Kinh nghiệm ở Việt Nam: xây dựng nông nghiệp, nông thôn mới Theo đánh giá của các nhà khoa học trong nước và quốc tế, trong công cuộc đổi mới đất nước, sở dĩ nền nông nghiệp Việt Nam ph
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS LÊ SỸ VIỆT
Hà Nội, 2012
Trang 2LỜI NÓI ĐẦU
Luận văn được hoàn thành theo chương trình đào tạo cao học lâm nghiệp trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam
Nhân dịp này cho tôi được gửi lời cảm ơn chân thành, sâu sắc nhất tới Ban lãnh đạo và cán bộ UBND xã Lục Dạ; khoa Sau đại học trường Đại học Lâm nghiệp; và đặc biệt là thầy giáo TS Lê Sỹ Việt, người đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập và thực hiện luận văn
Mặc dù đã hết sức cố gắng nghiên cứu, làm việc để hoàn thiện luận văn, song do hạn chế về mặt thời gian và trình độ, nên luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định Tác giả rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu từ các thầy cô giáo, các nhà khoa học và bạn bè đồng nghiệp để bản luận văn được hoàn thiện hơn
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân, kết quả nghiên cứu là trung thực theo các số liệu điều tra, đánh giá Nếu có vấn đề gì
về số liệu điều tra cũng như kết quả nghiên cứu, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Tôi xin chân thành cám ơn!
Hà Nội, tháng 12 năm 2012
Tác giả
Trần Đức Tuấn
Trang 3MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cảm ơn i
Mục lục ii
Danh mục các từ viết tắt vi
Danh mục các bảng vii
ĐẶT VẤN ĐỀ i
Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1 Những vẫn đề chung về phát triển nông thôn 3
1.1.1 Vai trò của kinh tế Nông nghiệp nông thôn 3
1.1.2 Những nhân tố ảnh hưởng và nội dung phát triển kinh tế nông nghiệp 3
1.1.3 Kinh nghiệm của Việt Nam và một số nước châu Á trong KTNN 5
1.2 Quy hoạch phát triển nông lâm nghiệp (QHNLN) 15
1.2.1 Trên thế giới 15
1.2.2 Ở Việt Nam 18
Chương 2 MỤC TIÊU, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
2.1 Mục tiêu nghiên cứu 26
2.1.1 Mục tiêu chung 26
2.1.2 Mục tiêu nghiên cứu 26
2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 26
2.3.Nội dung nghiên cứu 26
2.3.1 Nghiên cứu điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội xã Lục Dạ 26
2.3.2 Đánh giá thực trạng nông thôn theo xã Lục Dạ bộ Tiêu chí quốc gia về nông thôn mới 26
2.3.3 Đánh giá thực trạng các chương trình, dự án đang thực hiện trên địa bàn xã 27
2.3.4 Quy hoạch xây dựng nông thôn mới xã Lục Dạ giai đoạn 2012– 2020 27
Trang 42.4 Phương pháp nghiên cứu 27
2.4.1 Phương pháp thu thập số liệu 27
2.4.2 Tổng hợp và xử lý số liệu 28
Chương KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 30
3.1 Điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội xã Lục Dạ 30
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 30
3.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 34
3.1.3 Hiện trạng sử dụng đất 41
3.2 Đánh giá thực trạng nông thôn xã Lục Dạ theo bộ Tiêu chí quốc gia về nông thôn mới 46
3.2.1 Công tác quy hoạch 46
3.2.2 Về Hạ tầng kinh tế - xã hội 46
3.2.4 Về văn hóa - xã hội - môi trường 60
3.2.5 Đánh giá chung 65
3.4 Quy hoạch xây dựng nông thôn mới xã Lục Dạ giai đoạn 2012– 2020 71 3.4.1 Định hướng phát triển KTXH của xã 71
3.4.2 Một số dự báo cơ bản 72
3.4.3 Định hướng quy hoạch xã Lục Dạ 74
3.4.5 Quy hoạch các biện pháp bảo vệ môi trường 95
3.4.6 Nhu câu đầu tư và hiệu quả của phương án 96
3.3.7 Đề xuất các nội dung cần giải quyết nhằm đạt đạt được bộ tiêu chí Quốc gia về Nông thôn mới 102
KẾT LUẬN TỒN TẠI KHUYẾN NGHỊ 110
1 Kết luận 110
2 Tồn tại 113
3 Khuyến nghị 113
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
2 CNH-HĐH Công nghiệp hóa - hiện đại hóa
3 CN-TTCN Công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
3.1 Thông kê số hộ và dân số trên địa bàn xã 34
3.3 Diễn biến diện tích, năng suất, sản lượng một số loài cây trồng
chính trên địa bàn xã
36
3.4 Diễn biến đàn gia súc, gia cầm qua các năm 38
3.6 Diện tích đất lâm nghiệp phân theo các trạng thái rừng 40 3.7 Hiện trạng sử dụng đất năm 2010 xã Lục Dạ 43 3.8 Các đường giao thông tại khu vực nghiên cứu 47
3.10 Tỷ lệ hộ nghèo theo từng bản tại khu vực nghiên cứu 59 3.11 Cơ cấu lao động theo độ tuổi tại khu vực nghiên cứu 59 3.12 Tổng hợp đánh giá xã Lục Dạ theo các chỉ tiêu về nông thôn mới 66 3.13 Dự báo quy mô đặc điểm dân số, lao động xã Lục Dạ 72 3.14 Dự báo quy hoạch sử dụng đất theo các hạng mục 74
3.16 Chi tiết làm mới đường giao thông dân sinh 82
3.18 Làm mới đường giao thông thôn nội đồng 83 3.19 Nâng cấp đường giao thông thôn nội đồng 83
3.21 Dự báo diện tích năng suất sản lượng một số cây trồng chính 90
3.23 Dự kiến quy mô gia súc, gia cầm đến năm 2020 tại xă Lục Dạ 93 3.24 Quy hoạch các loại đất, loại rừng tại xã Lục Dạ 93 3.25 Tổng hợp vốn đầu tư cho xây dựng nông thôn mới giai đoạn
2010 – 2020
97
Trang 7ĐẶT VẤN ĐỀ
Phát triển nông thôn là một lĩnh vực quan trọng và cấp thiết trong chiến lược phát triển kinh tế và hiện đại hoá đất nước Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển chung của cả nước, nông thôn nước ta đã có sự đổi mới
và phát triển khá toàn diện Vấn đề nông thôn và phát triển nông thôn đang được Đảng và Nhà nước rất quan tâm, cả về tổng kết lý luận, thực tiễn và đầu
tư cho phát triển
Để phát triển nông thôn đúng hướng, có cơ sở khoa học và đảm bảo phát triển bền vững, quy hoạch phát triển nông thôn có vai trò hết quan trọng Quy hoạch phải được tiến hành trước, là tiền để cho đầu tư phát triển
Trong thời gian qua, nước ta đã đạt được sự tăng trưởng mạnh mẽ trong lịch sử Đời sống người dân được nâng cao, các dịch vụ xã hội được cải thiện Tuy nhiên, tốc độ đô thị hóa nhanh tạo ra sự bất bình đẳng và chênh lệch giàu nghèo, mức sống, thu nhập lớn giữa khu vực nông thôn và thành thị Khu vực nông thôn đang chịu nhiều thiệt thòi, hệ thống cơ sở hạ tầng thiếu đồng bộ, ô nhiễm môi trường, đời sống vẫn còn nhiều khó khăn
Lục Dạ là xã miền núi vùng sâu thuộc khu vực huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn Cơ sở hạ tầng phục vụ nhu cầu dân sinh, văn hoá xã hội và cho sản xuất còn yếu kém Các tiến bộ khoa học Kỹ thuật, công nghệ tiên tiến chưa được đầu tư, áp dụng nhiều vào sản xuất, nên tăng trưởng kinh tế chưa cao và không bền vững Trong những năm gần đây, kinh tế xã đã có những chuyển biến tích cực sang hướng sản xuất hàng hoá Các tác động trên có ảnh hưởng nhiều đến môi trường cảnh quan, chất lượng môi trường sống cũng như kinh tế xã hội của địa phương
Tuy nhiên, sự phát triển chưa chú ý tới bảo vệ môi trường cũng như cảnh quan nông thôn truyền thống, xây dựng chưa có quy hoạch nên vẫn chưa tạo lập được bộ mặt nông thôn mới Do đó, việc lập quy hoạch xây dựng
Trang 8Nông thôn mới tại xã Lục Dạ là việc làm cấp bách và cần thiết nhằm thiết lập một hình mẫu điển hình trong xây dựng nông thôn mới tại khu vực nông thôn miền núi
Chính vì vậy để giải quyết vấn đề trên cần phải có một kế hoạch xây dựng phát triển nông thôn cơ bản, toàn diện và sâu sắc, đáp ứng mong muốn của nhân dân và yêu cầu chiến lược xây dựng của đất nước cơ bản thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020 Do vậy, xây dựng nông thôn mới là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Nhằm góp phần vào công tác quy hoạch phát triển nông thôn mới của huyện Con Cuông nói chung cũng như xã Lục Dạ nói riêng, tôi thực hiện đề
tài “Quy hoạch xây dựng nông thôn mới xã Lục Dạ huyện Con Cuông
tỉnh Nghệ An giai đoạn 2012 - 2020”
Trang 9Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Những vẫn đề chung về phát triển nông thôn
Theo định nghĩa trong từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học và Bách khoa Việt Nam thì nông thôn là phần lãnh thổ của một nước hay một đơn vị hành chính nằm ngoài lãnh thổ đô thị, có môi trường tự nhiên, hoàn cảnh kinh tế - xã hội, điều kiện sống khác biệt với đô thị và cư dân chủ yếu làm nghề nông
Kinh tế nông nghiệp là tổng thể quan hệ sản xuất trong nông nghiệp, biểu hiện bằng những hình thức sở hữu tư liệu sản xuất,những hình thức tiêu dùng các sản phẩm sản xuất ra với những hình thức tổ chức sản xuất, trao đổi, phân phối và cơ chế quản lý tương ứng của Nhà nước đối với toàn bộ nền nông nghiệp
1.1.1 Vai trò của kinh tế Nông nghiệp nông thôn
- Phát triển kinh tế nông nghiệp trực tiếp tăng thu nhập cho dân cư nông thôn sẽ ổn định xã hội và là sự đảm bảo quan trọng cho phát triển bền vững của nền kinh tế
- Phát triển kinh tế nông nghiệp sẽ thúc đẩy chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng tiến bộ, thực hiện được quá trình phân công lao động xã hội tại chỗ
- Phát triển kinh tế nông nghiệp sẽ tạo cơ sở vật chất cho phát triển văn hóa ở nông thôn, xây dựng nông thôn mới
- Phát triển kinh tế nông nghiệp tạo tích lũy và những điều kiện cần thiết cho phát triển kinh tế toàn diện
1.1.2 Những nhân tố ảnh hưởng và nội dung phát triển kinh tế nông
nghiệp
1.1.2.1 Những nhân tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế nông nghiệp
Trang 10Sản xuất nông nghiệp tuy tăng trưởng khá nhưng tỷ trọng thu nhập từ nông nghiệp mới chỉ giảm tương đối Hiện 70% thu nhập của nông dân vẫn từ nông nghiệp, trong khi thu nhập từ công nghiệp và dịch vụ từ khối này mới chỉ chiếm 30% Điều này chứng tỏ công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp - nông thôn và chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp chưa thực sự hiệu quả
Thời gian qua, các chính sách khuyến khích phát triển kinh tế nông nghiệp - nông thôn đã có những chuyển biến tích cực nhưng nhìn chung vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập, đặc biệt trong quá trình triển khai Vì vậy, cần phải có giải pháp đồng bộ để thúc đẩy phát triển vấn đề này Cần làm tốt quy hoạch các vùng chuyên canh; hỗ trợ nông dân mạnh hơn nữa; phát triển các ngành công nghiệp phục vụ sản suất; chế biến; tiếp tục đẩy mạnh xuất khẩu những mặt hàng chủ lực
Vấn đề vốn cũng là một vấn đề cần thiết và cấp bách đối với sự phát triển kinh tế của khu vực này Đại diện các ngân hàng cho rằng, trước mắt nên tập trung đưa ra các giải pháp để vốn tín dụng trở thành “bà đỡ” làm “đòn bẩy” cho kinh tế khu vực này Trong thời gian qua, vấn đề quy hoạch, tiêu thụ nông sản cho nông dân, thông tin thị trường và chính sách hỗ trợ để người nông dân giảm thiểu rủi ro và có lãi ổn định vững chắc là vấn đề bất cập đầu
tư tín dụng cho khu vực này cần phải được đẩy mạnh hơn nữa trong thời gian tới Ngân hàng Nhà nước sẽ tiếp tục chỉ đạo các ngân hàng thương mại triển khai đồng bộ các chính sách, phấn đấu đưa tăng trưởng tín dụng cho lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn cao hơn mức tăng trưởng bình quân chung của nền kinh tế
Cụ thể, các ngân hàng sẽ ưu tiên nguồn vốn cho kinh tế nông nghiệp; tăng cường hợp tác với các tập đoàn, tổng công ty hoạt động trong lĩnh vực
Trang 11nông nghiệp để cung ứng vốn; các dịch vụ ngân hàng khép kín đồng bộ từ khâu sản xuất, gieo trồng đến chế biến, tiêu thụ sản phẩm…
1.1.2.2 Các nội dung cơ bản phát triển kinh tế nông nghiệp
Phát triển nông nghiệp cần gắn liền với chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nông thôn, đưa tỷ trọng thu nhập từ công nghiệp, dịch vụ trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn tăng lên Bên cạnh đó ngành nông nghiệp cần tiếp tục thực hiện các giải pháp tăng năng suất, hiệu quả trong sản xuất nông nghiệp, đưa hàng hoá, nông sản có sức cạnh tranh cao
Để giải quyết những vấn đề này, phát triển khoa học công nghệ phải được coi là khâu quyết định trong việc tăng năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất nông nghiệp Ngành nông nghiệp phải có chiến lược cạnh tranh cụ thể đối với từng ngành hàng và phát triển mạnh những sản phẩm có lợi thế cạnh tranh như gạo, cao su, cà phê, tiêu, chè ngành nông nghiệp cần phát triển các loại hình doanh nghiệp ở nông thôn để chuyển dịch cơ cấu kinh tế,
có chính sách thu hút đầu tư vào lĩnh vực này, đồng thời tiếp tục chú trọng phát triển hạ tầng nông nghiệp, nông thôn gắn với bảo vệ môi trường, nâng
cao năng lực sản xuất, giúp nông dân xoá đói giảm nghèo
1.1.3 Kinh nghiệm của Việt Nam và một số nước châu Á trong KTNN
1.1.3.1 Kinh nghiệm ở Việt Nam: xây dựng nông nghiệp, nông thôn mới
Theo đánh giá của các nhà khoa học trong nước và quốc tế, trong công cuộc đổi mới đất nước, sở dĩ nền nông nghiệp Việt Nam phát triển và có những thành tựu to lớn, là bởi các chính sách của Ðảng và Nhà nước ta phù hợp với tình hình thực tiễn, nên được người dân cả nước, nhất là nông dân hưởng ứng và lao động sáng tạo
Nổi bật nhất là các chính sách và sự chỉ đạo về chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp ngày càng đi vào chiều sâu để nông nghiệp từng bước hiện đại hóa Ðó là việc rà soát, bổ sung quy hoạch các vùng chuyên canh cây công
Trang 12nghiệp, cây ăn quả, vùng chăn nuôi gia súc, gia cầm, phát triển các vùng nông nghiệp công nghệ cao
Theo đó, các cơ quan khoa học đã tăng cường đầu tư, nâng cao năng lực hoạt động nghiên cứu, ứng dụng các tiến bộ khoa học và công nghệ vào sản xuất giống, canh tác, chăm sóc, tăng cường cơ giới hóa khâu sản xuất, thu hoạch, phơi sấy, sơ chế, bảo quản nông sản sau thu hoạch Cùng với các chính sách lớn để ổn định và phát triển nông nghiệp nông thôn, đầu tư cho tam nông trong khoảng ba năm qua đã lên tới hơn 100 nghìn tỷ đồng, gấp hai lần so với
ba năm từ 2006 đến 2008 Trong phân bổ đầu tư đã thực hiện tốt chủ trương
hỗ trợ việc xây dựng hệ thống kho tàng, các cơ sở bảo quản, phơi sấy, sơ chế nhằm giảm hao hụt, bảo đảm chất lượng sau thu hoạch Coi trọng hơn công tác khuyến nông, công tác thú y, bảo vệ thực vật đã tích cực và thiết thực giúp nông dân áp dụng nhanh tiến bộ khoa học, công nghệ và bảo đảm vệ sinh, an toàn thực phẩm
Một vấn đề lớn trong các chính sách và đầu tư cho lĩnh vực tam nông là Nhà nước đã ban hành và thực thi các chương trình hỗ trợ các huyện và các
xã nghèo, tập trung ở các vùng nông thôn ở miền núi, biển đảo, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số, giảm bớt sự đóng góp của nông dân và tạo điều kiện cho người nghèo, vùng nghèo cùng được thụ hưởng những thành quả của công cuộc đổi mới
Tuy vậy, việc triển khai thực hiện các chính sách tam nông trong những năm qua vẫn còn một số bất cập và hạn chế Nổi lên là việc phát triển nông nghiệp theo hướng hiện đại còn chậm và chưa thật gắn kết với xây dựng nông thôn mới Những số liệu điều tra của ngành thống kê cho thấy một nghịch lý Các vùng đất nông nghiệp rộng lớn thì có tỷ lệ lao động thấp, phân bố lao động lại chưa phát huy được lợi thế về đất đai tạo ra sự dịch chuyển lao động rất lớn từ nông thôn ra thành thị Ví như vùng trung du và miền núi phía bắc
Trang 13chỉ chiếm 13,8% lực lượng lao động, còn khu vực Tây Nguyên rộng lớn chỉ chiếm 5,8% lao động Ðáng chú ý là sự chuyển dịch lao động trong nông nghiệp ba năm gần đây có những biến động tiêu cực do tác động của khủng hoảng kinh tế, tài chính thế giới Nếu trước năm 2008 lao động nông nghiệp
đã giảm từ 54,7% vào năm 2006 xuống 47,7% vào năm 2008 thì năm 2009 tỷ
lệ lao động nông nghiệp lên đến 53,9% và năm 2010 là 59,1% do việc cắt giảm mạnh lao động khu vực công nghiệp và dịch vụ
Xây dựng nông thôn mới là chương trình quốc gia với những quyết sách lớn và tầm nhìn xa của Ðảng và Nhà nước Trong đó nội dung lớn xuyên suốt là xây dựng nền nông nghiệp hiện đại gắn kết chặt chẽ với phát triển nông thôn mới ở thế kỷ 21
Ðể phát triển nền nông nghiệp hiện đại gắn liền với xây dựng nông thôn mới, trước tiên cần phải rà soát lại các quy hoạch ngành nông nghiệp từ sản xuất đến chế biến gắn với quy hoạch các điểm dân cư nông thôn Trên nền tảng của quy hoạch cần thiết phải điều chỉnh để tiếp tục triển khai xây dựng các chương trình phát triển nông nghiệp một cách khoa học và xây dựng nông thôn theo những tiêu chí mới
Ði vào hiện đại hóa nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới thì quy hoạch phải làm trước Do đó, trong công tác quy hoạch nông nghiệp và nông thôn cần thiết phải tính toán một cách toàn diện sự phát triển kinh tế - xã hội của các vùng miền và liên vùng để tránh sự lãng phí và những mâu thuẫn của quá trình phát triển
1.1.3.2 Kinh nghiệm ở Nhật Bản: Nông nghiệp phát triển tạo đà cho công nghiệp hóa
Như mọi quốc gia Âu, Mỹ trước đây, quá trình công nghiệp hóa ở Nhật Bản bắt đầu bằng một thời gian dài tăng trưởng nhanh sản xuất nông nghiệp Trải qua một thế kỷ phát triển, Nhật Bản đã trở thành một quốc gia công
Trang 14nghiệp hiện đại nhưng đơn vị sản xuất nông nghiệp chính vẫn là các hộ gia đình nhỏ, mang đậm tính chất của nền văn hóa lúa nước Đặc điểm này rất giống với hoàn cảnh Việt Nam Những kinh nghiệm của Nhật Bản về phát triển kinh tế nông thôn có thể được tóm tắt như sau:
- Thứ nhất, tăng năng suất nền nông nghiệp quy mô nhỏ, giữu lao động lại nông thôn
Trước công cuộc duy tân, như mọi nước châu Á, kinh tế Nhật bản là nền nông nghiệp sản xuất nhỏ tiểu nông phong kiến năng suất thấp, địa tô cao, Nhật Bản luôn bị giới hạn bởi tài nguyên đất đai ngày càng ít và dân số ngày càng đông (năm 1962, diện tích trung bình là 0,8ha/hộ nông dân)
Trong hoàn cảnh đất chật người đông, chiến lược phát triển khôn khéo
và hiệu quả đã được Nhật Bản thực hiện thành công để đạt được mục tiêu khó khăn, đưa nông nghiệp đi vào phát triển theo chiều sâu từ giai đoạn tăng trưởng ban đầu (chiến lược này gần gũi với quan điểm “CNH – HĐH nông nghiệp” của chúng ta ngày nay) Từ năm 1878 đến năm 1912 là thời kỳ công nghiệp Nhật Bản tăng trưởng nhảy vọt nhưng tổng số lao động nông nghiệp chỉ giảm rất ít từ 15,5 triệu xuống 14,5 triệu người, công nghiệp tăng trưởng gần như chỉ thu hút phần lao động thêm ra do tăng dân số tự nhiên
- Thứ hai là: dưỡng sức dân, tạo khả năng tích lũy và phát triển nội lực Nhật Bản là một ví dụ điển hình cho vai trò quan trọng của lĩnh vực nông nghiệp đóng góp cho quá trình hiện đại hóa và công nghiệp hóa đất nước Trong suốt nửa thế kỷ, nền kinh tế tăng tốc, nông nghiệp cung cấp đầy
đủ lương thực thực phẩm cho nhu cầu ngày càng tăng của tầng lớp thị dân và công nhân công nghiệp có nhu cầu ngày càng tăng, nhờ đó dập tắt nguy cơ lạm phát do thiếu lương thực gây ra (như đã từng xảy ra ở nhiều nước phải nhập khẩu lương thực); thông qua xuất khẩu nông, lâm sản (chè và lụa là hai mặt hàng xuất khẩu chính), đóng góp nguồn ngoại tệ quan trọng để xuất khẩu
Trang 15máy móc, thiết bị phục vụ công nghiệp hàng hóa; cung cấp nguyên liệu cho các nghành công nghiệp chế biến, công nghiệp nhẹ sản xuất hàng tiêu dung
Sau chiến tranh, nước Nhật bị tàn phá rơi vào tình trạng đói kém, ngoại
tệ thiếu hụt, khó nhập khẩu lương thực Bị dồn vào chân tương, vẫn như trước, Nhật Bản áp dụng phương châm “dưỡng dân, để dân tự tích lũy, tự khai thác nội lực tạo phát triển” tuy còn thiếu lương thực nhưng chính phủ chấp nhận sức ép của nhu cầu khôi phục công nghiệp và thành phố cần lương thực, kiên trì chính sách giữ giá nông sản cao để khuyến khích nông dân Giá lương thực cao đã nhanh chóng thúc đẩy nông dân tăng sản lượng, mở rộng sản xuất vượt qua khủng hoảng
Từ năm 1970, Nhật Bản đẩy mạnh tiến trình công nghiệp hóa nông thôn, thu nhập của nhân dân tăng nhanh do chính sách phi tập trung hóa công nghiệp, đưa sản xuất công nghiệp về nông thôn Cơ cấu kinh tế nông thôn thay đổi, tỷ lệ đóng góp của các ngành phi nông nghiệp trong thu cập cư dân nông thôn ngày càng tăng Năm 1990, phần thu nhập phi nông nghiệp cao hơn 5,6 lần phần thu từ nông nghiệp Thu nhập từ nông nghiệp của nông dân tăng gấp 9 lần so với mức năm 1950 chủ yếu nhờ giá nông sản tăng do Chính phủ
đã trợ giá Tính cả thu nhập từ nông nghiệp và phi nông nghiệp, thu nhập của nông dân tính theo đầu người hay bình quân hộ đều cao hơn thu nhập hộ công nhân đô thị
- Thứ ba là, gắn nông nghiệp với công nghiệp, gắn nông thôn với thành thị
Một trong những điều kiện quan trọng để thực hiện thành công CNH – HĐH nông nghiệp, nông thôn Nhật Bản là sự liên kết hài hòa giữa nông nghiệp, nông thôn với công nghiệp và đô thị
Phát triển kết cấu hạ tầng, (thông tin, giao thông, giáo dục, nghiên cứu)
là nhân tố quan trọng thúc đẩy nông nghiệp phát triển, tạo nên năng suất đất
Trang 16đai các giai đoạn đầu thời kỳ Duy Tân và tạo điều kiện phát huy tác dụng máy móc, thiệt bị và hóa chất cho quá trình cơ giới hóa và hóa học hóa nông nghiệp, tạo nên năng suất lao động cao cho nông nghiệp Nhật bản giai đoạn sau Chiến tranh thế giới thứ hai
Một tác động quan trọng khác của công nghiệp là tạo việc làm cho lao động nông thôn Để khắc phục tình trạng này, Chính phủ chú trọng phát triển những công nghệ thu hút nhiều lao động trong giai đoạn đầu công nghiệp hóa Ngay cả đến sau Chiến tranh thế giới thứ hai, khi các công nghệ hiện đại thu hút nhiều vốn đã phát triển, các công nghệ thu hút lao động vẫn được coi trọng đặc biệt
Một biện pháp khác là phân bố các ngành công nghiệp, các nhà máy về nông thôn Nhờ kết cấu hạ tầng, hệ thống năng lượng và liên lạc hoàn chỉnh, giá thấp, không chỉ các ngành công nghiệp chế biến dung nguyên liệu nông nghiệp như tơ tằm, dệt may mà cả các ngành cơ khí, hóa chất cũng phân bố trên địa bàn nông thôn toàn quốc
1.1.3.3 Kinh nghiệm về phát triển nông nghiệp ở Trung quốc
Hơn 50 năm qua, khoa học và công nghệ (KH&CN) nông nghiệp của Trung Quốc đã có sự phát triển mạnh mẽ, đóng góp to lớn trong phát triển kinh tế - xã hội của Trung Quốc mà bao trùm lên có thể thấy là đã giải quyết vấn đề no ấm cho hơn 1 tỷ dân, phát triển mạnh mẽ công nghiệp hương trấn, đưa hàng trăm triệu nông dân Trung Quốc đến cuộc sống khá giả Có được những thành tựu ấy là do Chính phủ cũng như các cấp chính quyền địa phương ở Trung Quốc rất coi trọng KH&CN nông nghiệp, thể hiện ở sự đầu
tư cho nó; có cơ chế khuyến khích mạnh mẽ cán bộ khoa học lao động và sáng tạo, bám sát mặt trận nông nghiệp, nông dân và nông thôn; chú trọng xây dựng hệ thống các tổ chức KH&CN trong nông nghiệp; quan tâm thích đáng
Trang 17tới việc nâng cao ý thức và năng lực KH&CN cho nông dân Thiết nghĩ những kinh nghiệm đó của họ rất đáng để chúng ta tham khảo và học tập
Trong hơn 50 năm qua khoa học và công nghệ (KH&CN) nông nghiệp của Trung Quốc được đánh giá là có bước tiến mạnh mẽ, cống hiến to lớn cho phát triển kinh tế - xã hội của Trung Quốc Tiến bộ rõ nét nhất trong ngành trồng trọt là đã mang lại đời sống no ấm cho 1,2 tỷ dân, đặt nền móng tốt cho việc điều chỉnh cơ cấu sản xuất nông nghiệp Trong công tác di truyền chọn tạo giống đã có hàng loạt các kết quả đột phá trong tạo giống lúa thấp cây, cao sản, sử dụng ưu thế lai Theo thống kê, từ năm 1949 đến năm 1998, các nhà khoa học Trung Quốc đã tạo ra được hơn 5 000 tổ hợp các giống mới có năng suất cao, phẩm chất tốt, tính chống chịu cao Các loại giống này đã làm cho giống cây trồng được đổi mới tới 4 - 5 lần, mỗi lần đổi mới, sản lượng tăng lên 10-30% Chỉ riêng việc trồng giống lúa lai đã làm tăng được 350 triệu tấn lúa gạo Hàng loạt công nghệ mới đã được sáng tạo và ứng dụng trong nông nghiệp, làm cho hơn 1/3 diện tích đất canh tác của Trung Quốc đã trồng được nhiều vụ Công nghệ trồng trọt được định lượng hóa, mô hình hóa, hệ thống hóa và khu vực hóa, công nghệ tưới tiết kiệm nước, công nghệ phòng trừ dịch bệnh tổng hợp nhằm hướng tới nền nông nghiệp sinh thái, phát triển bền vững
đã và đang được trình diễn và phổ biến
Ngành nuôi trồng thủy sản cũng tiến bộ nhanh chóng, góp phần cải thiện cơ bản cơ cấu bữa ăn của nhân dân Trung Quốc Kỹ thuật nuôi trồng phát triển tương đối nhanh, chủ yếu thể hiện trong kỹ thuật tạo giống, nhân giống, kỹ thuật nuôi dưỡng, chế biến thức ăn và phòng dịch, công nghệ chăn nuôi công nghiệp Kỹ thuật tạo giống nhân tạo trong ngành thủy sản cũng có bước đột phá lớn, thúc đẩy ngành thủy sản phát triển, đưa Trung Quốc từ "đại quốc tiểu sản" (nước lớn nhưng sản xuất nhỏ - chỉ sản lượng thủy sản thấp) trở thành nước có sản lượng thủy sản lớn nhất thế giới (41,22 triệu tấn/năm)
Trang 18Trong lâm nghiệp, KH&CN đã có tác dụng rõ rệt trong việc cải tạo môi trường sinh thái và điều kiện sống cho nhân dân Tính đến cuối năm 1999, ngành lâm nghiệp đã có tới 5100 kết quả nghiên cứu, trong đó hai đề tài: Xây dựng rừng phòng hộ tuyến đường sắt Bao Lan và áp dụng thuốc ra rễ ABT đã được giải thưởng nhà nước Công cuộc cải tạo rừng ở ba khu vực Đông Bắc, Tây Bắc, Hoa Bắc đã có hiệu quả rõ rệt nhờ áp dụng công nghệ và các giống cây trồng phát triển nhanh Hiện nay tỷ lệ che phủ rừng của Trung Quốc đạt 16,55%
Trong phát triển nông thôn, nổi bật nhất là sự phát triển của công nghiệp hương trấn - một trong những điều khiến cho cả thế giới phải để tâm Công nghiệp hương trấn của Trung Quốc bắt đầu được khởi động từ đầu những năm 80 của thế kỷ 20, đến cuối những năm 80 bước vào giai đoạn tăng trưởng nhanh, đầu những năm 90 thực hiện điều chỉnh tối ưu hoá, đến giữa những năm 90 lại có bước tăng trưởng nhanh, tạo ra nhiều kỳ tích Công nghiệp hương trấn đã trở thành trụ cột và là nguồn tăng trưởng chính của kinh
tế nông thôn Trung Quốc Đến cuối năm 1999 Trung Quốc đã có hơn 20 triệu
xí nghiệp công nghiệp hương trấn với hơn 125 triệu công nhân, tạo ra giá trị gia tăng là 2500 tỷ nhân dân tệ, chiếm 60% giá trị tổng sản lượng kinh tế nông thôn và trên 27% GDP cả nước
Việc sáng tạo thể chế, sáng tạo công nghệ đã mang lại sức sống cho công nghiệp hương trấn phát triển, trong đó phải kể đến tầm quan trọng của việc đổi mới công nghệ và nâng cấp thiết bị - động lực để phát triển công nghiệp hương trấn Trung Quốc đã áp dụng hàng loạt các biện pháp rất linh hoạt, sáng tạo như nới rộng phạm vi hoạt động của cán bộ khoa học, đặc biệt
là thực thi kế hoạch đốm lửa để gia tăng sức đóng góp của KH&CN
Nhờ áp dụng phương châm: “Các cấp lãnh đạo quan tâm, nông dân đòi hỏi, cán bộ KH&CN cố gắng”, đã tạo nên khí thế khoa học hưng nông sôi
Trang 19nổi trong toàn xã hội Người nông dân luôn nhận được các thông tin về kỹ thuật mới từ các phương tiện báo chí, đài phát thanh, đài truyền hình và tích cực tham gia các lớp tập huấn Theo thống kê chưa đầy đủ, nông dân các nơi
đã tự thành lập hơn 10 vạn tổ chức KH&CN gồm nhiều loại hình khác nhau, với hơn 3 triệu thành viên Các cấp chính quyền hết sức ủng hộ và coi trọng triển khai các hình thức khuyến nông, phổ biến kiến thức Nhiều tỉnh và thành phố đã đầu tư mạnh mẽ về kinh phí để cải tạo công nghệ và nghiên cứu áp dụng KH&CN
Đội ngũ cán bộ KH&CN vừa được nâng cao về ý thức và trình độ năng lực, vừa bám sát thực tế, tìm tòi sáng tạo và triển khai các hoạt động một cách thiết thực nên tác dụng ngày càng to lớn
Về xây dựng tiềm lực KH&CN trong nông nghiệp, sau hơn 50 năm trên phạm vi toàn lãnh thổ Trung Quốc đã hình thành hệ thống nghiên cứu, giảng dạy và phục vụ KH&CN nông nghiệp cả trước, trong và sau quá trình sản xuất Trung Quốc hiện có 1 587 cơ sở nghiên cứu khoa học, trong đó có 1009
cơ sở thuộc ngành nông học, 296 - ngành lâm học, 148 - chăn nuôi thú y, 127
- thủy sản Tổng số cán bộ, nhân viên của các cơ sở này lên tới 1,5 triệu người
Tổ chức khuyến nông từ cấp quốc gia đến tỉnh, thành phố, khu, huyện, xã có 245 000 với tổng số 1,17 triệu cán bộ Trung Quốc hiện có 84 trường đại học nông nghiệp, 496 trường trung học chuyên nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp Công tác nghiên cứu cơ bản và công nghệ cao đã có bước phát triển, rút ngắn được khoảng cách với các nước phát triển trong các lĩnh vực như: Tế bào thực vật, nuôi cấy mô, tạo giống đơn bội thể và các nghiên cứu ứng dụng khác hiện đã đứng vào hàng tiên tiến trên thế giới
Qua sự thành công trong phát triển KH&CN nông nghiệp của Trung Quốc có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm sau:
Trang 20Phát huy tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội, tập trung nguồn lực vào những việc lớn Kết hợp chặt chẽ nhà nước, ngành và địa phương, theo phương châm: “Nhà nước lập sân khấu, cán bộ KH&CN biểu diễn”, trung ương đi đầu, địa phương phụ trách liên kết các ngành chuyên môn tập trung vào những trọng điểm KH&CN để tạo nên hiệu quả và đạt tới mục tiêu cuối cùng cho nông dân hưởng thụ
Kiên trì phương hướng phục vụ “Tam nông”: Việc lựa chọn các đề tài KH&CN nông nghiệp phải bám sát mặt trận chính là kinh tế quốc dân, hướng vào những yêu cầu của nhà nước, chọn ra những yêu cầu cấp thiết, mấu chốt của nông thôn, nông nghiệp và nông dân để giải quyết
Phát huy ưu thế khoa học đa ngành tập trung vào giải quyết các vấn đề KH&CN trong nông nghiệp: Trong thời kỳ “9-5” (kế hoạch 5 năm lần thứ 9), KH&CN đã đương đầu trực tiếp với các vấn đề hiện tại và tương lai, những điểm nóng và điểm khó trong việc tạo ra năng suất và chất lượng cao của “5 cây trồng lớn” Nhờ tổ chức và phối hợp tốt các lực lượng của nhà nước, ngành, địa phương và các lĩnh vực, họ đã giành được những kết quả có tính đột phá, tạo được những công nghệ chuẩn bị cho các yêu cầu lớn về sản xuất các giống cây trồng chủ yếu trong thế kỷ 21
Kết hợp chặt chẽ giữa cán bộ KH&CN và nông dân, phát huy cao độ tính sáng tạo của đội ngũ những người lao động nông nghiệp Coi trọng việc đào tạo nhân tài KH&CN nông nghiệp và bồi dưỡng nâng cao trình độ của nông dân Người nông dân cần được nâng cao tố chất văn hóa, KH&CN để có
đủ khả năng áp dụng các thành tựu KH&CN vào sản xuất Cán bộ KH&CN phải biết kết hợp chặt công tác nghiên cứu với thực tiễn sản xuất và đời sống, phải bám đồng ruộng, nâng cao năng lực giải quyết các vấn đề khó khăn của thực tế sản xuất nông nghiệp
Trang 21Kết hợp giữa sáng tạo và du nhập công nghệ: Cùng với việc tự chủ sáng tạo công nghệ, cần tranh thủ tối đa nguồn lực bên ngoài thông qua hoạt động hợp tác quốc tế, đẩy mạnh việc nhập các công nghệ tốt và thích hợp của nước ngoài
1.2 Quy hoạch phát triển nông lâm nghiệp (QHNLN)
1.2.1 Trên thế giới
1.2.1.1 Lược sử QHNLN
Ngay từ thế kỳ XVII, QHNLN đã được xác nhận như một chuyên ngành bắt đầu từ các quy hoạch vùng Vào thời gian này, quy hoạch quản lý rừng và lâm sinh ở Châu Âu được xem như một lĩnh vực phát triển ở mức cao trên cơ sở QHSDĐ (Olschowy, 1975)
Đến thế kỳ XIX, với các khái niệm "lập địa hợp lý", "năng suất sử dụng" (Weber, 1921) đã mở đầu thời kỳ quy hoạch phát triển nông nghiệp trên cơ sở QHSDĐ theo địa lý với vùng sản xuất là nền tảng của quy hoạch vùng cho sản xuất lâm nông nghiệp
Tại châu Âu, vào thập kỷ 30 và 40 của thế kỷ XX, quy hoạch ngành giữ vai trò lấp chỗ trống của quy hoạch vùng được xây dựng vào đầu thế kỷ Năm
1946 Jacks G.V đã cho ra đời chuyên khảo đầu tiên về phân loại đất đai với tên “Phân loại đất đai cho QHSDĐ” Đây cũng là tài liệu đầu tiên đề cập đến đánh giá khả năng của đất cho QHSDĐ
Năm 1966, Hội đất học và Hội nông học Mỹ cho ra đời chuyên khảo về hướng dẫn điều tra đất, đánh giá khả năng của đất và ứng dụng trong QHSDĐ Ngoài ra còn một số chuyên khảo khác cũng ra đời đề cập đến “môi trường con người” trong đánh giá khả năng thích hợp của đất cho quy hoạch nông nghiệp và lâm nghiệp
Tại Đức, tài liệu “khái niệm về SDĐ khác nhau” đã được xuất bản bởi Haber (1972) được coi là lý thuyết sinh thái về QHSDĐ dựa trên quan điểm
Trang 22về mối quan hệ hợp lý giữa tính đa dạng của hệ sinh thái cũng như sự ổn định
của chúng với năng suất và khả năng điều chỉnh
Từ năm 1967 Hội đồng nông nghiệp Châu Âu đã phối hợp với tổ chức FAO tổ chức nhiều hội nghị về Phát triển nông thôn và QHSDĐ Các hội nghị đều khẳng định rằng quy hoạch các ngành sản xuất như nông nghiệp, lâm nghiệp, chế biến nhỏ… phải dựa trên cơ sở quy hoạch đất đai Năm 1969,
1975 các chuyên gia tư vấn họp tại Rome (Italia) và Geneve (Thụy Sỹ) để thảo luận về phương pháp luận quy hoạch nông thôn
1.2.1.2 Các nghiên cứu về phương pháp QHNLN cấp địa phương
Phương pháp QHNLN cấp địa phương có thể được khái quát bằng 2 cách tiếp cận chủ yếu: Tiếp cận từ trên xuống (Top –down Approach) và tiếp cận từ dưới lên (Botton-up Approach) Cách tiếp cận thứ nhất được hình thành từ khi có quy hoạch ra đời cho đến nay Cách tiếp cận thứ hai được hình thành khi các nhà xã hội học chứng minh rằng cộng đồng nông thôn có vai trò không thể thiếu trong lập kế hoạch và quản lý tài nguyên của cộng đồng Từ đây, thuật ngữ “Quy hoạch dựa vào cộng đồng” (community-based planning) bắt đầu xuất hiện
Gilmour (1997) đã phân biệt hai loại tiếp cận, đó là tiếp cận kinh điển (classical approach) và tiếp cận lấy người dân làm trung tâm (people’s centered approach) Những nghiên cứu của ông về quy hoạch và quản lý rừng cộng đồng ở Nepal chứng tỏ những ưu thế về tiếp cận mới trong xây dựng và thực hiện kế hoạch phát triển cộng đồng
Từ cuối những năm 1970, các phương pháp điều tra đánh giá cùng tham gia được nghiên cứu rộng rãi như: Đánh giá nhanh nông thôn (RRA), phương pháp quá trình sáng tạo, phân tích HTCT cho QHSDĐ vi mô vào những năm 1980 và đầu những năm 1990 của thế kỷ XX, những thử nghiệm các phương pháp RRA trong phát triển nông thôn và lập kế hoạch SDĐ được
Trang 23thực hiện trên 30 nước phát triển cho thấy ưu thế của các phương pháp này
trong lập kế hoạch lâm nông nghiệp cấp thôn bản
Luning (1990) lần đầu tiên nghiên cứu kết hợp đánh giá đất đai với phân tích HTCT cho QHSDĐ Năm 1994, FAO đã công bố quy trình kết hợp đánh giá đất đai với phân tích HTCT cho QHSDĐ (LEFA), hạn chế là đòi hỏi
hệ thống thông tin phân tích lớn, khó áp dụng cho quy hoạch địa phương Theo Erwin (1999), phân tích HTCT là công cụ cho phân tích các trở ngại trong hệ thống nông trại hộ gia đình để xác định mục tiêu quy hoạch, xác định các kiểu SDĐ hiện tại và phương pháp SDĐ mới, đánh giá phương án SDĐ khác nhau nhằm mục đích lựa chọn phương án một cách tốt nhất
1.2.1.3 Các nghiên cứu xây dựng quy trình QHSDĐ
FAO (1976) đã đề xuất cấu trúc khung QHSDĐ với 10 điểm chính Trong đó phân loại đánh giá và đề xuất các kiểu và dạng SDĐ được xét như là các bước chính trong quá trình quy hoạch
Năm 1980, Buchwald đề xuất quá trình quy hoạch 8 bước, trong đó có những nghiên cứu đánh giá về sinh thái và KTXH được đề cập tách biệt ở các bước khác nhau Điểm hạn chế này tạo nên sự thiếu tính liên ngành trong quy hoạch Maydell (1984) cho rằng 4 điểm chính trong quá trình QHNLN các nước nhiệt đới là: Phân tích xu hướng nghĩa là phân tích hiện trạng và phát triển; xác định mục tiêu và nhiệm vụ; phân tích phương pháp; tiến hành đánh giá Năm 1985, một nhóm chuyên gia tư vấn quốc tế được FAO thành lập nhằm xây dựng một quy trình QHSDĐ
Wikingson (1985) nghiên cứu QHSDĐ theo khía cạnh luật pháp, ông
đề nghị một hệ thống luật pháp thích hợp cần được phát triển nhằm mục đích: Cung cấp chính sách và mục tiêu rõ ràng của Nhà nước về đất đai, thiết lập các tổ chức SDĐ phù hợp, yêu cầu sử dụng theo quy trình kế hoạch và kỹ
Trang 24thuật, tăng cường sự thông hiểu về SDĐ và khuyến khích xây dựng cơ chế giám sát và cưỡng chế’’
Theo Purnell (1988), mục tiêu của QHSDĐ là thiết lập các kế hoạch thực tiễn có khả năng sử dụng tốt nhất các loại đất đai nhằm tăng sản xuất quốc gia, cải thiện đời sống, bảo vệ môi trường, đạt các lợi ích xã hội và giải trí 4 câu hỏi nền tảng của quy hoạch đất đai: Các vấn đề nào đang tồn tại và mục tiêu quy hoạch là gì? Có các phương án SDĐ nào? Phương án nào tốt nhất? Có thể vận dụng vào thực tế như thế nào?
Xem xét đến các khía cạnh riêng, có thể dẫn ra một số quy trình quy hoạch được nhiều chương trình, dự án áp dụng, theo Zimmermann (1989) tổ chức GTZ của Đức đưa ra và thử nghiệm quy trình quy hoạch tại nhiều nước, trong đó có dự án Lâm nghiệp xã hội Sông Đà của Việt Nam Quy trình này dựa trên quá trình phân tích tình hình, chuẩn đoán hiện trạng và phân tích mục tiêu (ZOPP) được sử dụng Năm 1987, Spitzer đề xuất các bước QHSDĐ đa mục tiêu, trong đó nhấn mạnh xác định mục tiêu và chọn phương pháp lập kế hoạch như sau: Chuẩn đoán trong thu thập thông tin và dự đoán cơ hội, tư vấn trong đánh giá, lập kế hoạch và điều phối, thực hiện trong điều phối và giám sát
1.2.2 Ở Việt Nam
1.2.2.1 Một số nghiên cứu về cơ sở lý luận và thực tiễn của QHSDĐ
Ở Việt Nam, các vấn đề về nghiên cứu đất đai, QHSDĐ đã được bắt đầu từ năm 1930, sau đó được hoàn thiện dần theo thời gian
Trong giai đoạn 1955 - 1975, công tác điều tra, phân loại đất đã được tổng hợp một cách có hệ thống trên toàn miền Bắc Nhưng đến sau năm 1975, các số liệu nghiên cứu về phân loại đất mới được thống nhất cơ bản
Xung quanh chủ đề phân loại đất đã có nhiều công trình khác nhau triển khai thực hiện trên các vùng sinh thái (Ngô Nhật Tiến, 1986, Đỗ Đình
Trang 25Sâm, 1994…) Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu trên mới chỉ dừng lại
ở mức độ nghiên cứu cơ bản, thiếu những để xuất cần thiết cho việc SDĐ Công tác điều tra phân loại đã không gắn liền với công tác SDĐ
Nhiều tác giả như Phạm Văn Chiểu (1964), Lê Trọng Cóc (1971), Bùi Huy Đáp (1977), Vũ Tuyên Hoàng (1987), Nguyễn Ngọc Bình (1987), Bùi Quang Toản (1991) đã đề cập tới vấn đề luân canh tăng vụ trồng xen, trồng gối vụ để sử dụng hợp lý đất đai Theo các tác giả trên thì việc lựa chọn hệ thống cây trồng trên đất dốc là rất thiết thực với vùng đồi núi Việt Nam
Trong giai đoạn trước năm 1993, QHSDĐ được thực hiện bởi tổ chuyên môn trong từng ngành Căn cứ vào định hướng phát triển kinh tế của nhà nước, nhiệm vụ phát triển kinh tế của từng địa phương mà có các quy hoạch tầm vĩ mô
TS Lê Sỹ Việt và TS Trần Hữu Viên (1999) đã đề cập đến việc quy hoạch lâm nghiệp cho các đơn vị thuộc cấp quản lý lãnh thổ và cấp quản lý sản xuất kinh doanh
TS Hà Quang Khải, Đặng Văn Phụ (1997) đã đưa ra khái niệm về hệ thống SDĐ và đề xuất một số hệ thống và kỹ thuật SDĐ bền vững trong điều kiện Việt Nam, đi sâu phân tích các vấn đề về hệ thống SDĐ bền vững, kỹ thuật SDĐ bền vững, chỉ tiêu đánh giá tính bền vững trong các hệ thống, kỹ thuật SDĐ
Chương trình tập huấn dự án hỗ trợ đào tạo lâm nghiệp xã hội của trường ĐH Lâm nghiệp theo phương pháp PRA đã phối hợp các chuyên gia trong và ngoài nước biên soạn tập tài liệu với những vấn đề chính: Các khái niệm và phương pháp tiếp cận trong quá trình thao gia; các phương pháp, công cụ PRA; tổ chức quá trình đánh giá nông thôn; thực hành tổng hợp
Chương trình hợp tác lâm nghiệp giữa Việt Nam và Thụy Điển (1991 1995) ở 5 tỉnh Tuyên Quang, Lào Cai, Yên Bái, Vĩnh Phú, Hà Giang (chương
Trang 26-trình FCP) với 5 dự án trang trại lâm nghiệp xã hội cấp trang trại tỉnh được thành lập trực thuộc Sở nông lâm nghiệp tỉnh (AFD) và một số dự án hỗ trợ khác như phổ cập, quản lý SDĐ, phát triển kinh doanh và nghiên cứu Chương trình này được coi là một cách tiếp cận có sử dụng phương pháp PRA hiệu quả Phương pháp luận về phổ cập của chương tình FCP chính là
"đánh giá nông thôn có sự tham gia của người dân và quản lý SDĐ" (PRALUM)
TS Trần Hữu Viên (1997) trong tài liệu tập huấn về QHSDĐ đã kết hợp phương pháp QHSDĐ trong nước và một số dự án quốc tế đang áp dụng tại một số vùng có dự án tại Việt Nam Tác giả đã trình bày về khái niệm và những nguyên tắc chỉ đạo QHSDĐ và giao đất có người dân tham gia
Đỗ Đình Sâm, Ngô Đình Quế, Vũ Tấn Phương (2005) đã xây dựng hệ thống đánh giá đất lâm nghiệp Việt Nam, nghiên cứu và áp dụng đánh giá đất lâm nghiệp ở Việt Nam với việc đánh giá tiềm năng sản xuất đất lâm nghiệp của vùng đồi núi, vùng ven biển, vùng ngập mặn và vùng chua phèn của đồng bằng sông Cửu Long, tổng hợp đánh giá tiềm năng sản xuất đất lâm nghiệp; đánh giá và phân chia lập địa trong lâm nghiệp cho các cấp vĩ mô, trung gian,
vi mô Cũng trong công trình nghiên cứu này, các tác giả đã xây dựng tiêu chí
và chỉ tiêu đánh giá đất lâm nghiệp cấp xã phục vụ cho công tác trồng rừng
Trần Hữu Viên (2005) đã tổng kết những nội dung cơ bản: Cơ sở lý luận của QHSDĐ gồm các khái niệm về đất đai và vai trò của nó đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người, nghiên cứu khái niệm về QHSDĐ, bản chất và quy luật phát triển của QHSDĐ QHSDĐ cấp vĩ mô nêu rõ vị trí, vai trò và căn cứ để lập QHSDĐ cấp vĩ mô, chi tiết những nội dung và trình
tự xây dựng QHSDĐ cấp vĩ mô QHSDĐ cấp vi mô gồm nội dung QHSDĐ cấp xã, phương pháp thực hiện các nội dung công việc trong QHSDĐ, QHSDĐ cấp vi mô theo phương pháp PRA
Trang 27TS Đoàn Công Quỳ (2006) đã xây dựng cơ sở khoa học của công tác QHSDĐ đất bao gồm những vấn đề chung về QHSDĐ, trình bày công tác điều tra cơ bản phục vụ QHSDĐ, vấn đề QHSDĐ đất cấp xã và đã đưa ra 3 bài tập về tổng hợp kết quả điều tra cơ bản, xây dựng bản đồ hiện trạng SDĐ
và bản đồ QHSDĐ, dự báo nhu cầu SDĐ phục vụ QHSDĐ cấp xã
TS Nguyễn Đình Hợi (2006) đã khái quát hóa vai trò của đất đai đối với sự phát triển của KTXH, trình bày và phân tích chế độ quản lý nhà nước
về đất đai ở nước ta, trình bày nội dung quản lý nhà nước một số loại đất, nêu
cơ sở lý luận chung về quy hoạch đất đai và nêu nội dung của QHSDĐ
Nhìn chung, các kết quả nghiên cứu của các tác giả trên cũng chính là những cơ sở lý luận và các phương pháp thực tiễn đã được chúng tôi kế thừa
có chọn lọc và áp dụng trong đề tài này
1.2.2.2 Các công trình nghiên cứu và quan điểm về QHNLN cấp xã Vào đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX, các vấn đề QHNLN cấp xã được nhiều tác giả đề cập và nghiên cứu Năm 1990, Tổng cục quản lý ruộng đất có ban hành bản hướng dẫn QHSDĐ vi mô theo thông tư số 106/ĐKTĐ Nhiều tỉnh thực hiên quy hoach vi mô theo hướng dẫn này Tuy nhiên khi triển khai
đã gặp những khó khăn do phương pháp chưa thống nhất Mặc dù vậy, quy hoạch vi mô cũng đã là tiền đề để thay đổi quan điểm về quy hoạch cấp xã trong những năm tiếp theo
Các nghiên cứu của Reichenberg (1992) và các nghiên cứu trong nước đều cho rằng Việt Nam chưa có QHSDĐ, quy hoạch nông nghiệp và lâm nghiệp cấp vi mô được xây dựng trên cơ sở xem xét mọi khía cạnh của tất cả các ngành trong tương lai Do vậy việc tiến hành QHNLN còn thiếu cơ sở để thực hiện
Trang 28Reichenberg (1992) khi khảo sát 5 tỉnh Trung tâm miền núi phía Bắc Việt Nam đã cho rằng quy hoạch vi mô ở Việt Nam được nghiên cứu để phát triển khái niệm quy hoạch cấp xã trên 4 khía cạnh:
- Phủ toàn bộ đất đai trong xã, nghĩa là QHNLN dựa trên QHSDĐ trên toàn bộ diện tích hành chính xã
- Phối hợp các kế hoạch và các hoạt động giữa các cơ quan Nhà nước, nghĩa là khi quy hoạch phải đề cập đến quy hoạch của các ngành do cơ quan quản lý nhà nước quản lý
- QHSDĐ phục vụ cho giao đất và cấp giấy chứng nhận để SDĐ tốt hơn, tạo điều kiện cho cộng đồng tiến hành quy hoạch PTSX nông nghiệp, lâm nghiệp, chăn nuôi, cơ sở hạ tầng
- Chuẩn bị và phê duyệt quy hoạch đất theo đúng luật định
Nguyễn Bá Ngãi (2001) cho rằng quan điểm QHNLN cấp địa phương nên theo các hướng sau:
- Tiến hành nghiên cứu và thực thi khả năng kết hợp QHNLN dựa vào chức năng SDĐ với đánh giá tiềm năng đất đai
- Rà soát và xem xét lại hệ thống chính sách nhằm hướng tới đa mục đích SDĐ bằng việc đa dạng hóa các hoạt động sản xuất trong mỗi bản quy hoạch của cộng đồng
- Gắn hai quá trình quy hoạch đất đai với giao đất và coi là hai bộ phân
có quan hệ chặt chẽ để làm cơ sở cho quy hoạch sản xuất nông lâm nghiệp ở mỗi địa phương, mỗi cộng đồng
- Nghiên cứu và thử nghiệm các phương pháp cùng tham gia trong quá trình quy hoạch phát triển nông lâm nghiệp, xác định và phân tích rõ các chủ thể trong QHNLN cấp xã
Vũ Văn Mễ và Desloges (1996) đã đưa ra một khái niệm mới là sự tham gia của người dân Các tác giả cho rằng điểm quan trọng là phải thu hút
Trang 29được người dân tham gia vào tất cả các giai đoạn trong quá trình QHSDĐ và giao đất lâm nghiệp ngay từ khi bắt đầu tùy phạm vi và mức độ theo nội dung hoạt động và giai đoạn tiến hành
1.2.2.3 Các nghiên cứu và thử nghiệm
Theo Nguyễn Văn Tuấn (1996) QHSDĐ được coi là nội dung chính và được thực hiện trước khi giao đất trên cơ sở tôn trọng tập quán nương rẫy cố định, lấy xã làm đơn vị để lập kế hoạch và giao đất, có sự tham gia tích cực của người dân
Năm 1993, nghiên cứu và thí điểm đầu tiên về QHSDĐ cấp xã được thực hiện ở xã Tử Nê, huyện Tân Lạc và xã Hang Kia, Pà Cò huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình do Dự án đổi mới chiến lược phát triển lâm nghiệp thực hiện Bản đánh giá về QHSDĐ xã Tử Nê cho thấy cần phải có một kết hoạch SDĐ chi tiết thì mới đáp ứng được yêu cầu, tránh được những mâu thuẫn trọng cộng đồng phát sinh sau quy hoạch
Chương trình Phát triển nông thôn miền núi Việt Nam - Thụy Điển giai đoạn 1996 - 2001 trên phạm vi 5 tỉnh Lào Cai, Bắc Giang, Hà Giang, Tuyên Quang và Phú Thọ đã tiến hành thử nghiệm công tác quy hoạch phát triển nông lâm nghiệp cấp xã trên cơ sở kế hoạch phát triển cấp thôn bản và hộ gia đình
Năm 1998, tỉnh Lào Cai đã xây dựng mô hình sử dụng PRA để tiến hành QHSDĐ, tỉnh Hà Giang đã xây dựng quy hoạch và lập kế hoạch SDĐ 3 cấp: xã, thôn và hộ gia đình Trong năm này trên vùng dự án đã có 78 thôn, bản được QHSDĐ và đã căn cứ vào nhu cầu và nguyện vọng của người SDĐ với cách tiếp cận từ dưới lên tạo ra kế hoạch có tính khả thi cao Tuy nhiên chưa tạo ra sự gắn kết chặt chẽ giữa chủ trương của Nhà nước với nhu cầu, nguyện vọng của cộng đồng trong phương án quy hoạch được xây dựng
Trang 30Vào những năm 1996, 1997, trong quá trình triển khai dự án quản lý nguồn nước hồ Yên Lập có sự tham gia của người dân tại Hoành Bồ, Quảng Ninh, Nguyễn Bá Ngãi đã thử nghiệm phương pháp PRA để quy hoạch lâm nông nghiệp cho 3 xã: Bằng Cả, Quảng La và Dân Chủ để xây dựng dự án cấp xã thôn Sau 3 năm thực hiện cho thấy, bản quy hoạch tương đối phù hợp với tình hình hiện tại Đây là cơ sở vững chắc cho lập kế hoạch tác nghiệp hàng năm, Một trong những hạn chế của dự án là do nghiên cứu về đất đai chưa đầy đủ trong phân tích HTCT dẫn đến việc lựa chọn cây trồng chưa thực
sự phù hợp
Vũ Văn Mễ và Desloges (1996) đã thử nghiệm phương pháp QHSDĐ
có người dân tham gia tại Quảng Ninh đồng thời đề xuất 6 nguyên tắc và các bước cơ bản trong QHSDĐ cấp xã là: Kết hợp hài hòa giữa ưu tiên của Chính phủ và nhu cầu, nguyện vọng của nhân dân địa phương; tiến hành trong khuôn khổ luật định hiện hành và các nguồn lực hiện có của địa phương, đảm bảo tính công bằng, chú ý đến cộng đồng các dân tộc miền núi, nhóm người nghèo và vai trò của phụ nữ, đảm bảo PTBV, đảm bảo nguyên tắc cung tham gia, kết hợp hướng tới mục tiêu phát triển cộng đồng Khi thử nghiệm phương pháp này cho các tỉnh Thừa Thiên Huế, Gia Lai và Sa Đéc đã cho thấy rằng quy hoạch cấp xã phải dựa trên tình trạng SDĐ hiện tại, tiềm năng sản xuất của đất, các quy định của Nhà nước và nhu cầu, nghĩa vụ của nhân dân
Năm 1996, trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm thực tiễn từ nhiều địa phương khác nhau, Cục Kiểm lâm đã cho ra tài liệu hướng dẫn “Nội dung trình tự tiến hành giao đất lâm nghiệp trên địa bàn xã” Dự án lâm nghiệp xã hội Sông Đà trên cở sở hướng dẫn này đã xây dựng phương pháp QHSDĐ và giao đất lâm nghiệp cấp xã của 2 huyện Yên Châu (Sơn La) và Tủa Chùa (Lai Châu) Trong đó cấp thôn bản đã được chọn là đơn vị quy hoạch phù hợp với
Trang 31đặc thù vùng cao Kết quả này cũng phù hợp với kết quả nghiên cứu xã hội và cộng đồng của Donovan (1997) ở miền Bắc Việt Nam
Nguyễn Bá Ngãi và nhóm tư vấn của Dự án khu vực lâm nghiệp Việt Nam -ADB (1999, 2000) đã nghiên cứu và thử nghiệm phương pháp xây dựng tiền dự án cấp xã Mục tiêu là đưa ra một phương pháp QHNLN cấp xã
có sự tham gia của người dân để xây dựng tiểu dự án lâm nghiệp cho 50 xã của 4 tỉnh Thanh Hóa, Gia Lai, Phú Yên và Quảng Trị
Nguyễn Bá Ngãi (2001) đã nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn cho quy hoạch phát triển lâm nông nghiệp cấp xã vùng Trung tâm miền núi phía Bắc Việt Nam Đề tài được tiến hành nghiên cứu điểm tại 3 xã là Tân Nguyên (huyện Yên Bình, Yên Bái), Thượng Long (huyện Yên Lập, Phú Thọ), Đức Ninh (huyện Hàm Yên, Tuyên Quang)
Trong nghiên cứu, tác giả đã đưa ra một số quan điểm và cơ sở lý luận cho nghiên cứu quy hoạch phát triển lâm nông nghiệp cấp xã như: Quan điểm duy vật biện chứng, quan điểm sinh thái - kinh tế - nhân văn; quan điểm quy hoạch phát triển tổng hợp và bền vững; quan điểm kết hợp giữa định hướng vĩ
mô của nhà nước với nhu cầu của người dân trong quy hoạch phát triển lâm nông nghiệp Phương pháp quy hoạch phát triển lâm nông nghiệp cấp xã là kết hợp các phương pháp đánh giá đất đai với phương pháp phân tích HTCT (FSA) để đánh giá tiềm năng đất đai, xây dựng bản đồ lập địa cấp xã, phân tích và lựa chọn hệ thống cây trồng, sử dụng hiệu quả phương pháp PRA trong nghiên cứu đề xuất phương án quy hoạch phát triển nông lâm nghiệp Tác giả cũng đã chỉ ra được trong tiến hành QHSDĐ cấp xã cần phải tiến hành phân chia 3 loại rừng và phân cấp phòng hộ
Trang 32Chương 2 MỤC TIÊU, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
2.1.1 Mục tiêu chung
Đầu tư xây dựng xã Lục Dạ để đến năm 2020 trở thành một xã đảm bảo đạt 19 tiêu chí nông thôn mới theo Quyết định 491/QĐ-TTg của Thủ Tướng Chính phủ
2.1.2 Mục tiêu nghiên cứu
- Phân tích, đánh giá tổng hợp điều kiện tự nhiên, hiện trạng kinh tế -
xã hội, hiện trạng xây dựng nông thôn của xã Lục Dạ
- Đề xuất quy hoạch không gian và hạ tầng kỹ thuật phục vụ phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn xã
2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đề tài nghiên cứu toàn bộ đất đai và hạ tầng kỹ thuật khu vực xã Lục
Dạ, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An
- Đối tượng qui hoạch: Qui hoạch hạ tầng và sản xuất để phát triển kinh
tế - xã hội nhanh chóng, bền vững theo yêu cầu Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới
- Phạm vi quy hoạch theo ranh giới hành chính xã Lục Dạ huyện Con Cuông tỉnh Nghệ An
2.3.Nội dung nghiên cứu
2.3.1 Nghiên cứu điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội xã Lục Dạ
2.3.2 Đánh giá thực trạng nông thôn theo xã Lục Dạ bộ Tiêu chí quốc gia
về nông thôn mới
Đánh giá thực trạng nông thôn theo bộ tiêu chí nông thôn mới gồm các tiêu chí sau:
Trang 33- Công tác quy hoạch (1 tiêu chí)
- Về Hạ tầng kinh tế - xã hội (8 tiêu chí)
- Kinh tế và tổ chức sản xuất (4 tiêu chí)
- Về văn hóa - xã hội - môi trường (6 tiêu chí)
2.3.3 Đánh giá thực trạng các chương trình, dự án đang thực hiện trên địa bàn xã
2.3.4 Quy hoạch xây dựng nông thôn mới xã Lục Dạ giai đoạn 2012– 2020
- Định hướng phát triển KTXH xã Lục Dạ
- Một số dự báo cơ bản
- Định hướng quy hoạch nông thôn xã Lục Dạ
-Quy hoạch phát triển sản xuất:
- Quy hoạch các giải pháp quy hoạch bảo vệ môi trường
- Nhu câu đầu tư và hiệu quả của phương án
- Nhu cầu đầu tư
- Hiệu quả của phương án
- Đề xuất các nội dung quy hoạch cần giải quyết hướng tới đạt bộ tiêu chí Quốc gia về Nông thôn mới
- Đề xuất giải pháp tổ chức thực hiện quy hoạch nông thôn mới
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp thu thập số liệu
2.1.1.1.Kế thừa tài liệu có sẵn
Thu thập các tài liệu, số liệu, các thông tin về điều kiện tự nhiên, kinh
tế, xã hội, hiện trạng sử dụng đất, các văn bản pháp luật của nhà nước và địa phương liên quan đến quy hoạch, tài liệu về định hướng phát triển kinh tế, xã hội của xã
2.4.1.2 Phương pháp điều tra thực địa kết hợp phỏng vấn bán định hướng
Trang 34Phương pháp này được tiến hành thông qua việc điều tra, khảo sát thực địa để xác minh hiện trạng sử dụng đất, hệ thống hạ tầng kỹ thuật, nhu cầu và nguyện vọng của người dân về đâu tư phát triển hệ thống hạ tầng, các công trình phục vụ sản xuất nông – lâm nghiệp…để làm căn cứ xây dựng phương án quy hoạch
- Dùng phương pháp cho điểm
2.4.1.3 Phương pháp chuyên gia
Phương pháp được sử dụng thông qua trao đổi lấy ý kiến của chuyên gia có kinh nghiệm trong lĩnh vực quy hoạch nông thôn, quy hoạch sử dụng đất, phát triển nông thôn…
2.4.1.4 Phương pháp dự báo tiềm năng cho phát triển và nhu cầu thị trường
Dự báo dân số trong tương lai và dự báo về nhu cầu sử dụng đất dựa trên cơ sở các chỉ tiêu phát triển của các ngành và dự báo mức tăng dân số trong tương lai
- Dự báo dân số
- Dự báo số hộ trong tương lai
- Dự báo số lao động trong tương lai
2.4.2 Tổng hợp và xử lý số liệu
2.4.2.1 Phương pháp xây dựng bản đồ
Xây dựng 2 loại bản đồ chính là:
Trang 35- Bản đồ hiện trạng tổng hợp xây dựng, sử dụng đất và hạ tầng kỹ thuật: trên cơ sở bản đồ địa chính kết hợp với các số liệu thống kê đất đai từ
2.4.2.2 Phương pháp phân tích tài chính, tính toán hiệu quả kinh tế
Căn cứ vào bảng tạm tính suất đầu tư để khái toán nhu cầu vốn xây dựng
nông thôn mới cấp xã và phân bổ nguồn vốn đầu tư giai đoạn 2012 - 2020
+ Xác định các dự án ưu tiên và suất đầu tư: Xác định danh mục các dự
án ưu tiên về các lĩnh vực giáo dục, thủy lợi, giao thông, văn hóa xã hội và suất đầu tư cho các hạng mục đầu tư xây dựng)
+ Dự tính nhu cầu đầu tư:
- Nhu cầu đầu tư cho xây dựng ưu tiên trên địa bàn xã
- Tổng nhu cầu đầu tư cho phát triển cơ sở hạ tầng, công trình văn hoá
xã hội và môi trường để hoàn thành các chỉ tiêu nông thôn mới của xã
+ Dự kiến phương án huy động vốn: Ước tính các nguồn vốn huy động
Trang 36Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội xã Lục Dạ
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
3.1.1.1 Vị trí địa lý
Lục Dạ là xã miền núi huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An cách trung tâm huyện lỵ khoảng 12 km về phía Nam – Tây Nam Trung tâm xã nằm cạnh đường huyện lộ đi Môn Sơn, đây là tuyến giao thông huyết mạch quan trọng nhất của xã
Tọa độ địa lý:
Từ 18o31’36’’ đến 19o10’30’’ vĩ độ Bắc
Từ 105o20’7’’ đến 105o27’31’’ kinh độ Đông
Ranh giới hành chính:
- Phía Bắc giáp xã Yên Khê
- Phía Nam giáp xã Môn Sơn
- Phía Đông giáp xã Môn Sơn và Huyện Anh Sơn
- Phía Tây giáp hai xã Môn Sơn và Yên Khê
3.1.1.2 Địa hình địa mạo
Xã Lục Dạ có địa hình đồi núi và nghiêng dần từ Tây sang Đông, nằm trên đồi núi cao từ phía tây sang đông Mạng lưới giao thông đường bộ kết hợp với hệ thống thuỷ lợi tạo thành sự phân cách đồng ruộng thành nhiều vùng
3.1.1.3 Khí hậu thời tiết
Lục Dạ nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa và có chung đặc điểm của vùng Bắc Trung Bộ
- Chế độ nhiệt: Có hai mùa rõ rệt, mùa nóng từ tháng 4 đến tháng 9, tháng nóng nhất tháng 7, nhiệt độ cao tuyệt đối 41,10C Mùa lạnh từ tháng 10
Trang 37đến tháng 3 năm sau, nhiệt độ thấp tuyệt đối 60C, nhiệt độ trung bình năm là 23,70C,Chế độ mưa: Lượng mưa bình quân hàng năm 1.823mm Trong năm lượng mưa phân bố không đều, chủ yếu tập trung vào 3 tháng 8, 9, 10 thường gây lũ lụt Lượng mưa thấp nhất từ tháng 1 đến tháng 3 chỉ chiếm khoảng 10% lượng mưa cả năm
- Chế độ gió: Có hai hướng gió chính
+ Gió mùa Đông bắc thổi từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, khi gió về thường mang theo giá rét
+ Gió gió lào thổi từ tháng 4 đến tháng 9, thường kéo theo hiện tượng khô nóng và hạn hán
- Độ ẩm không khí bình quân năm 85%, cao nhất trong năm trên 90%, thấp nhất trong năm 70% Lượng bốc hơi bình quân năm 943 mm, lượng bốc hơi trung bình của các tháng nóng là 140 mm (tháng 5 đến tháng 9), của những tháng mưa là 61 mm (tháng 9 đến tháng 11)
Đặc trưng khí hậu là: Biên độ nhiệt giữa các tháng trong năm lớn, chế
độ mưa tập trung trùng với mùa bão, mùa nắng nóng có gió Tây nam (gió Phơn) khô nóng, mùa lạnh có gió mùa Đông bắc giá hanh biểu hiện rõ đặc điểm của khí hậu nhiệt đới gió mùa
Với đặc điểm khí hậu thời tiết nêu trên, cần bố trí tập đoàn cây trồng,
cơ cấu thời vụ thích hợp, né tránh các yếu tố bất thuận, tăng cường bảo vệ đất kết hợp với sử dụng nhiều biện pháp tổng hợp để nâng cao độ phì nhiêu cho đất
Trang 38- Nguồn từ đập các con khe khác của xã:
+ Khe Yên Hòa, + Khe Sú
+ Khe Cá…
Các Đập này tưới chưa đảm bảo nhu cầu nước cho sản xuất nông nghiệp
Hệ thống tiêu nước chủ yếu theo hướng chính:
- Nguồn tiêu chính của xã qua hệ thống kênh tiêu nhánh đổ về khe Mọi tiêu xuống sông Giăng ra sông Lam
3.1.1.5 Các nguồn tài nguyên
* Tài nguyên đất
Theo tài liệu thổ nhưỡng Nghệ An, kết hợp với điều tra khảo sát cho thấy: Trong tổng diện tích tự nhiên 12.275,65 ha, ngoại trừ 104,46 ha đất chưa sử dụng, đất mặt nước chuyên dùng, ao hồ, phần diện tích còn lại được phân thành các nhóm thổ nhưỡng chính sau:
- Đất feralít phát triển trên núi nền đá mẹ fiến thạch sét 10.892,37 ha
- Đất phù sa không được bồi, không có glay hoặc glay yếu, thịt trung bình, phủ trên nền thịt nặng hoặc sét 287,92 ha chiếm 2,35% diện tích tự nhiên thâm canh và chuyển đổi cơ cấu cây trồng trong thời gian qua nên mức
độ glay ngày càng giảm
Trang 39phong phú về chủng loạ nhưi Khỉ, Nhím, Hoãng Tạo thành một hệ sinh thái được đánh giá có khả năng đưa vào khai thác du lịch rất tốt
* Tài nguyên nước
Với lợi thế là xã có lưu vực khe Sú với chiều dài 9 km hơn nữa địa hình lại có nhiều khe suối khác; Mực nước ngầm trung bình 5 -7 m, nhìn chung khá phong phú Độ ẩm của đất lớn đảm bảo nhu cầu cho cây cối phát triển Chất lượng nước ngầm tốt đảm bảo cho sinh hoạt và khai thác để phục vụ nguồn nước tưới, tiêu cho cây trồng vật nuôi quanh năm
* Tài nguyên khoáng sản
Tuy khoáng sản không phải là thế mạnh của xã, song tài nguyên khoáng sản trên địa bàn xã cũng chiếm tỷ trọng đáng kể Những núi đá vôi cung cấp nguồn vật liệu xây dựng vô tận đây là tiềm năng được thiên nhiên
ưu đãi
* Tài nguyên nhân văn
Con người Lục Dạ nói riêng cũng như Con Cuông nói chung từ xa xưa giàu truyền thống cách mạng dân tộc, cần cù, đoàn kết, nghị lực Tất cả những đức tính tốt đẹp ấy được gìn giữ và phát huy cho đến ngày nay Với dân số 7.443 người, trong đó gần một nửa trong độ tuổi lao động đã tạo nguồn nhân lực dồi dào cho địa phương
Trong công cuộc xây dựng và phát triển nông thôn mới, nhân dân xã Lục Dạ đã nhiệt tình hưởng ứng chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về các cuộc vận động xoá đói, giảm nghèo, kế hoạch hoá gia đình, phong trào xây dựng nông thôn mới và áp dụng Kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất nông lâm nghiệp
Trang 403.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội
- Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên của xã là 1.0%
- Tổng số lao động trong các nghành kinh tế của xã là 2.278 người, trong đó:
+ Lao động nông nghiệp có 1.732 người (chiếm 76%)
+ Lao động phi nông nghiệp 546 người (chiếm 24%)
Hàng năm xã đã có nhiều cố gắng trong việc phát triển đa dạng các loại hình lao động trong thời gian nông nhàn, đặc biệt các nghề xây dựng cho thu