Phát triển khuyến lâm là một trong những nhiệm vụ chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006 - 2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ngày 5/2/2007 là: - Nâng cao trình
Trang 1-
NGUYỄN ĐỨC HẢI
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ VÀ TÁC ĐỘNG CỦA MỘT SỐ
MÔ HÌNH KHUYẾN LÂM TẠI TỈNH PHÚ THỌ
GIAI ĐOẠN 2006 - 2011
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
HÀ NỘI - 2012
Trang 2ĐẶT VẤN ĐỀ
Hiện tại ở nước ta có gần 100 triệu dân, trong đó 25 triệu dân và 6 triệu hộ gia đình sống tại vùng miền núi Các xã nghèo miền núi có diện tích chiếm khoảng
50 % tổng diện tích tự nhiên của cả nước, trong đó 66 % là rừng và đất rừng Người dân và các cộng đồng ở miền núi chủ yếu sống phụ thuộc vào rừng Họ chủ yếu là các dân tộc thiểu số và có tỷ lệ hộ nghèo cao nhất trong cả nước
Hiện nay, đứng trước thách thức lớn về biến đổi khí hậu vai trò của ngành lâm nghiệp ở nước ta ngày càng được đề cao, không ngừng hướng đến sản xuất bền vững Các chương trình phát triển nông thôn miền núi, phát triển ngành lâm nghiệp
đã và đang được nhà nước đầu tư nhằm thu hút người dân và các tổ chức tham gia vào phát triển lâm nghiệp, do vậy việc đẩy mạnh hoạt động khuyến lâm ở Việt Nam
ngày càng trở nên quan trọng
Phát triển khuyến lâm là một trong những nhiệm vụ chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006 - 2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ngày 5/2/2007 là:
- Nâng cao trình độ chuyên môn về quản lý, bảo vệ rừng cho 80% hộ nông dân;
- Thu hút 50% thành phần kinh tế khu vực tư nhân và các tổ chức đoàn thể tham gia các hoạt động khuyến lâm;
- Bố trí ít nhất một cán bộ khuyến lâm chuyên trách hoặc kiểm lâm cho mỗi
xã nhiều rừng và tăng cường năng lực cho hệ thống khuyến lâm tự nguyện;
- Cải tiến và cập nhật nội dung, phương pháp khuyến lâm để phù hợp với trình độ của nông dân, đặc biệt hộ nghèo và dân tộc ít người;
- Xây dựng mối liên kết giữa hệ thống khuyến lâm và đào tạo với các chủ rừng và doanh nghiệp chế biến lâm sản
Từ những nhiệm vụ trong Chiến lược Phát triển lâm nghiệp giai đoạn 2006
-2020, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã phê duyệt Đề án phát triển khuyến lâm giai đoạn 2008-2010 và định hướng đến năm 2020 với mục tiêu trung
hạn là: Phát triển nguồn nhân lực cho đội ngũ làm công tác khuyến lâm từ trung
Trang 3ương đến thôn bản, ưu tiên cho khuyến lâm cơ sở; thúc đẩy quá trình chuyển giao các kết quả nghiên cứu cho nông dân; Tăng cường đào tạo, huấn luyện và nâng cao nhận thức cho các chủ rừng; Phát triển tổ chức và tăng cường xã hội hoá công tác khuyến lâm
Trong những năm qua Nhà nước có nhiều chính sách phát triển kinh tế xã hội, có liên quan đến phát triển lâm nghiệp như các chương trình 327, 661, 135,
134, 30a,… với mục tiêu xóa đói giảm nghèo nhanh và bền vững cho miền núi, thông qua nhiều phương pháp tiếp cận chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật khác nhau, trong đó nhiều mô hình khuyến lâm đã được triển khai xây dựng ở các địa phương Kinh phí cho hoạt động khuyến lâm ngày càng tăng, tính từ 2006 - 2011 đã
có trên 98 tỷ đồng từ kinh phí khuyến lâm Trung ương được đầu tư triển khai cho các mô hình khuyến lâm tại địa phương, trong đó tỉnh Phú Thọ được đầu tư với kinh phí khoảng trên 6 tỷ đồng cho các mô hình khuyến lâm được xây dựng do các đơn vị như Trung tâm Khuyến nông tỉnh Phú Thọ, Viện Khoa học Nông lâm nghiệp Miền núi phía Bắc, Trung tâm Đào tạo và Phát triển nông thôn Phù Ninh thực hiện Tuy nhiên, hiện nay chưa có một công trình nghiên cứu đánh giá nào một cách có
hệ thống và đầy đủ về các mô hình khuyến lâm đã được xây dựng cũng như những tác động của nó, những khó khăn, bất cập trong quá trình chuyển giao là gì? Qua
đó, cung cấp cho các nhà quản lý những thông tin đầu đủ, khách quan để hoạch định những chính sách, kế hoạch khuyến lâm phù hợp cho giai đoạn 2012 - 2020
Xuất phát từ thực tiễn đó, đề tài “Đánh giá kết quả và tác động của một số
mô hình khuyến lâm tại tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2006 - 2011” được thực hiện là
cần thiết và có ý nghĩa cả về khoa học và thực tiễn nhằm góp phần nâng cao hiệu quả của việc xây dựng các mô hình khuyến lâm tại tỉnh Phú Thọ
Trang 4Khởi đầu là giáo sư người Pháp Rabelais, từ năm 1530 ông đã cải tiến
phương pháp giảng dạy, đưa quan điểm giáo dục nông nghiệp “Học đi đôi với
hành” vào giảng dạy Ngoài việc giảng dạy lý thuyết ở lớp ông đã cho học trò tiếp
xúc với sản xuất và tự nhiên Ông đã chỉ cho họ biết cách phân biệt giống cây và giống con (dẫn theo Nguyễn Văn Long, 2006 [7]) Đến năm 1777, giáo sư người Thụy Sĩ là Heirich Dastalozzi thấy rằng muốn mở mang nhanh nền nông lâm nghiệp giúp nông dân nghèo cải thiện được cuộc sống thì phải đào tạo chính con em họ có trình độ và nắm bắt được kỹ thuật tiến bộ, biết làm thành thạo mốt số công việc như quay sợi bông, dệt vải, cày bừa
Tuy nhiên, phải đến năm 1843 hoạt động khuyến nông lâm mới có tính phổ rộng và biểu hiện rõ rệt Đó là hoạt động của Uỷ ban nông nghiệp của hội đồng thành phố NewYork (Mỹ) Uỷ ban này đã đề nghị các giáo sư giảng dạy ở các trường đại học nông nghiệp và các viện nghiên cứu thường xuyên xuống cơ sở để hướng dẫn giúp nông dân phát triển sản xuất nông nghiệp (dẫn theo Nguyễn Văn Long, 2006 [7])
Trang 5Năm 1907 ở Mỹ đã có 42 trường trên 39 bang đào tạo khuyến nông, khuyến lâm và có bộ môn, khoa khuyến nông - khuyến lâm (dẫn theo Nguyễn Văn Long,
2006 [7])
Năm 1845 tại Ohio, N.S Townshned Chủ nhiệm khoa khuyến nông, khuyến lâm đề xuất việc tổ chức những câu lạc bộ nông dân tại các quận huyện Những câu lạc bộ này sinh hoạt định kỳ hàng tháng, nghe giảng về những chủ đề khoa học kỹ thuật về nông lâm nghiệp, nghe báo cáo đi tham quan thực tế tại những trang trại Đây là tiền thân của giáo dục sơ đẳng về khuyến nông, khuyến lâm tại Mỹ
Năm 1891 Bang New York dành 10.000 đôla cho khuyến nông, khuyến lâm đại học Năm 1892 Trường Đại học Chicago, Trường Wicosin bắt đầu tổ chức chương trình khuyến nông, khuyến lâm học đại học Năm 1907, 42 Trường đại học trong 39 bang đã thực hiện công tác khuyến nông, khuyến lâm Năm 1910, 35 trường Đại học đã có Bộ môn khuyến nông, khuyến lâm Năm 1914 Tổ chức khuyến nông, khuyến lâm được hình thành chính thức ở Mỹ, có 1861 hội nông dân với 3.050.150 hội viên Thuật ngữ Extension Education đã được sử dụng để chứng
tỏ rằng đối tượng giáo dục của trường đại học không nên chỉ hạn chế ở những sinh viên do nhà trường quản lý, mà nên mở rộng tới những người đang sống ở khắp nơi trên đất nước Mỹ
1.1.2 Tại Pháp
Thế kỷ XV-XVI đánh dấu một mốc đầu tiên trong lịch sử phát triển khoa học Pháp, vì một số công trình đã được bắt đầu ở thời kỳ này như tác phẩm Ngôi nhà nông thôn của Enstienne và Liebault nghiên cứu về kinh tế nông thôn và khoa học nông nghiệp Tác phẩm Diễn trường nông nghiệp của Oliver de Serres đề cập đến nhiều vấn đề trong nông nghiệp như cải tiến giống cây trồng vật nuôi Thế kỷ 18, cụm từ phổ cập nông nghiệp (Vulgazigation Argicole), hoặc chuyển giao kỹ thuật đến người nông dân (Transfert des Technologies Agricoles au Payan) được sử dụng phổ biến Giai đoạn từ sau chiến tranh thế giới thứ nhất đến nay (1914- 1918) Trung tâm CETA (Centre d’Etuder Techniques Agricoles) nghiên cứu kỹ thuật
Trang 6nông nghiệp đầu tiên được tổ chức do sáng kiến của nông dân vùng Pari hoạt động với nguyên tắc:
- Người nông dân có trách nhiệm và chủ động trong công việc
- Sáng kiến từ cơ sở
- Hoạt động nhóm rất quan trọng, Đây là một phương pháp hết sức độc đáo thời bấy giờ, người nông dân được quyền tham gia tích cực vào công việc của nông trại, họ chủ động tìm ra các giải pháp thích hợp với sự hỗ trợ của các kỹ sư nông nghiệp (dẫn theo Nguyễn Văn Long, 2006 [7])
Sau 10 năm đã có 152 khu rừng được quản lý với diện tích khoảng 600.000 mẫu Anh và hơn 138,000 mẫu Anh đã được trồng
Năm 1939, Ủy ban Lâm nghiệp tách thành Cục Kiểm lâm, và Cục Khuyến lâm Sau 90 năm hệ thống khuyến lâm được thành lập, hoạt động khuyến lâm đã góp phần nâng tỷ lệ che phủ rừng của toàn nước Anh lên 5%, hiện có khoảng 2.982.000 ha, chiếm 13% diện tích đất của nước Anh (dẫn theo Forestry Commission [18])
1.1.4 Tại Ấn Độ
Hội khuyến nông Ấn Độ được thành lập năm 1820 (William Carey khởi sướng) và đề xuất cải tiến ngành Nông nghiệp Cục Lâm nghiệp Hoàng gia được thành lập ở Ấn Độ vào năm 1864 Lâm luật được thông qua năm 1865, lúc đó Luật này chỉ đơn giản là thiết lập ranh giới chủ rừng, đến 1878 nó được bổ sung và hoàn thiện Hệ thống khuyến nông lâm Ấn Độ được thành lập tương đối sớm vào năm
1960 Trong những năm 1970, Ấn Độ tuyên bố chiến lược dài hạn cho phát triển
Trang 7lâm nghiệp với mục tiêu: giảm xói mòn đất và lũ lụt, cung cấp cho nhu cầu ngày càng tăng của các sản phẩm ngành công nghiệp gỗ trong nước và cung cấp các nhu cầu chất đốt của dân cư nông thôn, gỗ nhỏ, rừng sản xuất Ủy ban Quốc gia về Lâm nghiệp được thành lập năm 1976, các sở lâm nghiệp được tổ chức lại Thành lập Ủy ban lâm nghiệp xã hội, với mục tiêu thúc đẩy các hoạt động lâm nghiệp truyền thống và phát triển rừng cộng đồng thông qua các hoạt động của cơ quan lâm nghiệp cộng đồng chịu trách nhiệm các trang trại lâm nghiệp, quản lý gỗ, khuyến lâm, trồng rừng
Trong những năm 1980, lâm nghiệp xã hội được khuyến khích bởi các cơ quan lâm nghiệp cộng đồng Chính sách lâm nghiệp quốc gia được phê duyệt năm 1988 một trong những chính sách đó là Chương trình quản lý rừng, trong đó gắn trách nhiệm cụ thể cho Bộ Lâm nghiệp, từ quản lý các lô rừng cụ thể Đặc biệt, việc bảo
vệ rừng là trách nhiệm của người dân Đến năm 1992, mười bảy tiểu bang của Ấn
Độ tham gia vào quản lý rừng Năm 2006, Luật chủ rừng được ban hành (dẫn theo Wikipe [20])
1.1.5 Tại Cămpuchia
Công tác khuyến nông của Campuchia do Cục Khuyến nông (DAE) thuộc Tổng cục Nông nghiệp của Bộ Nông nghiệp, Lâm nghiệp và Thủy sản (MAFF) đảm nhiệm DAE có chức năng quản lý nhà nước về khuyến nông, phát triển hệ thống khuyến nông từ Trung ương đến cấp huyện, phù hợp với nhu cầu của Campuchia Một mục tiêu chiến lược trong phát triển khuyến nông là xây dựng một hệ thống khuyến nông tới các xã và thôn bản DAE triển khai, thúc đẩy và điều phối các hoạt động khuyến nông thông qua các bộ phận kỹ thuật và các tổ chức, cơ quan nghiên cứu, cơ quan cấp tỉnh, phi chính phủ và khu vực tư nhân với mục tiêu là lợi ích tốt nhất của các nhà sản xuất, người nông dân Hoạt động khuyến nông tại Campuchia
sử dụng phương pháp tiếp cận phát triển hệ thống canh tác qui mô trang trại, đào tạo
và khuyến nông có sự tham gia và cách tiếp cận mở rộng Trong đó tập trung vào (i) Lập kế hoạch và đánh giá có sự tham gia, (ii) Phát triển công nghệ có sự tham gia; (iii) Đào tạo và mở rộng; (iv) Phát triển mở rộng và phổ biến tài liệu; (v) Phát triển
Trang 8các tổ chức nông dân (dẫn theo Hà Thanh Tùng, 2011 [12])
1.1.6 Tại Inđônêsia
Hệ thống khuyến nông nhà nước được thành lập năm 1955 gồm 4 cấp: cấp quốc gia có hội đồng khuyến nông quốc gia, cấp tỉnh có diễn đàn khuyến nông cấp
1, huyện có diễn đàn khuyến nông cấp 2, cấp xã và liên xã có cơ quan khuyến nông
cơ sở Tại đó có bộ phận dịch vụ khuyến nông và trung tâm thông tin phục vụ cho nhu cầu của nông dân Ngày nay Inđonêxia thường xuyên được chọn là nơi tổ chức
đào tạo CBKN cho các nước trong khu vực
Là một nước có nền nông nghiệp tương đối phát triển trong khu vực Trung tâm khuyến lâm (thuộc Bộ Lâm nghiệp) quản lý các vấn đề liên quan đến hoạt động khuyến lâm từ các dịch vụ đến phát triển lâm nghiệp bền vững Theo tác giả Nur Hidayat (2009) [19] hiện nay Inđônêsia có trên 30.000 cán bộ khuyến nông, trong
đó có trên 5.200 khuyến lâm viên (dẫn theo Hà Thanh Tùng, 2011 [12]
1.1.7 Tại Myanmar
Là đất nước nông nghiệp đóng góp 45,1% GDP, hoạt động khuyến nông lâm được xem là giải pháp hàng đầu để phát triển nông lâm nghiệp bền vững Các hoạt động chủ yếu ở nước này là xây dựng mô hình trình diễn, tập huấn, và thông tin tuyên truyền Tại Myanmar đặc biệt quan tâm hệ thống nhóm 10 hộ nông dân, trong
đó có 1 nhóm trưởng thường xuyên liên hệ với cán bộ khuyến nông và chuyên gia
Hệ thống tổ chức khuyến nông lâm của Myanmar được tổ chức ở Trung ương và 5 trung tâm ở 5 vùng lãnh thổ, các cán bộ khuyến nông lâm chủ yếu trực thuộc 5 trung tâm vùng này Các hoạt động xây dựng mô hình, tập huấn cũng được tổ chức tại các trung tâm vùng (dẫn theo Nguyễn Văn Long, 2006 [7])
Năm 2010, nông lâm nghiệp đóng góp 33,8% GDP, hoạt động khuyến nông được xem là giải pháp hàng đầu để phát triển nông nghiệp bền vững Các hình thức hoạt động chủ yếu ở nước này là thành lập các trạm tập huấn, xây dựng mô hình trình diễn quy mô lớn, trường học tại trang trại, chương trình năng suất cao đặc biệt, vùng sản xuất cây trồng tập trung, phát triển công nghệ với sự tham gia của nông dân và phương pháp chuyển giao công nghệ dựa trên nhu cầu của nông dân Về nội
Trang 9dung hoạt động khuyến nông của Miama đang tập trung chuyển giao kỹ thuật sản xuất nông nghiệp theo tiêu chuẩn ASEAN GAP (dẫn theo Hà Thanh Tùng, 2011 [12])
1.1.8 Tại Lào
Lào có mô hình khuyến lâm tương tự như mô hình khuyến lâm của Việt Nam Mọi hoạt động khuyến lâm của Lào được điều hành bởi bộ Lâm nghiệp Lào Cán bộ khuyến lâm của Lào được đào tạo chủ yếu tại khoa Lâm nghiệp trường Đại học quốc gia Viêng Chăn (dẫn theo Bách khoa toàn thư Wikipe [14]), các cán bộ cấp cao đều được sự hỗ trợ đào tạo tại Đại học Lâm nghiệp Việt Nam, Viện khoa học Lâm nghiệp Việt Nam
1.1.9 Tại Thái Lan
Thái Lan là quốc gia nông nghiệp với trên 60% dân số sống bằng nghề nông nghiệp Điều kiện đất đai, khí hậu nóng ẩm gần tương đồng Việt nam Thái Lan là quốc gia hoạt động khuyến nông lâm khá tiêu biểu Hệ thống khuyến nông nhà nước được thành lập năm 1967
Hiện Thái lan có 3 tổ chức chính hoạt động có liên quan đế khuyến lâm, đó
là Cục lâm nghiệp Hoàng gia, Hội nông dân, Hội phát triển cộng đồng Hoạt động khuyến lâm được thực hiện và chỉ đạo bởi các Phòng lâm nghiệp Quốc gia, bao gồm
21 cơ quan cấp vùng và 72 cơ quan cấp tỉnh (dẫn theo Đinh Đức Thuận, 2002 [8])
Cán bộ khuyến lâm của Thái lan chủ yếu được đào tạo từ Trường Đại học Kasetsart và Trung tâm Đào tạo Lâm nghiệp cộng đồng RECOFTC
Năm 2007, tổng số cán bộ khuyến nông hiện nay là 12.936 người Khuyến nông có 2 vai trò chính là (i) giúp nông dân phát triển sản xuất nông nghiệp nâng cao tiêu chuẩn cuộc sống và bảo đảm thu nhập của họ, (ii) giúp nông dân giải quyết vấn đề của họ Từ năm 2009, hình thức triển khai các chương trình hoạt động khuyến nông của Thái Lan mang tính đặc thù riêng thông qua chương trình đăng ký
và quản lý dữ liệu nông dân Nông dân muôn tham gia các chương trình khuyến nông trước hết phải đăng ký dự liệu với cơ quan khuyến nông Các thông tin về nông dân bao gồm: Số lượng và tên, số CMTND, Ngày sinh, giới tính và nghề nghiệp của từng thành viên trong hộ gia đình, thông tin về sản xuất nông nghiệp và
Trang 10phi nông nghiệp, thành viên của tổ chức đặc biệt (nếu có) Các thông tin này sẽ được cơ quan khuyên nông tỉnh quản lý bằng máy tính và hàng năm sẽ được cập nhật thông tin, các thông tin về các hộ nông dân sẽ được kiểm chứng bằng cách chọn ngẫu nhiên 10% bao gồm các cán bộ của cơ quan khuyến nông tỉnh và các cơ quan liên quan khác bao gồm cả tổ chức chính quyền địa phương tiến hành cuộc điều tra công khai ở mỗi làng để rà soát tất cả các thông tin thu thập (dẫn theo Hà Thanh Tùng, 2011 [12])
1.1.10 Tại Philippin
Hoạt động khuyến nông của Philippin do Viện đào tạo nông nghiệp trực thuộc Cục Nông nghiệp đảm nhiệm và triển khai các hoạt động về khuyến nông Tại các vùng có 17 trung tâm đào tạo, không tổ chức theo địa danh hành chính Hoạt động khuyến nông của Philippin được gọi là “khuyến nông điện tử” với hình thức chuyển tải thông tin và chuyển giao công nghệ chủ yếu thông qua các phương tiện điện tử như Internet, đài, báo điện tử, truyền hình, băng video và cát-sét Hầu hết các nội dung hoạt động khuyến nông đều tập trung vào sản xuất nông nghiệp hữu
cơ, giảm thiểu biến đổi khí hậu và phát triển sinh kế bền vững Về chính sách khuyến nông, Chính phủ chi phí xây dựng, vận hành hệ thống thông tin, băng đĩa hình, internet phục vụ khuyến nông Trong xây dựng mô hình, Chính phủ chỉ hỗ trợ 50% chi phí con giống, (dẫn theo Hà Thanh Tùng, 2011 [12)
1.1.11 Tại Cộng hòa Brunei Darussalam
Hệ thống tổ chức khuyến nông bao gồm ở Trung ương có 1 Phòng thuộc Vụ Nông nghiệp và thực phẩm (Bộ Công nghiệp và nguồn lợi) và 4 Trung tâm đào tạo tại hiện trường tại 4 vùng lãnh thổ Về nội dung hoạt động khuyến nông, Brunei tập trung vào lĩnh vực IPM trên lúa và an toàn thực phẩm với sự trợ giúp của các chuyên gia đến từ các nước ASEAN Hình thức hoạt động khuyến nông chủ yếu là đào tạo cán bộ khuyến nông và nông dân (dẫn theo Hà Thanh Tùng, 2011 [12])
Trang 111.2 Ở Việt Nam
1.2.1 Trước năm 1993
Cùng với sự phát triển khuyến nông trên thế giới, khuyến nông Việt Nam cũng được hình thành và phát triển trong những năm qua
Nguyễn Chí Hải khi nghiên cứu về lịch sử tư tưởng kinh tế Việt Nam thời
kỳ phong kiến cho biết với tư tưởng trọng nông là tư tưởng chủ đạo và chính sách khuyến nông của nhà nước phong kiến các triều đại phong kiến Việt Nam đã có nhiều biện pháp để khuyến khích nông nghiệp phát triển, từ việc khuyến khích khai hoang mở rộng diện tích, thực hiện chính sách "Ngụ binh ư nông", miễn giảm thuế cho nông dân những năm mất mùa hay sau khi kết thúc các cuộc chiến tranh giữ nước để nuôi dưỡng sức dân, cho đến việc nhà vua cày ruộng "tịch điền", làm lễ trừ sâu, lễ tế côn trùng, xem gặt lúa, Tất cả đều nói lên sự quan tâm thường trực của nhà nước phong kiến đối với việc phát triển nông nghiệp Có thể nói, chính sách khuyến nông chính là một trong những chuẩn mực cơ bản để đánh giá năng lực và
sự thịnh suy của các triều đại phong kiến Việt Nam (dẫn theo Nguyễn Chí Hải [16])
Theo Cổng thông tin điển tử tỉnh Hà Nam (dẫn theo [15]) và Đào Xuân Ánh (2008) [1] khẳng định năm 987, Lê Hoàn là ông vua đầu tiên dưới chế độ phong kiến Việt Nam tiến hành lễ cày tịch điền, nhằm mục đích khuyến khích sản xuất nông nghiệp Ruộng tịch điền thuộc quyền quản lý trực tiếp của triều đình, giống lúa cấy trên ruộng được chọn để cho loại gạo ngon dùng vào việc tế lễ, đặc biệt là tế thần nông và thần xã tắc Cày tịch điền dưới thời phong kiến là một trong những biện pháp khuyến nông
Ở thời kỳ nhà Trần (năm 1226) lập ra các chức quan để trong coi việc phát triển nông nghiệp như: Hà đê sứ, đồn điền sứ, khuyến nông sứ, Nhờ đó nông nghiệp Việt Nam lúc bấy giờ phát triển tương đối mạnh, có thể nói đây là thời kỳ hưng thịnh của nông nghiệp Việt Nam lúc đó (dẫn theo Vũ Thị Lan, 2007 [6])
Năm 1475, bên cạnh cải tổ cơ chế Nhà nước, Lê Thánh Tông đặc biệt chú ý các biện pháp phát triển kinh tế, sửa đổi chế độ thuế khóa, điền địa, khuyến khích
Trang 12nông nghiệp, trồng trọt, chăn nuôi, mở đồn điền, khai khẩn đất hoang Những nỗ lực nhằm xây dựng phát triển đất nước của Lê Thánh Tông đã được phản ánh khá rõ qua các bài chiếu, chỉ dụ do ông ban bố, như Chiếu khuyến nông, Chiếu lập đồn điền, Chiếu định quan chế, Cùng năm, ông đặt ra chức quan Hà đê để trông coi đê điều và chức quan Khuyến nông để đôn đốc nhân dân việc cày cấy
Năm 1789 vua Quang Trung ban bố "Chiếu khuyến nông" với những nội dung rất cụ thể như kêu gọi nhân dân tích cực sản xuất, không được bỏ ruộng hoang, người đi phiêu tán phải trở về quê cũ,… Điểm độc đáo trong chính sách kinh
tế của Quang Trung là "trọng nông" nhưng không "ức thương" Sau 3 năm có "chiếu khuyến nông", ruộng bỏ hoang đã được phục hoá, mùa màng bội thu, nông nghiệp được phục hồi và nông dân an cư lạc nghiệp (dẫn theo Bách khoa toàn thư [14])
Vua Gia Long (1802 – 1820), sau khi thống nhất đất nước, đã sửa sang việc triều chính, định binh chế, quan chế, tài chính, đinh điền nông nghiệp, công vụ, pháp luật, học hành, ngoại giao,… Gia Long là một vị vua coi trọng khá toàn diện đến nông nghiệp, nông dân và nông thôn Ông đã khoan thư sức dân (giảm thuế); giữ gìn và mở rộng diện tích, cải tạo đất canh tác nông nghiệp (cấm bán công điền, công thổ; đào sông, thuỷ lợi, trị thuỷ, khai hoang phục hoá); có chiến lược an ninh lương thực (lập kho dự trữ để cấp phát cho dân khi mất mùa, đói kém),…
Từ 1820 - 1840, triều đại của Minh Mạng, năm 1821 dựng lại Quốc Tử Giám, mở thi hội và thi đình Thực thi các chính sách khuyến nông, tìm hiểu kỹ thuật đóng tàu của châu Âu
Lê Sỹ Trung (2010) [10] cho biết vào tháng 4 năm 1945, Hồ Chủ Tịch trong
lễ bế giảng khóa chỉnh huấn cán bộ tại Việt Bắc, Người đã căn dặn: “Các chú ra về phải làm tốt công tác khuyến nông, ra sức phát triển nông nghiệp, chống giặc đói, diệt giặc dốt”
Năm 1955-1956 chúng ta thực hiện cải cách ruộng đất, thực hiện khẩu hiệu
“Người cày có ruộng” Đây là cuộc cách mạng lớn chưa từng có trong lịch sử nông nghiệp nước ta Chúng ta đã tịch thu hơn 81 vạn ha ruộng đất của địa chủ…, 106.448 trâu bò cùng với 1.846.000 nông cụ chia cho 2.104.158 hộ nông dân và
Trang 13nhân dân lao động (72,8% hộ nông thôn miền Bắc) Kết quả này đã tạo điều kiện và khích lệ nông dân ra sức tăng gia sản xuất
Năm 1960 ở miền Bắc thành lập các Hợp tác xã sản xuất nông nghiệp (HTX) bậc thấp, năm 1968 HTX bậc cao, năm 1974 HTX toàn xã Tổ chức HTX sản xuất nông nghiệp vào giai đoạn này có một ý nghĩa lịch sử lớn lao Tổ chức HTX sản xuất nông nghiệp nông dân “Cùng làm cùng hưởng” đã giúp cho Đảng và Nhà nước huy động được mức độ tối đa sức người, sức của phục vụ cho công cuộc đấu tranh chống Mỹ cứu nước giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước
Công tác khuyến nông giai đoạn này chủ yếu triển khai đến HTX Phương pháp khuyến nông chủ yếu đưa TBKT vào sản xuất, xây dựng các mô hình HTX sản xuất tiến bộ như: HTX Tân Phong, HTX Vũ Thắng -Thái Bình
Dưới chế độ Sài Gòn cũ (1960) có Nha khuyến nông chuyên lo phát triển nông nghiệp, phát triển nông thôn
Từ năm 1964-1980 nhìn chung nông nghiệp trì trệ kém phát triển, đời sống nông dân gặp nhiều khó khăn Nguyên nhân có nhiều nhưng chủ yếu do chiến tranh Chúng ta phải tập trung mọi nỗ lực cho công cuộc đấu tranh giải phóng miềm Nam, giành độc lập dân tộc và thống nhất đất nước Mặt khác sau giải phóng miền Nam năm 1975 đến 1980 miền Bắc vẫn còn duy trì HTX sản xuất nông nghiệp là một thực tế bất cập mất cân đối giữa quan hệ sản xuất với lực lượng sản suất
Trước thực trạng sản xuất nông nghiệp trì trệ và đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn, tháng 1 năm 1981, Chỉ thị 100 của Ban CHTW Đảng: “Khoán sản phẩm cuối cùng đến nhóm và người lao động”, còn gọi là “Khoán 100” được ra đời Sau 7 năm thực hiện “Khoán 100” Đảng ta xem xét rút kinh nghiệm: “Khoán 100” có nhiều ưu điểm thúc đẩy nông nghiệp phát triển nhưng vẫn còn nhiều hạn chế: Nông dân chưa thực sự chủ động sản xuất kinh doanh có hiệu quả Trên đồng ruộng, ao
hồ, chuồng trại chăn nuôi người nông dân chưa có thể chủ động sản xuất kinh doanh
vì những khâu then chốt như giống, phân bón nông dân vẫn phải phụ thuộc vào sự quản lý của HTX Có nhiều hộ nông dân cuộc sống vẫn không khỏi đói nghèo do bởi nguồn lực sản xuất thiếu lao động, thiếu vốn; do gặp rủi ro trong cuộc sống; do
Trang 14trình độ dân trí thấp sản xuất không có hiệu quả đã dẫn đến nợ sản nhiều vụ, nhiều năm,… Chính vì vậy ngày 5/4/1988, Bộ chính trị, Ban CHTW Đảng khóa V ra Nghị quyết 10: “Cải tiến quản lý kinh tế trong nông nghiệp”, còn gọi là “Khoán 10” Nghị quyết 10 được thực hiện và hoàn thiện vài năm sau đó đã chuyển đổi hẳn
cơ chế quản lý kinh tế trong nông nghiệp Ruộng đất giao cho nông dân quản lý lâu dài 20 năm đối với đất nông nghiệp, 50 năm đối với đất lâm nghiệp Chuyển đổi từ
cơ chế sản xuất tập thể tự cung tự cấp, sản xuất theo kế hoạch hóa Nhà nước sang sản xuất kinh tế hộ gia đình và trang trại Người nông dân chủ động sản xuất kinh doanh trên mảnh đất, ao hồ, chuồng trại của mình theo hướng nông nghiệp hàng hóa
có sự điều tiết của Nhà nước Nông nghiệp của đất nước có cơ hội ngày càng phát triển mạnh
Năm 1992, Để điều phối và lãnh đạo công tác khuyến nông trên toàn quốc,
Bộ Nông nghiệp thành lập “Ban điều phối Khuyến nông” Do nhu cầu bức xúc từ thực tế sản xuất, ngày 2/3/1993, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Nghị định số 13/NĐ-CP về việc thành lập hệ thống Khuyến nông, Khuyến lâm, Khuyến ngư
1.2.2 Sau năm 1993
Ngày 02 tháng 3 năm 1993, Chính phủ ban hành Nghị định 13/NĐ-CP về công tác khuyến nông (bao gồm nông, lâm, ngư nghiệp) Hệ thống khuyến nông - khuyến ngư Việt Nam chính thức hình thành Ở Bộ NN & PTNT, Cục Khuyến nông
- Khuyến lâm vừa làm nhiệm vụ quản lý nhà nước vừa làm nhiệm vụ khuyến nông
về lĩnh vực trồng trọt và chăn nuôi Việc một đơn vị đồng thời làm nhiệm vụ quản
lý nhà nước và dịch vụ công tỏ ra nhiều bất cập Chính vì vậy, ngày 18 tháng 7 năm
2003 Chính phủ ban hành Nghị định 86/NĐ-CP, cho phép tách Cục Khuyến nông - Khuyến lâm thành hai đơn vị trực thuộc Bộ NN & PTNT là Cục Nông nghiệp và Trung tâm Khuyến nông Quốc gia
Đến năm 2007, trên cơ sở Chính phủ hợp nhất Bộ NN & PTNT với Bộ Thuỷ sản thành Bộ NN & PTNT và theo Nghị định số 01/2008/NĐ-CP, ngày 03/01/2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ
NN & PTNT đã cho phép thành lập Trung tâm KNKNQG trên cơ sở hợp nhất giữa
Trang 15Trung tâm KNQG và Trung tâm Khuyến ngư Quốc gia theo Quyết định số BNN-TCCB ngày 28/01/2008 của Bộ trưởng Bộ NN & PTNT Chức năng, nhiệm
236/QĐ-vụ và cơ cấu tổ chức của Trung tâm KNKNQG thực hiện theo Quyết định số 43/2008/QĐ-BNN ngày 11/3/2008 của Bộ trưởng Bộ NN & PTNT
Nghị định số 02/2010/NĐ-CP ngày 08 tháng 01 năm 2010 của Chính phủ về Khuyến nông quy định tổ chức khuyến nông Trung ương đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Bộ NN & PTNT với tên gọi là Trung tâm Khuyến nông Quốc gia Ngày 28/6/2010, Bộ NN & PTNT đã có Quyết định số 1816/QĐ-BNN-TCCB quy định chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của Trung tâm KNQG
Trung tâm KNQG là đơn vị sự nghiệp, có các nhiệm vụ chủ yếu là tham gia
đề xuất và ban hành các chính sách, cơ chế về khuyến nông, khuyến ngư; các định mức kinh tế - kỹ thuật; chỉ đạo, tổ chức và hướng dẫn thực hiện công tác chuyển giao tiến bộ kỹ thuật thông qua xây dựng mô hình trình diễn, thông tin tuyên truyền, huấn luyện đào tạo, công tác dịch vụ và hợp tác quốc tế trong lĩnh vực khuyến nông, khuyến ngư
Tính đến tháng 11/2010, hệ thống khuyến nông Việt Nam có 33.260 cán bộ khuyến nông, trong đó có 5.638 cán bộ có trình độ đại học, chiếm 16,7%
Hệ thống khuyến nông ở địa phương được tổ chức thành 4 cấp: Tỉnh - Huyện
- Xã và Thôn bản:
Ở cấp tỉnh, Sở NN & PTNT các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương là cơ quan quản lý nhà nước về khuyến nông Sau 15 năm hoạt động, 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đều đã thành lập Trung tâm Khuyến nông, Khuyến ngư tỉnh với tổng số 2.754 người
Ở cấp huyện: hầu hết các huyện trên cả nước có Trạm Khuyến nông huyện trực thuộc Trung tâm Khuyến nông tỉnh hoặc UBND huyện với tổng số 4.600 người
Ở cấp xã: Đa số các xã nông nghiệp có cán bộ khuyến nông xã với tổng số 10.543 người
Ở cấp thôn, bản: Hiện cả nước có 15.749 khuyến nông viên thôn, bản Một
số tỉnh có lực lượng khuyến nông viên thôn, bản tương đối đầy đủ như Hà Giang, Phú Thọ, Sơn La, Lai Châu
Trang 161.2.3 Hệ thống khuyến nông Phú Thọ
1.2.3.1 Cấp tỉnh
Trung tâm khuyến nông trực thuộc Sở nông nghiệp và phát triển nông thôn, hiện tại có 31/33 cán bộ biên chế Về trình độ : cán bộ có trình độ trên đại học 4 người, đại học 23 người, trung cấp 4 người, sơ cấp 1 người Về chuyên môn: Trồng trọt 1 người, Chăn nuôi thú y: 6 nguời, Lâm nghiệp 3 người, Khuyến nông và PTNT
01 người, sư phạm kỹ thuật nông nghiệp 01 người, kinh tế 5 người, còn lại là khác
1.2.3.2 Cấp huyện
Phú Thọ có 11 trạm khuyến nông và 2 bộ phận khuyến nông nằm trong phòng kinh tế TP Việt Trì và TX Phú Thọ Tổng số 71 người, trong đó: Trong biên chế 64 người, hợp đồng 7 người Về trình độ: Đại học 68 người (chiếm 95,8%), Trung cấp 3 người (chiếm 4,2%) Về chuyên môn: Trồng trọt 22 người (chiếm 31%), Chăn nuôi – Thú y 13 người (chiếm 18,3%), Lâm nghiệp 12 người (chiếm 16,9%), Thuỷ sản 3 người (chiếm 4,2%), Kinh tế 18 người (chiếm 25,4%), các ngành khác 3 người ( chiếm 4,2%)
1.2.3.3 Cấp xã
Toàn tỉnh đã thành lập 277 tổ khuyến nông cơ sở và tuyển chọn được 680/695 nhân viên khuyến nông cơ sở, thiếu 15 người so với quy định Về trình độ: Đại học 116 người (chiếm 17%), Trung cấp 550 người (chiếm 80,9%), Sơ cấp 14 người (2,1%) Về chuyên môn: Trồng trọt 207 người (chiếm 30,4%), Chăn nuôi - Thú y 317 người (chiếm 46,6%), Lâm nghiệp 23 người (chiếm 3,4%), Thuỷ sản 33 người (chiếm 4,9%), Kinh tế 81 người (chiếm 11,9%), các ngành khác 19 người (chiếm 2,8%)
Đối với cộng tác viên khuyến nông ở khu dân cư: có 2.722 người/2.875 khu dân cư Về trình độ: có 143 người có trình độ từ trung cấp trở lên (chiếm 5,2%), 168 người có trình độ sơ cấp (chiếm 6,2%), 2.410 người có trình độ tốt nghiệp trung học phổ thông (chiếm 88,6%) (dẫn theo trung tâm khuyến nông Phú Thọ [11])
1.2.4 Hoạt động khuyến lâm
Từ năm 1993 - 1995, ở Trung ương bộ phận khuyến lâm được thành lập
Trang 17thuộc Vụ Lâm sinh thuộc Bộ Lâm nghiệp, từ năm 1996 đến năm 2000 thành lập phòng Khuyến lâm trực thuộc Cục Khuyến nông Khuyến lâm Từ năm 2001 đến năm 2004 thành lập phòng Khuyến lâm trực thuộc Cục Phát triển lâm nghiệp (dẫn theo [3]), từ năm 2005 đến năm 2010 thành lập Phòng Khuyến lâm thuộc Trung tâm Khuyến nông Quốc gia
Ở địa phương: trong 63 tỉnh thành, chỉ có một số tỉnh thành lập phòng Khuyến lâm trực thuộc Trung tâm Khuyến nông tỉnh Mỗi Trung tâm chỉ có từ 1-2 cán bộ được đào tạo lâm nghiệp trong tổng số 20-25 cán bộ khuyến nông
Theo số liệu báo cáo (2011) ở trung ương chỉ có 4 người/73 người, cấp tỉnh
có 96/1431 người, cấp huyện 295/2813 người, khuyến nông viên xã 1.942/15.362 người được đào tạo về lâm nghiệp Xét về mặt số lượng cán bộ khuyến lâm chỉ chiếm khoảng 10% tổng số cán bộ khuyến nông chuyên trách Do vậy hệ thống khuyến lâm vừa thiếu về số lượng và yếu về chất lượng do cán bộ khuyến lâm đa phần được đào tạo sâu về chuyên ngành, thiếu kiến thức liên ngành và các kiến thức khuyến lâm cơ bản
Kinh phí hoạt động cho hoạt động khuyến lâm nằm trong kinh phí cấp theo các chương trình khuyến nông được phê duyệt hằng năm
Giai đoạn 1993-2005: khi mới thành lập (1993) đã được Chính phủ đầu tư hỗ trợ 1,268 tỷ đồng, con số này tăng lên 97,8 tỷ (2005), bình quân năm sau tăng hơn năm trước 8,04 tỷ đồng tương đương trên 12% Tính đến năm 2005, kinh phí hỗ trợ cho hoạt động khuến nông là 542,931 tỷ đồng trong đó kinh phí hỗ trợ cho hoạt động khuyến lâm là 66,6 tỉ đồng (chiếm khoảng 12,6%) Đã triển khai trên tổng diện tích xây dựng mô hình là 19.940 ha với 20.804 hộ tham gia Nổi bật là một số chương trình như: Chương trình trồng tre lấy măng; Chương trình trồng cây nguyên liệu giấy; Chương trình trồng cây đặc sản và chương trình trồng cây gỗ lớn [2]
Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn năm 2008 [5] đã xây dựng Đề án phát
triển khuyến lâm giai đoạn 2008-2010 và định hướng đến năm 2020 Với các mục
tiêu sau:
Trang 18a) Mục tiêu dài hạn ( đến năm 2020)
- Góp phần nâng cao trình độ chuyên môn về quản lý, xây dựng bảo vệ rừng cho 80% chủ rừng (tương đương khoảng 800.000 chủ rừng)
- Tăng cường tổ chức khuyến lâm ở cấp tỉnh, huyện Bố trí có ít nhất 1 cán bộ khuyến lâm chuyên trách cho mỗi xã có nhiều rừng và tăng cường năng lực cho hệ thống khuyến lâm tự nguyện (5.985 xã nhiều rừng có cán bộ khuyến lâm chuyên trách)
- Xây dựng mạng lưới liên kết giữa hệ thống khuyến lâm, nghiên cứu và đào tạo với các chủ rừng và doanh nghiệp chế biến lâm sản, thu hút 50% số lượng doanh nghiệp lâm nghiệp thuộc các thành phần kinh tế và các tổ chức đoàn thể tham gia các hoạt động khuyến lâm
b) Mục tiêu trung hạn (2008-2010)
- Phát triển nguồn nhân lực cho đội ngũ làm công tác khuyến lâm từ Trung ương đến thôn bản, ưu tiên cho khuyến lâm cơ sở
- Thúc đẩy quá trình chuyển giao các kết quả nghiên cứu cho nông dân
- Tăng cường đào tạo, huấn luyện và nâng cao nhận thức cho chủ rừng
- Phát triển tổ chức và tăng cường xã hội hoá công tác khuyến lâm
- Tăng gấp 5 lần khối lượng thông tin, tuyên truyền so với thời điểm năm
2007
- Mạng lưới nghiên cứu - đào tạo - khuyến lâm với các doanh nghiệp được thiết lập và đi vào hoạt động
- Thực hiện hỗ trợ khuyến lâm cho 450.000 ha rừng sản xuất từ Dự án 661
- Xây dựng được 15.000 ha mô hình rừng thử nghiệm thuộc dự án 661
Trang 19- Chính sách khuyến khích phát triển tổ chức khuyến lâm tự nguyện được xây dựng
- 2 phương pháp và công cụ khuyến lâm có sự tham gia được thể chế
hoá Trung tâm Khuyến nông Quốc gia (2011) [9] đã xây dựng các Phương pháp
khuyến nông để làm tại liệu tập huấn cho các khuyến nông viên
Theo Bộ NN & PTNT (2011)[4] cho biết trong 6 năm (2006-2011), chương trình khuyến lâm đã triển khai ở 55 tỉnh, với 52.575 hộ tham gia mô hình, tổng kinh phí: 96 tỷ đồng trên tổng số 843,880 tỷ đồng cấp cho toàn bộ hoạt động khuyến nông (chiếm 9%), với một số chương trình như: Trồng rừng thâm canh cây nguyên liệu; trồng rừng thâm canh cây gỗ lớn; trồng rừng thâm canh cây lâm sản ngoài gỗ;
và chương trình tập huấn nghiệp cho cán bộ kiểm lâm làm công tác khuyến lâm
Từ nguồn ngân sách của địa phương, đã huy động được 4.365 hộ tham gia xây dựng mô hình, trồng được 4.488 ha rừng trình diễn, tập huấn 4.765 hộ nông dân Công tác khuyến lâm được nhiều tổ chức quốc tế và phi chính phủ quan tâm trong các dự án phát triển lâm nghiệp Nhiều cách tiếp cận và phương pháp khuyến lâm mới đã được áp dụng và bước đầu được thể chế hoá ở một số địa phương
Ở Việt Nam, công tác khuyến nông, khuyến lâm đã có đóng góp quan trọng trong việc xây dựng các mô hình trình diễn, hướng dẫn nông dân sản xuất và áp dụng các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, từng bước chuyển từ sản xuất tự túc, tự cấp sang nền nông nghiệp hàng hoá đa dạng và có hiệu quả, hướng mạnh xuất khẩu,
Trang 20phát triển ngành nghề nông thôn mới, tăng thu nhập, xoá đói giảm nghèo và phát triển rừng bền vững
Trong các loại mô hình khuyến lâm được xây dựng thì có mô hình xây dựng bởi các đơn vị Trung ương như: Viện nghiên cứu, Trung tâm đào tạo và đơn vị thuộc tỉnh như: Trung tâm khuyến nông tỉnh
Hàng năm chính phủ đã đầu tư nhiều tỷ đồng cho công tác khuyến lâm nói chung và xây dựng mô hình khuyến lâm nói riêng Tuy vậy, liệu có phải tất cả các
mô hình khuyến lâm được xây dựng bởi các tổ chức đều mang lại kết quả tốt? Những bất cập trong quá trình chuyển giao xây dựng những mô hình này là gì? Và tác động của những mô hình này ra sao?,… Việc trả lời những câu hỏi này có ý nghĩa quan trọng trong việc định hướng phát triển khuyến lâm trong giai đoạn tiếp
theo Xuất phát từ thực tiễn đó, đề tài được thực hiện là rất cần thiết
Trang 21Chương 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu của đề tài
2.2 Đối tượng và giới hạn nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu chính của đề tài là một số mô hình khuyến lâm xây dựng tại tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2006 - 2011
* Giới hạn nghiên cứu:
- Giới hạn về nội dung nghiên cứu:
+ Phần đánh giá các mô hình khuyến lâm tại tỉnh Phú Thọ giới hạn chủ yếu
về đánh giá tỷ lệ sống, tình hình sinh trưởng của cây trồng trong các mô hình;
+ Hiệu quả các mô hình: giới hạn trong việc đánh giá hiệu quả kinh tế; hiệu quả môi trường giới hạn trong việc phân tích sự tăng lên của diện tích rừng trồng và
độ che phủ rừng; hiệu quả xã hội giới hạn trong việc tạo công ăn, việc làm và nâng cao nhận thức của người dân địa phương
- Giới hạn về các mô hình khuyến lâm:
Giới hạn trong giai đoạn 2006-2011 do 03 đơn vị xây dựng các mô hình khuyến lâm là: + Viện Khoa học Nông lâm nghiệp Miền núi phía Bắc;
+ Trung tâm Đào tạo và Phát triển nông thôn Phù Ninh;
+ Trung tâm Khuyến nông Phú Thọ
Trang 22- Giới hạn về địa điểm đánh giá các mô hình:
Nghiên cứu được thực hiện tại 4 huyện của tỉnh Phú Thọ là huyện Đoan Hùng, Thanh Sơn, Thanh Ba và huyện Yên Lập
2.3 Nội dung nghiên cứu
Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu đề ra, đề tài đặt ra các nội dung sau:
- Đánh giá thực trạng tổ chức triển khai xây dựng các mô hình khuyến lâm ở tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2006 -2011
- Đánh giá kết quả xây dựng các mô hình khuyến lâm do 3 đơn vị đã xây dựng tại tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2006-2011
- Đánh giá tác động của các mô hình khuyến lâm do 3 đơn vị đã xây dựng tại tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2006-2011
- Phân tích những thuận lợi, khó khăn và bài học kinh nghiệm trong việc triển khai xây dựng các mô hình khuyến lâm xây dựng tại tỉnh Phú Thọ giai đoạn
2006 - 2011
- Đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả công tác xây dựng mô hình khuyến lâm và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật trong lâm nghiệp
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Quan điểm và cách tiếp cận
Hoạt động khuyến lâm là rất cần thiết, đặc biệt đối với một quốc gia có 3/4 diện tích là đồi núi và một bộ phận không nhỏ dân cư sống phụ thuộc vào rừng như nước ta Tuy nhiên, hiệu quả của một mô hình khuyến lâm được đưa ra phụ thuộc rất nhiều yếu tố, nhiều mô hình khuyến lâm đưa ra được hưởng ứng rất nhiệt tình của người dân nhưng cũng có những mô hình tỏ ra không phù hợp Nguyên nhân không thành công có thể do chất lượng của mô hình mang lại hiệu quả kinh tế kém,
do khâu tổ chức thực hiện, do công tác tuyên truyền chưa được thực hiện tốt hoặc
do ý thức của người tham gia mô hình,…Như vậy, khi đánh giá các mô hình khuyến
lâm cần phải đánh giá trên quan điểm toàn diện, tổng hợp các yếu tố và đối tượng
có liên quan Để làm được điều này thì cách tiếp cận điều tra từ trên xuống và đánh
giá từ dưới lên được thực hiện trong đề tài Do thời gian nghiên cứu và kinh phí có
Trang 23hạn nên quan điểm kế thừa các công trình nghiên cứu có liên quan và tiến hành điều
tra bổ xung những nội dung còn thiếu được thực hiện xuyên suốt trong đề tài Sơ đồ các bước nghiên cứu của đề tài được thể hiện thông qua sơ đồ 2.1
2.4.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể
2.4.2.1 Phương pháp kế thừa số liệu
Để thực hiện được các nội dung nghiên cứu trên, đề tài kế thừa các nguồn thông tin, số liệu sau:
- Số liệu, tài liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh Phú Thọ
Hình 2.1 Sơ đồ các bước nghiên cứu của đề tài
Thu thập các số liệu, tài
liệu có liên quan tới nghiên
cứu
Thực trạng xây dựng các mô hình khuyến lâm ở tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2006-2011
Đánh giá các mô hình khuyến lâm tại Phú Thọ, giai đoạn
2006-2011
Đánh giá kết quả của một
số mô hình khuyến lâm tại
Trang 24- Các thông tin, tài liệu, báo cáo, nghiệm thu có liên quan tới tình hình thực hiện các mô hình khuyến lâm ở tỉnh Phú Thọ trong giai đoạn 2006- 2011 được thu thập ở Trung tâm Khuyến nông Quốc gia và ở 3 đơn vị xây dựng mô hình
- Các văn bản pháp quy có liên quan tới chính sách và tổ chức thực hiện hoạt động khuyến nông, khuyến lâm ở Việt Nam 2006 - 2011
2.4.2.2 Đánh giá thực trạng tổ chức triển khai xây dựng các mô hình khuyến lâm ở tỉnh Phú Thọ, giai đoạn 2006 – 2011
Để đánh giá thực trạng các mô hình khuyến lâm được triển khai tại Phú Thọ giai đoạn 2006-2011, đề tài kế thừa số liệu và làm việc với các đơn vị để thu thập những thông tin Phương pháp chủ đạo để thu thập những thông tin được đề tài sử dụng là điều tra phỏng vấn các đối tượng có liên quan và các nguồn thông tin, tài liệu sơ cấp thu thập được Cụ thể Làm việc với lãnh đạo của các đơn vị, cán bộ kỹ thuật trực tiếp theo dõi, triển khai và các hộ dân tham gia xây dựng mô hình
- Trung tâm KNQG: Đề tài kế thừa các báo cáo kiểm tra, giám sát, báo cáo kết quả, số liệu về số đơn vị tham gia triển khai mô hình khuyến lâm tại tỉnh Phú Thọ trong giai đoạn 2006-2011; số lượng, quy mô, kinh phí, diện tích, loài cây, biện pháp kỹ thuật, chính sách hỗ trợ; những thuận lợi, khó khăn và đề xuất
- Các đơn vị xây dựng mô hình (03 đơn vị): thừa kế các báo cáo tiến độ, báo cáo kết quả, nghiệm thu Các số liệu về diện tích, thành phần loài, phương pháp triển khai, biện pháp kỹ thuật, thời gian triển khai các mô hình trong giai đoạn 2006-2011; những thuận lợi, khó khăn và đề xuất của đơn vị
2.4.2.2 Đánh giá kết quả xây dựng các mô hình khuyến lâm đã xây dựng tại tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2006-2011
* Tổng kết các mô hình khuyến lâm đã xây dựng do các đơn vị sau thực hiện:
- Viện Khoa học Nông lâm nghiệp Miền núi phía Bắc
- Trung tâm Đào tạo và Phát triển nông thôn Phù Ninh
- Trung tâm Khuyến nông Phú Thọ
Trang 25Việc tổng kết nhằm xem xét các mô hình khuyến lâm nào đã xây dựng, cụ thể
về loài cây và các biện pháp kỹ thuật đã áp dụng, làm cơ sở cho việc lựa chọn các
mô hình để đánh giá
* Lựa chọn các mô hình để đánh giá:
Để đánh giá được các mô hình khuyến lâm đã xây dựng tại Phú Thọ giai đoạn 2006- 2011, đề tài tiến hành lựa chọn mô hình theo các tiêu chí sau:
- Mô hình phải bao gồm tất cả các đơn vị đã triển khai xây dựng
- Mô hình phải bao gồm tất cả các loài cây rừng trong các mô hình đã xây dựng
- Mô hình phải bao gồm các độ tuổi khác nhau, biện pháp kỹ thuật xây dựng khác nhau
- Mô hình đánh giá phải nằm trên các địa bàn khác nhau
Từ các tiêu chí đưa ra trên đây, đề tài tiến hành lựa chọn các mô hình đã xây dựng trên địa bàn 3 huyện: huyện Thanh Sơn, huyện Đoan Hùng và huyện Yên Lập,
cụ thể như sau:
* Tại huyện Thanh Sơn:
+ Mô hình do Trung tâm Đào tạo Phát triển nông thôn Phù Ninh xây dựng gồm: Mô hình trồng rừng thâm canh Keo tai tượng tuổi 2 tại xã Hương Cần và tuổi
3 tại xã Cự Thắng
+ Mô hình do Trung tâm Khuyến nông Phú Thọ xây dựng gồm: Mô hình trồng Tre Điềm trúc lấy măng tuổi 5 tại xã Hương Cần; mô hình trồng Keo tai tượng tuổi 3 tại xã Hương Cần
* Tại huyện Đoan Hùng:
+ Mô hình do Viện Khoa học Miền núi phía Bắc: Mô hình trồng Keo tai tượng ở tuổi 2, tuổi 3 tại xã Chân Mộng và tuổi 4 tại xã Phúc Lai
+ Mô hình do Trung tâm Khuyến nông Phú Thọ xây dựng gồm: Mô hình trồng cây Mây nếp tuổi 4, mô hình trồng Keo tai tượng tuổi 6 tại xã Ngọc Quan
* Tại huyện Yên Lập:
+ Mô hình do Trung tâm Đào tạo Phát triển nông thôn Phù Ninh xây dựng gồm: Mô hình trồng thâm canh keo tai tượng tuổi 4 tại xã Ngọc Đồng
Trang 26+ Mô hình do Trung tâm Khuyến nông Phú Thọ xây dựng gồm: Mô hình trồng Trám trắng tuổi 5 tại xã Ngọc Lập, mô hình trồng Keo tai tượng tuổi 5 tại xã Thượng Long
* Tại huyện Thanh Ba:
+ Mô hình do Trung tâm Khuyến nông Phú Thọ xây dựng gồm: Mô hình trồng keo tai tượng tuổi 2 tại xã Khải Xuân
Tổng hợp các mô hình khuyến lâm đánh giá được thể hiện ở bảng 2.1
Bảng 2.1: Bảng tổng hợp các mô hình khuyến lâm được đánh giá
Xã Phúc Lai- huyện Đoan Hùng
ương
Mô hình trồng keo tai tượng Xã Chân Mộng - huyện Đoan Hùng Tuổi 3 Trung ương
Mô hình trồng keo tai tượng Xã Chân Mộng - huyện Đoan Hùng Tuổi 2
Trung ương
Xã Ngọc Đồng - huyện Yên Lập
ương
Mô hình trồng keo tai tượng
Xã Cự Thắng - huyện Thanh Sơn
ương
Mô hình trồng keo tai tượng
Xã Hương Cần - huyện Thanh Sơn
Xã Hương Cần - huyện Thanh Sơn
Tuổi 5 Tỉnh
Mô hình trồng keo tai tượng
Xã Ngọc Quan – huyện Đoan Hùng
ương
Mô hình trồng keo tai tượng Xã Thượng Long – huyện Yên Lập Tuổi 5 Trung ương
Mô hình trồng cây Mây nếp Xã Ngọc Quan – huyện Đoan Hùng Tuổi 4 Trung ương
Mô hình trồng keo tai tượng Xã Hương Cần - huyện Thanh Sơn Tuổi 3
Trung ương
Mô hình trồng keo tai tượng Xã Khải Xuân - huyện Thanh Ba
ương
Mô hình trồng Trám trắng
Xã Ngọc Lập- huyện Yên Lập
Tuổi 5 Tỉnh
Trang 27* Đánh giá mô hình:
- Đối với mỗi mô hình đề tài đánh giá khâu tổ chức triển khai thông qua so sánh kế hoạch triển khai và nghiệm thu kết quả về diện tích, tỷ lệ sống, công tác thông tin tuyên truyền và đào tạo tập huấn
- Để đánh giá tình hình sinh trưởng, đề tài tiến hành đo các chỉ tiêu sinh trưởng như D1,3, Hvn, Trữ lượng, Mật độ, tỷ lệ sốngcủa mô hình khuyến lâm và mô hình đại trà
+ Đối với mỗi mô hình trồng thuần loài, đề tài bố trí OTC diện tích 500 m2, trên OTC thu thập các số liệu sinh trưởng, đảm bảo số cây >=30 cây
+ Đối với các mô hình trồng hỗn giao, đề tài đo 30 cây ngẫu nhiên/loài; + Đối với mô hình Mây nếp đề tài đo theo băng, đếm số cây/bụi; mô hình tre Điềm trúc đếm số cây/bụi
2.4.2.3 Đánh giá tác động của các mô hình khuyến lâm đã xây dựng tại tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2006 - 2011
* Tác động về nâng cao nhận thức của người dân
+ Có bao nhiêu hộ gia đình thực hiện theo đúng hướng dẫn kỹ thuật, giống do
mô hình chuyển giao? Nguyên nhân không thực hiện được theo đúng kỹ thuật là gì?
* Tác động về thu hút sự tham gia của hộ gia đình
+ Điều tra số hộ gia đình tham gia vào tập huấn, tham quan khi mô hình bắt đầu xây dựng sau đó có bao nhiêu hộ gia đình đồng ý nhân rộng mô hình, quy mô diện tích được nhân rộng Lý do muốn hoặc không muốn nhân rộng mô hình
* Tác động đến kinh tế hộ
Đối với những mô hình trồng Keo tai tượng, đề tài tiến hành đánh giá hiệu quả kinh tế dựa trên lợi nhuận thuần bằng tổng thu nhập trừ đi tổng chi phí xây dựng mô hình
* Tạo công ăn việc làm cho người dân
Khả năng tạo việc làm nâng cao thu nhập của các mô hình từ khâu trồng rừng, chăm sóc, bảo vệ, khai thác vận xuất rừng
Trang 28Đề tài tiến hành sử dụng mô hình phân tích SWOT (điểm mạnh, điểm yếu,
cơ hội, thách thức) để tiến hành phân tích những thuận lợi, khó khăn và bài học kinh nghiệm trong việc triển khai xây dựng các mô hình khuyến lâm tại tỉnh Phú Thọ
2.5 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu:
Các số liệu thu thập sẽ được tính toán và xử lý trên các phần mềm máy vi tính thông dụng
2.5.1 Phương pháp tính toán các số liệu sinh trưởng
* Tính D1.3 và Hvn
Từ số liệu đo đếm được của các nhân tố điều tra D1.3, Hvn trên các OTC, tiến hành chỉnh lý số liệu theo cỡ đường kính và chiều cao bằng phương pháp chia tổ ghép nhóm
- Số tổ: m = 5.log (n) (2.1) Trong đó: m là số tổ
n là số cây trong OTC
1
(2.3)
Trong đó: X : chỉ tiêu điều tra trung bình
Xi: Trị số giữa tổ
fi: Tần số xuất hiện của từng cỡ
n: Tổng số cây trong OTC
Trang 29* Tính tổng tiết diện ngang (G)
Tính g/OTC: g = gi fi (m2 / OTC) (2.4) Tính G/ha: G = g.20 (m2/ha) (2.5) Trong đó: G: tổng tiết diện ngang trên ha
g: tổng tiết diện ngang trên OTC
gi: tổng tiết diện ngang của cỡ kính i
fi: tần số xuất hiện của cỡ kính i
* Tính trữ lượng (M):
Xác định trữ lượng theo phương pháp cây tiêu chuẩn:
M = N.V (m3/ha) (2.6) Trong đó: M: trữ lượng (m3/ha)
Việc lập một ma trận SWOT bao gồm các bước như sau:
1) Liệt kê các điểm mạnh chủ yếu bên trong
2) Liệt kê các điểm yếu bên trong
3) Liệt kê các cơ hội lớn bên ngoài
4) Liệt kê các thách thức (các đe dọa) quan trọng bên ngoài
5) Kết hợp điểm mạnh bên trong với cơ hội bên ngoài và ghi kết quả chiến lược SO vào ma trận
Trang 306) Kết hợp điểm yếu bên trong với cơ hội bên ngoài và ghi kết quả của chiến lược WO vào ma trận
7) Kết hợp điểm mạnh bên trong với thách thức (mối đe dọa) bên ngoài và ghi kết quả của chiến lược ST
8) Kết hợp điểm yếu bên trong với nguy cơ bên ngoài và ghi kết quả của chiến lược WT vào ma trận
Mục đích kết hợp trong 4 bước cuối cùng là để đề ra các chiến lược khả thi
có thể chọn để thực hiện
- Chiến lược SO: Là chiến lược sử dụng những điểm mạnh bên trong để tận
dụng những cơ hội từ bên ngoài
- Chiến lược WO: Là chiến lược nhằm cải thiện những điểm yếu bên trong bằng cách tận dụng những cơ hội bên ngoài
- Chiến lược ST: Là chiến lược sử dụng các điểm mạnh bên trong để tránh khỏi hay giảm nhẹ những mối đe dọa (thách thức) từ bên ngoài
- Chiến lược WT: Là chiến lược phòng thủ nhằm giảm đi những điểm yếu bên trong và tránh khỏi những thách thức (mối đe dọa) từ bên ngoài
Trang 31Chương 3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI
KHU VỰC NGHIÊN CỨU 3.1 Điều kiện tự nhiên
3.1.1 Vị trí địa lý
Phú Thọ là tỉnh miền núi thuộc Trung tâm Bắc bộ, nằm tiếp giáp giữa vùng Đông Bắc, đồng bằng sông Hồng và vùng Tây Bắc Trung tâm tỉnh cách thủ đô Hà Nội 80km, là nơi chung chuyển, tiếp nối giữa Hà Nội với 2 cửa khẩu là cửa khẩu Quốc tế (Lào Cai) và cửa khẩuThanh thủy (Hà Giang)
Tọa độ địa lý:
- Từ 200 55' 00" đến 210 43' 00" vĩ độ Bắc
- Từ 1040 47' 30" đến 1050 27'30" kinh độ Đông
Ranh giới hành chính của tỉnh như sau:
- Phía Bắc giáp tỉnh Tuyên Quang, Yên Bái
- Phía Nam giáp tỉnh Hoà Bình
- Phía Đông giáp tỉnh Vĩnh Phúc, Hà Tây
- Phía Tây giáp tỉnh Sơn La
Với vị trí đó đã tạo cho Phú Thọ có nhiều thuận lợi để phát triển kinh tế, là cầu nối giao lưu kinh tế giữa các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ, thủ đô Hà Nội với các tỉnh miền núi Tây Bắc Qua đó có thể đánh giá vị trí địa lý của tỉnh Phú Thọ là một yếu
tố quan trọng tạo nên tiềm năng phát triển sản xuất nông lâm nghiệp nói riêng và kinh tế của tỉnh nói chung
3.1.2 Địa hình, thổ nhưỡng
3.1.2.1 Địa hình
Do nằm cuối dãy Hoàng Liên Sơn nên địa hình tỉnh Phú Thọ bị chia cắt tương đối mạnh, độ cao địa hình giảm dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam Có thể chia thành 3 dạng địa hình chính như sau:
- Địa hình núi trung bình phía Tây, Tây Bắc và Tây Nam: Kiểu địa hình này chiếm 34,3% tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh, phân bố chủ yếu ở các huyện Thanh
Trang 32Sơn, Yên Lập, phía Tây Cẩm Khê và một phần của Hạ Hòa Do ảnh hưởng địa hình núi chia cắt, đây là vùng khó khăn trong việc đi lại, giao lưu với nơi khác Tuy nhiên, vùng này còn nhiều tiềm năng phát triển, nhất là về Lâm nghiệp, khai thác khoáng sản, du lịch sinh thái
- Địa hình núi thấp và đồi gò bát úp xen kẽ đồng ruộng: Kiểu địa hình này chiếm 40,8% diện tích tự nhiên toàn tỉnh, phân bố chủ yếu ở Đoan Hùng, Hạ Hòa, Thanh Ba, Cẩm Khê, Phù Ninh và một phần Tam Nông - Thanh Thủy Đặc điểm là đồi núi thấp, địa hình lượn sóng tạo thành hệ thống đồi bát úp, đỉnh cao nhất trên 300m, cao trung bình trên 100m, độ dốc thường dưới 200, cá biệt có nơi dốc trên
250 Vùng này thuận lợi cho việc trồng rừng công nghiệp tập trung với quy mô lớn
và cây công nghiệp dài ngày như chè, cây ăn quả, phát triển lương thực
- Địa hình bằng: Kiểu địa hình này chiếm 24,9% diện tích tự nhiên toàn tỉnh, phân bố chủ yếu ở Lâm Thao, ven sông Lô (thuộc Phù Ninh), Cẩm Khê, Tam Nông, Thanh Thủy, Việt Trì Địa hình thấp dần về phía Đông Nam Với dải đồng bằng phù
sa mới tương đối bằng phẳng, đây là vùng có tiềm năng thâm canh lúa, màu và cây công nghiệp ngắn ngày
- Đất phù sa ngòi suối (Py): Diện tích khoảng 500 ha, chiếm 0,14% diện tích
tự nhiên, được sử dụng trồng 2 vụ lúa (nếu có tưới) hoặc 1 vụ lúa và 1 vụ rau, màu
- Đất phù sa úng nước (Pj): Diện tích 15.810 ha, chiếm 4,5% diện tích tự
nhiên
Trang 33Nhóm II: Đất lầy (J): Đất lầy (J) có diện tích 400 ha, chiếm 0,11% diện tích
tự nhiên Đất lầy được hình thành từ phù sa sông, đặc điểm là bị úng nước quanh năm, ở các tầng sâu trên 15cm đất có màu nâu hơi xanh, xám xanh, đất ẩm, dẻo,
dính, thịt nặng, glây mạnh Hiện đa phần chỉ được trồng 1 vụ lúa
Nhóm III: Đất xám (X): Đất xám bạc màu trên phù sa cổ (X): Diện tích 2.626
ha, chiếm 0,74% diện tích tự nhiên Đất có màu xám nhạt, có phản ứng chua, hàm lượng dinh dưỡng thấp, thành phần cơ giới nhẹ
- Đất vàng đỏ trên đá Mácma axit (Fa): Diện tích 6.012 ha, chiếm 1,71% diện tích tự nhiên Đất có phản ứng chua, thành phần cơ giới nhẹ Địa hình dốc nên đất
bị rửa trôi, xói mòn mạnh, các chất dinh dưỡng đều nghèo hoặc trung bình
- Đất đỏ vàng biến đổi do trồng lúa nước (FI): Diện tích 4.439 ha, chiếm 1,27% diện tích tự nhiên
Nhóm V: Đất mùn (HS): Diện tích 3.470 ha, chiếm 0,99% diện tích tự nhiên
Hầu hết còn rừng vì ở đó là núi cao, độ dốc lớn Đây cũng là vùng rừng đầu nguồn cần được bảo vệ
Nhóm VI: Đất thung lũng (D): Diện tích 14.973 ha, chiếm 4,27% diện tích
tự nhiên Đất này được hình thành do sự tích đọng các sản phẩm từ hai bên sườn đồi núi đưa xuống Đất thường có phản ứng chua, lý hoá tính có thể thay đổi phụ thuộc
vào sản phẩm rửa trôi từng khu vực
Nhóm VII: Đất xói mòn trơ sỏi đá (E): Đất xói mòn trơ sỏi đá có diện tích
540 ha Chất lượng đất rất thấp, khả năng cải tạo để trồng trọt rất khó khăn
Trang 343.1.3 Đặc điểm khí hậu, thuỷ văn
3.1.3.1 Đặc điểm khí hậu
Tỉnh Phú Thọ mang đặc điểm khí hậu điển hình của tiểu vùng Đông - Đông Bắc: Khí hậu nhiệt đới gió mùa, trong năm có hai mùa rõ rệt, mùa hè nắng nóng, mưa nhiều từ tháng 5 tới tháng 10 và mùa đông lạnh, ít mưa từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau
Nhiệt độ trung bình năm là 230C, tổng tích ôn năm khoảng 80000C, lượng mưa trung bình năm khoảng 1600 - 1800 mm Độ ẩm trung bình năm khoảng 85 - 87%
Nhìn chung, điều kiện khí hậu của Phú Thọ phù hợp với sinh trưởng, phát triển và đa dạng hoá các loại cây trồng Nhiệt đới, Á nhiệt đới; Chăn nuôi gia súc, khả năng cho năng xuất và chất lượng cao Tuy nhiên, do đặc điểm của địa hình và chế độ mưa, hàng năm một số nơi như Thanh Sơn, Yên Lập… thường xuyên xuất hiện lũ quét, lốc xoáy, kèm theo mưa đá Vì vậy, để khắc phục hạn chế này, trong các hoạt động sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp cần giải quyết tốt khâu thủy lợi và
bố trí hệ thống cây trồng phù hợp với từng vùng sinh thái
3.1.3.2 Điều kiện thuỷ văn
Trên địa bàn tỉnh Phú Thọ có ba con sông lớn chảy qua là sông Hồng, sông
Lô và sông Đà Các sông này bắt nguồn từ Trung Quốc, chảy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam với tổng chiều dài qua tỉnh khoảng 207 km
Ngoài ra, do đặc điểm chia cắt của địa hình, trong tỉnh còn có hệ thống sông Bứa, Ngòi Giành và hàng trăm km suối thuộc hệ thống sông Hồng, sông Lô, tạo thành mạng lưới sông suối phân bố đều khắp trong phạm vi toàn tỉnh
Một đặc điểm chung của các sông lớn chảy qua Phú Thọ là có lòng sông ít dốc nhưng lượng nước thất thường, nhiều đoạn hẹp, do đó về mùa khô khả năng vận chuyển lâm sản và giao thông thủy rất hạn chế Ngược lại, trong mùa mưa thường gây ra lũ lụt, ngập úng gây nhiều khó khăn cho sản xuất nông - lâm nghiệp
Trang 353.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội
3.2.1 Dân số, dân tộc, lao động
Tỉnh Phú Thọ có 21 dân tộc anh em sinh sống, trong đó dân tộc Kinh chiếm 89,24%, các dân tộc khác chiếm 10,76% Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên của tỉnh là 1,02%/năm
Bảng 3.1: Diện tích, dân số, mật độ dân số các huyện của tỉnh Phú Thọ
(ha)
Dân số (khẩu)
Mật độ (người/km 2 )
2008 tỷ lệ đó đã lên 14,9%
Trang 36Tổng số lao động toàn tỉnh là 790.900 người, chiếm 60,1% dân số, trong đó,
số lao động trong độ tuổi là 753.000, chiếm 95% tổng số lao động toàn tỉnh và ngoài độ tuổi có khả năng lao động là 33.300 người, chiếm 4,2% Lao động trong lĩnh vực nông lâm nghiệp và thủy sản là 486.600 người, chiếm 61,5% tổng số lao động trong toàn tỉnh
Chất lượng lao động: Theo kết quả điều tra cho thấy có 12.469 người có trình
độ đại học, 142 người đạt trình độ thạc sĩ, 43 người có trình độ tiến sĩ Ngoài ra, trên địa bàn tỉnh có gần 20 Viện, Trung tâm nghiên cứu của Trung ương và địa phương Đây là nguồn lực to lớn quan trọng của tỉnh để phát triển kinh tế - xã hội
Số lao động đã qua đào tạo đạt 29%, trong đó có 17% là công nhân kỹ thuật, còn lại
là lao động phổ thông tuy có nhiều kinh nghiệm trong sản xuất nhưng tiếp thu kiến thức khoa học và công nghệ mới để áp dụng vào sản xuất còn hạn chế
3.2.2 Thực trạng chung về kinh tế của tỉnh
Nền kinh tế của Phú Thọ trong những năm qua đã có bước chuyển biến tích cực, đời sống người dân ngày càng được cải thiện Các hoạt động kinh tế bao gồm
đủ các lĩnh vực nông - lâm - ngư nghiệp, công nghiệp - xây dựng và thương mại dịch vụ, trong đó hoạt động nông, lâm nghiệp và thuỷ sản là hoạt động sản xuất thu hút phần lớn lao động hiện có trong tỉnh (khoảng 72,62% tổng số lao động)
Cơ cấu thu của ngành lâm nghiệp ở cấp độ hộ gia đình thể hiện sự trì trệ trong chuyển đổi Trong tổng thu ngành lâm nghiệp, hoạt động khai thác lâm sản chiếm tới 78%, thu nhặt lâm sản phụ 13%, thu từ hoạt động trồng mới, chăm sóc, khoanh nuôi bảo vệ rừng chỉ chiếm 7,4%
3.2.3 Thực trạng xã hội về cơ sở hạ tầng
Giao thông: Hệ thống giao thông trong tỉnh khá thuận lợi cho việc đi lại,
trao đổi và chuyên trở hàng hoá cũng như phát triển sản xuất của nhân dân Mạng lưới giao thông đường bộ phân bố đều và hợp lý Tuy nhiên, chất lượng còn thấp, nhiều tuyến đường đang xuống cấp, chưa đáp ứng được tốc độ lưu thông cao và các phương tiện vận tải lớn
Trang 37Thủy lợi: Hiện nay, hệ thống thuỷ lợi trong tỉnh khá phát triển, từng bước
đáp ứng được nhu cầu tưới tiêu cho các hoạt động sản xuất, trồng trọt và phòng chống lụt bão hàng năm Trong tỉnh còn có các hệ thống tiêu tự chảy, tiêu động lực,
hệ thống công trình tưới đồi, 1.634 km kênh mương và hệ thống đê phòng chống lũ, bảo vệ cuộc sống người dân và bảo vệ mùa màng
Điện: Hiện nay, 100% số xã trong tỉnh đã có điện lưới quốc gia, điện năng
cung cấp đạt trên 500 KWh/người/năm, tăng 31,9% so với năm 2000 Hiện tại, hệ thống đường dây trung thế, hạ thế, trạm biến áp các loại đang từng bước được cải tạo, nâng cấp và xây dựng mới
3.2.4 Thực trạng xã hội về văn hóa - xã hội
Y tế: Hệ thống y tế trong tỉnh khá hoàn thiện từ thành phố, huyện, thị xã, thị
trấn đến các xã, phường Tuy nhiên, trạm y tế thường thiếu giường bệnh, trang thiết
bị y tế rất hạn chế, thuốc chữa bệnh thường xuyên không đủ gây nhiều khó khăn đối
với việc khám chữa bệnh
Giáo dục: Tất cả các huyện trong tỉnh đều có hệ thống giáo dục từ mầm non
đến trung học phổ thông Cơ sở vật chất trường lớp được tăng cường đầu tư xây dựng và cao tầng hoá, mua sắm trang thiết bị tạo điều kiện thuận lợi cho việc dạy và học Trình độ học vấn của dân cư Phú Thọ hiện nay vào loại khá so với vùng Đông Bắc, số người chưa biết chữ chỉ chiếm 0,5 % so với tổng dân số toàn tỉnh
Trang 38- Vị trí địa lý thuận lợi cho giao lưu, chuyển giao khoa học kỹ thuật giữa tỉnh với các tỉnh lân cận đặc biệt là thành phố Hà Nội
- Trên địa bàn tỉnh có nhiều trung tâm chuyển giao công nghệ lâm nghiệp như: Trạm thực nghiệm lâm sinh Cầu Hai - Phú Thọ, Viện Khoa học Miền núi phía Bắc, Trung tâm đào tạo PTNT Phù Ninh - Trường cao đẳng nghề cơ điện và nông lâm Phú Thọ
- Nguồn lao động dồi dào, lực lượng lao động đã qua đào tạo có trình độ chuyên môn chiếm tỷ lệ cao, chi phí thuê nhân công thấp
- Cơ sở hạ tầng cơ bản đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã hội của tỉnh
3.3.2 Khó khăn
- Các điều kiện thời tiết bất lợi như: Gió lào, sương muối, mưa đá,… gây ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động sản xuất nông, lâm nghiệp
- Phần lớn đất đai bị thoái hóa, nghèo dinh dưỡng cây trồng kém phát triển
- Cơ chế chính sách đầu tư cho trồng rừng đặc biệt là trồng rừng sản xuất còn thấp, chưa khuyến khích được người dân tham gia trồng rừng
- Lâm nghiệp có chu kỳ kinh doanh dài, mức rủi do lớn, thu nhập thấp so với các ngành kinh tế khác
Vớ i những thuâ ̣n lợi và khó khăn trên chúng ta có thể thấy việc phát triển khuyến lâm trên địa bàn tỉnh được các cấp chính quyền rất quan tâm, trong đó đặc biệt là việc triển khai xây dựng các mô hình khuyến lâm; Là tỉnh có diện tích đất nông lâm nghiệp chiếm đến 80% diện tích đất tự nhiên, nên đây cũng là điều kiện thuận lợi để Phú Thọ phát triển sản xuất lâm nghiệp theo hướng toàn diện
Vì vậy, việc tận dụng và phát huy hiệu quả nguồn vốn đầu tư của nhà nước thông qua các chương trình, dự án khuyến lâm cũng như diện tích đất đai để phát triển rừng là một hướng đi thiết thực nhằm thúc đẩy nhân rộng các mô hình khuyến lâm thành công, góp phần nâng cao đời sống người dân, ổn định kinh tế xã hội
Trang 39Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 Đánh giá thực trạng triển khai xây dựng các mô hình khuyến lâm ở tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2006-2011
4.1.1 Các đơn vị tham gia xây dựng các mô hình khuyến lâm tại tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2006-2011
Qua điều tra, khảo sát cho thấy trong thời gian 6 năm từ 2006 - 2011 trên địa bàn tỉnh Phú Thọ có 3 đơn vị tham gia xây dựng các mô hình khuyến lâm với các chức năng và nhiệm vụ cụ thể của từng đơn vị là:
- Viện Khoa học Kỹ thuật Nông lâm nghiệp Miền núi phía Bắc thực hiện nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ về các lĩnh vực nông, lâm nghiệp; thực hiện nhiệm vụ khuyến nông vùng, trong đó có tham gia xây dựng mô hình khuyến lâm;
- Trung tâm Đào tạo phát triển nông thôn Phù Ninh - Trường Cao đẳng nghề công nghệ và nông lâm Phú Thọ chuyên về giảng dạy, nghiên cứu và đào tạo phát triển nông thôn, trong đó có tham gia xây dựng mô hình khuyến lâm;
- Trung tâm Khuyến nông Phú Thọ thực hiện xây dựng các loại mô hình trình diễn về ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ trong lĩnh vực nông, lâm, thủy sản phù hợp với từng vùng sinh thái, từng địa phương theo chương trình chuyển đổi
cơ cấu kinh tế nông nghiệp của tỉnh
Thông tin cụ thể về hoạt động triển khai các mô hình khuyến lâm của từng đơn vị cụ thể tại Phú Thọ giai đoạn 2006 - 2011 được thể hiện trong bảng 4.1
Trang 40Bảng 4.1 Đơn vị, số lượng và thời gian xây dựng mô hình khuyến lâm
tại tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2006 - 2011
hình
Năm thực hiện
1 Viện Khoa học kỹ thuật nông lâm nghiệp Miền
2 Trung tâm đào tạo phát triển nông thôn Phù Ninh 6 2008 - 2011
Các đơn vị thực hiện triển khai các mô hình khuyến lâm đều có trụ sở tại tỉnh Phú Thọ và đều có đội ngũ cán bộ kỹ thuật chuyên môn sâu, vừa làm nhiệm vụ nghiên cứu khoa học, đào tạo về lâm nghiệp vừa làm nhiệm vụ chuyển giao tiến bộ
kỹ thuật lâm nghiệp trong khu vực Riêng Trung tâm Khuyến nông tỉnh Phú Thọ còn có các Trạm Khuyến nông nằm trên địa bàn của các huyện, dưới huyện còn có các cán bộ khuyến lâm cấp xã, đó là những điều kiện thuận lợi để triển khai thực hiện các mô hình khuyến lâm trên địa bàn tỉnh Phú Thọ