Tuy nhiên, Sơn La vẫn là một tỉnh đặc biệt khó khăn so với cả nước, điều kiện kinh tế xã hội vẫn còn nhiều khó khăn, kết cấu hạ tầng chưa phát triển, trình độ dân trí còn nhiều hạn chế,
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này
là hoàn toàn trung thực, chưa hề sử dụng cho một công trình nghiên cứu nào
đã được công bố Mọi sự giúp đỡ cho việc hoàn thành luận văn đều đã được cảm ơn Các thông tin, tài liệu trình bày trong luận văn này đã được ghi rõ nguồn gốc
Tác giả
Nguyễn Việt Dương
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian thực tập và thực hiện đề tài này, tôi đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ của Ban chỉ đạo phát triển cây cao su - Ủy ban nhân dân tỉnh Sơn La, các thầy giáo, cô giáo, bạn bè, đồng nghiệp, cơ quan và gia đình
Trước tiên tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo PGS.TS Phạm Xuân Hoàn đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và tạo mọi điều
kiện giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến Lãnh đạo Ban chỉ đạo phát triển cây cao
su tỉnh Sơn La, các đồng nghiệp, Công ty cổ phần cao su Sơn La, các hộ nông dân trồng cao su đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình thực hiện luận văn này
Nhân dịp này cho tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành nhất tới các thầy giáo, cô giáo, bạn bè đồng nghiệp, cơ quan, gia đình và người thân đã quan tâm động viên tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài
Xin trân trọng cảm ơn!
Tác giả
Nguyễn Việt Dương
Trang 3MỤC LỤC
Trang
Lời cam đoan ……… i
Lời cảm ơn ……… ii
Mục lục ……… iii
Danh mục các từ viết tắt ……….vii
Danh mục các bảng viii
Danh mục các hình ix
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1 Trên thế giới 3
1.1.1 Nghiên cứu về NLKH và kỹ thuật trồng xen 3
1.1.2 Nghiên cứu các loại cây trồng xen với Cao su 6
1.1.3 Nghiên cứu đánh giá hiệu quả kinh tế trong NLKH 7
1.1.4 Nghiên cứu đánh giá tác động môi trường trồng cây Cao su 8
1.2 Những nghiên cứu trong nước 9
1.2.1 Nghiên cứu về NLKH và kỹ thuật trồng xen 9
1.2.2 Nghiên cứu các loại cây trồng xen với Cao su 14
1.2.3 Nghiên cứu đánh giá hiệu quả kinh tế trong NLKH 17
1.2.4 Nghiên cứu đánh giá tác động môi trường trồng cây Cao su 18
Chương 2: MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
2.1 Mục tiêu nghiên cứu 20
2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 20
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu 20
2.2.2 Giới hạn nghiên cứu 20
Trang 42.3 Nội dung nghiên cứu 20
2.4 Phương pháp nghiên cứu 21
2.4.1 Thu thập số liệu, tài liệu và thông tin 21
2.4.2 Phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia của cộng đồng 21 2.4.3 Phương pháp điều tra ô tiêu chuẩn 22
2.4.4 Phương pháp nội nghiệp 22
Chương 3: ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ, XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU 26
3.1 Đặc điểm tự nhiên 26
3.1.1 Vị trí địa lý, địa hình 26
3.1.2 Tài nguyên thiên nhiên 27
3.1.2.1 Tài nguyên đất 27
3.1.2.2 Khí hậu, thủy văn 28
3.1.2.3.Tài nguyên rừng, thực vật và động vật 30
3.1.2.4 Tài nguyên nước 30
3.1.2.5 Các nguồn tài nguyên khác 31
3.2 Đặc điểm kinh tế xã hội 32
3.2.1 Dân số, dân tộc 32
3.2.2 Lao động, việc làm 33
3.2.2.1 Lao động 33
3.2.2.2 Việc làm 33
3.2.3 Thực trạng kinh tế 34
3.2.3.1 Sản xuất nông nghiệp 34
3.2.3.2 Sản xuất lâm nghiệp 36
3.2.3.3 Thuỷ sản 37
3.2.3.4 Công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, xây dựng 37
3.2.4 Đời sống văn hóa xã hội 38
Trang 53.2.4.1 Đời sống 38
3.2.4.2 Văn hoá – xã hội 38
3.2.4.3 Y tế, bảo vệ sức khoẻ 39
3.2.4.4 Giáo dục 40
3.2.5 Thực trạng cơ sở hạ tầng 41
3.2.5.1 Hệ thống giao thông vận tải 41
3.2.5.2 Thuỷ lợi 43
3.2.5.3 Cấp nước sinh hoạt nông thôn 43
3.2.5.4 Hệ thống thông tin liên lạc, phát thanh, truyền hình 43
3.2.5.5 Hệ thống điện phục vụ sản xuất và đời sống 44
3.2.5.6 Hệ thống y tế, giáo dục 44
3.3 Lược sử đối tượng nghiên cứu 45
3.3.1 Lược sử Công ty cổ phần cao su Sơn La 45
3.3.2 Hiện trạng phát triển cây cao su trên địa bàn tỉnh Sơn La 47
Đơn vị tính: ha 48
3.3.3 Những thuận lơi và khó khăn khi bố trí cây trồng xen trong nương đồi cao su giai đoạn KTCB 48
3.3.3.1 Thuận lợi 48
3.3.3.2 Khó khăn 49
Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 50
4.1 Đặc tính sinh học, sinh thái và kỹ thuật trồng của loài cây trong mô hình 50 4.1.1 Một số đặc điểm của cây trồng chính và trồng xen tại khu vực nghiên cứu 50
4.1.1.1 Đặc điểm sinh vật học và sinh thái học của cây Cao su (cây trồng chính) 50
4.1.1.2 Đặc tính sinh học và sinh thái học của cây bông 51
4.1.1.3 Đặc điểm của cây ngô 53
Trang 64.1.1.4 Đặc điểm thực vật học và yêu cầu sinh thái của cây đậu tương 55
4.2 Kỹ thuật trồng, chăm sóc cây cao su và cây trồng xen trong các mô
hình 56
4.2.1 Kỹ thuật trồng và chăm sóc cao su 56
Bảng 4.1: Mật độ trồng Cao su theo độ dốc khác nhau 58
4.2.2 Kỹ thuật trồng xen bông trong vườn cây cao su 60
4.1.2.3 Kỹ thuật trồng xen ngô trong vườn cây cao su 62
4.2.2 Kỹ thuật trồng xen đậu tương trong vườn cây cao su 63
4.3 Ảnh hưởng của kỹ thuật trồng xen tới sinh trưởng của Cao su 64
4.4 Kết quả đánh giá hiệu quả kinh tế của các mô hình 66
4.5 Đánh giá hiệu quả xã hội 71
4.6 Kết quả đánh giá tác động môi trường 75
4.6.1 Ảnh hưởng của trồng xen tới một số đặc tính của đất 75
trồng xen trong vườn cao su 4 năm tuổi 76
4.6.2 Ảnh hưởng của trồng xen tới động vật đất 78
4.7 Ðánh giá hiệu quả tổng hợp của mô hình 79
4.8 Một số đề xuất nhân rộng mô hình trồng xen cây nông nghiệp với Cao su tại huyện Yên Châu và nơi có điều kiện tương đồng 80
KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ 84 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CP Cổ phần
FAO Tổ chức lương nông liên hợp quốc (Food and Agriculture Organization
of the United nations
KTCB Kiến thiết cơ bản
MCSB Mô hình trồng xen bông trong vườn cao su
MCSĐ Mô hình trồng xen đậu tương trong vườn cao su
MCSN Mô hình trồng xen Ngô trong vườn cao su
MĐC Mô hình đối chứng
NLKH Nông lâm kết hợp
SALT Slopping Agricultural Land Technology
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
3.1 Diện tích trồng cây cao su của các huyện trên địa bàn tỉnh Sơn La 48 4.1 Mật độ trồng Cao su theo độ dốc khác nhau 58 4.2 Ảnh hưởng của phương thức trồng xen đến sinh trưởng cây cao
su giai đoạn KTCB (vườn cao su KTCB năm thứ 4) 65 4.3 Chi phí và thu nhập của 1ha mô hình bông xen cao su 4 năm tuổi 67 4.4 Chi phí và thu nhập của 1 ha mô hình ngô xen cao su 4 năm tuổi 68 4.5 Chi phí và thu nhập của 1 ha mô hình đậu xen cao su 4 năm tuổi 69 4.6 Hiệu quả kinh tế của các 03 mô hình cây ngắn ngày trồng xen
4.8 Tổng hợp đánh giá hiệu quả xã hội của 3 mô hình 74 4.9 Khả năng kiểm soát xói mòn của các cây ngắn ngày trồng xen
4.10 Ảnh hưởng của trồng xen tới một số đặc tính đất 77 4.11 Tổng hợp số lượng và đánh giá sự ảnh hưởng của trồng xen đến
4.12 Hiệu quả tổng hợp của 03 mô hình trồng xen cây ngắn ngày
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
4.2 Mặt cắt ngang băng đồng mức trên đất dốc 10O và 30O 59 4.3 Cao su trồng theo băng đồng mức trên đồi dốc 30O 60
Trang 10ĐẶT VẤN ĐỀ
Sơn La là một tỉnh miền núi, có diện tích tự nhiên 14.174 km2 và 250
km đường biên giới với nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào; dân số trên một triệu người, có 12 dân tộc anh em cùng sinh sống; tỉnh có 10 huyện, 01 thành phố với 206 xã, phường, thị trấn; có 3.177 bản, tiểu khu, tổ dân phố Tuy nhiên, Sơn La vẫn là một tỉnh đặc biệt khó khăn so với cả nước, điều kiện kinh tế xã hội vẫn còn nhiều khó khăn, kết cấu hạ tầng chưa phát triển, trình
độ dân trí còn nhiều hạn chế, thu nhập bình quân đầu người chưa cao, lao động chính là người đồng bào dân tộc thiểu số, sống ở vùng nông thôn, ít được đào tạo…
Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, trong những năm qua tỉnh Sơn
La đã cụ thể hoá, ban hành nhiều chủ trương, chính sách để đẩy mạnh phát triển nông nghiệp, nông thôn và đạt được những thành tựu quan trọng: Sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp tăng trưởng khá cao; cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn chuyển dịch tích cực theo hướng sản xuất hàng hoá; tăng tỷ trọng chăn nuôi, giảm tỷ trọng trồng trọt; hình thành vùng cây công nghiệp tập trung gắn với cơ sở chế biến; xóa dần tính độc canh và sản xuất tự cấp, giảm mạnh tình trạng di cư tự do; đẩy mạnh ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, nhất là giống mới, bảo đảm được an ninh lương thực, nâng độ che phủ của rừng; quan tâm đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn nhất là điện, đường, trường, trạm và xây dựng các công trình thuỷ lợi tưới ẩm
Tỉnh có diện tích đất chưa sử dụng và đất rừng không thành rừng lớn
(trên 1 triệu ha) có tiềm năng phát triển cây công nghiệp và cây lâm nghiệp
Thực hiện chủ trương của Chính phủ về phát triển cây cao su, tỉnh Sơn La đã
quy hoạch 50.000 ha cây cao su nhằm đột phá chiến lược phát triển nông nghiệp, nông thôn đẩy nhanh lộ trình xoá đói giảm nghèo, nâng cao thu nhập
và cải thiện đời sống cho nhân dân các dân tộc Sơn La
Trang 11Từ năm 2007 đến nay, tỉnh Sơn La đã trồng được gần 7.000 ha cây Cao
su, trong đó huyện Yên Châu trồng được 900 ha Kế hoạch đến năm 2020 tỉnh Sơn La có 50.000 ha cao su Cây cao su là cây công nghiệp dài ngày được đánh giá là có tiềm năng đem lại hiệu quả cao về kinh tế Tuy nhiên chu kỳ kinh doanh cây cao su từ 25 – 27 năm Trong đó 7 năm đầu chưa khai thác được mủ (thời kì kiến thiết cơ bản) nên thu nhập của người dân chỉ dựa vào thu nhập từ lương theo định mức khoán công việc của doanh nghiệp, tích lũy của người dân ở thời kỳ này còn thấp Nhằm nâng cao hiệu quả chương trình phát triển cây cao su, tận dụng hơn 60% diện tích đất trống giữa các hàng cao
su để trồng các cây ngắn ngày Trong những năm qua Tỉnh Sơn La và Công ty
cổ phần cao su Sơn La đã khuyến khích nhân dân trồng xen cây ngắn ngày Việc trồng xen vẫn chủ yếu dựa vào kinh nghiệm truyền thống của nhân dân
và những quy định của Công ty cao su nhưng bước đầu đã có những hiệu quả
và lợi ích thiết thực Tuy nhiên đến nay vẫn chưa có công trình nghiên cứu khoa học nào về vấn đề này trên địa bàn quy hoạch trồng cao su của tỉnh Sơn
La Để đánh giá, xác định được những mô hình triển vọng nhất về mặt kinh
tế, tác động môi trường làm cơ sở cho hoạch định chủ trương, chính sách của tỉnh, tổ chức triển khai ở các địa phương khác chúng tôi lựa chọn nghiên cứu
thực hiện đề tài: “Đánh giá hiệu quả kinh tế và tác động môi trường của một số mô hình trồng xen cây ngắn ngày với cây cao su ở huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La” Kết quả nghiên cứu sẽ có ý nghĩa thực tiễn góp phần
nâng cao hiệu quả sử dụng đất, tăng thu nhập cho người dân, thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn ở Yên Châu và các vùng có điều kiện tương đồng
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Trên thế giới
1.1.1 Nghiên cứu về NLKH và kỹ thuật trồng xen
Canh tác cây thân gỗ cùng với cây trồng nông nghiệp trên cùng một diện tích là một tập quan sản xuất lâu đời của nông dân ở nhiều nơi trên thế giới Theo King (1987), thời trung cổ ở châu Âu đã tồn tại một tập quán phổ biến là “chặt và đốt” rồi sau đó tiếp tục trồng cây thân gỗ cùng với cây nông nghiệp hoặc sau khi thu hoạch nông nghiệp Hệ thống canh tác này vẫn tồn tại
ở Phần Lan cho đến cuối thế kỷ 19 và vẫn còn ở một số vùng của Đức đến tận những năm 1920 Ở vùng nhiệt đới của nước Mỹ, trong quá trình canh tác người ta đã “bắt chước” điều kiện và cấu trúc của rừng nhằm đạt được những ảnh hưởng có lợi cho hệ sinh thái của vườn rừng Họ trồng tầng trên cùng là dừa, tầng dưới là cam, quýt và tầng thấp hơn là cà phê hoặc ca cao, cây mùa
vụ như: Ngô, lạc…và cuối cùng là mặt đất được che phủ bằng các loại cây thấp, mỗi một tầng có cấu trúc riêng, ngoại hình tầng thứ giống như rừng hỗn giao nhiệt đới
Tại châu Á, Trung Quốc được coi là một trong những “cái nôi” nông nghiệp phương Đông Khi lần theo dấu vết trong quá khứ ở giai đoạn đầu của nông nghiệp lúc sơ khai, người ta nhận ra rằng canh tác cây gỗ kết hợp với cây nông nghiệp đã có từ lâu đời Vào triều đại nhà Hán (từ năm 206 trước công nguyên đến năm 220 sau công nguyên), người ta đã khuyến cáo phát triển cây gỗ cùng với chăn nuôi và canh tác cây nông nghiệp (Zhu Zhaohua,
Fu Maoyi và C.B.Sastry, 2001) Lịch sử cổ đại Trung Quốc có ghi lại và mô
tả khá tỷ mỉ về những kỹ thuật trồng xen Vào cuối triều đại nhà Minh một cuốn sách nổi tiếng là “Nongzheng Quanshu” (Bàn luận hoàn chỉnh về canh nông) được Hsu Kunangchi (1640 viết), đã mô tả một kiểu canh tác kết hợp
Trang 13giữa cây đậu tương và các hàng cây Dẻ gai và cho biết bằng cách này cả hai cây đều sinh trưởng rất hoàn chỉnh, Dẻ có thân thẳng, đậu tương cho năng suất cao (dẫn theo Phạm Xuân Hoàn et al, 2005) [7]
Du canh được đánh giá là phương thức canh tác cổ xưa nhất Người Hunnunoo của Philipin có kinh nghiệm sử dụng phương pháp du canh một cách tinh tế Ở những nơi chặt rừng để canh tác nông nghiệp người ta cân nhắc kỹ lưỡng để lại các cây gỗ nhất định cho tới cuối vụ lúa, nó sẽ tạo nên sự che bóng nhờ những cây gỗ còn lại đó, chống sự phơi nắng thái quá bề mặt đất Các cây gỗ là bộ phận không thể thiếu của hệ thống canh tác của người Hunnunoo và nó có thể được trồng hoặc giữ lại từ rừng cũ, nó còn tác dụng cung cấp gỗ xây dựng, củi đun (Conklin, 1957) Các hệ thống canh tác như vậy còn gặp ở nhiều vùng nhiệt đới ẩm của châu Á Còn ở châu Phi, ở phía Nam Nigeria người ta trồng khoai, ngô, bí ngô và đậu với nhau được sự che trở của tầng cây gỗ (Forde, 1937) Ở niềm Tây Nigeria người dân Yrouba đã
sử dụng hỗn hợp cây hoà thảo, cây dạng bụi và cất gỗ, họ cho rằng hệ thống
đó là phương tiện bảo tồn năng lượng của con người bằng cách sử dụng tối đa khoảng không gian có giới hạn, đồng thời nhằm bảo vệ độ phì của đất cũng như chống xói mòn ngăn chặn sự mặn hoá đất (Ojo, 1966)
Về sau, phương thức này được gắn với một từ địa phương của ngôn ngữ Myanma (Taungya) có nghĩa là canh tác trên đồi núi Sự ra đời của phương thức Taungya ở vùng nhiệt đới được xem như là một dấu hiệu báo trước cho các phương thức nông lâm kết hợp sau nau (Nair P.K.R,1987) Vào năm 1806, khi Miến Điện còn là một bộ phận của Ấn Độ thời thuộc địa của Anh, U Pankle đã cho người dân trồng rừng Tếch và trồng cây lương thực giữa các hàng cây khi rừng chưa khép tán để giải quyết nhu cầu lương thực hàng năm Đây là phương pháp theo ông gọi là Taungya, sau đó ông truyền lại phương thức này cho những người cai trị Anh ở Ấn Độ là Dictrich
Trang 14Brandis, từ đó phương thức này được lan truyền và áp dụng rộng rãi ở Ấn Độ
và Nam Phi Theo Vonhesmer (1966 và 1970) và King (1979) thì hầu như ở các vùng nhiệt đới bắt đầu từ phương thức này Có thể nói Taungya là một bước phát triển từ du canh sang nông lâm kết hợp (NLKH), và phương thức Taungya đã phân hoá và phát triển thành các hệ thống, các phương thức nông lâm kết hợp đa dạng như hiện nay
Ở Thái Lan đã có chủ trương phát triển các phương thức nông lâm kết hợp để giữ nước, duy trì độ ẩm, cải tạo sinh thái môi trường, phát triển đời sống con người, kết quả đã thành công trong các nông trang trồng Ngô + Dứa
ta ra các khu rừng hỗn giao nhiều tầng gồm Rừng + Cây họ đậu + Ngô + Dứa…Thái Lan đã nghiên cứu hơn 20 loài cây nông nghiệp trồng xen trong rừng cây gỗ mà hình thức phổ biển là rừng xen các băng cây ăn quả: Lạc, Đậu, Xoài, Vải, Cà phê, Hồ tiêu
Nông lâm kết hợp ở Ấn Độ nổi tiếng thế giới về “cuộc cách mạng xanh”, nhờ thành quả của cuộc cách mạng này mà Ấn Độ từ một nước đông dân không những không bị đói mà sản lượng nông nghiệp ngày càng tăng, đủ để xuất khẩu lương thực Trong các loài cây trồng ở Ấn Độ thì cây dừa là đáng chú ý Dừa đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế, đặc biệt ở bang Kerala, dừa chiếm 70% diện tích và sản phẩm dừa ở Ấn Độ Ca cao là cây trồng xen rất thành công với dừa nhất là ở những nơi tưới tiêu thuận lợi Cà phê được trồng ở nơi có độ cao thường được kết hợp với hồ tiêu, mít và các cây ăn quả khác, cây lương thực điển hình là sắn, được trồng ở các vườn gia đình
Nông lâm kết hợp ở Inđônêxia, từ năm 1972 hoạt động nông lâm kết hợp do các tổ chức công ty lâm nghiệp nhà nước tổ chức và quản lý Việc chọn đất khai hoang để trồng cây lâm nghiệp do các công ty này tiến hành Nông dân được các cán bộ kỹ thuật của Công ty hướng dẫn trồng cây công nghiệp, lâm
Trang 15nghiệp Sau khi trồng cây nông nghiệp 2 năm nông dân bàn giao lại rừng cho
cơ quan lâm nghiệp, sản phẩm nông nghiệp họ toàn quyền sử dụng
Trong nhiều mô hình nông lâm kết hợp được thực hiện ở các quốc gia trên thế giới, thì cần phải kể đến hệ thống canh tác trên đất dốc (SALT) nhằm
sử dụng đất dốc bền vững đã được trung tâm đời sống nông thôn Bapstit sử dụng đất dốc bền vững đã được trung tâm đời sống nông thôn Bapstit Mindanao của Philipin tổng kết, hoàn thiện và phát triển từ giữa những năm
1970 đến nay Đến năm 1992 đã có mô hình tổng hợp về kỹ thuật canh tác nông nghiệp bền vững trên đất dốc được các tổ chức quốc tế ghi nhận đó là:
Mô hình SALT1 (Sloping Agiculture Land Technology); Mô hình SALT2 (Simple Agro-Livestock Technology); Mô hình SALT3 (Sustainable Agro- Forest Land Technology); Mô hình SALT4 (Small Agrofruit Livehood Technology
1.1.2 Nghiên cứu các loại cây trồng xen với Cao su
Tại Thái Lan, các loại cây trồng xen khuyến cáo cho Cao su tiểu điền trong thời gian 3 năm đầu trồng là bắp, lúa nương, đậu, dứa, rau xanh, cỏ chăn nuôi Các loại cây trồng xen nên trồng cách hàng Cao su 1m Mía được khuyến cáo không nên chọn làm cây trồng xen, nhất là vào mùa khô do có thể gây hỏa hoạn Chuối và đu đủ có thể trồng xen với khoảng cách giữa hàng trồng xen và hàng cao su là 2,5m, giữa chuối và đu đủ khoảng cách là 3m, cây
họ đậu phủ đất nên được trồng giữa các khoảng cách này [16]
Diện tích cao su tiểu điền chiếm 84% tổng diện tích trồng cao su tại Indonesia [19] Những nghiên cứu về việc trồng xen trong cao su tiểu điền cho thấy việc chọn loại cây trồng xen có ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây cao su
do vấn đề cạnh tranh về nước và dinh dưỡng Sinh trưởng của cao su trồng hàng kép và trồng xen Paraserianthes falcataria ở các mật độ trồng khác nhau ở 39 tháng tuổi thì thấp hơn 14 % so với cao su trồng theo cùng mật độ trên nhưng
Trang 16không trồng xen và so với cao su không trồng xen với mật độ trồng bình thường thì thấp hơn 26% Để tránh làm giảm sinh trưởng của cao su do sự cạnh tranh của cây trồng xen thì thời gian trồng xen thích hợp là khi cây cao su được hai năm tuổi và trồng xen các loại cây hàng năm có thời gian sinh trưởng ngắn Với khía cạnh nông lâm kết hợp thì việc chọn lựa các dòng cao su cho mủ và gỗ là
tốt nhất cho mục đích dài hạn
Ấn Độ quốc gia có diện tích cao su khá lớn, tại vùng Kerala nông dân trồng xen cao su – sa nhân (Sivadasan, C.R, 1989) [18] Vùng Tây Nam Bahia, Brazin cái nôi của cây cao su, tại đây người dân có nhiều mô hình trồng xen rất
có ý nghĩa như: cây cao su với ca cao (Alvim, R, 1986) [14] và mô hình trồng xen cây hồ tiêu trong cao su (Langton, S.P., Riley.J.1980) [17] Tại Srilanka hiệu quả của việc trồng xen chuối, cây lạc tiên, cây dứa cũng được xác định (Chandrasecara, L.B, 1984)[14] Mô hình trồng xen đậu nành và cây cọ dầu
được K Mak ghi nhận ở Malaysia năm 1985 [18]
1.1.3 Nghiên cứu đánh giá hiệu quả kinh tế trong NLKH
Kỹ thuật trồng xen canh là điều mà những người nông dân Trung Quốc đã thực hiện từ hàng nghìn năm nay, nó liên quan đến việc trồng hai hay nhiều loại cây ở những hàng đan xen nhau trên cùng một diện tích và vào cùng một thời điểm, và điều này có thể làm tăng đáng kể sản lượng ngũ cốc
Trong nhiều thực tiễn trồng xen canh, các loại rau đậu hay được trồng với cây hoa màu Các giống cây họ đậu có tác dụng lưu giữ nitơ trong đất, đó
là một cách để bón phân cho cây trồng được trồng xen kẽ với chúng
Li Long, Zhang Fusuo và các đồng nghiệp thuộc Đại học Nông nghiệp Trung Quốc [26] đã tiến hành nghiên cứu các tác động tương tác sinh học dưới lòng đất giữa cây đậu tằm và cây ngô Họ đã tiến hành các thử nghiệm trên các cánh đồng thuộc tỉnh Gansu phía Tây Trung Quốc trong hơn bốn năm và phát
Trang 17hiện thấy việc trồng xen kẽ với cây đậu tằm có thể làm tăng sản lượng ngô lên trung bình là 43%
Theo Li, “Ích lợi mang lại rất rõ rệt khi chúng được trồng xen kẽ với nhau Các quy trình sinh học bên dưới mặt đất đóng một vai trò quan trọng đối với khả năng làm tăng sản lượng”
Shen Qirong (2007) [26], bằng việc trồng xen canh, người nông dân có thể cắt giảm lượng phân bón photpho sử dụng, do các cây được trồng xen nhau có thể tạo ra nhiều lượng dinh dưỡng photpho cần thiết cho chúng
Việc đồng thời trồng xen vài loại cây khác trong vườn dừa đưa đến nhiều ưu điểm hơn việc độc canh cây dừa như tăng việc tận dụng đất đai, tăng năng suất trên một diện tích trồng trọt do việc sinh lợi của các cây trồng khác,
sử dụng hiệu quả hơn lao động nông trại và tăng toàn bộ thu nhập nông trại Theo Josefina C.Suharto [13], nhân viên của APCC tại Jakarta, (Indonesia) nghiên cứu trên các số liệu của Viện nghiên cứu cây trồng trung tâm của Ấn
Độ, thu nhập hàng năm của việc trồng độc canh cây dừa rất thấp (khoảng 319 USD trên 1 ha) trong khi việc thâm canh cùng với cây sắn sẽ cho thu nhập 694 USD hoặc với cây gừng sẽ cho 896 USD trên 1 ha
1.1.4 Nghiên cứu đánh giá tác động môi trường trồng cây Cao su
Tên gốc của cây cao su là Hê vê (Hévéa), mọc dọc theo sông A-ma-zôn
ở Nam Mỹ, cách đây gần 10 thế kỷ, thổ dân Mainas sống ở đây đã biết lấy nhựa của cây này dùng để tẩm vào quần áo chống ẩm ướt và tạo ra những quả bóng vui chơi trong dịp hội hè Họ gọi chất nhựa này là Caouchouk, theo Thổ ngữ Mainas nghĩa là “Nước mắt của cây”
Cây cao su là một cây công nghiệp rất quan trọng về kinh tế nên được phát triển ở nhiều quốc gia Nó còn mang tính chiến lược như vào cuối thế chiến thứ 2, Nhật xâm lăng các nước vùng Đông Nam Á (nơi chiếm 90% diện tích trồng cao su trên thế giới lức bấy giờ) để cho đồng minh không có
Trang 18nguyên liệu Cho đến nay, cao su vẫn là nguồn nguyên liệu chiến lược cho nhiều lĩnh vực sản xuất và đời sống
Ở Trung Quốc từ đầu năm 1950 đã có nhiều ha rừng tự nhiên được thay thế bởi các đồn điền cao su Chúng không chỉ được phát triển trên đất đỏ bazan mầu mỡ, ở những nơi bằng phẳng với khí hậu ấm áp mà còn được phát triển trên cả những loại đất có độ phì kém ở những vùng đất dốc với khí hậu khô lạnh Kết quả nghiên cứu của WANG Xianpu cho thấy rừng cao su ở Trung Quốc có khả năng bảo vệ đất và nước tốt hơn nhiều mô hình rừng thuần loài khác
Aiken et al (1982) khi nghiên cứu về tác động môi trường rừng cao su
ở Bán đảo phía Tây Singapo đã nhận thấy những hiệu quả thấp về giữ nước
và bảo về đất của rừng trồng cao su Ông kết luận rằng quá trình trồng cao su
sẽ không tránh khỏi sự gia tăng dòng chẩy mặt và xói mòn đất Xói mòn đất càng trở nên nghiêm trọng hơn khi người trồng cao su tiến hành phát dọn thực
bì dưới tán rừng
Một số tác giả nghiên cứu về khả năng bảo vệ môi trường của rừng cao
su như Gao Suhua (1985), Wu Eryu (1984), Chen Yongshan (1982) đã điều tra hiệu quả bảo vệ đất và nước của các đồn điền cao su ở Trung Quốc Nhìn chung các tác giả trên thế giới chủ yếu tiến hành nghiên cứu sơ bộ đặc điểm
hệ sinh thái rừng cao su và chức năng sinh thái của chúng Một số tác động khác tới môi trường của hệ sinh thái này vẫn chưa được làm rõ
1.2 Những nghiên cứu trong nước
1.2.1 Nghiên cứu về NLKH và kỹ thuật trồng xen
Ở Việt Nam, tập quán canh tác nông lâm kết hợp đó có từ lâu đời, như các hệ thống canh tác nương rẫy truyền thống của đồng bào các dân tộc ít người, hệ sinh thái vườn nhà ở nhiều vùng địa lý sinh thái trên cả nước Xét ở khía cạnh mô hình và kỹ thuật thì nông lâm kết hợp ở Việt Nam đã phát triển
Trang 19không ngừng Từ những năm 1960, hệ sinh thái Vườn-Ao-Chuồng (VAC) được nông dân các tỉnh miền Bắc phát triển mạnh mẽ và lan rộng khắp cả nước với nhiều cải tiến khác nhau để thích hợp cho từng vùng sinh thái cụ thể Sau đó là hệ thống Rừng-Vườn-Ao-Chuồng (RVAC) và vườn đồi được phát triển mạnh mẽ ở các khu vực dân cư miền núi
Với chương trình nghiên cứu NLKH (1981-1985) lần đầu tiên ở Việt Nam việc nghiên cứu đánh giá về NLKH đã được xem xét và thực hiện trên quan điểm khoa học đảm bảo tính lý luận, thực tiễn và đảm bảo tính chặt chẽ dựa trên các điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của mỗi vùng NLKH được xem như một phương án sản xuất chủ yếu để xây dựng các mô hình lâm nghiệp xã hội tại các địa bàn sản xuất lâm nghiệp quan trọng trong toàn quốc như:
Theo Nguyễn Xuân Dậu (1986) về hệ thống canh tác và phương thức canh tác nông lâm kết hợp ở vùng trung du miền núi phía Bắc thì các loại mô hình canh tác trên đất dốc như cây lâm nghiệp trồng xen chè thường cho hiệu quả cao
Bên cạnh sự nỗ lực của bản thân Việt Nam còn được sự giúp đỡ của các tổ chức quốc tế như FAO đã giúp Việt Nam xây dựng chương trình NLKH (1987-1989) thực hiện ở vùng đất cát ven biển
Đặc biệt từ những năm 1991 trở lại đây trong trương trình Việt Thụy Điển đã có nghiên cứu về vấn đề sử dụng đất và phát triển hệ thống canh tác ở vùng trung du miền Bắc, niền Nam
Nam-Từ năm 1996, Việt Nam và Phần Lan bắt đầu hợp tác chương trình thí điểm phát triển các hệ thống NLKH tại Chợ Đồn-Bắc Kạn Nhiều mô hình NLKH đã được xây dựng trong vùng và được các chuyên gia đánh giá cao
Trung tâm nghiên cứu Nông lâm kết hợp Quốc tế (ICRAF) đã tài trợ cho Việt Nam một dự án “Tăng cường năng lực Nông lâm kết hợp cho Việt Nam”
Dự án được thực hiện từ năm 1998 đến năm 2003 Mục tiêu của Dự án là:
Trang 20- Tạo mối liên kết giữa Việt Nam với các chương trình của ICRAF ở Đông Nam Á vê nghiên cứu đề xuất các giải pháp thay thế du canh chặt đốt (Alternatives to slash-and-burn)
- Tăng cường năng lực cho Việt Nam trong nghiên cứu và đào tạo NLKH;
- Giúp Việt Nam phát triển và nhân rộng các hệ thống thay thế hình thức du canh chặt đốt
Các nội dung hoạt động chính của Dự án là:
Dự án đã tạo đươc một mạng lưới rộng rãi các cơ quan tham gia: Khoa học kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam (cơ quan đầu mối), Trường Đại học nông nghiệp I, Đại học Nông lâm Thái Nguyên, Viện Khoa học Lâm nghiệp, Đại học Lâm nghiệp Việt Nam- Xuân Mai, Đại học Nông Lâm Huế, Đại học Tây Nguyên, Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh – Thủ Đức
Ngoài việc tổ chức nhiều lớp tập huấn cho đào tạo viên (TOT), dự án
đã khuyến cáo nhiều mô hình nông lâm kết hợp rất hiệu quả như kết hợp trồng cây làm thức ăn gia súc trong các hệ thống canh tác nông nghiệp, lâm nghiệp và NLKH
Mạng lưới đào tạo NLKH của Việt Nam (VNAFE) được thành lập từ năm 2002 Đây là một mạng lưới quốc gia thuộc mạng lưới giáo dục nông lâm kết hợp Đông Nam Á (SEANAFE) quản lý bởi Trung tâm Nông lâm kết hợp thế giới (ICRAF) Mục tiêu của mạng lưới là nâng cao năng lực trong giáo dục quản lý tài nguyên thiên nhiên và nông lâm kết hợp ở Việt Nam bói riêng và Đông Nam Á nói chung Thành công lớn nhất của mạng lưới là đã thiết lập được mối quan hệ hợp tác rất chặt chẽ giữa các thành viên và tăng cường được năng lực đào tạo NLKH cho các thành viên mạng lưới Ngoài việc xây dựng giáo trình NLKH, mạng lưới cũng thực hiện một số nghiên cứu
Trang 21rất quan trọng như “NLKH cảnh quan”, “Marketing các sản phẩm NLKH”,
“Chính sách môi trường”…
Viện khoa học kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam cũng đã hợp tác với Trung tâm Hợp tác Quốc tế Nghiên cứu nông nghiệp vì sự phát triển của Cộng hòa Pháp (CIRAD) đã thực hiện dự án “Hệ thống nông nghiệp miền núi phía Bắc Việt Nam” (Dự án SAM) Đây là dự án chuyên nghiên cứu về nông nghiệp sinh thái, chủ yếu là nghiên cứu phát triển và khuyến cáo các biện pháp kỹ thuật canh tác bền vững trên đất dốc Dự án đã khuyến cáo các kỹ thuật gieo thẳng trên nền đất được che phủ (DMC) vừa nâng cao năng suất cây trồng vừa chống xói mòn, giữ ẩm và tăng độ phì cho đất để canh tác lâu dài trên nhưng nương cố định, tiến tới tự chấm dứt du canh chặt đốt
Theo báo cáo của Hoàng Hòe tại hội nghị NLKH vùng châu Á Thái Bình Dương năm 1990, thì các hệ thống NLKH ở Việt Nam bao gồm:
* Phương thức du canh du cư:
- Người Gia Lai và Ê Đê ở Tây Nguyên chạt phá và đốt lớp thực vật che phủ ở những nơi có tâng đất mầu mỡ, sau khi canh tác nông lâm từ 1-2 năm họ chuyển đi nơi khác, sau 10-15 năm họ quay trở về để sản xuất
- Người Mường ở Hòa Bình và Thanh Hóa có truyền thống phát quang rừng sau đó tròng hạt xoan, tiếp đó họ đốt lớp thực bì đã phát nhằm mục đích kích thích nẩy mầm của hạt xoan sau đó họ trồng lúa nương Sau 3 vụ lúa thì cây xoan đã lớn người ta không trồng lúa nữa mà để các cây trong họ tre, nứa, trúc mọc tự nhiên Sau 10 năm họ quay trở lại khai thác xoan, tre, nứa, trúc để làm tiếp luân kỳ hai
- Người Dao ở Thanh Hóa, Lào Cai, Yên Bái… có truyền thống trồng lúa nương, sắn và quế trong 3 năm đầu, cây lúa nương và cây sắn đáp ứng được nhu cầu lương thực cho người trồng quế, vừa có tác dụng bảo vệ đất trong những năm đầu khi rừng quế chưa khép tán
Trang 22* Các mô hình NLKH ở đồng bằng: Người ta tiến hành trồng một số đai rừng phòng hộ đồng ruộng, các đai này vừa có tác dụng cản trở gió bão vừa cung cấp lượng củi đáng kể cho địa phương Mô hình kinh tế VAC giữ vai trò quan trọng trong việc cải thiện và nâng dần mức sống của từng gia đình đồng thời khép kín các quá trình sản xuất tiêu thụ sản phẩm, tận dụng lao động nông nhà và các sản phẩm phụ…
* Các mô hình NLKH trên đất dốc : Các mô hình trồng cây nông nghiệp xen với cây lâm nghiệp trong gia đoạn đầu rừng chưa khép tán Các
mô hình này phổ biến rộng khắp ở các tỉnh miền núi Người ta trồng ngô, khoai, đậu, lạc xen với những khu rừng mới trồng Người ta trồng ngô, khoai đậu, lạc xen với những khu rừng mới trồng Các mô hình này đã làm tăng hiệu quả rừng trồng, tăng khả năng phòng hộ đất Thông qua việc chăm sóc
và bảo vệ cây nông nghiệp mà cây rừng cũng được chăm sóc bảo vệ tốt Hàng năm người dân còn thu được sản phẩm từ cây nông nghiệp phục vụ cho nhu cầu trước mắt, tăng thêm thu nhập cho người dân, giúp người dân có cuộc sống ổn định hơn Các mô hình xen lúa nương, sắn với rừng mỡ, bồ đề ở Tuyên Quang, Yên Bái, Phú Thọ ; Các mô hình trồng xen lạc đỗ, sắn với rừng bạch đàn ở Vĩnh Phú, Hà Tây…
Ở vùng trung du và cao nguyên xuất hiện các mô hình NLKH giữa cây công nghiệp và cây lâm nghiệp Trong các mô hình này cây lâm nghiệp đóng vai trò như cây phù trợ che bóng, chắn gió, bảo vệ và cải tạo tiểu hoàn cảnh cho cây công nghiệp dài ngày Nhờ có trồng xen cây lâm nghiệp mà cây công nghiệp sinh trưởng tốt hơn, năng xuất thu hoạch tăng lên, môi trường sinh thái được cải thiện Cây lâm nghiệp còn là nguồn cung cấp gỗ, củi, quả, thực phẩm, dược liệu…
Theo Vũ Văn Mễ- Viện khoa học Lâm nghiệp Việt Nam tổng kết được ở vùng Tây Bắc xuất hiện nhiều mô hình NLKH như : Mô hình cây lâm nghiệp +
Trang 23đồng cỏ + bò sữa + vườn cây ăn quả Ở cao nguyên Mộc Châu mô hình : Rừng + nương + ruộng + vườn táo ở bản Nà Cạn – xã Chiềng Sình – Sơn La…
* Phương thức sản xuất Lâm Ngư nghiệp kết hợp ở các vùng ngập mặn : Mô hình này phổ biến ở các vùng ven biển, cửa sông có rừng ngập mặn
tự nhiên hoặc trồng cây kết hợp chăn thử tôm, cá hay nuôi ong lấy mật Các loài cây lấy gỗ ở vùng ngập mặn vừa đóng vai trò phòng hộ vừa cung cấp gỗ, củi, vừa là nơi trú ngụ và là nguồn cung cấp thức ăn cho tôm cá
* Phương thức Lâm ngư nghiệp trên các vùng đất phèn : Mô hình này tập trung ở Nam Bộ nơi tiếp giáp với rừng ngập mặn Trong 6 tháng mùa mưa nhân dân có thể nuôi tôm cá ở dưới rừng tràm và nuôi ong Những nơi đất trống người ta trồng bạch đàn + đào lộn hột + dứa và một số cây ăn quả khác
Tóm lại, sản xuất theo kiểu nông lâm kết hợp đã tồn tại từ lâu đời và vai trò của NLKH ngày càng trở nên quan trọng hơn trong điều kiện kinh tế
xã hội ngày nay và đặc biệt là trong bối cảnh thay đổi khí hậu Hòa nhập với
xu thế phát triển NLKH trên thế giới, Việt Nam đã có những bước tiến quan trọng trong nghiên cứu và phát triển NLKH Nhiều mô hình NLKH đã được khuyến cáo sử dụng, tuy nhiên cần có những nghiên cứu đánh giá để xác định những mô hình triển vọng nhất cho sản xuất
1.2.2 Nghiên cứu các loại cây trồng xen với Cao su
Sau năm 1975, nhiều nông trường đã cho phép công nhân trồng xen các loại cây hoa màu lương thực trên vườn cao su trong 3 năm đầu của thời kỳ kiến thiết cơ bản nhằm giải quyết tình trạng thiếu hụt về lương thực Từ đó tới nay việc trồng xen các loại cây hoa màu, lương thực đã được công nhân nông trường
và các chủ vườn cao su tiểu điền áp dụng với nỗ lực tận dụng đất đai và nguồn
nhân công gia đình để nâng cao thu nhập [1], [4], [8]
Trong các loại cây trồng xen có lúa cạn, lạc, đậu xanh, đậu tương, ngô, sắn, khoai lang, đu đủ, bí ngô, dứa, chuối và sả Lúa cạn, ngô, lạc và đậu xanh
Trang 24chiếm đa số diện tích trồng xen Số vụ trồng xen có thể 1 hay 2 tùy thuộc vào lượng mưa, giá cả và độ phì nhiêu của đất Các cây trồng xen có thể được trồng dưới hình thức đơn canh, xen canh (lúa hoặc đậu + ngô) hoặc luân canh (lúa/đậu) Lựa chọn loại cây trồng xen tùy thuộc vào yếu tố, trong đó giá cả và
chi phí đầu vào đóng vai trò quan trọng [16]
Lại Văn Lâm và cộng sự (1996) [16] thấy rằng việc sử dụng phân bón
bổ sung cho cây trồng xen, độ phì đất đai sẵn có trên vườn cao su cũng như các biện pháp nông học khác có tác dụng cải thiện năng suất cây trồng xen, từ
đó mà cải thiện thu nhập của công nhân cao su, mặc dù lợi tức thu được từ mỗi loại cây có thể thay đổi do sự biến động về giá cả
Theo kết quả nghiên cứu của Hồ Công Trực (2000) [11] trồng xen hoa màu lương thực trong vườn cao su kiến thiết cơ bản có tác dụng giảm lượng đất bị xói mòn, đồng thời thu nhập sản phẩm cây trồng xen rất đáng kể: lúa (7,35 tạ/ha); ngô (17,8 tạ/ha/năm) và lạc (5,8 tạ/ha/năm)
Phạm Văn Hiền (1998) [6] thử nghiệm so sánh 6 mô hình trồng xen hoa màu, lương thực trong cao su kiến thiết cơ bản tại Buôn Sút M’rư, huyện
Cư M’gar, tỉnh Daklak cho rằng các cây trồng xen không ảnh hưởng xấu đến dinh dưỡng đất, không tác động xấu đến sinh trưởng của cây cao su đồng thời mang lại hiệu quả kinh tế hơn bỏ hoang giữa hai hàng cao su Trong đó mô hình 1 (vụ 1 trồng đậu xanh + 2 hàng ngô, vụ 2 trồng lạc) mang lại lợi nhuận cao nhất là 5,5 triệu đồng/ha/năm; mô hình 4 (vụ 1 trồng đậu xanh + 5 hàng ngô, vụ 2 trồng đậu đỏ) có lợi nhuận 5,26 triệu đồng/ha/năm và mô hình 3 (vụ
1 trồng đậu tương + 5 hàng ngô, vụ 2 trồng lạc) có lợi nhuận 4,1 triệu đồng/ha/năm
Mô hình trồng lạc xen cao su tiểu điền giai đoạn kiến thiết cơ bản tại huyện Đức Cơ - là huyện biên giới phía Tây của Gia Lai [22] cho thấy: Đa phần diện tích trồng cao su tiểu điền trên địa bàn huyện là đất đồi độ dốc 10-150 nên dễ xói mòn
Trang 25về mùa mưa, làm đất nhanh thoái hoá Để cao su phát triển tốt trên diện tích chuyển đổi từ trồng sắn, việc trồng xen cây họ Đậu nhằm khôi phục chất đất, tăng thu nhập trong thời gian cao su chưa cho thu hoạch là rất cần thiết Biện pháp canh tác trồng xen lạc trong vườn cao su đã góp phần làm tăng thu nhập cho người dân Cao su trong thời gian này chưa có tán, rễ ăn sâu, còn lạc có rễ ăn nông nên khả năng sinh trưởng và phát triển tốt, cho năng suất vài chục tạ/ha Thu hoạch xong,
có thể trồng xen bắp (ngô) và cây trồng khác để luân canh Hiệu quả thu được từ
mô hình này có thể lên tới hơn 10,0 triệu đồng/ha/năm Đây cũng là một trong những biện pháp tiết kiệm công làm cỏ, xới đất
Ngoài hiệu quả thu lợi từ sản phẩm, bề mặt đất có lạc che phủ còn có tác dụng tích cực trong việc bảo vệ đất, chống xói mòn, rửa trôi trong mùa mưa Sau khi thu hoạch lạc, chân đất đã được bổ sung một lượng mùn đáng
kể nhờ xác cây lạc Chi phí đầu tư và công chăm sóc giảm hơn 1 triệu đồng/ha Cao su sinh trưởng tốt hơn vì thu được hàm lượng dinh dưỡng từ thân và rễ lạc [22]
Mô hình vườn bí xanh trồng xen canh trong lô cao su mới một năm tuổi của gia đình anh Nguyễn Văn Tuấn, xã Tân Hiệp, huyện Bình Long [25] bắt đầu cho thu hoạch Theo anh Tuấn, cây bí xanh phát triển rất tốt dưới tán cao su nhưng không làm ảnh hưởng đến sự phát triển của cây cao su Chu kỳ sinh trưởng và cho trái của cây bí xanh chỉ trong vòng 50 ngày và cho thu hoạch trong 2 tháng Nếu chăm sóc tốt, 1 ha bí trồng xen canh trong lô cao su cho thu hoạch khoảng 35,0 tấn quả Với giá bán bình quân 4.000 đồng/kg như hiện nay thì 1ha bí cho thu nhập gần 140,0 triệu đồng, trừ chi phí chăm sóc, phân bón gia đình anh cũng lãi hơn 100,0 triệu đồng Một năm bình quân trồng 3 vụ, anh thu
về khoảng 300,0 triệu đồng/năm Theo kinh nghiệm của anh Tuấn, trước tiên đất phải làm sạch cỏ, bón vôi, phân lót và thường xuyên tưới nước để giữ độ ẩm cho cây, đến khi thu hoạch cần bón thúc thêm cho cây
Trang 26Ông Hồ Viện ở ấp Bàu Lùng, xã Tân Hiệp (huyện Bình Long) [25] đã chọn dưa hấu để trồng xen canh trên đất cao su Bình quân 1 ha dưa hấu cho thu hoạch khoảng 30 tấn quả, mỗi năm trồng 2 vụ, nếu được giá, sau khi trừ chi phí ông cũng thu về được gần 300 triệu đồng
Công ty cao su Dak Lak [24] đã đưa giống cây dứa Cayen vào trồng xen canh trong vườn cây cao su kiến thiết cơ bản nhằm tận dụng quỹ đất, tạo việc làm thêm cho công nhân Mỗi chu kỳ thu được từ 3 - 4 vụ và cho năng suất là 30 tấn/ha trồng xen Theo Trung tâm đầu tư và phát triển cao su Dak R’lấp [24], sản lượng dứa quả được Công ty xuất nhập khẩu Tân Bình ký hợp đồng bao tiêu toàn bộ với mức giá là 1.300đ/kg loại 1; 1.000đ/kg loại 2; 650đ/kg loại 3
1.2.3 Nghiên cứu đánh giá hiệu quả kinh tế trong NLKH
Đã có nhiều công trình nghiên cứu độc lập hay có liên quan đến vấn đề đánh giá hiệu quả kinh tế trong nông lâm kết hợp như: Nhóm tác giả Trần Đức Hạnh, Văn Tất Tuyên, Phạm Văn Phê (1996) [12] đã có những kiến nghị
về tập đoàn cây trồng nông lâm nghiệp cho xã Thái Thịnh và vùng ven hồ Hòa Bình, bao gồm: cây nông nghiệp (lúa, sắn, đậu, ngô), cây ăn quả (chuối,
mơ mận, dứa), cây lâm nghiệp (luồng, nứa, vầu, bương, keo)
Vương Văn Quỳnh (2002) [23], khi nghiên cứu luận cứ phát triển kinh tế
- xã hội vùng xung yếu hồ thủy điện Hòa Bình đã chỉ ra được các chính sách kinh tế xã hội đã được triển khai tại khu vực và tác động của các chính sách
đó đến đời sống người dân và sự phát triển của khu vực Nghiên cứu tác động của từng hệ canh tác đến các yếu tố chính của môi trường vật lý và kinh tế -
xã hội cho thấy mô hình canh tác ruộng nước, nông lâm kết hợp, rừng trồng là
có hiệu quả tác động dương đến môi trường vật lý Mô hình nương rẫy có biểu hiện tiêu cực đến môi trường nhưng ở mức độ thấp Những phương thức canh tác vườn, canh tác màu, canh tác rừng trồng có hiệu quả tổng hợp chưa
Trang 27cao nên cần được cải tạo phát triển theo hướng chuyển dần thành canh tác nông lâm kết hợp
Theo Võ Đại Hải (2003) việc cải tiến các hệ thống canh tác nương rẫy theo hướng sử dụng đất bền vững chính là việc thiết lập các hệ thống nông lâm kết hợp và hiệu quả do nó mang lại là cơ cấu thu nhập của người dân thay đổi, thời hạn sử dụng đất kéo dài, năng suất cây trồng ổn định
Đặng Thịnh Triều và cộng sự (2004) [25] nghiên cứu một số HTCT ở miền núi và vùng cao tại Việt Nam cho thấy hiện nay ở nước ta đang tồn tại các HTCT sau: nương rẫy du canh du cư, lúa nước, hoa màu định canh định
cư, cây lâu năm tập trung, chăn nuôi đại gia súc, nông lâm kết hợp
1.2.4 Nghiên cứu đánh giá tác động môi trường trồng cây Cao su
Ở Việt Nam, vấn đề tác động môi trường rừng cao su còn khá mới mẻ Trong một số tài liệu nghiên cứu về cây cao su đều ít nhiều đề cập đến tác động môi trường của chúng Tuy nhiên chưa có nghiên cứu độc lập về vấn đề này
Tác giả Nguyễn Kho Chi, 1997 cho răng cây cao su là một trong những loài cây bảo vệ môi trường rất tốt, chống xói mòn và không hủy hoại đất
Tác giả Trần Ngọc Khang với công trình “Đánh giá hiệu quả kinh tế
mô hình trồng cao su phủ xanh đất trống sau nương rẫy ở Đắc Lắc” cho thấy
về dài hạn cây cao su mang lại lợi ích tư nhân và lợi ích xã hội lớn hơn hệ thống nương rẫy chuyền thống Hệ thống này còn cho thấy triển vọng kết hợp các nông họ vào các công trình phủ xanh đất trống sau nương rẫy bằng cây cao su đảm bảo lợi ích trước mắt và lâu dài của nông hộ
Các tác giả Đoàn Thị Thanh Nhàn, Nguyễn Văn Bình, Nguyễn Thế Côn, Vũ Đình Chính cho rằng cây cao su không những có giá trị kinh tế cao
mà còn có nhiều ý nghĩa khác như: Làm sạch môi trường, ổn định sinh thái
Theo nghiên cứu của Trương Đình Trọng về “Thực trạng thoái hóa đất Bazan ở tỉnh Quảng Trị và các giải pháp bảo vệ môi trường đất” thì một số
Trang 28vùng sau khi lột bỏ lớp phủ rừng đã được trồng cây công nghiệp dài ngày như
cà phê, cao su, chè Các khu đất được chọn thường ở địa thế ổn định, có điều kiện duy trì độ phù đất Bazan Song so với đất phát sinh dưới rừng của khu vực, do tác động của canh tác đất vẫn thấy biểu hiện trạng tình trạng thoái hóa nhẹ Biểu hiện thoái hóa tạo ra một tầng chặt dưới tầng canh tác Dưới các rừng cao su, tầng đất mặt thường bị làm cho chặt do dẫm đạp của người và trâu bò
Như vậy vấn đề đánh giá tác động của rừng cao su đến môi trường đất vẫn còn nhiều ý kiến trái ngược nhau Các nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở việc
so sánh ảnh hưởng của rừng cao su đến một số tính chất của đất với các loại hình canh tác khác, chưa đánh giá ảnh hưởng của nó ở các độ dốc khác nhau, khả năng bảo vệ đất chống xói mòn; chưa so sánh được hiệu quả với các loại rừng khác Đây là cơ sở đề xuất những giải pháp phát triển rừng cao su, chuyển đổi đất sử dụng hiệu quả kém sang trồng cây cao su
Trang 29Chương 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá được hiệu quả kinh tế và tác động môi trường của một số mô hình trồng xen cây ngắn ngày với cây cao su quy mô hộ gia đình tại huyện Yên Châu
- Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế, hiệu quả môi trường của các mô hình trồng xen làm cơ sở nhân rộng mô hình trong khu vực nghiên cứu và những nơi có điều kiện tự nhiên tương tự
2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là một số mô hình trồng xen cây nông nghiệp trong lô cao su của hộ gia đình làm công nhân cao su
- Cây trồng chính: Cây cao su giống PB260 (vườn cây cao su KTCB năm thứ 4)
- Cây trồng xen: Bông, Ngô, Đậu tương
2.2.2 Giới hạn nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu một số mô hình trồng xen cây nông nghiệp với cây cao su của hộ gia đình làm công nhân cao su ở huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La về vấn đề hiệu quả kinh tế, tác động môi trường của cây trồng xem trong mô hình
2.3 Nội dung nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu tập trung vào các nội dung chủ yếu sau:
- Xác định điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của điểm nghiên cứu
- Nghiên cứu một số đặc tính sinh học và sinh thái của các loài cây trong mô hình:
+ Đặc tính sinh học và sinh thái của cây Cao su (cây trồng chính)
Trang 30+ Đặc tính sinh học và sinh thái của cây Bông, Ngô, Đậu tương (cây trồng xen)
+ Kỹ thuật trồng xen trong các mô hình:
Kỹ thuật trồng xen Bông + Cao su
Kỹ thuật trồng xen Ngô + Cao su
Kỹ thuật trồng xen Đậu tương + Cao su
- Ðánh giá hiệu quả kinh tế của các mô hình:
+ Hiệu quả mô hình trồng xen Bông + Cao su
+ Hiệu quả mô hình trồng xen Ngô + Cao su
+ Hiệu quả mô hình trồng xen Đậu tương + Cao su
- Ðánh giá tác động môi trường: (Ðánh giá khả năng giữ ẩm, bảo vệ nguồn nước và mối quan hệ giữa mô hình với ổn định nguồn nước.)
+ Mô hình trồng xen Bông + Cao su
+ Mô hình trồng xen Ngô + Cao su
+ Mô hình trồng xen Đậu tương + Cao su
- Ðánh giá hiểu quả tổng hợp của mô hình
- Ðề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của mô hình
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Thu thập số liệu, tài liệu và thông tin
- Kế thừa tài liệu sẵn có như sách, giáo trình, các bài báo và báo cáo khoa học có liên quan
- Thu thập tài liệu qua internet
- Thu thập qua các cơ quan, đơn vị quản lý và chuyên môn như hồ sơ
kỹ thuật của Công ty cổ phần cao su Sơn La
- Các nghiên cứu trước có liên quan đến NLKH
2.4.2 Phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia của cộng đồng
Ðiều tra bằng phát phiếu điều tra và phỏng vấn (có bộ câu hỏi phỏng vấn hộ gia đình và Kết quả đánh giá hiệu quả môi trường của các mô hình bằng phương pháp cho điểm): Tiến hành điều tra phỏng vấn một số hộ đang
Trang 31thực hiện mô hình trồng xen Mục đích của phương pháp này nhằm điều tra hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường của mô hình; Điều tra tình hình đầu tư, chi phí theo hạng mục công việc, điều tra lao động, năng suất, giá cả thị trường, kỹ thuật, tình hình đầu ra, đầu vào của sản phẩm, tình hình sử dụng lao động, điều tra tổ chức lao động, sản xuất thuận lợi, khó khăn, khả năng tham gia của các; hộ gia đình và hướng phát triển trong sản xuất tương lai
2.4.3 Phương pháp điều tra ô tiêu chuẩn
Mỗi mô hình trồng xen tiến hành điều tra 3 OTC điển hình tạm thời có diện tích mỗi ô là 500m2 (25x20m) và 1 OTC không có trồng xen cây Cao su làm đối chứng Với 3 mô hình trồng xen sẽ có 9 OTC được thiết lập ; trong các OTC đo đếm các chỉ tiêu C1.3, Hvn, Dt của cây Cao su Mỗi OTC đào một phẫu diện đất Xác định thành phần cơ giới bằng phương pháp xoe con giun, mô tả
quan sát độ xốp tầng đất mặt (0-30cm), tỷ lệ lẫn đá, hang hốc động vật
- Ảnh hưởng của trồng xen tới sự đa dạng về động vật đất: Được tiến hành ở 3 ô tiêu chuẩn của 3 mô hình và 1 ô tiêu chuẩn đối chứng Ở mỗi ô tiêu chuẩn, tiến hành lập 4 ô dạng bản, mỗi ô có diện tích 1m2 tại 4 góc để xác định và so sánh số lượng, các loại động vật đất như: giun, dế, kiến, ấu trùng các loại côn trùng bằng phương pháp quan sát kết hợp với xới nhẹ lớp đất mặt (0-10cm) để điều tra Các số liệu theo mẫu biểu định sẵn
- Khả năng bảo vệ, chống xói mòn, của 3 mô hình trồng xen và ô đối chứng: Bố trí các hố hứng đất (rộng 60cm x sâu 60cm x dài 4m) Đáy hố được
lót bằng tấm nilon và lượng đất xói mòn sẽ được vét hàng tháng, cân và lấy mẫu sấy khô, sau đó qui ra tấn/ha
2.4.4 Phương pháp nội nghiệp
Các số liệu được xử lý và phân tích định lượng bằng phần mềm Excel (đánh giá, so sánh hiệu quả kinh tế của các mô hình)
- Sinh trưởng của Cao su tại các mô hình trồng xen
- Hiệu quả kinh tế
Để đánh giá hiệu quả kinh tế của các HTCT trên đất dốc tại điểm nghiên
Trang 32cứu, luận văn sử dụng phương pháp tĩnh (đối với mô hình trồng cây ngắn ngày) cụ thể là cân đối thu nhập và chi phí của từng mô hình, được thể hiện qua công thức sau:
- Thu nhập của mô hình i: Bt =
Khi lợi nhuận > 0 thì PTCT đó có hiệu quả kinh tế và ngược lại
Sau khi tính lợi nhuận của các PTCT được tổng hợp theo mẫu biểu:
Mẫu biểu: Chi phí và thu nhập của mô hình trồng sen trong vườn cao su 4 tuổi
Diện tích ha Tính cho 1 ha
Ghi chú
SL Đ.giá 1000đ
T.Tiền (1000đ) SL
Đ.giá 1000đ
T.Tiền (1000đ)
Trang 33Mẫu biểu: Tổng hợp hiệu quả kinh tế của 03 mô hình cây ngắn ngày
trồng xen trong 1 ha vườn cao su 4 năm tuổi
HTCT Thu nhập Chi phí Lợi nhuận Xếp hạng
1
- Đánh giá hiệu quả xã hội:
Căn cứ vào kết quả điều tra, phỏng vấn thực tế hộ gia đình tại địa điểm nghiên cứu, trên cơ sở góp ý của chính quyền địa phương cùng với sự tham gia của người dân bằng phương pháp cho điểm để đưa ra các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả xã hội như: Khả năng đầu tư mô hình nào có mức độ đầu tư thấp sẽ được người dân dễ chấp nhận hơn; Khả năng đáp ứng nhu cầu trước mắt (nhanh cho thu hoạch); khả năng giải quyết việc làm (được phản ánh thông qua số công lao động trung bình dùng cho mỗi mô hình Mô hình nào có số công lao động được sử dụng lớn và thường xuyên thì mô hình đó có hiệu quả cao hơn ); khả năng phát triển sản xuất hàng hóa (đây là một trong những nhân tố quan trọng góp phần vào việc lựa chọn mô hình), sản phẩm dễ tiêu thụ (mô hình nào có thị trường tiêu thụ rộng, ổn định, số lượng lớn thì khả năng phát triển hàng hóa của mô hình càng tốt)
Mẫu biểu: Kết quả đánh giá hiệu quả xã hội của các HTCT
HTCT PTCT Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả xã hội Tổng
điểm
Xếp hạng
1
2
- Đánh giá hiệu quả môi trường:
Hiệu quả môi trường được đánh giá với sự tham gia của người dân bằng phương pháp cho điểm và sử dụng các chỉ tiêu do người dân đưa ra Kết quả
Trang 34thu được tổng hợp theo bảng sau:
Mẫu biểu: Kết quả đánh giá hiệu quả môi trường của các mô hình trồng
xen cây ngắn ngày trong vườn cao su 4 năm tuổi
- Một số đề xuất nhân rộng mô hình trồng xen cây nông nghiệp với Cao
su tại địa bàn nghiên cứu và những nơi có điều kiện tương đồng: Từ kết quả phân tích và căn cứ vào: Chiến lược phát triển kinh tế chung của tỉnh Sơn La;
dự báo thị trường tiêu thụ sản phẩm của các tỉnh miền núi phía Bắc nói riêng và
cả nước nói chung; điều kiện tài nguyên thiên nhiên, khí hậu đất đai, nguồn nước của các tiểu vùng sinh thái khác nhau để đề xuất cơ cấu cây trồng cho phù hợp; tiến bộ khoa học kỹ thuật có thể áp dụng; nguồn lực lao động; Căn cứ vào nguồn lực đầu tư
Trang 35Chương 3 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ, XÃ HỘI
KHU VỰC NGHIÊN CỨU
3.1 Đặc điểm tự nhiên
3.1.1 Vị trí địa lý, địa hình
Yên Châu là một huyện miền núi, biên giới của tỉnh Sơn La, có toạ độ địa lý từ 104010' - 104040' kinh độ Đông; 21007' - 21014' vĩ độ Bắc có vị trí giáp ranh như sau:
+ Phía Bắc giáp huyện Bắc Yên + Phía Nam giáp nước CHDCND Lào + Phía Đông giáp huyện Mộc Châu + Phía Tây giáp huyện Mai Sơn
Trung tâm huyện Yên Châu cách Thành phố Sơn La 64 km về phía Đông, cách thủ đô Hà Nội 256 km theo hướng Tây Bắc, là cầu nối giữa 2 trung tâm kinh tế trọng điểm của huyện Mộc Châu và huyện Mai Sơn Có trục Quốc lộ 6 chạy qua cùng mạng lưới giao thông huyện khá phát triển Đặc biệt
có 47 km đường biên giới tiếp giáp với nước bạn Lào qua cửa khẩu Nà Cài tạo điều kiện thuận lợi cho Yên Châu trong việc phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là phát triển kinh tế cửa khẩu
Mang đặc điểm chung của vùng miền núi Tây Bắc, địa hình của huyện nhìn chung khá phức tạp, chia cắt mạnh và phân thành 2 vùng rõ rệt (vùng lòng chảo Yên Châu và vùng cao biên giới)
- Vùng lòng chảo Yên Châu (vùng QL 6) có 10/15 xã, thị trấn Đây
là vùng đệm nằm xen giữa 2 cao nguyên Mộc Châu - cao nguyên Nà Sản Có địa hình thấp, chia cắt mạnh có độ cao trung bình 400 m so với mực nước biển, nhiệt độ bình quân trong năm cao cho phép vùng này phát triển mạnh về trồng cây lương thực, cây ăn quả nhiệt đới và trồng rừng Tuy nhiên, phần lớn
Trang 36diện tích đất đai của vùng có độ dốc lớn, đây là hạn chế chính trong việc đầu
tư thâm canh các loại cây trồng
- Vùng cao và biên giới có 5/15 xã, có độ cao trung bình từ 900 - 1.000
m so với mực nước biển với địa hình phiêng bãi chạy dài, nhưng không liên tục chiếm phần lớn diện tích đất sản xuất của vùng Đây là điều kiện rất cho phát triển sản xuất nông nghiệp, đặc biệt phát triển cây công nghiệp, cây ăn quả nhiệt đới á nhiệt đới
3.1.2 Tài nguyên thiên nhiên
- Đất Feralit mùn vàng nhạt trên đá cát: 15.382,72 ha, chiếm 17,9% tổng diện tích Phân bố chủ yếu ở xã Chiềng On và ở một số khu vực đất dốc thuộc vùng biên giới Loại đất này thích hợp cho việc trồng các loại cây ngắn ngày và khoanh nuôi bảo vệ rừng
- Đất Feralit đỏ nâu trên đá biến chất: 20.968,63 ha, chiếm 24,4% tổng diện tích Đây là nhóm đất khá phổ biến trong huyện được phân bố khắp trên địa bàn, loại đất này thường có tầng đất dầy, độ phì cao, tỷ lệ mùn lớn, phù hợp phát triển nhiều loại cây trồng
- Đất đỏ nâu trên đá vôi: 19.851,45 ha, chiếm 23,1% tổng diện tích loại đất này tập trung ở các xã vùng biên giới giáp cao nguyên Mộc Châu thích hợp với cây công nghiệp dài ngày, khoanh nuôi bảo vệ rừng
Trang 37- Đất vàng nâu trên đá phù xa cổ: 7.820,27 ha, chiếm 9,1% tổng diện tích Phân bố dọc theo các hệ thống suối lớn, thích hợp cho các loại cây lương thực, cây hàng năm
- Đất Feralit nâu vàng trên đá macmaaxít: 17.703,02 ha, chiếm 20,6% tổng diện tích Phân bố trên toàn huyện, thích hợp phát triển nhiều loại cây trồng
Hầu hết các loại đất ở Yên Châu có độ dày tầng đất từ trung bình đến khá, thành phần cơ giới từ trung bình đến thịt nặng, tỷ lệ mùn và các chất dinh dưỡng từ trung bình đến khá, độ pH trung bình từ 5,5 - 6,0, nghèo bazơ trao đổi, thiếu lân, kaly, các chất dễ tiêu do quá trình xói mòn và rửa trôi mạnh Nhìn chung đất đai phần lớn thích hợp cho phát triển sản xuất nông nghiệp đa dạng Tuy nhiên, do nguồn nước khó khăn và phần lớn diện tích đất đai có độ dốc lớn đã hạn chế đến khả năng khai thác, sử dụng quỹ đất có hiệu quả trong sản xuất nông nghiệp cũng như các mục đích dân sinh kinh tế khác
Là một huyện miền núi, biên giới quỹ đất sản xuất nông nghiệp còn hạn chế, đặc biệt là ruộng nước bình quân chỉ có 0,011 ha/người (tỉnh Sơn La là 0,017 ha/người; cả nước là 0,05 ha/người) Hướng tới cần khai thác hết diện tích đất bằng và một phần đất đồi núi cho sản xuất nông nghiệp
3.1.2.2 Khí hậu, thủy văn
* Khí hậu
Huyện Yên Châu nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm mưa nhiều Tuy nhiên, do các yếu tố về vị trí địa lý, địa hình, độ cao đã phân chia trên địa bàn huyện rõ nét 2 tiểu vùng khí hậu khá khác biệt:
- Vùng lòng chảo Yên Châu: Khí hậu khô nóng chịu ảnh hưởng của gió mùa Tây Nam Có chế độ nhiệt, số ngày nắng cao, thuận lợi cho việc phát triển các loại cây lương thực, cây công nghiệp hàng năm, cây ăn quả nhiệt đới Song bị hạn chế do lượng mưa ít, nguồn nước tưới khó khăn
Trang 38- Vùng cao, biên giới khí hậu mát, ẩm, mang tính chất á nhiệt đới, thích nghi với phát triển các loại cây trồng á nhiệt đới, chăn nuôi đại gia súc và cũng bị hạn chế chung là thiếu nước tới
Nhiệt độ không khí trung bình 220C, cao nhất 390C, thấp nhất 0,80C; độ
ẩm không khí trung bình 80%, thấp nhất 25%; tổng số giờ nắng 1986 giờ/năm; lượng bốc hơi bình quân 1.068 mm/năm và lượng mưa bình quân: 1.444 mm/năm
Trong những năm qua trên địa bàn huyện mưa nhiều và thường gây ra
lũ quét, sạt lở; mùa khô ảnh hưởng của gió Tây Nam khô nóng Ngoài ra một
số khu vực còn bị ảnh hưởng của sương muối từ tháng 12 đến tháng 1 năm
sau (trung bình 4 ngày/năm) Đây là những yếu tố ảnh hưởng không nhỏ đến
đời sống, sản xuất, đặc biệt là với sản xuất nông - lâm nghiệp
* Thuỷ văn
Địa hình chia cắt mạnh tạo cho Yên Châu có một hệ thống suối, ao hồ khá phong phú với các hệ thống suối chính như: Suối Sặp, suối Vạt vùng Quốc lộ 6; hệ thống suối Nậm Pàn ở vùng cao, biên giới
- Hệ thống suối Sặp: Bắt nguồn chảy từ Mộc Châu và các nhánh suối khác đổ về như: Huổi Tô Buông, Huổi Nà Ngà, Suối Pàn và hợp với suối vạt
ở xã Sập Vạt
- Hệ thống suối Vạt: Bắt nguồn từ dãy khau cạn thuộc xã Chiềng Đông
và các nhóm suối khác như: Huổi Hịt, Huổi Lu, Huổi Tủm
- Hệ thống suối Nậm Pàn: Chảy qua xã Chiềng On, Yên Sơn, theo hướng tây bắc đổ ra Sông Đà (Mai Sơn)
Do địa hình của huyện chia cắt mạnh, dốc nên phần lớn các con suối
có lưu vực nhỏ hẹp, ngắn và đều bắt nguồn từ núi cao do đó độ dốc lưu vực lớn đã tạo nên tính đa dạng về chế độ dòng chảy và lưu lượng nước giữa hai mùa chênh lệch lớn Mùa cạn kiệt nước trùng với mùa khô lưu lượng nước
Trang 39nhỏ Mùa lũ trùng với mùa mưa lưu lượng dòng chảy lớn, tốc độ dòng chảy cao, lượng nước tập trung thường gây ra lũ quét, lũ ống ảnh hưởng xấu đến sản xuất và đời sống nhân dân
3.1.2.3.Tài nguyên rừng, thực vật và động vật
Hiện tại toàn huyện có 47.244,5 ha diện tích đất lâm nghiệp có rừng, trong đó có 40.282,3 ha rừng tự nhiên, 2.973,5 ha rừng trồng và trên 3.000 ha diện tích đất khoanh nuôi phục hồi rừng phòng hộ, rừng sản xuất Năm 2011
độ che phủ của rừng đạt 55% song phân bố không đồng đều giữa các khu vực trên địa bàn huyện, diện tích đất lâm nghiệp tập trung chủ yếu ở các xã Mường Lựm, Chiềng Hặc, Tú Nang Chiềng On, Chiềng Tuơng, Phiêng Khoài, Lóng Phiêng Huyện có điều kiện để xây dựng hệ thống rừng phòng
hộ và rừng kinh tế có giá trị hàng hoá cao Tài nguyên rừng Yên Châu khá phong phú, có nhiều nguồn gen động, thực vật quý hiếm Thực vật có nhiều loài cây quý hiếm như: Sa Mu, nghiến, lát,…các loài tre trúc và dược liệu Động vật có các loài: Sóc, Khỉ, … các loài bò sát như: Trăn, Rắn Tuy nhiên,
do việc phá rừng làm nương, du canh du cư trong thời gian qua đã làm cho tài nguyên sinh vật và tài nguyên rừng của huyện nghèo đi, chất lượng rừng bị suy giảm Hiện nay phần lớn diện tích rừng là rừng phục hồi, rừng nghèo, rừng tre nứa và rừng hỗn giao trữ lượng thấp Chỉ có một số ít diện tích rừng
có trữ lượng lớn và chất lượng rừng tương đối tốt tập trung chủ yếu ở các xã như: Mường Lựm, Tú Nang, Chiềng On
3.1.2.4 Tài nguyên nước
* Nước mặt
- Nguồn nước mặt: Được cung cấp bởi các hệ thống suối bao gồm các hệ
thống suối (Suối Sặp, Suối Vạt, suối Nậm Pàn…), đây là tiềm năng để phát triển thuỷ điện vừa và nhỏ phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt của người dân trong huyện Ngoài ra, còn một số lượng lớn các ao hồ, đập chứa, kênh, mương Tuy nhiên,
Trang 40phần lớn mặt nước các sông suối đều thấp hơn mặt bằng đất canh tác và các khu dân cư khá lớn nên hạn chế đáng kể tới khả năng khai thác sử dụng vào sản xuất
và đời sống Một số địa bàn có điều kiện về đất đai nhưng khó khăn về nguồn nước do đó chưa khai thác được đất đai một cách có hiệu quả
Việc khai thác nguồn nước mặt phục vụ sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện chủ yếu là làm đập dâng trên các con suối để cung cấp nước tới cho cây trồng Nước sinh hoạt của nhân dân chủ yếu được khai thác thông qua hệ thống cấp nước tự chảy
* Nước ngầm
- Nguồn nước ngầm: Nguồn nước ngầm của huyện chưa có điều kiện
thăm dò, khảo sát đẩy đủ Tuy nhiên, qua điều tra cho thấy đã có nhiều khu vực được nhân dân khai thác sử dụng tương đối hiệu quả để phục vụ sinh hoạt Một số năm gần đây mực nước ngầm bị giảm đáng kể do độ che phủ của thảm thực vật giảm mạnh, một số khu vực giếng đào đã bị cạn nước vào mùa khô Để tăng cường lượng nước phục vụ đời sống, sinh hoạt của nhân dân trong huyện cần quan tâm sử dụng các biện pháp trữ nước mặt, nước trời trong mùa khô, kết hợp với các biện pháp khoanh nuôi bảo vệ và trồng rừng
ở các khu vực đầu nguồn
3.1.2.5 Các nguồn tài nguyên khác
*Tài nguyên khoáng sản
Huyện Yên Châu là một trong những địa bàn khá phong phú về tài nguyên khoáng sản, tuy nhiên việc đầu tư thăm dò còn hạn chế Theo kết quả
sơ bộ thăm dò, hiện tại huyện có 03 mỏ than, 1 mỏ quặng Ăngtimon và một
số mỏ sét, đá xây dựng lộ thiên
- Mỏ than Tô Pang xã Chiềng Pằn có trữ lượng khoảng 513 nghìn tấn, trước đây đã được khai thác, song trữ lượng khai thác còn thấp và hiện tại đã
bị đóng cửa