1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Luận văn khảo sát tiếng việt ở vùng đông bắc thái lan (trên ngữ liệu tiếp xúc việt thái ở uđonthani)

201 259 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 201
Dung lượng 2,8 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo nghiên cứu của Pussadee Chandavimol 171, tr... Giải thích sự khá c biệt của tiếng Viê ̣t ở tỉnh Uđonthani thông qua lý thuyết sự giao thoa ngôn ngữ dựa trên khái n

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC

Ngươ ̀ i hướng dẫn khoa ho ̣c: GS TS LÊ QUANG THIÊM

PGS TS NGUYỄN TƯƠNG LAI

HÀ NỘI – 2010

Trang 2

MỤC LỤC

Trang phu ̣ bìa i

Lời cam đoan ii

Mục lục iii

Quy ước viết tắt và trình bày vii

Danh mục các bảng viii

Danh mu ̣c các hình vẽ xi

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

3 Mục đích của luận án 6

4 Nhiê ̣m vu ̣ của luâ ̣n án 6

5 Đóng góp mới của luâ ̣n án 7

6 Phương pháp nghiên cứu và tư liê ̣u nghiên cứu 7

7 Giả thiết và kết quả có thể đạt được 12

8 Bố cu ̣c của luâ ̣n án 13

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 15

1.0 Dẫn nhập 15

1.1 Quan niệm về cô ̣ng đồng ngôn ngữ và cô ̣ng đồn g ngôn ngữ ở tỉnh Uđonthani 15

1.1.1 Cộng đồng ngôn ngữ tiếng Thái 17

1.1.2 Cộng đồng ngôn ngữ tiếng Viê ̣t 19

1.2 Cộng đồng song ngữ và người song ngữ đối với Viê ̣t kiều ở tỉnh Uđonthani 21

1.2.1 Khái niệm về cộng đồng song ngữ 21

1.2.2 Cộng đồng song ngữ ở tỉnh Uđonthani 23

1.2.3 Khái niệm về người song ngữ 23

1.2.4 Ngườ i song ngữ đối với Viê ̣t kiều ở tỉnh Uđonthani 25

Trang 3

1.3 Phạm vi giao tiếp bằng tiếng Việt của Việt kiều ở tỉnh Uđonthani 26

1.4 Tiếp xú c ngôn ngữ ở tỉnh Uđonthani 31

1.4.1 Khái niệm tiếp xúc ngôn ngữ 31

1.4.2 Tiếp xú c ngôn ngữ giữa tiếng Viê ̣t và tiếng Thái ở tỉnh Uđonthani 33

1.5 Sự giao thoa do tiếp xúc ngôn ngữ 35

1.5.1 Khái niệm sự giao thoa 35

1.5.2 Nét khu biệt giữa hiện tượng giao thoa, sự chuyển mã, sự trô ̣n mã và sự vay mượn 39

1.5.3 Hiện tươ ̣ng giao thoa với hê ̣ quả sự giao thoa 42

1.6 Tiểu kết 42

CHƯƠNG 2: SỰ GIAO THOA VỀ NGỮ ÂM TRONG TIẾNG VIỆT Ở TỈNH UĐONTHANI 45

2.0 Dẫn nhập 45

2.1 Sự giao thoa về ngữ âm với phần phu ̣ âm đầu của tiếng Viê ̣t ở tỉnh Uđonthani 54

2.1.1 Đặc điểm của âm vị k và k của tiếng Việt ở tỉnh Uđonthani 56

2.1.2 So sánh đă ̣c điểm của âm vi ̣ k và k của tiếng Việt ở tỉnh Uđonthani vớ i hê ̣ thống ngữ âm của tiếng Viê ̣t chuẩn 57

2.1.3 Đối chiếu đặc điểm của âm vị k và k của tiếng Việt ở tỉnh Uđonthani vớ i hê ̣ thống ngữ âm của tiếng Thái chuẩn 58

2.1.4 Sự giao thoa về ngữ âm trong phần phụ âm đầu của tiếng Việt ở tỉnh Uđonthani 60

2.2 Sự giao thoa về ngữ âm với phần vần của tiếng Viê ̣t ở tỉnh Uđonthnai 62

2.2.1 Sự giao thoa về ngữ âm trong âm đê ̣m 62

2.2.2 Sự giao thoa về ngữ âm trong âm chính 65

2.2.3 Sự giao thoa về ngữ âm trong âm cuối 69

2.3 Sự giao thoa về ngữ âm với thanh điê ̣u của tiếng Viê ̣t ở tỉnh Uđonthani 77

Trang 4

2.3.1 Đặc điểm đườ ng nét của thanh hỏi của tiếng Viê ̣t ở tỉnh Uđonthani bị nam nữ Việt kiều thế hệ thứ hai phát âm khác thường 79 2.3.2 So sánh thanh hỏi của tiếng Viê ̣t ở tỉnh Uđonthani với thanh hỏi

của tiếng Việt chuẩn 81 2.3.3 Đối chiếu thanh hỏi của tiếng Việt ở tỉnh Uđonthani với các thanh

điệu của tiếng Thái chuẩn 81 2.3.4 Sự giao thoa về ngữ âm trong cách phát âm thanh hỏi của tiếng

Việt ở tỉnh Uđonthani 85 2.4 Tiểu kết 86

CHƯƠNG 3: SỰ GIAO THAO VỀ TỪ VỰNG TRONG TIẾNG VIỆT Ở

TỈNH UĐONTHANI 89

3.0 Dẫn nhập 89 3.1 Sự giao thoa về từ vựng tiếng Thái trong câu nói tiếng Viê ̣t ở tỉnh

Uđonthani 96 3.1.1 Sự giao thoa về từ vựng tiếng Thái chuẩn 96 3.1.2 Sự giao thoa về từ vựng tiếng Thái I-xản 98 3.2 Sự giao thoa về từ vựng trong viê ̣c sử du ̣ng từ tiếng Viê ̣t theo ngữ nghĩa

của tiếng Thái chuẩn 100 3.3 Sự giao thoa về từ vựng trong phương thức cấu ta ̣o từ của tiếng Viê ̣t ở

tỉnh Uđonthani 105 3.3.1 Sự giao thoa trong phương thức cấu ta ̣o từ ghép 105 3.3.2 Sự giao thoa trong phương thức cấu ta ̣o từ láy hai âm tiết 107 3.3.2.1 Phương thứ c cấu ta ̣o từ láy hai âm tiết kiểu láy hoàn toàn 108 3.3.2.2 Phương thứ c cấu ta ̣o từ láy hai âm tiết kiểu biến đổi thanh

điệu ở từ láy 116 3.4 Tiểu kết 128

CHƯƠNG 4: SỰ GIAO THOA VỀ NGỮ PHÁP TRONG TIẾNG VIỆT Ở

TỈNH UĐONTHANI 130

4.0 Dẫn nhập 130

Trang 5

4.1 Sự giao thoa về ngữ pháp trong viê ̣c sắp xếp trâ ̣t tự từ của danh ngữ 136 4.1.1 Sự xuất hiê ̣n của danh ngữ có từ chỉ số lượng kiểu ba thành tố

trong tiếng Việt ở tỉnh Uđonthani 136 4.1.2 Đặc điểm danh ngữ có từ chỉ số lượng kiểu ba thành tố của tiếng

Việt ở tỉnh Uđonthani 136 4.1.3 So sánh đă ̣c điểm danh ngữ có từ chỉ số lượng kiểu ba thành tố của tiếng Việt ở tỉnh Uđonthani với tiếng Viê ̣t chuẩn 139 4.1.4 Đối chiếu đặc điểm danh ngữ có từ chỉ số lượng kiểu ba thành tố

của tiếng Việt ở tỉnh Uđonthani với tiếng Thái chuẩn 142 4.1.5 Sự giao thoa về ngữ pháp trong viê ̣c sắp xếp trâ ̣t tự từ của danh

ngữ có từ chỉ số lượng kiểu ba thành tố của tiếng Việt ở tỉnh

Uđonthani 151 4.2 Sự giao thoa về ngữ pháp trong viê ̣c sắp xếp trâ ̣t tự từ của đô ̣ng ngữ 153 4.2.1 Sự xuất hiê ̣n của đô ̣ng ngữ phủ đi ̣nh trong tiếng Viê ̣t ở tỉnh

Uđonthani 153 4.2.2 Đặc điểm động ngữ phủ định của tiếng Việt ở tỉnh Uđonthani 153 4.2.3 So sánh đă ̣c điểm đô ̣ng ngữ phủ đi ̣nh của tiếng Viê ̣t ở tỉnh

Uđonthani vớ i tiếng Viê ̣t chuẩn 156 4.2.4 Đối chiếu đặc điểm động ngữ phủ định của tiếng Việt ở tỉnh

Uđonthani vớ i tiếng Thái chuẩn 162 4.2.5 Sự giao thoa về ngữ pháp trong viê ̣c sắp xếp trâ ̣t tự từ trong

động ngữ phủ đi ̣nh của tiếng Viê ̣t ở tỉnh Uđonthani 167 4.3 Tiểu kết 169

KẾT LUẬN 171 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

175 TÀI LIỆU THAM KHẢO 177 PHỤ LỤC 193

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Thái Lan là mô ̣t trong những nơi có số lượng người Viê ̣t tản cư đến khá đông đảo Theo nghiên cứu của Pussadee Chandavimol 171, tr 22-39 và Thanyathip Sriphana 179, tr 4 thì quá trình tản cư của ngư ời Việt đến Thái Lan được chia

thành 2 giai đoa ̣n chính Giai đoạn thứ nhất là từ thế kỷ 16 kéo dài đến cuối thế kỷ

18 (họ tự gọi mình là Việt kiều cũ ) Nguyên nhân của cuộc tản cư này là do các vấn đề về chính trị và tôn giáo Trong giai đoa ̣n này phần lớn người Viê ̣t tản cư đến miền Trung của Thái Lan , số còn lại đến các tỉnh ở miền Bắc và miền Đông Bắc Thái Lan Đây là giai đoa ̣n những người bản ngữ nói phương ngữ Trung và phương ngữ Nam do phần lớn họ là những người tản cư từ miền Trung và miền Nam của

Việt Nam Giai đoạn thứ hai là tản cư trong năm 1945 – 1946, tức là trong những

năm chiến tranh thế giới thứ hai (họ tự gọi mình là Việt kiều mới ) Khi chiến tranh thế giới thứ hai xảy ra , để tránh chiến tranh, người Việt ở cả ba miền Bắc, Trung, Nam của Việt Nam tản cư sang Lào, sau đó một số người lại tiếp tu ̣c tản cư tới những tỉnh ở sát biên giới Lào của miền Đông Bắc Thái Lan , nhất là ở tỉnh Uđonthani

Uđonthani là mô ̣t tỉnh nằm phía Bắc v ùng Đông Bắc Thái Lan Vùng Đông Bắc của đất nước Thái Lan có vị trí: phía Bắc và phía Đông giáp với Lào , một phần phía Nam giáp Cam pu chia Vùng Đông Bắc đươ ̣c chia thành 19 tỉnh và hầu như tỉnh nào cũng có Viê ̣t kiều sinh sống 72, tr 8 Uđonthani là mô ̣t tỉnh có nền kinh tế phát triển nên số lươ ̣ng Viê ̣t kiều sinh sống ở tỉnh này nhiều hơn hẳn các tỉnh khác trong vùng Đông Bắc , thâ ̣m chí so với cả nước 178, tr 10 Ở tỉnh Uđonthani , người Viê ̣t cũng tản cư đến theo hai giai đoa ̣n trên nhưng chủ yếu ho ̣ tản cư đến trong giai đoa ̣n chiến tranh thế giới thứ hai Trong giai đoa ̣n này , Viê ̣t kiều ở tỉnh Uđonthani là những người từ cả ba miền c ủa Việt Nam đến Thái Lan sinh sống : miền Bắc, miền Trung và miền Nam Tỉ lệ người Việt đến từ miền Trung Việt Nam

Trang 7

lớn nhất khoảng 70%, từ miền Bắc khoảng 25% và miền Nam khoảng 5% Qua các cuộc tản cư, đến nay cộng đồng Việt kiều ở tỉnh Uđonthani có khoảng 30,000 người Trong đó n am giới chiếm khoảng 18,000 người, nữ giới khoảng 12,000 người (theo thống kê của ông Lê Văn Yên chủ ti ̣ch cô ̣ng đồng Viê ̣t kiều ở tỉnh Uđonthani năm 2006) Đây là số dân của cả b a thế hê ̣: thế hê ̣ thứ nhất hiê ̣n na y chỉ còn khoảng 2,000 người, thế hê ̣ thứ hai khoảng 15,000 người, số còn lại là thế hệ thứ ba Viê ̣t kiều sang trong giai đoa ̣n chiến tranh thế giới thứ hai chủ yếu làm nghề buôn bán Đa phần buôn bán trong các chợ tại thành phố, mô ̣t số người có công ty kinh doanh riêng Có thể nói sự phát triển kinh tế của tỉnh Uđonthani phần lớn do Viê ̣t kiều mới góp phần ta ̣o nên Với bản chất thông minh , cần cù, tiết kiê ̣m, bà con Viê ̣t kiều đã tham gia vào các lĩnh vực kinh doanh , làm chủ các doanh nghiệp Mô ̣t số có đi ̣a vi ̣ cao trong xã hội Viê ̣t kiều có vai trò rất quan tro ̣ng về kinh tế – xã hội

tại các tỉnh Đông Bắc Thái Lan, đươ ̣c cơ quan đi ̣a phương đánh giá cao

Hiê ̣n nay Viê ̣t kiều sang trong giai đoa ̣n chiến tranh thế giới thứ hai ở tỉnh Uđonthani (Viê ̣t kiều mới) vẫn sử du ̣ng tiếng Việt để giao tiếp với nhau trong cô ̣ng đồng hoă ̣c với những Viê ̣t kiều ở tỉnh khác, thậm chí với cả người Viê ̣t ở Viê ̣t Nam Đó là lý do khiến cho ngôn ngữ của Viê ̣t kiều ở tỉnh Uđonthani hiện nay rất phức tạp Họ vừa phải sử dụng tiếng Thái : là tiếng Thái chuẩn (ngôn ngữ quốc gia - tiếng phổ thông) hoặc tiếng Thái I-xản (phương ngữ của tiếng Thái - tiếng thông dụng) và tiếng Viê ̣t để giao tiếp Vậy có thể khẳng định tiếng Viê ̣t được sử du ̣ng trong cộng đồng Việt kiều ở Uđonthani phải chịu ảnh hưởng bởi tiếng Thái Vì họ phải sử dụng hai ngô n ngữ: tiếng Viê ̣t và tiếng Thái nên cô ̣ng đồng người Viê ̣t ở đây được gọi là mô ̣t cô ̣ng đồng song ngữ và nhận sự giao thoa do ảnh hưởng từ tiếng Thái

Tiếng Việt (tiếng me ̣ đẻ) của Việt kiều ở tỉnh Uđonthani hầu nh ư bi ̣ khép kín và bị tách khỏi tiếng Việt ở Việt Nam Chính vì thế tiếng Việt hiện đang được sử dụng trong cô ̣ng đồng Viê ̣t kiều ở tỉnh Uđonthani được xếp vào loại ngôn ngữ cô ̣ng đồng ngừng phát triển Hơn nữa cô ̣ng đồng ngôn n gữ bé nhỏ (tiếng Viê ̣t) của họ nằm trong cô ̣ng đồng ngôn ngữ to lớn (tiếng Thái), nên tiếng Viê ̣t của ho ̣ cũng bị ảnh hưởng của tiếng Thái và trở nên khác biệt so với tiếng Viê ̣t chuẩn ở Viê ̣t Nam Điều này không chỉ xuất hiện ở cộng đồng Viê ̣t kiều tỉnh Uđonthani mà còn xuất

Trang 8

hiện ở các cô ̣ng đồng Việt kiều ở các tỉnh khác của Thái Lan Do đó việc “Khảo sát

Uđonthani)” trường hợp nghiên cứu cu ̣ thể là cô ̣ng đồng Viê ̣t kiều ở tỉnh Uđonthani

không chỉ là một đề tài mới , chưa ai nghiên cứu mà còn là một đề tài rất hữu ích , giúp tránh được sự hiểu nhầm trong giao tiếp giữa Viê ̣t kiều ở Thái Lan với những người Viê ̣t ở Viê ̣t Nam

Nghiên cứu của chúng tôi mang tính mới mẻ vì hiện có rất ít công trình nghiên cứu về tiếng Viê ̣t ở vùng Đông Bắc Thái Lan , nếu có thì cũng chỉ là một vài khảo sát về mặt ngữ âm , chưa có nghiên cứu về mặt ngữ pháp và từ vựng Đặc biệt chưa ai tiến hành nghiên cứu về ảnh hưởng của tiếng Thái trong viê ̣c sử du ̣ng tiếng Viê ̣t của những Viê ̣t kiều ở vùng Đông Bắc Thái Lan – cụ thể là tiếng Viê ̣t ở Udonthani so với tiếng Việt chuẩn ở Việt Nam

Chính vì thế luận án “Khảo sát tiếng Việt ở vùng Đông Bắc Thái Lan (trên

ngữ liê ̣u tiếp xúc Viê ̣t – Thái ở Uđonthani )” là luận án đầu tiên nghiên cứu về sự

khác biệt của tiếng Việt ở vùng Đông Bắc Thái Lan do bị ảnh hưởng bởi tiếng Thái Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi sẽ nêu ra những khác biệt ấy và tìm cách giải

thích chúng dựa trên những cơ sở lý thuyết của sự giao thoa – kết quả của sự tiếp

xúc ngôn ngữ giữa tiếng Việt và tiếng Thái Đó là tiếng Thái chuẩn và tiếng Thái xản, hai da ̣ng thể tiếng Thái được sử du ̣ng rô ̣ng rãi ở vùng này

I-2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là tiếng Việt hiện đang được Việt kiều ở tỉnh

Uđonthani sử du ̣ng, tiếng Viê ̣t ở đây được coi như là mô ̣t ngôn ngữ cộng đồng Việt tách khỏi Việt Nam, là một phương ngữ đă ̣c biê ̣t Đối tượng nghiên cứu không phải là ngôn ngữ bản địa mà mô ̣t biến thể đă ̣c biê ̣t của một ngôn ngữ quốc gia được thể hiê ̣n trong phát ngôn của cộng đồng định cư ở nước ngoài Hướng đối tượng nghiên cứu của luâ ̣n án là mô ̣t đối tượng của ngôn ngữ ho ̣c xã hô ̣i Trong nghiên cứu này chúng tôi coi tiếng Việt ở tỉnh Uđonthani là mộ t ngôn ngữ cô ̣ng đồng Viê ̣c khảo sát đươ ̣c tiến h ành trên bình diện ngữ âm là mô ̣t trong những yếu tố tạo nên đă ̣c điểm riêng của tiếng Viê ̣t ở tỉnh Uđonthani Đồng thời từ vựng và ngữ pháp cũng là đối

Trang 9

tươ ̣ng chính của luâ ̣n án Tác giả luận án tâ ̣p trung nghiên cứu sự khác biê ̣t của tiếng Viê ̣t hiê ̣n đang được sử du ̣ng ở tỉnh Uđonthani do bi ̣ ảnh hưởng của tiếng Thái trên

ba bình diện cơ bản của ngôn ngữ nêu trên (ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp) Đồng thờ i cố gắng giải thích các biến thể trên cơ sở lý thuyết sự giao thoa cũng như cách thức tạo nên sự khác biệt này trong tiếng Việt ở tỉnh Udonthani

2.2 Phạm vi nghiên cứu

Luâ ̣n án có pha ̣m vi nghiên cứu như sau:

2.2.1 Luận án này lấy cô ̣ng đồng Viê ̣t kiều ở tỉnh Uđonthani là phạm vi nghiên cứu đa ̣i diê ̣n cho Viê ̣t kiều hiê ̣n đang sinh sống ở vùng Đông Bắc Thái Lan

Ba lý do chính cho viê ̣c lựa cho ̣n cô ̣ng đồng Viê ̣t kiều ở tỉnh Uđonthani là:

1) Cộng đồng Viê ̣t kiều ở tỉnh Uđonthani là cô ̣ng đồng Viê ̣t kiều lớn nhất ta ̣i Thái Lan

2) Thành viên của cộng đồng Việt kiều ở tỉnh Uđonthani phần lớn là những người tản cư từ cả ba miền của Viê ̣t Nam tới : miền Bắc, miền Trung và miền Nam

Vì tiếng Viê ̣t từng vùng từng đi ̣a phương đều có đă ̣c điểm riêng nên sự sinh sống chung nhau trong mô ̣t cô ̣ng đồ ng của dân từ ba miền ấy chắc chắn phải đưa ra đă ̣c điểm riêng cho tiếng Viê ̣t ở tỉnh Uđonthani

3) Cộng đồng Viê ̣t kiều ở tỉnh Uđonthani đã pha trô ̣n với cô ̣ng đồng người Thái nói tiếng Thái chuẩn và cộng đồng người Thái nói tiếng I -xản (phương ngữ tiếng Thái), nên sự pha trô ̣n giữa các cô ̣ng đồng nói năng khác ngôn ngữ như vâ ̣y chắc chắn sẽ cho chúng ta thấy hiê ̣n tượng nào đó liên quan đến ngôn ngữ ho ̣c , nhất là hiện tượng giao thao

2.2.2 Ngữ liê ̣u của l uâ ̣n án chủ yếu lấy từ những điều tra tiếp xúc với Viê ̣t kiều mới , tức là Viê ̣t kiều tản cư đến Thái Lan vào những năm 1945-1946, thời chiến tranh thế giới thứ hai vì họ vẫn còn sử dụng tiếng Viê ̣t để giao tiếp với nhau

2.2.3 Luận án chủ yếu sử dụng văn nói của Viê ̣t kiều ở tỉnh Uđonthani để nghiên cứu vì họ rất ít viết văn bản nên rất khó thu thập được tài liệu bằng văn viết Nếu có những văn bản nào mà chúng tôi có thể thu thâ ̣p được thì những văn bản đó sẽ là tài liệu phụ được sử dụng để kiểm tra sự chính xác của tài liệu văn nói mà chúng tôi thu được

Trang 10

2.2.4 Vì luận án thuộc lĩnh vực ngôn ngữ ho ̣c xã hô ̣i cho nên vị thế những yếu tố xã hội cũng có vai trò quan trọng cần phân biê ̣t như : tuổi tác (thế hê ̣), giới tính Vì vậy chúng tôi đặt tuổi tác hoặc thế hệ là phạm vi ng hiên cứu chính, giới tính là phạm vi nghiên cứu phụ của luận án Những Viê ̣t kiều giai đoa ̣n 1945-1946 (Viê ̣t kiều mới) đều làm nghề buôn bán Họ cũng không có trường để học mà chỉ tổ chức các lớp ho ̣c kín cho trẻ con trong làng theo kiểu gia đình ho ̣c mà thôi Do đó có thể nói nghề nghiê ̣p và trình độ học vấn hình như không quan tro ̣ng lắm trong viê ̣c sử dụng ngôn ngữ của họ Trong luận án này, chúng tôi sử dụng số lươ ̣ng nghiê ̣m viên gồm 20 người: 10 người đa ̣i diê ̣n cho Viê ̣t kiều thế hê ̣ thứ nhất : 5 nam, 5 nữ và 10 người đa ̣i diê ̣n cho Viê ̣t kiều thế hê ̣ thứ hai: 5 nam, 5 nữ

2.2.5 Chúng tôi lấy quan điểm về ngữ âm tiếng Viê ̣t của Đoàn Thiê ̣n Thuâ ̣t

52, quan điểm về từ vựng tiếng Viê ̣t của Đỗ Hữu Châu 10, 11 và quan điểm về ngữ pháp tiếng Viê ̣t của Nguyễn Tài Cẩn 7 làm cơ sở so sánh , vì luận án có liên quan đến viê ̣c so sánh ngữ âm , từ vựng , và ngữ pháp giữa tiếng Viê ̣t ở tỉnh Uđonthani và tiếng Viê ̣t chuẩn ở Viê ̣t Nam

2.2.6 Vì luận án có liên quan đến viê ̣c đối chiếu ngữ âm, từ vựng, và ngữ pháp giữa tiếng Viê ̣t hiê ̣n đang được sử du ̣ng ở tỉnh U đonthani và tiếng Thái chuẩn nên chúng tôi căn cứ vào quan niệm về ngữ âm của Kanjana Naksakul 175, quan niê ̣m về từ vựng của Srijarung Boomchua 168 và quan niệm về ngữ pháp Premjit Chanawong 170 làm cơ sở đối chiếu

Riêng quá trình đối chiếu các thanh điê ̣u giữa tiếng Viê ̣t ở tỉnh Uđonthani và tiếng Thái chuẩn, chúng tôi có hai nghiê ̣m viên người Thái nói tiếng Thái chuẩn và hai nghiê ̣m viên người Thái nói tiếng Thái I -xản: mô ̣t đa ̣i diê ̣n cho thế hê ̣ thứ nhất và mô ̣t đa ̣i diê ̣n cho thế hê ̣ thứ hai (xem phu ̣ lu ̣c 2)

2.2.7 Vì luận án này không phải luận án miêu tả tiếng Việt ở tỉnh Uđonthani mà là luận án nghiên cứu sự khác biệt của tiếng Việt ở đây do bị ảnh hưởng của tiếng Thái, nên chúng tôi chỉ tâ ̣p trung đưa ra nét khác biê ̣t của t iếng Viê ̣t do bi ̣ ảnh hưởng của tiếng Thái mà thôi , còn trong trường hợp khác mà không liên quan đến

ảnh hưởng của tiếng Thái thì chúng tôi không đề cập đến

Trang 11

2.2.8 Luận án tâ ̣p trung trên ba bình diê ̣n ngôn ngữ ho ̣c : ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp nên ngữ nghĩa chỉ là thành phần phu ̣ được áp du ̣ng trong viê ̣c giải thích hiê ̣n tượng giao thoa mà thôi

3 Mục đích của luận án

Mục đich của luận án này là khảo sát tiếng Việt ở Vùng Đông Bắc Th ái Lan trên cứ liê ̣u cô ̣ng đồng Viê ̣t kiều ở tỉnh Uđonthani Viê ̣c khảo sát này thông qua sự giao thoa trên ba bình diê ̣n của ngôn ngữ ho ̣c: ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp Đưa ra nét khác biệt của tiếng Việt hiện đang được sử dụn g ở tỉnh Uđonthani do bi ̣ ảnh hưởng của tiếng Thái vì tiếng Việt ở đây là tiếng Việt của cộng đồng Việt kiều trong

cô ̣ng đồng tiếng Thái Viê ̣t kiều ở đây sinh sống cùng với người Thái , tiếng Thái đã có ảnh hưởng tới tiế ng Viê ̣t ở tỉnh Uđonthani hơn 40 năm nên hiê ̣n tượng giao thoa của tiếng Thái tới tiếng Viê ̣t xảy ra không ít trong phát ngôn của những Việt kiều nơi đây

Hiê ̣n tượng giao thoa này có thể khiến tiếng Việt ở tỉnh Uđonthani có sự biến thể ngôn ngữ , đó là sự biến thể mang tính cộng đồng và sự biến thể mang tính cá nhân (giới tính, tuổi tác ) Nói cách khác là chúng tôi áp dụng những nhân tố của ngôn ngữ ho ̣c xã hô ̣i (cô ̣ng đồng lớn là toàn thể người Việt ở tỉnh Uđonthani và các tiểu cô ̣ng đồng là các nhóm xã hô ̣i: giới, tuổi) để đưa ra sự giao thoa đó

4 Nhiê ̣m vu ̣ của luâ ̣n án

4.1 Xem xét những nhân tố theo ngôn ngữ ho ̣c xã hô ̣i , nhân tố nào có thể gây ra sự khá c biê ̣t Trong nghiên cứu này , ngoài việc tập trung với hai nhân tố của tiểu cô ̣ng đồng (giới tính và tuổi tác) thì chúng tôi cũng tập trung vào cộng đồng lớn đó là toàn thể cô ̣ng đồng Viê ̣t kiều ở tỉnh Uđonthani như chúng tôi đã nêu trên

4.2 Điều tra tư liệu bằng phương thức điều tra thực đi ̣a (điều tra tự nhiên và điều tra có đi ̣nh hướng) để tìm được sự khác biệt của tiếng Việt ở tỉnh Uđonthani do bị ảnh hưởng bởi tiếng Thái : tiếng Thái chuẩn, tiếng Thái I -xản Viê ̣c điều tra đó thông qua ba bình diê ̣n của ngôn ngữ ho ̣c: ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp

4.3 So sánh tiếng Viê ̣t hiê ̣n đang đươ ̣c những Viê ̣t kiều ở tỉnh Uđonthani sử dụng với tiếng Việt ở Việt Na m để tìm hiểu sự khác biê ̣t của tiếng Viê ̣t ở tỉnh Uđonthani Sự so sánh đó đã được tiến hành theo cả ba bình diện ngôn ngữ nêu trên

Trang 12

4.4 Đối chiếu sự khác biệt của tiếng Việt ở tỉnh Uđonthani với tiếng Thái (tiếng Thái chuẩn và tiếng Thái I-xản) để tìm hiểu rằng sự khác biệt đó có phải là do bị ảnh hưởng của tiếng Thái hay không Viê ̣c đối chiếu đó cũng đã được tiến hành theo cả ba bình diện ngôn ngữ nêu trên

4.5 Giải thích sự khá c biệt của tiếng Viê ̣t ở tỉnh Uđonthani thông qua lý thuyết sự giao thoa ngôn ngữ dựa trên khái niê ̣m của Uriel Wienriech

5 Đo ́ ng góp mới của luâ ̣n án

Luâ ̣n án là công trình đầu tiên nghiên cứu về tiếng Viê ̣t của những Viê ̣t kiều hiê ̣n đang sinh sống ở vùng Đông Bắc Thái Lan nói chung , tỉnh Uđonthani nói riêng Vì luâ ̣n án mang tính xã hô ̣i ho ̣c và tính ngôn ngữ ho ̣c nên có đóng góp chủ yếu sau:

5.1 Trên phương diện khoa ho ̣c, viê ̣c nghiên cứu về ngôn ngữ của cộng đồng nhâ ̣p cư Viê ̣t vào Thái Lan , nước láng giềng , cùng loại hình ngôn ngữ , cho thấy rõ loại hình biến đổi ngôn ngữ mẹ đẻ trong bối cảnh ngôn ngữ, xã hội Thái Lan

5.2 Về mặt thực tiễn: đưa ra những cơ sở và tư liê ̣u cho viê ̣c ứng du ̣ng giảng dạy tiếng Việt ở Thái Lan và cho việc hiểu đươ ̣c tiếng Viê ̣t ở vùng Đông Bắc Thái Lan

5.3 Giúp cho việc giao tiếp giữa người Viê ̣t ở vùng Đông Bắc Thái Lan với người Viê ̣t ở Viê ̣t Nam được thuâ ̣n lợi

6 Phương pha ́ p nghiên cứu và tư liê ̣u nghiên cứu

Mô ̣t trong những chủ đề của ngôn ngữ ho ̣c xã hô ̣i là viê ̣c nghiên cứu về biến thể hoă ̣c sự thay đổi của ngôn ngữ Những nghiên cứu này khô ng thể tiến hành ngoài xã hội cụ thể vì ngôn ngữ học xã hội liên quan trực tiếp với sự quy đi ̣nh của những nhân tố của xã hô ̣i 79, tr 224 Do luận án nghiên cứu về sự khác biệt của ngôn ngữ Việt trong môi trường xã hô ̣i nhâ ̣p cư nên chúng tôi chủ yếu sử dụng các phương pháp của ngôn ngữ ho ̣c xã hô ̣i để nghiên cứu

Do đó viê ̣c điều tra thực đi ̣a được áp du ̣ng chủ yếu cho luâ ̣n án Cụ thể đó là

vâ ̣n du ̣ng phương pháp điều tra xã hô ̣i ho ̣c nghiên cứu trường hợp (case study) Mă ̣c dù tiếng Việt ở tỉnh Uđonthani cũng là tiếng Việt hiện đang sử dụng ở Việt Nam

Trang 13

nhưng tiếng Viê ̣t ở tỉnh Uđonthani có nét riêng biê ̣t nên phương pháp điều tra thực

đi ̣a là phương pháp thích hợp nhất dùng để miêu tả hiê ̣n tượng tiếng Viê ̣t ở tỉnh Uđonthani Phương pháp điều tra được chúng tôi sử du ̣ng có hai loa ̣i : điều tra tự nhiên (ghi âm tự nhiên ) và điều tra có định hướng (phần này sẽ nói rõ hơn trong phần tư liê ̣u nghiên cứu)

Chúng tôi còn sử du ̣ng 2 phương pháp ngôn ngữ ho ̣c nữa, đó là:

1) Phương pha ́ p miêu tả: để miêu tả những đặc điểm của ngữ âm , từ vựng và

ngữ pháp của tiếng Viê ̣t ở tỉnh Uđonthani Riêng đối với viê ̣c phân tích ngữ âm (thanh điệu ) chúng tôi sử dụng chương trình Praat2000 để phân tích một cách

chính xác

Để phu ̣c vu ̣ cho phương pháp miêu tả chúng tôi áp du ̣ng thủ pháp thống kê

để tăng đô ̣ chính xác trong việc phân tích tư liệu Phương pháp này sẽ được áp dụng sau khi điều tra thực đi ̣a để đưa ra số lượng theo tỷ lê ̣ phần trăm của sự khác biê ̣t nào có thể xảy ra với tiếng Viê ̣t ở tỉnh Uđonthani

2) Phương pha ́ p so sánh đối chiếu : phương pháp này phù hơ ̣p với viê ̣c

nghiên cứu c ác ngôn ngữ nhằm phát hiện sự giống nhau và khác nhau giữa chúng Trong phương pháp này chúng tôi sử du ̣ng thủ pháp như sau:

- Thủ pháp so sa ́ nh : so sánh những đă ̣c điểm của ngữ âm , từ vựng và ngữ

pháp của tiếng Việt ở tỉn h Uđonthani với tiếng Viê ̣t chuẩn ở Viê ̣t Nam , để đưa ra sự khác biệt của tiếng Viê ̣t ở tỉnh Uđonthani

- Thủ pháp đối chiếu: đối chiếu những đă ̣c điểm của ngữ âm , từ vựng và ngữ pháp giữa tiếng Viê ̣t ở tỉnh Uđonthani và tiếng Thái (tiếng Thái chuẩn và tiếng Thái I-xản) để tìm hiểu rằng sự khác biệt của tiếng Việt ở tỉnh Uđonthani có liên quan gì đến tiếng Thái không Tức là tiếng Thái gồm cả tiếng Thái chuẩn và tiếng Thái I -xản có ản h hưởng lên tiếng Viê ̣t ở đây hay không , nếu có thì ảnh hưởng đó nằm trong mô hình nào của ba hình diện ngôn ngữ: ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp?

Ngoài ra, chúng tôi cũng áp dụng phương pháp tư duy khoa học là quy nạp và diễn di ̣ch rút ra các kết quả nghiên cứu Từ thực tế phân tích , miêu tả sự khác

biê ̣t, cố gắng rút ra những đă ̣c trưng của sự khác biê ̣t thể hiê ̣n trên các phương diê ̣n ngôn từ với yếu tố xã hô ̣i khác nhau

Trang 14

6.2 Cơ sơ ̉ Viê ̣t ngữ học và tư liê ̣u nghiên cứu

6.2.1 Cơ sơ ̉ Viê ̣t ngữ học dùng để đối chiếu

Các cách để phân tích tư liệu về ngữ âm , từ vựng và ngữ pháp của luâ ̣n án dựa trên cơ sở sau:

6.2.1.1 Cách phân tích về ngữ âm : trong phần này chúng tôi chia ra thành 2 cách phân tích: mô ̣t là sử du ̣ng thính giác để phân tích phu ̣ âm và nguyên âm mà

chúng tôi thu được bằng bảng từ điều tra ngôn ngữ (xem phu ̣ lu ̣c 4), và cách thứ 2 là

chúng tôi sử du ̣ng chương trình Praat 2000 để phân tích thanh điê ̣u thu được bằng

bảng từ đi ều tra thanh điê ̣u bao gồm 6 thanh điê ̣u (xem phu ̣ lu ̣c 5) Riêng về phần phân tích ngữ âm , chúng tôi dựa theo các khái niệm về ngữ âm của Đoàn Thiện

Thuâ ̣t trong Ngữ âm tiếng Viê ̣t 52

6.2.1.2 Cách phân tích về từ vựng : chúng tôi đã phân tích, kiểm tra từ vựng tiếng Viê ̣t ở tỉnh Uđonthani mà chúng tôi thu được bằng bảng từ điều tra ngôn ngữ (xem phụ lu ̣c 4) Chúng tôi phân tích về phương thức cấu ta ̣ o từ theo Nguy ễn Tài Cẩn 7 và Đỗ Hữu Châu 10, 11

6.2.1.3 Cách phân t ích về ngữ pháp : trong phần này chúng tôi phân tích để kiểm tra sự khác biê ̣t về ngữ pháp tiếng Viê ̣t hiê ̣n đang được sử du ̣ng ở tỉnh

Uđonthani theo khái niê ̣m của Nguyễn Tài Cẩn trong Ngữ pháp tiếng Viê ̣t 7

6.2.2 Thu thâ ̣p tư liê ̣u nghiên cứu

Tư liê ̣u chính của luâ ̣n án là phát ngôn của những Việt kiều ở tỉnh Uđonthani Để thu đươ ̣c những tư liê ̣u thực tế và không bỏ qua những chi tiết cu ̣ thể quan tro ̣ng, chúng tôi dùng máy ghi âm để ghi lại tiếng Việt của họ Thủ pháp cho việc ghi âm là sự quan sát một cách tự nhiên trong khung cảnh gia đình, bạn bè, sinh hoa ̣t của

cô ̣ng đồng hoă ̣c khi đang làm ăn buôn bán v.v Bối cảnh của viê ̣c ghi âm mà chúng tôi thường dùng là đặt mình vào trong cuộc nói chuyện , tạo cơ hội cho mình đươ ̣c cùng nói chuyê ̣n bằng tiếng Viê ̣t với ho ̣ Ngoài ra chúng tôi cũng để cho họ nói chuyện với nhau mô ̣t cách tự nhiên trong gia đình, với ba ̣n bè hoă ̣c khi sinh hoa ̣t

cô ̣ng đồng Để bổ sung cho cách thu thập tư liệu nghiên cứu trên chúng tôi còn sử dụng cách điều tra có định hướng, nhất là khi thu thập tư liê ̣u về ngữ âm Viê ̣c phân tích ngữ âm chúng tôi áp dụng ký hiệu phiên âm quốc tế

Trang 15

Nói tóm lại , câu nói của Việt kiều ở tỉnh Uđonthani là tư liệu chính của nghiên cứu Chúng được thu bằng 2 cách điều tra , mô ̣t là điều tra tự nhiên để tìm hiểu về viê ̣c sử du ̣ng tiếng Viê ̣t mô ̣t cách tự nhiên , hai là điều tra có đi ̣nh hướng để kiểm tra sự khác biê ̣t trong viê ̣c sử du ̣ng tiếng Viê ̣t của Viê ̣t kiều ở tỉnh Uđonthani Riêng trong điều tra về ngữ âm , ngoài việc áp dụng bảng điều tra ngữ âm của SIL (Summer Institute of Linguistics) ra, chúng tôi cũng có bảng riêng để điều tra thanh điê ̣u Bảng đó bao gồm sáu thanh điệu của tiếng Việt chuẩn ở Việt Nam

Chúng tôi đã thu thâ ̣p tư liê ̣u cho luâ ̣n án này được tất cả 24 băng ghi âm , mỗi băng 90 phút Trong số đó có 16 băng là tư liê ̣u ghi âm bằng cách điều tra tự nhiên và 8 băng là điều tra có đi ̣nh hướng Những tư liê ̣u đó được chúng tôi ghi la ̣i thành chữ viết hình Times new Roman cỡ 14, tất cả 581 trang

Trình tự làm việc để hoàn thành luận án như sau:

6.3.1 Trướ c khi chính thức thu thâ ̣p tư liê ̣u , chúng tôi đến tận nơi cư trú của những người Viê ̣t đan g sinh sống ở tỉn h Uđonthani để kiểm tra và lựa cho ̣n những người có khả năng làm nghiê ̣m viên cho luâ ̣n án Đặc biệt là phải làm quen với họ

vì họ không bao giờ nói chuyê ̣n bằng tiếng Viê ̣t với người Thái Vì vậy việc làm quen với những Viê ̣t kiều ở đây là điều rất quan trọng, nếu không thì tư liê ̣u thu thâ ̣p đươ ̣c sẽ thiếu thực tế

6.3.2 Sau khi làm quen với những Viê ̣t kiều , chúng tôi đã lựa chọn được 20 nghiê ̣m viên bao gồm: 10 nghiê ̣m viên (5 nam và 5 nữ) đại diện cho Viê ̣t kiều thuô ̣c thế hê ̣ thứ nhất, 10 nghiê ̣m viên (5 nam và 5 nữ) đa ̣i diê ̣n cho Viê ̣t kiều thuô ̣c thế hê ̣ thứ hai và thế hê ̣ thứ nhất là từ 65 tuổi trở lên, thế hê ̣ thứ hai từ 40 – 60 tuổi Sở dĩ chúng tôi chọn những đối tượng nghiên cứu trên vì lứa tuổi và giới tính là tiêu chuẩn chính cho luâ ̣n án Dựa vào tuổi tác có thể thấy tiếng Viê ̣t đã được giữ gìn , duy trì từng thế hê ̣; dựa vào giới tính có thể thấy sự khác biê ̣t trong viê ̣c sử du ̣ng tiếng Việt giữa nam và nữ

Bô ̣ phận phát âm của từng nghiê ̣m viên cũng khá quan trọng , nó có thể làm cho luâ ̣n án thiếu thực tế trong phần điều tra ngữ âm nếu bô ̣ phận phát âm của những cô ̣ng tác viên hoa ̣t đô ̣ng kém (xem phu ̣ lu ̣c 1)

Trang 16

6.3.3 Sau khi lựa cho ̣n đươ ̣c các cô ̣ng tác viên , chúng tôi dùng thủ pháp ghi

âm tiếng nói của ho ̣ khi ho ̣ đang nói chuyê ̣n trong gi a đình, với ba ̣n bè, khi làm việc và khi họ cùng thực hiê ̣n các hoa ̣t động trong cô ̣ng đồng Viê ̣t kiều ở tỉnh Uđonthani

6.3.4 Để hoàn thành phần điều tra ngữ âm và từ vựng của tiếng Viê ̣t ở tỉnh Uđonthani, chúng tôi đã sử dụng phương pháp điều tra có định hướng , tức là chúng tôi có sử du ̣ng bảng từ của viê ̣n Ngôn ngữ h ọc mùa h è (Summer Institute of Linguistics) (www.sil.org) bao gồm 281 từ dành cho điều tra những từ trong dòng họ “Việt – Mường” (xem phu ̣ lu ̣c 3) Phần điều tra thanh điê ̣u chúng tôi thêm mô ̣t

bô ̣ từ nữa để thực hiê ̣n , bô ̣ từ đó bao gồm các từ có đầy đủ 6 thanh điê ̣u của tiếng Viê ̣t (xem phu ̣ lu ̣c 5)

Trong quá trình thu thâ ̣p tư liê ̣u về ngữ âm , mă ̣c dù chúng tôi có bảng từ của viê ̣n Ngôn ngữ ho ̣c mùa h è (SIL) để sử dụng nhưng chúng tôi chọn cách viết bằ ng tiếng Thái để tránh viê ̣c các nghiê ̣m viên cố gắng đo ̣c theo chữ viết vì điều này có thể khiến cho những tư liê ̣u thu được không khách quan và chính xác Nếu cô ̣ng tác viên nào không thể đo ̣c được tiếng Thái thì chúng tôi s ẽ nói bằng tiếng Thái cho họ nghe, vì mặc dù họ không được học tiếng Thái qua trường lớp nhưng do sinh sống lâu năm tái Thái Lan, được tiếp xúc, giao tiếp trong cuô ̣c sống hàng ngày với người Thái nên họ có thể hiểu được tiếng Thái thông qua văn nói

6.3.5 Để hoàn thành phần điều tra từ vựng và ngữ pháp của tiếng Viê ̣t ở tỉnh Uđonthani, chúng tôi đã tạo điều kiện cho những nghiê ̣m viên gă ̣p gỡ, nói chuyện với nhau mô ̣t cách “tự nhiên” theo c hủ đề tự do Đồng thời chúng tôi ghi âm để phân tích sau cuô ̣c trò chuyê ̣n đó Trong trường hợp qua cuô ̣c trò chuyê ̣n theo chủ đề đó mà không thể thu thập đươ ̣c tư liê ̣u như mong muốn , ví dụ trong cuô ̣c nói chuyê ̣n các nghiê ̣m viên không nói ra “danh ngữ” nào đó , chúng tôi sẽ tạo ra “định hướng” cho các nghiê ̣m viên đó được nói ra “danh ngữ” Do công viê ̣c và điều kiê ̣n không cho phép nên chúng tôi không thể mời tất cả 20 nghiê ̣m viên cùng gặp gỡ trong mô ̣t cuô ̣c nói chuyê ̣n mà chỉ mời được mô ̣t số nghiê ̣m viên trong các cuô ̣c trò chuyê ̣n mà thôi

6.3.6 Ngoài việc sử dụng những lý thuyết làm cơ sở so sánh để phân tích trên ba bình diê ̣n ngôn ngữ : ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp , chúng tôi còn sử dụng

Trang 17

các nghiê ̣m viên là hai người Thái nói tiếng Thái chuẩn và hai người Thái nói tiếng

Thái I-xản (xem phu ̣ lu ̣c 2)

7 Giả thiết và kết quả có thể đạt được

7.1 Giả thiết của luận án

Tiếng Viê ̣t ở tỉ nh Uđonthani hiện nay giống như ngôn ngữ của mô ̣t dân tô ̣c thiểu số và bi ̣ cắt đứt quan hê ̣ với đất nước Viê ̣t Nam hơn 50 năm Do cô ̣ng đồng Viê ̣t kiều ở tỉnh Uđonthani đã sinh sống hòa nhâ ̣p với cô ̣ng đồng người Thái nên tiếng Viê ̣t ở nơi đây được tiếp xúc với tiếng Thái trong su ốt 50 năm đó, vì thế Việt kiều ở đây được coi như là người song ngữ : tiếng Viê ̣t và tiếng Thái Họ thường sử dụng cả tiếng Việt và tiếng Thái trong những bối cảnh khác nhau hàng ngày, nên hai thứ tiếng này phải có ảnh hưởng lẫn lô ̣n nhau trong viê ̣c sử du ̣ng ngôn ngữ của ho ̣

Đối với những Việt kiều ở tỉnh Uđonthani có bối cảnh hoặc phạm vi giao tiếp bằng tiếng Thái rô ̣ng hơn tiếng Viê ̣t nên tiế ng Thái có ảnh hưởng rất lớn đối với viê ̣c sử du ̣ng tiếng Viê ̣t của ho ̣ Những ảnh hưởng này được go ̣i là sự giao thoa Do tiếng Viê ̣t và tiếng Thái ở tỉnh Uđonthani đã được tiếp xúc với nhau khá lâu dài nên sự giao thoa của tiếng Thái trong tiếng Viê ̣t ở đây phải bắt đầu từ bâ ̣c ngữ âm , từ vựng và ngữ pháp

Xét từ góc ngôn ngữ học xã hội thì s ự khác biệt ho ặc sự biến thể ấy có thể mang tính cô ̣ng đồng, có thể mang tính cá nhân: giới tính và tuổi tác

Luâ ̣n án này sẽ là bức tranh cho chúng ta thấy tiếng Viê ̣t ở tỉnh Uđonthani đươ ̣c coi như là “mô ̣t cô ̣ng đồng tiếng Viê ̣t đă ̣c biê ̣t ở nước ngoài” như thế nào

7.2.1 Thông qua việc điều tra ngữ âm và mô ̣t số từ vựng của tiếng Viê ̣t hiê ̣n đang đươ ̣c sử du ̣ng ở tỉnh Uđonthani , luâ ̣n án có thể đưa ra được đă ̣c điểm ngữ âm và từ vựng của tiếng Việt ở tỉnh Uđonthani và cách sử dụng những đặc điểm đó

7.2.2 Nhờ viê ̣c so sánh tiếng Viê ̣t hiê ̣n đang đươ ̣c sử du ̣ng ở t ỉnh Uđonthani với tiếng Viê ̣t chuẩn ở Viê ̣t Nam , chúng tôi có thể thấy được sự khác biệt của tiếng Viê ̣t ở tỉnh Uđonthani

7.2.3 Nhờ viê ̣c đối chiếu tiếng Vi ệt hiện đang được sử dụng ở tỉnh Uđonthani với tiếng Thái : tiếng Thái chuẩn, tiếng Thái I-xản, chúng tôi có thể thấy

Trang 18

ảnh hưởng của tiếng Thái lên tiếng Việt ở tỉnh Uđonthani , và ảnh hưởng đó đã tạo nên sự giao thoa trong tiếng Viê ̣t như thế nào

7.2.4 Kết quả của luâ ̣n án có thể ta ̣o điều kiê ̣n thuâ ̣n lợi cho viê ̣c giao tiếp giữa người Viê ̣t ở Viê ̣t Nam và Viê ̣t kiều hiê ̣n nay đang sinh sống ở vùng Đông Bắc Thái Lan, thâ ̣m chí với toàn bô ̣ Viê ̣t kiều ở Thái Lan

8 Bố cu ̣c của luâ ̣n án

Tương ứng với nhiê ̣m vu ̣ nghiên cứu đã đă ̣t ra , ngoài phần mở đầu và kết luâ ̣n là phần nội dung luận án bao gồm bốn chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận

Trong chương này chúng tôi trình bày các quan niê ̣m về cô ̣ng đồng ngôn ngữ và cộng đồng ngôn ngữ ở tỉnh Uđonthani (cô ̣ng đồng ngôn ngữ tiếng Thái , tiếng Viê ̣t), cô ̣ng đồng song ngữ và người song ngữ đối với Viê ̣t kiều ở tỉnh Uđonthani Đưa ra các phạm v i giao tiếp bằng tiếng Viê ̣t của Viê ̣t kiều ở tỉnh Uđonthani , tiếp xúc ngôn ngữ ở tỉnh Uđonthani (giữa tiếng Viê ̣t và tiếng Thái ), sự giao thoa do tiếp xúc ngôn ngữ

Chương 2: Sự giao thoa về ngữ âm trong tiếng Viê ̣t ở tỉnh Uđonthani

Chương này chúng tôi trình bày về sự giao thoa về ngữ âm với phần phu ̣ âm đầu, phần vần (âm đê ̣m , âm chính , âm cuối ) và thanh điê ̣u của tiếng Việt ở tỉnh Uđonthani

Chương 3: Sự giao thoa về từ vựng trong tiếng Viê ̣t ở tỉnh Uđonthani

Từ vựng là bì nh diê ̣n chủ yếu của chương này Sự giao thoa bao gồm : sự giao thoa về từ vựng tiếng Thái chuẩn , đó là sự giao thoa về từ vựng tiếng Thái chuẩn trong viê ̣c sử du ̣ng từ tiếng Viê ̣t của Viê ̣t kiều ở tỉnh Uđonthani, sự giao thoa về từ vựng trong viê ̣c cấu ta ̣o từ của tiếng Viê ̣t ở tỉnh Uđonthani (phương thức cấu tạo từ ghép, phương thức cấu ta ̣o từ láy hai âm tiết)

Chương 4: Sự giao thoa về ngữ pháp trong tiếng Viê ̣t ở tỉnh Uđonthani

Có hai sự giao thoa lớn được chúng tôi trình bày trong chương này , đó là sự giao thoa về ngữ pháp trong viê ̣c sắp xếp trâ ̣t tự từ của danh ngữ (danh ngữ có từ chỉ số lượng) và sự giao thoa về ngữ pháp trong việc sắp xếp trâ ̣t tự từ của đô ̣ng ngữ (động ngữ phủ đi ̣nh)

Trang 19

cô ̣ng đồng ngôn ngữ lớn đó Đó chính là cộng đồng ngôn ngữ tiếng Viê ̣t của Viê ̣t kiều ở tỉnh Uđonthani (VKU) nằm trong cô ̣ng đồng ngôn ngữ tiếng Thái Vì thế đối tươ ̣ng nghiên cứu của luận án là tiếng nói của những VKU Khi tìm hiểu sự khác biê ̣t trong tiếng Việt của họ chúng tôi đã sử du ̣ng lý thuyết về sự giao thoa và những khái niệm về mặt ngôn ngữ ho ̣c xã hô ̣i sau đây:

1.1 Quan niê ̣m về cô ̣ng đồng ngôn ngƣ̃ và cô ̣ng đồng ngôn ngƣ̃ ở tỉnh

Uđonthani

Trang 20

Cô ̣ng đồng ngôn ngữ có thể là m ột cộng đồng nho nhỏ mà những người trong cô ̣ng đồng đã biết nhau , cùng sử dụng một ngôn ngữ , ví dụ cộng đồng ngôn ngữ của các dân tô ̣c thiểu số Cô ̣ng đồng ngôn ngữ có thể là mô ̣t cô ̣ng đồng to lớn mà những người trong cộ ng đồng không biết nhau mă ̣c dù cùng sử du ̣ng mô ̣t thứ tiếng, ví dụ cộng đồng ngôn ngữ tiếng Anh Do vậy tiếng Việt của VKU là một cộng đồng nho nhỏ giống như trường hợp cộng động ngôn ngữ của các dân tộc thiểu số của đất nước Thái lan

Có rất nhiều nhà ngôn ngữ học đã nghiên cứu và đưa ra những khái niệm về

cô ̣ng đồng ngôn ngữ gần giống nhau Ví dụ , trong nghiên cứu về cô ̣ng đồng nói năng (speech community) năm 1974, Peter Trudgill cho rằng : ngôn ngữ hoă ̣c tiếng nói đóng vai trò rất quan trọng trong xã hội, nếu nhìn theo cái nhìn của xã hô ̣i chúng

ta sẽ có hai nhân tố quan tro ̣ng của ngôn ngữ ; mô ̣t là có chức năng trong viê ̣c xây dựng quan hê ̣ giữa con người trong xã hô ̣i , hai là có chức năng đưa ra thông tin của người nói 156, tr 14, cho nên một ngôn ngữ nào đó có thể được sử du ̣ng trong nhiều cô ̣ng đồng và ngược la ̣i cũng có nhiều ngôn ngữ được sử du ̣ng trong mô ̣t

cô ̣ng đồng , nhưng đôi khi cũng xuất hiện trường hợp một cô ̣ng đồng chỉ có mô ̣t ngôn ngữ Cô ̣ng đồng tính theo ngôn ngữ như thế được go ̣i là “cô ̣ng đồng nói năng” Sau đó vào năm 1980, Hudson đưa ra khái niê ̣m về cu ̣m từ “cô ̣ng đồng nói năng” rằng cu ̣m từ “cô ̣ng đồng nói năng” được dùng bởi nhà ngôn ngữ học để giải thích về một cộng đồng nào đó bằng cách dựa vào ngôn ngữ , nhưng Hudson đã dùng cụm từ “cộng đồng ngôn ngữ (Linguistic communitiy)” thay cho cu ̣m từ cô ̣ng đồng nói năng 101, tr 25 Khái ni ệm của Hudson giống như khái niệm của Suzanne Romaine Romaine cho rằng cộng đồng nói năng (speech community ) không nhất thiết phải xuất hiê ̣n cùng với cô ̣ng đồng tiếng nói (Language community) Cộng đồng nói năng là tâ ̣p hợp của những người mà không cần phải cùng nhau sử dụng một ngôn ngữ , nhưng phải cùng nhau theo quy tắc hoă ̣c quy luâ ̣t của việc sử dụng ngôn ngữ Và biên giới giữa những cộng đồng nói năng chủ yếu là nghiêng về phía xã hô ̣i ho ̣c hơn phía ngôn ngữ học 138, tr 23

Ronald Wardhaugh lại nói rằng “cô ̣ng đồng ngôn ngữ” là cu ̣m từ rất trừu tươ ̣ng, gây ra không ít vấn đề bởi vì tiêu chuẩn đối với cô ̣ng đồng không phải là

Trang 21

ngôn ngữ trong tự nhiên và tự nó cũng được chia ra thành nhiều nhóm nho nhỏ

160, tr 119 Wardhaugh cũng nói về viê ̣c giải thích ý nghĩa của cu ̣m từ “cô ̣ng đồng ngôn ngữ” rằng : nghĩa của cụm từ này rất khó giải thích , nhưng khi người ta cố gắng giải thích người ta có thể nói sự khó khăn đó là do cách phân biê ̣t đă ̣c điểm của lời nói của từng người Khái niệm của Wardhaugh giống như khái niệm của Fishman ở chỗ phong cách sử du ̣ng ngôn ngữ trong mô ̣t cô ̣ng đồng ngôn ngữ tùy thuô ̣c vào vai trò và vi ̣ trí cá nhân Fishman cho rằng cô ̣ng đồng nói năng (Speech community) là cộng đồng mà các thành viên trong cộng đồng đó sử dụng ít nhất

mô ̣t ngôn ngữ và nhất trí sử du ̣ng cùng mô ̣t quy luâ ̣t của ngôn ngữ đó Mă ̣c dù cô ̣ng đồng nói năng nào đó chỉ sử du ̣ng mô ̣t ngôn ngữ nhưng phong cách sử du ̣ng ngôn ngữ của từng người cũng có thể ta ̣o ra sự khác biê ̣t tùy theo sự khác biê ̣t của “vai trò (role)” và “đi ̣a vi ̣ xã hô ̣i (status)” giữa người nói và người nghe , ví dụ nam – nữ, trẻ con – ngườ i lớn, học trò – giáo viên, v.v 81, tr 232

Trong cuốn “ngôn ngữ học xã hội” 36, tr 35, nhà Việt ngữ học Nguyễn

Văn Khang cho biết “ cộng đồng nói năng là một tập hợp của những người có một đặc trưng xã hội chung khi sử dụng một ngôn ngữ nào đó , mức độ to nhỏ của cộng đồng nói năng tùy thuộc vào yêu cầu nghiên cứu cũng như mức độ trừu tượng Giữa các cộng đồng nói năng có thể có những phần chung nhau và một cá thể nói năng có thể không chỉ thuộc về một cộng đồng nói năng nhất đi ̣nh ” Khái niệm

về cô ̣ng đồng nói năng của Nguyễn Văn Khang chủ yếu là những điểm chung nhau của cá thể nói năng trong mô ̣t cô ̣ng đồng, ông khẳng định mức đô ̣ nói năng của từng người là trừu tượng

Nhưng nhà nghiên cứu được coi như là mô ̣t đa ̣i diê ̣n tiêu biểu trong lý thuyết về cô ̣ng đồng ngôn ngữ và mối quan hê ̣ giữa ngôn ngữ và hoàn cảnh là Dell Hymes

dẫn theo 39 Hymes đã xác đi ̣nh tương quan giữa ngôn ngữ và hoàn cảnh giao tiếp theo các yếu tố sau : loại hình giao tiếp (giảng bài, buôn bán, đối thoa ̣i hàng ngày ), vai trò của người nói và người nghe , chức năng của ngôn ngữ trong viê ̣c biểu thi ̣ thái độ người nói , người nghe Hơn nữa Hymes cho rằng mô ̣t cô ̣ng đồng ngôn ngữ có thể sử dụng nhiều ngôn ngữ khác nhau để giao tiếp và cộng đồng như thế được gọi là cộng đồng đa ngữ Viê ̣c lựa cho ̣n sử du ̣ng ngôn ngữ trong mô ̣t cô ̣ng đồng đa

Trang 22

ngữ phải tuân theo những quy luâ ̣t 102, tr 51 Luận án của chúng tôi cũng áp dụng những quy luâ ̣t về cách sử du ̣ng ngôn ngữ này của Hymes Cô ̣ng đồng ngôn ngữ ở tỉnh Uđonthani (UĐ) Thái Lan đối với cộng đồng VKU này được coi như là cộng đồng song ngữ bởi cô ̣ng đồng bao gồm người sử du ̣ng tiếng Thái , tiếng Thái I -xản (một phương ngữ của tiếng Thái) và tiếng Việt

Cô ̣ng đồng ngôn ngữ ở tỉ nh UĐ Thái Lan hiê ̣n nay bao gồm hai cô ̣ng đồng ngôn ngữ Đó là cô ̣ng đồng ngôn ngữ tiếng Thái và cô ̣ng đồng ngôn ngữ tiếng Việt , nhưng cả hai cô ̣ng đồng ngôn ngữ này đều có giá tri ̣ và vai trò khác nhau trong cô ̣ng đồng xã hô ̣i người Thái ở tỉnh UĐ

Tiếng Thái có sự biến thể theo đi ̣a lý và trở thành bốn phương ngữ : phương ngữ Trung (được sử du ̣ng ở miền Trung và đóng vai trò là tiếng Thái chuẩn ), phương ngữ Bắc (được sử du ̣ng ở miền Bắc ), phương ngữ Nam (được sử du ̣ng ở miền Nam) và phương ngữ Đông Bắc (đươ ̣c sử du ̣ng rô ̣ng rãi ở miền Đông Bắc hay đươ ̣c người dân go ̣i là tiếng Thái I-xản)

Cô ̣ng đồng ngôn ngữ tiếng Thái ở tỉnh U đonthani có thể chia thành hai loa ̣i : tiếng Thái I -xản (TTI) và tiếng Thái chuẩn (TTC) Vai trò của hai loa ̣i tiếng Thái này như sau:

-Tiếng Tha ́ i I-xản (phương ngữ của tiếng Thái): TTI là tiếng thông du ̣ng nhất

trong các tỉnh ở vùng Đông Bắc Thái Lan Ngày xưa 100% người dân ở vùng Đông Bắc Thái Lan đều nói TTI, vì TTI là tiếng mẹ đẻ của họ Người dân ở tỉnh UĐ cũng không ngoa ̣i lê ̣ Trong bất cứ hoàn cảnh nào ho ̣ thường dùng TTI để giao tiếp hàng ngày: trong gia đình , giữa ba ̣n bè , khi đi chợ, lúc làm ăn Thâ ̣m chí khi ho ̣ có viê ̣c phải liên hệ với các sở , trạm, trường ho ̣c, viê ̣n của nhà nước , họ cũng sử dụng TTI

Mă ̣c dù chính phủ Thái quy đi ̣nh lấy tiếng Thái miền Tru ng là tiếng Thái chuẩn và người dân Thái Lan phải sử du ̣ng TTC, nhưng trong thực tế người dân vùng nào vẫn sử du ̣ng tiếng đi ̣a phương của vùng ấy Điều này tạo nên khó khăn cho viê ̣c thi hành công vu ̣ của chính phủ Thái bởi TTI và TTC có rất nhiều điểm khác nhau , nhất là từ vựng Các công chức, cán bộ nhà nước (phần lớn là những người đến từ thủ đô hoă ̣c thành phố lớn và có học thức cao ) đều giao tiếp bằng TTC , nhưng người dân thì la ̣i

Trang 23

giao tiếp b ằng TTI, tạo nên sự hiểu nhầm trong khi giao tiếp ở các công sở Do đó chính phủ Thái bắt buộc người dân phải sử du ̣ng TTC khi liên hê ̣ với các sở , trạm, viê ̣n của nhà nước Các thầy cô giáo trong trường học , từ mẫu giáo đến trườ ng đa ̣i học cũng đều sử dụng TTC để giảng dạy và giao tiếp với học sinh nên hiện nay TTI ở tỉnh UĐ chỉ là tiếng địa phương , đươ ̣c sử du ̣ng giao tiếp giữa ba ̣n bè và trong gia đình mà thôi Đối với người dân ở tỉnh UĐ khi họ nói bằng TTI , có nghĩa là họ muốn tỏ ra thân thiết với người nghe

-Tiếng Tha ́ i chuẩn: (TTC) là tiếng phổ thông toàn quốc , thực ra TTC cũng là

phương ngữ Trung - mô ̣t trong bốn phương ngữ của tiếng Thái Nó được sử dụng

rô ̣ng rãi ở miền Trung của Thái Lan nơi có thủ đô Băng Cốc Do miền Trung củ a Thái Lan là khu vực trung tâm chính trị , kinh tế, văn hoá, hơn nữa thủ đô Băng Cốc cũng nằm ở miền Trung , cho nên tiếng miền Trung này trở thành TTC Để các dân

tô ̣c khác nhau có thể giao tiếp với nhau trên toàn quốc , Chính phủ Thái đã quy đi ̣nh cho người dân cả nước cùng sử du ̣ng mô ̣t ngôn ngữ , đó là TTC Theo đó người dân toàn quốc phải giao tiếp bằng TTC khi có việc liên hệ với các cơ quan của nhà nước, vì vậy tiếng Thái miền Trung không chỉ là TTC mà còn là tiếng Thái quốc gia Điều này buô ̣c người dân ở tỉnh UĐ phải sử du ̣ng cả TTI và TTC Trong khi nói chuyê ̣n với gia đình , bạn bè họ sử dụng TTI, nhưng khi liên hê ̣ với các cơ quan nhà nước thì ho ̣ sử du ̣ng TTC

Chính vì thế 80% người Thái ở tỉnh UĐ là người bản ngữ TTI , 20% còn lại là người bản ngữ TTC Trong số 80 % đó tất cả đều có thể giao tiếp b ằng TTC bởi họ được học TTC trong trường học , nhưng 20% còn lại la ̣i không thể giao tiếp bằng TTI vì ho ̣ không phải người bản ngữ TTI TTC ở tỉnh UĐ là ngôn ngữ được sử du ̣ng trong giao tiếp với các cơ quan nhà nước hoă ̣c trường học, tức là được sử du ̣ng mô ̣t cách chính thức , còn TTI chỉ được sử dụng trong phạm vi gia đình và bạn bè mà thôi

Tiếng Viê ̣t ở tỉnh Uđonthani (TVU) (trong luâ ̣n án này là tiếng Viê ̣t củ a Viê ̣t kiều (VK) mới - hay người Thái Lan go ̣i những VK này là Yuan ôp pa yôp

„Immigrant Vietnamese‟) dùng để giao tiếp 155, tr 134 được coi là mô ̣t phương

Trang 24

ngữ đă ̣c biê ̣t, tồn ta ̣i trong những đi ̣a ha ̣t khép kín , không giao lưu, không hoà nhập, không mô ̣t sự liên hê ̣ với các phương ngữ nào khác ở VN trong mô ̣t khoảng thời

gian hơn mấy chu ̣c năm Giai đoa ̣n li ̣ch sử TVU có thể chia thành 2 giai đoa ̣n như sau:

- Giai đoa ̣n giao tiếp kín đáo : kéo dài khoảng từ năm 1945 – 1975 Nguyên

nhân là do VKU giai đoa ̣n này bi ̣ nhà nước Thái Lan cấm giao tiếp bằng tiếng Viê ̣t và cấm tâ ̣p trung sinh hoa ̣t nên VK trong giai đoa ̣n này đều phải giao tiếp bằng tiếng Thái, kể cả khi giao tiếp với người Viê ̣t 177, tr 43-59 Ngoài ra họ còn phải làm việc để kiếm ăn nên tiếng Thái là thứ tiếng quan tro ̣ng đối với ho ̣ Vì vậy tiếng Viê ̣t của họ lúc này được coi như một thứ tiếng của dân tô ̣c thiểu số , chỉ được sử dụng để giao tiếp trong gia đì nh, nếu muốn giao tiếp ngoài gia đình (với ba ̣n bè ) thì phải giao tiếp mô ̣t cách kín đáo Mô ̣t số VK trong giai đoa ̣n này đã quên tiếng Viê ̣t , đôi khi trong gia đình , họ cũng giao tiếp với nhau bằng tiếng Thái Điều này khiến cho tiếng Thái của họ phát triển nhưng tiếng Việt của họ thì ngừng phát triển Viê ̣c da ̣y tiếng Viê ̣t được truyền từ bố me ̣ sang con cái bằng cách “gia đình ho ̣c hiểu” , từ người lớn da ̣y cho trẻ con , từ người biết tiếng Viê ̣t nhiều da ̣y người biết ít Viê ̣c da ̣y tiếng Viê ̣t ấy cũng diễn ra mô ̣t cách kín đáo

-Giai đoa ̣n giao tiếp thừa nhận : từ sau năm 1975 đến nay Thái Lan và Việt

Nam đã thiết lập quan hê ̣ ngoa ̣i giao, lúc này VKU không bị cấm tập trung sinh h oạt

cô ̣ng đồng nữa, họ được tự do nói tiếng Việt , con cháu của ho ̣ được phép vào học ở trường phổ thông nếu muốn 174, tr 35-60 Họ cũng có thể nghe tin tức về VN qua đài tiếng nói Viê ̣t Nam và đài truyền hình Viê ̣t Nam nên t rong giai đoa ̣n này hầu như TVU đã phát triển trở la ̣i Nhưng thâ ̣t đáng tiếc mô ̣t số VKU đã hoàn toàn

không nói được tiếng Viê ̣t - tiếng me ̣ đẻ của mình - nhất là những VK thế hê ̣ thứ ba

Như đã nói trên, Tiếng Viê ̣t đối với VKU được coi như thứ tiếng của dân tộc thiểu số dùng để giao tiếp trong hoàn cảnh vừa he ̣p vừa kín đáo Mă ̣c dù ho ̣ đã được tự do giao tiếp bằng tiếng Viê ̣t nhưng môi trường sử dụng vẫn ít , thường là chỉ sử dụng giao tiếp trong gia đình hoặc giữa ba ̣n bè Có hai lý do lớn là: (1) tiếng Thái là ngôn ngữ quan tro ̣ng đối với ho ̣ vì ho ̣ đang sinh sống và làm việc trong cô ̣ng đồng người Thái, hàng ngày họ phải sử dụng tiếng Thái nên tiếng Thái của họ phát triển

Trang 25

hơn tiếng Viê ̣t Trong giao tiếp ở nhà , nếu thứ tiếng phát triển nhiều hơn , dễ hiểu hơn thì họ sẽ sử du ̣ng nhiều hơn (2) Không ai nói tiếng Viê ̣t với ho ̣ Hiện nay trong gia đình gồm 3-4 thế hệ của VKU thì hầu như chỉ có thế hê ̣ thứ nhất là có thể nói đươ ̣c tiếng Viê ̣t 100% còn các thế hệ khác thì tùy thuộc vào khả năng của từng người Do vậy trong gia đình , nếu có người nào không nói được tiếng Viê ̣t hoă ̣c không hiểu thì người ta sẽ dùng tiếng Thái để giao tiếp

Theo Ronald Wardhaugh thì : sự tản cư có thể làm cho ngôn ngữ mất đi nhưng cũng có thể tạo nên sự mở rô ̣ng của ngôn ngữ 160, tr 98 Nhưng sự tản cư của VKU thì chưa đến mức gây ra sự mất đi hoặc sự mở rộng ấy Nó chỉ là kết qu ả của tình trạng song ngữ Hiê ̣n nay ở tỉnh UĐ chỉ có Viê ̣t kiều thế hê ̣ thứ nhất (VKI) sử du ̣ng tiếng Viê ̣t để giao tiếp, nhưng họ cũng quên mô ̣t số từ vì hàng ngày ho ̣ giao tiếp bằng tiếng Thái nhiều hơn tiếng Viê ̣t Với Viê ̣t kiều thế hê ̣ thứ hai (VKII) chúng

ta có thể chia thành hai nhóm : 1 nhóm vẫn nói được tất cả các từ của tiếng Việt và nhóm thứ hai chỉ có thể nói được khoảng năm mươi phần trăm vì một số từ họ đã quên và sử du ̣ng tiếng Thái đ ể thay thế Riêng Viê ̣t kiều thế hê ̣ thứ ba (VKIII) thì hoàn toàn không nói được tiếng Việt Nguyên nhân có thể là do ngôn ngữ đó không còn có ích nữa , nhất là thế hê ̣ con cái của những người nói ngôn ngữ không còn có ích này 59, tr 42

Vì phải sinh sống làm ăn trong cộng đồng người Thái ở tỉnh UĐ nên tiếng Thái đối với những VKU cũng giống như người Thái Họ giống như dân tô ̣c thiểu số sử du ̣ng rất thành tha ̣o cả TTC và TTI Như Trần Trí Dõi đã nói : các dân tộc thiểu số ngoài sử du ̣ng ngôn ngữ của mình ho ̣ còn sử du ̣ng thêm ngôn ngữ thông dụng của một dân tộc khác trong vùng lãnh thổ (ngôn ngữ vùng phu ̣c vu ̣ cho giao tiếp hàng ngày) 17, tr 10 Đối với các phương ngữ của các ngôn ngữ dân tộc thiểu số, mô ̣t mă ̣t , sự ngăn cách về đi ̣a lí – lãnh thổ đã làm tăng “tính độc lập” của phương ngữ (trong mối quan hê ̣ với các phương ngữ khác trong cùng mô ̣t ngôn ngữ), mă ̣t khác, tác động của môi trường xã hô ̣i – ngôn ngữ sẽ làm xuất hiê ̣n hai khả năng là khả năng sử du ̣ng theo kiểu pha trô ̣n với ngôn ngữ khác và khả năng từ bỏ để chuyển sang giao tiếp bằng ngôn ngữ khác Cả hai khả năng này đều là nguy cơ dẫn đến sự mất đi của phương ngữ 37, tr 7

Trang 26

1.2 Cô ̣ng đồng song ngữ và người song ngữ đối với Viê ̣t kiều ở tỉnh Uđonthani

Cộng đồng song ngữ nghĩa là các thành viên trong cộng đồng song ngữ nói đươ ̣c hai ngôn ngữ Người nói được hai ngôn ngữ ấy được gọi là người song ngữ

Tản cư (migration) là một trong những yếu tố của việc hình thành cộng đồng song ngữ và người song ngữ 174, tr 47-48 Dướ i đây là một số khái niê ̣m về cô ̣ng đồng song ngữ và người song ngữ của những nhà ngôn ngữ học

1.2.1 Khái niệm về cộng đồng song ngữ

Cộng đồng song ngữ được Nguyễn Văn Khang go ̣i là xã hội song ngữ Ông

cho rằng cuô ̣c giao tiếp của những người song ngữ không thể tiến hành được nếu không có xã hô ̣i song ngữ , người song ngữ và xã hô ̣i song ngữ tuy có quan hê ̣ mâ ̣t thiết với nhau nhưng là hai hiê ̣n tượng khác nhau 34, tr 42-43 Ông cho biết thêm rằng khi lí giải hiê ̣n tượng song ngữ xã hô ̣i , cần phải xuất phát từ ba phương diện là tính khu vực, tính dân tộc và tính chức năng Thí dụ ở một quốc gia đa dân tộc , đa ngôn ngữ thì song ngữ xã hô ̣i thường gă ̣p là: (1) ở trong một khu vực nhất định hình thành nên tình huống song ngữ giữa ngôn ngữ của mô ̣t dân tô ̣c thiểu số với ngôn ngữ giao tiếp chung (ngôn ngữ chính thức hoă ̣c ngôn ngữ quốc gia /ngôn ngữ mang tính quốc gia); (2) tình huống song ngữ giữa hai hoặc trên hai ngôn ngữ dân tộc với ngôn ngữ chung ; (3) tình huống song ngữ giữa hai hoặc trên hai ngôn ngữ dân tộc thiểu số Ví dụ như cộng đồng song ngữ ở Canada , George Yule cho rằng, ở đây có hai ngôn ngữ quốc gia : tiếng Anh và tiếng Pháp Trong đó tiếng Anh là ngôn ngữ của dân tộc đa số còn tiếng Pháp là ngôn ngữ của dân tộc thiểu số , nhưng trong giao tiếp của ho ̣ la ̣i nghiêng về tiếng Pháp (ngôn ngữ của dân tô ̣c thiểu số ) hơn tiếng Anh Tuy nhiên trong những cô ̣ng đồng song ngữ khác t hì hầu như đều nghiêng về ngôn ngữ của dân tô ̣c chiếm đa số Những người lớn lên trong quốc gia chỉ có mô ̣t ngôn ngữ như tiếng Welsh ở đất nước Wales , tiếng Gaelic ở đất nước Scotland thì đều phải học ngôn ngữ khác ví dụ như tiếng An h để có địa vị cao trong xã hô ̣i vì vậy cô ̣ng đồng của ho ̣ cũng là cô ̣ng đồng song ngữ 176, tr 231 Joshua A Fishman lại tổng kết như sau : qua những nghiên cứu và theo dõi có thể thấy rằng trong các cô ̣ng đồng chỉ sử dụng mô ̣t ngôn ngữ thì việc giữ gìn ngôn ngữ sẽ tốt hơn trong các cộng đồng sử dụng nhiều ngôn ngữ và chính quan hệ chặt chẽ của những

Trang 27

người trong cộng đồng sử dụng một ngôn ngữ cũng giúp cho việc giữ gìn ngôn ngữ được tốt hơn 115, tr 31

Trong luận án của mình chúng tôi sử dụng khái niê ̣m cộng đồng song ngữ

của Nguyễn Văn Khang vì cách lý giải dựa trên ba phương diện của ông (tính khu vực, tính dân tộc, tính chức năng) rất phù hợp với cô ̣ng đồng VKU Phần lớn họ sử dụng tiếng Thái trong các tình huống giao tiếp nên tiếng Việt của họ chỉ được sử dụng trong mô ̣t số lĩnh vực mà thôi Chính vì thế tiếng Việt của VKU chịu ảnh hưởng rất lớn của tiếng Thái

Về cô ̣ng đồng song ngữ , VKU sử du ̣ng hai ngôn ngữ: tiếng Viê ̣t (là tiếng mẹ đẻ) và tiếng Thái Trong thực tế tiếng Thái ở tỉnh UĐ có thể chia thành hai loa ̣i là TTC và tiếng Thái đi ̣a phương (TTI) Khi chúng tôi tiến hành khảo sát theo nguồn gốc của những VKU thì thấy rằng họ đến từ cả 3 miền của Việt Nam nên tiếng Việt của họ gồm cả tiếng Việt phương ngữ Bắc, Trung và Nam

Preecha Sukkasem – người nghiên cứ u về cô ̣ng đồng song ngữ ở làng Phonphueng (tỉnh Surin , Thái Lan ) cho biết : cộng đồng này n ói rất thành thạo cả tiếng Kuai và tiếng Lào Nhưng vì tiếng Lào là ngôn ngữ quốc gia của Lào nên đươ ̣c xếp vào vi ̣ trí ngôn ngữ có uy tín Do đó nếu giao tiếp trong cô ̣ng đồng , người làng Phonphueng sẽ nói tiếng Kuai , nhưng khi giao tiếp với bên ngoài ho ̣ sẽ nói tiếng Lào 147, tr 41

Nếu quan sát theo khái niê ̣m của Nguyễn Văn Khang thì cô ̣ng đồng song ngữ đối với VKU là cô ̣ng đồng song ngữ có cảnh huống (1), tức là cảnh huống song ngữ giữa ngôn ngữ củ a mô ̣t dân tô ̣c thiểu số với ngôn ngữ quốc gia (ngôn ngữ quốc gia của Thái Lan chính là ngôn ngữ giao tiếp chung , ngôn ngữ chính thức ) 34, tr 43

Ông cũng khẳng định rằng: “ngôn ngữ trong quá trình giao tiếp của cư dân song ngữ có thể gây ra hiê ̣n tượng tác động qua lại giữa cấu trúc và các yếu tố trong cấu trúc của hai ngôn ngữ Do đó hiê ̣n tượng “trộn mã” , “chuyển mã” và “giao thoa” rất dễ xảy ra” 36, tr 45-46

Trang 28

Thuật ngữ “người song ngữ” đã được George Yule giải thích như sau : người biết và sử du ̣ng được hai ngôn ngữ khác nhau là “người song ngữ” 167, tr 231 Ban đầu thuâ ̣t ngữ “người song ngữ” có nghĩa là mô ̣t người nào đó c ó trình độ và khả năng sử dụng hai ngôn ngữ bằng nhau , tức là có thể sử du ̣ng ngôn ngữ thứ hai ngang bằng với ngôn ngữ thứ nhất Nhưng những nghiên cứu về trình đô ̣ song ngữ của những người song ngữ sau đó cho thấy ít khi gặ p đươ ̣c những người song ngữ có trình độ hai ngôn ngữ bằng nhau , mỗi người chỉ thuâ ̣n mô ̣t ngôn ngữ mà thôi Điều này cho thấy “người song ngữ” không cần phải là người có trình đô ̣ và khả năng sử du ̣ng hai ngôn ngữ bằng nhau n hư trước nữa 174, tr 57 Có rất nhiều minh chứng cho thấy rằng người sinh sống trong cô ̣ng đồng song ngữ có thể gây ra tình trạng bất thường trong ngôn ngữ mẹ đẻ của mình 123, tr 278 Weinreich (1953), (1966) đã nói: khi mô ̣t người có thể dùng được hai thứ tiếng và cả hai thứ tiếng đó sử du ̣ng được ngang nhau thì người nói được hai thứ tiếng đó được go ̣i là

“người song ngữ”, 163, tr 1, 164, tr 71-72 Bloomfield có khái niê ̣m về chế đô ̣ song ngữ rằng “có thể quản lý được cả hai thứ tiếng mô ̣t cách tự nhiên” 66, tr 53 Trong luâ ̣n án của Penchusee cho rằng : thực tế rất khó có thể gă ̣p được mô ̣t người nào đó có thể nói được cả hai thứ tiếng ngang bằng nhau trong chế đô ̣ song ngữ Vì

vâ ̣y viê ̣c quan tro ̣ng nhất là phải phân biê ̣t được thứ tiếng nào là tiếng thứ nhất , tiếng nào là tiếng thứ hai

Về khái niệm “ai là người song ngữ hoàn toàn” , Carol Myers -Scotton cho biết: khả năng biết song ngữ của những người song ngữ tùy thuô ̣c vào các ngôn ngữ họ đã biết, họ đã học các ngôn ngữ đó như thế nào , thời gian ho ̣ ho ̣c từng ngôn ngữ đó và kết quả ra sao , cuối cùng là trong các ngôn ngữ ho ̣ đã ho ̣c ấy ngôn ngữ nào là ngôn ngữ chính , ngôn ngữ nào là phu ̣ 128, tr 33 Cũng như việc xác định khả năng song ngữ của Nguyễn Văn Khang , ông cho rằng người có khả năng song ngữ phải là một trong hai loại sau : (1) Song ngữ hoàn toàn là khả năng n ắm một cách chủ động, tự do hai ngôn ngữ như nhau đến mức có thể tư duy trực tiếp từng ngôn ngữ mà không cần di ̣ch từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác , (2) Song ngữ không hoàn toàn (hay song ngữ bô ̣ phâ ̣n , song ngữ có điều kiê ̣n ) là trong từng phạm vi cơ

Trang 29

bản, người sử du ̣ng có thể trình bày được ý nghĩ của mình mà người khác hiểu đươ ̣c, cảm thụ được, đồng thời la ̣i có thể hiểu được điều người khác trình bày bằng hai ngôn ngữ đó 33, tr 39-42 Về hiện tương song ngữ của tiếng Viê ̣t , Phan Ngo ̣c và Phạm Đức Dương (1983) cho biết: người song ngữ là người nói ngôn ngữ A có thể nói được ngôn ngữ B và người đó luôn sử du ̣ng ngôn ngữ B để giao tiếp với người nói ngôn ngữ B, như vâ ̣y go ̣i là người song ngữ 43, tr 22-23

Trong những khái niệm trên , chúng tôi sử dụng khái niệm của Nguyễn Văn Khang vì trình đô ̣ song ngữ của những người song ngữ là tính chất riêng của từng người Khả năng song ngữ củ a từng người cũng không thể giống nhau được , ví dụ anh X và anh Y là người song ngữ và cả hai cũng có khả năng ngôn ngữ A và ngôn ngữ B, nhưng trình đô ̣ sử du ̣ng hai ngôn ngữ của anh X và anh Y không bằng nhau

mă ̣c dù cả hai là người song ngữ giống nhau Chẳng ha ̣n anh X có thể giỏi ngôn ngữ A hơn ngôn ngữ B, còn anh Y có thể giỏi ngôn ngữ B hơn ngôn ngữ A Viê ̣c sử dụng ngôn ngữ thứ hai bằng được ngôn ngữ thứ nhất hay không còn tùy thuộc vào khả năng và cơ hội giao tiếp bằng ngôn ngữ thứ hai của từng người song ngữ đó

Nếu dựa vào khái niê ̣m của Sarah G Thomason chúng ta sẽ thấy : VKI được gọi là người song ngữ nh ờ ho ̣c tiếng Thái làm ngôn ngữ thứ hai (bilingual second-language acquisition) còn VKII lại là người song ngữ ngay từ khi sinh ra (bilingual learning two language from birth) 150, tr 48-54

Người song ngữ ở tỉnh UĐ tùy thuô ̣c vào “M ô hình giao tiếp (communicative norm )”- đó chính là hoàn cảnh trong cuô ̣c nói chuyê ̣n của người song ngữ 92, tr 93 Ngoài ra quan hệ giữa người nói và người nghe cũng rất quan trọng Đối với VKU thì ban đầu (năm 1945-1946) họ tản cư v ào sinh sống ở tỉnh

UĐ và cuối cùng trở thành mô ̣t cô ̣ng đồng VK khá lớn do vậy từ đó đến bây giờ những VKI và VKII đều là người song ngữ

VKU hiê ̣n nay đang sinh sống trong cô ̣ng đồng song ngữ , đó là tiếng Viê ̣t và tiếng Thái Họ được coi như là người song ngữ , nhất là những VKII VKI do sinh sống với người Thái lâu nên ho ̣ nói được tiếng Thái gần như tiếng Viê ̣t tuy nhiên vẫn có thể phân biê ̣t được rất rõ ràng tiếng Viê ̣t là tiếng thứ nhất , tiếng Thái là tiếng

Trang 30

thứ hai Mô ̣t số VKII thì hoàn toàn có chế đô ̣ song ngữ Họ lớn lên giữa tiếng Việt và tiếng Thái nên tiếng Việt và tiếng Thái của họ có trình độ ngang nhau Viê ̣c phân biê ̣t ngôn ngữ nào là ngôn ngữ thứ nhấ t rất khó vì ho ̣ ho ̣c cả hai thứ tiếng cùng thời gian

Hiê ̣n tượng song ngữ có thể gây ra sự biến thể của ngôn ngữ nhất là ngôn ngữ của những người tản cư 159, tr 98 Đối với TVU, luận án cho thấy tiếng Viê ̣t ở đây đan g trong tình tra ̣ng dần dần bi ̣ mất đi nhất là với Viê ̣t kiều thế hê ̣ thứ ba Myers-Scotton nói rằng những người tản cư phải chi ̣u ảnh hưởng của sự dần dần biến đi của viê ̣c sử du ̣ng ngôn ngữ thứ nhất (tiếng me ̣ đẻ ) khi ho ̣ p hải sống chung với ngôn ngữ khác 127, tr 225 Chính vì thế khi VKU sử dụng tiếng Việt để giao tiếp, ít nhiều tiếng Việt của họ phải bị ảnh hưởng của tiếng Thái

1.3 Phạm vi giao tiếp bằng tiếng Việt của Việt kiều ở tỉnh Uđonthani

Do VKU là người song ngữ (tiếng Viê ̣t và tiếng Thái : TTC và TTI) cho nên họ phải lựa chọn ngôn ngữ để giao tiếp hàng ngày giữa tiếng Việt - tiếng me ̣ đẻ của mình và tiếng Thái : TTC, TTI Hiê ̣n tượng song ngữ là tính cách riêng của từng người, cho nên nếu có người song ngữ có nghĩa là trong cô ̣ng đồng nào đó phải bao gồm 2 cô ̣ng đồng nói năng (cô ̣ng đồng nói năng A và cô ̣ng đồng nói năng B ) và người song ngữ ấy phải có mối quan h ệ với 2 cô ̣ng đồng nói năng đó Nếu đến một ngày nào đó người song ngữ ấy thấy rằng mình không cần sử dụng 2 ngôn ngữ nữa

vì trong cộng đồng chỉ cần sử dụng một ngôn ngữ mà thôi thì người song ngữ ấy sẽ phải lựa chọn ngôn ngữ quan tro ̣ng và được mo ̣i người chấp nhâ ̣n nhất rồi bỏ đi ngôn ngữ không quan tro ̣ng Tình trạng này được người ta gọi là hiện tượng thất ngữ (language loss)174, tr 52-53 Hiện tươ ̣ng thất ngữ đang xảy ra với Viê ̣t kiều thế hệ thứ ba của cộng đồng VKU , vì theo họ tiếng Thái là ngôn ngữ quan trọng trong hoa ̣t đô ̣ng hàng ngày nên ho ̣ bỏ đi tiếng Viê ̣t

Có những nhà nghiên cứu đi trước đã tiến hành nghiên cứu về việc lựa chọn sử du ̣ng ngôn ng ữ trong xã hội song hoặc đa ngôn ngữ và họ đã tạo ra vị trí xảy ra cuô ̣c giao tiếp (place) trong nghiên cứu của ho ̣ như : Schmidt-Rohr (1936) chia vị trí xảy ra cuộc giao tiếp là gia đình , sân chơi hoă ̣c đường phố, trường ho ̣c, nhà thờ, văn bản, báo chí, quân đô ̣i, tòa án, chính phủ Barker and Barker (1952) đã nghiên cứu

Trang 31

về người Mexico -Mỹ và người Mỹ Anh điêng (Yaquii) ở bốn pha ̣m vi xảy ra cuô ̣c giao tiếp : phạm vi quen thuộc (gia đình, bạn bè), phạm vi không chính thức (nhà thờ), phạm vi chính thức (chính phủ), khép kín trong nhóm Mackey (1962) đã sử dụng năm phạm vi : trong nhà, cô ̣ng đồng, trường ho ̣c, báo chí và viết thư Fishman (1968) đã dùng những pha ̣m vi như : trong nhà , trường ho ̣c, nhà thờ và hàng xóm

ba nhân tố gồm (1) chủ cảnh (thời gian, đi ̣a điểm và các trường hợp đă ̣c thù có liên quan đến truyền thống văn hóa ); (2) thoại đề (chủ đề giao tiếp và nội dung đề cập đến); (3) người tham dự (các bên tham gia giao tiếp , gồm người nói , người nghe)

36, tr 186 Nói về người tham dự thì Jenet Holmes cho rằng nhân tố xã hội của sự lựa cho ̣n trong viê ̣c giao tiếp gồm : hoàn cảnh (social setting) giữa người nói và người nghe: vợ-chồng, người mua-người bán hàng, sếp-công nhân là nhân tố xã hô ̣i quan tro ̣ng trong cuô ̣c giao tiếp Nơi xảy ra cuô ̣c giao tiếp (social context): nhà, nơi làm việc, trường ho ̣c là nhân tố xã hô ̣i chung trong cuô ̣c giao tiếp 98, tr 11-12

Như Jenet Holmes viết nếu những ng ười tản cư (minority) là người khác biệt

so với người cư dân cũ (majority) thì những người tản cư ấy phải chịu sự đe dọa của những người cư dân cũ (majority), đây cũng là sức ép dà nh cho những người tản cư (minority) Ví dụ trong một đất nước sử du ̣ng tiếng Anh là ngôn ngữ quốc gia , người tản cư nào nói được tiếng Anh mới có được sự chấp nhâ ̣n của những người cư dân cũ, còn những người nào mà không thể nói được tiếng Anh thì phải chịu sự đe dọa của những người cư dân cũ ví dụ trong nước Anh , Mỹ, Úc, New Zealand.v.v Nói tiếng Anh tốt với những người tản cư được coi như đã nhận được sự thành đạt , cho nên có hiê ̣n tượng bỏ quên tiếng me ̣ đẻ (minority language) của mình 99, tr

52

Trang 32

VKU (chỉ nói đến VKI và VKII ) có cách lựa chọn việc sử dụng ngôn ngữ của mình (tiếng Viê ̣t) tùy theo “phạm vi (domain)” Theo Fasold, “pha ̣m vi” là ngữ cảnh là cơ chế cho việc lựa chọn sử dụng ngôn ngữ phù hợp với người khác , đó là người nghe (Interlocuters), đề tài (Topic), hoàn cảnh (Place) 78, tr 183 Cũng như Robert E Owens, Jr đã nói về viê ̣c lựa cho ̣n và sử du ̣ng ngôn ngữ nào đó trong mô ̣t

cô ̣ng đồng cần phải dựa và o (1) kiến thức về cái được nói tới của người nói và người nghe; (2) ngữ cảnh trong cuô ̣c giao tiếp , tức là quan hê ̣ giữa người nói và người nghe; vai trò của người nói và người nghe ; lịch sử của người nói và người nghe đều có ảnh hưởng rất lớn cho việc giao tiếp 132, tr 57

Viê ̣c lựa cho ̣n sử du ̣ng tiếng Viê ̣t của những VKU chủ yếu là theo khả năng tiếng Viê ̣t của người nghe , còn đề tài thì hầu như không quan trọng mấy , tức là ho ̣ sẽ lựa chọn sử dụng tiếng Việt trong bất cứ đề tài nào họ muốn Theo quan niê ̣m của Nguyễn Văn Khang , chúng tôi thấy rằng việc lựa chọn tiếng Việt để giao tiếp đối với những VKU có ba pha ̣m vi : 1) kiến thức về tiếng Viê ̣t của ngườ i nói và người nghe, 2) kiến thứ c của người nói và người nghe , tức là người nói và người nghe cũng có kiến thức về cái được nói tới, 3) ngữ cảnh trong cuô ̣c giao tiếp Phạm vi của

viê ̣c sử du ̣ng tiếng Viê ̣t của VKU phần lớn có bốn pha ̣m vi, đó là phạm vi buôn bán, gia đình, bạn bè và sinh hoạt cộng đồng

- Phạm vi buôn bán : trong phạm vi này nếu người nói và người nghe đều là VKI, họ sẽ lựa chọn tiếng Việt để giao tiếp , còn nếu ngườ i nói là VKI nhưng người nghe là VKII thì viê ̣c lựa cho ̣n sẽ tùy vào khả năng tiếng Viê ̣t của người nghe - trong trường hợp này họ sẽ sử dụng cả tiếng Viê ̣t lẫn tiếng Thái Hiện tượng này giống như trường hợp người nói và người nghe là VKII, nếu khả năng giao tiếp bằng tiếng Viê ̣t cả hai bên hạn chế thì họ sẽ sử dụng tiếng Thái để giao tiếp nhiều hơn

- Phạm vi gia đình : phạm vi này được giả định cho việc sử dụng tiếng Việt

hơn tiếng Thái nhưng trong thực tế thì lại khác Nếu trong gia đình đó bao gồm VKI thì gia đình ấy sẽ lựa chọn tiếng Việt để giao tiếp với nhau (trong trườ ng hơ ̣p này tiếng Viê ̣t của những VKII cũng được phát triển ), nhưng nếu gia đình ấy toàn VKII thì họ lại lựa cho ̣n tiếng Thái để giao tiếp

Trang 33

- Phạm vi bạn bè : trong phạm vi ba ̣n bè cũng giống như pha ̣m vi buôn bán , viê ̣c lựa cho ̣n ngôn ngữ giao tiếp phải tùy thuô ̣c vào khả năng tiếng Viê ̣t của người nói và người nghe Nếu người nói hoă ̣c người nghe thiếu khả năng giao tiếp bằng tiếng Viê ̣t thì tiếng Thái sẽ được lựa cho ̣n sử du ̣ng nhiều hơn tiếng Viê ̣t , nhưng nếu cả hai bên không có khả năng giao tiếp bằng tiếng Việt (nhất là trong cuô ̣c đối thoa ̣i của VKII) thì ngôn ngữ duy nhất trong cuộc giao tiếp đó là tiếng Thái

- Phạm vi sinh hoạt cộng đồng : có lẽ đây là pha ̣m vi duy nhất sử du ̣ng thuần túy tiếng Viê ̣t vì đây là cách thức để bảo tồn văn hoá của người Viê ̣t nên khi tham gia sinh hoạt ho ̣ thường sử du ̣ng tiếng Viê ̣t để giao tiếp Nhưng đôi khi họ phải giao tiếp bằng tiếng Thái vì nô ̣i dung của cuô ̣c sinh hoa ̣t cô ̣ng đồng đó rất quan tro ̣ng và không thể hiểu nhầm đươ ̣c (vì sự hạn chế về tiếng Việt của nh ững VKII ), khi đó tiếng Thái sẽ được sử du ̣ng mô ̣t cách “trô ̣n mã” hoă ̣c “chuyển mã”

Tuy nhiên trong các pha ̣m vi trên thì VKI - dù là người song ngữ – vẫn thường dùng ngôn ngữ thứ nhất (tiếng Viê ̣t ) nhiều hơn ngôn ngữ thứ hai (tiếng Thái) như Robert J Di Pietro đã nói trong bài “Code -switching as a verbal strategy among bilinguals” rằng ngôn ngữ mà những người song ngữ thường dùng là ngôn ngữ me ̣ đẻ 75, tr 267 Giống như kết quả nghiên cứu của Thomas Brockma nn về người song ngữ tiếng Maya (tiếng thứ nhất ) và tiếng Anh (tiếng thứ hai ), kết qủa cho thấy người chỉ nói được tiếng Maya trong thành phố Orange Walk (thành phố này nói tiếng Anh là chính , có tiếng địa phương là tiếng T ây Ban nha và có tiếng Maya là tiếng dân tô ̣c thiểu số ), họ chỉ nói tiếng Maya với những người biết nói tiếng Maya và ho ̣ dứt khoát không nói tiếng Maya trong công chúng mă ̣c dù người nghe cũng là những người biết nói tiếng Maya, nguyên nhân là vì ho ̣ không những

sơ ̣ bất lợi trong cuô ̣c giao tiếp mà là ho ̣ sợ sự phân biê ̣t đối xử của những người trong cùng cô ̣ng đồng 68, tr 171

Bốn pha ̣m vi của viê ̣c sử du ̣ng tiếng Viê ̣t của những VKU cho thấy TVUkhông giống như những ngôn ngữ của dân tô ̣c thiểu số khác của Thái Lan , tứ c là TVU chỉ đươ ̣c sử du ̣ng trong mô ̣t số pha ̣m vi Ví dụ tiếng “Xô” là ngôn ngữ của dân tô ̣c thiểu số được sử du ̣ng ở làng Nong Waeng tỉnh Sakon Nakhorn vùng Đông Bắc Thái Lan Trong nghiên cứu của Benjamas Khamsakul cho thấy người Xô vẫn

Trang 34

đươ ̣c sử du ̣ng tiếng Xô trong nhiều pha ̣m vi : gia đình, họ hàng, hàng xóm, trường học, tôn giáo, buôn bán Chỉ phạm vi chính phủ họ không được p hép sử dụng tiếng

Xô, họ phải sử dụng tiếng Thái chuẩn khi liên quan trực tiếp với cơ quan nhà nước

108, tr 143-146 Kết quả này cũng giống như nghiên cứu về tiếng “Plang” , ngôn ngữ của dân tô ̣c thiểu số Plang ở làng Huay Nam Khun, Chiang Rai Province của Matchimawan Suwanawat Tác giả chỉ ra rằng trong mọi phạm vi người Plang cũng sử dụng tiếng Plang ngoại trừ phạm vi chính phủ và người Plang thế hệ mới cũng giữ được tiếng Plang - tiếng me ̣ đẻ của mình mặc dù họ đang sinh sống trong

cô ̣ng đồng đa ngôn ngữ 148, tr 158-160

Đối với VKII thì lại thường sử dụng ngôn ngữ thứ hai (tiếng Thái) nhiều hơn ngôn ngữ thứ nhất (tiếng Viê ̣t) vì sự hạn chế trong giao tiếp bằng tiế ng Viê ̣t của ho ̣

Vì vậy tình tra ̣ng “sự trung thành đối với ngôn ngữ (Language loyalty)” của VKII

không ma ̣nh mẽ như VKI Như Staffan nói “ một gia đình nào đó có thể nói được hai ngôn ngữ, họ thường tìm cách và cơ hội để sử d ụng hai ngôn ngữ cho phù hợp với xã hội, họ thường dựa vào khả năng nói được ngôn ngữ A hoặc ngôn ngữ B của bố me ̣ ” 74, tr 2

Fishman cho rằng khi phần lớn những người trong cô ̣ng đồng chấp nhâ ̣n ngôn ngữ mới thay ngôn n gữ cũ của mình, họ sẽ chấm dứt không sử dụng ngôn ngữ cũ nữa hoặc sử dụng cả hai ngôn ngữ ngang nhau 81, tr 299 Tình trạng người song ngữ trong cô ̣ng đồng VKU cũng vâ ̣y , người song ngữ là VKII đang thấy hàng ngày mình chỉ sử du ̣ng tiếng Thái, ít khi sử dụng tiếng Việt - tiếng me ̣ đẻ của mình ngoại trừ nói với bố me ̣ (VKI) Tiếng Thái của ho ̣ càng ngày càng phát triển và càng ngày càng quan trọng cho cuộc sống sinh hoạt hàng ngày của họ , ngược la ̣i tiếng Viê ̣t của ho ̣ càng ngày càng dần dần quên đi , càng dần dần không quan trọng trong viê ̣c giao tiếp Điều này sẽ dẫn đến viê ̣c chấm dứt sử du ̣ng tiếng Viê ̣t trong cô ̣ng đồng VKU Do vậy Viê ̣t kiều thế hê ̣ thứ ba hầu như không nói được tiếng Việt, tiếng Việt lúc này trở thành “đề mất đi ngôn ngữ (Language loss)” 37, tr 2

Tất cả gia đình của VKU đều suy nghĩ như thế cho nên ho ̣ dần dần quen với tiếng Thái rồi quên đi tiếng Viê ̣t Quá trình thay đổi ngôn ngữ thường phải trôi qua

Trang 35

ba hoă ̣c bốn thế hê ̣ Ở cộng đồng VKU thì chỉ đến thế hệ thứ ba là hoàn thành Theo viê ̣c sử du ̣ng ngôn ngữ của người tản cư , bố me ̣ (thế hê ̣ thứ nhất) là người độc ngữ (monolingual), con (thế hê ̣ thứ hai ) thì là người song ngữ (bilingual), còn cháu (thế hệ thứ ba ) luôn là người đô ̣c ngữ nhưng không phải là người đô ̣c ngữ cùng ngôn ngữ của ông bà (thế hê ̣ thứ nhất ) mà là người độc ngữ cùng ngôn ngữ của người dân cư cũ (chủ của đất nước ấy ) Ngôn ngữ nào có vai trò uy tín cao sẽ được đánh giá cao trong xã hô ̣i vì ngôn ngữ mang tính uy tín là ngôn ngữ đe ̣p đẽ , logíc và biểu thức hơn ngôn ngữ có uy tín thấp 160, tr 88 Tiếng Thái do VKU được đánh giá cao hơn tiếng Việt vì tiếng Việt đối với họ là ngôn ngữ được sử dụng kín đáo trong cô ̣ng đồng Viê ̣t kiều mà thôi , vâ ̣y tiếng Thái đối với VKU có vai trò uy tín vì viê ̣c sử du ̣ng rô ̣ng rãi hơn

1.4 Tiếp xu ́ c ngôn ngƣ̃ ở tỉnh Uđonthani

1.4.1 Khái niệm tiếp xúc ngôn ngữ

Tiếp xúc ngôn ngữ là viê ̣c giao lưu giữa hai ngôn ngữ trong mô ̣t cô ̣ng đồng song ngữ Nghiên cứu về tiếp xúc ngôn ngữ bắt đầu được Weinreich nghiên cứu vào năm 1953, sau đó được Haugen nghiên cứu tiếp vào năm 1964 Khái niệm của cả hai nhà ngôn ngữ ho ̣c này đều được đưa ra làm mẫu cho viê ̣c nghiên cứu về tiếp xúc ngôn ngữ Từ năm 1988, Sarah G Thomason đã nghiên cứu về tiếp xúc ngôn ngữ , nhưng khái niê ̣m về tiếp xúc ngôn ngữ mà ông đưa ra năm 2001 lại được các nhà ngôn ngữ ho ̣c đi sau sử du ̣ng nhiều nhất vì nó đơn giản : “tiếp xú c ngôn ngữ” (Language contact ) là việc sử dụng ngôn ngữ nhiều hơn mộ t ngôn ngữ cùng thời gian và cùng thời điểm Những người có khả năng ở trong hoàn cảnh tiếp xúc ngôn

ngữ là những người nói được hai ngôn ngữ , người song ngữ (bilinguals) hoă ̣c nói đươ ̣c hơn hai ngôn ngữ , người đa ngữ (multilinguals) sinh sống cùng nhau ở mô ̣t

cô ̣ng đồng xác đi ̣nh Tác giả cũng chỉ ra rằng những người tản cư hoặc nhập cư là

mô ̣t trong những người có thể ở trong hoàn cảnh tiếp xúc ngôn ngữ vì những người này phải nhanh chóng hoà nhậ p vào trong xã hô ̣i mới cho nên ho ̣ là những người nói được hơn một ngôn ngữ 151, tr.1-10

Về viê ̣c nghiên cứu sự tiếp xúc ngôn ngữ ở Viê ̣t Nam , Nguyễn Văn Khang cho rằng nghiên cứu về sự tiếp xúc giữa các ngôn ngữ là nghiên cứu những ảnh

Trang 36

hưởng của hiê ̣n tượng đa ngữ từ góc đô ̣ ngôn ngữ ho ̣c xã hô ̣i , thực chất là khảo sát sự phân bố về chức năng xã hô ̣i giữa các ngôn ngữ trong mô ̣t xã hô ̣i đa ngữ Trên cơ sở đó để giải quyết các vấn đề thực tế về ngôn ngữ trong xã hội như vấn đề kế hoạch hóa ngôn ngữ , xác lập các ngôn ngữ chuẩn mực quốc gia , vai trò của đa ngữ trong giáo du ̣c song ngữ v.v 36, tr 63-64 Phan Ngọc và Pha ̣m Đức Dương cho rằng cơ sở củ a lý luâ ̣n tiếp xúc ngôn ngữ là hiê ̣n tượng song ngữ giống như khái niê ̣m của các nhà ngôn ngữ ho ̣c phương Tây 43, tr 22

Bùi Khánh Thế đã đưa định nghĩa của O S Akhmanova và đi ̣nh nghĩa trong từ điển bách khoa bằng tiế ng Nga do V N Jarceva chủ biên vào trong bài Viết “Lý thuyết tiếp xúc ngôn ngữ và vấn đề tiếp xúc ngôn ngữ ở Viê ̣t Nam” như sau : ( 1)

khái niệm của O S Akhmanova về tiếp xúc ngôn ngữ là “ Sự tiếp hợp nhau giữa các ngôn ngữ do những điều kiê ̣n cận kề nhau về mặt đi ̣a lý , sự tương cận về mặt lịch sử, xã hội dẫn đến nhu cầu của các cộng đồng người vốn có những thứ tiếng khác nhau phải giao tiếp với nhau ” (2) Khái niệm trong từ điển bách khoa bằng tiếng Nga do V N Jarceva về tiếp xúc ngôn ngữ là “ Sự tác động qua lại giữa hai hoặc nhiều ngôn ngữ , tạo nên ảnh hưởng đối với cấu trúc và vốn từ của một hay nhiều ngôn ngữ Những điều kiê ̣n xã hội của sự tiế p xúc ngôn ngữ được quy đi ̣nh bởi yêu cầu cần thiết phải giao tiếp lẫn nhau giữa những thành viên thuộc các nhóm dân tộc và ngôn ngữ do những nhu cầu về kinh tế , chính trị, văn hoá, xã hội v.v thúc đẩy ” (từ điển bách k hoa bằng tiếng Nga do V N Jarceva chủ biên : 1990 dẫn theo Bùi Khánh Thế ) 51, tr 13 

Hoàng Tuệ đã nghiên cứu về sự tiếp xúc ngôn ngữ giữa tiếng Việt và tiếng

Pháp cho rằng tiếp xúc ngôn ngữ là một thuật ngữ từ các tiếng nước ngoài Tiếp xúc

ngôn ngữ nêu lên vấn đề đáng được tìm hiểu , vì nó có liên quan tới những xã hội , những con người, và đặc biệt tới những cách nhìn xưa nay khác nhau đối với ngôn ngữ Tác giả cũng cho rằng vì sự t iếp xúc ngôn ngữ giữa tiếng Viê ̣t và tiếng Hán làm cho tiếng Việt bị ảnh hưởng từ tiếng Hán , gây ra sự xuất hiê ̣n của những từ Hán trong tiếng Viê ̣t Tiếng Pháp cũng có ảnh hưởng về mă ̣t ngôn ngữ tới tiếng Viê ̣t nhưng vì hai ngôn ngữ Pháp – Viê ̣t là hai ngôn ngữ khác nhau về loa ̣i hình , nhất là về từ vựng nên tiếng Viê ̣t chỉ dùng mô ̣t số từ gốc Pháp mà thôi 39, tr 341-351

Trang 37

Chúng tôi đã sử dụng khái niệm về tiếp xúc ngôn ngữ của Sarah G Thomason cho luận án này vì khái niê ̣m của tác giả mang tính thời sự (nghiên cứu cuối cùng của tác giả được xuất bản năm 2001) và khái niệm của tác giả rất phù hợp với luâ ̣n án của chúng tôi Sarah G Thomason cho rằng tiếp xúc ngôn ngữ là quan

hê ̣ trong viê ̣c tiếp xúc giữa hai ngôn ngữ trở lên , việc tiếp xúc đó có thể xảy ra thường xuyên và lă ̣p đi lă ̣p la ̣i giữa mô ̣t cô ̣ng đồng ngôn ngữ này với mô ̣t cô ̣ng đồng ngôn ngữ khác hoă ̣c có thể xảy ra t rong mô ̣t cô ̣ng đồng song ngữ Tác giả cũng cho rằng tiếp xúc ngôn ngữ có thể gây ra sự biến đổi ngôn ngữ trong cô ̣ng đồng , sự biến đổi đó ít nhiều thì tùy thuô ̣c vào mức đô ̣ ngôn ngữ và chức năng xã hô ̣i của những người trong cô ̣ng đồng, thường là cô ̣ng đồng đa ngữ Tiếp xúc ngôn ngữ Viê ̣t – Thái cũng giống như khái niệm tiếp xúc ngôn ngữ của Sarah G Thomason vì sự tiếp xúc ngôn ngữ Viê ̣t – Thái ở tỉnh Uđonthani xảy ra do sự trao đổi thường xuy ên, lă ̣p đi

lă ̣p la ̣i giữa các đa ̣i diê ̣n của hai ngôn ngữ Viê ̣t – Thái

Lý thuyết về nhân tố trong quan hệ bên trong xã hội là sự đồng hoá

“assimilation” và sự chia cắt “separation” Sự đồng hoá là sự pha trô ̣n giữa ngôn

ngữ và văn hoá , sự chia cắt là không đồng hoá giữa ngôn ngữ và văn hoá 69, tr

81 Nói tới sự đồng hoá , Rene Appel and Pieter Muysken đã chia hoàn cảnh củ a viê ̣c tiếp xúc ngôn ngữ toàn thế giới ra thành ba hoàn cảnh lớn : (1) hoàn cảnh tiếp xúc ngôn ngữ giữa những ngôn ngữ không liên quan đến nhau Ví dụ ở Amazon , Australian, ngườ i dân miền núi; (2) hoàn cảnh tiếp xúc ngôn ngữ giữa các ngôn ngữ cùng họ Ví dụ tiếng Ý (Romance), tiếng Đức (Germanic) với tiếng Pháp; (3) hoàn cảnh tiếp xúc ngôn ngữ do sự mở rộng của việc xâm lược 59, tr 5-6 Kết quả nghiên cứu của Nanette Glottlieb là mô ̣t minh chứ ng của hoàn cảnh tiếp xúc ngôn ngữ do sự mở rô ̣ng của viê ̣c xâm lược khiến cho ngôn ngữ bi ̣ xâm lược biến đổi Nanette Glottlieb đã nghiên cứu về sự tiếp xúc ngôn ngữ ở Nhâ ̣t Bản mang đề tài

“Language and Society in Japan” cho biế t: hai ngôn ngữ có ảnh hưởng rất lớn đối với tiếng Nhâ ̣t bản là tiếng Trung Quốc và tiếng Anh , cả hai thứ tiếng này chiếm 60

% trong hệ thống từ vựng và tất cả đã xuất hiê ̣n trong cuốn từ điển tiếng Nhâ ̣t bản bằng cách vay mượn 84, tr 11

Trang 38

Tiếp xúc ngôn ngữ ở tỉnh UĐ là sự tiếp xúc giữa hai ngôn ngữ khác dòng ho ̣ : tiếng Thái thuô ̣c ho ̣ Thái -Kađai, tiếng Viê ̣t thì thuô ̣c ho ̣ Nam -Á Mă ̣c dù hai thứ tiếng này nằm trong hai dòng ho ̣ khác nhau như ng tiếng Viê ̣t và tiếng Thái cũng có

mô ̣t số đă ̣c điểm tương đồng nhau , ví dụ cả hai thứ tiếng là ngôn ngữ đơn lập và cũng có thanh điệu giống nhau Vai trò của hai thứ tiếng này cũng ngang nhau , cả hai đều là thứ tiếng củ a quốc gia : tiếng Viê ̣t là tiếng quốc gia của Viê ̣t Nam , tiếng Thái là tiếng quốc gia của Thái Lan Nhưng trong cô ̣ng đồng nói năng ở tỉnh UĐ , tiếng Viê ̣t và tiếng Thái đóng vai trò khác nhau , tiếng Thái được coi như là tiếng u y tín (prestige), còn tiếng Việt được coi như là tiếng dân tộc thiếu số Tiếng Thái là thứ tiếng được sử du ̣ng để giao tiếp chính thức ở cô ̣ng đồng nói năng ở tỉnh

Uđonthani, kể cả Viê ̣t kiều lẫn người Thái đều sử du ̣ng ti ếng uy tín này để giao tiếp

mô ̣t cách phổ thông hàng ngày , còn tiếng Việt thì được sử dụng khép kín chỉ được sử du ̣ng giữa những VKI và mô ̣t số VKII mà thôi

Vì vậy tiếng Việt và tiếng Thái không bao giờ được hòa nhập với nhau vì cả hai thứ tiếng đều đóng vai trò riêng ; tiếng Viê ̣t đóng vai trò là thứ tiếng dành riêng để giao tiếp giữa những VK , tiếng Thái đóng vai trò là thứ tiếng dành để giao tiếp giữa người Thái nhưng vì Viê ̣t kiều đ ang sinh sống trong cô ̣ng đồng nói năng tiếng Thái cho nên tiếng Thái cũng được họ sử dụng để giao tiếp với cả người Thái lẫn

VK Nhất là để giao tiếp với những VK thế hê ̣ tiếp theo thế hê ̣ thứ nhất (thế hê ̣ thứ hai thứ ba v v.), cho nên quan hê ̣ ban đầu giữa tiếng Viê ̣t và tiếng Thái là quan hê ̣

“tiếng bồi” (pidgin) Tiếng bồi có thể xảy ra khi hai thứ tiếng bắt đầu tiếp xúc với nhau 73, tr 78

Qua viê ̣c tiếp xúc ngôn ngữ ban đầu giữa tiếng Vi ệt và tiếng Thái (lúc VK vừa mới tản cư ta ̣i tỉnh UĐ ) có lẽ tiếng bồi (pidgin) đã xảy ra khi những VK giao tiếp bằng tiếng Thái , chẳng ha ̣n như trong cuô ̣c đối thoa ̣i giữa VKU và người Thái Lan những VK ấy có lễ sử du ̣ng từ vựng tiếng Thái trong mô hình ngữ pháp Tiếng Viê ̣t, nhưng rất tiếc điều này không chứng minh được vì lúc ấy không ai nghiên cứu Thời gian trôi qua, do giao tiếp bằng tiếng Thái hàng ngày nhiều hơn tiếng Viê ̣t nên VKI trở thành người nói thành tha ̣o tiếng Thái và viê ̣c sử du ̣ng tiếng bồi không còn nữa

Trang 39

Quay la ̣i với tiếng Viê ̣t của những VKU , do hàng ngày ho ̣ giao tiếp bằng tiếng Thái nhiều hơn giao tiếp bằng tiếng Viê ̣t và trong thời gian đầu tiếng Viê ̣ t của họ dường như bị lãng quên một thời gian nên hiện nay tiếng Việt của họ bị ảnh hưởng rất nhiều bởi tiếng Thái Như Tống Văn Chung đã nói về viê ̣c chuyển cư rằng: khía cạnh khác nhau về sở hữu , uy tín xã hô ̣i của người di cư không chỉ về

mă ̣t sở hữu mà cả về vi ̣ thế của ho ̣ trong mối tương tác với những người khác mà nơi ho ̣ đến, kể cả cơ hô ̣i cũng như “khả năng tiếp câ ̣n” để chiếm lĩnh cơ hô ̣i của ho ̣

15, tr 38-47

Chính vì thế chúng tô i giả đi ̣nh trong luâ ̣n án của mình rằng : do VKU phải giao tiếp hàng ngày bằng tiếng Thái (với cả người Thái và VK ) nhiều hơn giao tiếp bằng tiếng Viê ̣t, cho nên tiếng Viê ̣t ở đây ít nhiều bi ̣ ảnh hưởng bởi tiếng Thái Như Matthias Bernzinger nói viê ̣c sử du ̣ng trong cô ̣ng đồng nói năng đa ngôn ngữ , ngôn ngữ của dân tô ̣c đa số sẽ có ảnh hưởng rất lớn đối với những người sử du ̣ng ngôn ngữ của dân tô ̣c thiểu số 64, tr 276 Chính vì vậy chúng tôi muố n tìm hiểu và chỉ

ra những ảnh hưởng của viê ̣c tiếp xúc ngôn ngữ giữa tiếng Viê ̣t và tiếng Thái ở cô ̣ng đồng VKU qua “Sự giao thoa”

1.5 Sƣ ̣ giao thoa do tiếp xúc ngôn ngƣ̃

1.5.1 Khái niệm sự giao thoa

Sự giao thoa thường là hiện tượng được tạo ra bởi những người sinh sống

trong cô ̣ng đồng song ngữ như Hugo đã nói “ Trong lời nói của người song ngữ có thể gây ra hiê ̣n tượng giao thoa ”61, tr 39 Trước đó, Haugen đã dùng từ “giao thoa (interference)” cho hiện tươ ̣ng đan xen đô ̣t ngô ̣t của hai ngôn ngữ trong cuô ̣c giao tiếp của những người song ngữ (dẫn theo Douglas Shaffer ) 104, tr 267, nhưng nhà nghiên cứu nổi tiếng về sự giao thoa là Uriel Weinreich (1966), tác giả cho rằng sự giao thoa là hiê ̣n tượng của sự sắp xếp mô hình ngôn ngữ la ̣i vì bi ̣ ảnh hưởng do yếu tố của ngôn ngữ khác nhâ ̣p vào , sự sắp xếp la ̣i đó có thể ở bâ ̣c ngữ

âm, hình vị, cú pháp và một số từ vựng 163, tr 26-29 Sarah G Thomason (2001) và Ilse Lehiste (1988) – hai nhà ngôn ngữ ho ̣c nghiên cứu về sự giao thoa theo quan niê ̣m của Uriel Weinreich cho rằng sự giao thoa không giống như sự vay

Trang 40

mươ ̣n Vì sự giao thoa không bắt đầu bằng từ vựng ngữ nghĩa, nó bắt đầu từ ngữ âm trở lên đến tâ ̣n cú pháp Ngôn ngữ thứ hai có thể gây ra sự giao thoa về ngữ nghĩa và cũng có thể gây ra sự giao thoa về cấu trúc ngữ pháp nhưng sự giao thoa về cấu trúc ngữ pháp này sẽ có ảnh hưởng rất lớn tới ngôn ngữ thứ nhất 150, tr 75 Ngoài

ra Ilse Lehiste còn cho rằng sự giao thoa có thể xảy ra ở nhiều bâ ̣c : âm vi ̣, ngữ âm, hình vị, cú pháp, ngữ nghĩa và từ vựng 120, tr 1-2 Theo kết quả nghiên cứu của Vũ Đức Nghiệu trong đề tài “Các kênh tiếp nhận và tích lũy vốn từ của học viên

Trung Quốc ho ̣c tiếng Viê ̣t” cho thấy “ Học viên thường có xu hướng đem nghĩa của từ ngữ tương ứng đang được sử dụng trong bản ngữ của họ hoặc t rong ngôn ngữ mà họ đã biết, “căn ke” lên từ ngữ tiếng Viê ̣t (ngôn ngữ đích) mà họ đang học, và kết quả là nhiều khi dẫn đến những sai lệch trong cách hiểu , cách dùng từ ngữ Đó là những lỗi giao thoa (interference), kết quả của hiện tượng chuyển di tiêu cực (negative transfer ), mô ̣t hiê ̣n tượng đối lập và cùng tồn tại với các chuyển di tích cực ” 41, tr 46

Quan niê ̣m của L Bruce Barkman (1968) và Eugene John Briere (1968) cho chúng ta biết thêm về tình tra ̣ng xảy ra sự giao thoa rằng : sự giao thoa chắc chắn phải xảy ra khi người nói ngôn ngữ mẹ đẻ (native speaker) cố gắng ho ̣c và sử du ̣ng ngữ âm của ngôn ngữ thứ hai (target language) 62, tr 16 William F Mackey (1970) phân biệt giữa “sự giao thoa” và “sự hợp la ̣i” rằng “sự giao thoa” là viê ̣c sử dụng những yếu tố của mô ̣t ngôn ngữ hoă ̣c tiếng đi ̣a phương của mô ̣t ngôn ngữ nào

đó trong khi giao tiếp hoă ̣c văn bản mang tính cách thông tin , còn “sự hợp la ̣i” là

viê ̣c hợp nhất vào một ngôn ngữ hoặc tiếng địa phương của một ngôn ngữ nào đó

122, tr.198

Ralph Fasold (1984) nói rằng sự đa dạng ngôn ngữ trong một xã hội cho thấy người nói có nhiều sự lựa cho ̣n tr ong sự đa da ̣ng của ngôn ngữ đó Sự lựa chọn ngôn ngữ nào đó phụ thuộc vào tình hình của việc lựa chọn này được gọi là sự chuyển mã , nếu sự lựa cho ̣n đó chỉ xảy ra bằng viê ̣c lựa cho ̣n mô ̣t số khía ca ̣nh trong chuỗi lời nói thì được go ̣i là sự pha trô ̣n mã 78, tr 208 Theo khái niê ̣m của Ralph Faslod thì viê ̣c lựa cho ̣n mô ̣t số khía ca ̣nh trong chuỗi lời mà tác giả go ̣i là sự

Ngày đăng: 30/08/2017, 11:03

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Diê ̣p Quang Ban (2004), Ngữ pháp tiếng Viê ̣t : phần câu , Nxb Đa ̣i ho ̣c Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Viê ̣t : phần câu
Tác giả: Diê ̣p Quang Ban
Nhà XB: Nxb Đại ho ̣c Sư phạm
Năm: 2004
2. Diê ̣p Quang Ban (2005), Ngữ pháp tiếng Viê ̣t , Nxb Gia ́o Du ̣c , Thừa Thiên Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Viê ̣t
Tác giả: Diê ̣p Quang Ban
Nhà XB: Nxb Giáo Du ̣c
Năm: 2005
3. Diê ̣p Quang Ban (2006), Ngữ pháp tiếng Viê ̣t : tập hai , Tái bản lần thứ chín , Nxb Giáo du ̣c, TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Viê ̣t : tập hai
Tác giả: Diê ̣p Quang Ban
Nhà XB: Nxb Giáo du ̣c
Năm: 2006
4. Nguyễn Nhã Bản (1999), Từ điển tiếng đi ̣a phương Nghê ̣ – Tĩnh , Nxb Văn ho ́a – Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng đi ̣a phương Nghê ̣ – Tĩnh
Tác giả: Nguyễn Nhã Bản
Nhà XB: Nxb Văn hóa – Thông tin
Năm: 1999
5. Phạm Đăng Bình (2003), Khảo sát các lỗi giao thoa ngôn ngữ – văn hoá trong diễn ngôn của người Viê ̣t học tiếng Anh , Luâ ̣n án tiến sĩ ngữ văn , Viê ̣n Ngôn ngữ ho ̣c, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát các lỗi giao thoa ngôn ngữ – văn hoá trong diễn ngôn của người Viê ̣t học tiếng Anh
Tác giả: Phạm Đăng Bình
Năm: 2003
6. Nguyễn Tài Cẩn (1975), Từ loại danh từ trong tiếng Viê ̣t hiê ̣n đại , Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ loại danh từ trong tiếng Viê ̣t hiê ̣n đại
Tác giả: Nguyễn Tài Cẩn
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1975
7. Nguyễn Tài Cẩn (2004), Ngữ pháp tiếng Viê ̣t , Nxb Đa ̣i ho ̣c Quốc gia Hà Nô ̣i , Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Viê ̣t
Tác giả: Nguyễn Tài Cẩn
Nhà XB: Nxb Đại ho ̣c Quốc gia Hà Nô ̣i
Năm: 2004
8. Đỗ Hữu Châu (1999), Các bình diện của từ và từ tiếng Viê ̣t, In lần thư ́ ba, Nxb Đa ̣i ho ̣c Quốc gia Hà Nô ̣i Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các bình diện của từ và từ tiếng Viê ̣t
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Đa ̣i ho ̣c Quốc gia Hà Nô ̣i
Năm: 1999
9. Đỗ Hữu Châu (2005), Tuyển tập (tập một : từ vựng – ngữ nghĩa ) , Nxb Gia ́o Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập (tập một : từ vựng – ngữ nghĩa )
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Giáo
Năm: 2005
10. Đỗ Hữu Châu (2005), Đỗ Hữu Châu tuyển tập : tập Hai , Đại cương – ngữ dụng học – ngữ pháp văn bản , Nxb Gia ́o du ̣c, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đỗ Hữu Châu tuyển tập : tập Hai , Đại cương – ngữ "dụng học – ngữ pháp văn bản
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Giáo du ̣c
Năm: 2005
11. Đỗ Hữu Châu (2006), Giản yếu về từ vựng – ngữ nghĩa tiếng Viê ̣t , Nxb Gia ́o dục, Quảng Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giản yếu về từ vựng – ngữ nghĩa tiếng Viê ̣t
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2006
12. Đỗ Hữu Châu (2007), Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Viê ̣t , Nxb Đa ̣i ho ̣c Quốc gia Hà Nô ̣i, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Viê ̣t
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Đại ho ̣c Quốc gia Hà Nô ̣i
Năm: 2007
13. Hoàng Thị Châu (1989), Tiếng Viê ̣t trên các miền đất nước (phương ngữ học) , Nxb Khoa ho ̣c Xã hô ̣i, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Viê ̣t trên các miền đất nước (phương ngữ học)
Tác giả: Hoàng Thị Châu
Nhà XB: Nxb Khoa ho ̣c Xã hô ̣i
Năm: 1989
14. Hoàng Thị Châu (2004), Phương ngữ học tiếng Viê ̣t , Nxb Đa ̣i ho ̣c Quốc gia Hà Nô ̣i, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương ngữ học tiếng Viê ̣t
Tác giả: Hoàng Thị Châu
Nhà XB: Nxb Đại ho ̣c Quốc gia Hà Nô ̣i
Năm: 2004
15. Tống Văn Chung (2005), “Vâ ̣n du ̣ng lý thuyết di đô ̣ng xã hô ̣i vào nghiên cứu chuyển cư”, Tạp chí xã hội học, số 1/2005, tr. 38-47 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vận du ̣ng lý thuyết di đô ̣ng xã hô ̣i vào nghiên cứu chuyển cư”, Tạp chí "xã hội học
Tác giả: Tống Văn Chung
Năm: 2005
16. Nguyễn Hồng Cổn (2008), “Biến thể cu ́ pháp và trình tự da ̣y các biến thể cú pháp cho người học tiế ng Viê ̣t như ngôn ngữ thứ hai” , Tạp chí Ngôn ngữ , số6/2008, tr.52-61 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biến thể cú pháp và trình tự da ̣y các biến thể cú pháp cho người học tiế ng Viê ̣t như ngôn ngữ thứ hai” , Tạp chí "Ngôn ngữ
Tác giả: Nguyễn Hồng Cổn
Năm: 2008
17. Trần Tri ́ Dõi (2008), “Vấn đề lực cho ̣n ngôn ngữ trong tiếp nhâ ̣n giáo du ̣c ngôn ngữ ở mô ̣t vài dân tô ̣c thiểu số của Viê ̣t Nam” , Tạp chí Ngôn ngữ , số 11/2008, tr. 10-13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề lực cho ̣n ngôn ngữ trong tiếp nhâ ̣n giáo du ̣c ngôn ngữ ở mô ̣t vài dân tô ̣c thiểu số của Viê ̣t Nam” , Tạp chí "Ngôn ngữ
Tác giả: Trần Tri ́ Dõi
Năm: 2008
18. Nguyễn Quốc Du ̃ng (2006), “Về đă ̣c điểm ngữ pháp của cấu trúc “Nhiều +D” trong tiếng Viê ̣t”, Tạp chí Ngôn ngữ và Đời sống , số 8/2006, tr. 5-8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về đă ̣c điểm ngữ pháp của cấu trúc “Nhiều +D” trong tiếng Viê ̣t”, Tạp chí "Ngôn ngữ và Đời sống
Tác giả: Nguyễn Quốc Du ̃ng
Năm: 2006
19. Đinh Văn Đư ́ c (2001), Ngữ pháp học tiếng Viê ̣t: từ loại , Nxb Đa ̣i ho ̣c Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp học tiếng Viê ̣t: từ loại
Tác giả: Đinh Văn Đư ́ c
Nhà XB: Nxb Đại ho ̣c Quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
20. Nguyễn Thiê ̣n Giáp (1996), Từ và nhận diê ̣n từ tiếng Viê ̣t , Nxb Gia ́o du ̣c , Hà Nô ̣i Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ và nhận diê ̣n từ tiếng Viê ̣t
Tác giả: Nguyễn Thiê ̣n Giáp
Nhà XB: Nxb Giáo du ̣c
Năm: 1996

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w