chung một trong các tiêu chí như: không có khả năng lao động; không có khả năng tự phục vụ cá nhân người nuôi dưỡng, chăm sóc, giúp đỡ; khó khăn kinh tế không có nguồn thu nhập, sống trong hoàn cảnh hộ nghèo; không có người thân thích để nuôi dưỡng như cha, mẹ đẻ; cha mẹ nuôi hợp pháp
b) Đối tượng được trợ giúp đột xuất (một lần) là những người, hộ gia
đình gặp khó khăn do hậu quả thiên tai, thảm họa hoặc những lý do bất khả kháng khác gây ra
Trang 18Thứ ba, phân loại theo nơi ở của đối tượng hưởng lợi
- Trợ giúp tại cộng đồng: Thực hiện trợ giúp tại hộ gia đình, cộng đồng nơi đối tượng sinh sống và do cấp xã quản lý, tổ chức thực hiện
- Chăm sóc, nuôi dưỡng trong các cơ sở bảo trợ xã hội: Thực hiện nuôi dưỡng tập trung đối tượng trong các Trung tâm Bảo trợ xã hội
Thứ tư, phân loại theo chủ thể thực hiện trợ giúp
- Trợ giúp của Nhà nước
- Trợ giúp của cộng đồng
Bên cạnh chính sách trợ giúp của nhà nước thì cộng đồng cũng có những cơ chế trợ giúp cho người khuyết tật, người già, trẻ em cần sự bảo vệ đặc biệt và các đối tượng có hoàn cảnh éo le khác mà nhà nước chưa bao phủ hết được
1.1.3 Vai trò của chính sách trợ giúp xã hội trên địa bàn huyện
Giải quyết các vấn đề nảy sinh trong quá trình phát triển kinh tế, chăm sóc dân cư khó khăn, giải quyết các vấn đề bất bình đẳng trong xã hội là thước đo của phát triển xã hội Trợ giúp xã hội trên địa bàn huyện Nga Sơn là một trong những công cụ quản lý của chính quyền và có vai trò chính sau:
Thứ nhất, trợ giúp xã hội thực hiện chức năng bảo đảm an sinh xã hội
của chính quyền địa phương
Thông qua luật pháp, chính sách, các chương trình trợ giúp xã hội, chính quyền địa phương tác động và can thiệp vào việc giữ ổn định xã hội,
ổn định chính trị, phân hóa giàu nghèo và giảm phân tầng xã hội, tạo sự đồng thuận xã hội giữa các nhóm xã hội trong quá trình phát triển Kinh tế thị trường càng phát triển thì xu hướng phân hóa giàu nghèo, phân tầng xã hội và bất bình đẳng càng gia tăng Để tạo ra sự phát triển bền vững, đòi hỏi chính quyền địa phương phải tổ chức thực hiện tốt, có hiệu quả chính sách trợ giúp xã hội để điều hòa các mâu thuẫn xã hội phát sinh trong quá trình
Trang 19phát triển Trợ giúp xã hội sẽ giúp cho việc điều tiết, hạn chế nguyên nhân nảy sinh mâu thuẫn xã hội, bất ổn của xã hội
Thứ hai, trợ giúp xã hội thực hiện chức năng tái phân phối lại của xã
hội
Với chức năng này trợ giúp xã hội sẽ điều tiết phân phối thu nhập, cân đối, điều chỉnh nguồn lực để tăng cường cho các vùng nghèo, vùng chậm phát triển, tạo nên sự phát triển hài hòa giữa các vùng, giảm bớt sự chênh lệch giữa các vùng, các nhóm dân cư
Thứ ba, trợ giúp xã hội có vai trò phòng ngừa rủi ro, giảm thiểu, khắc
phục rủi ro và giải quyết một số vấn đề xã hội nảy sinh
Trợ giúp xã hội trực tiếp giải quyết những vấn đề liên quan đến giảm thiểu rủi ro, hạn chế tính dễ bị tổn thương và khắc phục hậu quả rủi ro, thông qua các chính sách và chương trình cụ thể nhằm giúp các thành viên xã hội ổn định cuộc sống, tái hòa nhập cộng đồng, đảm bảo mức sống tối thiểu cho dân
cư khó khăn Các chính sách trợ giúp xã hội đối với người tàn tật, người già
cô đơn, người nghèo, cộng đồng khó khăn sẽ giúp cho bộ phận dân cư giảm bớt khó khăn, ổn định an ninh trật tự xã hội
1.2 MỨC ĐỘ HÀI LÒNG CỦA NGƯỜI DÂN TRONG VIỆC THỤ HƯỞNG CHÍNH SÁCH BẢO TRỢ XÃ HÔI
1.2.1 Khái niệm mức độ hài lòng
Chất lượng dịch vụ rất khó đánh giá trong suốt quá trình phân phối và
sử dụng dịch vụ, mỗi khách hàng khi tiếp xúc với dịch vụ đều có thể hài lòng hay không hài lòng với dịch vụ cung cấp Sự hài lòng (kỳ vọng) của khách hàng có thể phụ thuộc vào nhiều nguồn khác nhau: truyền miệng, nhu cầu khách hàng, kinh nghiệm khi họ sử dụng dịch vụ… Và sự kỳ vọng bắt nguồn
từ nhu cầu cá nhân khi khách hàng muốn được đáp ứng các gì đó như: ăn, uống, giải trí, nghỉ ngơi… [9]
Trang 20Có nhiều khái niệm khác nhau về sự hài lòng của khách hàng cũng như
có khá nhiều tranh luận về khái niệm này Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng sự hài lòng là sự khác biệt giữa kì vọng của khách hàng và cảm nhận thực tế nhận được
Theo Brown (1992, dẫn theo Nguyễn Đình Thọ và Nguyễn Thị Mai Trang, 2008) [16], sự hài lòng của khách hàng là một trạng thái trong đó những gì khách hàng cần, muốn và mong đợi ở sản phẩm, gói dịch vụ được thỏa mãn hay vượt quá sự thỏa mãn; kết quả là có sự mua hàng lập lại, lòng trung thành và giá trị của lời truyền miệng một cách thích thú
Fornell (1995, dẫn theo Nguyễn Đình Thọ và Nguyễn Thị Mai Trang, 2008) [16], sự hài lòng hoặc sự thất vọng sau khi tiêu dùng, được định nghĩa như là phản ứng của khách hàng về việc đánh giá bằng cảm nhận sự khác nhau giữa kỳ vọng trước khi tiêu dùng với cảm nhận thực tế về sản phẩm sau khi tiêu dùng nó
Theo Zeithaml & Bitner (2000, dẫn theo Nguyễn Đình Thọ và Nguyễn Thị Mai Trang, 2008) [16], sự hài lòng của khách hàng là sự đánh giá của khách hàng về một sản phẩm hay một dịch vụ đã đáp ứng được nhu cầu và mong đợi của họ
Kotler (2000, dẫn theo Nguyễn Đình Thọ và Nguyễn Thị Mai Trang, 2008) [16], định nghĩa “Sự hài lòng như là một cảm giác hài lòng hoặc thất vọng của một người bằng kết quả của việc so sánh thực tế nhận được của sản phẩm (hay kết quả) trong mối liên hệ với những mong đợi của họ”
Sự hài lòng của khách hàng là việc khách hàng căn cứ vài những hiểu biết của mình đối với một sản phẩm hay dịch vụ mà hình thành nên những đánh giá hoặc phán đoán chủ quan Đó là một dạng cảm giác về tâm lý sau khi nhu cầu của khách hàng được thỏa mãn Sự hài lòng của khách hàng được hình thành trên cơ sở những kinh nghiệm, đặc biệt được tích lũy khi mua sắm
Trang 21và sử dụng sản phẩm hay dịch vụ Sau khi mua và sử dụng sản phẩm khách hàng sẽ có sự so sánh giữa hiện thực và kỳ vọng, từ đó đánh giá được hài lòng hay không hài lòng
Như vậy, có thể hiểu được là cảm giác dễ chịu hoặc có thể thất vọng phát sinh từ việc người mua so sánh giữa những lợi ích thực tế của sản phẩm
và những kỳ vọng của họ.Việc khách hàng hài lòng hay không sau khi mua hàng, sau khi được cung cấp dịch vụ phụ thuộc vào việc họ so sánh giữa những lợi ích thực tế của sản phẩm, dịch vụ và những kỳ vọng của họ trước khi mua, trước khi sử dụng Khái niệm sản phẩm ở đây được hiểu không chỉ
là một vật thể vật chất thông thường mà nó bao gồm cả dịch vụ
Khái niệm này này đã chỉ rõ rằng, sự hài lòng là sự so sánh giữa lợi ích thực tế cảm nhận được và những kỳ vọng Nếu lợi ích thực tế không như kỳ vọng thì khách hàng sẽ thất vọng Còn nếu lợi ích thực tế đáp ứng với kỳ vọng đã đặt ra thì khách hàng sẽ hài lòng Nếu lợi ích thực tế cao hơn kỳ vọng của khách hàng thì sẽ tạo ra hiện tượng hài lòng cao hơn hoặc là hài lòng vượt quá mong đợi
Cũng trên quan điểm này, Kotler (2001, dẫn theo Nguyễn Đình Thọ và Nguyễn Thị Mai Trang, 2008) [16], cho rằng sự hài lòng được xác định trên
cơ sở so sánh giữa kết quả nhận được từ dịch vụ và mong đợi của khách hàng được xem xét dựa trên ba mức độ sau:
+ Nếu kết quả nhận được ít hơn mong đợi thì khách hàng sẽ cảm thấy không hài lòng
+ Nếu kết quả nhận được giống như mong đợi thì khách hàng sẽ cảm thấy hài lòng
+ Nếu kết quả nhận được nhiều hơn mong đợi thì khách hàng sẽ rất hài lòng và thích thú với dịch vụ đó
Trang 221.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng
Theo Zeithaml và Bitner (1996) [17], sự hài lòng hay sự thỏa mãn của khách hàng chịu sự tác động bởi các nhân tố chủ yếu sau đây: chất lượng dịch
vụ (service quality); chất lượng sản phẩm (product quality); giá cả (price); nhân tố hoàn cảnh (situational factors) và nhân tố cá nhân (personal factors)
Trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ thì chất lượng dịch vụ là nhân tố quan trọng, tác động mạnh mẽ đến sự thỏa mãn của khách hàng Theo Parasuraman
et al (1991, dẫn theo Lê Thị Diệu Hiền, Nguyễn Quốc Nghi, Hoàng Thị Hồng
Lộc, Võ Phương Thảo, 2015) [18], có 5 nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng đối với dịch vụ như sau:
- Sự tin cậy-Reliability: Là tổ chức kinh doanh dịch vụ có khả năng
cung cấp dịch vụ như đã hứa Nó thể hiện qua việc cung cấp dịch vụ có chất lượng đúng như cam kết không; về thời gian, về chất lượng…
- Sự đáp ứng nhiệt tình-Responsiveness: Sự đáp ứng nhanh nhẹn các
yêu cầu, sự sẵn lòng phục vụ khách hàng và cung cấp dịch vụ một cách nhanh chóng
- Sự an toàn-Assuarance: Nói đến sự nhã nhặn, phong cách làm việc,
sự am hiểu, và đặc biệt là khả năng tạo nên sự an tâm, tin tưởng của nhân viên
- Sự thấu hiểu-Empathy: Là sự phục vụ chu đáo, sự quan tâm đặc biệt
dành cho khách hàng và khả năng thấu hiểu những nhu cầu riêng tư của người được phục vụ
- Nhân tố hữu hình-Tangibles: Là nói đến cơ sở vật chất, các trang
thiết bị, các điều kiện làm việc của nhân viên phục vụ
Tuy nhiên, việc sử dụng 5 nhân tố trên để đo lường sự thỏa mãn của khách hàng trong thực tế gặp phải không ít khó khăn như việc giải thích ngữ
Trang 23nghĩa với khách hàng và có thể bỏ qua một số đặc điểm tác động đến sự thỏa mãn của khách hàng
1.2.3 Sự hài lòng về mức độ tham gia của xã hội vào hoạt động trợ giúp
Với quan điểm tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với tiến bộ và công bằng
xã hội, song song với tăng trưởng kinh tế phải tập trung cho công tác giảm nghèo, hỗ trợ người có hoàn cảnh khó khăn Trong những năm qua, cấp ủy, chính quyền các địa phương đã tuân thủ các quy trình chính sách và nguyên tắc để thực hiện mục tiêu giúp bộ phận dân cư khó khăn vươn lên thoát khỏi hoàn cảnh
Xác định Hệ thống văn bản pháp luật trực tiếp hoặc có nội dung quy định khung pháp lý, chính sách là cơ sở, tiền đề cho việc thực hiện chính sách trợ giúp xã hội ở địa phương, do đó việc triển khai thực hiện cơ chế chính sách TGXH trên địa bàn huyện đã được tổ chức thực thi nghiêm túc, bảo đảm tính khách quan và phù hợp với thực tiễn địa phương
Nhìn chung, việc tổ chức triển khai thực hiện các chính sách trợ giúp xã hội hiện nay đã ngày càng tiếp cận các nhóm xã hội yếu thế cần được trợ giúp nhằm hướng tới mục tiêu tiếp cận toàn diện hơn, bao trùm các nhu cầu cơ bản của đối tượng về nuôi dưỡng, giáo dục, chăm sóc sức khoẻ Thêm vào đó, các đối tượng được trợ giúp cũng từng bước được mở rộng, mức trợ cấp ngày càng cao hơn, cơ hội tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản ngày càng tốt hơn, đã tạo môi trường pháp lý, hành chính, xã hội thuận lợi để các đối tượng hoà nhập cộng đồng
1.2.3.1 Hoạt động trợ giúp xã hội thường xuyên
Về bản chất, trợ giúp xã hội thường xuyên trên địa bàn huyện là hình thức trợ giúp xã hội đối với những người hoàn toàn không thể tự lo được cuộc sống trong một thời gian dài (một hoặc nhiều năm) hoặc trong suốt cả cuộc đời của đối tượng được trợ giúp Trợ giúp xã hội thường xuyên là loại
Trang 24trợ giúp bằng tiền mặt hoặc bằng hiện vật mà Nhà nước định ra để trợ cấp cho các đối tượng thuộc diện trợ giúp xã hội thường xuyên Việc thực hiện chính sách trợ giúp xã hội thường xuyên trên địa bàn huyện bao gồm những vấn đề sau:
Thứ nhất, xác định đối tượng hưởng trợ giúp xã hội thường xuyên Có
nhiều đối tượng xã hội, song không phải tất cả đều được trợ giúp xã hội thường xuyên, mà chỉ có những người rơi vào hoàn cảnh đặc biệt khó khăn
mà bản thân và gia đình họ không tự lo liệu được ở mức tối thiểu hàng ngày, không đảm bảo được nhu cầu cơ bản của con người mới được hưởng trợ giúp
xã hội thường xuyên Như vậy đối tượng trợ giúp xã hội thường xuyên là những người không may gặp rủi ro, bất hạnh, gặp khó khăn trong cuộc sống,
mà ta thường nói là nhóm người thiệt thòi, yếu thế như: người già cô đơn, trẻ
em mồ côi, người tàn tật, Những đối tượng trợ giúp xã hội đặc biệt khó khăn, cần có sự trợ giúp về vật chất và tinh thần để đảm bảo cuộc sống, không phân biệt vị thế và thành phần xã hội của họ
- Theo Nghị định của Chính phủ số 67/2007/NĐ-CP ngày 13/4/2007 gồm 9 nhóm đối tượng trợ giúp xã hội thường xuyên, cụ thể [5]:
(1) Trẻ mồ côi cả cha và mẹ, trẻ em bị bỏ rơi, mất nguồn nuôi dưỡng, trẻ mồ côi cha hoặc mẹ nhưng người còn lại là mẹ hoặc cha mất tích theo quy định của Bộ luật dân sự hoặc không đủ năng lực, khả năng để nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật; trẻ em có cha và mẹ hoặc cha hoặc mẹ đang trong thời gian chấp hành hình phạt tù tại trại giam, không còn người nuôi dưỡng; trẻ em bị nhiễm HIV/AIDS thuộc hộ gia đình nghèo
(2) Người cao tuổi (NCT) thuộc hộ gia đình nghèo; NCT còn vợ hoặc chồng nhưng già yếu, không có con, cháu, người thân thích để nương tựa thuộc hộ gia đình nghèo;
(3) Người từ 85 tuổi trở lên không có lương hưu hoặc trợ cấp bảo hiểm
xã hội;
Trang 25(4) Người tàn tật (NTT) nặng không có khả năng lao động hoặc không
có khả năng tự phục vụ thuộc hộ gia đình nghèo;
(5) Người mắc bệnh tâm thần thuộc các loại tâm thần phân liệt, rối loạn tâm thần đã được cơ quan y tế chuyên khoa tâm thần chữa trị nhiều lần nhưng chưa thuyên giảm và có kết luận bệnh mãn tính
(6) Người nhiễm HIV/AIDS không có khả năng lao động thuộc hộ gia đình nghèo
(7) Gia đình, cá nhân nhận nuôi dưỡng trẻ mồ côi, trẻ em bị bỏ rơi (8) Hộ gia đình có từ 2 người trở lên là NTT nặng không có khả năng
(1)Trẻ em dưới 16 tuổi không có nguồn nuôi dưỡng thuộc một trong các trường hợp quy định sau đây: a) Bị bỏ rơi chưa có người nhận làm con nuôi; b) Mồ côi cả cha và mẹ; c) Mồ côi cha hoặc mẹ và người còn lại mất tích theo quy định của pháp luật; d) Mồ côi cha hoặc mẹ và người còn lại đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở bảo trợ xã hội, nhà xã hội; đ) Mồ côi cha hoặc mẹ và người còn lại đang trong thời gian chấp hành án phạt tù tại trại giam hoặc đang chấp hành quyết định xử lý vi phạm hành chính tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc; e) Cả cha và mẹ mất tích theo quy định của pháp luật; g) Cả cha và mẹ đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở bảo trợ xã hội, nhà xã hội; h) Cả cha và mẹ đang trong thời gian chấp hành án phạt tù tại trại giam hoặc
Trang 26đang chấp hành quyết định xử lý vi phạm hành chính tại trường giáo dưỡng,
cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc; i) Cha hoặc mẹ mất tích theo quy định của pháp luật và người còn lại đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở bảo trợ xã hội, nhà xã hội; k) Cha hoặc mẹ mất tích theo quy định của pháp luật và người còn lại đang trong thời gian chấp hành án phạt tù tại trại giam hoặc đang chấp hành quyết định xử lý vi phạm hành chính tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc; l) Cha hoặc mẹ đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở bảo trợ xã hội, nhà xã hội và người còn lại đang trong thời gian chấp hành án phạt
tù tại trại giam hoặc đang chấp hành quyết định xử lý vi phạm hành chính tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc
(2) Người từ 16 tuổi đến 22 tuổi thuộc một trong các trường hợp quy định tại mục (1) mà đang học phổ thông, học nghề, trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học văn bằng thứ nhất
(3) Trẻ em bị nhiễm HIV thuộc hộ nghèo; người bị nhiễm HIV thuộc
hộ nghèo không còn khả năng lao động mà không có lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hàng tháng, trợ cấp ưu đãi người có công hàng tháng, trợ cấp hàng tháng khác
(4) Người thuộc hộ nghèo không có chồng hoặc không có vợ; có chồng hoặc vợ đã chết; có chồng hoặc vợ mất tích theo quy định của pháp luật
và đang nuôi con dưới 16 tuổi hoặc đang nuôi con từ 16 tuổi đến 22 tuổi nhưng người con đó đang học phổ thông, học nghề, trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học văn bằng thứ nhất (gọi chung là người đơn thân nghèo đang nuôi con)
(5) Người cao tuổi thuộc một trong các trường hợp sau đây: a) Người cao tuổi thuộc hộ nghèo không có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng hoặc có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng nhưng người này đang hưởng chế độ trợ cấp xã hội hàng tháng; b) Người từ đủ 80 tuổi trở lên không
Trang 27thuộc diện quy định tại Điểm a mục này mà không có lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hàng tháng, trợ cấp xã hội hàng tháng; c) Người cao tuổi thuộc hộ nghèo không có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng, không có điều kiện sống ở cộng đồng, đủ điều kiện tiếp nhận vào cơ sở bảo trợ xã hội, nhà
xã hội nhưng có người nhận chăm sóc tại cộng đồng
(6) Trẻ em khuyết tật, người khuyết tật thuộc diện hưởng trợ cấp xã hội theo quy định của pháp luật về người khuyết tật
Thứ hai, xác định chế độ hưởng trợ giúp xã hội thường xuyên Chế độ
hưởng trợ giúp xã hội thường xuyên bao gồm: trợ cấp hàng tháng tùy từng đối tượng cụ thể và điều kiện sinh hoạt (tại cộng đồng hay tại cơ sở bảo trợ xã hội, nhà xã hội tại cộng đồng) Được cấp thẻ bảo hiểm y tế hoặc khám, chữa bệnh không phải trả tiền ở các cơ sở y tế công lập Hỗ trợ học văn hóa, học nghề đối với các đối tượng còn đang theo học văn hóa, học nghề Hỗ trợ kinh phí mai táng khi chết
Riêng những đối tượng thuộc diện đặc biệt khó khăn không thể tự lo được cuộc sống thì được xem xét, tiếp nhận vào cơ sở bảo trợ xã hội hoặc nhà
xã hội tại cộng đồng Các đối tượng sống tại cơ sở bảo trợ xã hội của nhà nước ngoài các chế độ trên, còn được hưởng: Trợ cấp để mua sắm tư trang, vật dụng phục vụ cho sinh hoạt đời sống thường ngày; Trợ cấp để mua thuốc chữa bệnh thông thường; riêng người nhiễm HIV/AIDS được hỗ trợ điều trị nhiễm trùng cơ hội; Trợ cấp vệ sinh cá nhân hàng tháng đối với đối tượng nữ trong độ tuổi sinh đẻ
Mức trợ cấp trợ giúp xã hội thường xuyên được quy định căn cứ vào mức sống tối thiểu của cộng đồng dân cư để đảm bảo cho đối tượng hưởng trang trải cho những nhu cầu cấp thiết nhất trong cuộc sống hàng ngày
Mức chuẩn trợ cấp trợ giúp xã hội thường xuyên trước đây:
Trang 28Theo Nghị định số 67/2007/NĐ-CP và các văn bản pháp luật khác của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ cá nhân có thể được trợ cấp trợ giúp xã hội thường xuyên thấp nhất là 180.000 đồng/tháng, mức cao nhất là 360.000 đồng/tháng [5]
Theo Nghị định Số 136/2013/NĐ-CP ngày 21/10/2013 (bắt đầu chính thức thực hiện từ 1/1/2015): quy định mức chuẩn để xác định mức trợ cấp xã hội hàng tháng là 270.000 đồng [4]
Thứ ba, thực hiện các yêu cầu tổ chức thực hiện trợ giúp xã hội thường
xuyên
- Theo quy định của Nghị định số: 67/2007/NĐ-CP và các văn bản pháp luật liên quan của Chính phủ về chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội Chính quyền các địa phương có trách nhiệm: Căn cứ điều kiện cụ thể của địa phương, đơn vị quyết định mức trợ cấp, trợ giúp cho các đối tượng bảo trợ xã hội thuộc quyền quản lý cho phù hợp, nhưng không thấp hơn các mức quy định trên Quản lý đối tượng bảo trợ xã hội, chỉ đạo việc xây dựng các cơ sở bảo trợ xã hội, nhà xã hội thuộc địa phương Tổ chức thực hiện chế
độ trợ giúp xã hội cho các đối tượng quy định tại Nghị định này Chỉ đạo cơ quan Lao động - Thương binh và Xã hội (LĐ-TB&XH) và các ngành chức năng tại địa phương hướng dẫn các tổ chức và cá nhân hỗ trợ đối tượng bảo trợ xã hội Bố trí kinh phí trong dự toán ngân sách địa phương hàng năm trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định đảm bảo thực hiện chính sách trợ giúp xã hội theo quy định tại Nghị định này Chỉ đạo, kiểm tra, thanh tra việc thực hiện chính sách trợ giúp xã hội ở địa phương
- Theo quy định tại Nghị định số 136/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định thủ tục thực hiện, điều chỉnh, thôi hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng như sau [4]:
Trang 29(1) Thủ tục thực hiện trợ cấp xã hội hàng tháng theo quy định sau đây: a) Đối tượng hoặc người giám hộ của đối tượng làm hồ sơ theo quy định tại Điều 7 Nghị định này gửi Chủ tịch ủy ban nhân dân (UBND) cấp xã; b) Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ, Hội đồng xét duyệt trợ giúp xã hội thực hiện xét duyệt và niêm yết công khai kết quả xét duyệt tại trụ sở UBND cấp xã trong thời gian 07 ngày, trừ những thông tin liên quan đến HIV của đối tượng Khi hết thời gian niêm yết, nếu không có khiếu nại thì Hội đồng xét duyệt bổ sung biên bản họp kết luận của Hội đồng xét duyệt vào hồ sơ của đối tượng, trình Chủ tịch UBND cấp xã Trường hợp có khiếu nại, trong thời hạn
10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được khiếu nại, Hội đồng xét duyệt kết luận
và công khai về vấn đề khiếu nại, trình Chủ tịch UBND cấp xã; c) Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được biên bản kết luận của Hội đồng xét duyệt, Chủ tịch UBND cấp xã có văn bản (kèm theo hồ sơ của đối tượng) gửi Phòng LĐ-TB&XH; d) Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ của đối tượng và văn bản đề nghị của Chủ tịch UBND cấp xã, Phòng LĐ-TB&XH có trách nhiệm thẩm định, trình Chủ tịch UBND quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh quyết định trợ cấp xã hội cho đối tượng Trường hợp đối tượng không đủ điều kiện hưởng, Phòng LĐ-TB&XH phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do; đ) Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản trình của Phòng LĐ-TB&XH, Chủ tịch UBND cấp huyện xem xét, quyết định trợ cấp xã hội hàng tháng cho đối tượng
Thời gian hưởng trợ cấp xã hội đối với người cao tuổi quy định tại Điểm b Khoản 5 Điều 5 Nghị định này kể từ thời điểm người đó đủ 80 tuổi Thời gian hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng của đối tượng khác, kể từ tháng Chủ tịch UBND cấp huyện ký quyết định trợ cấp xã hội hàng tháng
(2) Thủ tục điều chỉnh, thôi hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng thực hiện theo quy định sau đây: a) Đối tượng, người giám hộ của đối tượng hoặc tổ
Trang 30chức, cá nhân liên quan có kiến nghị về việc đối tượng không còn đủ điều kiện hưởng hoặc thay đổi điều kiện hưởng gửi Chủ tịch UBND cấp xã; b) Trình tự thẩm định, quyết định điều chỉnh, thôi hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng thực hiện theo quy định tại các điểm b, c, d và đ Khoản 1 Điều 8 Nghị định này; c) Thời gian điều chỉnh, thôi hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng kể từ tháng ngay sau tháng Chủ tịch UBND cấp huyện ký quyết định
(3) Trường hợp đối tượng hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng bị chết, Chủ tịch UBND cấp xã đề nghị Phòng LĐ-TB&XH báo cáo Chủ tịch UBND cấp huyện quyết định thôi hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng
Thời gian thôi hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng kể từ tháng ngay sau tháng đối tượng đang hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng chết
(4) Thủ tục chi trả trợ cấp xã hội hàng tháng khi đối tượng thay đổi nơi
cư trú trong cùng địa bàn quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh thực hiện theo quy định sau đây: a) Đối tượng hoặc người giám hộ của đối tượng có đơn đề nghị gửi Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú mới; b) Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn đề nghị, Chủ tịch UBND cấp xã có văn bản gửi phòng LĐ-TB&XH; c) Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản của Chủ tịch UBND cấp xã, Phòng LĐ-TB&XH có trách nhiệm thẩm định và thực hiện chi trả trợ cấp xã hội hàng tháng cho đối tượng theo địa chỉ nơi cư trú mới
(5) Thủ tục quyết định trợ cấp xã hội hàng tháng khi đối tượng thay đổi nơi cư trú giữa các quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh thực hiện theo quy định sau đây: a) Đối tượng thay đổi nơi cư trú có đơn đề nghị gửi Chủ tịch UBND cấp xã nơi đang hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng; b) Chủ tịch UBND cấp xã có văn bản gửi Phòng LĐ-TB&XH Phòng LĐ-TB&XH trình Chủ tịch UBND cấp huyện quyết định thôi chi trả trợ cấp xã hội hàng tháng tại nơi cư trú cũ và gửi văn bản kèm theo hồ sơ của đối tượng đến Chủ tịch
Trang 31UBND cấp xã nơi cư trú mới của đối tượng; c) Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ của đối tượng, Chủ tịch UBND cấp xã xác nhận và chuyển hồ sơ của đối tượng đến Phòng LĐ-TB&XH; d) Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ của đối tượng, Phòng LĐ-TB&XH thẩm định, trình Chủ tịch UBND cấp huyện quyết định trợ cấp xã hội hàng tháng cho đối tượng kể từ tháng ngay sau tháng ghi trong quyết định thôi hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng của Chủ tịch UBND cấp huyện nơi cư trú cũ của đối tượng
1.2.3.2 Thực hiện hoạt động trợ giúp xã hội đột xuất
Về bản chất, trợ giúp xã hội đột xuất (một lần) là hình thức trợ giúp xã hội do Nhà nước và cộng đồng giúp đỡ những người không may bị thiên tai, mất mùa hoặc những biến cố khác mà đời sống của họ bị đe dọa về lương thực, nhà ở, chữa bệnh, chôn cất và phục hồi sản xuất nếu không có sự giúp
đỡ khẩn cấp Việc thực hiện chinh sách trợ giúp xã hội đột xuất bao gồm những hoạt động sau:
Thứ nhất, xác định đối tượng hưởng trợ giúp xã hội đột xuất (một lần)
Đó là những người, hộ gia đình gặp khó khăn do hậu quả thiên tai hoặc những
lý do bất khả kháng khác gây ra, gồm:
- Theo Nghị định số 67/2007/NĐ-CP của Chính phủ bao gồm: 1) Hộ gia đình có người bị chết, mất tích; 2) Hộ gia đình có người bị thương nặng; 3) Hộ gia đình có nhà bị đổ, sập, trôi, cháy, hỏng nặng; 4) Hộ gia đình bị mất phương tiện sản xuất, lâm vào cảnh thiếu đói; 5) Hộ gia đình phải di dời khẩn cấp do nguy cơ sạt lở đất, lũ quét; 6) Người bị đói do thiếu lương thực; 7) Người gặp rủi ro ngoài vùng cư trú dẫn đến bị thương nặng, gia đình không biết để chăm sóc; 8) Người lang thang xin ăn trong thời gian tập trung chờ đưa về nơi cư trú [5]
Trang 32- Theo Nghị định 136/2013/NĐ-CP đối tượng trợ giúp xã hội đột xuất bao gồm: 1) Hộ gia đình thiếu đói trong dịp Tết Âm lịch; 2) Các thành viên
hộ gia đình thiếu đói trong và sau thiên tai, hỏa hoạn, mất mùa, giáp hạt hoặc
lý do bất khả kháng khác; 3) Người bị thương nặng do thiên tai, hỏa hoạn; tai nạn giao thông, tai nạn lao động đặc biệt nghiêm trọng hoặc các lý do bất khả kháng khác tại nơi cư trú hoặc ngoài nơi cư trú; 4) Người bị thương nặng ngoài nơi cư trú mà không có người thân thích chăm sóc; 5) Hộ gia đình có người chết, mất tích do thiên tai, hỏa hoạn; tai nạn giao thông, tai nạn lao động đặc biệt nghiêm trọng hoặc các lý do bất khả kháng khác; 6) Hộ nghèo,
hộ cận nghèo, hộ gia đình có hoàn cảnh khó khăn có nhà ở bị đổ, sập, trôi, cháy hoàn toàn, bị hư hỏng nặng do thiên tai, hỏa hoạn hoặc lý do bất khả kháng khác mà không còn nơi ở; 7) Hộ phải di dời nhà ở khẩn cấp theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền do nguy cơ sạt lở, lũ, lụt, thiên tai, hỏa hoạn hoặc lý do bất khả kháng khác; 8) Trẻ em có cả cha và mẹ chết, mất tích do thiên tai, hỏa hoạn hoặc lý do bất khả kháng khác mà không còn người thân thích chăm sóc, nuôi dưỡng [4]
Thứ hai, xác định chế độ hưởng trợ giúp xã hội đột xuất
Việc trợ cấp một lần bằng tiền hay bằng hiện vật tùy từng đối tượng và loại rủi ro mà đối tượng gặp phải
Hộ gia đình có người là lao động chính bị chết, mất tích; hộ gia đình bị mất phương tiện sản xuất; hộ gia đình có nhà bị đổ, sập, trôi, cháy, hỏng nặng, lâm vào cảnh bị đói do thiếu lương thực, ngoài khoản trợ cấp một lần, được xem xét trợ giúp thêm các khoản sau cho đến khi hộ thoát khỏi diện nghèo: Miễn, giảm học phí cho người đang học văn hoá, học nghề; Được cấp thẻ bảo hiểm y tế hoặc khám chữa bệnh miễn phí tại các cơ sở chữa bệnh của Nhà nước; Được vay vốn ưu đãi để phát triển sản xuất
Trang 33Đối tượng hưởng trợ giúp xã hội đột xuất được bổ sung thêm các chế
độ ngoài trợ cấp một lần bằng tiền hay bằng hiện vật
Thứ ba, những yêu cầu tổ chức thực hiện trợ giúp xã hội đột xuất
- Theo quy định của Nghị định Số: 67/2007/NĐ-CP của Chính phủ về chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội Chính quyền các địa phương
có trách nhiệm: Căn cứ điều kiện cụ thể của địa phương, đơn vị quyết định mức trợ cấp, trợ giúp cho các đối tượng bảo trợ xã hội thuộc quyền quản lý cho phù hợp, nhưng không thấp hơn các mức quy định trên Quản lý đối tượng bảo trợ
xã hội, chỉ đạo việc xây dựng các cơ sở bảo trợ xã hội, nhà xã hội thuộc địa phương Tổ chức thực hiện chế độ trợ giúp xã hội cho các đối tượng quy định tại Nghị định này Chỉ đạo cơ quan LĐ-TB&XH và các ngành chức năng tại địa phương hướng dẫn các tổ chức và cá nhân hỗ trợ đối tượng bảo trợ xã hội
Bố trí kinh phí trong dự toán ngân sách địa phương hàng năm trình HĐND cùng cấp quyết định đảm bảo thực hiện chính sách trợ giúp xã hội theo quy định tại Nghị định này Chỉ đạo, kiểm tra, thanh tra việc thực hiện chính sách trợ giúp xã hội ở địa phương
- Theo Nghị định số 136/2013/NĐ-CP của Chính phủ yêu cầu tổ chức thực hiện trợ giúp xã hội đột xuất theo quy định sau [4]:
1) Thủ tục hỗ trợ lương thực, người bị thương năng, hỗ trợ chi phí mai táng, hỗ trợ làm nhà ở, sửa nhà, hỗ trợ tạo việc làm, phát triển sản xuất thực hiện theo quy định sau đây: a) Trưởng thôn lập danh sách hộ gia đình và số người trong hộ gia đình thiếu đói cần hỗ trợ theo mẫu do Bộ LĐ-TB&XH quy định; b) Trưởng thôn chủ trì họp với đại diện của các tổ chức có liên quan trong thôn để bình xét hộ gia đình, số người trong hộ gia đình, đối tượng hưởng trợ giúp xã hội đột xuất gửi Chủ tịch UBND cấp xã; c) Trong thời hạn
02 ngày, kể từ ngày nhận được đề nghị của Trưởng thôn, Hội đồng xét duyệt thống nhất danh sách hộ gia đình và số người đối tượng hưởng trợ giúp xã hội
Trang 34đột xuất, trình Chủ tịch UBND cấp xã quyết định; d) Chủ tịch UBND cấp xã quyết định cứu trợ ngay những trường hợp cấp thiết Trường hợp thiếu nguồn lực thì có văn bản đề nghị trợ giúp gửi Phòng LĐ-TB&XH; đ) Phòng LĐ-TB&XH thẩm định, trình Chủ tịch UBND cấp huyện quyết định hỗ trợ; e) Chủ tịch UBND cấp huyện xem xét, quyết định hỗ trợ Trường hợp thiếu nguồn lực thì có văn bản đề nghị trợ giúp gửi Sở LĐ-TB&XH, Sở Tài chính; g) Sở LĐ-TB&XH chủ trì, phối hợp với Sở Tài chính tổng hợp, trình Chủ tịch UBND cấp tỉnh xem xét, quyết định Trường hợp thiếu nguồn lực, Chủ tịch UBND cấp tỉnh có văn bản gửi Bộ LĐ-TB&XH, Bộ Tài chính; h) Bộ LĐ-TB&XH chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định; i) Khi nhận được hỗ trợ, Chủ tịch UBND các cấp tổ chức thực hiện ngay việc trợ giúp cho đối tượng bảo đảm đúng quy định; k) Kết thúc mỗi đợt hỗ trợ, UBND các cấp có trách nhiệm tổng hợp, báo cáo kết quả
hỗ trợ
(2) Hỗ trợ khẩn cấp trẻ em khi cha, mẹ bị chết, mất tích do thiên tai, hỏa hoạn hoặc lý do bất khả kháng khác Cụ thể là a) Trưởng thôn lập danh sách đối tượng và tổ chức, cá nhân hoặc hộ gia đình có điều kiện nhận chăm sóc, nuôi dưỡng thuộc địa bàn thôn gửi Hội đồng xét duyệt; b) Hội đồng xét duyệt xem xét, trình Chủ tịch UBND cấp xã để có văn bản gửi Phòng LĐ-TB&XH; c) Phòng LĐ-TB&XH thẩm định, trình Chủ tịch UBND cấp huyện quyết định hỗ trợ Trường hợp không hỗ trợ phải trả lời bằng văn bản và nêu
rõ lý do; d) Chủ tịch UBND cấp xã tổ chức đưa đối tượng và bàn giao cho tổ chức, cá nhân hoặc hộ gia đình nhận chăm sóc, nuôi dưỡng ngay sau khi có quyết định hỗ trợ của Chủ tịch UBND cấp huyện
(3) Thủ tục đối với đối tượng cần bảo vệ khẩn cấp thuộc diện nhận chăm sóc, nuôi dưỡng tạm thời tại cộng đồng thực hiện theo quy định sau đây: a) Đối tượng hoặc người giám hộ của đối tượng có đơn kèm theo biên
Trang 35bản về vụ việc bạo hành, xâm hại và văn bản xác nhận tình trạng thương tật của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh (nếu có) gửi Chủ tịch UBND cấp xã Công chức cấp xã phụ trách công tác LĐ-TB&XH nơi trẻ em, người lang thang xin
ăn không có nơi cư trú ổn định bị bạo hành, xâm hại có trách nhiệm lập hồ sơ; b) Chủ tịch UBND cấp xã tổ chức kiểm tra, xác minh và có văn bản gửi Phòng LĐ-TB&XH; c) Phòng LĐ-TB&XH hội thẩm định, trình Chủ tịch UBND cấp huyện quyết định Trường hợp không hỗ trợ phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do; d) Chủ tịch UBND cấp xã tổ chức đưa đối tượng và bàn giao cho tổ chức, cá nhân hoặc hộ gia đình nhận chăm sóc, nuôi dưỡng ngay sau khi có quyết định của Chủ tịch UBND cấp huyện
1.2.4 Sự hài lòng về năng lực đội ngũ cán bộ quản lý
Một nước có trình độ phát triển còn thấp thường phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức cùng một lúc như: vấn đề già hóa dân số, tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo còn cao, tốc độ giảm nghèo có xu hướng chậm lại, nguy cơ tái nghèo cao khi có những biến động về kinh tế như khủng hoảng, thất nghiệp cũng như những rủi ro về dịch bệnh, ốm đau, thiên tai khốc liệt và bất thường do biến đổi khí hậu Bên cạnh những thách thức về giảm nghèo là sự thiếu hụt về tiếp cận các dịch vụ y tế, giáo dục, nước sạch và vệ sinh, nhà ở, các mạng lưới an sinh xã hội, cơ hội tham gia vào thị trường lao động và các hoạt động của cộng đồng Đặc biệt, đặc tính không ổn định và hay di chuyển của số đông người lao động của khu vưc nông thôn đi làm ăn xa, họ trở thành những đối tượng di cư tạm thời hoặc không có đăng ký hộ khẩu, khiến cho họ khó tiếp cận với các trợ giúp xã hội và dịch vụ công
Mặt khác, do hậu quả của chiến tranh, nạn nhân chất độc da cam, hoặc
do áp lực của cuộc sống số người tâm thần có xu hướng gia tăng, trong khi đó trên địa bàn huyện chưa có các dịch vụ trị liệu tâm lý, dịch vụ công tác xã hội trong chăm sóc và phục hồi chức năng cho người tâm thần Vấn đề biến đổi
Trang 36khí hậu đang gây tác động mạnh đến những người dân có sinh kế gắn với khai thác tự nhiên như nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng và đánh bắt thủy sản Thêm vào đó, số người có hoàn cảnh khó khăn hiện rất lớn
Trước những thách thức trên, lãnh đạo các địa phương phải xác định việc bảo đảm an sinh xã hội là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách hiện nay Để thực hiện mục tiêu, lãnh đạo cấp huyện phải tập trung chỉ đạo quyết liêt, kịp thời, đặc biệt chú trọng nhiệm vụ trọng tâm, trọng điểm và xây dựng các chương trình, đề án, cơ chế chính sách, giải pháp thực hiện tốt nhiệm vụ TGXH trên địa bàn huyện, đồng thời triển khai thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ nhằm tăng cường bảo đảm an sinh xã hội, xoá đói giảm nghèo:
Thứ nhất, tập trung thực hiện có hiệu quả pháp luật về trợ giúp xã hội
ứng phó được với các thách thức công tác bảo trợ xã hội trong tổng thể hệ thống an sinh xã hội, linh hoạt và hỗ trợ lẫn nhau, có khả năng bảo vệ mọi thành viên trong xã hội, nhất là những nhóm dễ bị tổn thương Tích cực vận động sự tham gia của cộng đồng xã hội nhằm đa dạng hóa các loại hình trợ giúp xã hội và cứu trợ xã hội Nâng cao nhận thức xã hội về chia sẻ trách nhiệm đối với việc trợ giúp, chăm sóc những người yếu thế Thực hiện các chương trình mục tiêu kinh tế - xã hội hướng ưu tiên vào những người yếu thế trong xã hội
Thứ hai, có kế hoạch, chương trình về chính sách xã hội, xây dựng và
thực hiện các chương trình giảm nghèo theo hướng bền vững Gắn giảm nghèo với đẩy mạnh tăng trưởng và phát triển, coi chính sách giảm nghèo không chỉ nhằm mục tiêu ổn định và còn là động lực của sự phát triển Tiếp tục thực hiện chủ trương và chính sách khuyến khích làm giàu đi đôi với tích cực thực hiện giảm nghèo, vươn lên no ấm,
Thứ ba, bộ máy tổ chức và năng lực đội ngũ cán bộ là nhân tố có vai
trò quyết định trong việc tổ chức chính sách trợ giúp xã hội Cho dù chính
Trang 37sách có tốt đến mấy đi chăng nữa, nhưng tổ chức không tốt thì chính sách sẽ không thể đi vào cuộc sống, các đối tượng vẫn không có nhiều cơ hội để được nhận trợ giúp, cũng như không có cơ hội được tiếp cận các dịch vụ trợ giúp xã hội Đội ngũ cán bộ, nhân viên công tác xã hội và mạng lưới các tổ chức cung cấp dịch vụ trợ giúp xã hội để giúp người nghèo tự giải quyết các vấn đề của mình, vươn lên thoát nghèo Vì thế, cần quan tâm xây dựng đội ngũ làm công tác an sinh xã hội nói chung, trợ giúp xã hội nói riêng Đội ngũ này phải được đào tạo, huấn luyện về công tác trợ giúp xã hội, có lòng nhiệt tình, trách nhiệm và đạo đức nghề nghiệp
Thứ tư, nghiên cứu biện pháp triển khai thực hiện chính sách trợ cấp,
trợ giúp xã hội theo hướng tuân thủ nguyên tắc hướng dẫn của cấp trên và phù hợp với điều kiện đại phương
Thứ năm, hỗ trợ người khuyết tật gia tăng tiếp cận và hòa nhập cộng
đồng Lồng ghép chính sách về người khuyết tật trong chính sách phát triển kinh tế - xã hội; Tạo điều kiện để người khuyết tật khắc phục khó khăn, sống độc lập và hòa nhập cộng đồng
Thứ sáu, tạo điều kiện, phát huy vai trò của các tổ chức, đơn vị chức
năng thực hiện công tác trợ giúp xã hội (các đoàn thể, Hội Chữ thập đỏ, các hội đặc thù khác) trong công tác nhân đạo, từ thiện Tích cực vận động, kêu gọi sự ủng hộ của cộng đồng, các tổ chức quốc tế, các tập thể, cá nhân nhà hảo tâm cùng hỗ trợ, chia sẻ trách nhiệm giúp đỡ các đối tượng đặc biệt khó khăn trên địa bàn huyện
Thứ bảy, cần phối hợp chính sách trợ giúp xã hội với việc thực hiện các chính
sách khác Công tác phối hợp chính sách trợ giúp xã hội với việc thực hiện các chính sách khác được triển khai tổ chức linh hoạt, mềm dẻo và đảm bảo tuân thủ nguyên tắc chung theo quy định của công tác trợ giúp xã hội và nguyên tắc riêng của từng ngành, tổ chức Theo đó, các chương trình phối hợp giữa
Trang 38các phòng, ban chuyên môn và các ngành đoàn thể, các tổ chức xã hội trong công tác chính sách xã hội và trợ giúp xã hội được chú trọng như: phối hợp trong các chương trình hướng nghiệp, tạo việc làm, chương trình an sinh xã hội, giảm nghèo, cung ứng các dịch vụ xã hội cơ bản cho người dân
Sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng với cấp ủy chính quyền các xã, thị trấn trong công tác chỉ đạo, quán triêt, triển khai tổ chức thực hiện chính sách xã hội nói chung công tác trợ giúp xã hội cho các đối tượng đặc biệt khó khăn nói riêng được tăng cường
1.2.5 Sự hài lòng về nhận thức xã hội đối với chính sách trợ giúp xã hội
Trợ giúp từ cộng đồng có ý nghĩa rất quan trọng trong công tác trợ giúp
xã hội, đó là truyền thống nhân văn cao cả của dân tộc Việt Nam nói chung, huyện Nga Sơn nói riêng, với truyền thống “thương người như thể thương thân”, “Lá lành đùm lá rách”, “một miếng khi đói, bằng một gói khi no” Là địa phương thường xuyên phải chịu thiệt thòi do thiên tai, lão lụt, lại là địa phương có số lượng đối tượng đặc biệt khó khăn đông, nhiều cụm dân cư bị ảnh hưởng của biến đổi khí hậu (vấn đề nước sạch, vệ sinh môi trường có nguy cơ rủi ro cao), nhưng mỗi khi cộng đồng, cụm dân cư trên địa bàn huyện
bị thiệt hại do thiên tai, bão lụt, hay những trường hợp bị tai nạn rủi ro, đặc biệt vào dịp Tết nguyên đán hàng năm đã có nhiều tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân nhà hảo tâm kịp thời hỗ trợ (tiền, hàng, tư vấn pháp lý, hỗ trợ tinh thần, ngày công lao động ) cho các đối tượng và thông qua đó cũng tuyên truyền, lan tỏa, tạo dựng được mối quan tâm chung của cộng đồng, xã hội trong việc chia sẻ trách nhiệm xã hội của mọi thành viên trong xã hội và tạo sự đồng thuận cao, đóng góp nguồn lực lớn cho công tác trợ giúp xã hội
Công tác phát triển mạng lưới công tác viên, tình nguyện viên làm công tác nhân đạo, từ thiện được quan tâm phát triển Lực lượng này vừa là lực lượng hỗ trợ, vừa là nguồn lực (họ vừa là nhà tài trợ vừa là người tích cực vận
Trang 39động nguồn thông qua năng lực, mối quan hệ, khả năng tư vấn, tuyên truyền,
hỗ trợ ngày công, tổ chức các hoạt động trợ giúp đối tượng )
Tuy nhiên, theo kênh trợ giúp này, đôi khi do thiếu sự điều phối, phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan, đơn vị, tổ chức làm công tác trợ giúp xã hội trên địa bàn huyện nên dễ tạo sự không công bằng và có sự chênh lệnh lớn về
số lượng quà hỗ trợ và mức trợ giúp giữa các xã, các cụm dân cư, giữa các đối tượng được trợ giúp
Thực tế cho thấy, trên địa bàn huyện chưa có nhiều cơ quan doanh nghiệp lớn, địa phương cũng chưa tạo mối quan hệ và kết nối được nhiều các
tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp lớn, các cá nhân nhà hảo tâm trong và ngoài nước để vận động nguồn lực hỗ trợ cho đối tượng trợ giúp xã hội
Việc tham gia vào hệ thống an sinh xã hội, chính sách trợ giúp xã hội không chỉ phụ thuộc vào yếu tố kinh tế mà còn chịu sự tác động của yếu tố xã
hội, trong đó tập quán, thói quen và nhận thức xã hội đóng vai trò quan trọng
1.2.6 Các tiêu chí đánh giá về chính sách trợ giúp xã hội
- Mức độ bao phủ trợ giúp xã hội
Mức độ bao phủ của trợ giúp xã hội hay độ bao phủ trợ giúp xã hội thể hiện ở tỷ lệ người được hưởng trợ giúp xã hội so với tổng số đối tượng cần được trợ giúp
Tỷ lệ này càng cao tức là thể hiện mức bao phủ trợ giúp xã hội càng tốt
và ngược lại
- Mức độ tác động trợ giúp xã hội
Mức độ tác động của trợ giúp xã hội thể hiện ở số tiền nhận được của người được trợ giúp so với nhu cầu chi tiêu đảm bảo đời sống của đối tượng hưởng trợ giúp xã hội
Trong nhiều năm qua, các quy định liên quan đến mức trợ giúp xã hội liên tục được bổ sung, hoàn thiện nhằm tiếp cận đến các nhóm xã hội yếu thế
Trang 40cần được trợ giúp Mức trợ giúp cho hoạt động trợ giúp xã hội được thay đổi nhằm đáp ứng cuộc sống của các nhóm thụ hưởng
- Mức độ kịp thời của chính sách trợ giúp xã hội
Đối tượng được hưởng trợ giúp xã hội thường là các đối tượng yếu thế, già cả cô đơn, ốm đau bệnh tật hoặc là do gặp phải thiên tai, lụt bão,… nên nhìn chung đời sống của họ rất khó khăn Vì thế tính kịp thời trong việc thực hiện chính sách có ý nghĩa rất quan trọng đối với người được hưởng chính sách nhằm đáp ứng nhu cầu bức xúc của thành viên trong xã hội khi họ gặp rủi ro không lường trước được
Bên cạnh đó, chính sách trợ giúp xã hội là sử dụng nguồn lực tài chính
từ nhà nước và huy động từ cộng đồng, nên việc thực hiện chính sách trợ giúp
xã hội cũng cần phải đảm bảo tính dân chủ, công khai, minh bạch và có sự tham gia của người dân
- Mức độ đảm bảo tài chính để thực hiện bền vững chính sách trợ giúp xã hội
Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI xác định: “Tạo bước tiến rõ rệt về thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo đảm an sinh xã hội, giảm tỉ lệ hộ nghèo, cải thiện điều kiện chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân” Nghị quyết số 15-NQ/TW ngày 01/6/2012 của Ban chấp hành Trung ương khóa XI về một số vấn đề chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020 cũng nhấn mạnh: “Nâng cao hiệu quả công tác trợ giúp xã hội, tiếp tục mở rộng đối tượng thụ hưởng với hình thức hỗ trợ thích hợp; nâng dần mức trợ cấp xã hội thường xuyên phù hợp với khả năng ngân sách Nhà nước Xây dựng mức sống tối thiểu phù hợp với điều kiện kinh tế-xã hội làm căn cứ xác định người thuộc diện được hưởng trợ giúp xã hội Tiếp tục hoàn thiện chính sách trợ giúp xã hội Củng cố, nâng cấp hệ thống cơ sở trợ giúp xã hội, phát triển mô hình chăm sóc người có hoàn cảnh đặc biệt tại cộng đồng, khuyến khích sự