1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật trồng cây tai chua (garcinia cowa roxb) để lấy quả tại huyện tân lạc, tỉnh hòa bình

82 252 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 3,96 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo Quyết định số 319 QĐ - UBND ngày ngày 1/2/2008 của Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa Về việc phê duyệt danh lục loài cây gỗ mục đích trong rừng phòng hộ, sản xuất và tiêu chí rừng tự nhi

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP

HOÀNG HẢI TRIỂU

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT

TRỒNG CÂY TAI CHUA (Garcinia cowa Roxb) ĐỂ LẤY QUẢ

TẠI HUYỆN TÂN LẠC, TỈNH HÒA BÌNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP

HÀ NỘI, 2012

Trang 2

ĐẶT VẤN ĐỀ

Lâm sản ngoài gỗ (LSNG) là nguồn tài nguyên có giá trị đặc biệt của rừng

Từ lâu đời nguồn tài nguyên này đã thể hiện vai trò quan trọng đối với đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của người dân Ngày nay, cùng với sự gia tăng mạnh mẽ của dân số và phát triển kinh tế, nhu cầu sử dụng các sản phẩm LSNG ngày càng gia tăng, vị trí và vai trò của LSNG ngày càng được chú trọng

Việt Nam, với nguồn tài nguyên thực vật nhiệt đới vô cùng đa dạng và phong phú, có nhiều loài cây cho LSNG có giá trị kinh tế cao đang được gây trồng và phát triển trên khắp các vùng sinh thái Nhiều loài cho giá trị thương mại lớn và nổi tiếng như Trầm hương, nhựa Thông, Cánh kiến,… Bên cạnh đó cũng có rất nhiều loài vốn đã rất quen thuộc nhưng cũng rất có giá trị và gắn bó từ ngàn đời nay với người dân và hiện đang có nhu cầu phát triển mạnh như cây Tai chua

Tai chua (Garcinia cowa Roxb) là cây gỗ trung bình, cao 15 – 16m, đường

kính 30 - 50 cm, thân thẳng, thường có nhiều u lồi Gỗ Tai chua thuộc gỗ nhóm V,

gỗ có màu trắng, cứng, thớ thô được dùng trong xây dựng, đóng đồ đạc trong gia đình Tai chua là loài cây bản địa đa tác dụng, vừa cho sản phẩm gỗ, vừa cho sản phẩm LSNG như quả, nhựa, cành lá non, nên là loài cây rất thân thuộc với người dân nước ta Thông thường nhất, Tai chua được biết đến là loài cây cung cấp quả có

vị chua, làm gia vị cho nhiều món ăn truyền thống trong bữa ăn của người dân Đáng chú ý hơn, Tai chua còn được nhân dân ta sử dụng để làm thuốc như thân, lá, nhựa có vị đắng, chát, tính mát, có ít độc, có tác dụng sát trùng (trong y học cổ truyền); vỏ quả Tai chua sắc uống chữa sốt, khát nước, trị kiết lị; chất chua trong vỏ quả (acid citric) dùng làm chất cắn màu trong kỹ nghệ nhuộm tơ lụa, làm bóng đồ vàng bạc, Cùng với sự tiến bộ của khoa học hiện đại, nhiều loại acid và chất hóa học trong vỏ quả, thân, cành, lá cây Tai chua được phát hiện và chiết suất, trong đó

có nhiều chất có tác dụng đặc biệt dùng trong các loại thuốc biệt dược

Huyện Tân Lạc là một huyện nghèo miền núi thuộc tỉnh Hòa Bình với tổng diện tích đất tự nhiên là 53.204,75 ha, trong đó đất có khả năng sản xuất lâm nghiệp

là 27.947,49 ha (chiếm 52,53% đất tự nhiên của huyện) Đây là một trong những

Trang 3

huyện của tỉnh Hòa Bình có cây Tai chua phân bố tự nhiên, quả Tai chua từ lâu đã trở thành một món ăn truyền thống không thể thiếu đối với người dân trong vùng Hiện nay, nhu cầu gây trồng Tai chua lấy quả trong thực tiễn là rất lớn, đặc biệt là những giống cho năng suất cao và nhanh thu hoạch Cây Tai chua được coi là một loài cây bản địa có tiềm năng cao trong việc góp phần tăng thu nhập, xóa đói giảm nghèo cho người dân trên địa bàn huyện Tân Lạc Tuy nhiên, cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc gây trồng và phát triển cây Tai chua ở nước ta thì chưa nhiều, chủ yếu mới tập trung vào mô tả đặc điểm hình thái, phân bố; gần đây cũng đã có một

số tài liệu hướng dẫn kỹ thuật gây trồng Tai chua nhưng còn khá sơ sài, chưa đáp ứng được nhu cầu đòi hỏi của thực tiễn sản xuất hiện nay

Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn đó, đề tài: “Nghiên cứu một số biê ̣n pháp kỹ thuật trồng cây Tai chua (Garcinia cowa Roxb) để lấy quả tại huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình” là thực sự cần thiết và có ý nghĩa

Luận văn này là một phần nội dung của đề tài cấp cơ sở “Nghiên cứu kỹ thuật gây trồng cây Tai chua (Garcinia cowa Roxb) để lấy quả” giai đoạn 2007 –

2010 do Trung tâm Ứng dụng Khoa học Kỹ thuật Lâm nghiệp thuộc Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam làm chủ trì thực hiện và tác giả là cộng tác viên chính của đề tài Được sự đồng ý của Chủ nhiệm đề tài, tác giả đã kế thừa các số liệu có liên quan và điều tra bổ sung một số nội dung để phát triển và hoàn thiện thêm trong khuôn khổ luận văn thạc sĩ khoa học

Trang 4

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới

1.1.1 Phân loại, tên gọi và đặc điểm hình thái

Tai chua có tên khoa học là Garcinia cowa Roxb, thuộc họ Bứa

(Cluisiaceae), tên được biết đến là cây cow tree Ở Trung Quốc cây còn có tên khoa

học khác là Garcinia roxburghii Wight; G wallichii Choisy; Oxycarpus gangetica Buchanan-Hamilton [34] Ở Bangladesh cây có thêm tên khoa học là Garcinia kydia

b (M Sujayef Ullah Chowdhury, 1995) [26] Tên một số địa phương thường dùng như Kau, Kaglichu Ở Thái Lan cây được gọi là Chenkek (N Rai, B.S Asati, R.K Patel, K.K Patel and D.S Yadav, 1973) [28] Việc được nhận biết bằng nhiều tên tên gọi khác nhau chứng tỏ đây là loài cây có phân bố rộng và được sử dụng nhiều

trong cuộc sống Tên gọi Garcinia cowa Roxb là danh pháp chính được sử dụng

trong hầu hết các tài liệu nghiên cứu, đây được coi là danh pháp khoa học chính của Tai chua

Về phân loại và mô tả hình thái, theo Yun Shu [34], Tai chua là cây gỗ cao 8

- 12m, đường kính 15 - 20 cm, vỏ màu nâu đen Cây có nhiều cành, cành thường mảnh, nằm ngang và rủ xuống, cành con màu nâu đen có vằn sọc Cuống lá dài 0,8 - 1,5 (-2 cm); phiến lá hình mũi giáo hoặc thuôn mũi giáo, kích thước 6 - 14 x 2- 5

cm, mỏng, gân chính nổi rõ, gân thứ cấp 12 - 18 đôi, ra gần mép lá, gân cấp 3 dễ nhận thấy ở cả 2 mặt

Theo M Sujayef Ullah Chowdhury (1995) [26] thì Tai chua là một trong những cây cho quả ăn được có trong rừng ở Bangladesh Tai chua là cây cao, vỏ nhẵn, cành rủ xuống và rỉ nhựa mủ màu vàng Quả Tai chua được mô tả có màu nâu

đỏ nhạt như màu mơ chín và có kích thước gần bằng quả cam

Việc phân loại và mô tả kỹ lưỡng về đặc điểm hình thái, tên gọi là cơ sở để phân biệt Tai chua với các loài khác cùng chi với nó, là cơ sở khoa học quan trọng cho các hoạt động nghiên cứu và phát triển cây Tai chua

Trang 5

1.1.2 Đặc điểm sinh lý, sinh thái và phân bố

Tai chua có phân bố tự nhiên ở vùng ôn đới Châu Á như Vân Nam (Trung Quốc), vùng nhiệt đới châu Á như: vùng tiểu lục địa Ấn Độ: Bangladesh; India - Assam, Bihar (Himalayas), Meghalaya, Nagaland, Orissa, Sikkim, Tripura, Đông Bengal; phía Bắc Ấn Độ dương như Andaman và Nicobar; vùng Đông Dương như Cambodia; Laos; Myanmar; Thailand; Vietnam Ngoài ra Tai chua còn được gây trồng ở các vùng khác Một số tài liệu khác lại cho rằng Tai chua có phân bố ở Châu Đại Dương và Châu Á, ở các nước như Brunei, Fiji (Polynesia), Indonesia, Malaysia, Philippines

Theo M Sujayef Ullah Chowdhury (1995) [26] thì cây phân bố ở vùng Chittagong, Chittagong Hill Tracts, Sylhet của Bangladesh Theo H ZHU, 1998 [20] thì danh lục thực vật trong rừng mưa nhiệt đới ở khu bảo tồn thiên nhiên Caiyanghe - simao - Vân Nam có 29 loài cây gỗ, trong đó tần suất xuất hiện Tai chua là 5,08%

Tình trạng hạt ngủ và cách cất trữ hạt giống Tai chua đã được nghiên cứu khá tỉ mỉ ở Trung Quốc Hạt Tai chua có thể ngủ 8 - 11 tháng ngoài môi trường tự nhiên Hạt chín và phân tán vào cuối mùa mưa (trung tuần tháng 8 đến cuối tháng 11) và được rải rác, phân tán bởi động vật như thức ăn cho mùa đông sau khi hạt rơi xuống đất Hạt giống thường xuất hiện trong rừng trong suốt mùa mưa (tháng 5 đến tháng 8 năm sau)

Độ ẩm trong hạt giống tai chua khá cao, chiếm 50% trọng lượng tươi của hạt vừa mới rơi xuống Hạt giống có thể chịu đựng sự sấy khô tới một mức độ nhất định, đến khi độ ẩm đạt được khoảng 40% Ở mức thấp hơn, khả năng sống được bị giảm sút nhanh chóng và tất cả hạt sẽ chết ở độ ẩm hạt 17% Sức sống của hạt bị giảm sút nhanh chóng khi bị lạnh ở 40C, khi đó sự nảy mầm là 2% sau khi cất trữ 1 tuần Thậm chí bảo quản ở 100C hạt giống bắt đầu bị hỏng sau 4 tuần Việc cất trữ hạt giống cho 1 năm đã cho thấy trong cả 2 độ sấy khô (độ ẩm 35 ± 5%) và độ ẩm của cát, khả năng sống sót của hạt giảm đi Nhưng tỷ lệ nảy mầm của lô hạt ở dưới

Trang 6

điều kiện độ ẩm là tốt hơn ở dưới điều kiện khô Nguyên nhân là do dung sai sức chịu đựng sấy khô nhỏ, sự nhạy cảm với độ lạnh rõ rệt và sự sống không tồn tại lâu

1.1.3 Giá trị sử dụng

Nghiên cứu về khả năng và giá trị sử dụng Tai chua trên thế giới được tiến hành khá toàn diện Từ việc sử dụng sản phẩm làm thức ăn phục vụ cho cuộc sống hàng ngày đến việc sản xuất các sản phẩm hàng hóa như dầu gội đầu, đặc biệt là chiết suất các chất hóa học phục vụ cho y học sản xuất các thuốc chữa bệnh ung thư, lở loét,… Các bộ phận như lá non, thân cây, vỏ quả đều được nghiên cứu sử dụng

Ở vùng phía Đông Ấn Độ, quả được dùng để ăn nhưng không ngon Trong quả cũng có một số acid, đem lại một cảm giác thú vị Ở Burma, quả cũng được dùng để ăn Hàm lượng dinh dưỡng trong vỏ quả Tai chua được xác định gồm 1,9% protein, 0,027% canxi, 0,0011% sắt và 29% vitamin C (Suttira Khumgratok, Komgrit Wongpakam, Wanna Kanchanamayoon, 1975) [32] Theo Yun Shu thì quả Tai chua chín có thể ăn được, hạt chứa 9% dầu [34] Ở Myanmar và Thái Lan, người ta dùng lá và thân non Tai chua để nấu ăn Tại Ấn Độ, quả được dùng làm thuốc chữa bệnh đau đầu, đau dạ dày và bệnh lỵ

Nghiên cứu chiết tách các chất hóa học từ Tai chua đã đạt được nhiều thành quả có giá trị Đặc biệt Các nhà khoa học trung quốc đã phát hiện chất Dulxanthone A chiết suất từ Tai chua có khả năng chống lại quá trình ung thư [35] Đây là một phát hiện rất quan trọng, nó mở ra một hướng nghiên cứu cho việc chống lại căn bệnh nguy hiểm đang đe dọa nhân loại hiện nay

Theo Jena BS, Jayaprakasha (2002) [17] nghiên cứu về khả năng chiết suất acids hữu cơ từ cây Tai chua thấy rằng từ lá, quả và vỏ của cây Tai chua đều có thể chiết suất được acids hữu cơ với các thành phần chính như Hydroxycitric acid, oxalic và citric acids là những thành phẩm quan trọng trong y dược Citric acids chiết suất từ Tai chua được dùng làm chất cắn màu trong kỹ nghệ nhuộm tơ lụa, làm bóng đồ vàng bạc (Human Resource Development, central Food Technological Research Institute, Mysore - 570013, India) Axit hữu cơ trong lá tươi, quả tươi và

Trang 7

vỏ quả Tai chua sấy khô đã được xác định bằng phép ghi sắc chất lỏng Lá tươi, quả và vỏ khô được chiết suất với nước ở 1200C trong thời gian 20 - 30 phút dưới

áp suất 15 lbs/in2 Ngoài ra vỏ quả khô được chiết suất với dung môi (acetone and methanol), sử dụng một máy chiết, ép ở 600C trong thời gian 8h Mẫu được bơm vào HPLC dưới 0,01 M với sự chênh lệch nồng độ phép tách rửa với axit photphoric và methanol với tốc độ dòng chảy 0,7 ml/min sử dụng sự tách sóng UV

ở 210 nm Các axit chính được tìm thấy là hydroxycitric có trong lá, quả, và vỏ quả với tỷ lệ 1,7; 2,3 và 12,7%; tách biệt lần lượt axit Hydroxycitric, axit oxalic, axit citric có trong lá, quả và vỏ quả với số lượng ít [17]

Các nhà khoa học đã phát hiện ra có 5 loại nhựa riêng biệt từ Tai chua, bao gồm: cowanin (1), cowanol (2), cowaxanthone (3), 1,3,6-trihydroxy-7-methoxy- 2-5-bis(3-methyl-2-butenyl)xanthone (4), and norcowanin (5) Cấu trúc của chúng được nghiên cứu bằng kính quang phổ Trong các loại chất trên thì cowanol (2) và cowaxanthone (3) có tác dụng điều hòa chống lại vi trùng khuần tụ cầu Bên cạnh

đó một số nhà khoa học khác cũng đã xác định có 3 flavanone glycosides mới có tên là garccowaside A, garccowaside B, garccowaside C và 3 hợp chất khác riêng biệt được chiết từ thân cây Tai chua, cấu trúc của các hợp chất này được xác định trên nền tảng vết tích trên kính quang phổ Có 12 hợp chất từ thân cây Tai chua được kiểm chứng bằng hoạt động của cytotoxic (Shen J, Tian Z, Yang JS, 1999) [31]

Tai chua là loài có phân bố rộng ở Thái Lan, vì vậy nghiên cứu về khả năng

sử dụng Tai chua ở đây rất được quan tâm Nó được sử dụng như một vị thuốc dân gian với những mục đích khác nhau (C Yapwattanaphun, S Subhadrabandhu, A Sugiura, K Yonemori, N Utsunomiya., 2002) [18] Vỏ cây được sử dụng làm thuốc

hạ sốt và thuốc sát trùng Nhựa cây được sử dụng như tác nhân chống rung tim (Na Pattalung et al, 1994) [29] Một vài đặc tính dược lý của quả xanh được triết từ lá như đẩy mạnh chất chống ung thư (Murakami et al,.1995) [27],…Khi nghiên cứu nhựa mủ và vỏ cây, khám phá ra sự có mặt của chất nhựa có tên là cowaxanthone, cowanin, cowanol, 1, 3, 6 trihydroxy -7-methoxy-2,5 bis(3 - methyl-2 butenyl)

Trang 8

xathone, β- mangostin, 7-methylgarcinone E và norcowanin Một trong số các hợp chất làm thuốc chống sốt rét và chống vi trùng (Krahn, 1968) [21] Lee and Chan,

1977 [23] Na Pattalung et al, 1994 [29] Likhitwitayawuid et al, 1997, 1998) [24], [25]

Ở Thái Lan, cả quả và cành non đều có thể ăn được, nó chứa đựng nhiều vitamin A và C (Froukje Kruijssen, Associate Scientist, 2005) [19] Lá Tai chua cũng là một trong những thành phần để sản xuất dầu gội đầu, lá cây được người dân thu hái từ rừng tự nhiên và từ vườn nhà, thường là các lá non Khi cây trở nên quá cao để thu hoạch, cây có thể bị cắt nửa hoặc trồng cây mới Sản phẩm cuối cùng được đóng hộp bán cho cửa hàng địa phương và các siêu thị ở Bangkok Sản phẩm

Moochamung mà cơ sở là lá Tai chua đã trở thành một nguồn thu nhập bổ sung

quan trọng với phụ nữ Tính trung bình thu nhập của người làm công là 3 đôla/ngày

Ngoài các sản phẩm ngoài gỗ, gỗ Tai chua cũng có nhiều tác dụng Nó được

sử dụng để đóng tàu thuyền, xây dựng, ván sàn, đồ dùng gia đình, nội thất trang trí,

đồ gỗ, cọc (sào), tay vịn, đồ tiện, xà (rầm), xây dựng nhà cửa, đóng xuồng, ghế, hòm (rương), khuôn bê tông, sàn tàu, bàn, đồ dùng phòng ăn, sàn nhà, tủ quần áo,…

Theo Laskar, 2002 [22] thì Sự mất đi của nhiều loài quan trọng như Tai chua

đã ảnh hưởng không nhỏ tới cuộc sống ở nông thôn Bangladesh Sự mất đi của một

số hoa quả thứ yếu như, Tai chua không chỉ lấy đi những vitamin cần thiết và dinh dưỡng cần cho sự sống mà còn cả những cơ hội công việc, hoạt động tìm kiếm, chế biến và buôn bán chúng ở địa phương

1.1.4 Chọn, tạo giống và biện pháp kỹ thuật trồng rừng Tai chua

Hạt giống còn nguyên vẹn bắt đầu nảy mầm sau khi gieo ở 300C trong thời gian 120 ngày, cây con trong vườn ươm cần che bóng 50% trong thời gian 252 ngày Biện pháp phá ngủ có hiệu quả cao nhất là bóc hoàn toàn vỏ hạt, làm giảm thời gian xuống 13 ngày ở 300C Sự nảy mầm được xúc tiến bằng việc bóc bỏ một phần vỏ hạt (cắt xén rốn hạt và bóc trần rễ mầm) và tác động của chất hóa học (ngâm trong nước H202 1% trong 1 ngày) Nếu không giải phẫu, hạt đưa nước vào

Trang 9

nhanh chóng trong 96h đầu tiên, nhưng nước bị hấp thu bởi vỏ hạt mà không thấm qua nó

1.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam

1.2.1 Phân loại, tên gọi và đặc điểm hình thái

Ở nước ta, cây Tai chua đã được mô tả khá kỹ về đặc điểm hình thái Theo

tài liệu Lâm sản ngoài gỗ Việt Nam [8] thì cây Tai chua có tên khoa học là Garcinia cowa Roxb., 1832; ngoài ra cây còn có tên đồng nghĩa khác là Garcinia pendunculata Roxb Ex Buch - Ham.,1832 thuộc họ Bứa (Măng cụt) Cluisiaceae

Ngoài tên gọi Tai chua thông thường, ở một số địa phương, cây còn có tên gọi khác

là Bứa cọng

Theo Phạm Hoàng Hộ (1999) [11] thì Tai chua là cây đại mộc cao đến 18 m,

vỏ xám đen, nhánh không lông Lá có phiến bầu dục thon, kích thước 7 - 12 x 3 - 5

cm Hoa đực chụm 3 - 8 ở chót nhánh; cánh hoa dài bằng 2 lá đài; tiểu nhụy nhiều Hoa lưỡng phái cô độc; tiểu nhụy thành 4 nhóm, nuốm hình ngôi sao 4 - 8 tia Trái màu cam, có 4 - 8 rãnh dọc, tử y chua Ngoài tai chua ra, tác giả cũng đã miêu tả 28 loài khác thuộc chi Garcinia L., trong đó có nhiều loài cũng có tên Tai chua và có vị

chua như Garcinia cochinchinensis (Lour.) Choisy (Bứa nhà, Tai chua), quả bì chua

dùng nấu canh, hạt chua ngọt, phân bố từ Quảng Trị trở vào, loài cây này được Trần

Hợp [12] gọi là Tai chua nam để phân biệt với tên Tai chua (Garcinia cowa Roxb)

Cũng theo Trần Hợp [12], Tai chua là cây gỗ trung bình, cao 15 - 16, đường kính 30 - 50 cm, thân thẳng, thường có nhiều u lồi Cành nhiều, nhỏ, mọc ngang và hơi rủ xuống Tán lá tròn đều, cây có nhựa mủ vàng Lá đơn mọc đối, dài 7 - 17 cm, rộng 2,5 - 7 cm hình trứng ngược Đầu lá tù có mũi lồi ngắn, đôi khi nhọn, gốc hình nêm, phiến cứng Gân lông chim nổi rõ ở cả 2 mặt, gân bên nhỏ, 15 đôi, xếp song song đều đặn và nối với nhau ở sát mép Cuống lá dài 2 cm Về kích thước của cây, cũng có một số tài liệu mô tả hơi khác một chút như: cây cao 20 - 30 m, đường kính

40 - 80 cm [8] Cẩm nang ngành lâm nghiệp [2] xếp Tai chua là LSNG cho quả thuộc nhóm 2 được dùng trong phạm vi toàn quốc

Trang 10

Đặc điểm hình thái loài Tai chua cũng được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu Theo Trần Hợp [12] thì Tai chua có cụm hoa lưỡng tính gồm 1 đến 2 hoặc 3 hoa ở nách lá gần như không cuống Cánh đài 4, cánh tràng 4, nhị đực hợp thành 4

bó, mỗi bó có 1 - 8 bao phấn, bao phấn 4 ô Bầu thượng 6 - 9 ô, đầu nhụy xẻ 4 - 8 thùy Võ Văn Chi [6] cho biết hoa đực Tai chua xếp 3 - 8 hoa thành tán ở ngọn nhánh, cánh hoa dài bằng hai lá đài; nhị nhiều Hoa lưỡng tính đơn độc, nhị thành 4 nhóm; bầu trên có 6 - 9 ô với đầu nhụy xẻ 4 - 8 thùy Quả thịt hình cầu chia thành múi, vỏ quả dày, trong đỏ, ngoài vàng, có 6 - 8 hạt, có áo Áo hạt chua, ra hoa tháng 3 - 4, quả tháng 7 - 8 [2]

Hoa tạp tính, hoa đực xếp 3 - 8 hoa thành tán ở ngọn nhánh, cánh hoa dài bằng 2 lá đài, nhị nhiều Hoa lưỡng tính, đơn độc; nhị thành 4 nhóm, bầu trên 6 - 9

ô, với đầu nhụy xẻ 4 - 8 thùy Quả thịt hình cầu, hơi dẹt, kích thước to hơn quả cam sành, đường kính 8 - 12 cm chia thành múi, vỏ quả màu vàng da cam, thịt quả rất dày màu đỏ nhạt hay hồng, có 6 - 8 hạt, mang áo hạt [8]

Theo Quyết định số 10/2004/QĐ-BNN, ngày 01 tháng 4 năm 2004 của Bộ

trưởng Bộ Nông nghiệp và PTNT Về việc ban hành tiêu chuẩn ngành lĩnh vực công nghiệp rừng [1] thì cây Tai chua (Garcinia cowa Roxb) có tên thương mại là

Kandis (quốc gia thường dùng là Malaixia), có gỗ giác và lõi màu vàng trắng đục,

gỗ có khối lượng riêng 875 kg/m3, hệ số co rút thể tích là 0,71, giới hạn bền khi uốn tĩnh là 127 và giới hạn bền khi nén dọc thớ là 76 kG/Cm2 Như vậy việc sử dụng tên khoa học, tên thương mại của Tai chua đã được cụ thể hóa trong các văn bản pháp quy, được sử dụng thống nhất trong phạm vi cả nước Đây là điều kiện thuận lợi cho việc nhận biết, lưu thông sản phẩm từ cây Tai chua

1.2.2 Đặc điểm sinh lý, sinh thái và phân bố

Hiện nay ở nước ta chưa có công trình nghiên cứu cụ thể nào về đặc điểm sinh lý, sinh thái cây Tai chua Các kết quả mới chủ yếu dừng lại ở việc mô tả sơ bộ

về phân bố địa lý, một số trạng thái rừng thường có Tai chua xuất hiện,… cụ thể như sau:

Trang 11

Theo Trần Hợp [12] thì Tai chua là loài cây ưa sáng, sinh trưởng nhanh, thường mọc ở ven rừng rậm ẩm nhiệt đới, hoặc trong rừng thưa, ưa đất sâu, thoát nước Cây có khả năng tái sinh hạt dễ dàng, thường được nhân dân trồng quanh nhà

để lấy quả ăn Mùa ra hoa vào tháng 4 -5, mùa quả vào tháng 8 - 9

Võ Văn Chi (1997, 2004), Lê Mộng Chân, Lê Thị Huyên (2000) cho biết cây thường gặp trong rừng thứ sinh ở độ cao dưới 400 m so với mực nước biển Là cây

ưa sáng, sinh trưởng nhanh, ưa đất sâu, thoát nước, tái sinh bằng hạt dễ dàng [4], [5], [6] Cũng có tài liệu khác cho rằng Tai chua là cây có biên độ sinh thái rộng, thường xuất hiện ở những nơi có độ cao từ 400 - 1.700 m, nhưng thường thấy ở các tỉnh miền núi phía Bắc và Bắc Trung Bộ như: Cao Bằng, Lạng sơn, Bắc Giang, Bắc Ninh, Hà Tây, Hòa Bình, Vĩnh Phúc, Phú Thọ Quảng Ninh, Thanh Hóa, Nghệ An

và Hà Tĩnh, Trong các rừng thứ sinh ở độ cao 400 - 500m so với mực nước biển

Theo tài liệu Lâm sản ngoài gỗ Việt Nam thì Tai chua phân bố trong rừng nhiệt đới

thường xanh, mưa ẩm ở độ cao 200 - 800 m so với mực nước biển; tại các khu vực

có khí hậu nhiệt đới hoặc á nhiệt đới, nhiệt độ trung bình năm từ 22 - 260C, lượng mưa 1500 - 2500 mm [8] Sở dĩ có sự khác nhau trong việc mô tả độ cao phân bố của loài Tai chua là do các tác giả nghiên cứu ở những trạng thái rừng và vị trí địa

lý khác nhau Tuy nhiên qua đó cũng cho thấy rằng Tai chua là loài có phân bố tương đối rộng

Cây khi còn non là cây ưa bóng, độ che bóng thích hợp là từ 0,2 - 0,5 Khi trưởng thành là cây ưa chịu bóng hoặc ưa sáng hoàn toàn Vì vậy thường gặp tai chua ở tầng ưu thế sinh thái, dưới tán các cây to như Lim, Sến; hoặc cây phân bố ven sông suối, chân núi, ven rừng; thường mọc cùng Thôi chanh, Chẹo, Sấu, Dó trầm Tai chua ưa đất có lớp mặt sâu dày, độ ẩm cao nhưng thoát nước, phân hóa từ

đá sa thạch, phiến thạch, granít hoặc đá vôi Ít khi gặp Tai chua trong rừng nửa rụng

lá với Bằng lăng ưu thế (tại Sa thầy và Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum; An Khê tỉnh Gia Lai Ở đây Tai chua thường mọc rải rác ven suối, trên đất bazan hay phù sa cổ cùng với Dầi rái và Lộc vừng Cây phát triển tốt, kích thước lớn và cho quả nhiều hàng năm [8] Khi còn nhỏ chịu bóng, khi trưởng thành ưa sáng Thích hợp khí hậu ẩm,

Trang 12

nhiệt độ trung bình 200C, lượng mưa trung bình hàng năm 1.500 - 2.000 mm/năm [9]

Theo Trần Ngọc Hải (2008) [10] thì Tai chua là loài cây ưa sáng, sinh trưởng

trung bình Cây sinh trưởng phát triển tốt trên đất feralit đỏ vàng phát triển trên đá

mẹ phiến thạch sét, phiến thạch mica, riolit; đất có tầng dày, ẩm, thoát nước, lượng mùn khá, đất còn tính chất đất rừng, phân bố chủ yếu ở các tỉnh miền núi phía Bắc

và Tây Nguyên

Về phân bố, loài có phân bố rộng ở Ấn Độ, Nam Trung Quốc, Mianma và Bắc Việt Nam [2], [36] Cây mọc rải rác trong rừng ở vùng núi và trung du các tỉnh phía Bắc, Bắc Trung Bộ và Tây Nguyên như Lào Cai, Yên Bái, Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Quảng Ninh, Hòa Bình, Hà Tây, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh; Quảng Bình, Quảng Trị, Kon Tum

và Gia Lai [8], [12] Tai chua cũng là một trong 163 loài có trong danh lục thực vật khu vực Khe Nét [7], xuất hiện tại Khu bảo tồn thiên nhiên Kẻ Gỗ (Hà Tĩnh) [14],

là loài cây ăn quả có trong danh lục thực vật VQG Tam Đảo [33],…

1.2.3 Giá trị sử dụng

Gỗ Tai chua thuộc nhóm gỗ V, theo Võ Văn Chi [6], Trần Hợp [12] gỗ Tai chua có màu trắng, cứng, thớ thô, nhiều mắt nên ít được sử dụng, cành non và lá được sử dụng làm thuốc giải độc, gỗ được dùng trong xây dựng, đóng đồ đạc trong gia đình

Theo mục thuốc đông y [36] thì trong vỏ quả Tai chua chứa acid citric, một ít acid tartric và acid malic, ngoài ra còn có chất gôm nhựa; trong hạt có một chất gây nôn mửa, dù có nướng kỹ cũng không mất tác dụng Về tính vị và tác dụng: thân, lá, nhựa có vị đắng, chát, tính mát, có ít độc, có tác dụng sát trùng Các bộ phận vỏ quả, thân, lá, nhựa đều có thể sử dụng được Nhân dân ta thường dùng vỏ quả Tai chua sắc uống chữa sốt, khát nước với liều lượng dùng 6 - 10gam/ngày Ở Ấn Độ, người ta cũng dùng nhựa cây Tai chua để làm thuốc; ở Trung Quốc, người ta dùng gôm nhựa tươi tuỳ lượng cho vào mũi trị đỉa chui vào xoang mũi Tài liệu này cũng

Trang 13

nói thêm còn có một loài Tai chua khác, có tên là Bứa cọng (Garcinia pedunculata

Roxb), có quả chứa acid malic, được dùng như Tai chua và làm thuốc giải độc

Quả tai chua là loại thức ăn rất quen thuộc của người dân miền Bắc Việt Nam, từ thành thị đến nông thôn Thịt quả rất chua với vị chua thanh mát, thường phơi khô dùng để nấu canh, đặc biệt để nấu canh riêu cua hoặc canh cá vào những ngày hè Quả Tai chua phơi khô còn có tác dụng giải độc Chất chua trong vở quả (acid citric) dùng làm chất cắn màu trong kỹ nghệ nhuộm tơ lụa, làm bóng đồ vàng bạc Hạt nướng ăn ngon nhưng ăn nhiều dễ bị đau bụng, buồn nôn Vỏ quả sắc nước uống chữa sốt, khát nước Acid hữu cơ trong quả và vỏ chủ yếu là acid hydroxytric (trong lá 1,7%, trong quả 2,3% và trong rễ 12,7%) Lacton acid - hydroxytric, acid oxalic và axit citric có mặt trong lá, quả và vỏ với lượng rất nhỏ [8] Cây trồng ở rừng phòng hộ có giá trị phủ đất, chống xói mòn tốt Ngoài việc sử dụng để nấu canh chua, vỏ quả còn có tác dụng trị kiết lị [2]

Trong một vài năm gần đây, các cấu tử có khối lượng nhỏ và phức tạp được

chiết từ nhiều loài Bứa (Garcinia Cowa, Garcinia cambogia, Garcinia indica, Garcinia antroViridis), trong đó có axit (-)-hyđroxy xitric (HCA; 1,2-di hydroxy

propan-1,2,3 tri cacboxylic axit; hình 1), lacton của (-) axit hydroxy citric có tính sinh học lý thú đã gây chú ý đối với các nhà hoá sinh các bác sỹ chuyên khoa sức khoẻ Đó là khả năng điều chỉnh quá trình tổng hợp axit béo, sự hình thành lipit, sự ngon miệng, và giảm cân Đồng phân của (-)-HCA đã góp phần lớn trong lĩnh vực dược học như tác nhân có vai trò quan trọng trong mục đích giảm cân, bảo vệ tim mạch, hiệu chỉnh trạng thái bất bình thường của các lipid, và khả năng chịu đựng trong luyện tập thể thao Hiện nay các nghiên cứu chiết tách các chất hóa học từ cây Bứa ở nước ta cũng đã bắt đầu được tiến hành Tiêu biểu là nghiên cứu chiết tách từ

lá, vỏ quả cây Bứa (Garcinia oblongifolia Champ ex Benth.) (lấy ở xã Hòa Liên,

huyện Hòa Vang, TP Đà Nẵng và từ thành phố Hồ Chí Minh) bằng phương pháp sắc kí lỏng cao áp (HPLC) đã xác định được hàm lượng axit hữu cơ trong lá, vỏ quả bứa Kết quả cho thấy axit (-) hyđroxy xitric là thành phần axit chủ yếu có trong lá,

vỏ quả bứa Hàm lượng HCA tìm thấy trong lá, vỏ quả bứa khô là khá cao, cụ thể

Trang 14

HCA trong lá, vỏ quả bứa khô lần lượt là 2,863 và 15,221 % Từ kết quả này có thể tiếp tục nghiên cứu sâu để sản xuất thực phẩm chữa trị béo phì từ cây bứa Việt nam,

mà mở rộng hơn ra là các loài trong họ trong đó có Tai chua (Đỗ Tất Lợi, 2005) [13]

Về thị trường tiêu thụ, kết quả điều tra cho thấy Tai chua cùng với chè Shan, gạo Điện Biên, Là một trong số ít những sản phẩm nông lâm sản miền núi xuất hiện tại các chợ lớn ở Hà Nội Tuy nhiên số lượng của các sản phẩm này cũng không phải là nhiều [30]

Cành non và lá non có thể dùng là thuốc giải độc, ngoài ra, Tai chua còn được trồng tạo bóng mát Trong trồng rừng, Tai chua được trồng để cải tạo hoàn cảnh rừng, nâng cao giá trị kinh tế của rừng thông qua các sản phẩm Lâm sản ngoài

gỗ (Viện điều tra quy hoạch rừng 1997)

Như vậy, ở nước ta Tai chua được biết đến như một loài cây bản địa đa tác dụng và ngày càng được nhân dân ưa chuộng, gây trồng rộng rãi Theo Quyết định

số 319 QĐ - UBND ngày ngày 1/2/2008 của Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa Về việc phê duyệt danh lục loài cây gỗ mục đích trong rừng phòng hộ, sản xuất và tiêu chí rừng tự nhiên nghèo kiệt thuộc đối tượng rừng sản xuất được phép cải tạo, trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá thì Tai chua là một trong những cây gỗ mục đích được sử dụng để trồng rừng phòng hộ và sản xuất [16] Cẩm nang ngành lâm nghiệp, Chương Chọn loài cây ưu tiên cho các chương trình trồng rừng ở Việt Nam cũng đã

xác định Tai chua là một trong 222 loài cây gỗ được sử dụng trong các chương trình trồng rừng ở Việt Nam [3] Đây là những cở sở khoa học, pháp lý quan trọng cho việc gây trồng và phát triển cây Tai chua ở nước ta

1.2.4 Chọn, tạo giống và biện pháp kỹ thuật trồng rừng Tai chua

Hiện nay ở nước ta có 2 phương pháp nhân giống Tai chua là nhân giống hữu tính và vô tính Phương pháp nhân giống hữu tính (gieo từ hạt) đã được nhân dân ta sử dụng lâu đời để gây trồng Tai chua quanh nhà, vườn hộ Gần đây cũng đã

có một số nghiên cứu về nhân giống sinh dưỡng là ghép cây nhằm tạo ra cây có phẩm chất tốt, nhanh cho thu hoạch, kết quả bước đầu của các nghiên cứu này là rất

Trang 15

có triển vọng Trong thời gian gần đây, do nhu cầu về gây trồng cây Tai chua ngày càng nhiều nên cũng đã có một số tài liệu hướng dẫn kỹ thuật gây trồng cây Tai

chua như: Bộ tài liệu khuyến lâm về lâm sản ngoài gỗ, Kỹ thuật gây trồng một số loài cây lâm sản ngoài gỗ dưới tán rừng (Trần Ngọc Hải, 2007) [9], Nhưng hầu

hết các tài liệu còn rất sơ khai

Nhân giống tai chua bằng hạt khá dễ dàng Khi quả chín vàng là có thể thu quả để lấy hạt, khi tách hạt phải chú ý là vỏ quả dày và vỏ hạt mềm nên phải cẩn thận để tránh làm tổn thương đến hạt Hạt thu được cần phơi trong bóng râm hay dưới nắng nhẹ Khi khô cho vào túi vải, để nơi khô ráo, chú ý không giữ hạt lâu vì hạt sẽ mất sức nảy mầm [8]

Theo bộ tài liệu khuyến lâm về lâm sản ngoài gỗ thì quả Tai chua thu hái vào thời gian tháng 6 - 7, chỉ lấy những quả chín hoặc gần chín, chuyển từ màu xanh sang vàng cam Quả sau khi thu hái ủ thành đống cao 30 cm trên nền nhà để quả chín đều, vì là loại quả thịt, hạt rất mềm nên việc bóc tác hạt ra khỏi quả phải rất cần thận Dùng dao cắt dần vào phần thịt quả, khi vào gần phần hạt ở giữa phải chú

ý thao tác cần thận Sau khi bóc hạt, ngâm hạt trong nước để loại bỏ hết phần thịt quả trên bề mặt hạt, phơi trong bóng râm hoặc nắng nhẹ cho đến khi khô Không nên để hạt quá lâu trên 1 năm sẽ làm giảm sức nảy mầm của hạt [9]

Tạo cây con từ hạt là phương pháp phổ thông, truyền thống trong công tác tạo giống cây Tai chua của nhân dân ta Thời gian gieo hạt từ tháng 8 - 10 trước khi trồng, tuy nhiên do hạt mất sức nảy mầm nhanh nên gieo hạt ngay sau khi thu hoạch

để có tỷ lệ nảy mầm cao Làm vỡ vỏ hạt bằng cách ngâm hạt trong nước 30 - 400C trong vòng 4 - 6 tiếng; vớt ra rửa xạch, đựng trong túi vải và rửa 2 lần/ngày cho tới khi hạt nảy mầm Khi hạt nảy mầm thì cấy ngay vào bầu Bầu dùng để cấy hạt có kích thước 14 x 16 cm, ruột bầu bao gồm đất vườn hay đất rừng 84%, 15% phân chuồng hoai và 1% NPK (5:10:3 hoặc 10:10:5) Cấy cây sâu 2 - 3 m vào trong bầu [9]

Để tạo ra cây giống có chất lượng cao, nhanh cho sản phẩm thì việc tạo cây con bằng phương pháp ghép là một giải pháp rất có hiệu quả Hiện nay cũng đã có

Trang 16

một số thử nghiệm tạo cây con loài Tai chua bằng phương pháp ghép, bước đầu đã thu được những kết quả rất đáng khích lệ Có 3 cách ghép Tai chua là ghép nêm, ghép nối tiếp và ghép áp nhưng phương pháp ghép áp ít được dùng vì khó thành công và hiệu quả thấp Tiêu chuẩn gốc ghép là cây con từ 8 - 12 tháng tuổi, thân thẳng không sâu bệnh, có đường kính gốc trên 0,8 cm hoặc đường kính thân cách mặt bầu 25 - 30 cm đạt trên 0,7cm Vật liệu ghép được lấy từ cây mẹ trên 15 tuổi Sau 6 - 9 tháng có thể mang cành ghép đi trồng [9], [10], [15].

Người dân vùng Hoành Bồ (Quảng Ninh) có kinh nghiệm trồng Tai chua bằng cây con tái sinh từ rễ Thường trên các rễ ngang của cây có đường kính 20 cm trở lên, khi bị thương sẽ nảy trồi và đâm rễ từ các vết thương Chọn các cây Tai chua con mọc từ rễ có chiều cao 25 - 30 cm mang đi trồng Khi đánh cây con có thể cắt 2 đầu rễ, cách thân khoảng 10 cm Muốn có nhiều trồi cây non, có thể tạo vết thương nhân tạo (bằng dao, cuốc, ) từ các vết thương này sẽ nảy ra các cây con mới [8]

Bón phân là giải pháp rất có hiệu quả trong việc nâng cao năng suất, sinh trưởng cây trồng Đối với cây ghép, sau khi cành ghép nảy mầm 1,5 - 2 tháng có thể tưới phân để cây ghép phát triển tốt: lần đầu nên tưới phân NPK với nồng độ nhỏ 0,05%, sau tăng lên 1% Đối với cây đem trồng, có thể bón lót 5 - 7 kg phân chuồng hoai và 0,2 kg NPK mỗi hố, đến năm thứ 2 thì bón lót 0,5 - 0,7 kg NPK (5:10:3)/cây [9]

Về trồng rừng, theo Bộ tài liệu khuyến lâm về lâm sản ngoài gỗ [9] thì Tai

chua có thể trồng thuần loài hoặc trồng xen với các loài cây khác Đối với trồng thuần loài mật độ trồng là 300 cây/ha, với trồng xen cần duy trì khoảng cách 6m giữa các cây Thời vụ trồng tốt nhất là từ tháng 2 - 4, cũng có thể trồng vào tháng 6

- 7

Nhân dân thường có tập quán đánh cây con tai chua về trồng trong vườn rừng hoặc trồng quanh nhà để lấy quả ăn Trồng ven suối cùng một số cây khác như Phay, Sấu, tai chua sinh trưởng nhanh và cho nhiều quả hơn so với các cây trồng nơi quang trống, không có cây bạn và xa nguồn nước [8] Đây là những kinh

Trang 17

nghiệm quý trong việc xây dựng các biện pháp kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả gây trồng Tai chua

1.3 Nhận xét và đánh giá chung

Điểm qua các công trình nghiên cứu trên thế giới cho thấy cây Tai chua đã được tiến hành nghiên cứu khá toàn diện, đặc biệt là về giá trị sử dụng Ngoài mục đích sử dụng để làm thức ăn, các phát hiện về chất có khả năng chữa bệnh ung thư

và nhiều chất hóa học hữu ích khác đã và đang ngày càng nâng cao giá trị sử dụng cây Tai chua Đây sẽ là cơ sở quan trọng cho việc phát triển cây Tai chua ở các nước trên thế giới, trong đó có nước ta

Ở Việt Nam, các tài liệu nghiên cứu đều cho thấy Tai chua là loài cây bản địa

đa tác dụng, vừa cho sản phẩm gỗ lại vừa cho thu hoạch quả, vốn đã rất thân thuộc với người dân miền núi Tuy nhiên những nghiên cứu về cây Tai chua còn khá ít, mới chủ yếu tập trung vào phân loại, mô tả hình thái, hầu như chưa có công trình nào nghiên cứu bài bản và toàn diện về đặc điểm sinh lý, sinh thái, nhân giống và

kỹ thuật gây trồng Vì vậy còn thiếu cơ sở khoa học cho việc phát triển loài cây này Gần đây cũng đã có một số tài liệu hướng dẫn kỹ thuật gây trồng cây Tai chua nhưng hầu hết còn rất sơ sài và đơn giản Đây là một nhu cầu lớn và cấp thiết của thực tiễn trong bối cảnh cây Tai chua ngày càng được người dân ưa chuộng, sản phẩm quả Tai chua tiêu thụ ngày càng thuận lợi và có giá cao, nhiều địa phương cũng đã lựa chọn Tai chua là một trong những loài cây được sử dụng để trồng rừng

sản xuất, rừng phòng hộ, Xuất phát từ thực tiễn đó, đề tài: “Nghiên cứu kỹ thuật trồng cây Tai chua (Garcinia cowa Roxb) để lấy quả tại huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa

Bình” đặt ra là thực sự cần thiết và có ý nghĩa

Trang 18

Chương 2 MỤC TIÊU, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Mục tiêu nghiên cứu

2.1.1 Mục tiêu tổng quát

Đánh giá ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật gây trồng đến sinh trưởng cây Tai chua và bước đầu đánh giá hiệu quả kinh tế làm cơ sở khoa học cho việc trồng cây Tai chua để lấy quả tại huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình nói riêng và ở các tỉnh miền núi phía Bắc nói chung

2.1.2 Mục tiêu cụ thể

- Xác định được các biện pháp kỹ thuật gây trồng cây Tai chua,

- Bước đầu đánh giá được hiệu quả kinh tế từ trồng cây Tai chua lấy quả

- Đề xuất được một số biện pháp kỹ thuật trồng cây Tai chua trên địa bàn huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình

2.2 Giới hạn nghiên cứu:

2.2.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là cây Tai chua đã được tuyển chọn và nhân giống bằng phương pháp ghép nêm Cây mẹ được tuyển chọn để lấy vật liệu giống gồm 20 cây trội có tuổi từ 20-30 tuổi, đường kính tán 7-15m, tán cân đối với năng suất trung bình của các cây mẹ lấy giống là 389,1 kg/cây/năm từ kết quả nghiên cứu

trong đề tài cấp cơ sở “Nghiên cứu kỹ thuật gây trồng cây Tai chua (Garcinia cowa Roxb) để lấy quả” do Trung tâm Ứng dụng Khoa học Kỹ thuật Lâm nghiệp thuộc

Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam làm chủ trì thực hiện Một số chỉ tiêu của cây ghép khi đem trồng là:

- Tuổi cây con: 2 - 3 tháng sau ghép

- Chiều cao (Hvn): 30 - 45cm

- Đường kính (D00): 0,6 -0,8 cm

Cây sinh trưởng tốt, phát triển cân đối, không bị cong queo, sâu bệnh

Trang 19

2.2.2 Giới hạn về nội dung nghiên cứu

Do thời gian và kinh phí nghiên cứu có hạn nên đề tài tiến hành kế thừa các kết quả nghiên cứu về cây Tai chua đã được Trung tâm Ứng dụng Khoa học Kỹ thuật Lâm nghiệp thực hiện trong giai đoạn 2007-2010 như: Kết quả lựa chọn và tạo giống cây Tai chua; phương pháp bố trí thí nghiệm trồng rừng Tai chua và các số liệu đo đếm tỉ lệ sống, các chỉ tiêu sinh trưởng của cây Tai chua trồng trong giai đoạn 2007-2010

Các nội dung được đề tài điều tra bổ sung là: Điều tra đánh giá tỷ lệ sống và các chỉ tiêu sinh trưởng, năng suất quả của các mô hình trồng rừng Tai chua lấy quả năm 2012 từ đó bước đầu tính toán hiệu quả kinh tế từ việc trồng rừng Tai chua lấy quả trên địa bàn huyện Tân Lạc làm cơ sở đề xuất các giải pháp phát triển

Do thời gian trồng còn ngắn, đề tài chưa thể đánh giá được ảnh hưởng của các biện pháp kỹ thuật gây trồng đến sản lượng quả Tai chua mà mới đánh giá được ảnh hưởng đến sinh trưởng và bước đầu đánh giá hiệu quả kinh tế của mô hình trồng Tai chua ghép xen cây nông nghiệp đã bắt đầu cho quả

2.2.3 Giới hạn về địa điểm nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện trên địa bàn các xã: Xã Tử Nê, xã Đông Lai, xã Mãn Đức, xã Thanh Hối trên địa bàn huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình là nơi có cây Tai chua phân bố

2.3 Nội dung nghiên cứu

2.3.1 Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ trồng tới sinh trưởng của Tai chua

- Bố trí 3 công thức mật độ trồng: CT1: 420 cây/ha (4mx6m); CT2: 830

cây/ha (3mx4m); CT3: 1.100 cây/ha (3mx3m)

- Đánh giá các chỉ tiêu tỷ lệ sống, sinh trưởng đường kính gốc (D00 - cm), chiều cao vút ngọn (Hvn - m); đường kính tán (Dt - m), chất lượng cây trồng (tốt, trung bình, xấu)

2.3.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón tới sinh trưởng của Tai chua

Trang 20

- Trồng thuần loài với mật độ 830 cây/ha (3mx4m) và thử nghiệm 3 công thức bón lót: CT1: 100g NPK + 2kg Phân chuồng hoai; CT2: 300g NPK + 2kg Phân chuồng hoai; CT3: Đối chứng (không bón phân)

- Đánh giá các chỉ tiêu tỷ lệ sống, sinh trưởng đường kính gốc (D00 - cm), chiều cao vút ngọn (Hvn - m); đường kính tán (Dt - m), chất lượng cây trồng (tốt, trung bình, xấu)

2.3.3 Nghiên cứu ảnh hưởng của phương thức trồng tới sinh trưởng của Tai

chua

- Bố trí 3 công thức trồng: CT1: Trồng thuần loài xen cây nông nghiệp; CT2: Trồng hỗn loài với cây Phù trợ (Keo) theo tỷ lệ 1 Tai chua : 2 Keo; CT3: Trồng phân tán trong các vườn hộ gia đình Mật độ Tai chua trồng 420 cây/ha (đối với CT1

và CT2), trồng phân tán mật độ 250 cây/ha (CT3)

- Đánh giá các chỉ tiêu tỷ lệ sống, sinh trưởng đường kính gốc (D00 - cm), chiều cao vút ngọn (Hvn - m); đường kính tán (Dt - m), chất lượng cây trồng (tốt, trung bình, xấu)

2.3.4 Bước đầu đánh giá hiệu quả kinh tế từ trồng cây Tai chua lấy quả

- Điều tra năng suất quả, giá bán quả tươi, giá bán quả khô, chi phí tạo rừng và

ước tính hiệu quả kinh tế từ trồng Tai chua lấy quả ở mô hình trồng cây Tai chua xen cây nông nghiệp (mô hình này mới cho quả nên có thể bước đầu đánh giá)

2.3.5 Đề xuất một số biện pháp kỹ thuật trồng cây Tai chua lấy quả trên địa bàn huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình

Trên cơ sở các kết quả nghiên cứu đã đạt được tiến hành đề xuất một số giải pháp về kỹ thuật trong việc gây trồng cây Tai chua để lấy quả trên địa bàn huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Quan điểm và phương pháp tiếp cận nghiên cứu

Quan điểm nghiên cứu được đưa ra là:

- Kế thừa có chọn lọc các thông tin, số liệu, công trình nghiên cứu đã được thực hiện đối với cây Tai chua, từ đó tiến hành điều tra, nghiên cứu bổ xung các

Trang 21

thông tin, số liệu cần thiết khác phục vụ cho việc trồng và phát triển loài cây này tại huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình

- Quan điểm phù hợp với điều kiện sinh thái nơi trồng được áp dụng triệt để trong suốt quá trình nghiên cứu của đề tài

- Kết hợp giữa hệ thống kiến thức bản địa với kiến thức khoa học trong việc trồng và phát triển cây Tai chua tại khu vực

Các bước nghiên cứu của đề tài được thể hiện thông qua sơ đồ 2.1

Hình 2.1 Sơ đồ các bước nghiên cứu của đề tài

Kế thừa các số liệu, tài liệu,

công trình có liên quan tới

cây Tai chua

Khảo sát toàn bộ khu vực nghiên cứu, lựa chọn địa điểm điều tra

Điều tra bổ sung, đánh giá các thí nghiệm trồng rừng

Thí nghiệm

ảnh hưởng của

mật độ trồng

tới sinh trưởng

của Tai chua

Thí nghiệm ảnh hưởng của phân bón tới sinh trưởng của Tai chua

Thí nghiệm ảnh hưởng của phương thức trồng tới sinh trưởng của Tai chua

Đánh giá hiệu quả kinh tế từ việc trồng Tai chua ghép lấy quả

Tổng hợp số liệu, phân tích,

đánh giá

Đề xuất các giải pháp phát

triển

Trang 22

2.4.2 Phương pháp kế thừa số liệu, tài liệu có liên quan

- Các tài liệu, công trình nghiên cứu về cây Tai chua đã được thực hiện ở trong và ngoài nước liên quan tới đặc điểm sinh học, sinh thái, kỹ thuật trồng,

- Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, hiện trạng tài nguyên rừng của huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình

- Kết quả lựa chọn và tạo giống cây Tai chua lấy quả

- Phương pháp bố trí thí nghiệm trồng rừng Tai chua và các số liệu đo đếm tỉ

lệ sống, các chỉ tiêu sinh trưởng của cây Tai chua trồng trong giai đoạn 2007-2010,

cụ thể:

2.4.2.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm mật độ trồng

Mật độ trồng tập trung: Bố trí 3 công thức mật độ trồng: 420 cây/ha (4mx6m); 830 cây/ha (3mx4m) và 1.100 cây/ha (3mx3m) các công thức được bố trí ngẫu nhiên theo khối, lặp 3 lần, diện tích mỗi công thức 3000 m2

Hình 2.2 Sơ đồ bố trí thí nghiệm trồng Tai chua theo các công thức mật độ

Thu thập các số liệu về: Tỷ lệ sống, sinh trưởng đường kính, chiều cao, đường kính tán, chất lượng cây trồng (tốt, trung bình, xấu) và xử lý số liệu bằng phân tích phương sai

2.4.2.2 Phương pháp bố trí thí nghiệm bón phân

Tiến hành thử nghiệm 3 công thức bón lót:

CT1: 100g NPK +2kg Phân chuồng hoai;

CT2: 300g NPK + 2kg Phân chuồng hoai;

CT3: Đối chứng (không bón phân)

Trồng với mật độ 830 cây/ha (3mx4m) mỗi công thức có diện tích 3000m2

được bố trí theo khối, lặp lại 3 lần

Thu thập các số liệu về: Tỷ lệ sống, sinh trưởng đường kính, chiều cao,

Trang 23

đường kính tán, chất lượng cây trồng (tốt, trung bình, xấu) và xử lý số liệu bằng phân tích phương sai

Hình 2.3 Sơ đồ bố trí thí nghiệm trồng Tai chua theo công thức bón phân

2.4.2.3 Phương pháp bố trí thí nghiệm phương thức trồng

Bố trí 3 công thức trồng:

CT1: Trồng thuần loài xen cây nông nghiệp (420 cây/ha);

CT2: Trồng hỗn loài với cây Phù trợ (Keo) theo tỷ lệ 1 Tai chua : 2 Keo (420 cây Tai chua/ha + 840 cây Keo tai tượng/ha);

CT3: Trồng phân tán trong các vườn hộ gia đình (cự ly trồng 6 x 7m tương ứng với mật độ qui đổi 250 cây/ha)

Thu thập các số liệu về: Tỷ lệ sống, sinh trưởng đường kính, chiều cao, đường kính tán, chất lượng cây trồng (tốt, trung bình, xấu) và xử lý số liệu bằng phân tích phương sai

2.4.3 Phương pháp điều tra bổ xung số liệu ngoài hiện trường

2.4.3.1 Điều tra bổ xung tỷ lệ sống, các chỉ tiêu sinh trưởng của các thí nghiệm trồng rừng giai đoạn 2007-2010

Từ các số liệu, tài liệu kế thừa trong giai đoạn 2007-2010, đề tài tiến hành điều tra bổ xung về tỷ lệ sống, sinh trưởng đường kính gốc D00 (cm), chiều cao vút ngọn Hvn (m), đường kính tán Dt (m), chất lượng sinh trưởng (tốt, trung bình, xấu)

từ các thí nghiệm trồng rừng Tai chua năm 2012 để làm căn cứ đánh giá mô hình

Các chỉ tiêu sinh trưởng được đo đếm bằng các loại thước đo chuyên dụng trong điều tra lâm học như: Kẹp kính, thước dây, thước sào, đảm bảo độ chính xác cần thiết

Trang 24

2.4.3.2 Điều tra năng suất quả và đánh giá hiệu quả kinh tế từ trồng rừng Tai chua

Phương pháp chủ đạo được sử dụng là điều tra phỏng vấn các hộ gia đình trồng Tai chua trên địa bàn huyện để điều tra về chi phí trồng rừng, năng suất quả, giá bán quả tươi, giá bán quả khô từ đó tiến hành tính toán lợi nhuận thuần thu được bằng cách lấy doanh thu trừ đi chi phí tạo rừng Số hộ dự kiến điều tra phỏng vấn là từ 15-20 hộ gia đình trên địa bàn huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình

2.5 Phương pháp phân tích, xử lý số liệu

Các số liệu thu thập được phân tích và xử lý bằng các hàm xử lý thống kê thông dụng trong lâm nghiệp dưới sự trợ giúp của phần mềm Excel 5.0 và SPSS 13.0

a) Xác định tỷ lệ sống:

Tỷ lệ sống = (số cây sống/tổng số cây đem trồng)*100 (%) (2.1)

b) Tính các chỉ tiêu trung bình Hvn, Doo, Dt:

n: Số cây trong ô tiêu chuẩn

- Việc phân tích phương sai và kiểm tra sai dị giữa các chỉ tiêu trong các công thức thí nghiệm dùng tiêu chuẩn Bonferroni Căn cứ vào xác suất của F hay còn gọi mức ý nghĩa của F (Sig) để xác định các mẫu so sánh có sự sai khác hay thuần nhất

Nếu Sig < 0,05 thì 2 mẫu so sánh có sự sai khác rõ rệt

Nếu Sig ≥ 0,05: 2 mẫu chưa có sự sai khác rõ rệt hay thuần nhất

c) Tính toán hiệu quả kinh tế từ trồng Tai chua lấy quả:

- Từ kết quả điều tra phỏng vấn hộ gia đình tiến hành tính toán chi phí tạo rừng Tai chua bao gồm chi phí nhân công, chi phí vật liệu (phân bón, cây giống) và chi phí khác (nghiệm thu, quản lý phí,…) để xác định chi phí cho:

+ Trồng và chăm sóc năm thứ nhất

Trang 26

Chương 3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN KHU VỰC NGHIÊN CỨU

3.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên

3.1.1 Vị trí địa lý, địa giới hành chính

Huyện Tân Lạc là một huyện miền núi nằm về phía Tây tỉnh Hòa Bình, cách thành phố Hoà Bình 30 km đường bộ Huyện Tân Lạc nằm trong toạ độ địa lý ở vào khoảng 20027’35’-200 35’95’’vĩ độ Bắc đến 1050 6’25’’-1050 23’ 23’’ kinh độ Đông Ranh giới của huyện như sau:

- Phía Bắc giáp với huyện Cao Phong và hồ Hòa Bình,

- Phía Nam giáp với huyện Lạc Sơn

- Phía Đông với huyện Bá Thước (Thanh Hóa), và

- Phía Tây giáp với huyện Mai Châu

`

Hình 3.1 Bản đồ hành chính huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình

BẢN ĐỒ HÀNH CHÍNH HUYỆN TÂN LẠC, TỈNH HÒA BÌNH

Trang 27

Huyện Tân Lạc có tổng diện tích tự nhiên là 53.204,75 ha, với 24 đơn vị hành chính gồm thị trấn Mường Khến và 23 xã: Ngòi Hoa, Trung Hoà, Phú Vinh, Phú Cường, Mỹ Hoà, Quy Hậu, Phong Phú, Mãn Đức, Quyết Chiến, Địch Giáo, Tuân Lộ, Tử Nê, Ngọc Mỹ, Thanh Hối, Đông Lai, Bắc Sơn, Lũng Vân, Quy Mỹ,

Do Nhân, Nam Sơn, Lỗ Sơn, Ngổ Luông, Gia Mô

3.1.2 Địa hình, đất đai

Địa hình huyện Tân Lạc khá phức tạp Độ cao trung bình so với mực nước biển từ 200-300m, nơi cao nhất là 1.200m Địa hình thấp dần về phía Đông Nam và được chia thành 3 vùng:

+ Vùng cao gồm 5 xã: Quyết Chiến, Lũng Vân, Nam Sơn, Bắc Sơn và Ngổ Luông Độ cao trung bình từ 600 - 800m Địa hình chia cắt bởi các dãy núi đá vôi

có độ dốc lớn xen giữa các thung lũng nhỏ nằm rải rác theo các dòng suối nhỏ

+ Vùng thượng gồm 4 xã: Ngòi Hoa, Trung Hoà, Phú Vinh, Phú Cường Độ cao trung bình từ 200-300m Địa hình chia cắt bởi các núi đá, đồi dốc và khe suối, xen giữa các đồi thoải là các bãi bằng

+ Vùng thấp gồm 14 xã còn lại và thị trấn Mường Khến nằm dọc theo đường 12B và 12C, với 2 thung lũng hẹp chạy dọc theo 2 hệ thống suối chính (suối Chù và suối Cái) tạo thành 2 vùng lúa chủ yếu của huyện

Tổng diện tích đất tự nhiên của huyện Tân Lạc là 53.204,75 ha, trong đó phân theo mục đích sử dụng như sau:

- Đất nông nghiệp: 7.156,95 ha chiếm 13,45% diện tích tự nhiên của huyện

- Đất có khả năng sản xuất lâm nghiệp: 27.947,49 ha chiếm 52,53% diện tích đất tự nhiên của huyện

- Đất chuyên dùng: 2.917,22 ha chiếm 5,48% diện tích đất tự nhiên của huyện

- Đất ở: 550,38 ha chiếm 1% diện tích đất tự nhiên của huyện

- Đất chưa sử dụng: 13.728,3 ha chiếm 25,8% diện tích đất tự nhiên của huyện

Trang 28

Diện tích đất đồi núi chiếm 80,3%, trong đó đất đỏ feralit gần 1.000 ha, đất đỏ mùn trên núi đá vôi gần 6.000 ha, đất mầu phát triển trên đá phiến thạch tím 559 ha, đất đỏ vàng phát triển trên phiến đá sét 7.069 ha, đất đỏ vàng phát triển trên sa thạch gần 5.000 ha Đất ruộng 9,4% trong đó có gần 3.500 ha đất lúa, đất đai phù hợp với nhiều loại cây trồng như: cây lương thực, cây công nghiệp, cây lâm nghiệp, cây ăn quả, cây dược liệu,

Diện tích đất lâm nghiệp chiếm tới 52,53% tổng diện tích tự nhiên toàn huyện cho thấy lâm nghiệp chiếm vai trò quan trọng trong hoạt động sản xuất của cộng đồng Do vậy, việc xác định cơ cấu cây trồng rừng sản xuất phù hợp, mang lại hiệu quả kinh tế cao có vai trò quan trọng trong việc góp phần xóa đói giảm nghèo tại địa phương

3.1.3 Khí hậu, thủy văn

sự phân hóa rõ rệt, ở vùng cao nhiệt độ các tháng lạnh nhất thấp hơn vùng thấp từ

2-30 c và mùa đông đến sớm, kết thúc muộn

Lượng mưa trung bình hàng năm cao (2000 mm), mưa tập trung vào các tháng

từ 7-9 Mùa khô lượng mưa chỉ chiếm 15% lượng mưa cả năm

Độ ẩm không khí bình quân 82%, tháng cao nhất 99%, tháng thấp nhất 29% Sương mù thường xuất hiện vào tháng 11 đến tháng 3 năm sau Sương muối trung bình có từ 5-7 ngày, thường xuất hiện vào tháng 12 và tháng 1

* Thủy văn:

Trên địa bàn huyện Tân Lạc có nhiều suối và hồ chứa nước ngọt nên nguồn nước mặt và nước ngầm khá dồi dào

Nguồn nước mặt được hình thành bởi hệ thống sông suối và các hồ đập phân

bố không đều, chủ yếu được tập trung theo 3 hệ thống suối lớn như suối Cái, suối

Trang 29

Chù, suối Hoa và 1 số hồ lớn như hồ Bông Canh, hồ Chù Bụa, hồ Phoi, hồ Vưng,

hồ sông Đà, Hiện nay huyện đang triển khai xây dựng hồ Trọng có dung tích: 40 triệu m3

Hệ thống suối và hồ chứa có vai trò quan trọng trong việc cung cấp nước sinh hoạt và sản xuất cho người dân trên địa bàn Tuy nhiên, vào mùa khô mực nước ngầm xuống thấp, các suối thường khô cạn nên thường xảy ra tình trạng thiếu nước phục vụ cho sản xuất nông nghiệp Do vậy, việc lựa chọn cơ cấu cây trồng phù hợp

là rất quan trọng

3.1.4 Tài nguyên rừng

Huyện Tân Lạc hiện có 24.967,7 ha đất có rừng, trong đó:

- Rừng tự nhiên là 20.592,4 ha, chiếm 82,47% diện tích rừng trong huyện

- Rừng trồng 4.375,3 ha, chiếm 17,53% diện tích rừng trong huyện

Nhìn chung diện tích rừng của huyện Tân Lạc khá lớn, có nhiều gỗ, lâm sản quý tạo tiềm năng để phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường Để bảo vệ và phát triển rừng huyện đã phê duyệt quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng huyện Tân Lạc, tỉnh Hoà Bình giai đoạn 2010-2020 với nhiệm vụ chủ yếu như sau:

- Bảo vệ rừng hiện có và rừng tạo mới 323.594,32 lượt ha; bình quân 32.359,43 ha/năm

- Khoanh nuôi tái sinh: 13.117,15 lượt ha, bình quân 1.311,12 ha/năm

- Trồng rừng mới: 3.083,92 ha, bình quân 308,39 ha/năm

- Cải tạo rừng sản xuất 228,01 ha, bình quân 22,8 ha/năm

- Trồng lại rừng sản xuất sau khai thác: 5.364,02 ha, bình quân 536,4 ha/năm

- Trồng cây phân tán: 94,5 vạn cây (tương đương 630 ha), bình quân 9,45 vạn cây/năm

- Khai thác rừng trồng sản xuất 5.364,02 ha, bình quân 536,4 ha/năm Sản lượng khai thác đến năm 2020 dự kiến gỗ 268.201 m3

- Các hoạt động khác: Xây dựng mới 01 rừng giống; xây dựng 54 km đường ranh

cản lửa, 16 km đường lâm nghiệp, 03 trạm bảo vệ rừng, 15 bảng Panô nội quy bảo vệ rừng

- Tổ chức sản xuất kinh doanh đúng quy hoạch, kế hoạch

Trang 30

- Tổ chức trồng rừng, bảo vệ và khai thác rừng đúng đối tượng, đúng quy trình kỹ thuật đảm bảo phát huy hiệu quả kinh tế và vai trò phòng hộ môi trường của rừng

- Triển khai thực hiện các chế độ chính sách của nhà nước đầy đủ, kịp thời tạo điều kiện thuận lợi cho các chủ rừng yên tâm, phấn khởi tham gia trồng rừng và đầu tư vốn trong sản xuất lâm nghiệp

- Tham mưu, đề xuất giải quyết những bất hợp lý về cơ chế, chính sách để các cấp, các ngành có quyết sách khắc phục kịp thời các vướng mắc trong quá trình

tổ chức, thực hiện quy hoạch, tạo điều kiện cho sản xuất phát triển

Như vậy, việc nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật gây trồng cây Tai chua không chỉ góp phần nâng cao thu nhập, xóa đói giảm nghèo cho người dân mà còn góp phần nâng cao độ che phủ của rừng từ đó góp phần hoàn thành nhiệm vụ bảo vệ

và phát triển rừng toàn huyện giai đoạn 2010-2020

3.2 Điều kiện dân sinh kinh tế - xã hội

3.2.1 Dân số, dân tộc, lao động

Tính tới năm 2012, tổng số hộ trên địa bàn huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình là 18.667 hộ với số nhân khẩu là 82.600 người, mật độ dân số 151 người/km2, dân số thành thị (thị trấn) chiếm 5,6%, dân số nông thôn chiếm 94,4%

Trên địa bàn huyện thì dân tộc Mường chiếm đại đa số 84,5%, dân tộc Kinh chiếm 15%, các dân tộc khác 0,5%

Tỷ lệ hộ nghèo trên địa bàn khá cao với khoảng 7.432 hộ, chiếm 39,81% tổng

số hộ; hộ cận nghèo: 2.885 hộ, chiếm 15,5% tổng số hộ Thu nhập bình quân đầu người đạt: 12,1 triệu đồng/người/năm

- Nguồn nhân lực:

Dân số trong độ tuổi lao động 50.000 người chiếm 60,5% dân số toàn huyện, lao động đang có việc làm 33.560 người chiếm 67,12%, lao động có chuyên môn kỹ thuật 3.500 người chiếm 7% Lao động đã qua đào tạo là 4.592 người chiếm 9,18%

Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên: 1,1%/năm

Nhìn chung nguồn lao động trên địa bàn huyện Tân Lạc khá dồi dào, người dân có kinh nghiệm sản xuất lâm nghiệp lâu đời với hệ thống kiến thức bản địa

Trang 31

phong phú Tuy nhiên, số lao động đã qua đào tạo chiếm tỷ lệ rất thấp nên đây cũng

là một khó khăn lớn đối với phát triển kinh tế của địa phương

3.2.2 Thực trạng cơ sở hạ tầng

* Giao thông vận tải:

Trên địa bàn huyện có 2 tuyến quốc lộ chạy qua ( đường 6 và đường 12B ) 100% số xã có đường ô tô đến trung tâm xã Đường liên xã dài 483,5 km, số km được rải cấp phối và rải nhựa 214,7 km, đạt 44,4%; Đường liên trục xóm, liên xóm dài trên 436 km, được cứng hoá 86 km, ô tô có thể đi lại được

* Thuỷ lợi:

Tổng số công trình thuỷ lợi trên địa bàn huyện 217 công trình Trong đó: Trạm thuỷ lợi 11, Hồ chứa 69, Đập tràn kiên cố 95, Đập tràn tạm 42, tổng diện tích tưới 4.118 ha Kênh mương dài 486,46 km, số kênh mương được kiên cố 231,07 km, đạt 47,5%

* Điện lực:

Hiện nay huyện đã có địên lưới quốc gia đến trung tâm xã, xóm Ngoài ra 1 số nơi dùng điện thuỷ điện nhỏ để phục vụ sinh hoạt

* Bưu chính- viễn thông:

Hệ thống bưu chính, viễn thông từng bước được hoàn thiện, 100% các xã đều

đã có thể liên lạc bằng điện thoại, 24/24 xã, thị trấn đã có điểm bưu điện văn hoá

xã Hiện nay sóng điện thoại di động của 3 mạng di động (Vinaphone, Mobiphone, Vietel) đã phủ sóng toàn bộ các xã trong huyện

3.2.3 Y tế, văn hóa, giáo dục

* Y tế: Hiện nay trên toàn huyện mỗi xã đều có trạm y tế với hệ thống y sĩ, bác sĩ cơ bản đáp ứng được nhu cầu khám chữa bệnh tại chỗ của người dân Hệ thống y tế cấp huyện có bệnh viện huyện phục vụ khám chữa bệnh cho toàn huyện Tuy nhiên, cơ sở vật chất phục vụ khám chữa bệnh còn thấp, trình độ chuyên môn chưa sâu, số lượng bác sĩ còn ít Do đó, trong thời gian tới cần đẩy mạnh công tác thu hút cán bộ y tế có trình độ tại các nơi về làm việc

Trang 32

* Văn hóa: Đồng bào các dân tộc Mường, kinh, sinh sống trên địa bàn

cũng khá lâu đời nên hệ thống văn hóa cũng khá đa dạng, phong phú Các hủ tục về cưới hỏi, ma chay, canh tác nương dẫy du canh hiện đã giảm đi nhiều so với trước đây Người dân đã sử dụng phân bón và đầu tư trồng thâm canh chăm sóc các loài cây nông, lâm nghiệp, tiếp thu tiến bộ kỹ thuật trong trồng trọt và chăn nuôi nên kinh tế hộ từng bước được cải thiện

* Giáo dục: Hệ thống giáo dục trên địa bàn huyện cũng từng bước được cải

thiện Tại mỗi xã đều có 1 trường tiểu học, 1 trường trung học cơ sở phục vụ cho nhu cầu học tập của con em đồng bào trên địa bàn Toàn huyện có 1 trường trung học phổ thông Tuy nhiên, chất lượng cơ sở hạ tầng và trang thiết bị phục vụ cho giảng dạy còn thấp, gây khó khăn cho công tác giảng dạy Đội ngũ giáo viên trẻ, yêu nghề và nhiệt tình nhưng số lượng còn ít, chất lượng còn chưa cao nên trong thời gian tới cần đẩy mạnh công tác cử cán bộ đi học, có chính sách thu hút giáo viên lên vùng cao dạy học

3.3 Nhận xét thuận lợi, khó khăn

- Nguồn lao động dồi dào, người dân có kinh nghiệm sản xuất lâm nghiệp

- Là huyện nghèo vùng miền núi nên có cơ hội nhận được sự hỗ trợ đầu tư từ phía nhà nước, tỉnh, huyện trong việc gây trồng và phát triển cây Tai chua

* Khó khăn:

- Đất đai tuy rộng lớn nhưng có độ dốc cao, đất nghèo dinh dưỡng cần phải đầu tư cải tạo

- Nguồn lao động dồi dào nhưng phần lớn chưa qua đào tạo

- Hiện chưa có chính sách hỗ trợ vốn đầu tư từ chính quyền địa phương, sự bao tiêu sản phẩm tạo ra

Trang 33

Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1 Ảnh hưởng của mật độ trồng tới sinh trưởng của Tai chua

Mật độ là chỉ tiêu phản ánh số lượng cây trồng trên một đơn vị diện tích Việc bố trí mật độ trồng hợp lý có ảnh hưởng rất lớn tới khả năng tận dụng không gian dinh dưỡng của cây rừng, từ đó ảnh hưởng tới khả năng sinh trưởng, năng suất

và chất lượng rừng

Tai chua ghép có mục tiêu kinh doanh chủ yếu là để lấy quả Do vậy, việc bố trí mật độ hợp lý có ảnh hưởng rất lớn tới khả năng sinh trưởng và đặc biệt là sự phát triển của kích thước tán cây, độ cân đối của tán từ đó ảnh hưởng tới sản lượng quả sau này

4.1.1 Ảnh hưởng của mật độ trồng tới tỷ lệ sống của Tai chua

Kết quả theo dõi tỷ lệ sống của Tai chua trong các công thức thí nghiệm mật

Trang 34

- 87,82% Kết quả phân tích phương sai cho thấy, giá trị Sig tính toán bằng 0,46 (năm 2010) và 0,13 (năm 2012) là đều lớn hơn 0,05 nên các công thức mật độ khác nhau chưa ảnh hưởng rõ rệt tới tỷ lệ sống của Tai chua Kết quả này hoàn toàn phù hợp với quy luật sinh học của loài, trong giai đoạn đầu khi rừng chưa khép tán thì hầu như chưa xảy ra sự cạnh tranh về không gian dinh dưỡng, đặc biệt là ánh sáng giữa các cá thể của loài

Kết quả so sánh về tỷ lệ sống của các công thức thí nghiệm năm 2010 (sau 2 năm trồng) và năm 2012 (sau 4 năm trồng) được thể hiện rõ hơn thông qua biểu đồ 4.1

chua tại huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình

Trang 35

Hình 4.2 Tai chua ghép 6 tháng sau khi trồng

4.1.2 Ảnh hưởng của mật độ trồng tới sinh trưởng đường kính gốc (D 00 ) của Tai chua

Kết quả đánh giá ảnh hưởng của mật độ trồng tới sinh trưởng đường kính gốc của cây ghép Tai chua được thể hiện tại bảng 4.2 (chi tiết xem phụ biểu 01 và phụ biểu 02)

Bảng 4.2 Ảnh hưởng của mật độ trồng tới sinh trưởng đường kính D 00 (cm)

của Tai chua ghép sau 2 năm và 4 năm trồng

Trang 36

Kết quả tại bảng 4.2 cho thấy:

- Giai đoạn Tai chua ghép 2 năm sau khi trồng: Đường kính bình quân gốc của các công thức thí nghiệm giao động từ 2,27 - 2,31 cm, trung bình là 2,29 cm, trong đó đạt cao nhất ở công thức 1 (420 cây/ha) là 2,31 cm và thấp nhất ở công thức thí nghiệm 2 (830 cây/ha) đạt 2,27 cm Lượng tăng trưởng bình quân hàng năm

về đường kính gốc dao động 1,14 - 1,16 cm/năm, trung bình là 1,15 cm/năm Hệ số biến động sinh trưởng đường kính gốc khá thấp dao động 10,19 - 12,17% cho thấy cây ghép sinh trưởng khá đồng đều Kết quả phân tích phương sai cho thấy, giá trị Sig tính toán bằng 0,494 >0,05, kết luận các công thức thí nghiệm về mật độ chưa

có sự sai khác rõ rệt về sinh trưởng đường kính gốc

- Giai đoạn 4 năm sau khi trồng: Đường kính gốc của Tai chua ghép trong các công thức thí nghiệm dao động 6,13 - 6,6 cm, trung bình là 6,36 cm, trong đó đạt giá trị lớn nhất ở công thức thí nghiệm 1 (420 cây/ha) là 6,6 cm và thấp nhất ở công thức thí nghiệm 3 (1.100 cây/ha) là 6,13 cm Lượng tăng trưởng bình quân hàng năm về đường kính gốc giao động từ 1,5 - 1,7 cm/năm, trung bình 1,6 cm/năm Hệ số biến động sinh trưởng đường kính gốc khá thấp, dao động từ 8,18 - 12,07%, cho thấy cây ghép sinh trưởng khá đồng đều Kết quả phân tích phương sai cho thấy, giá trị Sig tính toán bằng 0,000<0,05, kết luận các công thức thí nghiệm

có sự sai khác rõ rệt về sinh trưởng đường kính gốc Sử dụng tiêu chuẩn Ducan để tìm ra công thức thí nghiệm tốt nhất cho thấy, công thức thí nghiệm 1 (420 cây/ha) cho sinh trưởng đường kính gốc tốt nhất sau 4 năm trồng, tiếp đến là công thức thí nghiệm 2 (trồng 830 cây/ha) và thấp nhất là công thức thí nghiệm 3 (trồng 1.100 cây/ha)

Như vậy, giai đoạn cây Tai chua ghép 4 năm tuổi có sự sinh trưởng nhanh hơn hẳn so với giai đoạn 2 năm tuổi, đường kính bình quân tăng từ 2,29 cm lên 6,36

cm, lượng tăng trưởng bình quân hàng năm về đường kính tăng từ 1,15 cm/năm lên 1,6 cm/năm, hệ số biến động giảm từ 11,21% xuống 10,42% Nguyên nhân chủ yếu

là do sau 2 năm trồng cây ghép đã ổn định, được chăm sóc, bón thúc nên cây sinh trưởng nhanh hơn

Trang 37

Kết quả so sánh sinh trưởng đường kính gốc của Tai chua ghép sau 2 năm trồng và 4 năm trồng được thể hiện rõ hơn thông qua biểu đồ 4.2

0 2 4 6 8 10 12 14

D00 (cm)

Hình 4.3 Biểu đồ so sánh sinh trưởng đường kính gốc của Tai chua ghép trong

các công thức mật độ sau 2 và 4 năm trồng

4.1.3 Ảnh hưởng của mật độ trồng tới sinh trưởng chiều cao vút ngọn (H vn ) của Tai chua

Kết quả đánh giá ảnh hưởng của mật độ trồng tới sinh trưởng chiều cao vút ngọn của cây ghép Tai chua được thể hiện tại bảng 4.3 (chi tiết xem phụ biểu 03 và phụ biểu 04)

Bảng 4.3 Ảnh hưởng của mật độ trồng tới sinh trưởng chiều cao vút ngọn H vn

(m) của Tai chua ghép sau 2 năm và 4 năm trồng

Trang 38

Kết quả tại bảng 4.3 cho thấy:

- Cây Tai chua ghép sau 2 năm trồng: Sinh trưởng chiều cao vút ngọn ở các công thức thí nghiệm dao động từ 1,18 - 1,21 m, trung bình 1,2 m, lượng tăng trưởng bình quân hàng năm về chiều cao dao động 0,59 - 0,61 m/năm, trong đó đạt cao nhất ở công thức thí nghiệm 3 (1.100 cây/ha) là 0,61 cm/năm và thấp nhất ở công thức thí nghiệm 1 (420 cây/ha) là 0,59 cm/năm Hệ số biến động sinh trưởng chiều cao vút ngọn dao động 14,15 - 14,87% cho thấy, giữa các công thức thí nghiệm cây Tai chua ghép sinh trưởng khá đồng đều Kết quả phân tích phương sai cho thấy, giá trị Sig tính toán bằng 0,172>0,05, kết luận chưa có sự sai khác rõ rệt

về sinh trưởng chiều cao vút ngọn giữa các công thức thí nghiệm

- Cây Tai chua ghép 4 năm sau khi trồng: Chiều cao vút ngọn giữa các công thức dao động 1,96 - 2,03 m, trung bình 2,0 m, lượng tăng trưởng bình quân hàng năm về chiều cao vút ngọn dao động 0,49 - 0,51 m/năm, trong đó đạt lớn nhất ở công thức thí nghiệm 3 (1.100 cây/ha) là 0,51 m/năm và thấp nhất ở công thức thí nghiệm 1 (420 cây/ha) là 0,49 m/năm Hệ số biến động sinh trưởng chiều cao vút ngọn giữa các công thức thí nghiệm dao động 8,8 - 9,7% cho thấy các cây trong các công thức thí nghiệm sinh trưởng khá đồng đều Kết quả phân tích phương sai cho thấy, giá trị sig tính toán bằng 0,037<0,05, kết luận có sự sai khác về sinh trưởng chiều cao giữa các công thức thí nghiệm Sử dụng tiêu chuẩn Ducan để tìm công thức thí nghiệm tốt nhất cho thấy công thức thí nghiệm 1 (420 cây/ha) đạt sinh trưởng chiều cao vút ngọn là thấp nhất, chưa có sự khác biệt về sinh trưởng chiều cao giữa công thức thí nghiệm 2 (830 cây/ha) và công thức thí nghiệm 3 (1.100 cây/ha)

Kết quả so sánh sinh trưởng chiều cao vút ngọn của Tai chua ghép sau 2 năm

và 4 năm trồng được thể hiện rõ hơn thông qua biểu đồ 4.3

Trang 39

CT1 CT2 CT3

Hình 4.4 Biểu đồ so sánh sinh trưởng chiều cao vút ngọn của Tai chua ghép

trong các công thức mật độ sau 2 năm và 4 năm trồng

Hình 4.5 Tai chua ghép 4 năm sau khi trồng

Trang 40

4.1.4 Ảnh hưởng của mật độ trồng tới sinh trưởng đường kính tán (D t ) của Tai chua

Đường kính tán là một chỉ tiêu quan trọng cần đánh giá đối với cây ghép Đường kính tán không chỉ phản ánh khả năng sử dụng không gian dinh dưỡng của cây rừng mà riêng đối với cây ghép nó còn phản ánh không gian để ra quả và từ đó ảnh hưởng tới sản lượng quả hàng năm

Kết quả đánh giá ảnh hưởng của mật độ trồng tới sinh trưởng đường kính tán của cây ghép Tai chua sau 4 năm trồng được thể hiện tại bảng 4.4 (chi tiết xem phụ biểu 05)

Bảng 4.4 Ảnh hưởng của mật độ trồng tới sinh trưởng đường kính tán D t (m)

của Tai chua ghép 4 năm trồng

(Nguồn: Số liệu điều tra bổ xung năm 2012)

Kết quả tại bảng 4.4 cho thấy, sau 4 năm trồng, đường kính tán của Tai chua ghép sinh trưởng khá nhanh, dao động từ 2,51 - 2,87 m, lượng tăng trưởng bình quân hàng năm về đường kính tán dao động 0,63 - 0,72 m/năm, trong đó đạt lớn nhất ở công thức thí nghiệm 1 (420 cây/ha) là 0,72 m/năm và thấp nhất ở công thức thí nghiệm 3 (1.100 cây/ha) là 0,63 m/năm Điều này hoàn toàn phù hợp với quy luật phát triển của cây, khi mật độ thấp thì cây tập trung phát triển mạnh về đường kính tán và hạn chế phát triển chiều cao, còn khi mật độ rừng cao, tính cạnh tranh

về ánh sáng lớn thì cây rừng tập trung phát triển mạnh về chiều cao hơn so với phát triển đường kính tán Hệ số biến động sinh trưởng đường kính tán dao động 14,8 - 21,5%, cho thấy các cá thể Tai chua ghép trong các công thức thí nghiệm có sự sai khác rõ về sinh trưởng đường kính tán Kết quả phân tích phương sai cho thấy, giá trị Sig tính toán bằng 0,000<0,05, kết luận có sự sai khác rõ rệt về sinh trưởng đường kính tán giữa các công thức thí nghiệm Sử dụng tiêu chuẩn Ducan phân tích

Ngày đăng: 30/08/2017, 15:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm