1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

BÀI TIỂU LUẬN ĐỔI MỚI TƯ DUY CỦA ĐẢNG VỀ NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

16 629 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 39,28 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tài liệu gồm 17 trang đi sâu nghiên cứu về đường lối đổi mới trong tư duy của Đảng Cộng sản Việt Nam về nền kinh tế thị trường. Phân tích làm rõ thực trạng nền kinh tế Việt Nam trước đổi mới và nhu cầu đổi mới của nền kinh tế; Sự hình thành tư duy của Đảng về kinh tế thị trường thời kỳ đổi mới qua các thời kỳ... phục vụ học tập, ôn tập, ôn thi học phần, thi tốt nghiệp môn Đường lối Đảng cộng sản Việt Nam.

Trang 1

QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI TƯ DUY CỦA ĐẢNG VỀ NỀN KINH TẾ

THỊ TRƯỜNG LỜI MỞ ĐẦU

Đất nước ta đã trải qua gần 80 năm hoàn tất thống nhất Lịch sử hào hùng về quá trình đấu tranh đánh đuổi giặc ngoại xâm giữ gìn sự bình yên dân tộc sẽ mãi mãi là một bản hùng ca về sự bất khuất, kiên trung của người Việt Nhưng, để trở thành một quốc gia trọn vẹn thì độc lập không thôi là chưa đủ mà bên cạnh còn đó là sự phát triển của kinh

tế, của con người trong đất nước

Sau chiến tranh, nước ta gần như hoang tàn Đói kém, nghèo nàn,lạc hậu,quan liêu,bao cấp…Qua hơn 25 năm (từ Đại hội VI-1986 của Đảng) kiên cường với sự nghiệp đổi mới,Việt Nam ta đạt được nhiều thành tựu to lớn và bước lên một tầng cao mới để phát triển mình và cũng là để khẳng định vị thế trên trường quốc tế Quá trình đổi mới tư duy của Đảng là yếu tố quan trọng cho sự nghiệp này

Đối với Việt Nam sau khi giành độc lập chúng ta đã đi theo con đường XHCN, sau khi thống nhất đất nước Đảng và Nhà nước ta đã quyết định đi theo con đường xã hội chủ nghĩa với cơ chế tập trung quan liêu bao cấp Với sự giúp đỡ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa anh em, nước ta đã có những thành tựu kinh tế xã hội, khắc phục được những hậu quả chiến tranh để lại nhưng sau đó cùng với sự khủng hoảng của chủ nghĩa

xã hội và dẫn tới sự sụp đổ của Liên Xô và các nước Đông Âu, nước ta cũng không nằm ngoài sự ảnh hưởng đó

1.Kinh tế Việt Nam trước khi đổi mới

a. Cơ chế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp

Trước đổi mới, cơ chế quản lý kinh tế ở nước ta là cơ chế kế hoạch hóa tập trung

Cơ chế kế hoạch hóa tập trung là cơ chế trong đó nền kinh tế vận động dưới sự

kiểm soát của nhà nước về các yếu tố sản xuất cũng như phân phối về thu nhập Nhà nước can thiệp sâu vào các hoạt động kinh tế, không coi trọng các quy luật của thị trường

Cơ chế kế hoạch hóa tập trung có đặc trưng cơ bản là mọi hoạt động kinh tế xã

hội đều theo một kế hoạch thống nhất từ trung tâm, nhấn mạnh quan điểm hiện vật, không coi trọng các quy luật kinh tế, xem nhẹ hạch toán kinh doanh

Đặc trưng ở 2 tiêu chí:

Trang 2

Chế độ sở hữu: chỉ thừa nhận chế độ sở hữu toàn dân, xem chế độ sở hữu toàn dân và tập

thể về tư liệu sản xuất đóng vai trò chính của mô hình phát triển Từ đó hình thành một nền kinh tế quốc doanh hoàn toàn, kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể giữ vai trò chủ đạo, các thành phần kinh tế khác hầu như không được chú trọng

Chế độ phân phối: trên nền tảng do nhà nước xây dưng, triển khai, điều phối chứ không

theo các quy luật kinh tế thị trường cơ bản như: quy luật giá trị, quy luật cung- cầu

b. Đặc điểm của cơ chế kế hoạch tập trung quan liêu, bao cấp

Thứ nhất, Nhà nước quản lý nền kinh tế chủ yếu bằng mệnh lệnh hành chính dựa trên hệ thống chỉ tiêu pháp lệnh chi tiết áp đặt từ trên xuống dưới Quy định như vậy vô

hình đã thủ tiêu tính năng động, nổ lực trong việc tạo ra sản phẩm lao động, làm mất động lực tạo ra sản phẩm của người lao động Việc lao động của doanh nghiệp theo phương thức lỗ nhà nước bù, lãi nhà nước thu đã làm cho người lao động không có động lực sản xuất vì không có chế độ khen thưởng và xử phạt hợp lý trong việc kinh doanh

Thứ hai, Cơ quan hành chính can thiệp quá sâu vào hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp nhưng lại không chịu trách nhiệm gì về vật chất và pháp lý đối với các quyết định của mình.Việc làm này đã làm mất tính chủ động, tự chủ, sáng tạo

của các doanh nghiệp mà ỉ lại, chờ đợi các quyết định của cơ quan hành chính Trong khi

đó, cơ quan hành chính lại có thể tùy tiện ra các quyết định có thể xảy ra hậu quả xấu mà không phải chịu trách nhiệm, và cơ quan hành chính lại quản lý qua nhiều lĩnh vực dẫn đến các quyết định có thể không phù hợp, cơ chế quản lý ôm đồm, thiết hiệu quả

Thứ ba, Quan hệ tiền - hàng bị xem nhẹ, chỉ là hình thức, quan hệ hiện vật là chủ yếu Nhà nước quản lý thông qua chế độ “cấp phát – giao nộp” Vô hình chung, việc làm

này đã làm mâu thuẫn trong nền kinh tế, thủ tiêu mối quan hệ cơ bản “hàng - tiền”, coi nền kinh tế thị trường là của chủ nghĩa tư bản, không nhìn nhận những giá trị tích cực của kinh tế thị trường, kìm hãm sự phát triển của nền kinh tế Các mặt hàng quan trọng như sức lao động, phát minh sáng chế, nhiều loại tư liệu sản xuất không được coi là hàng hóa

về mặt pháp lý nên vô hình tạo nên sự bất cập trong công tác quản lý, sử dụng và kích thích sự phát triển của chúng

Thứ tư, Bộ máy quản lý cồng kềnh, quan liêu, cửa quyền, kém năng động nhưng lại được hưởng quyền lợi cao hơn người lao động Quá trình quản lý kém năng động đã kìm

hãm sự phát triển của nền kinh tế, nạn quan liêu, cửa quyền, qua nhiều khâu trung gian làm hao phí ngân sách của nhà nước và nhân dân

 Nhà nước thực hiện hầu như tất cả các giai đoạn dẫn tới việc sẽ không linh hoạt giải quyết kịp thời phát sinh trong quá trình quản lý hoạt động của các doanh nghiệp Các doanh nghiệp chỉ hoạt động theo mệnh lệnh của nhà nước từ đó dẫn đến việc ỷ lại, thụ

Trang 3

động, không tìm tòi, sáng tạo, tiếp thu các thành tựu khoa học kỹ thuật trong quá trình hoạt động

 Hình thành tâm lý xem nhẹ trách nhiệm, ra quyết định bừa bãi không quan tâm đến tình hình hoạt động sản xuất, kinh doanh thực tế của doanh nghiệp Từ việc xem nhẹ các quy luật của kinh tế thị trường làm cho hàng hóa khó lưu thông, tồn đọng ở nơi sản xuất, khan hiếm nơi cần tiêu dùng, lãng phí nhiều hàng hóa và tư liệu sản xuất Những yếu tố trên đã làm cho đời sống người dân gặp nhiều khó khăn, nền kinh tế trì trệ kém phát triển, là gánh nặng cho ngân sách nhà nước

Chế độ bao cấp được thực hiện dưới các hình thức chủ yếu sau:

Bao cấp qua giá: Nhà nước quyết định giá trị tài sản, thiết bị, vật tư, hàng hóa thấp hơn

giá trị thực của chúng nhiều lần so với giá trị thị trường Với giá thấp như vậy, coi như một phần những thứ đó được cho không Do đó, hạch toán kinh tế chỉ là hình thức

Bao cấp qua chế độ tem phiếu (tiền lương hiện vật): Nhà nước quy định chế độ phân

phối vật phẩm tiêu dùng cho cán bộ, công nhân viên, công nhân theo định mức qua hình thức tem phiếu Chế độ tem phiếu với mức giá khác xa so với giá thị trường đã biến chế

độ tiền lương thành lương hiện vật, thủ tiêu động lực kích thích người lao động và phá vỡ nguyên tắc phân phối theo lao động

Bao cấp qua chế độ cấp phát vốn của ngân sách, nhưng không có chế tài ràng buộc trách

nhiệm vật chất đối với các đơn vị được cấp vốn Điều đó vừa làm tăng gánh nặng đối với ngân sách vừa làm cho sử dụng vốn kém hiệu quả, nảy sinh cơ chế “xin cho”

Những đặc trưng và cơ chế thực hiện kế hoạch hóa trên làm nảy sinh cơ chế “xin – cho” về hành chính làm xuất hiện những tiêu cực như:

 Quan hệ bất bình đẳng giữ nhà nước và công dân

 Nhiều thủ tục rườm rà, làm khó nhân dân để thể hiện quyền lực nhà nước

 Tư duy cũ trong quản lý: ban phát gây lãng phí

 Tính tùy tiện, không kiểm soát chặt chẽ được từ phía nhà nước và nhân dân đối với người

“cho” và sự chạy chọt của người “xin” để xin được và xin nhiều.

 Mối quan hệ cứng nhắc trong hệ thống hành chính nhà nước, không phát huy được tin thần chủ động sáng tạo, tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong phạm vi quyền hạn của mình

mà phải trông chờ vào cơ quan “cho”

Từ đó Đảng đã chỉ ra những sai lầm là:

• Do quá nóng vội, chủ quan mà đã bỏ qua những bước đi cần thiết nên đã chủ trương đẩy mạnh công nghiệp hóa khi chưa có đủ những điều kiện cần thiết khi đất nước vừa mới thoát khỏi chiến tranh, đang còn là nước nông nghiệp lạc hậu;

Trang 4

• Chưa có cơ sở hạ tầng cần thiết cho việc công nghiệp hóa đất nước Cơ cấu kinh tế không hợp lý trong khi đầu tư phát triển công nghiệp nặng và công trình quy mô lớn

mà không giải quyết những nhu cầu cấp thiết là lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu với cơ chế quản lý bất hợp lý nên nền kinh tế gặp nhiều khó khăn

Từ đó, nhu cầu đổi mới về tư duy kinh tế và nền kinh tế thị trường diễn ra bức thiết.

2 Nhu cầu đổi mới cơ chế quản lý kinh tế

Đổi mới cơ chế quản lý kinh tế đã diễn ra, manh nha trong thời chống Mỹ cứu nước

ở miền Bắc trong lĩnh vực nông nghiệp

Kim Ngọc (1917-1979) là nguyên Bí thư Tỉnh ủy tỉnh Vĩnh Phú, ông được mệnh

danh là “cha đẻ của khoán hộ” mà người ta quen gọi là “khoán mười”, “cha đẻ của Đổi mới trong nông nghiệp” ở Việt Nam Câu nói tiêu biểu:

“Xã viên không coi ruộng đất là của mình nên họ chẳng thiết tha gì với đồng ruộng Phải để nông dân làm chủ mảnh đất của mình”

Các cách khoán của Khoán hộ

1. Khoán cho hộ làm một khâu hoặc nhiều khâu sản xuất trong một thời gian dài;

2. Khoán cho hộ các khâu dài ngày hoặc suốt vụ;

3. Khoán sản lượng cho hộ, cho nhóm;

4. Khoán trắng ruộng đất cho hộ - Hình thức khoán trắng đơn giản, dễ tính toán nên được

nông dân hưởng ứng rầm rộ và tự nó đã thành phong trào quần chúng rộng rãi trong toàn tỉnh Vĩnh Phúc Có thể nói khoán hộ là bước mở đầu cho một tư duy mới về quản lý kinh

tế hợp tác xã

Sáng kiến "khoán hộ" hay "Cải tiến công tác quản lý lao động hợp tác xã" năm

1966, đã dẫn đến "khoán 10" hay "Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị Đảng Cộng sản

Việt Nam năm 1988", tháo bỏ sự ràng buộc, kìm hãm của cơ chế quản lý lạc hậu, đưa

Việt Nam bao năm thiếu ăn trở thành nước xuất khẩu gạo thứ hai trên thế giới Nghị quyết 10 hoàn toàn dựa trên những kinh nghiệm đúc kết của nhiều tỉnh thành Việt Nam

đã âm thầm áp dụng khoán hộ của Kim Ngọc

Mốc đánh dấu sự khai mở của một số yếu tố của kinh tế thị trường định hướng

XHCN là quyết định của hội nghị TW6 khóa IV (9/1979) Nghị quyết đã phủ định một

số yếu tố của thể chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung bao cấp: thừa nhận quyền được bán

Trang 5

nông sản của nông dân sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ đối với nhà nước, cần thiết kết

hợp kế hoạch với thị trường Khoán sản phẩm trong nông nghiệp theo Chỉ thị số 100 CT/TW của BCH TW khóa IV, bù giá vào lương ở Long An, Nghị quyết TW8 khóa V ( 1885 ) về giá – lương – tiền, … Từ đó đại hội VI đã quyết định đổi mới cơ chế quản lý

kinh tế Đó là nhiệm vụ cấp bách và nhu cầu cần thiết của đất nước ta

3 Sự hình thành tư duy của Đảng về kinh tế thị trường thời kỳ đổi mới.

A Tư duy của Đảng về kinh tế thị trường từ Đại hội VI đến đại hội VIII

Nguyên nhân dẫn đến việc đổi mới tư duy của Đảng về kinh tế thị trường:

Như đã nói ở trên, có rất nhiều lý do dẫn đến sự cần thiết phải đổi mới về tư duy của Đảng về kinh tế thời kỳ đổi mới, trong đó cơ bản là do:

Thứ nhất, trong thực tế, trong nhiều năm, cơ chế quản lý kinh tế tập trung quan liêu,

bao cấp không những không tạo được động phát tiển nền kinh tế mà còn trở thành trở ngại, tạo ra nhiều khó khăn và kìm hãm sự phát triển của kinh tế Việt Nam.(nhận thức được kt bao cấp không hiệu quả, kìm hãm sự phát triển)

Thứ hai, qua thực tiễn, Đảng nhận ra những sai lầm trong chính sách lãnh đạo khi

đối lập một cách máy móc giữa Chủ nghĩa tư bản và Chủ nghĩa xã hội, xem kinh tế thị trường là sản phẩm riêng của chủ nghĩa tư bản, từ đó dẫn đến đối lập chủ nghĩa xã hội với kinh tế thị trường Việc nhận thức được sai lầm đã tạo nền tảng cho Đảng ta bắt đầu hình thành tư duy đổi mới

Đại hội của Đảng lần thứ VI đến đại hội lần VIII được xem là giai đoạn hình thành

và phát triển tư duy của Đảng về kinh tế thị trường khi xác định dứt khoát từ bỏ nhận thức sai lầm , quan điểm lỗi thời, máy móc về Chủ nghĩa xã hội, nhận thức lại đúng quan điểm của chủ nghĩ Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vận dụng sáng tạo vào hoàn cảnh của Việt Nam, tiến đến đổi mới về nhận thức và tư duy

“ Xóa bỏ cơ chế tập trung, quan liêu,bao cấp, xây dựng cơ chế mới phù hợp với

quản lý, trình độ phát triển kinh tế” ( Đại hội lần VI).

“ Phát triển nền kinh tế thị trường nhiều thành phần theo định hướng XHCN” và “ Xóa bỏ triệt để cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp, hình thành cơ chế thị trường

có sự quản lý của nhà nước”( Đại hội lần VIII).

Như thế nào là kinh tế thị trường( tự giải thích ngắn gọn) : Trong một nền kinh tế, khi

các nguồn lực kinh tế được phân bổ theo nguyên tắc thị trường thì người ta gọi đó là kinh

tế thị trường

Trang 6

- Nguồn lực kinh tế bao gồm : vốn, tư liệu sản xuất, sức lao động…

- Trong quá trình sản xuất và trao đổi hàng hóa, các yếu tố thị trường gồm: cung , cầu, giá cả có tác động điều tiết quá trình sản xuất hàng hóa, phân bổ các nguồn lực kinh

tế và tài nguyên thiên nhiên để phục vụ sản xuất và lưu thông hàng hóa Bởi vậy, thị trường giữ vai trò là một công cụ phân bổ các nguồn lực kinh tế nói trên, điều tiết mọi quan hệ kinh tế - xã hội trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, sản xuất, thương mại, tài chính, tín dụng, tiền tệ, lao động, kể cả một phần quan trọng trong văn hoá, giáo dục Cơ chế thị trường trở thành yếu tố quyết định sự tồn tại của người sản xuất hàng hóa và là nguyên tắc chung mà ai cũng phải tuân theo, đó chính là nguyên tắc thị trường được đề cập trong khái niệm

Những thay đổi cơ bản trong tư duy của Đảng về kinh tế thị trường:

Nhận thức về kinh tế thị trường của Đảng thời kỳ này có những thay đổi căn bản và sâu sắc, cụ thể như sau:

Một là, Kinh tế thị trường không phải là cái riêng có của chủ nghĩa tư bản mà

là thành tựu phát triển chung của nhân loại.

Kinh tế thị trường ra đời và phát triển trên nền tảng sản xuất và trao đổi hàng hóa Giữa kinh tế thị trường và kinh tế hàng hóa có mối quan hệ chặt chẽ

Mối quan hệ đó được biểu thị bằng bảng sau:

Kinh tế hàng hóa Kinh tế thị trường Bản chất Sản phẩm sản xuất ra để trao đổi trên thị trường thông

qua sự chi phối của quan hệ hàng hóa- tiền tệ và nhằm mục đich giá trị

Điều kiện chung Điều khiện chung để tồn tại là sự phân công lao động

xã hội và sự tách biệt (độc lập) kinh tế giữa những người sản xuất và các hình thức sở hữu khác nhau về

tư kiệu sản xuất

Trình độ phát triển Kinh tế hàng hóa là một

hình thái của nền sản xuất

xã hội ra đời từ kinh tế tự nhiên và phát triển cao hơn nền sản xuất tự cung

tự cấp

Kinh tế thị trường là nền kinh tế hàng hoá phát triển cao

Trình độ cao, nền sản xuất

xã hội hóa cao, lấy khoa học, công nghệ cao làm

Trang 7

Tuy vậy, vẫn còn ở trình

độ thấp Quy mô nền sản xuất nhỏ, kỹ thuật thủ công, năng suất thấp

cơ sở phát triển sản xuất

Kinh tế thị trường có lịch sử phát triển lâu dài Mầm mống kinh tế thị trường xuất hiện từ trong xã hội nô lệ, hình thành trong xã hội phong kiến với trình độ thấp và phát triển cao trong chủ nghĩa tư bản nó không chỉ biểu hiện một cách rõ rệt mà còn chi phối toàn bộ cuộc sống của con người trong xã hội đó Điều này khiến người ta dễ lầm tưởng kinh tế thị trường là sản phẩm riêng của Chủ nghĩa tư bản

Kinh tế thị trường ra đời như một quy luật tất yếu của sự phát triển các hình thái của nền sản xuất trên cơ sở kinh tế hàng hóa, Chủ nghĩa tư bản không tạo ra kinh tế hàng hóa nên kinh tế thị trường cũng không phải là sản phẩm riêng của nó Điều mà chủ nghĩa tư bản đã làm được là tìm ra cách thức sử dụng tối đa kinh tế thị trường theo lợi nhuận tối đa của chủ nghĩa tư bản.Đây là thành tựu chung của nhân loại

Hai là, kinh tế thị trường còn tồn tại khách quan trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.

Tại sao kinh tế thị trường vẫn tồn tại khách quan trong thời kỳ quá độ lên CNXH?

Kinh tế thị trường còn tồn tại khách quan, và có vai trò lớn với sự phát triển kinh

tế-xã hội trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa Xã hội vì 4 lý do cơ bản sau:

Một là, kinh tế hàng hóa đạt đến một trình độ cao nhất định sẽ phát triển thành kinh

tế thị trường Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, dưới góc độ một kiểu tổ chức kinh tế, kinh tế thị trường lấy cơ chế thị trường làm cơ sở phân bổ các nguồn lực kinh tế, điều tiết mối quan hệ giữa người và người

Hai là, Về góc độ các hình thái kinh tế của lịch sử loài người, kinh tế thị trường đối

lập với nền kinh tế tự nhiên, tự cấp,tự túc chứ bản thân nó không phải là đặc trưng bản chất cho chế độ kinh tế cơ bản của xã hội nên hoàn toàn không đối lập với bất kỳ một chế

độ xã hội nào

Ba là, Kinh tế thị trường tồn tại ở nhiều phương thức sản xuất khác nhau, không

những có thể liên hệ với chế độ tư hữu mà còn có thể liên hệ và phục vụ cho chế độ công hữu Bởi vậy, phát triển kinh tế thị trường là cần thiết cho quá trình xây dựng CNXH

Trang 8

Bốn là, như đã nói ở trên, Kinh tế thị trường là thành tựu chung của nhân loại,

không phải là sản phẩm riêng của chủ nghĩa tư bản, nên việc xây dựng, phát triển kinh tế thị trường không phải là phát triển tư bản chủ nghĩa hay đi theo con đường tư bản chủ nghĩa Và ngược lại, việc xây dựng kinh tế XHCN cũng không dẫn đến phủ định kinh tế thị trường

 Vì những lý do trên, kinh tế thị trường sẽ còn tồn tại khách quan trong thời kỳ quá độ lên CNXH

• Trong thời kỳ qua độ lên CNXH ở Việt Nam, kinh tế thị trường tồn tại và phát triển khách quan

Như đã phân tích, Kinh tế thị trường tồn tại khách quan trong thời kỳ quá độ lên CNXH Là một nước XHCN đang ở trong thời kỳ quá độ, Việt Nam cũng không nằm ngoài quy luật trên Những nguyên nhân dẫn đến sự tồn tại đó được lý giải như sau: Thứ nhất, nước ta còn tồn tại nhiều hình thức sở hữu và nhiều thành phần kinh tế khác nhau Do đó, dẫn đến sự tồn tại của nhiều chủ thể kinh tế- xã hội khác nhau như các thực thể kinh tế độc lập Việc trao đổi kinh tế giữa các chủ thể sản xuất với nhau được thực hiện bằng quan hệ hàng hóa-tiền tệ

Thứ hai, Phân công lao động xã hội- một yếu tố quan trọng của sản xuất hàng hóa không hề mất đi trong thời kỳ quá độ, mà ngược lại còn phát triển mạnh mẽ hơn

Thứ ba, sản xuất càng xã hội hóa, chuyên môn hóa, càng đòi hỏi hợp tác, trao đổi giữa các đơn vị sản xuất

Thứ tư, muốn công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đồi hỏi nước ta phải có một nền kinh tế phát triển năng động Cơ chế thị trường với những quy luật của riêng nó buộc mỗi người phải tự chịu trách nhiệm về hàng hóa mà mình làm ra và quan tâm tới mức độ tiêu thụ mới có được thu nhập

Năm là, phát triển kinh tế thị trường là phù hợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất

Cuối cùng, dưới sức ép của kinh tế thị trường, trình độ người lao động sẽ được nâng cao, hệ thống lãnh đạo, cải thiện phát triển cả về số lượng lẫn chất lượng.

Chủ trương của Đảng:

Nhận thấy được điều đó, Trong Nghị quyết đại đảng lần VII, Đảng ta đã xác định: Nước ta là một nước quá độ gián tiếp lên CNXH với xuất phát điểm thấp, chưa qua chủ nghĩa tư bản Đó là phát triển lực lượng sản xuất, công nghiệp hóa đất nước theo hướng hiện đại gắn liền với sự phát triển một nền nông nghiệp toàn diện với nhiệm vụ trung tâm

Trang 9

là xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của CNXH, không ngừng nâng cao, cải thiện đời sống nhân dân Phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước Kinh tế quốc doanh

và kinh tế tập thể trở thành nền tảng của kinh tế quốc dân Thực hiện nhiều hình thức phân phối theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế là chủ yếu.”

Như vậy, theo chủ trương của Đảng, chúng ta sẽ xây dựng một mô hình kinh tế với các đặc điểm sau:

Một là, phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần bởi kinh tế hàng hóa

không đối lập với CNXH, nó tồn tại khách quan và cần thiết cho xây dựng CNXH

Hai là, xây dựng được một nền kinh tế mà trong đó, các đơn vị kinh tế có quyền tự

do lựa chọn các lĩnh vực kinh doanh, phương án tổ chức kinh doanh; tự chủ trong sản xuất kinh doanh và cạnh tranh và chịu sự chi phối từ cơ chế thị trường

Ba là, nền kinh tế thị trường thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta có định hướng xã

hội chủ nghĩa; Phát triển trên nền tảng kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể; được đặt dưới sự quản lý , dẫn dắt, định hướng của nhà nước

Bốn là, Nâng cao năng lực quản lý vĩ mô của nhà nước, hoàn chỉnh hệ thống pháp

luật kinh tế, đổi mới chính sách

Năm là, Việc phát triển nền kinh tế bảo đảm phát triển hài hòa giữa kinh tế và xã

hội

Những phân tích của Đại hội lần VII của Đảng đã trở thành nền tảng, cơ sở để các

kỳ đại hội sau tiếp tục mở rộng và phát triển chính sách kinh tế cho thời kỳ đổi mới

Thứ ba, có thể và cần thiết sử dụng kinh tế thị trường để xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

Ở bất kỳ một xã hội nào, khi đã lấy thị trường làm cơ sở phân bổ các nguồn lực kinh tế , thì kinh tế thị trường cũng mang nhưng đặc điểm cơ bản sau:

- Các chủ thể kinh tế có tính độc lập, nghĩa là có quyền tự chủ trong sản xuất, kinh doanh, lỗ lãi tự chịu

- Giá cả cơ bản do cung- cầu điều tiết, hệ thống thị trường phát triển đồng bộ và hoàn hảo

Trang 10

- Nền kinh tế có tính mở cao và vận hành theo quy luật vốn có của kinh tế thị trường như quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh

- Có hệ thống pháp quy kiện toàn và sự quản lý vĩ mô của nhà nước

Đối với kinh tế Việt Nam:

Trước thời kỳ đổi mới, cơ chế quản lý kinh tế tập trung, quan liêu, bao cấp đã để lại cho

nền kinh tế Việt Nam những hậu quả nặng nề:

 Nền kinh tế nhìn chung trì trệ, lạc hậu, không có động lực phát triển

 Chất lượng lực lượng sản xuất không cao, thiếu trách nhiệm với sản phẩm do mình làm ra

 Không thừa nhận sự tồn tại của sản xuất hàng hóa và cơ chế thị trường trong thời kỳ quá

độ lên CNXH nên chúng ta lấy kế hoạc làm đặc trưng quan trọng nhất của kinh tế XHCN, từ đó lấy kế hoạc làm cơ sở phân bổ mọi nguồn lực kinh tế- xã hội Trong khi đó, thị trường lại bị xem là thứ yếu bổ sung cho kế hoạch, do đó nên nó không cần thiết để xây dựng chủ nghĩa xã hội

Trong thời kỳ quá độ lên CNXH:

 Đảng nhận tức rõ có thể sử dụng kinh tế thị trường làm cơ sở phận bỏ các nguồn lực kinh tế; sử dụng giá cả để điều tiết lượng hàng hóa, điều hòa quan hệ cung- cầu, điều tiết tỷ lệ sản xuất; sử dụng quy luật cạnh tranh để thúc đẩy sự tiến bộ, mới mẻ trong sản xuất, đào thải cái lạc hậu, yếu kém

 Đảng sử dụng kinh tế thị trường như một công cụ, phương tiện nhằm phục vụ cho công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa, nghiã là, ngoài mục tiêu lợi nhuận, kinh tế thị trường còn là phương tiện để xây dựng cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xã hội, đó mới là mục đích

cơ bản khi chúng ta sử dụng kinh tế thị trường, khác với mục tiêu chính của chủ nghĩa tư bản Do vậy, mô hình kinh tế mà Đảng đưa ra được gọi là: Kinh tế thị trường định hướng

xã hội chủ nghĩa

Chủ trương của Đảng.

Khởi đầu công cuộc đổi mới, chúng ta không đề cập ngay đến phát triển kinh tế thị trường mà chủ yếu nhấn mạnh đổi mới cơ chế quản lý;

Đại hội VI đã đề cập tới điều này:

 Xóa bỏ cơ chế quản lý kinh tế tập trung quan liêu, bao cấp

 Xây dựng cơ chế mới phù hợp với quy luật khách quan và trình độ phát triển của nền kinh tế

 Điều này là hợp lý với một nước đang trong cơ chế quản lý kinh tế tập trung, quan liêu, bao cấp như nước ta, xuất phát thấp không cho phép chúng ta ngay lập tức phát triển

Ngày đăng: 30/08/2017, 17:33

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình thái của nền sản xuất - BÀI TIỂU LUẬN ĐỔI MỚI TƯ DUY CỦA ĐẢNG VỀ NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
Hình th ái của nền sản xuất (Trang 6)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w