TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP QUÁCH MẠNH TÙNG NGHIÊN CỨU SINH TRƯỞNG VÀ CHẤT LƯỢNG THÂN CÂY MỘT SỐ GIỐNG KEO LAI TỰ NHIÊN MỚI CHỌN TẠO TẠI MỘT SỐ TỈNH PHÍA BẮC VÀ BẮC TRUNG BỘ LUẬN VĂN THẠC
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
QUÁCH MẠNH TÙNG
NGHIÊN CỨU SINH TRƯỞNG VÀ CHẤT LƯỢNG THÂN CÂY MỘT SỐ GIỐNG KEO LAI TỰ NHIÊN MỚI CHỌN TẠO TẠI MỘT SỐ TỈNH PHÍA BẮC VÀ BẮC TRUNG BỘ
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
Hà Nội, 2012
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
QUÁCH MẠNH TÙNG
NGHIÊN CỨU SINH TRƯỞNG VÀ CHẤT LƯỢNG THÂN
CÂY MỘT SỐ GIỐNG KEO LAI TỰ NHIÊN (Acacia mangium x
A.auriculiformis) MỚI CHỌN TẠO TẠI MỘT SỐ TỈNH
PHÍA BẮC VÀ BẮC TRUNG BỘ
Chuyên ngành: Lâm học
Mã số: 60.62.02.01
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
GS.TS LÊ ĐÌNH KHẢ
Hà Nội, 2012
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Luận văn được hoàn thành theo chương trình đào tạo Cao học hệ chính quy tập chung khóa 18 B (2010 – 2012) tại trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam
Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới GS TS
Lê Đình Khả, đã dành nhiều thời gian, công sức truyền đạt những kiến thức, kinh nghiệm quý báu và dành những tình cảm tốt đẹp cho tác giả trong quá trình thực hiện luận văn
Tác giả chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, khoa đào tạo Sau đại học, các thầy cô giáo, bạn bè đồng nghiệp và gia đình đã quan tâm giúp đỡ tác giả trong quá trình nghiên cứu luận văn này
Tác giả cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới Ban lãnh đạo Viện cải thiện giống và phát triển Lâm sản, các bạn đồng nghiệp đã nhiệt tình giúp đỡ về tinh thần, vật chất và đóng góp nhiều ý kiến quý báu cho việc hoàn thiện luận văn
Mặc dù đã có nhiều cố cắng, nhưng do kinh nghiệm còn hạn chế, nên luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót Tác giả mong nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo và các đồng nghiệp
Tác giả xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 1 tháng 11 năm 2012
Tác giả
Quách Mạnh Tùng
Trang 4MỤC LỤC
Lời cảm ơn ……….……… i
Mục lục……….…….….ii
Danh mục các từ viết tắt……… …… …iv
Danh mục các bảng……… v
Danh mục các hình ……….……… …vi
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2
1.1 Giống lai và vai trò của giống lai trong sản xuất lâm nghiệp 2
1.2 Những nghiên cứu về Keo lai 3
1.2.1 Nghiên cứu Keo lai trên thế giới 3
1.2.2 Nghiên cứu Keo lai trong nước 5
Chương 2 MỤC TIÊU, NỘI DUNG, ĐỊA ĐIỂM, VẬT LIỆU
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 10
2.1 Mục tiêu nghiên cứu 10
2.2 Nội dung nghiên cứu 10
2.3 Địa điểm nghiên cứu 10
2.3.1 Khảo nghiệm tại Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh 10
2.3.2 Khảo nghiệm tại Bình Thanh, tỉnh Hòa Bình 11
2.3.3 Khảo nghiệm tại Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên-Huế 11
2.4 Vật liệu nghiên cứu 14
2.5 Phương pháp nghiên cứu 14
2.5.1 Phương pháp luận 14
2.5.2 Bố trí thí nghiệm 17
2.5.3 Thu thập số liệu 17
2.5.4 Phương pháp xử lý số liệu 18
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 22
3.1 Sinh truởng một số dòng Keo lai tự nhiên mới tại các khu vực nghiên cứu 22
Trang 53.1.1 Sinh trưởng Keo lai tự nhiên mới tại Đông Triều, Quảng Ninh 22 3.1.1.1 Sinh trưởng Keo lai tự nhiên mới tại Đông Triều, Quảng Ninh tại giai đoạn 2 tuổi 22 3.1.1.2 Sinh trưởng Keo lai tự nhiên mới tại Đông Triều, Quảng Ninh ở giai đoạn 3 tuổi 27 3.1.2 Sinh trưởng Keo lai tự nhiên mới tại Phú Lộc, Thừa Thiên-Huế 32 3.1.2.1 Sinh trưởng Keo lai tự nhiên mới tại Phú Lộc, Thừa Thiên- Huế ở giai đoạn 2 tuổi 32 3.1.2.2 Sinh trưởng Keo lai tự nhiên mới tại Phú Lộc, Thừa Thiên- Huế ở giai đoạn 3 tuổi 36 3.1.3 Khảo nghiệm Keo lai mới chọn tại Bình Thanh, Hòa Bình 41 3.2 Đánh giá chung về sinh trưởng, chất lượng của các dòng Keo lai mới chọn ở các vùng khảo nghiệm và tương tác kiểu gen hoàn cảnh 45 3.2.4 Tương tác kiểu gen x hoàn cảnh 47
KẾT LUẬN, TỒN TẠI 52 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
2.1 Đặc điểm khí hậu tại các khảo nghiệm Keo lai tự nhiên 13 2.2 Tính chất lý hóa đất ở các khu khảo nghiệm Keo lai 13 3.1 Sinh trưởng Keo lai tự nhiên mới tại Đông Triều, Quảng
Ninh ở giai đoạn 2 tuổi
23
3.2 Chất lượng thân cây Keo lai mới tại Đông Triều, Quảng
Ninh ở giai đoạn 2 tuổi
25
3.3 Sinh trưởng Keo lai tự nhiên mới tại Đông Triều, Quảng
Ninh ở giai đoạn 3 tuổi
27
3.4 Chất lượng thân cây Keo lai mới tại Đông Triều, Quảng
Ninh ở giai đoạn 3 tuổi
30
3.5 Sinh trưởng Keo lai tự nhiên tại Phú Lộc, Thừa Thiên-Huế
ở giai đoạn 2 tuổi
32
3.6 Chất lượng thân cây Keo lai mới tại Phú Lộc, Thừa Thiên-
Huế ở giai đoạn 2 tuổi
34
3.7 Sinh trưởng Keo lai tự nhiên mới tại Phú Lộc, Thừa
Thiên-Huế ở giai đoạn 3 tuổi
36
3.8 Chất lượng thân cây Keo lai tự nhiên mới tại Phú Lộc, Thừa
Thiên-Huế ở giai đoạn 3 tuổi
3.11 Tương quan giữa 3 vùng ở giai đoạn 2 tuổi 48
3.12 Tương quan giữa giai đoạn 2 tuổi và 3 tuổi cùng lập địa 49
3.13 Tương quan khác lập địa giai đoạn 3 tuổi 49
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH
2.1 Sơ đồ các bước tiến hành nghiên cứu chọn lọc và khảo
3.1 Khảo nghiệm dòng vô tính Đông Triều, Quảng Ninh ở giai
3.2 Khảo nghiệm dòng vô tính tại Đông Triều, Quảng Ninh ở
giai đọan 3 tuổi: K84 (trái) Keo tai tượng -KTT (phải) 28 3.3 Dòng Keo lai K79 tại Phú Lộc, Thừa Thiên Huế ở giai đoạn
3.4 Dòng Keo lai K66 tại Phú Lộc, Thừa Thiên Huế ở giai đoạn
3.5 Biểu đồ so sánh thể tích của dòng Keo lai K85 với giống BV10 ở
giai đoạn 1 tuổi và 3 tuổi tại Đông Triều 50
3.6 Biểu đồ so sánh thể tích của dòng Keo lai K85 với giống BV10 ở
3.7 Biểu đồ so sánh thể tích của 3 dòng Keo lai mới (K84, K85,
K82) với BV10 ở giai đoạn 1 tuổi và 3 tuổi tại Đông Triều 51
3.8 Biểu đồ so sánh thể tích của 3 dòng Keo lai mới (K84, K85,
K82) với giống BV10 ở giai đoạn 1 tuổi và 3 tuổi tại Phú Lộc 51
Trang 9ĐẶT VẤN ĐỀ
Keo lai tự nhiên có biên độ sinh thái rộng, thich ứng với nhiều điều kiện lập địa khác nhau, đặc biệt có thể sinh trưởng được trên các vùng đất nghèo dinh dưỡng mà một số loài cây khác khó sinh trưởng Gỗ keo lai tự nhiên được dung làm nguyên liệu giấy, ván dăm, gỗ dán và cũng có thể sản xuất đồ mộc
Keo lai tự nhiên đã được GS Lê Đình Khả (1999)[3] cùng các nhà khoa học của Trung tâm nghiên cứu giống cây rừng Phát hiện ở một số vùng tại Việt Nam, qua nghiên cứu so sánh với Keo tai tương và Keo lá tràm đã chọn được một số dòng vô tính có sinh trưởng nhanh, chất lượng thân cây tốt, tiềm năng bột giấy lớn, được Bộ NN&PTNT công nhận là giống Quốc gia và giống Tiến bộ kỹ thuật, đang là những giống cây trồng lâm nghiệp chính ở nước ta
Giống Keo lai tự nhiên mới là giống lai tự nhiên được Viện cải thiện
giống và phát triển lâm sản chọn tạo tại Ba Vì trên cơ sở tái tổ hợp, chọn lọc sớm và khảo nghiệm sớm từ các giống Keo lai đã được công nhận là giống Quốc gia và giống tiến bộ kĩ thuật trong các giai đoạn trước đây ( Lê Đình Khả, 2008) Tuy vậy, những giống Keo lai này mới qua khảo nghiệm sớm tại
Bà Vì, nên đánh giá khả năng di truyền khi khảo nghiệm ở các nơi khác, với thời gian đủ lớn, chọn ra các dòng Keo lai mới có sinh trưởng nhanh và chất lượng thân cây tốt nhất, để phát triển vào sản xuất, là rất cần thiết
Từ năm 2009 bộ NN & PTNT đã cho phép thực hiện đề tài "KhảonghiệmvànhângiốngmộtsốgiốngKeolaivàBạchđànlaitựnhiênmớichomột
sốvùngsinhtháichínhởViệtNam" do GS Lê Đình Khả làm chủ nhiệm
Đề tài luận văn “Nghiên cứu sinh trưởng và chất lượng thân cây một số
giống keo lai tự nhiên (Acacia mangium x A.auriculiformis) mới chọn tạo tại
một số tỉnh phía Bắc và Bắc Trung bộ” của học viên là một phần trong đề tài
nói trên
Trang 10Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Giống lai và vai trò của giống lai trong sản xuất lâm nghiệp
Giống lai tự nhiên là giống lai sinh ra một cách tự phát (spontaneous) giữa bất kỳ cây bố và cây mẹ nào có khả năng phù hợp di truyền và sinh lý để tạo ra cây lai Khi lai tự nhiên thì bố mẹ là những kiểu gen (genotype) và những kiểu hình (phenotype) hết sức khác nhau, nên cây lai F1 được tạo ra cũng hết sức đa dạng về tất cả các tính trạng có được ở bố mẹ Mặt khác, không phải tất cả các cây lai đều có ưu thế lai Cảm nhận chung là ưu thế lai thường không thể hiện trong một số lượng đáng kể cây rừng (van Buijtenen, 1969) Vì thế các cây lai tự nhiên (natural hybrids) là một nguồn thực liệu với nhiều kiểu biến dị hết sức phong phú cho chọn giống cây rừng và là một trong những nhân tố quan trọng của tiến hoá thực vật
Zobel và Talbert (1984) đã nhận định rằng điều hết sức quan trọng đối với các nhà di truyền và cải thiện giống cây rừng là nhận thức được lai giống
ở cây rừng thường xuyên tồn tại trong tự nhiên Mặc dầu các cây lai có thể đặt
ra nhiều vấn đề về quan điểm phân loại song kết quả của lai giống có thể là vô giá cho các chương trình chọn giống, (Zobel B and J Talbert, 1984, dẫn từ
Lê Đình Khả, 1999)[3]
Trong các giống lai hiện có của cây rừng thì Keo lai tự nhiên (Acacia
mangium x A.auriculiformis), tên gọi tắt của giống lai tự nhiên, giữa Keo tai
tượng (Acacia mangium) và Keo lá tràm (Acacia auriculifomis), là giống cây
sinh trưởng nhanh, có khả năng thích ứng lớn, khả năng cải tạo đất cao và có tiềm năng bột giấy lớn hơn Keo tai tượng và Keo lá tràm, đang được coi là giống cây trồng chính ở nhiều nơi trong nước, đặc biệt là ở các tỉnh vùng Đông Nam Bộ, Tây Nguyên, Trung Bộ và một số tỉnh thuộc phía Bắc
Trang 11Keo lai ở nước ta đã được chọn tạo từ những năm 1990 trên cơ sở phát hiện các cây lai tự nhiên có sinh trưởng và chất lượng thân cây tốt nhất tại Ba
Vì (Hà Nội) và Trảng Bom (Đồng Nai), qua nghiên cứu nhân giống, khảo nghiệm giống trên một số vùng sinh thái đó đã chọn được các dòng Keo lai có năng suất cao gấp 2-3 lần các loài bố mẹ là Keo tai tượng và Keo lá tràm (Lê Đình Khả, 1999[3]; Lê Đình Khả và cộng sự 2003)[5] Đặc điểm chính của Keo lai tự nhiên không những có năng suất cao, chất lượng thân cây tốt, mà còn có hiệu suất bột giấy lớn, lượng nốt sần ở rễ cũng cao hơn rất nhiều so với các loài keo bố mẹ, vì thế là một trong những giống cây được trồng rộng rãi nhất hiện nay, cũng vì thế các giống Keo lai đã được phát hiện ở nước ta cuối những năm 1990
Mặc dầu năm 1993, đến năm 1995 Keo lai mới trồng được 160 ha, năm
1999 đã trồng được 390 ha, năm 2002 đã trồng 22.430ha Diện tích trồng Keo lai trong cả nước đến cuối năm 2004 đã là 182.000 ha, năm 2006 đầu năm đã
có 30 triệu cây con Keo lai được sản xuất (Lê Đình Khả, 2009)[19]
1.2 Những nghiên cứu về Keo lai
1.2.1 Nghiên cứu Keo lai trên thế giới
Keo lai được Messrs Herburn và Shim phát hiện lần đầu tiên vào năm
1972 trong số những cây Keo tai tượng được trồng ven đường ở Sook Telupid thuộc bang Sabah của Malaysia Sau này Tham (1976)[33] cũng coi đó là giống lai Đến tháng 7 năm 1978, sau khi xem xét các mẫu tiêu bản tại phòng tiêu bản thực vật ở Queensland (Australia) được gửi đến từ tháng 1 năm 1977 Pedgley đã xác nhận là giống lai tự nhiên giữa Keo tai tượng và Keo lá tràm (Lê Đình Khả,1999)3
Keo lai tự nhiên cũng được phát hiện ở Papua New Guinea (Turnbull,
1986, Griffin, 1988)27, ở Malaysia và Thái Lan (Kijkar, 1992)28 Ngoài
Trang 12ra, từ năm 1992 ở Indonesia đã bắt đầu có thí nghiệm trồng Keo lai từ nuôi cấy mô cùng Keo tai tượng và Keo lá tràm (Umboh et al, 1993)34
Keo lai còn được tìm thấy ở vườn ươm Keo tai tượng (lấy giống từ Malaysia) tại Trạm nghiên cứu Jon-Pu của Viện nghiên cứu lâm nghiệp Đài Loan (Kiang Tao et al, 1989)29 và khu trồng Keo tai tượng tại Quảng Châu- Trung Quốc (Lê Đình Khả, 1999)3
Keo lai tự nhiên có thể xuất hiện với tỷ lệ 3 - 4cây/ha, hoặc với tỷ lệ 1 Keo lai : 500 Keo tai tượng Còn trong vườn ươm Keo lá tràm (trong trường hợp này Keo lá tràm làm mẹ), tỷ lệ Keo lai có thể xuất hiện là 6,8 - 10,3 %,
cá biệt có thể đến 22,5 % (Gan and Sim Boon Liang, 1991)26
Trong giai đoạn vườn ươm cây Keo lai hình thành lá giả (phylode) sớm hơn Keo tai tượng và muộn hơn Keo lá tràm (Rufelds, 1988 )30
Tính chất trung gian của Keo lai so với Keo tai tượng và Keo lá tràm còn được phát hiện ở các tính trạng khác như hoa tự, hoa và hạt (Bowen, 1981)24
Phân tích Peroxydase isozym của Keo lai và hai loài bố mẹ cho thấy Keo lai thể hiện tính trung gian giữa hai loài keo bố mẹ (Kiang Tao et al, 1989)29
Theo thông báo của Tham (1976)33 thì cây lai thường cao hơn cả hai loài bố mẹ, song vẫn giữ hình dáng kém hơn Keo lá tràm
Đánh giá Keo lai tại Sabah một cách tổng hợp Pinso và Nasi (1991)31 thấy cây lai có ưu thế lai và ưu thế lai này có thể chịu sự ảnh hưởng của cả yếu tố di truyền lẫn điều kiện lập địa Họ cũng thấy sinh trưởng của cây Keo lai tự nhiên đời F1 tốt hơn xuất xứ Sabah của Keo tai tượng, song kém hơn xuất xứ ngoại lai như Oriomo (Papua New Guinea) hoặc Claudie River (Queesland, Australia), còn sinh trưởng của những cây đời F2 trở đi thì không
Trang 13đồng đều so với trị số trung bình và còn kém hơn cả Keo tai tượng, mặc dầu một số cây xuất sắc có khá hơn
Khi đánh giá các chỉ tiêu chất lượng của cây Keo lai Pinso và Nasi (1991)31 thấy rằng độ thẳng thân, đoạn thân dưới cành, độ tròn đều của thân, vv ở cây Keo lai đều tốt hơn hai loài keo bố mẹ và cho rằng Keo lai rất phù hợp cho trồng rừng thương mại Cây Keo lai còn có ưu điểm là có đỉnh ngọn sinh trưởng tốt, thân cây đơn trục và tỉa cành tự nhiên tốt (Pinyopusarerk, 1990)32
Keo lai đã được nghiên cứu nhân giống bằng hom (Griffin, 1988)27hoặc nuôi cấy mô bằng môi trường cơ bản Murashige và Skooge (MS) có thêm 6 - Benzyl amino purine (BAP) 0,5 mg/l và cho ra rễ trong phòng hoặc nền cát sông 100% với khả năng ra rễ đến 70% (Darus, 1991)25 và sau một năm cây mô có thể cao 1,09m
Sau công bố các nghiên cứu một cách toàn diện về Keo lai tự nhiên của
GS Lê Đình Khả, nhiều tác giả đã có nghiên cứu về Keo lai tự nhiên theo hướng tiếp tục nghiên cứu chọn giống và nhân giống chọn ra những giống Keo lại tự nhiên mới sinh trưởng về thể tích và chất lượng thân cây tốt hơn các giống cũ, từng bước tăng năng suất trồng rừng nước ta, đây cũng là hướng
đi mà để tài kế thừa tiếp tục nghiên cứu
1.2.2 Nghiên cứu Keo lai trong nước
Keo lai tự nhiên ở nước ta tuy được phát hiện năm 1993, sau nước khác
từ 15-20 năm (Lê Đình Khả và cs., 1993)[9], song đã được nghiên cứu một cách toàn diện và đầy đủ nhất lúc đó nên là giống lai đầu tiên được đưa vào sản xuất trên quy mô lớn
Những nghiên cứu về Keo lai đã được thực hiện ở nước ta là về hình thái giải phẫu, xác định kiểu gen, khả năng chịu hạn, tính chất cơ lý và hóa
Trang 14học gỗ, tiềm năng bột giấy, độ bền và độ trắng của giấy, lượng nốt sần và khả năng cải tạo đất của Keo lai, khảo nghiệm giống trên các vùng sinh thái khác nhau, ảnh hưởng của bón phân và một số biện pháp thâm canh đến năng suất Keo lai, cũng như nhân giống bằng nuôi cấy mô (Lê Đình Khả và
cs, 1999, 2001, 2003, Phạm Văn Tuấn và cs, 1995, Butcher, 1999, Lê Đình Khả, Ngô Đình Quế, Nguyễn Đình Hải, 2000, Nguyễn Ngọc Tân và cs,
1995, Đoàn Thị Mai và cs, 1998) Có thể nói Keo lai được coi là một trong những giống cây trồng lâm nghiệp chính nước ta Các nghiên cứu sau này đã
đi sâu giải quyết những vấn đề về lập biểu thể tích (Nguyễn Hải Tuất, Nguyễn Trọng Bình, 2003)[22], về tiếp tục đánh giá khảo nghiệm giống và vai trò cải tạo đất của Keo lai (Đoàn Ngọc Dao, 2003, Lê Đình Khả, Đoàn Ngọc Dao, 2004)[8] đã thấy rằng Keo lai có khả năng cải tạo đất cao hơn các loài keo bố mẹ, độ phì và độ xốp của đất dưới tán rừng keo lai cũng cao hơn so với dưới tán rừng Keo tai tượng và Keo lá tràm, vùng có năng suất Keo lai cao nhất là Đông Nam Bộ Nghiên cứu nhân giống bằng nuôi cấy mô cho thấy tuy các dòng đều có những yêu cầu nhất định về nồng độ và thời gian khử trùng, song về cơ bản không thật sự khác biệt nhau, điều khác biệt chủ yếu là tỷ lệ ra chồi, tỷ lệ ra rễ cao nhất của các dòng này (Đoàn Thị Mai
và cs, 1998, 2004)[15]
Nguyễn Trọng Bình (2004) [1] đã tiến hành lập biểu sinh trưởng, sản lượng và biểu sản phẩm tạm thời cho rừng Keo lai trồng thuần loài ở một số vùng trong cả nước Kết quả cho thấy, tại các cấp đất, Keo lai đều có tăng trưởng bình quân đạt cực đại ở tuổi 7 và 8 So với bố mẹ Keo lai có tăng trưởng bình quân cao hơn từ 1,2 - 2 lần
Các giống Keo lai tự nhiên được Bộ NN&PTNT công nhận là giống quốc gia lúc đó là BV10, BV16 và BV32; các giống được công nhận Giống tiến bộ kỹ thuật là BV5, BV29 và BV33 TB3, TB6, TB12 Qua khảo nghiệm trong nhiều năm cho thấy giống BV10, BV16 là những giống cho
Trang 15năng suất cao ở nhiều nơi Do đó, những việc duy trì các dòng có ưu thế lai sẵn có và chọn lọc thêm các dòng lai mới để định hướng cho một chương trình chọn giống keo lai nhiệt đới kết hợp giữa các chỉ tiêu sinh trưởng, chất lượng và tính chất gỗ là cần thiết
Sau này còn có các giống Keo lai tự nhiên do Viện cây nguyên liệu giấy chọn lọc (Huỳnh Đức Nhân và cs, 2005) và được Bộ NN&PTNT công nhận giống TBKT là KL2, KLTA3, KL20; Các giống Keo lai được Trung tâm nghiên cứu giống cây rừng (trong đó có một số giống phối hợp với Trung tâm khoa học sản xuất lâm nghiệp Đông Nam Bộ) đã chọn lọc tiếp và được Bộ NN&PTNT công nhận giống Quốc gia là BV33, và giống TBKT là BV71, BV73, BV75, TB1, TB7 và TB11 (Lê Đình Khả và cs., 2005, Hà Huy Thịnh
và cs, 2006) Các giống Keo lai được chọn lọc từ vườn giống FORTIP có năng suất cao và chống bệnh đã được Nguyễn Hoàng Nghĩa và cộng sự ( 2007) thực hiện tại vùng Đông Nam Bộ và được Bộ NN&PTNT công nhận giống TBKT là AH7 và AH1
Các nghiên cứu tiếp tục về các biện pháp thâm canh cũng thấy cách làm đất và lượng phân bón đã ảnh hưởng đến năng suất Keo lai (Đoàn Hoài Nam
và Nguyễn Huy Sơn, 2005)[18] Nghiên cứu của Đoàn Hoài Nam (2005) cho thấy Keo lai trồng trên đất có độ sâu hơn 1 m sinh trưởng nhanh hơn rõ rệt
so với nơi đất nông, trồng keo lai có hiệu quả kinh tế khá cao, sinh trưởng của Keo lai cũng thay đổi ở các độ tuổi khác nhau, một số biện pháp kỹ thuật lâm sinh như tỉa cành, tỉa thưa có ảnh hưởng đến sinh trưởng của Keo lai, v.v, Khả năng chống đổ gãy Keo lại tại Tuyên Quang cũng thay đổi theo các dòng
vô tính, trong đó dòng BV16 có khả năng chống đổ gãy cao nhất (Trần Thị Quyên, 2007)
Ngoài ra, ngay từ năm 1997 chúng ta đã tiến hành lai giống nhân tạo
và đã tạo ra nhiều tổ hợp lai mới, trong đó có dòng vô tính thuộc tổ hợp lai
Trang 16Am31Aa32 được ký hiệu là BV01 tương đương dòng BV10 và 6 cây lai tốt nhất được chọn lúc đó (Lê Đình Khả và CS, 2003) mà về sau Nguyễn Việt Cường (2006) đổi lại là MA1, tiếp tục khảo nghiệm và được công nhận giống Quốc gia (MA1, (MA), (M8), cùng hai giống khác như AM2, AM3
là giống TBKT
Quy trình trồng Keo lai tự nhiên của Bộ NN&PTNT (04 TCN-74-2006) quy định mật độ trồng Keo lai là 1100-1330 cây/ha, song thực tế sản xuất nhiều nơi trồng 1330-1660 cây/ha Vì thế trong khảo nghiệm Keo lai đề tài nghiên cứu trồng thí nghiệm cho cả ba mật độ này Bón phân cho Keo lai cũng được quy định là bón lót 200-300 g NPK/hố + 50 g vôi bột (nơi có độ pH,4,0), và rắc 15 g Diaphot hoặc 15 g Basudin/hố trước khi trồng 1 ngày để chống mối Sau đó bón thúc 150-200 g NPK vào năm thứ 2 Kết quả nghiên cứu tại Đông Nam bộ cho thấy Keo lai có thể cho năng suất cao khi bón lót
200 g NPK +100 g lân vi sinh/hố và bón thúc 200 g NPK + 100 g phân vi sinh vào năm thứ 2, bón 200 g NPK = 150 g phân vi sinh vào năm thứ 3 đã làm tăng đáng kể năng suất Keo lai (Nguyễn Huy Sơn, 2006)[17]
Năm 2003 giống Keo lai của ta đã được Công ty RAPP nhập trồng tại Indonesia Năm 2006 giống Keo lai của ta đã được Công ty Australia Great Southern Plantation nhập và trồng khảo nghiệm ở bang Northern Territory của Australia Năm 2007 giống Keo lai của ta được Công ty Forestry Administrion của Campuchia nhập trồng 3000 ha Năm 2008 Công ty Stora Enso của Thụy Điển cũng nhập giống Keo lai của ta để trồng ở Lào Giống keo lai của ta đã là một giống có tiếng được trồng ở các nước trong vùng
Keo lai tự nhiên đã được trồng rộng rãi ở nước ta và cho năng suất cao tại vùng Đông Nam bộ, nam Tây Nguyên và vùng Trung bộ Khi trồng ở miền Bắc một số giống vẫn có năng suất cao, song qua sử dụng cho thấy một số giống Keo lai khi trồng tại vùng Trung tâm miền Bắc có thể bị đổ gãy do gió
Trang 17bão nên đã có những ý kiến khác nhau về trồng Keo lai ở vùng Trung tâm (Lê Đình Khả, 2009)[19]
Nghiên cứu chọn giống Keo lai tự nhiên mới là một hướng đi mới dựa trên cơ sở của tái tổ hợp di truyền, chọn lọc sớm (Lê Đình Khả, 2008) Một
số dòng Keo lai được chọn lọc sớm đã được Bộ NN & PTNT cho phép khảo nghiệm tại một số vùng sinh thái chính ở Việt Nam, nhằm chọn ra một số dòng Keo lai mới có sinh trưởng và chất lượng thân cây tốt hơn những giống
cũ, góp phần tăng thêm nguồn giống và năng suất rừng trồng ở nước ta
Trang 18
Chương 2 MỤC TIÊU, NỘI DUNG, ĐỊA ĐIỂM, VẬT LIỆU
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu nghiên cứu
- Xác định được khả năng sinh trưởng, chất lượng thân cây của một số
giống keo lai tự nhiên mới chọn tạo, tuổi từ 2 - 3 năm
- Xác định được vùng trồng thích hợp nhất cho một số giống keo lai tự
nhiên mới, có điều kiện hoàn cảnh tương tự
2.2 Nội dung nghiên cứu
- Đánh giá sinh trưởng của một số giống Keo lai tự nhiên mới chọn tạo
- Đánh giá chất lượng thân cây của một số giống Keo lai tự nhiên mới
chọn tạo
2.3 Địa điểm nghiên cứu
Các khu khảo nghiệm Keo lai mới được tiến hành trên các địa điểm đại
diện cho các vùng sinh thái là:
- Khu Đá Trắng, xã Tràng Lương (huyện Đồng Triều, Quảng Ninh)
- Trạm thực nghiệm Bình Thanh (huyện Cao phong, Hòa Bình)
- Thôn Bến Vân, xã Lộc Bổn (huyện Phú Lộc, Thừa Thiên-Huế)
Đặc điểm khí hậu và đất đai của các địa điếm nghiên cứu được trình bày như
dưới đây:
2.3.1 Khảo nghiệm tại Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh
Khảo nghiệm các giống Keo lai được xây dựng trền nền đất đồi thấp,
tương đối phẳng, đất feralitic, phát triển trên sa thạch ở độ cao 45 m so với
mặt nước biển, nằm trong vĩ độ 21o08' bắc, kinh độ 105o40' đông, tầng đất sâu
>1 m, đã qua trồng Vải 20 năm, đất chua (pH = 3,5-3,9) Thực bì là Mua
(Melastoma candidum), Chổi xể (Baeckea frutescens), Thành ngạnh
(Cratoxylum formosum), v.v
Trang 19Số liệu khí hậu thu được tại trạm khí hậu gần nhất nơi khảo nghiệm cho thấy lượng mưa trung bình hàng năm nơi đây là 2250 mm/năm, tập trung từ tháng 4 đến tháng 10 là những tháng có lượng mưa lớn hơn 100 mm và gió giông lớn, nhiệt độ trung bình năm là 23,3oC
2.3.2 Khảo nghiệm tại Bình Thanh, tỉnh Hòa Bình
Khảo nghiệm ở Trạm thực nghiệm Bình Thanh được tiến hành trên đất feralitic phát triển trên đá riolit, ở độ cao 120 m so với mặt nước biển, nằm trong vĩ độ 20o42' bắc, kinh độ 105o15' đông Khu khảo nghiệm đã qua trồng Tre lấy măng nhiều năm, độ dốc dưới 150, thực bì chủ yếu là cây lau lách
(Saccharum spontaneum), Mua (Melastoma candidum), cây phân xanh cộng
sản Tầng đất sâu (>1,0m), hàm lượng K2O tương đối cao, Do vậy điều kiện thực địa tại nơi đây ảnh hưởng khá lớn đến sinh trưỏng của cây khảo nghiệm
Số liệu khí hậu thu được tại trạm khí hậu gần nhất nơi khảo nghiệm cho thấy lượng mưa trung bình hàng năm nơi đây là 1910 mm/năm, tập trung từ tháng 4 đến tháng 10 là những tháng có lượng mưa lớn hơn 100 mm, nhiệt độ trung bình năm là 23,3oC
2.3.3 Khảo nghiệm tại Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên- Huế
Khu khảo nghiệm thôn Bến Vân (huyện Phú Lộc) là đất đồi thấp, độ dốc dưới 15o, thuộc nhóm đất đồi feralit phát triển sa diệp thạch ở độ cao 30 m so với mặt nước biển, nằm trong vĩ độ 16o21' bắc, kinh độ 107o41' đông Đây là đất sau khai thác rừng Keo lai, thực bì là cây bụi thảm tươi như Tràm gió
(Mleleuca cajuputi), Chổi xể (Baeckea frutescens), Thành ngạnh (Cratoxylum
formosum), v.v Đất có pHKCl = 3,7 - 3,9), nghèo dinh dưỡng, hàm lượng Kali tương đối cao, hàm lượng canxi và magiê thấp Theo phân loại của Hội Khoa học đất Việt Nam (2000) thì đất có tỷ lệ sét vật lý 10-20% được cho là cát pha, mặt khác tỷ lệ cát là 75-82%, vì thế có thể coi đất ở khu khảo nghiệm là đất đồi cát-cát pha, có độ phì không cao, song có thành phần cơ giới nhẹ, do vậy cây vẫn sinh trưởng thuận lợi
Trang 20Theo số liệu khí hậu thu được tại trạm khí tượng Nam Đông – Thừa Thiên Huế cho thấy lượng mưa trung bình hàng năm nơi đây là 2320 mm/năm, tập trung từ tháng 6 đến tháng 1 năm sau, là những tháng có lượng mưa lớn hơn 100 mm, nhiệt độ trung bình năm là 25,3oC
Mẫu đất được lấy từ địa điểm nghiên cứu theo phương pháp rải đều 5 điểm đại diện Tại các tầng 0-10cm, 11-30cm, 31- 50cm, mỗi mẫu lấy khoảng 1kg Các tầng tương ứng của 5 phẫu diện được trộn đều với nhau, lấy hai phần đối diện, sau đó lại tiếp tục trộn đều hai phần này rồi lấy tương tự như trên Cứ tiếp tục như vậy đến khi còn 1kg Mẫu đất ở các tầng được phân tích tại phòng phân tích đất thuộc trung tâm Sinh thái và môi trường rừng – Viện khoa học lâm nghiệp Việt Nam
Các đặc điểm đất đai tại khu vực xây dựng các khảo nghiệm giống Keo lai tự nhiên mới được xây dựng trên đất đồi điển hình có địa hình khá bẳng phẳng,
độ dốc thấp thấp từ 50 – 70 Với nền thực bì chủ yếu là Sim, Mua, Tế Guột…
Khu vực nghiên cứu tại Đông Triều, Quảng Ninh đất của khu vực khảo nghiệm thuộc nhóm đất feralit phát triển trên đá mẹ sa thạch Khu vực Bình Thanh, Hòa Bình là loại đất Feralít vàng phát triển trên đá Riolit và khu khảo nghiệm tại Phú Lộc, Thừa Thiên - Huế thuộc nhóm đất đồi feralit phát triển sa diệp thạch, đây là những loại đất này chủ yếu thích hợp trồng cây lâm nghiệp, cây ăn quả, phát triển đồng cỏ chăn nuôi
Các đặc điểm về đất đai của ba khu vực nghiên cứu thể hiện bảng 2.2,
và cho thấy các thí nghiệm đều thuộc nhóm đất đồi điển hình có độ chua tương đối lớn, nghèo chất dinh dưỡng, thiếu lân, kali và canxi Các đặc điểm này có ảnh hưởng không nhỏ tới đặc điểm của cây trồng Kết quả phân tích tính chất đất đã cho thấy ba khu khảo nghiệm có điều kiện đất đai khá khác nhau Tổng hợp về điều kiện khí hậu của các nơi khảo nghiệm (bảng 2.1), được lấy ở cấp huyện và theo số liệu của điều kiện khí hậu được lấy ở Trạm khí
Trang 21tượng gần nơi khảo nghiệm giống nhất (Nguyễn Trọng Hiếu, 1990, Trung tâm
tư liệu khí hậu thủy văn, 2006) [2]
Bảng 2.1 Đặc điểm khí hậu tại các khảo nghiệm Keo lai tự nhiên
Địa phương
Vĩ độ (độ, phút)
Kinh
độ (độ, phút)
Độ cao mặt biển (m)
Nhiệt đô
TB năm (oC)
Lg mưa hàng năm (mm)
Tháng mưa
>100mm Đông Triều
(Quảng Ninh) 21
o08' 105o40' 45 23,3 2250 IV - X Bình Thanh
(Hòa Bình) 20
o42' 105o15' 120 23,3 1910 V - X Phú Lộc
(T.T - Huế) 16
o21' 107o41' 30 25,2 2320 VI - I
Bảng 2.2 Tính chất lý hóa đất ở các khu khảo nghiệm Keo lai
(cm)
pH (KCl)
Mùn (%)
Đạm (%)
Chất dễ tiêu (mg/100g)
Cation trao đổi (ldl/100g)
Thành phần cơ giới
2-0,02
0,002
0,02-< 0,002
Trang 222.4 Vật liệu nghiên cứu
- Một số giống keo lai tự nhiên mới chọn tại Cẩm Quì, xã Cẩm Lĩnh, huyện Ba Vì, Hà Nội
- Một số keo lai đã được công nhận là giống Quốc gia: BV10, BV32, BV16
- Một số xuất xứ Keo tai tượng (Ktt - Acacia mangium) và Keo lá tràm (Klt- A auriculiformis) đươc lấy từ vườn giống FOPTIP ở Ba Vì ( gồm
những xuất xứ có triển vọng nhất ở Việt Nam và Thái Lan được trồng từ năm 1997)
2.5 Phương pháp nghiên cứu
2.5.1 Phương pháp luận
Khi lai tự nhiên thì bất kỳ cây bố và cây mẹ nào có khả năng phù hợp về
di truyền và sinh lý (có thời kỳ nở hoa trùng khớp nhau) đều có thể lai giống với nhau để tạo nên cây lai Như vậy, tham gia lai giống tự nhiên bao gồm cả những cây tốt nhất, lẫn những cây xấu nhất, bao gồm cả cây sinh trưởng nhanh nhất, hình dáng thân đẹp nhất lẫn những cây sinh trưởng chậm và dáng thân xấu nhất, cũng như rất nhiều kiểu tổ hợp của những cặp tính trạng như sinh trưởng, tính chống chịu, hình dáng thân, lá, hoa, quả và các đặc trưng khác Hơn nữa một kiểu hình được thể hiện là kết quả của sự tác động lẫn nhau giữa kiểu gen với điều kiện hoàn cảnh Một kiểu hình tốt có thể do mang kiểu gen tốt, cũng có thể mang kiểu gen bình thường, song mọc trên đất tốt Kiểu hình (P) là kết quả tác động tổng hợp của kiểu gen (G) và điều kiện hoàn cảnh (E)
P = G + E
Vì thế muốn sử dụng giống lai tự nhiên một cách có hiệu quả phải qua một quá trình chọn lọc cẩn thận các cây lai có sẵn, tiến hành nhân giống sinh dưỡng và khảo nghiệm dòng vô tính để chọn dòng có ưu thế lai cao nhất
Trang 23Keo lai là giống lai tự nhiên, bên cạnh những cây sinh trưởng nhanh có hình dáng thân thẳng đẹp là những cây sinh trưởng chậm có hình dáng thân xấu, cành nhánh lớn Vì vậy, chọn lọc cây trội là khâu không thể thiếu khi nghiên cứu sử dụng giống Keo lai
Cây trội là những cây có sinh trưởng nhanh nhất trong quần thể chọn giống, có đoạn thân dưới cành dài nhất, hình dáng thân cây tròn đều, cành nhánh nhỏ Vì thế thường là những cây có tỷ lệ gỗ sử dụng cao nhất Tuy vậy cây trội cũng mới là kiểu hình muốn biết các cây trội này có thật sự di truyền các đặc tính tốt cho đời sau hay không, phải qua khảo nghiệm Để có vật liệu cho khảo nghiệm giống phải có phương pháp nhân giống thích hợp
Khi sinh sản bằng hạt dựa trên cơ sở của sự phân bào giảm nhiễm, lối phân bào có sự phối đôi và tái tổ hợp một cách ngẫu nhiên của các thể nhiễm sắc cùng nguồn (từ bố và từ mẹ) để từ một tế bào mẹ, qua hai lần phân chia, tạo thành 4 tế bào con có số lượng thể nhiễm sắc bằng một nửa tế bào mẹ ban đầu với kết cấu thể nhiễm sắc đã bị thay đổi Mỗi tế bào con phát triển thành một giao tử Đến lượt các giao tử lại kết hợp ngẫu nhiên với nhau để tạo nên các tổ hợp mới, tức tạo ra các cây lai đời F2 Chính vì thế ở đời F2 xuất hiện
đa dạng rất phong phú, bên cạnh các tính trạng của dạng lai còn xuất hiện các tính trạng của bố mẹ và các tính trạng mới khác Còn sinh sản bằng hom là lối sinh sản dựa trên cơ sở của sự phân bào nguyên nhiễm, là lối phân bào mà từ một tế bào mẹ, qua một lần phân chia, tạo thành hai tế bào con có số lượng và kết cấu của thể nhiễm sắc giữ nguyên như của tế bào mẹ ban đầu Đây là lối phân bào truyền đạt được khá chính xác các tính chất di truyền của cây lấy giống (ortet) cho đời cây hom (ramet) Nhờ đó mà cây hom vẫn giữ được nguyên vẹn đặc tính của cây mẹ lấy cành Vì thế sau khi chọn được các cây trội Keo lai phải dùng phương pháp nhân giống hom để đưa vào khảo nghiệm dòng vô tính Chỉ những dòng vô tính được lấy từ những cây trội thật sự do kiểu gen qui định mới duy trì được các đặc tính tốt của mình và có thể phát
Trang 24triển giống vào sản xuất Mặt khác cần thấy rằng do điều kiện hoàn cảnh ở các điều kiệnh sinh thái cũng không giống nhau Một dòng vô tính tốt ở điều kiện sinh thái này chưa hẳn đã tốt ở điều kiện sinh thái khác Do đó, để đưa giống vào sản xuất trên diện rộng thì khảo nghiệm dòng vô tính cũng phải được thực hiện ở một số lập địa đại diện trên một số vùng sinh thái nhất định
Sơ đồ chung về cải thiện giống cây rừng là chọn loài/xuất xứ, chọn cây trội, khảo nghiệm giống và nhân giống để phát triển vào sản xuất (Lê Đình Khả, 1990) Dựa sơ đố này phương thức tiếp cận để giải quyết các vấn
đềnghiên cứu của luận văn được tiến hành theo các bước như sau:
Hình 2.1 Sơ đồ các bước tiến hành nghiên cứu chọn lọc
và khảo nghiệm giống keo lai tự nhiên mới
Rừng trồng dòng vô tính Keo lai tốt nhất
Chọn các dòng Keo lai mới tốt nhất
Các dòng Keo lai tự nhiên
mới chọn
Khảo nghiệm dòng vô tính:
- Các dòng Keo lai chọn mới
- Một số dòng Keo lai được chọn trước đây
- Gống BV10, BV32, BV16, Keo tai tượng
và Keo lá tràm làm đối chứng
Đánh giá sinh trưởng các dòng
Keo lai tự nhiên mới chọn và các
dòng đối chứng
Đánh giá các chỉ tiêu về chất lượng các Keo lai tự nhiên mới chọn và các dòng đối chứng
Nhân giống
Trang 252.5.2 Bố trí thí nghiệm
Các khảo nghiệm Keo lai mới được thiết kế thí nghiệm theo khối ngẫu nhiên không đầy đủ, theo khối hàng cột, bố trí 3 - 4 lần lặp, mỗi lặp bố trí từ 18- 35 dòng vô tính, mỗi hàng bố trí 8 – 15 cây/giống Khoảnh cách trồng 3m
x 2m, kích thước hố trồng là (40cm x 40cm x 40cm), bón lót 3kg phân chuồng hoai + 200g NPK
Sơ đồ bố trí thí nghiệm ở Phụ biểu 06, 07, 08
2.5.3 Thu thập số liệu
Điều tra tất cả các cây thí nghiệm trong các hàng, cột của từng giống trong các lặp tại các khảo nghiệm Keo lai mới chọn tạo
2.3.3.1 Thu thập số liệu sinh trưởng và chất lượng thân cây
Thu thập số liệu sinh trưởng thân cây
- Chiều cao thân cây (Hvn): Được đo bằng thước đo cao (đơn vị m)
- Chu vi thân cây tại vị trí 1,3 m được đo bằng thước đo vanh (cm)
- Chiều cao dưới cành (Hdc): Đo bằng thước đo cao (đơn vị m)
Xác định các chỉ tiêu chất lượng thân cây
- Độ thẳng thân; độ nhỏ cành đuợc xác định theo phương pháp cho điểm (Lê Đình Khả, 2003)[4]
- Độ thẳng thân (D tt ): Được xác định bằng mục trắc và cho điểm theo 5
cấp từ 1-5 điểm
+ Thân cây rất thẳng 5 điểm + Thân cây thẳng 4 điểm + Thân cây tương đối thẳng 3 điểm
+ Thân cây cong 2 điểm
Trang 26+ Thân cây rất cong 1 điểm
- Độ nhỏ cành (Dnc): Được xác định bằng phương pháp cho điểm theo 5
Các chỉ tiêu thống kê được tính toán theo các công thức sau:
- Đường kính thân cây tai vị trí cao 1,3 (m):
D1.3 =
3 1
C
(2.2)Trong đó: C1.3 chu vi thân cây đo tại vị trí 1,3 m
- Thể tích thân cây:
2 3
40
.
f h D
Trang 27f 05 : hình số thân cây (giả định là 0,5)
- Tỷ lệ sống (%)= (số cây sống/ tổng số cây khảo nghiệm) x 100
Trong đó: Xi là giá trị quan sát của mẫu i
n là dung luợng mẫu quan sát
- Sai tiêu chuẩn mẫu:
t05(k) giá trị tra bảng ở mức xác suất có ý nghĩa 5% với bậc tự do k
- Hệ số tương quan theo Nguyễn Hải Tuất, Vũ Tiến Hinh, Ngô Kim Khôi (2006)[23]
Hệ số tương quan: r =
Qy Qx Qxy
Trang 28Trong đó : Qxy=xy (x) * (y) /n
Qx=x2 (x)2/n
Qy=y2 (y)2/n
x và y là hai đại lượng quan sát từng cặp ở mẫu
Người ta quy ước
0 r < 0,3 Tương quan yếu
0,3 r < 0,5 Tương quan vừa phải
0,5 r < 0,7 Tương quan tương đối chặt
0,7 r < 0,9 Tương quan chặt
0,9 r < 1 Tương quan rất chặt
r = 1 Tương quan hàm số
r = 0 X và Y độc lập tuyến tính
- Sig: là xác suất của tiêu chuẩn F để kiểm tra giả thuyết Ho
Nếu Sig >0,05: không có sự sai khác giữa các mẫu so sánh
Nếu Sig <0,05: giữa các mẫu so sánh có sự sai khác
+ Đánh giá chỉ số chất lượng tổng hợp (Icl) theo Lê Đình Khả (1999) [3] được đánh giá theo công thức
Icl = Dtt*Dnc (2.9) Trong đó: Icl là chỉ số chất lượng tổng hợp
Dtt; là độ thẳng thân
Dnc; là độ nhỏ cành
- Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến thí nghiệm
Trang 29So sánh sai dị giữa các trung bình mẫu được tiến hành theo tiêu chuẩn Fisher (tiêu chuẩn F)
Nếu F.pr (xác suất tính được) <0.05 thì sự sai khác giữa các trung bình mẫu là hết sức rõ rệt với độ tin cậy tương ứng là 95%
Nếu F.pr (xác suất tính được) > 0.05 thì sự sai khác giữa các trung bình mẫu là không rõ rệt
- Số liệu được xử lý bằng phần mềm SPSS 11.5 (Nguyễn Hải Tuất, Nguyễn Trọng Bình, 2003)[20], [21], [22] và phần mềm EXCEL
Trang 30Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
Kết quả của đề tài bước đầu đánh giá sinh trưởng, chất lượng thân cây của một số giống Keo lai tự nhiên mới chọn tạo, trong giai đoạn tuổi từ 2 – 3 năm, trên cơ sở đó xác định được những dòng Keo lai mới sinh trưởng và phát triển tương đương hoặc tốt hơn những giống Keo lai đối chứng đã được BNN& PTNT công nhận, đồng thời xác định được địa điểm gây trồng thích hợp nhất cho một số dòng Keo lai tự nhiên mới và những địa điểm có điều kiện hoàn cảnh tương tự Thông qua quá trình điều tra, nghiên cứu, đề tài đã thu đuợc một số kết quả chính như sau:
3.1 Sinh truởng một số dòng Keo lai tự nhiên mới tại các khu vực nghiên cứu
3.1.1 Sinh trưởng Keo lai tự nhiên mới tại Đông Triều, Quảng Ninh
3.1.1.1 Sinh trưởng Keo lai tự nhiên mới tại Đông Triều, Quảng Ninh ở giai đoạn 2 tuổi
Khảo nghiệm các dòng Keo lai mới tai Đông Triều, Quảng Ninh được trồng vào tháng 8 năm 2009, khảo nghiệm được xây dựng trền nền đất đồi thấp, tương đối phẳng, đất feralitic, phát triển trên sa thạch ở độ cao 45 m so với mặt nước biển, nằm trong vĩ độ 21o08' bắc, kinh độ 105o40' đông, tầng đất
sâu >1 m, đã qua trồng Vải 20 năm, đất chua (pH = 3,5-3,9)
Các dòng tham gia khảo nghiệm gồm có 32 dòng, chia làm 3 lần lặp, được trồng với khoảng cách 2m x 3m (1650 cây/ha), mỗi công thức 15 cây Bón lót 200g phân Vi sinh + 200g phân NPK Kết quả điều tra vào tháng 09 năm 2011 và tháng 09 năm 2012 tại khu khảo nghiệm Keo lai tự nhiên mới tại Đông Triều, Quảng Ninh được tính toán và tổng hợp như sau:
Trang 31a) Sinh trưởng Keo lai tự nhiên mới ở giai đoạn 2 tuổi
Từ kết quả phân tích ANOVA ở (phụ biểu 01) cho thấy sai khác về đường kính, chiều cao và thể tích thân cây giữa các dòng Keo lai tự nhiên mới
và các giống đối chứng là rõ rệt với mức tin cậy 99,9 %, kết quả được tổng hợp ở bảng (3.1)
Qua bảng (3.1) cho thấy mức độ biến động về tỷ lệ sống giữa các dòng tham gia khảo nghiệm rất lớn Tại thời điểm thu số liệu tháng 9 năm 2011, khu khảo nghiệm ở giai đoạn 2 tuổi, các dòng có tỷ lệ sống thấp, với tỷ lệ sống trung bình cả khu khảo nghiệm chỉ đạt 55,33% Phạm vi biến động của
tỷ lệ sống giữa các dòng tham gia khảo nghiệm rất lớn 28,23 % Các dòng K82, K24, là những dòng có tỷ lệ sống cao nhất lần lượt là 82,2; 77,8 % Các dòng có tỷ lệ sống cao khác là K69, K17, K84, K11, K20, K14, K50, K66, K63, và K79 lần lượt là 75,6; 75; 62,2; 66,7; 71,1; 71,1 ; 71,1; 55,6; 51,1 và 57,8 % Trong khi các dòng BV10, BV16 chỉ đạt 40; 33,3 %, duy nhất chỉ có Ktt có tỷ lệ sống khá cao là 75,6 % Như vậy, qua biến động về tỷ lệ sống cho thấy các dòng K82, K24 có khả năng thích ứng cao hơn so với các giống đối chứng BV10, BV16 và Ktt Một trong những nguyên nhân dẫn tới biên độ biến động lớn về tỷ lệ sống giữa các dòng trong khu khảo nghiệm tại Đông Triều, Quảng Ninh là do tác động của các điều kiện ngoại cảnh như: bảo vệ chưa được nghiêm ngặt nên vẫn còn tình trạng chăn thả gia súc trong khu khảo nghiệm làm tổn thương lớn cho cây, nhiều cây bị gãy ngang thân, chết
do bị dẫm đạp, đồng thời do tác động của điều kiện khí hậu không thuận lợi,
do thường chịu ảnh hưởng của các đợt rét đậm rét hại kéo dài, đã ảnh hưởng lớn đến tỷ lệ sống của nhiều dòng tham gia khảo nghiệm
Trang 32Bảng 3.1 Sinh trưởng Keo lai tự nhiên mới tại Đông Triều, Quảng Ninh
(trồng tháng 8/2009, đo tháng 9/2011)
TL.sống (%)
Trang 33Kết quả tổng hợp tại bảng (3.1) cho thấy ở giai đoạn 2 năm tuổi sinh trưởng chiều cao thân cây, sinh trưởng đường kính ngang ngực và sinh trưởng thể tích thân cây giữa các dòng Keo lai tự nhiên mới với các giống đối chứng BV10, BV16, Ktt có sự khác nhau rõ rệt (Sig <0,001) Ở giai đoạn 2 tuổi sinh trưởng BV10 có chiều cao và thể tích thân cây lớn nhất là 9,27 dm3/cây Tiếp theo sau là các dòng Keo lai mới chọn K85, K66, K82
có chiều cao và thể tích thân cây lớn lần lượt 7,61; 7,56; 7,37 dm3/cây, trong khi đó BV16 chỉ 6,79 dm3/cây Các dòng K63, K84, K83, K15, K79
và K11, sinh trưởng thể tích lần lượt 5,87; 5,09; 5,01; 4,66; 4,56; 4,45; 22,93 và 22,78 dm3/cây, trong khi đó sinh trưởng các dòng đối chứng Ktt, chỉ đạt 4,19 dm3/cây, còn dòng K56, K53 là những dòng có chỉ tiêu sinh trưởng về thể tích thân cây thấp nhất, chỉ đạt 1,92; 1,59 dm3/cây Như vậy
ở giai đoạn 2 tuổi dòng sinh trưởng tốt nhất là BV10, nhưng hơn các dòng Keo lai mới chọn K85, K66, K82 không đáng kể Đây được coi là các dòng có triển vọng lớn tại khu khảo nghiệm tại Đông Triều, Quảng Ninh ở giai đoạn 2 tuổi
b) Chất lượng thân cây Keo lai tự nhiên mới ở giai đoạn 2 tuổi
Các chỉ tiêu chất lượng thân cây như Hdc, Dtt, Dnc là các chỉ tiêu có rất nhiều ý nghĩa trong chọn giống cây rừng Chất lượng hình thái thân cây không chỉ ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng của cây mà còn ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng sản phẩm Ngành công nghiệp chế biến gỗ phát triển đã rất quan tâm tới các chỉ tiêu chất lượng thân cây, đặc biệt là chỉ tiêu
Hdc và Đtt các cây chất lượng tốt, không chỉ dễ dàng trong gia công chế biến
mà còn có khả năng tận thu cao, phân chia ra được nhiều loại gỗ khác nhau