1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Một số dẫn liệu về côn trùng nước tại suối tây thiên độ cao từ 178 351m thuộc xã đại đình, huyện tam đảo, tỉnh vĩnh phúc

69 260 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 2,21 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Số lượng các taxon thuộc các bậc phân loại của côn trùng nước tại khu vực nghiên cứu .... Vì vậy hiện nay, một trong những hướng nghiên cứu quan trọng về nhóm côn trùng nước là dùng đối

Trang 2

Đồng thời, qua đây tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến các thầy giáo, cô giáo, các anh chị và các bạn đồng môn trong tổ Động vật, Khoa Sinh - Kỹ thuật nông nghiệp, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, những người đã truyền đạt kiến thức và tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong thời gian thực hiện khóa luận

Cuối cùng, tôi xin được gửi lời cảm ơn tới gia đình và bạn bè đã động viên và là chỗ dựa vững chắc cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu khoa học

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 15 tháng 4 năm 2017

Sinh viên

Nguyễn Thị Dương

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nghiên cứu, các số liệu trình bày trong khóa luận là do nghiên cứu, thực tiễn đảm bảo tính trung thực và chưa được công bố trong bất cứ công trình khoa học, trong các tạp chí chuyên ngành và các hội thảo khoa học, sách chuyên khảo,… nào khác

Hà Nội, ngày 15 tháng 4 năm 2017

Sinh viên

Nguyễn Thị Dương

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 2

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Khái quát tình hình nghiên cứu côn trùng nước trên thế giới 3

1.2 Khái quát tình hình nghiên cứu côn trùng nước ở Việt Nam 10

1.3 Một số đặc điểm tự nhiên của xã Đại Đình, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc 14

1.3.1 Vị trí địa lí 14

1.3.2 Khí hậu 14

1.3.3 Mạng lưới thủy văn 15

CHƯƠNG 2 THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17

2.1 Thời gian nghiên cứu 17

2.2 Địa điểm nghiên cứu 17

2.3 Đối tượng và phương phápnghiên cứu 19

2.3.1 Đối tượng nghiên cứu 19

2.3.2 Phương pháp nghiên cứu 19

2.3.3 Chỉ số đa dạng sinh học và chỉ số tương đồng 20

2.3.4 Phương pháp xử lý số liệu 22

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 23

3.1 Thành phần loài côn trùng nước tại khu vực nghiên cứu 23

3.1.1 Thành phần loài Phù du (Ephemeroptera) 30

3.1.2 Thành phần loài Chuồn chuồn (Odonata) 31

Trang 5

3.1.3 Thành phần loài Cánh úp (Plecoptera) 32

3.1.4 Thành phần loài Cánh nửa (Hemiptera) 32

3.1.5 Thành phần loài Cánh cứng (Coleoptera) 32

3.1.6 Thành phần loài Cánh rộng (Megaloptera) 33

3.1.7 Thành phần loài Hai cánh (Diptera) 33

3.1.8 Thành phần loài Cánh lông (Trichoptera) 33

3.1.9 Thành phần loài Cánh vảy (Lepidoptera) 34

3.2 So sánh số lượng và mức độ tương đồng thành phần loài giữa các điểm nghiên cứu 34

3.2.1 So sánh số lượng loài giữa các điểm nghiên cứu 34

3.2.2 Mức độ tương đồng về thành phần loài giữa các điểm nghiên cứu 37

3.3 Một số đặc điểm quần xã côn trùng nước tại khu vực nghiên cứu 40

3.3.1 Mật độ côn trùng nước tại khu vực nghiên cứu 40

3.3.2 Loài ưu thế và chỉ số đa dạng 42

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 44

TÀI LIỆU THAM KHẢO 46 PHỤ LỤC

Trang 6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

A1: Điểm thu mẫu 1 A2: Điểm thu mẫu 2 A3: Điểm thu mẫu 3 A4: Điểm thu mẫu 4 A5: Điểm thu mẫu 5

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1 Số lượng các taxon thuộc các bậc phân loại của côn trùng

nước tại khu vực nghiên cứu 23 Bảng 3.2 Thành phần loài côn trùng nước tại khu vực nghiên cứu 25 Bảng 3.3 Số loài thu được của các bộ côn trùng nướcở các điểm nghiên

cứu 35 Bảng 3.4 Chỉ số Jacca - Sorensen giữa các điểm nghiên cứu 38 Bảng 3.5 Số lượng cá thể của các bộ côn trùng nước tại khu vực nghiên

cứu(trên đơn vị diện tích 1,5m2

) 40 Bảng 3.6 Loài ưu thế, chỉ số loài ưu thế (DI) và chỉ số đa dạng sinh học

Shannon - Weiner (H’) 42

Trang 8

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 2.1 Sơ đồ vị trí các điểm thu mẫu tại suối Tây Thiên 17

Hình 3.1 Tỷ lệ % số loài theo bộ tại khu vực nghiên cứu 24

Hình 3.2 Số loài của mỗi bộ côn trùng nướcở các điểm nghiên cứu 35

Hình 3.3 Sơ đồ tương đồng thành phần loài giữa các điểm nghiên cứu 38

Hình 3.4 Sơ đồ MDS về mức độ tương đồngtại khu vực nghiên cứu 39

Hình 3.5 Số cá thể của mỗi bộ côn trùng nước tại khu vực nghiên cứu 41

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Côn trùng ở nước giữ vai trò quan trọng trong hệ sinh thái nước ngọt và

có mặt hầu hết trong các thủy vực nội địa, đặc biệt rất phổ biến ở các hệ thống sông, suối thuộc vùng trung du, núi cao Mỗi một môi trường thủy vực, nhóm sinh vật này đều có những đặc tính thích nghi phù hợp So với nhiều nhóm sinh vật khác, côn trùng nước có nhiều đặc tính nổi trội như số lượng loài, số lượng cá thể lớn… Đặc biệt chúng là những mắt xích không thể thiếu trong chuỗi và lưới thức ăn: vừa là những sinh vật tiêu thụ bậc 1, bậc 2 vừa là nguồn thức ăn của của cá và nhiều loài động vật có xương sống khác Vì vậy chúng tham gia tích cực trong vai trò cân bằng mối quan hệ dinh dưỡng ở hệ sinh thái thủy vực

Nhiều loài côn trùng nước có quan hệ mật thiết đối với con người Một

số loài côn trùng nước gây hại là tác nhân truyền bệnh, tác nhân gây bệnh Đáng chú ý là những nhóm giữ vai trò quan trọng trong dịch tễ học như các

loài thuộc giống Anopheles, Aedes thuộc bộ Hai cánh (Diptera)… Giai đoạn

trưởng thành của các chúng là những vector truyền bệnh sốt rét, sốt vàng da cho người Khác với nhóm côn trùng trên cạn, phần lớn các loài thuộc côn trùng nước tồn tại cả trong môi trường nước và trong môi trường cạn Do vậy, chúng là đối tượng lý tưởng dùng trong các nghiên cứu về sinh thái học và sinh học tiến hóa Đa phần các loài Côn trùng nước đều nhạy cảm với các biến đổi của môi trường nước Vì vậy hiện nay, một trong những hướng nghiên cứu quan trọng về nhóm côn trùng nước là dùng đối tượng này làm chỉ thị chất lượng môi trường

Trên thế giới đã có rất nhiều thành tựu nghiên cứu trên đối tượng côn trùng nước, từ việc phân loại cho đến những nghiên cứu về tập tính, sinh thái, sinh sản, di truyền, tiến hóa … Ở Việt Nam, trong những năm gần đây côn

Trang 10

trùng nước cũng đã được quan tâm nghiên cứu Xã Đại Đình, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc là nơi có hệ thống sông, suối phong phú, tiềm ẩn tính đa dạng côn trùng nước cao Tuy nhiên, việc nghiên cứu về nhóm sinh vật này vẫn chưa được quan tâm nhiều Để góp phần tìm hiểu nhóm sinh vật có ý

nghĩa này, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Một số dẫn liệu về côn

trùng nước tại suối Tây Thiên độ cao từ 178 - 351m thuộc xã Đại Đình, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc”

Trang 11

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Khái quát tình hình nghiên cứu côn trùng nước trên thế giới

Côn trùng nước đã được quan tâm nghiên cứu từ rất lâu trên thế giới, đặc biệt ở những nước phát triển Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến từng bộ của nhóm côn trùng này, từ những nghiên cứu về phân loại học (Eaton, 1871, 1883 - 1888; Lepneva, 1970, 1971; McCafferty, 1973, 1975; Kawai, 1961, 1963), sinh thái học (Brittain, 1982), tiến hoá (Edmunds, 1972; McCafferty, 1991) đến những nghiên cứu về ứng dụng (Morse, 1984) [16] Đặc biệt đã có nhiều nghiên cứu về các nhóm côn trùng nước gắn bó chặt chẽ với đời sống con người mà đa phần là tác nhân gây bệnh hoặc tác nhân truyền bệnh cho người và động vật như: ruồi, muỗi,… Điển hình là các nghiên cứu của Resh và Rosenberg, 1979; Merritt và Cummins, 1984; Merritt

và Newson, 1978; Kim và Merritt, 1987 [16]

Việc nghiên cứu sử dụng côn trùng nước làm sinh vật chỉ thị chất lượng nước đã được bắt đầu từ những năm 60 của thế kỷ XX qua các công trình nghiên cứu của Kuehne (1962), Bartsch và Ingram (1966), Wilhm và Dorris (1968) Sang những năm 1970, 1980 côn trùng nước trở thành vấn đề trung tâm trong các nghiên cứu về sinh thái học ở các thủy vực nước ngọt (Barnes

và Minshall, 1983) [16] Đã từ lâu, các nhà khoa học sớm nhận ra vai trò quan trọng của côn trùng nước trong các hệ sinh thái, do đó phạm vi nghiên cứu côn trùng nước ngày càng được mở rộng, các hướng nghiên cứu không chỉ dừng lại ở việc mô tả, phân loại mà còn đi sâu vào các cơ chế bên trong như: biến động quần thể côn trùng, các mối quan hệ dinh dưỡng, đáp ứng yêu cầu của sinh thái học (Resh và Rosenberg, 1984; Cummins, 1994) [16]

Đến cuối thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI, nhiều nhà khoa học đã công bố hàng loạt các công trình nghiên cứu về côn trùng nước như: McCafferty W.P.,

Trang 12

1983; Kawai T., 1985; John C.M., Yang Lianfang và Tian Lixin, 1994; Yoon, I.B., 1995; Merritt R W và Cummins K W., 1996; … Các nghiên cứu này

đã bổ sung và cung cấp nhiều kiến thức về côn trùng nước bao gồm cả phân loại học, sinh thái học, tiến hóa, ứng dụng

Qua các công trình nghiên cứu, đến nay có thể xác định 9 bộ thuộc nhóm Côn trùng ở nước: Phù du (Ephemeroptera), Chuồn chuồn (Odonata), Cánh lông (Tricoptera), Cánh úp (Plecoptera), Cánh nửa (Hemiptera), Cánh cứng (Coleoptera), Hai cánh (Diptera), Cánh rộng (Megaloptera), Cánh vảy (Lepidoptera)

* Nghiên cứu về Phù du (Ephemeroptera)

Bộ Phù du là côn trùng có cánh cổ sinh tương đối nguyên thủy, thậm chí còn được xem như một trong những tổ tiên của côn trùng Dựa vào những bằng chứng hóa thạch, chúng có thể đã phát sinh vào giai đoạn cuối của kỷ Cacbon và đầu kỷ Pecmơ trong đại Cổ sinh, cách đây khoảng 290 triệu năm [11] Các loài thuộc bộ Phù du được mô tả từ rất sớm Công trình nghiên cứu đầu tiên về phân loại học Phù du là của nhà tự nhiên học nổi tiếng Lineaus (1758) Ông đã mô tả 6 loài Phù du tìm thấy ở châu Âu và xếp chúng vào một

nhóm là Ephemera [19]

Nghiên cứu về Phù du thực sự phát triển mạnh mẽ vào thế kỷ XX, điển hình là các công trình nghiên cứu của Ulmer (1920, 1924, 1925, 1932, 1933), Navás (1920, 1930), Lestage (1921, 1924, 1927, 1930), Needham và cộng sự (1935) [6]

Cho đến nay trên toàn thế giới đã có hơn 3000 loài được mô tả thuộc 42

họ và hơn 400 giống của bộ Phù du Các nghiên cứu về Phù du, đặc biệt là phân loại học vẫn đang phát triển, vẫn còn nhiều loài chưa được mô tả, nhất là

ở các khu vực nhiệt đới [11]

Trang 13

Đối với khu vực châu Á, những nghiên cứu đầu tiên về Phù du được thực hiện bởi các nhà côn trùng học đến từ châu Âu như: Navás (1922, 1925), Lestage (1921, 1924) [21]

Gần đây, các công trình nghiên cứu đề cập đến khả năng sử dụng Phù

du là sinh vật chỉ thị chất lượng môi trường nước vì nhiều loài thuộc bộ Phù

du rất nhạy cảm với sự biến đổi của môi trường như một số công trình của Landa và Soldan (1991), Bufagni (1997) [21]

* Nghiên cứu về Chuồn chuồn (Odonata)

Chuồn chuồn thuộc nhóm côn trùng ăn thịt ngay từ giai đoạn thiếu trùng sống trong nước cho đến giai đoạn trưởng thành Vòng đời của chúng trải qua 3 giai đoạn: trứng, thiếu trùng, con trưởng thành Thiếu trùng thường sống trong nước, chủ yếu ở vùng nhiệt đới hoặc vùng khí hậu ấm, con trưởng thành sống trên cạn Bộ Chuồn chuồn được chia thành 3 phân bộ là: phân bộ Anisozygoptera, phân bộ Zygoptera (Chuồn chuồn kim) và phân bộ Anisoptera (Chuồn chuồn ngô) Phân bộ Anisozygoptera chỉ có 1 giống là

Epiophlebia, giống này có một số loài chỉ phân bố ở độ cao khoảng 2.000m ở

những con suối thuộc Nhật Bản và vùng núi cao Himalaya (Tani & Miyatake, 1979; Kumar & Khanna, 1983) Hai phân bộ còn lại phân bố rộng cả ở nơi nước đứng cũng như nước chảy với số lượng loài vô cùng phong phú [17]

Ngoài các công trình nghiên cứu về phân loại học còn có những công trình nghiên cứu về Sinh học, Sinh thái học và Tập tính sinh học của Corbet (1999), Silsby (2001) [4] Các công trình nghiên cứu này chủ yếu dựa vào giai đoạn trưởng thành Đối với giai đoạn thiếu trùng, Ishida & Ishida (1985) đã xây dựng khóa định loại có kèm theo hình vẽ rõ ràng tới giống ở vùng châu Á [2]

* Nghiên cứu về Cánh úp (Plecoptera)

Hiện nay, trên thế giới bộ Cánh úp được biết khoảng 2.000 loài và là một trong những nhóm côn trùng có các đặc điểm nguyên thủy với nhóm có

Trang 14

cánh hiện nay Hóa thạch của chúng được tìm thấy đầu tiên thuộc kỷ Pecmi,

nó có những đặc điểm khác biệt với Cánh úp hiện đại về số đốt bàn và cánh ở phần ngực (Hynes, 1976) [13]

Để nhận dạng bộ Cánh úp, người ta dựa vào một số đặc điểm: chúng có

3 đốt bàn nhưng chân sau không biến đổi để thích hợp theo kiểu nhảy như một số loài thuộc bộ Cánh thẳng (như dế và châu chấu) Chúng có ăng ten dài dạng chỉ, tơ đuôi khá dài đặc biệt là các thiếu trùng ở nước Hầu hết, cánh của các loài thuộc bộ Cánh úp rất phát triển nhưng đôi khi lại ngắn Các đặc điểm

đó dùng để phân biệt chúng với bộ Cánh màng Ấu trùng bộ Cánh úp trải qua thời gian dài sống ở nước Các thiếu trùng Cánh úp giống con trưởng thành ở nhiều đặc điểm Thiếu trùng luôn có tơ đuôi dài và không bao giờ có tơ đuôi ở giữa Mang nếu có, chỉ tìm thấy ở phần ngực và phần bụng được tạo thành giữa các tơ đuôi Thiếu trùng sống chủ yếu ở nước, có một vài loài sống trong đất ẩm (Harpers và Stewart, 1996) [13]

Morse J C., Yang Lianfang & Tian Lixin (1994); Merritt & Cummins (1996) khi nghiên cứu khu hệ Cánh úp ở Trung Quốc và Bắc Mỹ, các tác giả đã xây dựng khóa định loại tới giống thiếu trùng của bộ này, đó là cơ sở cho việc định loại các loài thuộc bộ Cánh úp ở Trung Quốc và Bắc Mỹ sau này [17]

* Nghiên cứu về Cánh lông (Trichoptera)

Cánh lông là một trong những bộ có số lượng loài phong phú Những nghiên cứu về hệ thống phân loại bậc cao của bộ Cánh lông được thực hiện bởi Ross (1956, 1967) và sau đó tiếp tục được bổ sung và hoàn thiện bởi Morse (1997) [15]

Bộ Cánh lông được nghiên cứu ở Đông Nam Á từ rất sớm bởi Ulmer (1911, 1915, 1925, 1927, 1930, 1932) và Navás (1913, 1917, 1922, 1930, 1932), đặc biệt là Ulmer khi nghiên cứu khu hệ động vật ở Indonesia (1951,

1955, 1957) Ông đã cung cấp những thông tin cơ bản về Cánh lông ở khu

Trang 15

vực nghiên cứu này Cánh lông ở Borneo đã được nghiên cứu khá tỷ mỉ lần đầu bởi Kimmins (1955) Ở Philippin, Banks (1937) là người đầu tiên nghiên cứu khu hệ Cánh lông ở khu vực này Tiếp đến là Ulmer (1955, 1957) nghiên cứu dựa vào giai đoạn ấu trùng Trong khi đó các hướng nghiên cứu khác lại dựa vào giai đoạn trưởng thành Đặc biệt trong giai đoạn gần đây việc nghiên cứu dựa vào giai đoạn trưởng thành lại càng được quan tâm như: Kimmis (1953), Banard (1980, 1984), Oláh (1987-1989), Chantaramongkol (1986,

1989, 1995), Malicky (1970, 1979, 1987, 1989, 1992 - 1998, 2002-2004), Malicky và Chantaramongkol (1989, 1991 - 1994, 1996 - 2000), Mey (1989,

1990, 1995 - 1999, 2001 - 2003), Weavers (1985, 1987, 1989, 1992, 1994), Ismail (1993, 1996), Scheffer (2001), Armitage và Arefina (2003), Klaithong (2003) [15] Ismail (1993, 1996, 1997) cũng tiến hành nghiên cứu trên ấu trùng Cánh lông tại một số nước ở khu vực Đông Nam Á [17]

Ngoài các công trình nghiên cứu ở các nước Đông Nam Á, khu hệ Cánh lông cũng được quan tâm nghiên cứu ở các quốc gia khác như: Ấn Độ, Srilanka được nghiên cứu bởi Martynov (1935, 1936), Trung Quốc (Martynov, 1931; Wang, 1963), Nhật Bản (Iwata, 1927; Tanida, 1987) Trong giai đoạn hiện nay, hướng nghiên cứu đánh giá chất lượng nước dựa trên đối tượng là các loài thuộc nhóm côn trùng này được nhiều nhà khoa học quan tâm tìm hiểu Do đó, các công trình liên quan đến giai đoạn ấu trùng xuất hiện ngày càng đồ sộ như nghiên cứu của Wiggins (1996) [15] Ở khu vực Bắc

Mỹ, Merritt R W & Cummins K W (1996), đã xây dựng khóa định loại tới giống của bộ Cánh lông ở cả giai đoạn ấu trùng và trưởng thành [16]

* Nghiên cứu về Cánh rộng (Megaloptera)

Bộ Cánh rộng được xem là nhóm côn trùng nguyên thủy trong nhóm côn trùng biến thái hoàn toàn Hiện nay, bộ Cánh rộng có khoảng 300 loài được biết trên thế giới và chia thành hai họ là: Corydalidae và Sialidae Giai

Trang 16

đoạn trưởng thành ở cạn và ăn thịt, thường hoạt động vào ban đêm Tuy nhiên, giai đoạn ấu trùng lại sống dưới nước và ăn thịt các loài động vật [17]

Số lượng loài thuộc họ Sialidae rất phong phú ở các thủy vực nước ngọt như: sông, suối, hồ nơi có nhiều mùn, các mảnh vụn, cát hoặc sỏi nhỏ Chúng trải qua 5 lần lột xác và sống được khoảng 1 năm trong vòng đời của mình Ấu trùng rời khỏi các thủy vực nước ngọt và hóa nhộng Các loài thuộc

họ này lại phân bố rất hẹp Ở châu Á, họ này mới chỉ phân bố ở vùng ôn đới thuộc Hàn Quốc, Nhật Bản và một số nơi ở Trung Quốc (Bank, 1940) [17]

* Nghiên cứu về Cánh cứng (Coleoptera)

Bộ Cánh cứng là bộ lớn nhất trong giới Động vật Hiện nay, số loài thuộc bộ côn trùng này vào khoảng 277.000 đến 350.000 loài và khoảng 10.000 thuộc nhóm côn trùng nước [17] Theo các kết quả nghiên cứu nhóm sống dưới nước được xem là đa dạng nhất ở khu hệ suối vùng nhiệt đới Hiện nay, các công trình nghiên cứu về bộ Cánh cứng tập trung vào phân loại học, sinh thái học, tiến hóa như: các nghiên cứu của Feng (1932, 1933), Gschwendtner (1932), Fernando (1962, 1969), Nertrand (1973), Jach (1984) Heinrich & Balke (1997), Gentuli (1995), Jach & Ji (1995, 1998, 2003) [18] đã cung cấp khá đầy đủ những dẫn liệu về phân loại học của bộ Cánh cứng ở châu Á

Wu và cộng sự đã xác định ở Trung Quốc có 601 loài, Sato (1988) đã định loại được 311 loài ở Nhật Bản, Britton (1970) xác định ở Úc có khoảng 510 loài và White (1984) đã phân loại được 1.143 loài ở khu vực Bắc Mỹ thuộc bộ

Cánh cứng [17]

* Nghiên cứu về Hai cánh (Diptera)

Các nghiên cứu về bộ Hai cánh đã được rất nhiều các nhà khoa học công bố, đặc biệt là các công trình nghiên cứu của Alexander (1931), Mayer (1934), Zwich & Hortle (1989) Đối với khu vực châu Á, Delfinado & Hardy

Trang 17

(1973, 1975, 1977) đã tổng hợp một danh lục khá đầy đủ về thành phần loài của

bộ Hai cánh ở miền Ấn Độ - Mã Lai Khóa định loại tới họ và giống hiện nay

chủ yếu thực hiện theo khóa định loại được xây dựng bởi Harris (1990) [17]

* Nghiên cứu về Cánh nửa (Hemiptera)

Hiện nay, trên thế giới đã xác định được trên 4.000 loài thuộc bộ Cánh nửa sống ở nước (Dudgeon, 1999) Trong đó, khu vực châu Á có số lượng loài chiếm ưu thế, đặc biệt có rất nhiều giống đặc hữu, thậm chí có cả những phân họ đặc hữu ở khu vực này (Andersen, 1982; Spence & Andersen, 1994) [18]

Các công trình nghiên cứu về bộ Cánh nửa ở châu Á được bắt đầu khá sớm bằng các nghiên cứu của Lundblad (1933), La Rivers (1970), Lansbury (1972, 1973) [17] Các họ trong bộ này cũng được nghiên cứu khá tỷ mỷ như: Nepidae được nghiên cứu bởi Keffer (1990), Naucoridae là họ rất đa dạng ở vùng nhiệt đới châu Á đã được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu như Nieser

& Chen (1991, 1992), Sites và cộng sự (1997) [18] Merritt & Cummins (1996), Morse & cộng sự (1994) đã xây dựng khóa định loại tới giống của các

họ thuộc bộ Cánh nửa ở khu vực Bắc Mỹ và Trung Quốc [16] [17]

Bộ Cánh nửa bao gồm 3 phân bộ: Gerromorpha, Nepomorpha và Leptopodomorpha Phân bộ Gerromorpha gồm hầu hết những cơ thể côn trùng sống trên bề mặt của nước Trong phân bộ này, có hai họ lớn là Velliidae (trên thế giới có khoảng 850 loài) và họ Gerridae (khoảng 700 loài) (Chen và cộng sự, 2005) Theo Bendell (1988), Damgaard & Andersen (1996) các loài trong họ Gerridae được xem như những sinh vật chỉ thị cho chất lượng môi trường nước [27]

* Nghiên cứu về Cánh vảy (Lepidoptera)

Trong bộ Cánh vảy chỉ có một số loài thuộc họ Pyralidae, Pyraustidae

và Crambidae sống ở nước Ở châu Á, các nghiên cứu về Lepidoptera chủ yếu

là về phân loại học trong đó có các nghiên cứu của Rose & Pajni (1987),

Trang 18

Habeck & Solis (1994) và Munroe (1995) [16] Trong các nghiên cứu này, các tác giả cũng đã thành lập khóa định loại cụ thể tới loài

1.2 Khái quát tình hình nghiên cứu côn trùng nước ở Việt Nam

* Nghiên cứu về Phù du (Ephemeroptera)

Ở Việt Nam, trong những năm đầu của thế kỷ 20, các mô tả về Ephemeroptera cũng được đề cập và quan tâm nghiên cứu Mở đầu cho những nghiên cứu về Ephemeroptera ở Việt Nam, nhà côn trùng học Lestage (1921, 1924), đã mô tả một loài mới của bộ Phù du cho khoa học, dựa vào mẫu vật

được lưu giữ ở bảo tàng Paris Ông đặt tên loài là Ephemeraduporti, do các

loài thuộc giống Ephemera có kích thước lớn, phân bố khá rộng và dễ thu thập nên nó được tiếp tục nghiên cứu ở giai đoạn này Sau đó, Navas (1922,

1925) đã công bố hai loài Ephemera longiventris và Ephemera innotata, cũng

dựa trên các mẫu vật thu được ở miền Bắc Việt Nam Cho đến nay, hai loài này cũng chưa tìm thấy ở các khu vực phân bố khác, nên có thể xem chúng như là loài đặc hữu cho khu hệ Ephemeroptera ở Việt Nam

Nguyễn Xuân Quýnh và cộng sự (2001), khi xây dựng khoá định loại các nhóm động vật không xương sống nước ngọt thường gặp ở Việt Nam đã đưa ra khoá định loại tới họ ấu trùng Phù du [5]

Nguyen Van Vinh and Yeon Jae Bae (2001, 2003, 2004, 2005, 2006,

2007, 2008) ở một số Vườn Quốc gia của Việt Nam Những nghiên cứu này,

đã công bố hàng loạt các kết quả về các loài Ephemeroptera ở Việt Nam, và

đã bổ sung danh sách thành phần loài, mô tả các loài mới, cũng như xây dựng các khóa định loại tới loài [19] [20] [22] [23] [24] [25] [26]

Nguyễn Văn Vịnh (2003), đã xác định được 102 loài thuộc 50 giống và

14 họ Phù du ở Việt Nam Trong nghiên cứu này, tác giả đã xây dựng khóa định loại và mô tả đặc điểm hình dạng ngoài của các loài thuộc bộ Phù du ở

Trang 19

Việt Nam, nghiên cứu này là cơ sở để phục vụ cho các hướng nghiên cứu tiếp theo về bộ Phù du ở nước ta [20]

Nguyễn Văn Vịnh (2004), khi nghiên cứu về Phù du ở Vườn Quốc gia Tam Đảo đã xác định được 32 loài thuộc 24 giống và 8 họ Trong đó, có 10 loài lần đầu tiên ghi nhận cho Vườn Quốc gia Tam Đảo, Vĩnh Phúc, đó là:

Platybaetis edmundsi Muller - Liebenau, 1980; Baetiellatrispinata Tong and

Dudgeon, 2000; Serratella albostriata Tong and Dudgeon, 2000; Torleya

arenosa Tong and Dudgeon, 2000; Cincticostella boja Allen, 1975; Ephemera serica Eaton, 1871; Choroterpes trifrucata Ulmer, 1939; Habrophlebiodes prominens Ulmer, 1939; Caenis cornigera Kang and Yang,

1994; Isonychia formosana Ulmer, 1912 [7] Ngoài việc phân loại các loài

thuộc bộ côn trùng này, tác giả còn nhận xét về sự phân bố của chúng theo độ cao của suối Thác Bạc

Nguyễn Văn Vịnh (2005), khi nghiên cứu về Phù du ở Vườn Quốc gia

Ba Vì, Hà Tây đã thu được 27 loài thuộc 22 giống và 9 họ Trong đó có một

loài ghi nhận lần đầu tiên cho khu vực là Teloganodes tristis (Hagen, 1858)

[8] Trong khoảng thời gian này, tác giả cũng tiến hành điều tra thành phần loài Phù du ở một số Vườn Quốc gia khác ở Việt Nam [9] [10]

* Nghiên cứu về Chuồn chuồn (Odonata)

Nghiên cứu về khu hệ thiếu trùng Chuồn chuồn ở Việt Nam còn tản mạn và chưa thành hệ thống Chủ yếu các nghiên cứu tập trung vào giai đoạn trưởng thành Bộ Chuồn chuồn ở Việt Nam được nghiên cứu lần đầu tiên vào những năm đầu thập niên 90 của thế kỷ XX dưới thời Pháp thuộc bởi một số nhà nghiên cứu người Pháp: Martin trong báo cáo được công bố năm 1902 khi điều tra khu hệ động vật Đông Dương Trong báo cáo này, ông công bố

139 loài thuộc 3 họ: Libellulidae, Aeshnidae và Agrionidae Trong 139 loài,

Martin đã mô tả 9 loài mới và một giống mới là Merogomphus [2]

Trang 20

Nguyễn Xuân Quýnh và cộng sự (2001), khi xây dựng khóa định loại các nhóm động vật không xương sống nước ngọt thường gặp ở Việt Nam đã xây dựng khóa định loại tới họ của bộ Chuồn chuồn [5]

Nguyễn Văn Vịnh và cộng sự (2001), trong nghiên cứu khu hệ côn trùng nước ở Vườn Quốc gia Tam Đảo đã xác định được 26 loài thuộc 12 họ của bộ Chuồn chuồn ở khu vực này Tuy nhiên, do những nghiên cứu về phân loại thiếu trùng chuồn chuồn ở Việt Nam còn ít Do đó, những mẫu vật thu được mới chỉ phân loại đến bậc giống [1]

* Nghiên cứu về Cánh úp (Plecoptera)

Ở Việt Nam, những nghiên cứu về bộ Cánh úp đã được quan tâm nghiên cứu trong thơi gian gần đây Một vài loài đã được mô tả bởi Kawai (1968, 1969), Zwick (1988), Stark và cộng sự (1999) [13], nhưng tất cả các mẫu vật đều ở giai đoạn trưởng thành Mục đích của những nghiên cứu là nhằm xác định lại và mô tả một số loài mới thuộc bộ Cánh úp dựa trên những nghiên cứu trước đó và những điều tra về sau của cả giai đoạn trưởng thành

và ấu trùng được thu thập ở Việt Nam Thêm vào đó là việc xác định khóa định loại tới loài của bộ Cánh úp ở cả giai đoạn trưởng thành và ấu trùng ở Việt Nam cũng như sinh thái, nơi ở của chúng Cao Thị Kim Thu (2002), đã xây dựng khóa định loại tới loài Cánh úp ở Việt Nam Công trình là cơ sở khoa học cho các nghiên cứu về bộ Cánh úp ở nước ta [13]

Nguyễn Văn Vịnh và cộng sự (2001), khi nghiên cứu về nhóm côn trùng nước ở Vườn Quốc gia Tam Đảo đã tiến định loại các loài thuộc bộ Cánh úp Kết quả cho thấy số loài Cánh úp ở Vườn Quốc gia Tam Đảo là 12 loài thuộc 3 họ [7]

* Nghiên cứu về Cánh lông (Trichoptera)

Ở Việt Nam, bộ Cánh lông được nghiên cứu từ rất sớm Những tài liệu

về Cánh lông đã được xuất bản bởi các nhà phân loại học đến từ các nước

Trang 21

châu Âu như: Đức (Ulmer, 1907), Tây Ban Nha (Navás, 1913) Sau những

nghiên cứu đầu tiên của Ulmer về 2 loài Hydromanicus buenningi và

Paraphlegopteryx tonkinensis, ông đã đặt nền móng cho việc nghiên cứu về

Cánh lông ở Việt Nam Tiếp theo, Navás (1913, 1917, 1921, 1922, 1930,

1932, 1933) đã mô tả một số loài thuộc các tổng họ của Hydropsychoidae, Philopotamoidae (Stenopsychidae), Leptoceroidae, Limnephiloidae và Rhyacophiloidae Banks (1931) và Mosely (1934) [12] nghiên cứu về Hydropsychoidae, Limnephiloidae và Rhyacopphiloidae Oláh (1987 - 1989) mô

tả các loài thuộc Glossosomatoidae, Hydroptiloidae và Rhyacophiloidae [15]

Nguyễn Xuân Quýnh, Clive Pinder, Steve Tilling (2001), đã xây dựng khóa định loại tới họ của bộ Cánh lông thường gặp ở nước ta Hoàng Đức Huy (2005) mô tả đặc điểm hình dạng, cấu tạo ngoài của các loài Cánh lông ở Việt Nam dựa vào giai đoạn ấu trùng [5]

* Nghiên cứu về Cánh cứng, Hai cánh, Cánh nửa, Cánh vảy và Cánh rộng

Ở nước ta, các công trình nghiên cứu về bộ Cánh cứng (Coleoptera), Hai cánh (Diptera), bộ Cánh vảy (Lepidoptera) và bộ Cánh rộng (Megaloptera) còn tản mạn Các nghiên cứu thường không tập trung vào một

bộ cụ thể mà thường đi cùng với các công trình nghiên cứu về khu hệ côn trùng nước nói chung như: Nguyễn Văn Vịnh (2001) nghiên cứu ở Vườn Quốc gia Tam Đảo [19]; Cao Thị Kim Thu, Nguyễn Văn Vịnh và Yeon Jae Bae (2008) nghiên cứu ở Vườn Quốc gia Bạch Mã [14], Nguyễn Xuân Quýnh

và cộng sự (2001) khi định loại các nhóm động vật không xương sống nước ngọt thường gặp ở Việt Nam [5]

Những nghiên cứu đầu tiên về khu hệ Cánh nửa ở Việt Nam được bắt đầu vào những năm đầu của thế kỷ XX Loài đầu tiên thuộc họ Gerridae

(Hemiptera) được mô tả ở Việt Nam là Ptilomera hylactor Breddin, 1903

Trang 22

thuộc Bắc Việt Nam Tiếp theo, khu hệ Gerridae ở Việt Nam tiếp tục được

mô tả bởi Andersen (1975, 1980, 1993); Andersen & Cheng (2004); Polhemus (2001); Chen & Zettel (1999), Polhemus & Andersen (1994); Polhemus & Karunaratne (1993) [27]

Trần Anh Đức (2008), mô tả khá đầy đủ và chi tiết hình dạng ngoài của các loài thuộc họ Gerridae ở Việt Nam Đây là cơ sở khoa học cho các nghiên cứu về bộ Cánh nửa ở nước ta [27]

1.3 Một số đặc điểm tự nhiên của xã Đại Đình, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc

tế, văn hóa - xã hội

1.3.2 Khí hậu

Khu vực nghiên cứu nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới mưa mùa (mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau), chịu ảnh hưởng của hai loại gió chính là gió mùa Đông - Bắc và gió Đông - Nam

Nhiệt độ không khí trung bình năm là 22 - 230C, độ ẩm tương đối trung bình khoảng 85 - 860C, lượng mưa trung bình quân năm 2570mm, phân bố không đều trong năm

Tam Đảo nằm trong vùng Trung du và miền núi phía Bắc nên chịu ảnh hưởng của chế độ nhiệt đới gió mùa ẩm Mưa bão có sự tác động tiêu cực đến

Trang 23

sản xuất và đời sống Chế độ gió theo mùa, mùa hè chủ đạo là gió Đông Nam, mùa đông chủ đạo là gió mùa Đông Bắc

1.3.3 Mạng lưới thủy văn

Đại Đình có hai hệ thống sông chính là sông Phó Đáy ở phía Tây (Tuyên Quang, Vĩnh Phúc) và sông Công ở phía Đông (Thái Nguyên) Đường phân thủy rõ rệt nhất của hai hệ thống sông này là các đường dông nối các đỉnh núi suốt từ Mỹ Khê ở cực Nam đến Đèo Khế ở điểm cực Bắc

Mật độ sông suối khá dày (trên 2 km/km2), các suối có thung lũng hẹp, đáy nhiều ghềnh thác, độ dốc lớn, khả năng điều tiết nước kém Do đặc điểm khí hậu mưa lớn, mùa mưa kéo dài, lượng bốc hơi ít nên cán cân nước dư thừa Đó là nguyên nhân làm các dòng chảy từ đỉnh Tây Thiên xuống có nước quanh năm

Chế độ thủy văn được chia thành 2 mùa khá rõ rệt: mùa lũ và mùa khô Mùa lũ trùng với mùa mưa (từ tháng 4 đến tháng 10), mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau Lũ lớn thường xảy ra vào tháng 8, lũ tập trung nhanh và rút cũng nhanh

Dòng chảy trong mùa khô do không có mưa to nên nguồn nước cung cấp cho sông chủ yếu là do nước ngầm (phụ thuộc vào lớp vỏ phong hóa địa chất

và lượng mưa phùn mùa đông) Do đó, cả hai sông: Phó Đáy và sông Công đều có dòng chảy rất nhỏ Như vậy, khả năng cung cấp nước cho mùa đông là rất hạn chế Trong vùng cũng có những hồ chứa cỡ lớn như: hồ Núi Cốc, hồ Đại Lải; các hồ cỡ trung bình hoặc nhỏ như: hồ Xạ Hương, Khôi Kỳ, Phú Xuyên, Linh Lai… Đó là nguồn dự trữ nước khá phong phú phục vụ nhu cầu dân sinh và sản xuất của nhân dân trong vùng Hệ thống suối chính ở Tây Thiên là suối Tây Thiên Suối có nhiệt độ nước tương đối thấp, ít khi tăng cao

và có xu hướng ổn định Do đặc điểm địa hình chảy từ độ dốc trên 35m nên

có tốc độ nước chảy mạnh, cuốn theo các chất mùn bã Vì vậy suối ở đây khá

Trang 24

trong, hầu như không có hiện tượng lắng đọng Nền đáy suối chủ yếu là đá tảng, ít chất mùn Vào mùa mưa lưu lượng dòng nước khá lớn thường cuốn theo mùn bã thực vật, xác động vật, lá khô… Do đó mùa này, nước suối thường vẩn đục Trong khi đó vào mùa khô dòng nước chảy từ các mạch nước ngầm với tốc độ chậm hơn nhiều

Trang 25

CHƯƠNG 2 THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Thời gian nghiên cứu

Đề tài được thực hiện từ tháng 8/2016 đến tháng 4/2017 Mẫu vật sử dụng trong nghiên cứu được thực hiện từ ngày 25 - 28/8/2016 Các điểm điều tra thuộc khu vực suối Tây Thiên, tỉnh Vĩnh Phúc

Toàn bộ mẫu vật thu ngoài tự nhiên được bảo quản và lưu trữ tại phòng thí nghiệm Động vật, Khoa Sinh - Kỹ thuật nông nghiệp, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2

2.2 Địa điểm nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành ở 5 điểm khác nhau, được ký hiệu từ A1 đến A5 Các điểm nghiên cứu được sắp xếp theo độ cao tăng dần so với mực nước biển (Hình 2.1)

Hình 2.1 Sơ đồ vị trí các điểm thu mẫu tại suối Tây Thiên

Trang 26

Trước khi tiến hành thu mẫu, chúng tôi ghi lại một số đặc điểm sinh cảnh chính của các điểm thu mẫu:

Điểm 1 (ký hiệu A1): tọa độ vĩ độ Bắc (N): 21023,403’, kinh độ Đông (E): 105015,922’, độ cao 178m, một bên suối là đường đi lên đền Thượng Tây Thiên Hai bên suối có nhiều nứa và các loài thực vật khác Trong suối đôi khi

có những cây bụi nhỏ Nền đáy của suối chủ yếu là đá tảng lớn, nước chảy mạnh đôi khi tạo thành những vùng nước tĩnh.Trong suối thình thoảng có đá

và sỏi nhỏ Thời tiết âm u thình thoảng có nắng to Độ che phủ 0 - 10%

Điểm 2 (ký hiệu A2): tọa độ vĩ độ Bắc (N): 21028,437’, kinh độ Đông (E): 105036,625’, độ cao 190m, suối có kích thước nhỏ, hai bên suối là rừng nứa Nền đáy của suối chủ yếu là đá trung bình, đôi khi có cát và sỏi nhỏ, thỉnh thoảng có những đá tảng nhiều rêu bám vào đá Độ sâu của suối: 10 - 30cm

Điểm 3 (ký hiệu A3): tọa độ vĩ độ Bắc (N): 21028,437’, kinh độ Đông (E): 105036,236’, độ cao 215m, điểm thu mẫu là Thác Bạc là điểm du lịch của địa phương, nước suối chảy tương đối mạnh Độ sâu của suối 10 - 50cm Nền đáy của suối chủ yếu là đá tảng, suối ít mùn bã thực vật Thỉnh thoảng có đá nhỏ Độ che phủ của suối khoảng 40 - 60% Sinh cảnh hai bên suối là rừng nguyên sinh

Điểm 4 (ký hiệu A4): tọa độ vĩ độ Bắc (N): 21028,510’, kinh độ Đông (E): 105036,212’, độ cao 257m, nền đáy là đá tảng lớn đôi khi có sỏi nhỏ và

đá trung bình Hai bên suối là rừng nguyên sinh Độ sâu của suối tương đối lớn Suối là điểm du lịch của địa phương Độ che phủ 5 - 10%

Điểm 5 (ký hiệu A5): tọa độ vĩ độ Bắc (N): 21028,595’, kinh độ Đông (E): 105036,483’, độ cao 351m, nền đáy của suối chủ yếu là đá tảng lớn, thỉnh thoảng có cát và sỏi nhỏ Nước chảy chậm, nước suối tương đối trong Trong suối có nhiều mùn bã thực vật Cuối điểm thu mẫu là đường đi lên đền

Trang 27

Thượng Hai bên suối là rừng nguyên sinh Độ che phủ lớn: 70 - 80% Trong lòng suối đôi khi có một số loài thực vật sinh sống

2.3 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Đối tượng nghiên cứu

Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng mẫu côn trùng nước thu được tại suối Tây Thiên, mẫu này được bảo quản và lưu trữ tại phòng Động vật,

Khoa Sinh - Kỹ thuật nông nghiệp, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2

2.3.2 Phương pháp nghiên cứu

* Phương pháp nghiên cứu ngoài tự nhiên

Theo phương pháp của Merritt và Cummins [16], Morse và cộng sự [17], Nguyen [21], quá trình thu mẫu định tính bằng vợt ao (Pond net) và vợt cầm tay (Hand net) Thu mẫu định lượng bằng cách sử dụng lưới Surber (50cm x 50cm, kích thước mắt lưới 0,2mm) Chúng tôi tiến hành thu mẫu bằng cách: đặt miệng vợt ngược dòng nước, dùng chân đạp phía trước vợt trong vòng vài phút (thu mẫu đạp nước) Ở nơi có nhiều bụi cây dùng vợt tay

để thu mẫu Ở những nơi đáy có đá lớn không thu mẫu đạp nước được thì nhấc đá và thu mẫu bám ở dưới bằng panh mềm để tránh làm nát mẫu Thu mẫu định tính được thực hiện ở cả nơi nước chảy và nước đứng Ở nhiều nơi

có cây bụi thủy sinh dùng vợt sục vào các cây bụi đó và các rễ cây ven bờ suối, ở những vùng nước nhỏ hoặc dòng chảy hẹp việc thu mẫu được tiến hành bằng vợt cầm tay

Đối với mẫu định lượng, sử dụng lưới Surber lấy 2 mẫu: 1 mẫu ở nơi nước đứng và 1 mẫu ở nơi nước chảy Mẫu sau khi thu được loại bỏ rác, làm sạch bùn đất Do các cá thể côn trùng nước có cơ thể mềm, dễ nát nên thu mẫu phải nhẹ nhàng và nhặt qua mẫu ngay tại thực địa Mẫu thu ngoài thực địa được bảo quản trong cồn 800, ghi etiket đầy đủ và đem về lưu trữ, bảo quản, phân tích và định loại tại phòng thí nghiệm Động vật, Khoa Sinh - Kỹ thuật nông nghiệp,Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2

Trang 28

* Phương pháp phân tích mẫu trong phòng thí nghiệm:

Phương pháp nhặt mẫu: mẫu được rửa sạch cho ra khay Dùng panh nhặt các đại diện của ấu trùng và thiếu trùng côn trùng nước ở trong đó, mẫu sau khi nhặt cho vào lọ và bảo quản trong cồn 800

Phương pháp phân tích:

- Dụng cụ phân tích gồm: kính soi nổi, đĩa petri, kim nhọn, panh

- Phân loại mẫu vật: mẫu vật được phân loại theo các khóa định loại được công bố trong và ngoài nước của Nguyễn Văn Vịnh (2003) [21], Cao Thị Kim Thu (2002) [13], Hoàng Đức Huy (2005) [15], Nguyễn Xuân Quýnh

và cộng sự (2001) [8], Meritt R W và Cummins K W (1996) [16], Morse J C., Yang L & Tian L (1994) [17]

2.3.3 Chỉ số đa dạng sinh học và chỉ số tương đồng

Chỉ số Shannon - Weiner (chỉ số H’) nhằm xác định lượng thông tin

hay tổng lượng trật tự (hay bất trật tự) có trong một hệ thống Chỉ số Shannon

- Weiner được tính bằng cách lấy số lượng cá thể của một đơn vị phân loại chia cho tổng số cá thể trong mẫu, sau đó nhân với logarit của tỷ số đó Tổng các đơn vị phân loại cho chỉ số đa dạng Công thức để tính chỉ số này là:

s ' i i

ni: số lượng cá thể của loài i Hai thành phần của sự đa dạng được kết hợp trong hàm Shannon - Weiner là số lượng loài và tính bình quân của sự phân bố các cá thể giữa các loài Do vậy, số lượng loài càng cao thì chỉ số H’ càng lớn và sự phân bố các

cá thể giữa các loài càng ngang bằng nhau thì cũng gia tăng chỉ số đa dạng loài được xác định thông qua hàm số Shannon - Weiner

Trang 29

Từ kết quả tính toán, có thể nhận xét về mức độ đa dạng theo các cấp sau đây [1]:

n1: số lượng cá thể của loài ưu thế thứ nhất n2: số lượng cá thể của loài ưu thế thứ hai

N: tổng số cá thể trong điểm thu mẫu

Chỉ số tương đồng (chỉ số Jacca - Sorensen) được chúng tôi sử dụng

để đánh giá mức độ giống nhau về thành phần loài của các điểm nghiên cứu Chỉ số này được tính theo công thức:

2c K

a b

Trong đó:a: số loài trong điểm thu mẫu thứ nhất

b: số loài trong điểm thu mẫu thứ hai c: số loài chung cho cả hai điểm thu mẫu

K nhận giá trị từ 0 đến 1 Giá trị K càng gần 1 thì mức độ giống nhau

về thành phần loài của các điểm nghiên cứu càng lớn Các giá trị của K tương ứng với mức tương đồng như sau [5]:

0,00 - 0,20: gần nhau rất ít 0,21 - 0,40: gần nhau ít 0,41 - 0,60: gần nhau 0,61 - 0,80: gần nhau nhiều 0,81 - 1,00: rất gần nhau

Trang 30

2.3.4 Phương pháp xử lý số liệu

Số liệu thu thập đƣợc xử lý qua bảng biểu, sơ đồ, đồ thị Các số liệu đƣợc

xử lý bằng phần mềm Microsoft office exel 2007 và phần mềm Primer 6

Trang 31

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 3.1 Thành phần loài côn trùng nước tại khu vực nghiên cứu

Kết quả phân tích mẫu vật thu được tại khu vực nghiên cứu đã xác định được 89 loài thuộc 78 giống của 43 họ của 9 bộ côn trùng nước Kết quả nghiên cứu được trình bày trong bảng 3.1 và hình 3.1

Bảng 3.1 Số lượng các taxon thuộc các bậc phân loại của côn trùng nước

tại khu vực nghiên cứu

Số lượng

Tỷ lệ

%

Số lượng

Tỷ lệ

%

Số lượng Tỷ lệ %

Trang 32

Hình 3.1 Tỷ lệ % số loài theo bộ tại khu vực nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu cho thấy, số lượng loài thu được tại khu vực nghiên cứu giữa các bộ khác nhau rõ rệt Trong 9 bộ côn trùng nước thu được, bộ Phù du thu được số lượng loài nhiều nhất với 27 loài (chiếm 30,4% tổng số loài), tiếp theo là bộ Chuồn chuồn thu được 20 loài (22,5%), bộ Cánh lông thu được 18 loài (20,2%), bộ Cánh cứng thu được 8 loài (9%), bộ Cánh nửa với 6 loài (6,7%), bộ Hai cánh với 5 loài (5,6%), bộ Cánh úp với 3 loài (3,4%), cuối cùng là bộ Cánh rộng và bộ Cánh vảy chỉ thu được duy nhất 1 loài (1,1%) Kết quả nghiên cứu này cũng phù hợp với các kết quả nghiên cứu trước đây của Nguyễn Văn Vịnh và cộng sự (2001), Jung S W (2006), Jung S W và cộng sự (2008) cho rằng ở các thủy vực dạng suối số lượng loài của các bộ Phù du, bộ Chuồn chuồn luôn chiếm ưu thế Cũng so với những kết quả nghiên cứu trên, kết quả nghiên cứu của chúng tôi có sự khác biệt ở số loài thuộc bộ Cánh lông, bộ này có số lượng loài khá lớn so với các loài khác (18 loài), trong khi đó các bộ Cánh rộng, bộ Cánh vảy lại có số lượng loài còn hạn chế Sự khác biệt có thể do thời gian thu mẫu của chúng tôi tại khu vực

Trang 33

nghiên cứu ngắn nên chưa bắt gặp nhiều loài thuộc các bộ này Để làm rõ hơn tính đa dạng của côn trùng nước tại khu vực nghiên cứu, chúng tôi tiến hành phân tích thành phần loài của từng bộ côn trùng nước Kết quả thể hiện ở bảng 3.2

Bảng 3.2 Thành phần loài côn trùng nước tại khu vực nghiên cứu

Trang 34

17 Epeorus tiberius Braasch & Soldán, 1984 + +

(5) Họ Leptophlebiidae

Ngày đăng: 30/08/2017, 14:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w