1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đánh giá tác động của dự án 661 tại huyện con cuông, tỉnh nghệ an

104 136 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mặt khác, từ trước tới nay các Chương trình, Dự án có nguồn vốn ngân sách Nhà nước sau khi kết thúc thường được đánh giá theo phương pháp truyền thống mang tính “kiểm tra từ trên xuống”

Trang 1

NGUYỄN TRỌNG BẰNG

ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA DỰ ÁN 661 TẠI HUYỆN CON CUÔNG TỈNH NGHỆ AN

Chuyên ngành: Lâm học

Mã số: 60.62.02.01

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS LÊ SỸ VIỆT

Hà Nội, 2012

Trang 2

ĐẶT VẤN ĐỀ

Rừng là một hệ sinh thái đa dạng, phong phú, có vai trò cực kỳ quan trọng đối với môi trường sống và là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá của mỗi quốc gia Tuy nhiên với không ít lý do, từ năm 1943 đến năm 1998, rừng nước ta đã mất đi 14% độ che phủ Điều này đã ảnh hưởng nghiêm trọng tới

sự phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường, đặc biệt là tới sinh kế của

các cộng đồng nông thôn miền núi nước ta

Để phục hồi nguồn tài nguyên rừng, từ năm 1990 trở lại đây công tác

"trồng cây gây rừng" đã được Chính phủ Việt Nam rất quan tâm; đẩy mạnh cả

về quy mô, tốc độ và nguồn vốn đầu tư Nhiều phong trào, chương trình Dự

án trồng rừng liên tiếp được triển khai như: Phong trào trồng cây nhân dân,

Dự án PAM, Dự án 327, Dự án trồng rừng Việt - Đức, Dự án trồng rừng IFAD… Nhờ những nỗ lực đó mà độ che phủ của rừng không ngừng tăng Vai trò quan trọng và không thể thay thế của rừng không chỉ ở phạm vi một lãnh thổ, một khu vực mà còn mang ý nghĩa toàn cầu Vì vậy, với các nước đang phát triển như Việt Nam, đồng thời với việc sử dụng kinh phí từ các Dự

án viện trợ nước ngoài trồng rừng thì việc sử dụng kinh phí từ ngân sách Nhà nước dành cho công tác trồng rừng trong các chương trình mục tiêu Quốc gia

là hết sức quan trọng Một trong những Dự án phủ xanh đất trống đồi núi trọc được đánh giá là thực hiện thành công trong thời gian gần đây là Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng đã được Quốc hội khoá

X, kỳ họp thứ 2 thông qua và được Thủ tướng Chính phủ cụ thể hoá bằng quyết định số 661/QĐ-TTg ngày 29 tháng 7 năm 1998 Dự án này được coi là một trong ba "công trình quan trọng" vì tổng vốn đầu tư lớn, quy mô tác động trên nhiều tỉnh và tác động đến nhiều cộng đồng dân cư

Vấn đề đặt ra ở đây là cần nghiên cứu các nội dung và phương pháp hoạt động để tìm ra bài học thành công của Dự án, từ đó có thể áp dụng cho

Trang 3

các Chương trình, Dự án khác Điều này có ý nghĩa đặc biệt tích cực đối với các Dự án phát triển Lâm nghiệp ở nước ta Mặt khác, từ trước tới nay các Chương trình, Dự án có nguồn vốn ngân sách Nhà nước sau khi kết thúc thường được đánh giá theo phương pháp truyền thống mang tính “kiểm tra từ trên xuống” nhiều hơn, thiên về các hiệu quả tích cực mà chưa cụ thể hoá các tác động tiêu cực để từ đó đưa ra các giải pháp thiết thực hoặc chưa đánh giá tổng hợp các tác động kinh tế, xã hội, môi trường tiến tới phát triển bền vững

mà chỉ đề cập ở một khía cạnh hoặc là các tác động kinh tế, xã hội, hoặc là các tác động môi trường… Do vậy, Dự án này được đánh giá thực sự là cần thiết cả về lý luận lẫn thực tiễn

Con Cuông tỉnh Nghệ An là một huyện miền núi nằm phía Tây nam tỉnh Nghệ An cách trung tâm tỉnh 130 km Gồm 12 xã 1 thị trấn Diện tích tự nhiên chủ yếu là đất lâm nghiệp, mật độ dân cư thưa nằm rải rác tại các thôn, bản, trình độ dân trí thấp, thành phần dân tộc đa dạng, tập quán canh tác lạc hậu Hoạt động sản xuất Nông lâm nghiệp là chính do vậy đời sống nhân dân còn gặp rất nhiều khó khăn Trong những năm gần đây huyện cũng đã tham gia và triển khai nhiều dự án trồng rừng trong đó Dự án 661 là dự án trọng điểm thực hiện từ năm 1998 đến nay Dự án đã thu hút đông đảo người dân tham gia qua đó sự thành công của Dự án thể hiện diện tích đất trống đồi núi trọc đã được phủ xanh, nâng cao độ che phủ của rừng, góp phần đáng kể trong việc cải thiện kinh tế - xã hội, môi trường trên địa bàn huyện;

Vì vậy, để có kết luận những đóng góp về mặt tích cực cũng như những mặt cần bổ sung của Dự án đối với cộng đồng và làm căn cứ kiến nghị, đề xuất đối với các Dự án khác có đặc điểm tương tự, tác giả tiến hành nghiên

cứu đề tài: “Đánh giá tác động của dự án 661 tại huyện Con Cuông tỉnh Nghệ An”

Trang 4

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Ý nghĩa của việc đánh giá tác động

Hiện nay ở nước ta nói riêng và trên thế giới nói chung đang đứng trước thời kỳ biến đổi khí hậu toàn cầu gây thiên tai lũ lụt, băng tan, sóng thần với tính chất ngày càng phức tạp và khó kiểm soát Bên cạnh đó việc gia tăng dân số, phát triển công nghiệp như vũ bão, nhu cầu về năng lượng ngày càng lớn đã gây sức ép rất lớn đến nguồn tài nguyên thiên nhiên, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống con người trên trái đất Đứng trước tình hình đó các giải pháp đã được nghiên cứu, thảo luận của các nhà khoa học hàng đầu thế giới Trong đó, giải pháp hiệu quả nhất, thực tế nhất đó là phải phục hồi lại lá phổi xanh của trái đất mà con người đang tàn phá dẫn đến sự suy thoái nghiêm trọng cả về số lượng, chất lượng, đó chính là tài nguyên rừng Cho đến nay đã có nhiều Dự án lâm nghiệp với mục tiêu chính là phục hồi, phát triển rừng đã được triển khai bởi các chương trình quốc gia và quốc tế với với lượng vốn đầu tư lên đến hàng nghìn tỷ đồng Tuy nhiên, hiệu quả của các chương trình, dự án đã tương xứng với tiềm năng đất đai, nguồn vốn đầu tư chưa? mức độ tác động của chúng đến kinh tế, xã hội, môi trường đến đâu? vẫn còn là một mối quan tâm cần được làm rõ Đánh giá tác động Dự án (DA)

ra đời để trả lời cho các câu hỏi trên, đồng thời thông qua công tác đánh giá

có thể định tính, định lượng được mức độ ảnh hưởng từ phía DA đến các đối tượng xung quanh làm cơ sở cho việc xây dựng các mức chi phí cần thiết cho bảo vệ môi trường, thể chế hóa bằng luật pháp để buộc mọi thành viên trong

xã hội phải điều chỉnh các hoạt động thực tiễn đảm bảo có lợi cho sự tồn tại lâu bền của con người và thiên nhiên, chịu trách nhiệm về những hậu quả, tổn thất do cá nhân, tổ chức mình gây ra thông qua các kênh đầu tư, đóng góp để phục hồi, tái tạo lại tài nguyên rừng Đánh giá tác động còn giúp cho việc điều

Trang 5

chỉnh, hoàn thiện hơn, rút ra được bài học kinh nghiệm để sửa đổi theo chiều hướng tích cực trong quá trình triển khai các giai đoạn DA

1.2 Khái niệm về dự án và đánh giá dự án

1.2.1 Trên thế giới

1.2.1.1 Khái niệm về Dự án

Trong lý thuyết cũng như thực tiễn quản lý kinh tế hiện nay còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về Dự án Mỗi quan điểm về Dự án xuất phát từ cách tiếp cận khác nhau tuỳ thuộc mục đích nghiên cứu, khái niệm về Dự án

đã và đang được bổ sung hoàn thiện

Theo Cleland và King(1975): Dự án là sự kết hợp giữa các yếu tố nhân lực và tài lực trong một thời gian nhất định để đạt đưọc một mục tiêu định trước;

Clipdap cho rằng: Dự án là một tập hợp các hoạt động để giải quyết một vấn đề hay để hoàn thiện một trạng thái cụ thể trong một thời gian xác định; Gittinger(1982) đưa ra quan điểm: Dự án là tập hợp các hoạt động mà ở

đó tiền tệ được đầu tư với hy vọng được thu hồi lại Trong quá trình này các công việc kế hoạch tài chính, vận hành hoạt động là một thể thống nhất, được thực hiện trong một khoảng thời gian xác định;

Theo WB: Dự án là tổng thể những chính sách, hoạt động và chi phí liên quan với nhau được thiết kế nhằm đạt được những mục tiêu nhất định trong một khoảng thời gian nhất định;

Theo Lyn Squire : Dự án là tổng thể các giải pháp nhằm sử dụng các nguồn tài nguyên hữu hạn vốn có, nhằm đem lại lợi ích cho xã hội càng nhiều càng tốt

Từ điển xã hội học của của David Jary và Julia Jury, đưa ra định nghĩa về

Dự án như sau: Những kế hoạch của địa phương được thiết lập với mục đích

hỗ trợ các hành động cộng đồng và phát triển cộng đồng Theo định nghĩa này

có thể hiểu Dự án là một kế hoạch can thiệp có mục tiêu, nội dung, thời gian, nhân lực và tài chính cụ thể Dự án là sự hợp tác của các lực lượng xã hội bên

Trang 6

ngoài và bên trong cộng đồng Với cách hiểu như trên thì thước đo sự thành công của Dự án không chỉ là việc hoàn thành các hoạt động có tính kỹ thuật (đầu tư cái gì, cho ai, bao nhiêu, như thế nào) mà nó có góp phần gì vào quá trình chuyển biến xã hội tại cộng đồng

1.2.1.2 Đánh giá Dự án

Đánh giá dự án là một hoạt động quan trọng trong công tác quản lý dự

án Đó là một khâu then chốt trong một chu trình Dự án, nhằm đưa ra những nhận xét theo định kỳ về kết quả thực hiện các hoạt động của Dự án trên cơ sở

so sánh một số chỉ tiêu đã lập trước, hay nói khác đánh giá là quá trình xem xét một cách hệ thống và khách quan nhằm cố gắng xác định tính phù hợp, tính hiệu quả và tác động của các hoạt động ứng với mục tiêu đã vạch ra; Trong các Dự án mà ở đó vai trò tham gia của các bên liên quan có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, thì công tác đánh giá đòi hỏi phải có sự tham gia của các bên liên quan Đánh giá có sự tham gia là một hệ thống phân tích được thực hiện bởi các nhà quản lý Dự án và các thành viên được hưởng lợi từ Dự án, cho phép họ điều chỉnh, xác định lại chính sách hoặc mục tiêu, chiến lược, sắp xếp lại các tổ chức các đơn vị triển khai lại các nguồn lực nếu cần thiết Nó là cơ hội cho cả người bên trong và người bên ngoài cộng đồng dừng lại phản ánh về quá khứ và đưa ra quyết định cho tương lai;

Các lý thuyết về hướng dẫn và đánh giá được đề cập chi tiết trong các công trình nghiên cứu của WHO, Gittinger, Dixon & Hufschmidt, L.Therse Barker, Các đánh giá liên quan đến việc đo lường hay đưa ra những nhận định, điển hình là các công trình nghiên cứu của WHO, L.Therse Barker Đây là một quá trình nhằm đánh giá mức độ đạt được những mục tiêu chung và mục tiêu

cụ thể đã đề ra, tương ứng với chúng là hệ thống các hoạt động, các nguồn lực

đã được triển khai và sử dụng như thế nào Đối với một Dự án, đánh giá là xem xét một cách hệ thống để xác định tính hiệu quả, mức độ thành công của Dự án,

Trang 7

tác động xã hội cũng như các tác động kinh tế môi trường đối với cộng đồng thụ hưởng;

Trong một Dự án, hoạt động đánh giá là khâu cuối cùng trong tiến trình triển khai Dự án cho cộng đồng Thực ra đánh giá không chỉ tiến hành một lần vào cuối Dự án Đó mới chỉ là đánh giá tổng thể Trong quá trình thực hiện Dự

án, hoạt động đánh giá có thể được tiến hành vào những giai đoạn quan trọng, thường gọi là đánh giá giai đoạn (Gittinger,1982) Nhiều tác giả cho rằng, điều quan trọng là phải tiến hành đánh giá có sự tham gia của các bên có liên quan

mà quan trọng nhất là người hưởng lợi từ Dự án;

Các tác giả và các tổ chức trên thế giới như Jim Woodhill, Lisa Robins, Joachim Theis, Heather M Grady, ARI đã phân chia thành hai loại đánh giá: Đánh giá mục tiêu và đánh giá tiến trình Đánh giá mục tiêu là xem xét liệu

Dự án có đạt được mục tiêu đã định hay không, nó tập trung vào việc phân tích các chỉ số đo đạc hiệu quả thu được Đánh giá tiến trình, mở rộng diện đánh giá hơn so với loại đánh giá trên, sử dụng tri thức và hiểu biết của nhiều người để xem xét nhiều vấn đề của Dự án;

Các phương pháp đánh giá Dự án cũng được phát triển mạnh mẽ từ những năm 50, 60 của thế kỷ trước, khi các Dự án phát triển cộng đồng ra đời Các phương pháp bao gồm: Phương pháp người dân tham gia đánh giá (PRA), phương pháp phỏng vấn, phương pháp động não, Điều tra khảo sát, nhật ký theo dõi, tranh ảnh Những hình thức khích lệ sự tham gia của cộng đồng (chò chơi, ca nhạc, kịch ) cũng được sử dụng để chính người dân địa phương tham gia thấy được những kết quả cụ thể của Dự án

1.2.1.3 Các khía cạnh đánh giá tác động của Dự án

Trên thế giới, việc đánh giá các tác động kinh tế, xã hội, môi trường của

Dự án hay một hoạt động sản xuất kinh doanh nào đó đã có lịch sử hàng trăm năm Trên cơ sở xem xét các nội dung mục tiêu, chức năng, nhiệm vụ, kết quả

Trang 8

đạt được của từng Dự án làm căn cứ để đánh giá Tùy theo tính chất, thể loại

Dự án mà công tác đánh giá có những điểm khác nhau Dự án đầu tư cho sản xuất tập trung phân tích khía cạnh về kinh tế, Dự án hỗ trợ đi sâu vào khía cạnh xã hội và những Dự án đầu tư cho các khu bảo tồn, phòng hộ lại chú ý đến khía cạnh môi trường là chính Các giai đoạn, thời điểm và mục tiêu đánh giá khác nhau thì yêu cầu, nội dung đánh giá cũng khác nhau Trong một số trường hợp đối với những Dự án có quy mô lớn đa mục đích thì cần phải tách riêng từng hợp phần để đánh giá Trong quá trình phát triển có thể chia làm hai giai đoạn:

 Giai đoạn 1: Từ đầu những năm 1960 đến cuối những năm 1970 với đặc trưng của giai đoạn này là những nghiên cứu xung quanh những vấn đề về chất lượng môi trường mâu thuẫn với sự tăng trưởng kinh tế;

Ban đầu là những nghiên cứu về vấn đề đảm bảo an toàn lương thực, đồng thời bảo vệ được môi trường sinh thái thông qua việc hạn chế nạn phá rừng Nhiều công trình nghiên cứu về ảnh hưởng của các phương thức sử dụng đất, các hoạt động canh tác đến đất đai và môi trường đã được công bố như: Nghiên cứu của Freizendaling (1968) về “Tác động của con người đến sinh quyển”; Gober (Pháp, 1968) về “Đất và việc giữ độ phì của đất - các nhân tố ảnh hưởng đến sử dụng đất” Tổ chức nông nghiệp và lương thực của Liên hợp quốc (FAO) trong nhiều năm nghiên cứu vấn đề canh tác trên đất dốc đã đưa ra các

mô hình canh tác có hiệu quả như SALT 1, SALT 2, SALT 3, SALT 4 ;

Đến đầu những năm 1970, Quốc hội Hoa Kỳ đã ban hành luật chính sách quốc gia về môi trường, thường gọi tắt là NEPA Luật này quy định rằng tất cả những kiến nghị quan trọng ở cấp tiểu bang về luật pháp, hoạt động kinh tế, kỹ thuật lúc đưa ra xét duyệt để được nhà nước chấp nhận đều phải kèm theo một báo cáo về tác động đến môi trường của việc làm được kiến nghị Tiếp theo Hoa

Kỳ là Canada, Australia, Anh, Nhật, Đức cũng lần lượt ban hành luật đánh giá

Trang 9

tác động môi trường (Lê Thạc Cán, 1994) Trong những năm 1970 và đầu 1980,

ở một số nước đang phát triển như Thái Lan, Singapo, Philippine, Indonesia đã ban hành những quy định về đánh giá tác động môi trường;

Năm 1972, Liên hiệp quốc đã tổ chức hội nghị về môi trường của con người với mục đích là tìm hướng giải quyết những tác động không mong muốn mà cuộc cách mạng khoa học và kỹ thuật gây ra đối với môi trường sống Các tổ chức UNEP, UNDP, WB đã công bố “Tuyên bố về các chính sách và thủ tục về môi trường” nói lên quan điểm phải kết hợp giữa phát triển kinh tế - xã hội với việc bảo vệ môi trường và quy định trong các Dự án phát triển do các cơ quan này viện trợ hoặc cho vay vốn phải báo cáo đánh giá tác động môi trường (Lê Thạc Cán, 1994);

Năm 1979, tổ chức FAO đã xuất bản tài liệu “Phân tích các Dự án lâm nghiệp” do Hans M-Gregersen và Amoldo H Contresal biên soạn Đây là tài liệu giảng dạy dùng cho các địa phương mà tổ chức FAO có đầu tư Dự án trồng rừng và phát triển lâm nghiệp; tài liệu này tương đối đầy đủ và phù hợp với điều kiện đánh giá hiệu quả các Dự án lâm nghiệp ở các nước đang phát triển

 Giai đoạn 2: Từ đầu những năm 1980 đến nay, với đặc trưng của giai đoạn này là phát triển bền vững, trong đó đã thể hiện được sự bổ sung hỗ trợ lẫn nhau giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường;

Từ những năm 1980 cho đến nay, khái niệm phát triển bền vững đã được nêu ra và ngày càng trở nên phổ biến Ngày nay quan điểm phát triển bền vững đã trở thành một quan điểm chính thống và bắt buộc mọi người không thể bỏ qua Bản báo cáo “Tương lai Chung của Chúng ta” của ủy ban Brundtland (1987) đã công nhận đánh giá tác động môi trường là một bộ phận cấu thành quan trọng nhằm thúc đẩy quá trình phát triển bền vững Báo cáo cũng đã vạch ra sự tham gia rộng lớn hơn của cộng đồng vào các quyết định

Trang 10

có ảnh hưởng đến môi trường, tạo điều kiện cho các cộng đồng sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên địa phương;

Tại Hội nghị quốc tế về môi trường năm 1992, ở Rio de Janeiro (Braxin)

đã đi đến tiếng nói chung là: “Phải kết hợp hài hoà giữa bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế - xã hội, hướng tới một sự phát triển bền vững trong phạm

vi từng nước và trên toàn thế giới”;

Năm 1994, Walfredo Raqual Rola đã đưa ra một mô phỏng về tác động của các phương thức canh tác Theo mô phỏng này hiệu quả của một phương thức canh tác được đánh giá theo quan điểm tổng hợp, trên cả 3 mặt kinh tế,

xã hội và sinh thái môi trường Tất cả các tác động đó đều nhằm mục tiêu cuối cùng là phát triển toàn diện kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái bền vững

1.1.2 Ở Việt Nam

1.3.2.1 Khái niệm về Dự án

Ở Việt Nam khái niệm Dự án được đề cập đến vào khoảng những năm cuối thế kỷ 20 Tuy nhiên, trong giai đoạn này các dự án chỉ mang tính nhỏ lẻ,

tự phát chưa có quy mô không có chiều sâu do sự thay đổi liên tục về thể chế

và các thành phần kinh tế Trong những năm gần đây xuất phát từ nhu cầu thực tiễn, tầm quan trọng của dự án thông qua các góc độ, khía cạnh nhìn nhận các tác giả đã đưa ra các khái niệm về dự án;

Trong tác phẩm phát triển cộng đồng của mình Nguyễn Thị Oanh đưa ra hai định nghĩa về Dự án như sau:

- Dự án là sự can thiệp một cách có kế hoạch nhằm đạt được một hay một số mục tiêu cùng hoàn thành những chỉ báo thực hiện đã định trước tại một địa bàn và trong một khoảng thời gian nhất định, có huy động sự tham gia thực sự của những tác nhân và tổ chức cụ thể;

Trang 11

- Dự án là một tổng thể những hoạt động được kế hoạch hóa thành những công việc cụ thể nhằm đạt một số mục tiêu cụ thể trong một khoảng thời gian

và khuôn khổ chi phí nhất định;

Theo Tô Duy Hợp và Lương Hồng Quang, Dự án được hiểu như một kế hoạch can thiệp để giúp cộng đồng dân cư hoặc cá nhân cải thiện điều kiện sống trên một địa bàn nhất định;

Hội thảo PIMES về chương trình phòng ngừa thảm họa đã đưa ra hai khái niệm về Dự án:

- Dự án là một quá trình gồm các hoạt động đã được lập kế hoạch nhằm đạt được những thay đổi mong muốn hoặc đạt được một mục tiêu cụ thể nào đó;

- Dự án là một quá trình phát triển có kế hoạch, được thiết kế nhằm đạt được mục tiêu cụ thể với khoản kinh phí xác định trong một thời gian nhất định; Theo bài giảng về Quản lý DA lâm nghiệp xã hội của Trung tâm đào tạo lâm nghiệp xã hội (Đại học lâm nghiệp), để nhìn nhận Dự án một cách đầy đủ nhất phải đứng trên nhiều khía cạnh khác nhau vê hình thức, nội dung, cách thức quản lý và kế hoạch;

- Về mặt hình thức: Dự án là một tập tài liệu trình bày chi tiết và có hệ thống các hoạt động và chi phí dưới dạng một bản kế hoạch để đạt được những kết quả và thực hiện được những mục tiêu nhất định trong tương lai;

- Về mặt quản lý: Dự án là một công cụ quản lý việc sử dụng vốn, vật tư lao động để tạo ra các kết quả kinh tế, tài chính xã hội, môi trường trong tuơng lai;

- Về mặt kế hoạch: Dự án là một công cụ thể hiện kế hoạch chi tiết để đầu tư sản xuất kinh doanh, phát triển kinh tế - xã hội làm tiền đề cho các quyết định đầu

tư và tài trợ Dự án đầu tư là một hoạt động riêng lẻ, nhỏ nhất trong công tác kế hoạch nền kinh tế;

Trang 12

- Về mặt nội dung: Dự án được coi là một tập hợp các hoạt động có liên quan đến nhau, được kế hoạch hoá nhằm đạt được các mục tiêu đã định bằng việc tạo ra các kết quả cụ thể trong một thời gian nhất định thông qua việc sử dụng hợp lý các nguồn lực xác định;

Mặc dù có sự khác nhau về cách định nghĩa Dự án, nhưng các tác giả đều thống nhất cho rằng: Mục tiêu của Dự án đều là tạo sự thay đổi trong nhận thức và hành động, thay đổi điều kiện sống của cộng đồng trên cả ba mặt kinh tế - xã hội và môi trường

1.3.2 Đánh giá tác động của Dự án

Ở Việt Nam trong các Dự án đầu tư cho việc phát triển rừng đã được tiến hành cách đây trên nửa thế kỷ nhưng thời gian gần đây mới được thực hiện trên quy mô lớn Thời kỳ đầu chúng ta mới chỉ chú trọng đến hiệu quả kinh tế còn hiệu quả về xã hội và môi trường sinh thái hầu như chưa đề cập đến từ những đóng góp quan trọng của Dự án Chính vì vậy vấn đề đánh giá tác động môi trường ở nước ta cho đến nay còn rất mới mẻ, đặc biệt là đánh giá trên cả ba mặt kinh tế - xã hội và môi trường của một Dự án;

Trước những năm 1980, ở Việt Nam chỉ có những nghiên cứu nhỏ, không tập trung và chưa toàn diện về xói mòn đất Tuy cũng đã có những nghiên cứu về ảnh hưởng của các phương thức canh tác đến đất, nước nhưng còn sơ sài và ở mức độ chung chung, các chỉ tiêu đánh giá còn đơn giản;

Từ sau những năm 1980, kinh tế đất nước phát triển kéo theo việc suy giảm tài nguyên rừng cả về số lượng lẫn chất lượng do vậy công tác đánh giá tác động môi trường bắt đầu được chú trọng và phát triển Năm 1983, chúng

ta mới chính thức bắt đầu chương trình nghiên cứu về tài nguyên thiên nhiên

và môi trường Đến năm 1987, Nguyễn Ngọc Sinh lần đầu tiên đưa ra tài liệu

“Giới thiệu các phương pháp đánh giá tác động môi trường”;

Trang 13

Năm 1985, trong quyết định về điều tra, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường, Hội đồng bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã nêu: “Trong xét duyệt luận chứng kinh tế kỹ thuật của các chương trình xây dựng lớn hoặc các chương trình phát triển kinh tế - xã hội quan trọng, cần tiến hành đánh giá tác động môi trường” Như vậy có thể nói từ đây vấn đề đánh giá tác động Dự án đã trở thành một yếu tố quan trọng không thể thiếu được trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta;

Năm 1994, Lê Thạc Cán hoàn thành công trình nghiên cứu “Đánh giá tác động môi trường - Phương pháp luận và kinh nghiệm thực tiễn” tạo tiền đề

cơ sở khoa học cho các nhà nghiên cứu về môi trường thực hiện những nghiên cứu tiếp theo;

Hoàng Xuân Tý (1994) với công trình “Bảo vệ đất và đa dạng sinh học trong các Dự án trồng rừng bảo vệ môi trường” đã tiến hành những nghiên cứu về kinh tế, môi trường Song, trong các phân tích, đánh giá tác giả thường thiên về một mặt hoặc là kinh tế hoặc là môi trường hay xã hội mà không đánh giá một cách toàn diện các mặt trên;

Cũng trong năm 1994, nhiều công trình của nhiều tác giả khác đã tiến hành những nghiên cứu về tác động môi trường và hiệu quả kinh tế - xã hội của các phương thức canh tác như: Thái Phiên, Nguyễn Tử Siêm với công trình

“Hiệu quả các biện pháp canh tác trên đất dốc” và “Sử dụng đất trống, đồi núi trọc và bảo vệ rừng”; Đặng Trung Thuận, Trương Quang Hải và tập thể với công trình “Nghiên cứu và đề xuất mô hình phát triển kinh tế môi trường tại một số vùng sinh thái điển hình”; Phùng Ngọc Lan, Vương Văn Quỳnh với đề tài

“Nghiên cứu khả năng giữ nước và bảo vệ đất của các phương thức canh tác trong các hộ gia đình ở huyện Hàm Yên - Tuyên Quang”;

Trần Hữu Dào (1995) đã nghiên cứu, đánh giá hiệu quả kinh doanh cả

3 mặt: hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường của mô hình trồng rừng quế

Trang 14

thâm canh thuần loài quy mô hộ gia đình tại Văn Yên - Yên Bái Trong đề tài tác giả đã trình bày, sử dụng các phương pháp, kỹ thuật mới, tiến bộ trong phân tích kinh tế lâm nghiệp Tuy nhiên đề tài mới chỉ thiên về đánh giá hiệu quả kinh tế, chưa chú trọng và đề cập sâu đến hiệu quả xã hội và môi trường;

Năm 1996, Đoàn Hoài Nam với luận văn thạc sỹ: “Bước đầu đánh giá hiệu quả kinh tế - sinh thái của một số mô hình rừng trồng tại Yên Hương - Hàm Yên - Tuyên Quang”, đã đề cập đến hiệu quả tổng hợp về mặt kinh tế và sinh thái của một số mô hình rừng trồng, tuy nhiên chưa thấy tác giả đề cập đến vấn đề xã hội;

Năm 1997, tiếp tục có những nghiên cứu về đánh giá hiệu quả kinh tế - môi trường như: Nguyễn Thị Thanh An với luận văn thạc sỹ “Đánh giá hiệu quả kinh tế - môi trường của một số mô hình theo phương pháp hệ số đường ảnh hưởng”; Đoàn Thị Mai với luận văn thạc sỹ “Đánh giá hiệu quả kinh tế - môi trường vì mục tiêu phát triển bền vững cho một số phương án sử dụng đất trong canh tác nông lâm nghiệp ở vùng nguyên liệu giấy”; Scott Frizen và cộng sự cũng đã tiến hành tập chung phân tích tác động qua lại giữa vùng đầu nguồn và các hoạt động sản xuất kinh tế của nhân dân địa phương khi nghiên cứu “ Tác động của Dự án quản lý rừng đầu nguồn có sự tham gia của người dân huyện Hoành bồ tỉnh Quảng Ninh” ;

Năm 1998, Cao Danh Thịnh với Luận văn thạc sỹ “Thử nghiệm ứng dụng một số phương pháp định lượng có trọng số để so sánh hiệu quả kinh tế

và môi trường của một số Dự án lâm nghiệp tại khu vực phòng hộ đầu nguồn sông Đà” đã đề cập đến hiệu quả tổng hợp kinh tế - môi trường Trong đề tài tác giả đã đề cập đến vấn đề định lượng có trọng số các chỉ tiêu đánh giá và cho biết phương pháp tính trọng số bằng tương quan đạt độ chính xác cao hơn cả; Năm 1999, Trần Ngọc Thắng đã đánh giá kết quả thực hiện các hoạt động của

Dự án 327 và bước đầu đã nêu được một số ảnh hưởng của Dự án đến các mặt

Trang 15

kinh tế- xã hội của địa phương với Luận văn thạc sỹ “ Bước đầu đánh giá hiệu quả của các Dự án 327, ảnh hưởng của nó đến việc quản lý sử dụng đất và kinh

tế - xã hội tại các khu vực vùng Lâm trường Quy Nhơn- Bình Định”;

Năm 2002, Phạm Xuân Thịnh với Luận văn thạc sỹ “Đánh giá tác động của Dự án KFW1 tại vùng Dự án xã Tân Hoa huyện Lục Ngạn tỉnh Bắc Giang” đã đề cập đến một số tác động của Dự án trên các mặt kinh tế, xã hội

và môi trường, quá trình đánh giá có sử dụng các chỉ tiêu, chỉ báo, có sự so sánh các lĩnh vực trước và sau Dự án Tuy nhiên, trong công trình này tác giả mới chỉ dừng lại ở những tác động tích cực chưa đi sâu phân tích những tác động tiêu cực của Dự án;

Công tác đánh giá tác động kinh tế, xã hội và môi trường ở nước ta hiện nay có thể nói còn rất mới mẻ, đang ở giai đoạn đầu của sự phát triển Đây lại

là vấn đề phức tạp, đòi hỏi phải có đầu tư thích đáng về thời gian và tiền của nên nhìn chung chúng ta còn thiếu hụt về thông tin, về phương pháp luận và kinh nghiệm hoạt động thực tiễn Chính những tồn tại trên đây là một trong những nguyên nhân gây trở ngại cho công tác quản lý và bảo vệ môi trường, thực hiện các chính sách về môi trường nói chung Do vậy chúng ta cần phải tiếp tục có những nghiên cứu nhằm hoàn thiện dần phương pháp luận cũng như tích luỹ dần kinh nghiệm thực tiễn, đồng thời làm phong phú thêm nguồn thông tin cho các nhà nghiên cứu sau này Xuất phát từ những lý do nêu trên,

chúng tôi chọn đề tài: “Đánh giá tác động của dự án 661 tại huyện Con

Cuông tỉnh Nghệ An” để thực hiện trong khuôn khổ một bản luận văn tốt

nghiệp cao học tại trường Đại học Lâm nghiệp

Trang 16

Chương 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG

VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu nghiên cứu

2.2 Đối tượng nghiên cứu

Dự án 661, các bên có liên quan và hộ dân tham gia dự án 661 trên địa

bàn Huyện Con Cuông tỉnh Nghệ An

2.3 Phạm vi nghiên cứu

- Nghiên cứu các hoạt động dự án 661 trồng rừng giai đoạn thực hiện 1998 đến 2010;

- Việc đánh giá tác động của Dự án đến phát triển kinh tế, xã hội và bảo

vệ môi trường chỉ thực hiện tại xã Yên Khê huyện Con Cuông tỉnh Nghệ An thông qua một số chỉ tiêu phù hợp với đối tượng và nội dung nghiên cứu của luận văn

2.4 Nội dung nghiên cứu

Căn cứ vào mục tiêu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, nội dung nghiên cứu của đề tài được xác định như sau:

1 Phân tích bối cảnh ra đời và quá trình triển khai thực hiện dự án 661trên địa bàn nghiên cứu

2 Khái quát tình hình cơ bản vùng dự án

Trang 17

3 Đánh giá kết quả thực hiện các hoạt động của Dự án tại Huyện Con Cuông tỉnh Nghệ An

4 Đánh giá một số tác động của Dự án đến phát triển kinh tế, xã hội và môi trường

5 Đề xuất một số giải pháp để duy trì, phát triển cho việc triển khai thực hiện

dự án tiếp theo

2.5 Phương pháp nghiên cứu

2.5.1 Quan điểm và phương pháp luận

Dự án là một tập hợp các hoạt động có liên quan đến nhau nhằm đạt được những mục tiêu nhất định trong một khoảng thời gian nhất định thông qua việc

sử dụng các nguồn lực xác định Dự án khi đi vào hoạt động thường gây nên những tác động đến kinh tế, xã hội, môi trường Những tác động đó cũng có thể

là trực tiếp hoặc gián tiếp, có thể là tích cực hay tiêu cực Tuy nhiên, những tác động đó luôn thay đổi theo thời gian và không gian cụ thể Xác định được sự thay đổi đó con người có thể điều chỉnh theo mục đích của mình Cũng như các hoạt động của Dự án chúng ta có thể nghiên cứu và điều chỉnh sao cho đạt hiệu quả cao nhất cả về kinh tế, xã hội và môi trường, hạn chế thấp nhất những tác động tiêu cực;

Dự án 661 đầu tư cho việc khôi phục, bảo vệ, quản lý tài nguyên rừng,

hỗ trợ phát triển Nông lâm nghiệp miền núi Mục tiêu của Dự án là trồng rừng phủ xanh đất trống đồi núi trọc, góp phần xóa đói giảm nghèo tăng thu nhập cho người dân, đảm bảo cung cấp nguyên liệu lâm sản;

Để đảm bảo tính khách quan và độ chính xác, khi đánh giá tác động của một dự án nào đó phải đứng trên tổng thể các mối quan hệ của nó và quá trình đánh giá phải được thực hiện trong suốt thời gian hoạt động của Dự án thì sẽ mang lại hiệu quả cao Với giới hạn nhất định của đề tài chỉ nghiên cứu một số yếu tố cơ bản có liên quan mật thiết đến các hoạt động của Dự án và công tác phục hồi, phát triển tài nguyên rừng Trong quá trình đánh giá các yếu tố, có thể đánh giá bằng định lượng (Được tính bằng đơn vị đo lường) và định tính (bằng những chỉ tiêu khó lượng hoá hoặc không thể lượng hoá được) Do phạm vi và

Trang 18

mức độ tác động của Dự án rộng vì vậy khi đánh giá các tác động của nó đến Kinh tế, xã hội, môi trường cần phải áp dụng tổng hợp các mặt biểu hiện cả về định tính và định lượng thông qua các phương pháp tiếp cận các phương pháp phân tích vấn đề có sự tham gia của người dân trong khu vực nghiên cứu Toàn

bộ quá trình nghiên cứu của đề tài được tóm tắt qua sơ đồ ở hình 2.1

Hình 2.1: Sơ đồ quá trình nghiên cứu

Xác định vấn đề nghiên

cứu

Xây dựng đề cương nghiên cứu

Thu thập thông tin hiện

trường

Điều kiện tự nhiên, kinh

tế xã hội

huyện Con Cuông

Trang 19

2.5.2 Phương pháp điều tra thu thập số liệu

2.5.2.1 Lựa chọn điểm nghiên cứu

Do giới hạn về mặt thời gian nên Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu tại một xã trong đó các hộ gia đình, người dân đã tham gia và không tham gia dự

án Dự án

2.5.2.2 Phương pháp kế thừa tài liệu

Để rút ngắn khối lượng và thời gian nghiên cứu, một số tài liệu thứ cấp đươc kế thừa một cách có chọn lọc, bao gồm:

- Những văn kiện Dự án, các văn bản của nhà nước như các văn bản pháp luật, các nghị định của Chính phủ, thông tư hướng dẫn của các bộ, ngang bộ, quyết định thực hiện Dự án ;

- Các báo cáo giám sát đánh giá Dự án, báo cáo tổng kết thường kỳ, các biên bản nghiệm thu, thẩm định, hồ sơ thiết kế

- Bản đồ hiện trạng, bản đồ qui hoạch, bản đồ thổ nhưỡng, bản đồ thiết kế;

- Diễn biến tài nguyên rừng và đất rừng qua từng năm thực hiện;

- Các chính sách về khoa học công nghệ, thị trường thương mại;

- Điều kiện kinh tế, xã hội, tài nguyên rừng vùng Dự án;

- Các qui trình, qui phạm, các kết quả nghiên cứu tham khảo khác đã

có, các bảng biểu có liên quan;

- Các phần mềm xử lý số liệu như EXCEL, SPSS

2.5.2.3 Phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia của người dân

- Họp thôn, thảo luận nhóm cộng tác viên (CTV), khoảng 8-10 người/nhóm ở các thôn điển hình tham gia dự án, đại diện về thành phần nhóm hộ, giới tính, tuổi,…Nội dung thảo luận bao gồm:

+ Phân loại hộ gia đình (HGĐ) trước và sau dự án;

+ Đánh giá kết quả thực hiện Dự án tại địa phương;

Trang 20

+ Phân tích mặt mạnh, những hạn chế, khó khăn và những nguyên nhân của nó, đồng thời đưa ra khuyến nghị nhằm phát triển những hiệu quả tích cực

và hạn chế những tác đông tiêu cực từ các hoạt động của Dự án, tạo điều kiện phát triển giai đoạn hậu Dự án và các dự án tương tự khác;

+ Đề xuất một số giải pháp phát triển Dự án nói riêng và sinh kế cộng đồng nói chung tại địa phương;

- Điều tra thông qua phỏng vấn hộ gia đình (HGĐ) được đề tài tiến hành như sau:

a Điều tra về kinh tế

+ Chọn một thôn điển hình tham gia Dự án, sau đó tiến hành phỏng vấn

40 hộ gia đình điển hình với mức độ giàu nghèo khác nhau và chia ra làm 4 nhóm hộ, trong đó khoảng 10 hộ khá, 10 hộ trung bình và 10 hộ nghèo, 10 hộ

không tham gia Dự án (Đây không phải là con số tuyệt đối và số hộ trong các

nhóm sẽ có sự biến động qua lại trong tổng số hộ được điều tra);

+ Các thông tin phỏng vấn được ghi chép trong phiếu điều tra HGĐ

b Điều tra về xã hội

+ Tiến hành đồng thời với điều tra kinh tế, sử dụng công cụ là bộ câu

hỏi ghi trong phiếu điều tra phỏng vấn tại 40 hộ gia đình nói trên;

+ Các thôn còn lại tham gia dự án, tiến hành phỏng vấn sâu mỗi thôn 40

hộ điển hình (10 hộ nhóm khá, 10 hộ nhóm trung bình, 10 hộ nhóm nghèo, 10

hộ không tham gia Dự án; chú ý đến đối tượng phỏng vấn đại diện cho thành phần dân tộc, tuổi, giới tính)

c Điều tra về môi trường

Thực hiện tương tự như điều tra về mặt xã hội Trong đó, các số liệu, thông tin thu thập theo phương pháp PRA đều được kiểm tra tính thực tiễn thông qua quan sát trực tiếp và kiểm tra chéo;

Trang 21

Ngoài ra, khi điều tra, có những vấn đề phát sinh, những thông tin mới ngoài bộ câu hỏi cũng được ghi chép lại làm tài liệu tham khảo

2.5.3 Phương pháp đánh giá các hoạt động của dự án

2.5.3.1 Đánh giá các hoạt động của dự án

Từng hoạt động của Dự án được tổng hợp, đánh giá trên 4 khía cạnh: Điểm mạnh, điểm yếu, khó khăn trở ngại và khuyến nghị

2.5.3.2 Phương pháp đánh giá tác động dự án

(1) Phương pháp đánh giá các tác động của môi trường

a Đánh giá sự thay đổi về diện tích rừng, độ che phủ rừng

Kế thừa từ tổng hợp kết quả trồng rừng của Dự án, Số liệu hiện trạng rừng vào các thời điểm trước và sau khi thực hiện Dự án

b Đánh giá về lượng nước thấm vào đất (W)

Xác định theo công thức của Vưscotsky (1937): W= P0 – (Eb+T+S) Trong đó: W: Lượng nước thấm vào đất (mm)

P0: lượng mưa trung bình năm của khu vực (mm)

Eb: lượng bốc hơi vật lý TB năm của khu vực (mm)

S: Dòng chảy bề mặt TB hàng năm (mm)

T: Lượng bốc hơi vật lý của thảm thực vật (mm)

S và T được tra theo bảng của tác giả Phạm Văn Sơn – Viện khí tượng thủy văn

c Đánh giá về bảo vệ đất, chống xói mòn

Được xác định theo công thức: Wishmeier: A = 2,47.R.K.L.S.C.P Trong đó:

A: Lượng mất đất theo ha trong năm:

R: Là động năng mưa

R= 0,548527.P - 59,9 (P là lượng mưa bình quân năm)

K: Là chỉ số xói mòn đất

Trang 22

L: Hệ số chiều dài sườn dốc:

l: Là độ dài từ điểm đầu đến điểm cuối của sườn dốc

h:Là chiều cao tương đối giữa 2 điểm đo bằng cách đếm đường đồng mức

C: Là hệ số của một số thảm thực vật rừng tại Việt Nam

cỏc biện phỏp canh tỏc bảo vệ đất (P)

e Đánh giá về mức độ cải thiện nguồn nước trong khu vực

Xây dựng các chỉ tiêu đánh giá nguồn nước địa phương tại hai thời điểm trước và sau DA rồi tiến hành đánh giá theo phương pháp cho điểm từng chỉ tiêu (tối đa là 10 điểm)

(2) Phương pháp đánh giá tác động kinh tế

a Đánh giá hiệu quả kinh tế của một số mô hình rừng dự án

Dự án trồng rừng 661 được sử dụng kinh phí từ ngân sách Nhà nước, nên vốn đầu tư không phải chịu lãi suất Tuy nhiên do đặc thù chu kỳ kinh doanh (CKKD) cây lâm nghiệp thường dài nên phương pháp tính toán hiệu quả kinh tế ở đây được tính theo phương pháp động với giả thiết là phải chịu lãi suất tín dụng theo quy định được áp dụng cho các chương trình và Dự án khác Cách là này tuy làm giảm về hiệu quả kinh tế của Dự án song lại phù hợp với thực tế sản xuất hiện nay khi phải vay vốn đầu tư và chịu lãi suất tiết

kiệm, các chỉ tiêu kinh tế ở đây được tính toán gồm:

Trang 23

+ NPV: Giá trị hiện tại của thu nhập ròng: (theo công thức của DK

t

r 1

Ct - Bt

NPV

Trong đó: NPV: là giá trị hiện tại thuần tuý

Bt: Tổng các khoản thu nhập của năm thứ t

Ct: Tổng các khoản chi của năm thứ t

r: Tỷ lệ lãi suất

t: Thời gian tính toán (chỉ số năm t= 0 – n)

Nếu NPV > 0 kinh doanh đảm bảo có lãi, phương án được chấp nhận Nếu NPV < 0 kinh doanh bị thua lỗ, phương án không được chấp nhận

Nếu NPV =0 kinh doanh hoà vốn

+ BCR: Tỷ lệ thu nhập/chi phí: (Theo công thức của J.E.Gunter), BCR

là thương số của toàn bộ thu nhập so với chi phí sau khi chiết khấu đưa về hiện tại Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lãi thực tế của các mô hình

BPV BCR

0

0

) 1

) 1 (

( /

Trong đó: BPV là giá trị hiện tại của thu nhập (đồng)

CPV là giá trị hiện tại của chi phí (đồng)

Chỉ tiêu này chính là hệ số sinh lãi thực tế nó phản ánh về mặt chất lượng đầu tư tức là cho ta biết được mức thu nhập trên một đơn vị chi phí sản xuất Nó cho phép ta so sánh và lựa chọn các phương án có qui mô và kết cấu đầu tư khác nhau, phương án nào có BCR lớn thì được lựa chọn BCR > 1 kinh doanh có lãi, BCR < 1 kinh doanh bị thua lỗ;

+ IRR(%): Tỷ lệ thu hồi nội bộ: là chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh lời tối

đa của một mô hình rừng trồng, nếu mô hình nào vay vốn với lãi suất IRR thì

mô hình đó sẽ hoà vốn nghĩa là NPV = 0 thì r =IRR

Trang 24

Tiêu chuẩn đánh giá: IRR: IRR> r, mô hình có lãi;

IRR = r, mô hình hoà vốn;

IRR< r, mô hình bị thua lỗ

b Phân tích kinh tế hộ gia đình (HGĐ) của các hộ tham gia Dự án

Tính toán, phân tích, tổng hợp cho các nhóm hộ đã khảo sát theo phương pháp lấy giá trị số bình quân ở từng chỉ tiêu cụ thể để so sánh giá trị tuyệt đối

và tỷ trọng (cơ cấu) tại các thời điểm trước và sau Dự án như:

+ Sự thay đổi cơ cấu thu nhập của các HGĐ: Làm rõ phần thu nhập từ sản xuất lâm nghiệp và từ Dự án;

+ Sự thay đổi chi phí của HGĐ, trong đó đi sâu phân tích cơ cấu chi phí cho lĩnh vực sản xuất lâm nghiệp, chăn nuôi,cây ăn quả, trước và sau Dự án;

+ Sự thay đổi về cơ cấu sử dụng đất sản xuất của các hộ gia đình tham gia dự án

+ Sự thay đổi về phân loại kinh tế HGĐ

(3) Phương pháp đánh giá tác động xã hội

Tiến hành đồng thời với điều tra kinh tế, sử dụng công cụ là bộ câu hỏi ghi trong phiếu điều tra phỏng vấn tại 30 hộ gia đình trên

Trang 25

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 3.1 Quá trình hình thành và phát triển của Dự án

3.1.1 Bối cảnh ra đời của dự án 661

Tài nguyên rừng Việt Nam trong những năm trước 1990 liện tục giảm sút cả về chất lẫn số lượng, kéo theo sự suy giảm nghiêm trọng về tính đa dạng sinh học của rừng Trong hơn 50 năm qua, bình quân mỗi năm diện tích rừng bị mất đi khoảng gần 100.000 ha Hậu quả là cân bằng sinh thái bị đe dọa, nguồn thu nhập của một bộ phận dân cư sống trong và gần rừng bị giảm

và đã để lại diện tích đất trống đồi núi trọc đáng kể (chiếm khoảng 18,59% diện tích tự nhiên cả nước)

Vấn đề bảo vệ rừng, khoanh nuôi phục hồi rừng, làm giàu rừng, trồng rừng hợp lý là những biện pháp hữu hiệu nhằm hạn chế tốc độ suy thoái cả

về số lượng và chất lượng của rừng

Nhận thức được mối nguy cơ từ hiểm họa suy thoái tài nguyên rừng, trong thời gian qua Đảng và Nhà nước đã banh hành nhiều chủ trương, chính sách, bằng mọi cách hạn chế tình trạng chặt phá, đốt rừng bừa bãi và khuyến khích trồng cây gây rừng Đặc biệt Dự án 661 được Quốc hội Việt Nam khóa

X phê chuẩn bằng Nghị quyết số 08/1997/QH10 và được Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo thực hiện bằng Quyết định số 661/QĐ - TTg ngày 29 tháng 7 năm

1998 Dự án 661 là một chương trình kinh tế - xã hội - sinh thái trọng điểm của Nhà nước Việt Nam theo đó sẽ trồng mới 5 triệu ha rừng và bảo vệ diện tích rừng hiện có trong thời kỳ từ năm 1998 đến năm 2010 nhằm nâng cao độ che phủ của rừng Việt Nam lên 43% vào năm 2010

Trang 26

tính đa dạng sinh học

 Sử dụng có hiệu quả diện tích đất trống, đồi núi trọc, tạo thêm nhiều việc làm cho người lao động, góp phần xóa đói, giảm nghèo, định canh, định

cư, tăng thu nhập cho dân cư sống ở nông thôn miền núi, ổn định chính trị -

xã hội, quốc phòng, an ninh, nhất là ở vực biên giới

 Cung cấp gỗ làm nguyên liệu để sản xuất giấy, ván nhân tạo, đáp ứng nhu cầu gỗ, củi và các lâm đặc sản khác cho tiêu dùng trong nước và sản xuất hàng xuất khẩu, cùng với phát triển công nghiệp chế biến lâm sản, đưa lâm nghiệp trở thành một ngành kinh tế quan trọng, góp phần phát triển kinh tế -

xã hội miền núi

3.1.2.3 Nhiệm vụ của Dự án

(1) Bảo vệ hiệu quả vốn rừng hiện có: Trước hết phải bảo vệ diện tích rừng

tự nhiên là rừng đặc dụng, rừng phòng hộ ở vùng rất xung yếu và xung yếu,

kể cả rừng phòng hộ đã trồng theo chương trình 327, rừng sản xuất có trữ lượng giàu và trung bình Thực hiện ngay từ giai đoạn đầu việc giao đất, giao rừng cho các tổ chức, hộ gia đình cá nhân gắn với định canh, định cư, xóa đói giảm nghèo để bảo vệ, khoanh nuôi rừng kết hợp trồng bổ sung và trồng mới

Trang 27

cây công nghiệp lâu năm và cây lấy quả khoảng 1 triệu ha, đồng thời huy động các tổ chức và nhân dân triệt để tận dụng diện tích đất trồng để trồng cây phân tán

* Bộ máy quản lý Dự án ở Trung Ương

- Ban chỉ đạo Dự án cấp Nhà nước đó được thành lập theo Quyết định

số 07/1998/QĐ-TTg ngày 16 tháng 01 năm 1998 của Thủ tướng Chính phủ

- Thành lập Ban điều hành dự án trực thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn có sự tham gia của đại diện (cấp Vụ) các Bộ: Tài chính, Kế hoạch và Đầu tư, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Ủy ban Dân tộc và Miền núi, Tổng cục Địa chính, Bộ Khoa học - Công nghệ và Môi trường, Hội Nông dân Việt Nam Giao Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn quy định cụ thể chức năng, nhiệm vụ và quy chế làm việc của Ban điều hành dự

án Bộ phận thường trực giúp việc Ban điều hành dự án do Bộ Nông nghiệp

và Phát triển Nông thôn đảm nhiệm, không tăng biên chế

Trang 28

* Bộ máy quản lý Dự án ở địa phương

- Ở các tỉnh thành phố trực thuộc Trung ương có Dự án trồng rừng:

Chủ tịch Ủy ban nhấn dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm toàn diện về kết quả thực hiện dự án ở địa phương mình Thành lập Ban điều hành dự án của tỉnh do một Phó Chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố làm trưởng ban, lãnh đạo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn làm Phó ban và các thành viên là lãnh đạo các Sở Kế hoạch và Đầu tư, Tài chính, Địa chính, Kho bạc Nhà nước và Ngân hàng Nhà nước tỉnh Thành lập Ban quản lý dự án trực thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn để giúp việc cho Ban điều hành dự án ở những tỉnh, thành phố có Chi cục lâm nghiệp thì Chi cục làm chức năng Ban Quản lý Dự án cấp tỉnh Ở những tỉnh, thành phố chưa có Chi cục Lâm nghiệp thì thành lập Ban Quản lý Dự án biên chế và quỹ lương của Ban này nằm trong biên chế và quỹ lương sự nghiệp của tỉnh

- Ở cấp huyện không tổ chức Ban điều hành Dự án, Chủ tịch ủy ban nhân dân huyện chịu trách nhiệm quản lý Nhà nước đối với các Dự án trên địa bàn huyện

- Ở các xã có tham gia Dự án trồng rừng với quy mô nhất định do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định thì được bố trí một cán bộ lâm nghiệp chuyên trách giúp Chủ tịch ủy ban nhân dân xã chỉ đạo thực hiện Dự án và được hưởng phụ cấp từ nguồn kinh phí quản lý Dự án

- Các Dự án trồng rừng cấp cơ sở có Ban Quản lý Dự án với biên chế gọn nhẹ gồm giám đốc Dự án, kế toán trưởng và một số cán bộ kỹ thuật chỉ đạo hiện trường

3.1.2.6 Tổng vốn đầu tư: Là 31.650 tỷ đồng

3.1.3 Khái quát Dự án tại Nghệ An

Tỉnh Nghệ An thuộc khu vực Bắc Trung bộ, có địa hình chia cắt phức tạp, hẹp về chiều ngang, độ dốc từ Tây sang Đông lớn, thời tiết khí hậu khắc nghiệt, do đó rừng lại càng trở nên quan trọng trong phòng hộ, bảo vệ môi

Trang 29

trường sinh thái, bảo vệ đa dạng sinh học và là nguồn sinh thuỷ của các lưu vực sông suối lớn trong tỉnh, phục vụ cho sản xuất nông nghiệp và đời sống dân sinh

Chính vì vậy mà Đảng bộ và nhân dân Nghệ An luôn coi Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng là Dự án quan trọng đối với tỉnh nhà và đã dành những quan tâm thoả đáng Kết thúc chương trình 327 (năm 1998), Nghệ An có 206.505 ha rừng (Gồm 169.367 ha rừng tự nhiên và 37.138 ha rừng trồng) độ che phủ của rừng đạt 34,1 % Từ khi có Dự án 661 đến nay, diện tích rừng của Nghệ An là 313.112 ha, tăng 105.607 ha; độ che phủ đạt 49,13%, bình quân mỗi năm tăng 1,3%; đời sống của nhân dân ở vùng có rừng được nâng lên rõ rệt; kinh tế lâm nghiệp phát triển chiếm vị trí quan trọng trong giá trị sản xuất Nông- Lâm nghiệp- Thủy sản của tỉnh

3.1.3.1 Kết quả đạt được của Dự án

(1) Công tác khoanh nuôi và bảo vệ rừng: Bảo vệ tốt diện tích rừng hiện

có 875.009,5 ha, diện tích rừng ngày càng được tăng lên, nâng độ che phủ rừng tăng từ 38,6% năm 1999 lên 53,1% năm 2010 Hầu hết diện tích này được giao khoán đến tận hộ dân sống gần rừng, đối với những diện tích thuộc vùng sâu, vùng xa (khu vực xa dân cư) thì giao cho các trạm bảo vệ của đơn vị, lực lượng vũ trang đóng trên địa bàn bảo vệ rừng Diện tích còn lại của từng chủ rừng không có vốn đầu tư thì tổ chức giao cho lực lượng bảo vệ hợp đồng của đơn vị đảm nhận Nhờ tổ chức tốt mạng lưới bảo vệ rừng, kết hợp với công tác tuyên truyền, vận động nên ý thức của người dân được nâng lên, nhờ vậy công tác quản lý bảo vệ rừng, phòng trừ sâu bệnh hại, phòng cháy chữa cháy rừng, chặt phá rừng đã hạn chế mức thấp nhất thiệt hại xảy ra

(2) Trồng rừng

+ Trồng rừng phòng hộ: Quản lý chặt chẽ từ khâu lập hồ sơ TKKT-DT, chỉ đạo thực hiện tốt các giải pháp kỷ thuật, đặc biệt quan tâm trồng rừng đúng thời vụ Từ năm 1999-2010 Nghệ An đã trồng được 25.238,5 ha

Trang 30

+ Trồng rừng sản xuất: Nhờ có chính sách hỗ trợ trồng rừng sản xuất của Nhà Nước và chính sách hỗ trợ cây giống của Tỉnh đã khuyến khích động viên được các hộ dân trồng rừng nguyên liệu, cơ cấu cây trồng chủ yếu là cây Keo các loại và Bạch đàn dâm hom, hàng năm toàn tỉnh trồng được 44.092 ha rừng tập trung, nâng diện tích rừng hiện có trên 80.000ha, đáp ứng phục vụ tốt nguyên liệu cho các nhà máy chế biến trong tỉnh

 Ngân sách trung ương: 343,285,65 triệu đồng

 Ngân sách địa phương: 37.826,17 triệu đồng

+ Các nguồn vốn khác

Ngoài vốn ngân sách Nhà nước đầu tư trong thời gian thực hiện Dự án các tổ chức, đơn vị, hộ gia đình còn huy động vốn vay, vốn tự có và vốn khác cho phát triển rừng sản xuất với tổng số 102.742,02 triệu đồng

3.2 Khái quát về Dự án 661 tại huyện Con Cuông

- Phía Đông Bắc giáp 2 huyện Quỳ Hợp và Tân Kỳ

- Phía Tây Bắc giáp huyện Tương Dương

- Phía Tây Nam giáp nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào

- Phía Đông Nam giáp huyện Anh Sơn

Trang 31

Huyện có dòng sông Lam chảy qua, có Quốc lộ 7 chạy dọc từ đầu đến cuối huyện; đây là lợi thế cơ bản để phát triển kinh tế, giao lưu và trao đổi hàng hoá với các vùng phụ cận

Hình 3.1 Bản đồ hành chính huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An

3.2.2 Địa hình địa thế

Huyện thuộc vùng núi trong tỉnh nên bị ảnh hưởng chi phối của dãy Trường Sơn; địa hình bị chia cắt phức tạp tạo thành nhiều khe sâu và dốc lớn,

có thể chia làm hai vùng như sau:

- Vùng hữu ngạn dòng sông Lam: gồm các xã Môn Sơn, Lục Dạ, Yên Khê, Chi Khê, Châu Khê, Lạng Khê và thị trấn Con Cuông; địa hình vùng này

có độ cao trung bình 1000m so với mực nước biển; dãy núi Phù Chác cao nhất trong huyện có độ cao 1800m, địa hình thấp dần về phía Đông Nam

Trang 32

- Vùng tả ngạn sông Lam: gồm các xã Cam Lâm, Đôn Phục, Mậu Đức, Thạch Ngàn và Bình Chuẩn, vùng này nghiêng dần về phía Đông Nam Tân

Kỳ, Anh Sơn; địa hình chia cắt mạnh tạo ra nhiều thung lũng và nhiều khe suối lớn nhỏ

3.2.3 Khí hậu, thủy văn

Sông Cả, sông Giăng là hai con sông cung cấp nguồn nước chủ yếu cho sản xuất, sinh hoạt của nhân dân; ngoài ra còn có một số con suối lớn như Khe Diêm, Khe Chai, Khe Choăng, Khe Thơi, Khe Xì Vằng, Khe Khen Phèn, Khe Xan, Khe Chôm Lôm, và nhiều suối nhỏ khác Tuy nhiên hệ thống sông suối đa dạng, địa hình phức tạp và lượng mưa phân bố không đều vì vậy ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt của nhân dân

Trang 33

Nhìn chung điều kiện khí hậu thích hợp cho nhiều loại cây trồng, vật nuôi sinh trưởng và phát triển Bên cạnh đó còn có những khó khăn cần khắc phục: Lượng mưa lớn thường tập trung chủ yếu vào tháng 8,9,10 gây nên ngập úng cục bộ ở một số nơi gần triền sông, suối, gây xói mòn và rửa trôi đất Mùa đông lạnh giá ảnh hưởng đến sản xuất lâm, nông nghiệp Ngoài ra còn chịu ảnh hưởng của gió, bão nằm chung trong vị trí địa lý chung của miền Trung

Nhiệt độ không khí, lượng mưa, độ ẩm không khí bình quân của các tháng trong các năm 1999-2010 tại khu vực nghiên cứu như sau:

Bảng 3 1 Một số chỉ tiêu khí hậu bình quân của các tháng trong năm

(mm)

Độ ẩm (%)

Trang 34

Hình 3.2 Biểu đồ vũ nhiệt Gaussen - Walter 3.2.4 Điều kiện thổ nhưỡng

3.2.4.1 Tài nguyên đất

Tổng diện tích tự nhiên toàn huyện là 173.831,12 ha Trong đó:

Đất sản xuất nông nghiệp 10.065,95ha chiếm 5,8%;

Đất lâm nghiệp 154.139,63ha chiếm 88,7 %;

Đất phi nông nghiệp 3.329,77ha chiếm 2%;

Đất chưa sử dụng 6.231,17 ha chiếm 3,6%;

3.2.4.2 Tài nguyên nước

Với hệ thống sông, suối dày đặc nhiều ao hồ nhỏ vì vậy nguồn nước nơi đây khá dồi dào, đặc biệt có sông Lam chiều dài 25km, chảy qua nhiều xã đáp ứng được nhu cầu nước sinh hoạt và sản xuất Nông lâm nghiệp cho nhân dân trong vùng, tuy nhiên nguồn nước sạch tích lũy còn thiếu;

Tổng số công trình đầu tư xây dựng phục vụ nước sinh hoạt hiện có là

24 công trình gồm các đập nước và bể chứa Trong đó tại thị trấn có 1 nhà máy nước, lấy nguồn nước từ sông lam qua xử lý cấp cho người tiêu dùng, tuy nhiện hiện nay đã cấp được cho khoảng 80% số hộ dân trên địa bàn thị

Trang 35

trấn, số còn lại chủ yếu dùng nước giếng đào và nước sông Các xã chủ yếu sử dụng nước sinh hoạt thông qua hệ thống nước tự chảy dẫn từ đầu nguồn các khe, suối và giếng;

3.2.4.3 Tài nguyên rừng

Là huyện miền núi nên hầu hết diện tích là đất Lâm nghiệp (chiếm chủ yếu 88,7 % tổng diện tích tự nhiên), cùng với khí hậu đất đai phù hợp tài nguyên rừng ở nơi đây khá phong phú về loài Đối với rừng tự nhiên diện tích

133.193 ha chiếm 76 % tổng diện tích tự nhiên, có nhiều loài cây gỗ quý

hiếm như Lim xanh, Sến, Táu, Vàng tâm, Giổi các loài Lâm sản ngoài gỗ như Măng tre nứa, Cà ổi Bắc Giang, Đại hái, bứa, vả Động vật rừng có các loài Sao La, Lợn rừng, Chào Vao, Chà vá chân nâu, Gà lôi, Cầy vằn, Bò Tót, Hổ Tuy nhiên trong những năm gần đây với nhu cầu sử dụng tăng cùng với

sự quý hiếm là giá cả, lợi nhuận tăng bất chấp quy định của pháp luật nạn khai thác, săn bắn diễn ra thường xuyên ngày càng tinh vi, phức tạp khó kiểm soát làm cho số lượng cá thể loài ngày càng suy giảm Hiện nay trên toàn huyện đã trồng được 3.350 ha chiếm 1,9 % tổng diện tích tự nhiên với các loài cây chủ lực như Keo, Vạng trứng Đất chưa có rừng 20.155,18 ha chiếm 11,6 % tổng diện tích tự nhiên với quỹ đất trống lớn như vậy đây là môi trường thuận lợi cho việc triển khai các dự án trên địa bàn đặc biệt là trồng rừng sản xuất

3.2.4.3 Tài nguyên khoáng sản

Huyện Con Cuông còn được thiên nhiên ưu đãi có tài nguyên khoáng sản đa dạng như: Mỏ Than (xã Đôn Phục) diện tích 1,2 km2, trữ lượng khoảng 1.011 nghìn tấn chưa khai thác; mỏ đá úp lát Tân Lập Lèn 2/9 ở nông trường Bãi Phủ diện tích khoảng 1 km2, trữ lượng 52 nghìn tấn; vàng sa khoáng dọc sông Cả, phân bố từ Cửa Rào đến thị trấn Con Cuông diện tích 28 km2, trữ lượng khoảng 3581 kg Au (cấp I); mỏ Phốt Pho rit ở Yên Khê trữ lượng

Trang 36

khoảng 29059 tấn, hàm lượng P2O5 từ 9,6% đến 14,6% Ngoài ra còn có một

số mỏ đất sét ở Môn Sơn, Lục Dạ, thị trấn Con Cuông, Chi Khê, Châu Khê, các

mỏ đá ở Yên Khê, Bồng Khê là nguồn nguyên liệu sản xuất gạch ngói, đá ốp lát,

xi măng, vật liệu xây dựng của huyện

3.2.5 Điều kiện Kinh tế - Xã hội

Con Cuông là huyện nhiều dân tộc gồm 16 dân tộc anh em sinh sống: Kinh, Thái, Tày, Nùng, Đan Lai

Nguồn nhân lực của huyện tương đối dồi dào Theo số liệu thống kê, lao động trong độ tuổi năm 2006 là 32.920 người chiếm 47,47% thì năm 2010 con số này là 42.126 người chiếm 64% dân số toàn huyện Trong đó hầu hết là lao động trong ngành nông nghiệp, còn lao động trong ngành công nghiệp và dịch

vụ chiếm tỷ trọng rất nhỏ không đáng kể

3.2.5.2 Kinh tế

Thực hiện đường lối đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; Được sự quan tâm của Đảng, chính quyền các cấp, các ngành và sự cố gắng vươn lên của nhân dân do đó kinh tế của huyện Con Cuông có bước chuyển biến rõ rệt Kinh tế tăng trưởng khá, cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng của Nghị quyết Đại hội huyện đảng bộ lần thứ XXIV đã xác định:

Trang 37

"Tập trung đẩy mạnh phát triển kinh tế theo hướng Lâm - Nông - Tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ, trên cơ sở khai thác có hiệu quả các tiềm năng lợi thế sẵn có của huyện"

Nền kinh tế của huyện có bước tăng trưởng bình quân cao hơn giai đoạn 2000-2005 (13,64%) Tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2005 – 2010 bình quân là 15,04%

Trong đó: Nông lâm ngư nghiệp tăng 8,48%; công nghiệp; xây dựng 32%; dịch vụ 16,2% Thu nhập bình quân đầu người ước đạt 13,6% Nông, lâm, ngư nghiệp giảm từ 51,8% năm 2005 xuống 40,6% năm 2010 Tỷ lệ hộ nghèo giảm bình quân trong kỳ 3-4%; giải quyết việc làm tăng 7,5% so vơi năm 2005

3.2.5.3 Hiện trạng xã hội, cơ sở hạ tầng

Con Cuông là một huyện vùng cao đặc biệt khó khăn của tỉnh Nghệ

An, là một huyện vùng sâu, vùng xa, trình độ dân trí không đồng đều và còn hạn chế Điểm xuất phát của nền kinh tế còn thấp, chưa có tích luỹ, công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp mới bắt đầu hình thành Hạ tầng kỹ thuật nhìn chung còn nhiều thấp kém, chưa thu hút được vốn đầu tư của các doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh Những năm gần đây được sự quan tâm của UBND tỉnh cùng với sự cố gắng của chính quyền địa phương, đã đầu tư xây dựng cơ

sở hạ tầng các công trình trọng điểm phục vụ cho phát triển kinh tế, xã hội trên địa bàn huyện

(1) Hệ thống giao thông

Con Công là huyện miền núi nên hệ thống giao thông chưa phát triển, chất lượng các tuyến đường chưa cao, chỉ có 11% đường đỗ nhựa, 27,21% đường cấp phối và 61,79% là đường đất nên giao thông đi lại khó khăn vào mùa mưa Mạng giao thông nông thôn bao gồm đường liên huyện, liên xã và đường thôn bản, giao thông nội đồng

Trang 38

+ Đường huyện: Có 4 tuyến đường với tổng chiều dài 96 km Đây là trục giao thông chính nối liền các trung tâm các xã Tuy vậy, các tuyến đường này mới chỉ được đổ nhựa 50% còn nũa là đường cấp phối

+ Đường xã: Có tổng chiều dài khoảng 259 km, toàn bộ là đường đất và cấp phối nên khó khăn cho việc di chuyển vào mùa mưa, nhất là đường vào các bản, làng ở một số xã như: Cam Lâm, Bình Chuẩn hầu như xe ô tô không vào được

+ Với đặc thù là huyện miền núi nên địa hình bị chia cắt, hầu hết hệ

thống tưới tiêu cho hoa màu và lúa nước đều lấy từ khe suối Những năm trở lại đây do có sự đầu tư từ nguồn vốn kiên cố hoá kênh mương nội đồng nên

hệ thống thuỷ lợi của huyện đã được bê tông hoá 77% (102/133km)

(2) Mạng lưới điện

Hiện toàn huyện đang sử dụng nguồn điện 35 KV, tính đến nay mạng

lưới điện Quốc gia đã đến được 13/13 xã, thị trấn trên 90% số hộ được dùng điện lưới

(3) Hệ thống thông tin liên lạc

Huyện Con cuông đã có hệ thống mạng di động VINAPHONE,

VIETTEL, MOBIPHONE, phủ sóng tới các xã trong huyện, đồng thời đưa các dịch vụ điện thoại không dây vào một số thôn bản chưa có tuyến cáp, từng bước hoạt động có hiệu quả, đáp ứng yêu cầu của thông tin liên lạc trong nước và quốc tế;

Hệ thống bưu điện của huyện gồm có trung tâm bưu điện huyện tại thị trấn Con Cuông, mỗi xã có 1 điểm bưu điện văn hoá xã nối mạng Internet Tại các điểm bưu điện văn hoá xã có các dịch vụ: Điện thoại cố định, bưu phẩm, bưu kiện, báo chí phục vụ miễn phí Bưu điện huyện đã tổ chức cung cấp các dịch vụ tốt nhất đến người tiêu dùng như chuyển phát nhanh bưu phẩm, tiền, lắp đặt điện thoại ;

Trang 39

3.2.5.3 Y tế, giáo dục

(1) Y tế: Mạng lưới y tế đã được chú trọng đầu tư nên khá hoàn chỉnh

từ cấp huyện xuống các xã Đến nay, toàn huyện có 1 bệnh viện đa khoa, 3 phòng khám đa khoa, 1 phòng khám tư nhân và 13 trạm y tế ở 13 xã, thị trấn Toàn huyện có 349 giường bệnh, 157 cán bộ, nhân viên trong đó có 41 bác sỹ Ngành y tế đã triển khai đồng bộ các chương trình y tế quốc gia, đặc biệt là các chương trình y tế miễn phí đối với các hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo như khám chữa bệnh, cấp thuốc miễn phí, phòng chống sốt rét nên chất lượng sức khoẻ của người dân được nâng lên Bên cạnh đó chất lượng hoạt động của các trạm y tế thôn, bản chưa đồng đều, còn yếu và thiếu cả cán bộ và trang thiết bị

(2) Giáo dục: Giáo dục luôn được các cấp chính quyền, toàn xã hội

quan tâm và chú trọng đầu tư Từ năm 1999-2010 đã có sự chuyển biến mạnh

mẽ cả về số lượng học sinh và chất lượng đào tạo, cơ sở vật chất và đội ngũ

giáo viên Năm 2007 toàn huyện có 13/13 xã, thị trấn được công nhận xoá mù

chữ và đạt chuẩn quốc gia về phổ cập giáo dục tiểu học

3.2.5.4 Ngành nghề và mức sống

(1) Nông, lâm nghiệp

Trong cơ cấu kinh tế của toàn huyện thì Nông - lâm nghiệp là ngành

đóng vai trò chủ đạo chiếm tới 40,6% còn lại 59,4% là công nghiệp - xây dựng và dịch vụ Trong những năm qua, sản xuất cây lương thực có hạt đạt bình quân 28.000 tấn/năm (năm 2012) tăng 2.000 tấn so với năm 2005 Chăn nuôi gia súc gia cầm tăng mạnh, hàng năm tăng bình quân 2-3%; Phát triển trồng rừng, khai thác lâm sản gỗ, lâm sản ngoài gỗ rừng nâng cao thu nhập tạo công ăn việc làm cho 70% lao động trên địa bàn thu nhập 2-2,5 triệu đồng/tháng

Trang 40

(2) Công nghiệp, dịch vụ

Tiếp tục tăng cao, trên địa bàn huyện có một số doanh nghiệp, công

ty, nhà máy như: Công ty lâm nghiệp, nhà máy chế biến tinh bột giấy Tân Hồng, các xưởng sơ chế nguyên liệu giấy ; các dịch vụ nhà hàng, khách sạn, hợp tác xã dịch vụ vận tải, viễn thông tăng bình quân hàng năm 16,2%, góp phần giải quyết công ăn việc làm cho nông dân, tăng thêm thu nhập

3.3 Đánh giá quá trình thực hiện Dự án

3.3.1 Mục tiêu và nhiệm vụ của Dự án

- Mục tiêu

+ Phủ xanh đất trống đồi núi trọc, tạo cảnh quan, môi trường, tạo ra nguồn sinh thủy cho các hồ đập trên địa bàn

+ Giải quyết việc làm, xóa đói, giảm nghèo, nâng cao đời sống cho một

bộ phận lao động trong khu vực Dự án

+ Góp phần làm ổn định chính trị, an ninh quốc phòng, thúc đẩy phát triển kinh tế trên địa bàn các huyện Miền núi

Ngày đăng: 30/08/2017, 15:08

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Thị Tuyết Anh (2006), Đánh giá tác động của Dự án trồng rừng Việt - Đức KFW1 tại xã Cẩm Đàn – Sơn Động – Bắc Giang, Luận văn tốt nghiệp, Trung tâm Lâm nghiệp xã hội, Trường Đại học Lâm nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá tác động của Dự án trồng rừng Việt - Đức KFW1 tại xã Cẩm Đàn – Sơn Động "–" Bắc Giang
Tác giả: Lê Thị Tuyết Anh
Năm: 2006
2. Ban quản lý dự án trồng rừng 661, tỉnh Nghệ An (2010), Báo cáo tổng kết thực hiện Dự án từ năm 1999-2010, Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết thực hiện Dự án từ năm 1999-2010
Tác giả: Ban quản lý dự án trồng rừng 661, tỉnh Nghệ An
Năm: 2010
3. Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An (2010), Báo cáo kết quả thực hiện Dự án 661 từ năm 2004 – 2010, Con Cuông Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả thực hiện Dự án 661 từ năm 2004 – 2010
Tác giả: Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An
Năm: 2010
4. Công ty Lâm nghiệp huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An (2010), Báo cáo kết quả thực hiện Dự án 661 từ năm 1998 – 2010, Con Cuông Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả thực hiện Dự án 661 từ năm 1998 – 2010
Tác giả: Công ty Lâm nghiệp huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An
Năm: 2010
5. Lê Thạc Cán và tập thể tác giả (1994), Đánh giá tác động môi trường - Phương pháp luận và kinh nghiệm thực tiễn, Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá tác động môi trường -Phương pháp luận và kinh nghiệm thực tiễn
Tác giả: Lê Thạc Cán và tập thể tác giả
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 1994
6. Cao Thế Cường (2008), Bước đầu đánh giá tác động của Dự án 661 tại xã Nghĩa Lộc, Huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An, Luận văn tốt nghiệp, Trường Đại học Lâm nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước đầu đánh giá tác động của Dự án 661 tại xã Nghĩa Lộc, Huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An
Tác giả: Cao Thế Cường
Năm: 2008
7. Phan Xuân Diện (2009), Đánh giá tác động Chương trình 134 ở huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An, Con Cuông, Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá tác động Chương trình 134 ở huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An
Tác giả: Phan Xuân Diện
Năm: 2009
8. Trần Hữu Dào (1995), Đánh giá hiệu quả kinh doanh rừng Quế của các hộ gia đình tại Văn Yên- Yên Bái, Luận văn thạc sỹ, Trường Đại học Lâm nghiệp, Hà Tây Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá hiệu quả kinh doanh rừng Quế của các hộ gia đình tại Văn Yên- Yên Bái
Tác giả: Trần Hữu Dào
Năm: 1995
9. Tô Duy Hợp, Lương Hồng Quang (2000), Phát triển cộng đồng lý thuyết và vận dụng, Nhà xuất bản Văn hoá - Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển cộng đồng lý thuyết và vận dụng
Tác giả: Tô Duy Hợp, Lương Hồng Quang
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn hoá - Thông tin
Năm: 2000
10. Nguyễn Ngọc Mai và cộng sự (1996), Giáo trình lập và quản lý Dự án đầu tư, Trường Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình lập và quản lý Dự án đầu tư
Tác giả: Nguyễn Ngọc Mai và cộng sự
Năm: 1996
11. Đoàn Thị Mai (1997), Đánh giá hiệu quả kinh tế môi trường vì mục tiêu phát triển bền vững cho một số phương án sử dụng đất trong canh tác Nông Lâm nghiệp ở vùng nguyên liệu giấy, Luận văn thạc sỹ, Trường Đại học Lâm nghiệp, Hà Tây Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá hiệu quả kinh tế môi trường vì mục tiêu phát triển bền vững cho một số phương án sử dụng đất trong canh tác Nông Lâm nghiệp ở vùng nguyên liệu giấy
Tác giả: Đoàn Thị Mai
Năm: 1997
13. Vũ Nhâm (2002), Phương pháp đánh giá Dự án trồng rừng có sự tham gia, Trường Đại học Lâm nghiệp, Hà Tây Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp đánh giá Dự án trồng rừng có sự tham gia
Tác giả: Vũ Nhâm
Năm: 2002
14. Hoàng Thị Nhung (2005), Bước đầu đánh giá tình hình thực hiện Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng tại xã Hoà Bình, thi xã Hoà Bình, Luận văn tốt nghiệp, Trung tâm Lâm nghiệp xã hội, Trường Đại học Lâm nghiệp, Hà Tây Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước đầu đánh giá tình hình thực hiện Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng tại xã Hoà Bình, thi xã Hoà Bình
Tác giả: Hoàng Thị Nhung
Năm: 2005
15. Vương Văn Quỳnh (1997), “Chỉ số xói mòn của mưa ở Việt Nam” Thông tin Khoa học Lâm nghiệp, (1), tr. 18-22 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “"Chỉ số xói mòn của mưa ở Việt Nam
Tác giả: Vương Văn Quỳnh
Năm: 1997
16. Vương Văn Quỳnh (1999), Bài giảng quản lý nguồn nước, Trường Đại học Lâm nghiệp, Hà Tây Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng quản lý nguồn nước
Tác giả: Vương Văn Quỳnh
Năm: 1999
17. Nguyễn Thị Oanh (1995), Phát triển cộng đồng, Đại học mở bán công Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển cộng đồng
Tác giả: Nguyễn Thị Oanh
Năm: 1995
18. Cao Danh Thịnh (1998), Thử nghiệm ứng dụng một số phương pháp định lượng có trọng số để so sánh hiệu quả kinh tế và môi trường của một số Dự án lâm nghiệp tại khu vực phòng hộ đầu nguồn Sông Đà, Luận văn thạc sỹ, Trường Đại học Lâm nghiệp, Hà Tây Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thử nghiệm ứng dụng một số phương pháp định lượng có trọng số để so sánh hiệu quả kinh tế và môi trường của một số Dự án lâm nghiệp tại khu vực phòng hộ đầu nguồn Sông Đà
Tác giả: Cao Danh Thịnh
Năm: 1998
19. Phạm Xuân Thịnh (2002), Đánh giá tác động của Dự án KFW1 tại vùng Dự án xã Tân Hoa, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang, Luận văn thạc sỹ, Trường Đại học Lâm nghiệp, Hà Tây Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá tác động của Dự án KFW1 tại vùng Dự án xã Tân Hoa, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang
Tác giả: Phạm Xuân Thịnh
Năm: 2002
20. Trần Văn Thông (2008), Đánh giá tác động của dự án trồng rừng Việt - Đức (KFW2) tại vùng Dự án xã Kỳ Lạc, Huyện Kỳ Anh, tỉnh Nghệ An, Luận văn Thạc sỹ, Trường Đại học Lâm nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá tác động của dự án trồng rừng Việt - Đức (KFW2) tại vùng Dự án xã Kỳ Lạc, Huyện Kỳ Anh, tỉnh Nghệ An
Tác giả: Trần Văn Thông
Năm: 2008
21. Thủ tướng Chính phủ (1998), Quyết định về mục tiêu, nhiệm vụ, chính sách và tổ chức thực hiện Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng. Số 661/QĐ-TTg Hà Nội, ngày 29 tháng 7 năm 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định về mục tiêu, nhiệm vụ, chính sách và tổ chức thực hiện Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng
Tác giả: Thủ tướng Chính phủ
Năm: 1998

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1: Sơ đồ quá trình nghiên cứu - Đánh giá tác động của dự án 661 tại huyện con cuông, tỉnh nghệ an
Hình 2.1 Sơ đồ quá trình nghiên cứu (Trang 18)
Hình 3.1. Bản đồ hành chính huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An - Đánh giá tác động của dự án 661 tại huyện con cuông, tỉnh nghệ an
Hình 3.1. Bản đồ hành chính huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An (Trang 31)
Hình 3.2. Biểu đồ vũ nhiệt Gaussen - Walter  3.2.4. Điều kiện thổ nhưỡng. - Đánh giá tác động của dự án 661 tại huyện con cuông, tỉnh nghệ an
Hình 3.2. Biểu đồ vũ nhiệt Gaussen - Walter 3.2.4. Điều kiện thổ nhưỡng (Trang 34)
Hình 3.3. Sơ đồ cơ cấu tổ chức dự án - Đánh giá tác động của dự án 661 tại huyện con cuông, tỉnh nghệ an
Hình 3.3. Sơ đồ cơ cấu tổ chức dự án (Trang 41)
Bảng 3.11. Tổng hợp các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế của 2 mô hình rừng trồng - Đánh giá tác động của dự án 661 tại huyện con cuông, tỉnh nghệ an
Bảng 3.11. Tổng hợp các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế của 2 mô hình rừng trồng (Trang 55)
Hình 3.4. Biểu đồ thu nhập các nhóm hộ tham gia dự án trước và sau dự án - Đánh giá tác động của dự án 661 tại huyện con cuông, tỉnh nghệ an
Hình 3.4. Biểu đồ thu nhập các nhóm hộ tham gia dự án trước và sau dự án (Trang 59)
Hình 3.5. Thu nhập bình quân của các nhóm hộ tham gia và không tham - Đánh giá tác động của dự án 661 tại huyện con cuông, tỉnh nghệ an
Hình 3.5. Thu nhập bình quân của các nhóm hộ tham gia và không tham (Trang 62)
Hình 3.6. Chi phí bình quân của các nhóm hộ tham gia DA - Đánh giá tác động của dự án 661 tại huyện con cuông, tỉnh nghệ an
Hình 3.6. Chi phí bình quân của các nhóm hộ tham gia DA (Trang 65)
Bảng 3.15. Cơ cấu Chi phí theo nhóm hộ tham gia DA và không tham gia DA trước và sau Dự án - Đánh giá tác động của dự án 661 tại huyện con cuông, tỉnh nghệ an
Bảng 3.15. Cơ cấu Chi phí theo nhóm hộ tham gia DA và không tham gia DA trước và sau Dự án (Trang 66)
Bảng 3.16: Tiêu chí phân loại HGĐ bản Pha trước và sau DA - Đánh giá tác động của dự án 661 tại huyện con cuông, tỉnh nghệ an
Bảng 3.16 Tiêu chí phân loại HGĐ bản Pha trước và sau DA (Trang 69)
Bảng 3.17 Diện tích đất sản xuất bình quân của các hộ - Đánh giá tác động của dự án 661 tại huyện con cuông, tỉnh nghệ an
Bảng 3.17 Diện tích đất sản xuất bình quân của các hộ (Trang 70)
Bảng 3.19: Mức độ sử dụng thời gian làm việc bình quân/năm/lao động - Đánh giá tác động của dự án 661 tại huyện con cuông, tỉnh nghệ an
Bảng 3.19 Mức độ sử dụng thời gian làm việc bình quân/năm/lao động (Trang 73)
Bảng 3.23. Tính toán lượng đất mất đi của một số mô hình sử dụng đất - Đánh giá tác động của dự án 661 tại huyện con cuông, tỉnh nghệ an
Bảng 3.23. Tính toán lượng đất mất đi của một số mô hình sử dụng đất (Trang 80)
2.1  Sơ đồ quá trình nghiên cứu  17 - Đánh giá tác động của dự án 661 tại huyện con cuông, tỉnh nghệ an
2.1 Sơ đồ quá trình nghiên cứu 17 (Trang 104)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm