Trên cơ sở nghiên cứu rừng ở trạng thái động Melekhov đã nhấn mạnh sự biến đổi của rừng theo thời gian, đặc biệt là sự biến đổi của tổ thành loài cây trong lâm phần qua các giai đoạn khá
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ
Đã từ lâu người ta nghiên cứu và xem rừng như một hệ sinh thái có những đặc điểm và cấu trúc đặc biệt Lịch sử càng phát triển, những khái niệm về rừng càng được tích luỹ, hoàn thiện thành những học thuyết về rừng
Có rất nhiều nghiên cứu về rừng, trong đó những nghiên cứu về cấu trúc rừng nói chung và cấu trúc rừng tự nhiên nói riêng đã và đang được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Cấu trúc rừng là sự sắp xếp tổ chức nội bộ của các thành phần sinh vật trong hệ sinh thái rừng mà qua đó các loài có đặc tính sinh thái khác nhau có thể chung sống hài hòa và đạt tới sự ổn định tương đối trong một giai đoạn phát triển nhất định của tự nhiên Cấu trúc rừng vừa là kết quả vừa là
sự thể hiện quan hệ đấu tranh và thích ứng lẫn nhau giữa các sinh vật rừng với môi trường sinh thái và giữa các sinh vật rừng với nhau (Ngô Quang Đê 1992) Mục tiêu quan trọng của việc nghiên cứu cấu trúc rừng là tìm ra những giải pháp lâm sinh tác động phù hợp vào rừng nhằm nâng cao năng suất hiệu quả của rừng
Cấu trúc về mặt không gian và thời gian của rừng tự nhiên thường phức tạp, đa dạng và phong phú Đặc biệt với rừng Việt Nam tính phức tạp của rừng càng thể hiện rõ nhất ở cấu trúc về tổ thành loài cây, tầng thứ Việc nghiên cứu cấu trúc rừng nhằm duy trì rừng như một hệ sinh thái ổn định, có
sự hài hoà của các nhân tố cấu trúc, lợi dụng tối đa mọi tiềm năng của điều kiện lập địa và phát huy bền vững các chức năng có lợi của rừng về kinh tế,
xã hội và môi trường Vì vậy, một trong những vấn đề cần được nghiên cứu là tìm hiểu quy luật cấu trúc của rừng làm cơ sở đề xuất các biện pháp kỹ thuật
lâm sinh hợp lý nhằm sử dụng và phát triển tài nguyên rừng bền vững
Trang 2Kon Tum là một tỉnh thuộc vùng Tây Nguyên Trong những năm qua tại đây tỷ lệ mất rừng cao, độ che phủ thấp đạt 66,6% (theo Kết quả điều tra đánh giá và theo dõi diến biến rừng tự nhiên toàn quốc – 2009) Hơn nữa, điều kiện tự nhiên ở đây tương đối khắc nghiệt, tập quán sản xuất của đồng bào dân tộc còn nhiều lạc hậu như đốt nương làm rẫy, du canh du cư… Diện tích rừng Kon Tum giảm đáng kể là tình trạng phá rừng làm nương rẫy, lấn chiếm đất rừng, cháy rừng và khai thác gỗ lậu dẫn tới khả năng phòng hộ của rừng bị suy giảm, ảnh hưởng xấu đến môi trường và đời sống của người dân Do đó, để phục hồi và nâng cao chất lượng của rừng tại đây thì rất cần
có sự tác động của con người một cách tích cực, chủ động và hiệu quả Để đạt được mục đích trên, cần có những hiểu biết sâu về cấu trúc rừng để từ đó có thể đề xuất các giải pháp lâm sinh một cách hợp lý, đồng bộ
Xuất phát từ thực tiễn trên đề tài “Xác định đặc điểm cấu trúc cơ bản của một số trạng thái rừng tự nhiên tại Đăk Tô - Kon Tum” được thực hiện
nhằm góp phần bổ sung cơ sở lý luận về cấu trúc rừng tự nhiên Đồng thời, kết quả nghiên cứu sẽ là cơ sở đề xuất các biện pháp kỷ thuật lâm sinh tác động hợp lý vào rừng tại khu vực nghiên cứu nói riêng và ở các vùng sinh thái của Việt Nam nói chung
Trang 3Chương 1:
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1.Trên thế giới
1.1.1 Nghiên cứu về cấu trúc rừng
1.1.1.1 Về cơ sở sinh thái của cấu trúc rừng
Quy luật về cấu trúc rừng là cơ sở quan trọng để nghiên cứu sinh thái học,
hệ sinh thái rừng và đặc biệt là để xây dựng những mô hình lâm sinh cho hiệu quả sản xuất cao Trong nghiên cứu cấu trúc rừng người ta chia thành ba dạng cấu trúc là cấu trúc sinh thái, cấu trúc không gian và cấu trúc thời gian Cấu trúc của lớp thảm thực vật là kết quả của quá trình chọn lọc tự nhiên, là sản phẩm của quá trình đấu tranh sinh tồn giữa thực vật với thực vật và giữa thực vật với hoàn cảnh sống Trên quan điểm sinh thái thì cấu trúc rừng chính là hình thức bên ngoài phản ánh nội dung bên trong của hệ sinh thái rừng Thực tế cấu trúc rừng
nó có tính trật tự và theo quy luật của quần xã
Các nghiên cứu về cấu trúc sinh thái của rừng mưa nhiệt đới đã được Richards P.W (1933 - 1934), Baur G.N (1962), ODum (1971) tiến hành Các nghiên cứu này thường nêu lên quan điểm, khái niệm và mô tả định tính về tổ thành, dạng sống và tầng phiến của rừng
Khi đi sâu nghiên cứu các nhân tố cấu trúc rừng, các kiểu xử lý về mặt lâm sinh áp dụng cho rừng mưa tự nhiên Tác giả Baur G.N (1962) [2] đã đưa
ra những tổng kết hết sức phong phú về các nguyên lý tác động xử lý lâm sinh nhằm đem lại rừng cơ bản là đều tuổi, rừng không đều tuổi và các phương thức
xử lý cải thiện rừng mưa
Trang 4Công trình nghiên cứu của tác giả Catinot (1965); Plaudy J đã biểu diễn cấu trúc hình thái rừng bằng các phẫu đồ rừng, nghiên cứu các nhân tố cấu trúc sinh thái thông qua việc mô tả phân loại theo các khái niệm dạng sống, tầng phiến
Tác giả Odum E.P (1971) [21] đã hoàn chỉnh học thuyết về hệ sinh thái
trên cơ sở thuật ngữ hệ sinh thái (ecosystem) của Tansley A.P, năm 1935 Khái
niệm hệ sinh thái được làm sáng tỏ là cơ sở để nghiên cứu các nhân tố cấu trúc trên quan điểm sinh thái học
1.1.1.2 Về mô tả hình thái cấu trúc rừng
Hiện tượng thành tầng là sự sắp xếp không gian phân bố của các thành phần sinh vật rừng trên cả mặt bằng và theo chiều đứng Phương pháp vẽ biểu đồ mặt cắt đứng của rừng do Davit và P.W Richards (1933 - 1934) đề xướng và sử dụng lần đầu tiên ở Guyan đến nay vẫn là phương pháp có hiệu quả để nghiên cứu cấu trúc tầng của rừng Tuy nhiên, phương pháp này có nhược điểm là chỉ minh hoạ được cách sắp xếp theo hướng thẳng đứng của các loài cây gỗ trong một diện tích có hạn Cusen (1951) đã khắc phục bằng cách vẽ một số giải kề bên nhau và đưa lại một hình tượng về không gian ba chiều
Phương pháp biểu đồ trắc diện do Davit và Richards (1933 - 1934) đề xuất trong khi phân loại và mô tả rừng nhiệt đới phức tạp về thành phần loài và cấu trúc thảm thực vật theo chiều nằm ngang và chiều thẳng đứng
Richards.P.W (1952) [26] đã đi sâu nghiên cứu cấu trúc rừng mưa nhiệt đới về mặt hình thái Theo tác giả, một đặc điểm nổi bật của rừng mưa nhiệt đới là tuyệt đại bộ phận thực vật đều thuộc thân gỗ và tác giả đã phân biệt tổ thành thực vật của rừng mưa thành hai loại, đó là rừng mưa hỗn hợp có tổ thành loài cây phức tạp và rừng mưa đơn ưu có tổ thành loài cây đơn giản Trong những điều kiện đặc biệt thì rừng mưa đơn ưu chỉ bao gồm một vài loài
Trang 5cây Rừng mưa thường có nhiều tầng (thường có 3 tầng, ngoại trừ tầng cây bụi và tầng cây thân cỏ) Trong rừng mưa nhiệt đới ngoài cây gỗ lớn, cây bụi
và các loài thân cỏ còn có nhiều loài cây leo đủ hình dáng và kích thước, cùng nhiều thực vật phụ sinh trên thân hoặc cành cây "Rừng mưa thực sự là một quần lạc hoàn chỉnh và cầu kỳ nhất về mặt cấu tạo và cũng phong phú nhất về mặt loài cây"
Kraft (1884), lần đầu tiên đưa ra hệ thống phân cấp cây rừng, ông chia cây rừng trong một lâm phần thành 5 cấp dựa vào khả năng sinh trưởng, kích thước
và chất lượng của cây rừng Phân cấp của Kraft phản ánh được tình hình phân hoá cây rừng, tiêu chuẩn phân cấp rõ ràng, đơn giản và dễ áp dụng nhưng chỉ phù hợp với rừng thuần loài đều tuổi
Việc phân cấp cây rừng cho rừng hỗn loài nhiệt đới tự nhiên là một vấn đề phức tạp, cho đến nay vẫn chưa có tác giả nào đưa ra được phương án phân cấp cây rừng cho rừng nhiệt đới tự nhiên mà được chấp nhận rộng rãi Sampion Gripfit (1948), khi nghiên cứu rừng tự nhiên ấn Độ và rừng ẩm nhiệt đới Tây Phi
có kiến nghị phân cấp cây rừng thành 5 cấp cũng dựa vào kích thước và chất lượng cây rừng Richards (1952) [26] phân rừng ở Nigeria thành 6 tầng dựa vào chiều cao cây rừng
Như vậy, hầu hết các tác giả khi nghiên cứu về tầng thứ thường đưa ra những nhận xét mang tính định tính, việc phân chia tầng thứ theo chiều cao mang tính cơ giới nên chưa phản ánh được sự phân tầng phức tạp của rừng tự nhiên nhiệt đới
1.1.1.3 Nghiên cứu định lượng cấu trúc rừng
Việc nghiên cứu cấu trúc rừng đã có từ lâu và được chuyển dần từ mô tả định tính sang định lượng với sự hỗ trợ của thống kê toán học và tin học, trong
đó việc mô hình hoá cấu trúc rừng, xác lập mối quan hệ giữa các nhân tố cấu
Trang 6trúc rừng đã được nhiều tác giả nghiên cứu có kết quả Vấn đề về cấu trúc không gian và thời gian của rừng được các tác giả tập trung nghiên cứu nhiều nhất Có thể kể đến một số tác giả tiêu biểu như: Rollet B (1971), Brung (1970), Loeth et
al (1967) rất nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu cấu trúc không gian và thời gian của rừng theo hướng định lượng và dùng các mô hình toán để mô phỏng các qui luật cấu trúc (dẫn theo Trần Văn Con, 2001) [6] Rollet B (1971) đã mô
tả mối quan hệ giữa chiều cao và đường kính bằng các hàm hồi qui, phân bố đường kính bằng các dạng phân bố xác suất Nhiều tác giả còn sử dụng hàm Weibull để mô hình hoá cấu trúc đường kính loài thông theo mô hình của Schumarcher và Coil (Belly, 1973) Bên cạnh đó các dạng hàm Meyer, Hyperbol, hàm mũ, Pearson, Poisson, cũng được nhiều tác giả sử dụng để mô hình hoá cấu trúc rừng
Một vấn đề nữa có liên quan đến nghiên cứu cấu trúc rừng đó là việc phân loại rừng theo cấu trúc và ngoại mạo hay ngoại mạo sinh thái [10] Cơ sở phân loại rừng theo xu hướng này là đặc điểm phân bố, dạng sống ưu thế, cấu trúc tầng thứ và một số đặc điểm hình thái khác của quần xã thực vật rừng Đại diện cho hệ thống phân loại rừng theo hướng này có Humbold (1809), Schimper (1903), Aubreville (1949), UNESCO (1973) Trong nhiều hệ thống phân loại rừng theo xu hướng này khi nghiên cứu ngoại mạo của quần xã thực vật đã không tách rời khỏi hoàn cảnh của nó và do vậy hình thành một hướng phân loại theo ngoại mạo sinh thái
Khác với xu hướng phân loại rừng theo cấu trúc và ngoại mạo chủ yếu
mô tả rừng ở trạng thái tĩnh Trên cơ sở nghiên cứu rừng ở trạng thái động Melekhov đã nhấn mạnh sự biến đổi của rừng theo thời gian, đặc biệt là sự biến đổi của tổ thành loài cây trong lâm phần qua các giai đoạn khác nhau trong quá trình phát sinh và phát triển của rừng
Trang 7Công trình nghiên cứu của R Catinot (1965) [3], Plaudy.J (1987) [22] đã biểu diễn cấu trúc hình thái rừng bằng các phẫu đồ rừng, nghiên cứu các cấu trúc sinh thái thông qua việc mô tả phân loại theo các khái niệm dạng sống, tầng phiến
1.1.2 Về đa dạng tầng cây gỗ
Về đa dạng hệ thực vật, trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu, đặc biệt những công trình có giá trị vào thế kỷ XIX – XX, như Thực vật chí
Ấn Độ gồm 7 tập (1872), Thực vật chí Hải Nam (1973 – 1977), Thực vật chí Vân Nam (1997),… Tất cả các công trình đều đã nêu lên mức độ phong phú
và đa dạng của hệ thực vật rừng ở từng vùng nhất định Tiêu biểu là công trình của Tolmachop ở Liên Xô (cũ) (Nguyễn Bá Thụ, 1995 [32]) Tác giả đã đưa ra nhận định, một hệ thực vật cụ thể ở vùng nhiệt đới ẩm thường có tới
1500 – 2000 loài
Ngày nay, đa dạng sinh học đang được nhiều nhà khoa học quan tâm, đặc biệt việc bảo vệ đa dạng sinh học đã trở thành vấn đề quốc tế mà mọi quốc gia đều đặt vào vị trí quan trọng Quan trọng về lĩnh vực này là công ước bảo tồn đa dạng sinh học được thông qua tại Hội nghị thượng đỉnh toàn cầu ở Rio De Janeiro (1992) (Nguyễn Bá Thụ, 1995) Tại đây, định nghĩa về đa dạng sinh học đã được nêu một cách đầy đủ là: Đa dạng sinh học gồm 3 yếu
tố đa dạng hệ sinh thái, đa dạng loài và đa dạng di truyền
1.1.3 Nghiên cứu về tái sinh rừng
Tái sinh rừng là một quá trình sinh học mang tính đặc thù của hệ sinh thái rừng, biểu hiện của nó là sự xuất hiện của một thế hệ cây con của những loài cây
gỗ ở những nơi còn hoàn cảnh rừng: dưới tán rừng, chỗ trống trong rừng, đất rừng sau khai thác, đất rừng sau nương rẫy Vai trò lịch sử của lớp cây con này là
Trang 8thay thế thế hệ cây già cỗi Vì vậy tái sinh từng hiểu theo nghĩa hẹp là quá trình phục hồi thành phần cơ bản của rừng, chủ yếu là tầng cây gỗ
Theo quan điểm của các nhà nghiên cứu thì hiệu quả tái sinh rừng được xác định bởi mật độ, tổ thành loài cây, cấu trúc tuổi, chất lượng cây con, đặc điểm phân bố Sự tương đồng hay khác biệt giữa tổ thành lớp cây tái sinh và tầng cây gỗ lớn đã được nhiều nhà khoa học quan tâm (Mibbre-ad, 1930; Richards, 1933; 1939; Aubreville, 1938; Beard, 1946; Lebrun và Gilbert, 1954; Joné, 1955-1956; Schultz, 1960; Baur, 1964; Rollet, 1969) Do tính chất phức tạp về tổ thành loài cây, trong đó chỉ có một số loài có giá trị nên trong thực tiễn, người ta chỉ khảo sát những loài cây có ý nghĩa nhất định
Quá trình tái sinh tự nhiên ở rừng nhiệt đới vô cùng phức tạp và còn ít được nghiên cứu Phần lớn tài liệu nghiên cứu về tái sinh tự nhiên của rừng mưa thường chỉ tập trung vào một số loài cây có giá trị kinh tế dưới điều kiện rừng đã
ít nhiều bị biến đổi Van steenis (1956) [40] đã nghiên cứu hai đặc điểm tái sinh phổ biến của rừng mưa nhiệt đới là tái sinh phân tán liên tục của các loài cây chịu bóng và tái sinh vệt của các loài cây ưa sáng
Vấn đề tái sinh rừng nhiệt đới được thảo luận nhiều nhất là hiệu quả các cách thức sử lý lâm sinh liên quan đến tái sinh của các loài cây mục đích ở các kiểu rừng Từ đó các nhà lâm sinh học đã xây dựng thành công nhiều phương thức chặt tái sinh Công trình của Bernard (1954, 1959); Wyatt Smith (1961, 1963) [39] với phương thức rừng đều tuổi ở Mã Lai; Nicholson (1958) ở Bắc Borneo; Donis và Maudoux (1951, 1954) với công thức đồng nhất hoá tầng trên
ở Zaia; Taylor (1954), Jones (1960) với phương thức chặt dần tái sinh dưới tán ở Nijêria và Gana; Barnarji (1959) với phương thức chặt dần nâng cao vòm lá ở Andamann Nội dung chi tiết các bước và hiệu quả của từng phương thức đối với
Trang 9tái sinh đã được Baur (1964) tổng kết trong tác phẩm: Cơ sở sinh thái học của kinh doanh rừng mưa
Nghiên cứu tái sinh ở rừng nhiệt đới Châu Phi, A.Obrevin (1938) nhận thấy cây con của các loài cây ưu thế trong rừng mưa là rất hiếm A.Obrevin đã khái quát hoá các hiện tượng tái sinh ở rừng nhiệt đới Châu Phi để đúc kết nên lý luận bức khảm tái sinh, nhưng phần lý giải các hiện tượng đó còn bị hạn chế Vì vậy lý luận của ông còn ít sức thuyết phục, chưa giúp ích cho thực tiễn sản xuất các biện pháp kỹ thuật điều khiển tái sinh rừng theo những mục tiêu kinh doanh
đã đề ra
Tuy nhiên, những kết quả quan sát của Davit và P.W Richards (1933), Bơt (1946), Sun (1960), Role (1969) [20] ở rừng nhiệt đới Nam Mỹ lại khác hẳn với nhận định của A.Obrevin Đó là hiện tượng tái sinh tại chỗ và liên tục của các loài cây và tổ thành loài cây có khả năng giữ nguyên không đổi trong một thời gian dài
Về phương pháp điều tra tái sinh tự nhiên, nhiều tác giả đã sử dụng cách lấy mẫu ô vuông theo hệ thống của Lowdermilk (1927), với diện tích ô đo đếm thông thường từ 1 đến 4 m2 Diện tích ô đo đếm nhỏ nên thuận lợi trong điều tra nhưng số lượng ô phải đủ lớn mới phản ánh trung thực tình hình tái sinh rừng
Để giảm sai số trong khi thống kê tái sinh tự nhiên, Barnard (1950) đã đề nghị một phương pháp "điều tra chẩn đoán" mà theo đó kích thước ô đo đếm có thể thay đổi tuỳ theo giai đoạn phát triển của cây tái sinh ở các trạng thái rừng khác nhau
H Lamprecht (1989) [38] căn cứ vào nhu cầu ánh sáng của các loài cây trong suốt quá trình sống để phân chia cây rừng nhiệt đới thành nhóm cây ưa sáng, nhóm cây bán chịu bóng và nhóm cây chịu bóng Kết cấu của quần thụ lâm
Trang 10phần có ảnh hưởng đến tái sinh rừng I.D Yurkevich (1960) đã chứng minh độ tàn che tối ưu cho sự phát triển bình thường của đa số các loài cây gỗ là 0,6 - 0,7
Các công trình nghiên cứu về phân bố tái sinh tự nhiên rừng nhiệt đới đáng chú ý là công trình nghiên cứu của Richards, P.W (1952), Bernard Rollet (1974), tổng kết các kết quả nghiên cứu về phân bố số cây tái sinh tự nhiên đã nhận xét: trong các ô có kích thước nhỏ (1 x 1m, 1 x 1.5m) cây tái sinh tự nhiên
có dạng phân bố cụm, một số ít có phân bố Poisson ở Châu Phi trên cơ sở các số liệu thu thập Tayloer (1954), Barnard (1955) xác định số lượng cây tái sinh trong rừng nhiệt đới thiếu hụt cần thiết phải bổ sung bằng trồng rừng nhân tạo Ngược lại, các tác giả nghiên cứu về tái sinh tự nhiên rừng nhiệt đới Châu á như Budowski (1956), Bava (1954), Atinot (1965) lại nhận định dưới tán rừng nhiệt đới nhìn chung có đủ số lượng cây tái sinh có giá trị kinh tế, do vậy các biện pháp lâm sinh đề ra cần thiết để bảo vệ và phát triển cây tái sinh có sẵn dưới tán rừng (Nguyễn Duy Chuyên, 1996) [5]
Baur G.N (1962) [2] cho rằng, sự thiếu hụt ánh sáng ảnh hưởng đến phát triển của cây con còn đối với sự nảy mầm và phát triển của cây mầm, ảnh hưởng này thường không rõ ràng và thảm cỏ, cây bụi có ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây tái sinh ở những quần thụ kín tán, thảm cỏ và cây bụi kém phát triển nhưng chúng vẫn có ảnh hưởng đến cây tái sinh
Độ khép tán của quần thụ ảnh hưởng trực tiếp đến mật độ và sức sống của cây con Trong công trình nghiên cứu mối quan hệ qua lại giữa cây con và quần thụ, V.G.Karpov (1969) đã chỉ ra đặc điểm phức tạp trong quan hệ cạnh tranh về dinh dưỡng khoáng của đất, ánh sáng, độ ẩm và tính chất không thuần nhất của quan hệ qua lại giữa các thực vật tuỳ thuộc đặc tính sinh vật học, tuổi và điều kiện sinh thái của quần thể thực vật (dẫn theo Nguyễn Văn Thêm, 2002) [31]
Trang 11Trong nghiên cứu tái sinh rừng người ta nhận thấy rằng tầng cỏ và cây bụi qua thu nhận ánh sáng, độ ẩm và các nguyên tố dinh dưỡng khoáng của tầng đất mặt đã ảnh hưởng xấu đến cây con tái sinh của các loài cây gỗ Những quần thụ kín tán, đất khô và nghèo dinh dưỡng khoáng do đó thảm cỏ và cây bụi sinh trưởng kém nên ảnh hưởng của nó đến các cây gỗ tái sinh không đáng kể Ngược lại, những lâm phần thưa, rừng đã qua khai thác thì thảm cỏ có điều kiện phát sinh mạnh mẽ Trong điều kiện này chúng là nhân tố gây trở ngại rất lớn cho tái sinh rừng (Xannikov, 1967; Vipper, 1973) (Nguyễn Văn Thêm, 2002) [31]
Như vậy, các công trình nghiên cứu được đề cập ở trên đã phần nào làm sáng tỏ việc đặc điểm tái sinh tự nhiên ở rừng nhiệt đới Đó là cơ sở để xây dựng các phương thức lâm sinh hợp lý
Tái sinh tự nhiên của thảm thực vật sau nương rẫy được một số tác giả nghiên cứu Saldarriaga (1991) nghiên cứu tại rừng nhiệt đới ở Colombia và Venezuela nhận xét: Sau khi bỏ hoá số lượng loài thực vật tăng dần từ ban đầu đến rừng thành thục Thành phần của các loài cây trưởng thành phụ thuộc vào tỷ
lệ các loài nguyên thuỷ mà nó được sống sót từ thời gian đầu của quá trình tái sinh, thời gian phục hồi khác nhau phụ thuộc vào mức độ, tần số canh tác của khu vực đó (dẫn theo Phạm Hồng Ban) [1] Kết quả nghiên cứu của các tác giả Lambertetal (1989), Warner (1991), Rouw (1991) đều cho thấy quá trình diễn thế sau nương rẫy như sau: đầu tiên đám nương rẫy được các loài cỏ xâm chiếm, nhưng sau một năm loài cây gỗ tiên phong được gieo giống từ vùng lân cận hỗ trợ cho việc hình thành quần thụ các loài cây gỗ, tạo ra tiểu hoàn cảnh thích hợp cho việc sinh trưởng của cây con Những loài cây gỗ tiên phong chết đi sau 5-10 năm và được thay thế dần bằng các loài cây rừng mọc chậm, ước tính cần phải mất hàng trăm năm thì nương rẫy cũ mới chuyển thành loại hình rừng gần với dạng nguyên sinh ban đầu
Trang 12Tóm lại, qua những kết quả nghiên cứu tái sinh tự nhiên của thảm thực vật rừng trên thế giới chỉ ra được các phương pháp nghiên cứu của một số tác giả cũng như những quy luật tái sinh ở một số nơi Đồng thời các tác giả đã chỉ ra được một số biện pháp lâm sinh phù hợp tác động vào đó nhằm thúc đẩy quá trình tái sinh theo chiều hướng có lợi
1.2 Những nghiên cứu ở Việt Nam
1.2.1 Những nghiên cứu về cấu trúc rừng
Việc nghiên cứu cấu trúc rừng ở Việt nam cũng đã được rất nhiều tác giả
đề cập tới nhằm đưa ra giải pháp lâm sinh phù hợp, song tiêu biểu phải kể đến một số công trình nghiên cứu sau:
Tác giả Thái Văn Trừng (1963, 1970, 1978) [33] đã đưa ra mô hình cấu trúc tầng như: Tầng vượt tán (A1), tầng ưu thế sinh thái (A2), tầng dưới tán (A3), tầng cây bụi (B) và tầng cỏ quyết (C) Ông đã vận dụng và cải tiến bổ sung phương pháp biểu đồ, mặt cắt đứng của Davit - Risa để nghiên cứu cấu trúc rừng Việt Nam, trong đó tầng cây bụi và thảm tươi được vẽ phóng đại với tỉ lệ nhỏ hơn và có ký hiệu thành phần loài cây của quần thể đối với những đặc trưng sinh thái và vật hậu cùng biểu đồ khí hậu, vị trí địa lý, địa hình Bên cạnh đó, ông còn dựa vào 4 tiêu chuẩn để phân chia kiểu thảm thực vật rừng Việt Nam Đó là dạng sống ưu thế của những thực vật trong tầng cây lập quần, độ tàn che của tầng ưu thế sinh thái, hình thái sinh thái của nó và trạng mùa của tán lá Với những quan điểm trên, Thái Văn Trừng đã phân chia thảm thực vật Rừng Việt Nam thành 14 kiểu Rõ ràng các nhân tố cấu trúc rừng được vận dụng triệt để trong phân loại rừng dựa trên quan điểm sinh thái phát sinh quần thể
Đặc điểm cấu trúc rừng lá rộng thường xanh ở Hương Sơn, Hà Tĩnh đã được tác giả Đào Công Khanh(1996)[17] tiến hành Đây là cơ sở đề xuất một
Trang 13số biện pháp lâm sinh phục vụ khai thác và nuôi dưỡng rừng Nguyễn Văn Trương (1983) khi nghiên cứu cấu trúc rừng hỗn loài đã xem xét sự phân tầng theo hướng định lượng, phân tầng theo cấp chiều cao một cách cơ giới Với tác giả Vũ Đình Phương (1987)[24] đã nhận định, việc xác định tầng thứ của rừng lá rộng thường xanh là hoàn toàn hợp lý và cần thiết, nhưng chỉ trong trường hợp rừng có sự phân tầng rõ rệt có nghĩa là khi rừng đã phát triển ổn định mới sử dụng phương pháp định lượng để xác định giới hạn của các tầng cây Nguyễn Anh Dũng (2000)[9] đã tiến hành nghiên cứu một số đặc điểm cấu trúc tầng cây gỗ cho 2 trạng thái rừng là IIa và IIIa1 ở Lâm Trường Sông
Đà - Hoà Bình
Khi thử nghiệm phương pháp nghiên cứu một số quy luật cấu trúc, sinh trưởng phục vụ điều chế rừng lá rộng, hỗn loài thường xanh ở Kon Hà Nừng - Gia Lai, tác giả Vũ Đình Phương, Đào Công Khanh [25] đã cho rằng: đa số các loài cây có cấu trúc đường kính và chiều cao giống với cấu trúc tương ứng của lâm phần, đồng thời cấu trúc của loài cũng có những biến động
Công trình nghiên cứu mô hình hoá cấu trúc đường kính D1.3 và biểu diễn chúng theo các dạng hàm phân bố xác suất khác nhau, nổi bật là các công trình nghiên cứu của các tác giả: Nguyễn Hải Tuất (1982,1986) [36,37]
đã sử dụng hàm phân bố giảm, phân bố khoảng cách để biểu diễn cấu trúc rừng thứ sinh và áp dụng quá trình Poisson vào nghiên cứu cấu trúc quần thể rừng; Tác giả Trần Văn Con (1991) [6] đã áp dụng hàm Weibull để mô phỏng cấu trúc đường kính cho rừng Khộp ở Đắk Lắk …vv
Trần Ngũ Phương (1970) đã chỉ ra những đặc điểm cấu trúc của các thảm thực vật rừng miền Bắc Việt Nam trên cơ sở kết quả điều tra tổng quát
về tình hình rừng miền Bắc Việt Nam từ 1961 đến 1965 Nhân tố cấu trúc đầu tiên được nghiên cứu là tổ thành và thông qua đó một số quy luật phát triển
Trang 14của các hệ sinh thái rừng được phát hiện và ứng dụng vào thực tiễn sản xuất Tiếp đến tác giả Bảo Huy (1993[16]) và Đào Công Khanh (1995[17]) khi nghiên cứu tổ thành loài cây đối với rừng tự nhiên ở Đăc Lăk và Hương Sơn –
Hà Tĩnh đều xác định tỷ lệ tổ thành của các nhóm loài cây mục đích, nhóm loài cây hỗ trợ và nhóm loài cây phi mục đích cụ thể, đề từ đó đề xuất biện pháp khai thác thích hợp cho từng đối tượng theo hướng điều chỉnh tổ thành hợp lý
Hai tác giả Lê Sáu (1996[27]) và Trần Cẩm Tú (1999[35]) khi nghiên cứu cấu trúc rừng tự nhiên ở Kon Hà Nừng – Gia Lai và Hương Sơn – Hà Tĩnh đều xác định danh mục các loài cây cụ thể theo cấp tổ thành và các tác giả đều kết luận sự phân bố của một số loài cây theo cấp tổ thành tuân theo hàm phân bố giảm Cấp tổ thành càng cao số loài càng giảm
Khi nghiên cứu cấu trúc rừng tại Vườn Quốc gia Cát Tiên tác giả Ngô Minh Mẫn (2005 [19]) đã kết luận, phân bố của số lượng loài cây theo cấp tổ thành của trạng thái IIIA1, IIIA2 tuân theo phân bố khoảng cách Võ Văn Sung (2005 [28]) khi nghiên cứu cấu trúc rừng tự nhiên ven biển tại khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu - Phước Bửu cũng cho thấy cấu trúc tổ thành ở trạng thái IIB và IIIA2 tuân theo phân bố khoảng cách
Như vậy, hầu hết các công trình nghiên cứu rừng gần đây thường thiên
về việc mô hình hoá các quy luật kết cấu lâm phần và việc đề xuất các biện pháp kỹ thuật tác động vào rừng thường ít đề cập đến yếu tố sinh thái nên chưa thực sự áp dụng vào kinh doanh rừng đáp ứng mục tiêu ổn định lâu dài Bởi vậy muốn đề xuất được một giải pháp lâm sinh đòi hỏi phải nghiên cứu cấu trúc rừng một cách chuyên sâu và phải dựa trên quan điểm tổng hợp về sinh thái học, lâm học, sản lượng và điều quan trọng hơn cả phải phân tích
được các quy luật tự nhiên mà nó tồn tại trong hệ sinh thái rừng
Trang 151.2.2 Đa dạng tầng cây gỗ
Đã có nhiều tác giả Việt Nam quan tâm nghiên cứu về đa dạng sinh học, đặc biệt là đa dạng hệ thực vật, đầu tiên phải kể đến công trình nghiên cứu “Thảm thực vật rừng Việt Nam” của Thái Văn Trừng (1963, 1978 [33]) Tác giả đã tổng kết và công bố công trình nghiên cứu của mình với 7004 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 1850 chi và 189 họ ở Việt Nam Ông đã nhấn mạnh sự ưu thế của ngành thực vật hạt kín (Angiospermae) trong hệ thực vật Việt Nam với 6336 loài chiếm 90,9%, 1727 chi chiếm 93,5% và 239 họ chiếm 82,7% trong tổng số taxon mỗi bậc Tiếp theo là công trình “Bước đầu nghiên cứu rừng Miền Bắc” của Trần Ngũ Phương (1970) Tác giả chia rừng miền Bắc Việt Nam thành 3 đai với 8 kiểu
Đến năm 1985, Phạm Hoàng Hộ đã xuất bản “Danh lục thực vật Phú Quốc” và công bố 793 loài thực vật có mạch trên diện tích 592km2 Đặc biệt
có 3 quyển “cây cỏ Việt Nam” (1991 – 1993) của tác giả đã mô tả 10.500 loài thực vật có mạch, đó là công trình đầy đủ có hình vẽ kèm theo về toàn bộ hệ thực vật rừng Việt Nam (1985 [13])
Xác định các nhân tố đa dạng sinh học nói chung và đa dạng cây gỗ nói riêng có ý nghĩa quan trọng đối với việc bảo vệ và sử dụng tính đa dạng một cách lâu bền Tháng 5 năm 1993, dự án “Bảo vệ đa dạng sinh học ở Việt Nam” do tổ chức hợp tác văn hóa kỹ thuật (A.C.C.T) của các quốc gia nói tiếng Pháp giúp đỡ đã được ký kết Trên cơ sở đó, nhiều công trình nghiên cứu đã được thực hiện trên các vùng sinh thái trong nước như “Nghiên cứu đa dạng sinh học của rừng Tuyên Quang và các giải pháp bảo vệ và phát triển lâu bền” do GS TS Đặng Huy Huỳnh và cộng sự thực hiện Hay “Bảo tồn đa dạng sinh học Hà Tĩnh” do GS Võ Quý chủ trì… Kết quả các nghiên cứu đã
có giá trị nhất định trong việc bảo vệ đa dạng sinh học của Việt Nam Các báo
Trang 16cáo đã đề xuất được một số ý kiến thiết thực cho việc sử dụng tài nguyên rừng hợp lý và lâu bền PGS TS Nguyễn Nghĩa Thìn, GS.TS Phùng Ngọc Lan,
TS Nguyễn Bá Thụ đã nghiên cứu khá hoàn chỉnh và có hệ thống về tính đa dạng sinh học ở Vườn Quốc Gia Cúc Phương và đã công bố trong các tạp chí xuất bản từ năm 1994 đến nay về đa dạng hệ thực vật, đa dạng về nguồn gen cây có ích, đa dạng về các quần xã thực vật của Vườn Quốc gia Cúc Phương
Gần đây Lê Thiết Cương (2000[7]) đã nghiên cứu tính đa dạng cây gỗ vùng núi cao của Vườn Quốc gia Ba Vì và đã rút ra kết luận tính đa dạng của cây gỗ từ độ cao 800m trở lên lớn hơn từ độ cao 800m trở xuống
Khi nghiên cứu công thức tổ thành và chỉ số đa dạng tầng cây gỗ cho một số trạng thái rừng tự nhiên là IIB, IIIA2, IIIB và IVA Cao Thị Thu Hiền (2008[11]) đã đưa ra kết luận về cấu trúc tổ thành và chỉ số đa dạng IV% tại
03 tỉnh là Quảng Ninh, Nghệ An, Đắk Lắc
1.2.3 Những nghiên cứu về tái sinh rừng
Tái sinh rừng ở nước ta chưa có công trình nào nghiên cứu một cách đầy
đủ và hệ thống, đặc biệt là tái sinh tự nhiên, các kết quả nghiên cứu về tái sinh rừng thường được đề cấp đến trong các công trình nghiên cứu về thảm thực vật, trong các báo cáo khoa học và công bố trên các tạp chí Rừng Việt Nam mang những đặc điểm tái sinh của rừng nhiệt đới nói chung, nhưng phần lớn là rừng thứ sinh phục hồi nên những quy luật tái sinh đã bị xáo trộn
Khi nghiên cứu rừng nhiệt đới ở Việt Vam tác giả Trần Ngũ Phương (1965) đã nhấn mạnh, rừng tự nhiên có nhiều tầng, khi một tầng nào đó của rừng bắt đầu già cỗi thì nó đã chuẩn bị cho bản thân một lớp cây con tái sinh
để sau này sẽ thay thế khi nó bị tiêu vong[23] Phùng Ngọc Lan (1964) đã nêu kết quả tra dặm hạt Lim xanh dưới tán rừng ở lâm trường Hữu Lũng, Lạng
Trang 17Sơn Ngay từ giai đoạn nảy mầm, bọ xít là nhân tố gây ảnh hưởng đáng kể đến tỷ lệ nảy mầm [18]
Thái Văn Trừng (1978) [33] khi nghiên cứu về “Thảm thực vật rừng Việt Nam” đã kết luận: ánh sáng là nhân tố sinh thái khống chế và điều khiển
quá trình tái sinh tự nhiên trong rừng Khi các điều kiện của môi trường như đất rừng, nhiệt độ, độ ẩm dưới tán rừng chưa thay đổi thì các loài cây tái sinh không có những biến đổi lớn và cũng không diễn thế một cách tuần hoàn trong không gian và theo thời gian mà diễn thế theo những phương thức tái sinh có quy luật nhân quả giữa sinh vật và môi trường
Viện Điều tra - Quy hoạch rừng tiến hành điều tra tái sinh tự nhiên ở rừng thứ sinh Yên Bái (1965), Hà Tĩnh (1966), Quảng Bình (1969) và Lạng Sơn (1969) Từ kết quả điều tra tái sinh, Vũ Đình Huề (1969) [14] đã phân chia khả năng tái sinh rừng thành 5 cấp, rất tốt, tốt, trung bình, xấu và rất xấu Nhìn chung nghiên cứu này mới chỉ chú trọng đến số lượng mà chưa đề cập đến chất lượng cây tái sinh Cũng từ kết quả điều tra trên, Vũ Đình Huề (1975) [15] đã tổng kết
và rút ra nhận xét, tái sinh tự nhiên rừng miền Bắc Việt Nam mang những đặc điểm tái sinh của rừng nhiệt đới Dưới tán rừng nguyên sinh, tổ thành loài cây tái sinh tương tự như tầng cây gỗ; dưới tán rừng thứ sinh tồn tại nhiều loài cây gỗ mềm kém giá trị và hiện tượng tái sinh theo đám được thể hiện rõ nét tạo nên sự phân bố số cây không đồng đều trên mặt đất rừng
Kết quả nghiên cứu về tái sinh rừng tự nhiên ở ba vùng (Sông Hiếu, Yên Bái và Lạng Sơn) đã khái quát đặc điểm phân bố của nhiều loài cây có giá trị kinh doanh và biểu diễn bằng các hàm lý thuyết Từ đó làm cơ sở định hướng các giải pháp lâm sinh cho các vùng sản xuất nguyên liệu (Nguyễn Duy Chuyên 1985) [4]
Trang 18Phạm Đình Tam (1987) [29] đã làm sáng tỏ hiện tượng tái sinh lỗ trống ở rừng thứ sinh Hương Sơn, Hà Tĩnh Theo tác giả, số lượng cây tái sinh xuất hiện khá nhiều dưới các lỗ trống khác nhau Lỗ trống càng lớn, cây tái sinh càng nhiều và hơn hẳn những nơi kín tán Từ đó tác giả đề xuất phương thức khai thác chọn, tái sinh tự nhiên cho đối tượng rừng khu vực này
Trong công trình nghiên cứu của mình về mối quan hệ giữa cấu trúc rừng với lớp cây tái sinh tự nhiên trong rừng hỗn tác giả Nguyễn Văn Trương (1983) [34] cho rằng: cần phải thay đổi cách khai thác rừng cho hợp lý vừa cung cấp được gỗ, vừa nuôi dưỡng và tái sinh được rừng Muốn đảm bảo cho rừng phát triển liên tục trong điều kiện quy luật đào thải tự nhiên hoạt động thì rõ ràng là lớp cây dưới phải nhiều hơn lớp cây kế tiếp nó ở phía trên Điều kiện này không thực hiện được trong rừng tự nhiên ổn định mà chỉ có trong rừng chuẩn
có hiện tượng tái sinh liên tục đã được sự điều tiết của con người
Vũ Tiến Hinh (1991) [12] khi nghiên cứu đặc điểm tái sinh tự nhiên tại Hữu Lũng (Lạng Sơn) và vùng Ba Chẽ (Quảng Ninh) đã nhận thấy rằng,
hệ số tổ thành tính theo % số cây của tầng tái sinh và tầng cây cao có liên quan chặt chẽ với nhau Các loài có hệ số tổ thành ở tầng cây cao càng lớn thì
hệ số tổ thành ở tầng tái sinh cũng vậy
Khi nghiên cứu về tái sinh tự nhiên ở rừng Khộp vùng Easup - Đắc Lắc, Đinh Quang Diệp (1993) [8] đã kết luận: Độ tàn che, thảm mục, độ dày tầng thảm mục, điều kiện lập địa,… là những nhân tố ảnh hưởng đến số lượng
và chất lượng cây con tái sinh dưới tán rừng
Để đánh giá vai trò tái sinh và phục hồi rừng tự nhiên ở các vùng miền Bắc, Trần Xuân Thiệp (1995) [30] đã cho rằng rừng phục hồi vùng Đông Bắc chiếm trên 30% diện tích rừng hiện có, lớn nhất so với các vùng khác Khả
Trang 19năng phục hồi hình thành các vườn rừng, trang trại rừng đang phát triển ở các tỉnh trong vùng Rừng Tây Bắc phần lớn diện tích rừng phục hồi sau nương rẫy, diễn thế rừng ở nhiều vùng xuất hiện nhóm cây ưa sáng chịu hạn hoặc rụng lá, kích thước nhỏ và nhỡ là chủ yếu và nhóm cây lá kim rất khó tái sinh phục hồi trở lại do thiếu lớp cây mẹ
Thực tế cho thấy, ở nước ta hiện nay, nhiều khu vực vẫn phải dựa vào tái sinh tự nhiên còn tái sinh nhân tạo mới chỉ được triển khai trên quy mô hạn chế Vì vậy, những nghiên cứu đầy đủ về tái sinh tự nhiên cho từng đối tượng rừng cụ thể là hết sức cần thiết để từ đó có thể đề xuất những biện pháp kỹ thuật lâm sinh phù hợp
- Ở Việt Nam, chủ đề cấu trúc rừng ngày càng được quan tâm nghiên cứu nhiều hơn Các quy luật cấu trúc lâm phần đã được mô tả nhiều hơn bằng các mô hình toán học, làm cơ sở đề xuất các giải pháp kỹ thuật lâm sinh cho từng đối tượng và hoàn cảnh cụ thể Tuy nhiên, so với rừng trồng thì các công trình nghiên cứu cấu trúc rừng tự nhiên hỗn loài khác tuổi, đa dạng và phức tạp thuộc vùng nhiệt đới còn rất ít và chưa đầy đủ, đặc biệt là việc xác định tổ
Trang 20thành và chỉ số đa dạng cây gỗ cho một số trạng thái rừng tự nhiên ở các vùng sinh thái khác còn chưa được đề cập nhiều Các nghiên cứu về cấu trúc rừng đều nhằm mục đích làm sao để quản lý, sử dụng rừng một cách hiệu quả nhất Đây là vấn đề hiện đang được quan tâm một cách đặc biệt Đề tài được thực hiện nhằm góp phần vào mục tiêu chung đó
Chương 2:
MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu nghiên cứu
2.1.1 Mục tiêu chung
Bổ sung thêm kiến thức về cấu trúc rừng và xây dựng cơ sở đề xuất biện pháp kỹ thuật lâm sinh phục vụ nuôi dưỡng và quản lý rừng tự nhiên tại khu vực nghiên cứu
2.1.2 Mục tiêu cụ thể
Với từng trạng thái rừng
- Xác định được một số đặc điểm cấu trúc tầng cây cao
- Xác định được một số đặc điểm cấu trúc tầng tái sinh
- Đề xuất được một số biện pháp kỹ thuật lâm sinh
2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.2.1.Về đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là rừng cây gỗ ở các trạng thái rừng tại Đắc Tô – Kon Tum
2.2.2 Phạm vi nghiên cứu
Trang 21* Về khu vực nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu trên cơ sở số liệu của ÔTC tại Đắc Tô - Kon Tum
* Về nội dung nghiên cứu : Đề tài nghiên cứu một số đặc điểm cấu trúc cơ
bản của rừng tự nhiên Đắc Tô – Kon Tum là cơ sở đề xuất biện pháp kỹ thuật lâm sinh tác động vào rừng
2.3 Nội dung nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu đặt ra, đề tài tập trung nghiên cứu một số nội dung chính sau đây:
1 Phân loại trạng thái rừng hiện tại của các ô nghiên cứu
2 Đặc điểm cấu trúc tổ thành tầng cây cao
- Xác định công thức tổ thành loài
- Đánh giá sự đa dạng về loài
3 Đặc điểm cấu trúc đường kính và chiều cao
- Đặc điểm phân bố số cây theo cỡ kính (N - D)
- Đặc điểm phân bố số cây theo chiều cao (N - H)
- Tương quan chiều cao với đường kính
4 Đặc điểm tầng tái sinh
- Xác định tổ thành loài
- Quan hệ giữa tổ thành cây cao và cây tái sinh
- Chất lượng tái sinh
- Phân bố tái sinh theo chiều cao
- Nguồn gốc tái sinh
Trang 22- Hình thái phân bố cây tái sinh trên mặt đất
5 Ứng dụng kết quả nghiên cứu để đề xuất các biện pháp kỹ thuật lâm sinh
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp thu thập số liệu
Số liệu được thu thập trên các ÔTC, diện tích 1ha (100mx100m), trong đó điều tra các tiêu chí sau:
a Với tầng cây cao
Xác định tên loài cho từng cây, đo D1.3, Hvn, Dt, xác định phẩm chất cây
Xác định phẩm chất cây
Cây phẩm chất a: Cây gỗ khỏe mạnh, thân thẳng, đều, tán cân đối, không sâu bệnh hoặc rỗng ruột
Cây phẩm chất b: Cây có đặc điểm như thân hơi cong, tán lệch, có thể
có u biếu hoặc một số khuyết tật nhỏ nhưng vẫn có khả năng sinh trưởng và
Trang 23phát triển đạt đến độ trưởng thành; hoặc cây đã trưởng thành, có một số khuyết tật nhỏ nhưng không ảnh hưởng nhiều đến khả năng sinh trưởng hoặc lợi dụng gỗ
Cây phẩm chất c: Là những cây đã trưởng thành, bị khuyết tật nặng (sâu bệnh, cong queo, rỗng ruột, cụt ngọn …) hầu như không có khả năng lợi dụng gỗ; hoặc những cây chưa trưởng thành có nhiều khiếm khuyết (sâu bệnh, cong queo, rỗng ruột, cụt ngọn, sinh trưởng không bình thường …) khó
có khả năng tiếp tục sinh trưởng và phát triển đạt đến độ trưởng thành
b Với tầng cây tái sinh
Mỗi ÔTC đặt 5 ÔDB, mỗi ô diện tích 25m2, bố trí 5 ô 4 góc còn 1 ô ở giữa Trong ÔDB điều tra cây tái sinh như sau: Xác định tên loài cây tái sinh theo 7 cấp chiều cao (< 0,5m, 0,6 đến 1m, 1,1 đến 1,5m, 1,6 đến 2,0m, 2,1 đến 3,0m, 3,1 đến 5,0m, > 5,0m), các loài được phân theo chất lượng (khoẻ, yếu, trung bình), phân theo nguồn gốc (chồi, hạt) cho từng loài, ghi theo cách bỏ phiếu, hàng tổng ghi bằng chữ số ả rập
2.4.2 Phương pháp xử lý số liệu
Việc chỉnh lý tài liệu quan sát, lập các dãy phân bố thực nghiệm, biểu đồ thực nghiệm, tính toán các đặc trưng mẫu,… được xử lý đồng bộ trên máy tính bằng phần mềm Excel và phần mềm SPSS 19.0
2.4.2.1.Phân loại trạng thái rừng
Để phân loại trạng thái rừng, đề tài sử dụng phương pháp phân loại của Loeschau (1960) được Viện Điều tra Quy hoạch rừng nghiên cứu và bổ sung Căn cứ vào tổng tiết diện ngang (Gm2/ha), trữ lượng (M m3/ha), độ tàn che (P) và một số thông tin điều tra ngoài thực địa, tiến hành phân chia
Trang 24trạng thái cho từng ô đo đếm Cụ thể tiêu chuẩn phân chia các trạng thái rừng như sau:
+ Kiểu trạng thái II: Rừng non phục hồi sau nương rẫy hoặc sau khai thác trắng, kiểu rừng này là rừng cây gỗ có đường kính nhỏ, chủ yếu là những cây tiên phong hoặc có tính chất tiên phong ưa sáng mọc nhanh, nó có thể chia thành 2 kiểu phụ:
Kiểu phụ IIA: Rừng phục hồi còn non và đặc trưng bởi lớp cây tiên phong ưa sáng, mọc nhanh, thường đều tuổi và kết cấu một tầng, đường kính
D < 10cm, G < 10m2/ha, rừng có trữ lượng nhỏ Thuộc đối tượng nuôi dưỡng
Kiểu phụ IIB: Rừng cây tiên phong phục hồi phát triển đã lớn, đặc trưng
tổ thành gồm những cây tiên phong hoặc có tính chất tiên phong ưa sáng, mọc nhanh, thành phần loài đã phức tạp, đã có sự phân hoá về tầng thứ và tuổi Đường kính cây cao phổ biến bình quân D > 10cm, G > 10 m2/ha Thuộc đối tượng nuôi dưỡng
+ Kiểu trạng thái III: Trạng thái rừng đã qua khai thác chọn, là kiểu trạng thái đã bị tác động của con người ở nhiều mức độ khác nhau, làm cho kết cấu rừng có sự thay đổi Tuỳ theo mức độ tác động, khả năng tái sinh và cung cấp lâm sản mà có thể phân loại trạng thái rừng khác nhau:
Kiểu phụ IIIA: Rừng thứ sinh qua khai thác chọn kiệt, đang phục hồi, khả năng khai thác bị hạn chế, cấu trúc rừng bị phá vỡ hoặc thay đổi cơ bản, trạng thái này có thể chia thành một số dạng trạng thái:
Trạng thái IIIA1: Rừng mới qua khai thác chọn kiệt, cấu trúc rừng đã bị phá vỡ hoàn toàn, tán rừng bị phá vỡ thành từng mảng lớn, tầng trên còn sót lại một số cây cao nhưng phẩm chất xấu, nhiều dây leo bụi rậm, tre nứa xâm
Trang 25lấn Độ tàn che S< 0,3, ∑G < 10 m2/ha, ∑GD > 40 < 2 m2/ha, trữ lượng < 80
m3/ha Tuỳ thuộc vào mật độ tái sinh mà nó có thể chia nhỏ hơn nữa
Trạng thái IIIA2: Rừng qua khai thác kiệt bắt đầu phục hồi, đặc trưng của trạng thái này là đã hình thành tầng giữa vươn lên chiếm ưu thế với lớp cây đại bộ phận có đường kính 20 – 30cm Rừng có 2 tầng trở lên, tầng trên tán không liên tục được hình thành chủ yếu từ những cây cũ còn lại, còn có những cây to khoẻ vượt tán Độ tàn che của rừng S = 0,3 – 0,5, ∑G = 10 – 15
m2/ha, ∑GD > 40 < 2 m2/ha, trữ lượng từ 80 – 120 m3/ha Cũng tuỳ vào mật độ tái sinh có thể chia nhỏ hơn nữa
Trạng thái IIIA3: Rừng đã có quá trình phục hồi tốt (rừng trung bình, rừng có từ 2 tầng trở lên) Độ tàn che S = 0,5 - 0,7, ∑G = 16 – 21 m2/ha, ∑GD
> 40 < 2 m 2/ha, trữ lượng > 120 m3/ha
Kiểu phụ IIIB: Rừng bị tác động với mức độ thấp, trữ lượng rừng còn cao, cấu trúc rừng chưa bị phá vỡ, rừng còn giàu trữ lượng, có S > 0,7 , ∑G =
21 - 26 m2/ha, trữ lượng > 250 m3/ha
+Kiểu trạng thái IV: Rừng nguyên sinh hoặc thứ sinh phục hồi, đã phát triển đến giai đoạn ổn định, trữ lượng và sản lượng cao, có độ tàn che > 0,7,
∑G > 26 m2/ha, ∑GD > 40 > 5 m2/ha
Tuỳ theo nguồn gốc khác nhau của rừng được phân chia thành 2 kiểu phụ:
Kiểu phụ IVA: Rừng nguyên sinh
Kiểu phụ IVB: Rừng thứ sinh phục hồi đã phát triển đến giai đoạn ổn định
2.4.2.2.Xác định cấu trúc tổ thành
- Xác định công thức tổ thành:
Trang 26+ Xác định tổng số cá thể của từng loài (ni)
n N
Nếu ni x thì loài cây đó có mặt trong công thức tổ thành
Nếu ni < x thì loài cây đó có thể bỏ qua
+ Công thức tổ thành có dạng: k1A1 + k2A2 + … + knAn
Trong đó: Ai là tên loài
ki là hệ số được tính theo công thức:
100
Trang 27G% là phần trăm tiết diện ngang của loài cây nào đó so với tổng tiết diện ngang của ÔTC
Theo Daniel Marmillod, những loài cây nào có IV% > 5% mới thực sự
có ý nghĩa về mặt sinh thái trong lâm phần Mặt khác, theo Thái Văn Trừng (1978) trong một lâm phần, nhóm loài cây nào đó chiếm trên 50% tổng số cá thể của tầng cây cao thì nhóm loài đó được coi là nhóm loài ưu thế Đó là những chỉ dẫn làm cơ sở quan trọng xác định loài và nhóm loài ưu thế.Tính tổng IV% của những loài có trị số này > 5% từ cao đến thấp
2.4.2.3.Đặc trưng về mức độ phong phú và đa dạng loài
Mức độ phong phú và đa dạng loài được đánh giá thông qua các chỉ tiêu định lượng, việc tính toán được thực hiện nhờ phần mềm Excel 2003 và SPSS 13.0
Trong đó: N là số cá thể của tất cả các loài
m là số loài trong quần xã
Mức độ đa dạng loài
- Hàm số liên kết Shannon – Wiener:
Đây là chỉ số đa dạng sinh học thường được vận dụng Hàm số này được hai tác giả là Shannon và Weiner đưa ra năm 1949 dưới dạng:
Trang 28log (2.5) Trong đó: ni là số lượng cá thể của loài i trong quần xã
pi là tỷ lệ cá thể của loài i: pi = ni/N
H = 0 khi quần xã chỉ có một loài duy nhất, vì khi đó N.logN
=n log i n i Hmax = C.logN khi quần xã có số loài cao nhất và mỗi loài chỉ có
một cá thể H càng lớn thì tính đa dạng càng cao
Để so sánh mức độ đa dạng cây gỗ giữa hai quần xã, đề tài dùng công thức:
) ( )
2 1
H D H D
H H t
2 2 1
/ ) ( /
) (
) ( ) (
n H D n H D
H D H D k
2
1 )
ln (
) (ln )
(
n
m n
p p p
p H
Trang 29n D
1 2
1
1
2.4.2.4.Mô phỏng các phân bố thực nghiệm
Số liệu sau khi chỉnh lý và lập bảng phân bố tần số thực nghiệm theo
tổ, tính toán các đặc trưng mẫu, đề tài lựa chọn một số hàm lý thuyết phù hợp
để mô phỏng các quy luật phân bố: N-D1.3, N –H, H-D
Phân bố giảm, dạng hàm Meyer
Trong Lâm nghiệp, phân bố mũ thường được dùng để mô phỏng quy luật phân bố số cây theo đường kính (N-D1.3) của những lâm phần hỗn giao, khác tuổi, đã qua khai thác chọn nhiều lần Những cây có đường kính lớn chiếm tỷ lệ thấp, ngược lại những cây có đường kính nhỏ chiếm tỷ lệ cao, phân bố thực nghiệm N - D1.3 có dạng giảm Khi đó có thể dùng hàm Meyer
mô phỏng quy luật phân bố N -D1.3 của những lâm phần này
Hàm Meyer có dạng:
y = α.e-β.x (2.12) Trong đó:
Trang 30y: là tần số quan sát
x: là giá trị của nhân tố điều tra (D1.3)
α, β là hai tham số của phương trình
Khi giá trị x tăng, β càng lớn thì đường cong lõm và giảm càng nhanh, ngược lại β càng bé thì đường cong giảm từ từ
f n
.
) (
-với f0 là tần số quan sát cña tổ đầu tiên
n: dung lượng mẫu
K
D D
Phân bố Weibull
Trang 31Phân bố Weibull là phân bố của biến ngẫu nhiên liên tục với hàm mật
độ và hàm phân bố có dạng:
Hàm mật độ:
fx (x) = ..x1.e.x a
(2.16) Hàm phân bố:
F(x) = 1- e.x a (2.17)
Trong đó:
và là 2 tham số của phân bố Weibull
Tham số đặc trưng cho độ nhọn phân bố
Tham số đặc trưng cho độ lệch của phân bố
Nếu: = 1 phân bố có dạng giảm theo hàm mũ
= 3 phân bố có dạng đối xứng
> 3 phân bố có dạng lệch phải
< 3 phân bố có dạng lệch trái
Kiểm tra sự phù hợp giữa phân bố lý thuyết với phân bố thực nghiệm
Để đánh giá sự phù hợp của phân bố lý thuyết với phân bố thực nghiệm, sử dụng tiêu chuẩn Khi bình phương (2)
Nếu 2 tính ≤ 2 05 tra bảng, với bậc tự do k = m – r - 1 (m: là số tổ sau khi gộp; r: số tham số của phân bố lý thuyết cần ước lượng), thì phân bố lý thuyết phù hợp với phân bố thực nghiệm và ngược lại
Trong đó:
Trang 32ft: Tần số thực nghiệm
fl: Tần số lý thuyết
Nếu tổ nào có fl < 5 thì ghép với tổ trên hoặc tổ dưới, để sao cho fl ≥ 5
Lựa chọn phân bố lý thuyết thích hợp
Khi sử dụng các phân bố lý thuyết để mô phỏng phân bố thực nghiệm, thì phân bố nào có tỷ lệ chấp nhận cao hơn sẽ được chấp nhận
2.4.2.5 Nghiên cứu về tái sinh rừng tự nhiên
- Tổ thành cây tái sinh
Tổ thành loài cây tái sinh được xác định theo tỷ lệ % giữa số lượng cây của một loài nào đó với tổng số cây tái sinh điều tra (trong ÔTC)
Ki % =
N
Ni
.100 (2.15) Trong đó:
Ki: hệ số tổ thành cây tái sinh của loài i;
Ni: số cây tái sinh của loài i trên các ô dạng bản trong ô tiêu chuẩn; N: tổng số cây tái sinh của các loài trên các ô dạng bản trong ô tiêu chuẩn
Nếu Ki% 5% thì loài đó được tham gia vào công thức tổ thành
Nếu Ki% < 5% thì loài đó không tham gia vào công thức tổ thành
- Quan hệ giữa tổ thành cây cao và cây tái sinh
Để thấy rõ ảnh hưởng của tổ thành tầng cây cao đến tầng tái sinh phía dưới, đề tài tổng hợp tổ thành theo từng ÔTC và so sánh giữa tổ thành tầng cây cao và tổ thành tầng tái sinh
Trang 33- Mật độ cây tái sinh
Mật độ cây tái sinh được xác định theo công thức:
N/ha: mật độ cây tái sinh
No: tổng số cây tái sinh trong các ô dạng bản
So: tổng diện tích các ô dạng bản
- Mật độ cây tái sinh có triển vọng
Mật độ cây tái sinh có triển vọng được xác định theo công thức:
Ntv/ha =
So
o Ntv/ 10 000
Trong đó:
Ntv/ha: mật độ cây tái sinh có triển vọng
Ntv/o: tổng số cây tái sinh có triển vọng trên các ô dạng bản
So: tổng diện tích các ô dạng bản
- Phân bố số cây tái sinh theo cấp chiều cao
Để nghiên cứu quy luật phân bố số cây tái sinh theo chiều cao sẽ sử dụng phân bố lý thuyết để mô phỏng cấu trúc tần số
- Xác định tỷ lệ cây tái sinh theo chất lượng
Tỷ lệ được xác định theo công thức:
Trang 34Ni: tổng số cây tái sinh ở cấp chất lượng i;
N: tổng số cây tái sinh trong các ô
- Xác định hình thái cây tái sinh trên mặt đất
Dùng phương pháp dựa vào tỷ số phương sai và trung bình số cây trên
Nếu│t│< tα/2: Kết luận cây tái sinh phân bố ngẫu nhiên
Nếu t > tα/2 : Kết luận cây tái sinh phân bố cụm
Nếu t<- tα/2 Kết luận cây tái sinh phân bố đều
Giá trị tα/2 được tra với bậc tự do k=n-1
Trang 35Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Phân loại trạng thái rừng
Việc phân loại đúng trạng thái hiện tại của rừng có vai trò hết sức quan trọng trong việc xác định rõ đối tượng nghiên cứu, để từ đó đề xuất các biện pháp kỹ thuật lâm sinh thích hợp cho các đối tượng là rừng phòng hộ, rừng kinh doanh hay rừng sản xuất Hiện tại có hai hệ thống phân loại trạng thái rừng đang được sử dụng rộng rãi đó là: hệ thống phân loại trạng thái rừng của Loschau và Nghị đinh 34 về phân loại trạng thái rừng
Theo hệ thống phân loại trạng thái rừng của Loschau (1963; 1973), các trạng thái rừng thuộc kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới và kiểu rừng kín nửa rụng lá ẩm nhiệt đới ở Việt Nam được phân biệt dựa trên những nhân tố biểu thị ngoại mạo (độ tàn che, số tầng rừng, dạng sống) và cấu trúc lâm phần, như đường kính bình quân (D1.3), chiều cao bình quân (H), tiết diện ngang (G/ha), trữ lượng (M/ha) và số cây (Ncây/ha) Sử dụng những biến định lượng này để phân loại các trạng thái rừng có ưu điểm là đơn giản, dễ đo đạc
và tính toán, dễ ứng dụng để thiết kế các biện pháp lâm sinh Mặt khác, chúng cũng là những nhân tố phản ánh rõ rệt tình trạng, năng suất và khả năng cung cấp gỗ của các lâm phần Mặc dù vậy, việc phân loại các trạng thái rừng dựa trên nhiều biến phân loại không phải lúc nào cũng dễ dàng
Theo hệ thống phân loại trạng thái rừng của Nghị định 34 thì chỉ căn cứ vào một chỉ tiêu định lượng là trữ lượng của rừng để phân rừng thành ba loại là: rừng giàu, rừng trung bình, rừng nghèo Cách phân loại này rất sơ sài và rất khó có thể đưa ra được các biện pháp kỹ thuật lâm sinh hợp lý và hiệu quả
Trang 36Vì vậy, đề tài sử dụng phương pháp phân loại trạng thái rừng của Loeschau (1966) Phương pháp này đã được Viện Điều tra Quy hoạch rừng cải tiến và áp dụng rộng rãi trong thời gian gần đây để phân chia trạng thái trong quá trình điều tra tài nguyên rừng, phân chia lô kinh doanh Đề tài đã chọn các chỉ tiêu định lượng về đường kính bình quân; tổng tiết diện ngang và trữ lượng để phân loại trạng thái rừng hiện tại cho các ô tiêu chuẩn tại Đăk Tô
- Kon Tum Kết quả xử lý được tổng hợp tại bảng 3.1
Bảng 3.1: Kết quả phân loại trạng thái rừng hiện tại của các ÔTC
ÔTC N/ha (cây) D H ∑G/ha
(m 2 /ha)
M (m 3 /ha)
∑G D>40
m 2 /ha
Trạng thái
Trang 37Trạng thái III B
ÔTC 06 thuộc kiểu rừng gỗ lá rộng Rừng bị tác động với mức độ thấp, trữ lượng rừng còn cao, cấu trúc rừng chưa bị phá vỡ, rừng còn giàu trữ lượng Mật độ 665cây /ha, đường kính trung bình 25cm, tổng tiết diện ngang 32,6266m2/ha, trữ lượng 272,8488m3/ha
3.2 Cấu trúc rừng
3.2.1 Cấu trúc tổ thành rừng
Tổ thành thực vật cho biết số loài tham gia và số cá thể của từng loài trong thành phần cây gỗ của rừng Tổ thành là nhân tố cấu trúc sinh thái có ảnh hưởng quyết định đến các nhân tố sinh thái và hình thái khác của rừng
Tổ thành là một trong số các nhân tố nói lên mức độ thuận lợi của môi trường sống, là cơ sở để điều chế rừng Đây còn là một trong những chỉ tiêu quan trọng dùng để đánh giá tính bền vững, tính đa dạng sinh học trong hệ sinh thái rừng, nó ảnh hưởng đến định hướng kinh doanh và khả năng lợi dụng rừng Tổ thành loài cây càng phức tạp bao nhiêu thì rừng càng có tính cân bằng và ổn định bấy nhiêu
Tổ thành được coi là nhân tố biểu thị tỷ trọng của mỗi loài cây hay nhóm loài cây nào đó trong lâm phần trong đó, tỷ trọng mỗi loài hay nhóm loài được gọi là hệ số tổ thành và công thức biểu thị hệ số tổ thành của các loài cây trong lâm phần được gọi là công thức tổ thành
Đề tài biểu thị công thức tổ thành theo hai tiêu chí là: Theo tỷ lệ số cây (N%) và theo tỷ lệ số cây và tỷ lệ tiết diện ngang (IV%) Kết quả tính
toán cụ thể như sau:
3.2.1.1 Công thức tổ thành theo N%
Trang 38Tổ thành theo phần trăm số cây tính theo công thức (2.1) và (2.2) làm chỉ tiêu biểu thị hệ số tổ thành Kết quả tính toán chi tiết tại phụ biểu 1a, 1b, 1c, được tổng hợp tại bảng 3.2
Bảng 3.2 Công thức tổ thành của các ÔTC theo N%
ÔTC m
loài
N (cây/ha) Công thức tổ thành theo N%
5 30 537 16,2Dtr+9,5K+9,5Tt+8,38Gi+7,64+6,7Sđá+6,7Tđ+5,
59Sđ+3,35TN+26,44CLK
11,88K+9,02T+8,42Dtr+6,62Gi+6,32Cđá+6,17Tt+5,56Sđá+4,51Tđ+3,91Sđ+3,46D+3,01B+2,86Gt+2,71Hn+2,56R+2,41Tn+2,26Du+18,35CLK
Chú giải: T: Trâm; Tt: Trâm tía; K: Kháo; D: Dẻ; B: Bứa; Dtr: Dẻ
trắng; R: Re; Cr: Chay rừng; Tr: Trường; Gi: Giổi; Cđ: Cóc đá; Sđ: Sến đất; Sđá: Săng đá; Hn: Hồng quang; Hn: Huỳnh nương; Gt: Gội tẻ; Tđ: Thạch đảm; Tn: Thông nàng; Du: Dung
Từ kết quả bảng 3.2 nhận thấy:
ÔTC 01: Có mật độ cây 541 cây/ha Trong tổng số 34 loài có 7 loài
Trang 39tham gia vào công thức tổ thành: Trâm có 155 cây/ha với chỉ số N% là 28,65%, Kháo có 88 cây/ha, chỉ số N% đạt 16,27%, Dẻ có 61 cây/ha với chỉ
số N% đạt 11,28%, Bứa có 53 cây/ha, chỉ số N% là 9,8%, Dẻ trắng có 35 cây/ha với chỉ số N% đạt 6,47%, Re mật độ 22 cây/ha và chỉ số N% là 4,07%, Chay rừng chỉ có N% là 3,51%
ÔTC 02: Có mật độ cây 560 cây/ha Trong tổng số 45 loài có 8 loài tham gia vào công thức tổ thành: Trâm có 135 cây/ha với chỉ số N% là 24,11%, Kháo có 89 cây/ha, chỉ số N% đạt 15,89%, Dẻ có 53 cây/ha với chỉ
số N% đạt 9,46%, Bứa có 48cây/ha, chỉ số N% là 8,57%, Dẻ trắng có 33 cây/ha với chỉ số N% đạt 5,89%, Re mật độ 24 cây/ha và chỉ số N% là 4,29%, Chay rừng có 17 cây/ha chỉ số N% là 3,04%, Trường chỉ có N% là 2,5%
ÔTC 03: Có mật độ cây 515 cây/ha Trong tổng số 30 loài có 11 loài tham gia vào công thức tổ thành: Giổi có 62 cây/ha với chỉ số N% là 12,04%,
Dẻ trắng có 57 cây/ha, chỉ số N% đạt 11,07%, Kháo có 50 cây/ha với chỉ số N% đạt 9,71%, Trâm tía có 45 cây/ha, chỉ số N% là 8,74%, Cóc đá có 44 cây/ha với chỉ số N% đạt 8,54%, Sến đất mật độ 26 cây/ha và chỉ số N% là 5,05%, Săng đá có 25 cây/ha chỉ số N% là 4,85%, Hồng quang có 24 cây/ha, chỉ số N% là 4,66%, Thạch đảm có 24 cây/ha với chỉ số N% đạt 4,66%, Huỳnh nương đất mật độ 22 cây/ha và chỉ số N% là 54,27%, Gội tẻ có 20 cây/ha chỉ số N% là 3,88%,
ÔTC 04: Có mật độ cây 540 cây/ha Trong tổng số 32 loài có 12 loài tham gia vào công thức tổ thành: Trâm tía có 71 cây/ha với chỉ số N% là 13,15%, Kháo có 61 cây/ha, chỉ số N% đạt 11,3%, Cóc đá có 44 cây/ha với chỉ số N% đạt 8,15%, Săng đá có 42 cây/ha, chỉ số N% là 7,78%, Thạch đảm
có 42 cây/ha với chỉ số N% đạt 7,78%, Dẻ trắng mật độ 39 cây/ha và chỉ số N% là 7,22%, Giổi có 30 cây/ha chỉ số N% là 5,56%, Nang có 27 cây/ha, chỉ
Trang 40số N% là 5%, Trường vải có 22 cây/ha với chỉ số N% đạt 4,07%, Gội tẻ đất mật độ 21 cây/ha và chỉ số N% là 3,89%, Huỳnh nương có 19 cây/ha chỉ số N% là 3,52%, Dung có 17 cây/ha và chỉ số N% là 3,15
ÔTC 05: Có mật độ cây 537 cây/ha Trong tổng số 30 loài có 9loài tham gia vào công thức tổ thành: Dẻ trắng có 87 cây/ha với chỉ số N% là 16,2%, Kháo có 51 cây/ha, chỉ số N% đạt 9,5%, Trâm tía có 51 cây/ha với chỉ số N% đạt 9,5%, Giổi có 45 cây/ha, chỉ số N% là 8,38%, Cóc đá có 41 cây/ha với chỉ số N% đạt 7,64%, Săng đá mật độ 36 cây/ha và chỉ số N% là 6,7%, Thạch đảm có 36 cây/ha chỉ số N% là 6,7%, Sến đất có 30 cây/ha, chỉ
số N% là 5,59%, Thông nàng có 18 cây/ha với chỉ số N% đạt 3,35%
ÔTC 06: Có mật độ cây 665 cây/ha Trong tổng số 48 loài có 16 loài tham gia vào công thức tổ thành: Kháo có 79 cây/ha với chỉ số N% là 11,88%, Trâm có 60 cây/ha, chỉ số N% đạt 9,02%, Dẻ trắng có 56 cây/ha với chỉ số N% đạt 8,42%, Giổi có 44 cây/ha, chỉ số N% là 6,62%, Cóc đá có
42 cây/ha với chỉ số N% đạt 6,32%, Trâm tía mật độ 41 cây/ha và chỉ số N%
là 6,17%, Săng đá có 37 cây/ha chỉ số N% là 5,56%, Thạch đảm có30 cây/ha, chỉ số N% là 4,51%, Sến đất có 26 cây/ha với chỉ số N% đạt 3,91%, Dẻ mật
độ 23 cây/ha và chỉ số N% là 3,46%, Bứa có 20 cây/ha chỉ số N% là 3,01%, Gội tẻ có 19 cây/ha và chỉ số N% là 2,86% , Huỳnh nương có 18 cây/ha, chỉ
số N% đạt 2,71%, Re có 17 cây/ha với chỉ số N% đạt 2,56%, Thông nàng có
16 cây/ha, chỉ số N% là 2,41%, Dung có 15 cây/ha với chỉ số N% đạt 2,26%,
Như vậy, tổ thành chính của loài tại các ÔTC gồm nhiều loài cây có giá trị cao về kinh tế như: Trâm, Kháo, Dẻ, Re
3.2.1.2 Công thức tổ thành theo IV%
Chỉ số IV% tính theo công thức (2.3) làm chỉ tiêu biểu thị hệ số tổ thành Kết quả tính toán chi tiết tại phụ biểu 2a, 2b, 2c, được tổng hợp tại bảng 3.3