1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

luận văn mở cửa thương mại, mở cửa tài chính và sự phát triển tài chính ở các nước đông nam á

55 281 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 55
Dung lượng 1,41 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bằng phương pháp ước lượng GMM Generalized Method of Moments đã cho ra kết quả thực nghiệm là có mối quan hệ hai chiều giữa mở cửa tài chính và phát triển tài chính, mở cửa thương mại và

Trang 1

LÊ THỊ THU QUÍ

MỞ CỬA THƯƠNG MẠI, MỞ CỬA TÀI CHÍNH

VÀ SỰ PHÁT TRIỂN TÀI CHÍNH Ở CÁC NƯỚC

ĐÔNG NAM Á

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Tp Hồ Chí Minh, Năm 2017

Trang 2

LÊ THỊ THU QUÍ

MỞ CỬA THƯƠNG MẠI, MỞ CỬA TÀI CHÍNH

VÀ SỰ PHÁT TRIỂN TÀI CHÍNH Ở CÁC NƯỚC

ĐÔNG NAM Á

Chuyên ngành: Tài chính – ngân hàng

Mã số: 60340201

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS TRẦN THỊ HẢI LÝ

Tp Hồ Chí Minh - Năm 2017

Trang 3

phát triển tài chính ở các nước Đông Nam Á” là công trình nghiên cứu độc lập của tôi

Các số liệu sử dụng trong bài nghiên cứu là trung thực và có nguồn gốc trích dẫn rõ ràng Luận văn được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của cô PGS.TS Trần Thị Hải Lý

Tác giả luận văn

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC BẢNG BIỂU

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

TÓM TẮT……….1

1 GIỚI THIỆU 2

2 CƠ SỞ LÝ LUẬN KHOA HỌC VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM TRÊN THẾ GIỚI VỀ ĐỘ MỞ THƯƠNG MẠI, ĐỘ MỞ TÀI CHÍNH VÀ PHÁT TRIỂN TÀI CHÍNH 4

2.1 Cơ sở lý luận khoa học 4

2.1.1 Lý thuyết về phát triển tài chính 4

2.1.2 Lý thuyết về độ mở thương mại 5

2.1.3 Lý thuyết về độ mở tài chính 6

2.2 Các nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới về độ mở thương mại, độ mở tài chính và phát triển tài chính 7

2.2.1 Độ mở thương mại và phát triển tài chính 7

2.2.2 Độ mở tài chính và phát triển tài chính 9

2.2.3 Độ mở thương mại và độ mở tài chính 11

2.2.4 Tác động của độ mở thương mại, độ mở tài chính đến phát triển tài chính 13

3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22

3.1 Mô tả dữ liệu: 22

3.2 Đo lường biến: 23

Trang 5

3.3.2 Lựa chọn mô hình hồi quy đa biến: 27

3.3.3 Các kiểm định có liên quan đến mô hình lựa chọn và hướng xử lý các vi phạm 29

4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 31

4.1 Kết quả ước lượng mô hình 31

4.2 Thảo luận kết quả nghiên cứu 32

4.3 Kiểm tra tính vững của mô hình 35

5 KẾT LUẬN 37 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 6

Bảng 1: Bảng 2.1 Bảng tóm tắt các công trình nghiên cứu trước đây

Bảng 2: Bảng 3.1 Danh mục 10 quốc gia trong khu vực ASEAN thuộc bộ dữ liệu trong bài nghiên cứu

Bảng 3: Bảng 3.2 Bảng tóm tắt các biến sử dụng trong nghiên cứu

Bảng 4: Bảng 3.3 Mối tương quan của các biến tại Việt Nam (2000 – 2015) Bảng 5: Bảng 3.4 Ma trận tương quan giữa các biến

Bảng 6: Bảng 4.1 Kết quả hồi quy S-GMM cho mẫu 10 quốc gia ASEAN Bảng 7: Bảng 4.2 Bảng tổng hợp kết quả nghiên cứu để trả lời các giả thiết/câu hỏi nghiên

Trang 7

ASEAN Association of Southeast Asian Nations -Hiệp hội các quốc gia

Đông DEPT Tổng dư nợ trong hệ thống tài chính/ GDP

FD Financial Development -Phát triển tài chính

FDI Foreign Direct Investment -Đầu tư trực tiếp nước ngoài

FEM Fixed Effects Mode - Mô hình hiệu ứng cố định

FIR Tổng số tiền cho vay và tiền gửi trong hệ thống tài chính/GDP

FO Financial Openness -độ mở tài chính

GDP Gross Domestic Product -Tổng sản phẩm quốc nội

GMM Generalized Methods of Moments-Mô hình dữ liệu bảng động

tuyến tính GDPCAP Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân trên người

GOV Chi tiêu chính phủ

OECD Organization for Economic Cooperation and Development - Tổ

chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế OLS Ordinary Least Squares - Phương pháp bình phương nhỏnhất PMG Pooled Mean Group – Phương pháp trung bình nhóm gộp PCA Principal Component Analysis – Phương pháp phân tích thành

phần chính PRV Tín dụng tư nhân / Tổng tín dụng

LLY Nợ có tính thanh khoản/GDP

TO Trade Openness -Độ mở thương mại

VAR Mô hình vector tự hồi quy

WB World Bank – Ngân hàng thế giới

Trang 8

TÓM TẮT

Mục tiêu của bài nghiên cứu này là nhằm xem xét mối liên hệ giữa mở cửa

thương mại, mở cửa tài chính và phát triển tài chính Bài nghiên cứu sử dụng dữ liệu

bảng bao gồm 10 quốc gia thuộc Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á – ASEAN trong

giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2015 Bằng phương pháp ước lượng GMM

(Generalized Method of Moments) đã cho ra kết quả thực nghiệm là có mối quan hệ

hai chiều giữa mở cửa tài chính và phát triển tài chính, mở cửa thương mại và phát

triển tài chính.Từ đó có thể giúp các nhà hoạch định có những chính sách phù hợp

với mục tiêu phát triển của các nước này

Từ khóa: Độ mở thương mại, độ mở tài chính, phát triển tài chính

Trang 9

để thu hút vốn đầu tư nước ngoài không những gia tăng nguồn vốn mà còn học hỏi được kỹ thuật, công nghệ để áp dụng vào sản xuất tạo ra sản phẩm Đây là nhân tố quan trọng để mở rộng thương mại Như vậy, việc mở cửa thương mại, mở cửa tài chính sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển tài chính, sự phát triển nền kinh tế như thế nào? Trong bối cảnh hiện nay, đây là đề tài được nhiều người quan tâm nhưng bằng chứng thực nghiệm ở các nước Đông Nam Á nói chung và Việt Nam nói riêng thì chưa có

nhiều và còn nhiều ý kiến tranh luận trái chiều Do vậy, tôi chọn đề tài “ Mở cửa

thương mại, mở cửa tài chính và sự phát triển tài chính ở các nước Đông Nam Á” cho bài nghiên cứu của mình

Bài nghiên cứu thực hiện nhằm mục tiêu kiểm định xem giữa mở cửa thương mại, mở cửa tài chính và phát triển tài chính có mối quan hệ như thế nào?

Để đạt được mục tiêu trên, bài nghiên cứu lần lượt trả lời các câu hỏi sau:

- Có tồn tại mối liên hệ giữa mở cửa thương mại, mở cửa tài chính và phát triển tài chính không?

- Nếu có tồn tại mối quan hệ giữa mở cửa thương mại, mở cửa tài chính và phát triển tài chính thì mối quan hệ đó là một chiều hay hai chiều? Tác động tích cực hay tiêu cực?

Trong bài viết này, tôi sử dụng dữ liệu bảng với phương pháp ước lượng GMM

để nghiên cứu tại 10 quốc gia thuộc Hiệp hội quốc gia Đông Nam Á – ASEAN trong giai đoạn từ năm 2000 đến 2015 Dữ liệu thu thập và tổng hợp từ tổ chức ngân hàng

Trang 10

thế giới (Work Bank)

Cấu trúc luận văn gồm những phần như sau:

Phần 3: Phương pháp nghiên cứu, dữ liệu nghiên cứu và mô hình nghiên cứu

Trong phần này tác giả sẽ trình bày phương pháp nghiên cứu, giải thích các biến phụ thuộc, biến độc lập, mô tả đặc điểm của mô hình thực nghiệm và nguồn dữ liệu nghiên cứu

Phần 4: Nội dung, kết quả nghiên cứu

Trong phần này tác giả sẽ trình bày kết quả nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ giữa mở của thương mại, mở cửa tài chính và phát triển tài chính tại khu vự Đông Nam Á Sau đó thảo luận các kết quả thực nghiệm

Phần 5: Kết luận

Ở phần này tác giả tổng kết lại các vấn đề nghiên cứu, kết luận lại kết quả thực nghiệm từ mô hình nghiên cứu, nêu lên hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo

Trang 11

2 CƠ SỞ LÝ LUẬN KHOA HỌC VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM TRÊN THẾ GIỚI VỀ ĐỘ MỞ THƯƠNG MẠI, ĐỘ MỞ TÀI CHÍNH

VÀ PHÁT TRIỂN TÀI CHÍNH

2.1 Cơ sở lý luận khoa học

2.1.1 Lý thuyết về phát triển tài chính

2.1.1.1 Định nghĩa về phát triển tài chính

Hiện nay có rất nhiều khái niệm và cách hiểu khác nhau về phát triển tài chính, tác giả sẽ đưa ra hai khái niệm trong số nhiều các khái niệm đang được sử dụng trong nghiên cứu về tài chính hiện nay

Thứ nhất, phát triển tài chính có thể được định nghĩa là các cải thiện về chất lượng của 05 chức năng tài chính chủ yếu, bao gồm: Tạo ra và xử lý thông tin về các

cơ hội đầu tư tiềm năng và phân bổ vốn dựa trên các đánh giá đó; hướng dẫn các cá nhân và hang, và thực hiện quản trị doanh nghiệp sau khi phân bổ vốn; làm quá trình giao dịch, đa dạng hóa và quản lý rủi ro trở nên dễ dàng; huy động và hợp nhất tiết kiệm; và làm trơn quá trình trao đổi hàng hóa, dịch vụ và các công cụ tài chính Khái niệm này được đưa ra và sử dụng bởi Ross Levine

Thứ hai, một khái niệm hẹp hơn như sau: “Phát triển tài chính là sự phát triển của hệ thống các tổ chức tín dụng, chủ yếu bao gồm hệ thống các ngân hàng thương mại, phản ánh qua sự mở rộng hoặc thu hẹp ở các tiêu thức sau: quy mô tín dụng cho khu vực kinh tế tư nhân; khả năng tiếp cận tín dụng và các dịch vụ tài chính khác của

hộ gia đình/ doanh nghiệp; sự tăng/giảm can thiệp của nhà nước trong điều tiết các dòng vốn tín dụng trên thị trường tín dụng” (Chu Minh Hội, 2014)

2.1.1.2 Đo lường phát triển tài chính

Trên cơ sở các khái niệm về phát triển tài chính, về lý thuyết có thể xây dựng rất nhiều các chỉ số đại diện cho phát triển tài chính Theo WB có khoảng 100 chỉ số khác nhau đại diện cho các chiều cạnh của phát triển tài chính theo cách tiếp cận xem

hệ thống tài chính dựa vào ngân hàng hoặc dựa vào thị trường Theo mỗi cách tiếp

Trang 12

cận, các chỉ số được chia thành 4 tiêu chí lớn: độ sâu tài chính, tiếp cận tài chính, tính hiệu quả và tính ổn định

Thứ nhất, độ sâu tài chính phản ảnh quy mô hay độ lớn của thị trường tài chính dựa trên hệ thống ngân hàng trong tương quan với quy mô nền kinh tế Một số chỉ tiêu thường được sử dụng trong nghiên cứu như sau:

- Tỷ lệ (%) giữa dư nợ tín dụng cho khu vực kinh tế tư nhân so với GDP

- Tỷ lệ (%) giữa dư nợ huy động tiết kiệm so với GDP

- Tỷ lệ (%) giữa cung tiền M2 so với GDP

Thứ hai, tiếp cận tài chính là tiêu chí phản ánh chiều phát triển về phạm vi của

hệ thống các tổ chức tín dụng Một số tiêu chí cụ thể như sau:

- Tỷ lệ số chi nhánh ngân hàng thương mại/ 100,000 người trưởng thành

- Tỷ lệ (%) số doanh nghiệp được cấp hạn mức tín dụng

- Tỷ lệ (%) hộ gia đình sử dụng các loại hình dịch vụ tài chính

Thứ ba, hiệu quả hoạt động là đảm bảo khả năng đổi mới về công nghệ của các ngân hàng thương mại cũng như đảm bảo được khách hàng sẽ được hưởng lợi nhờ quá trình tư vấn và quản lý dòng tiền mà các ngân hàng thương mại cung cấp cho khách hàng

Thứ tư, tính ổn định đảm bảo cho sự vận hành của hệ thống ngân hàng thương

mại được diễn ra đều đặn và qua đó tác động tích cực tới các hoạt động kinh tế

2.1.2 Lý thuyết về độ mở thương mại

2.1.2.1 Định nghĩa về độ mở thương mại

Độ mở thương mại là mức độ mà tại đó các quốc gia hay các nền kinh tế cho phép kinh doanh hoặc thương mại đối với một quốc gia hay nền kinh tế khác

2.1.2.2 Đo lường độ mở thương mại

Chỉ tiêu quan trọng và được sử dụng nhiều nhất là độ mở thương mại được tính bằng cách lấy giá trị tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của một thời kỳ chia cho

Trang 13

giá trị của tổng sản phẩm trong nước trong thời kỳ đó

2.1.3 Lý thuyết về độ mở tài chính

2.1.3.1 Định nghĩa về độ mở tài chính

Có rất nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới đã đưa ra khái niệm về độ mở tài chính

Kaminsky và Scmukler (2003) cho rằng tự do hóa tài chính bao gồm việc bãi

bỏ quy định của tài khoản vốn đầu tư nước ngoài, khu vực đầu tư tài chính trong nước

và thị trường chứng khoán

Johnston và Sundarajan (1999) cho rằng tự do hóa tài chính là tập hợp các hoạt động cải cách và biện pháp chính sách được nới lỏng quản lý để chuyển đổi hệ thống tài chính và cấu trúc hướng đến hệ thống thị trường tự do trong khuôn khổ pháp lý phù hợp

Có thể thấy được từ các định nghĩa trên, tự do hóa tài chính là tập trung vào việc loại bỏ kiểm soát hạn chế hoạt động tài chính và cho phép các lực lượng thị trường tạo nên cơ chế giá thị trường

2.1.3.2 Đo lường độ mở tài chính

Các bài nghiên cứu trước đây thường sử dụng hai biện pháp đo lường độ mở tài chính như sau:

Thứ nhất, độ mở tài chính được đo lường bằng khối lượng các tài sản và khoản

nợ nước ngoài của một quốc gia so với GDP Biện pháp đo lường thực tế này được phát triển bởi Lane – Ferretti (2006)

Thứ hai, biện pháp chính thống được đề xuất bởi Chinn và Ito (2006) Nó được

xây dựng từ các biến giả để hệ thống hóa các hạn chế về giao dịch tài chính xuyên biên giới Chinn và Ito (2006) đo lường bằng hai chỉ số là: chỉ số tự do hóa tài chính

và chỉ số tự do hóa dòng vốn

Việc xác định độ mở tài chính thật không dễ dàng Người ta có thể sử dụng cả

Trang 14

hai biện pháp trên để phân tích nếu dữ liệu có sẵn Tuy nhiên trong bài nghiên cứu này, vì sự hạn chế về dữ liệu nên tác giả sử dụng biện pháp thực tế để đo lường độ

2.2.1 Độ mở thương mại và phát triển tài chính

Các nghiên cứu đã tìm kiếm bằng chứng thực nghiệm về việc liệu mở cửa thương mại có ảnh hưởng đến phát triển tài chính

Nghiên cứu của Do, Q-T và Levchenko (2004), Trade and Financial Development

Nhóm tác giả nghiên cứu có tồn tại tác động của mở cửa thương mại đến phát triển tài chính của một quốc gia hay không? Thu thập dữ liệu từ 22 quốc gia OECD

và 55 nước đang phát triển trong khoảng thời gian 30 năm (từ 1965 – 1995), với hồi quy bằng phương pháp OLS để trả lời cho câu hỏi trên Trong bài nghiên cứu, tác giả

sử dụng các biến: độ mở thương mại được đo bằng tổng xuất nhập khẩu/ GDP, phát triển tài chính được đo bằng tín dụng tư nhân/GDP, và một số các biến kiểm soát

Trang 15

khác Kết quả nghiên cứu cho thấy mức độ tác động của độ mở thương mại đến phát triển tài chính phụ thuộc vào mức thu nhập trung bình của quốc gia đó Độ mở cửa của thương mại có tương quan dương với phát triển tài chính đối với những nước có mức thu nhập trung bình cao Mối tương quan này ngược lại đối với những quốc gia

có mức thu nhập trung bình thấp Để đảm bảo tính vững, tác giả đưa thêm vào mô hình hồi quy các biến công cụ là những biến không tác động đến biến phát triển tài chính cho biến độ mở cửa thương mại, và kết quả nghiên cứu vẫn không thay đổi Do vậy, tác giả cho rằng tác động của độ mở cửa thương mại đến phát triển tài chính ở những nước có mức thu nhập trung bình khác nhau là khác nhau

Nghiên cứu của Kim và cộng sự (2009), Dynamic effects of trade openess on financial development

Cũng như Do, Q-T và Levchenko, Kim và cộng sự cũng nghiên cứu tác động của độ mở thương mại đến phát triển tài chính cho các quốc gia trên thế giới Trước

đó, đã có nhiều tác giả tìm thấy tác động tích cực của tự do thương mại đến phát triển tài chính Kim và cộng sự cho rằng mở cửa thương mại còn có thể gia tăng áp lực cạnh tranh, gia tăng rủi ro, tác động ngắn hạn đến nền kinh tế là dẫn đến các cuộc khủng hoảng Do vậy, nhóm tác giả đã tiến hành nghiên cứu tác động ngắn hạn và dài hạn của độ mở thương mại đến phát triển tài chính Với khoảng thời gian 45 năm (1960 – 2005), tác giả sử liệu dữ liệu bảng cho 88 quốc gia, và được chia thành 3 nhóm: nhóm nước có thu nhập cao, nhóm nước có thu nhập trung bình và nhóm nước

có thu nhập thấp Phương pháp PMG (Pooled Mean Group) được lựa chọn để kiểm định tác động dài hạn dựa vào sự đồng nhất của các quốc gia nghiên cứu và tác động ngắn hạn dựa vào đặc điểm riêng biệt của từng quốc gia như chính sách tiền tệ, tính linh hoạt của giá cả và tiền lương… Để đo lường phát triển tài chính tác giả sử dụng

3 biến là tín dụng tư nhân, cung tiền M3, tài sản ngân hàng Độ mở thương mại được

đo lường bằng logarit của tổng xuất nhập khẩu/GDP Ngoài ra, tác giả còn đưa vào các biến kiểm soát: GDP/đầu người, chi tiêu chính phủ/GDP, tỷ lệ lạm phát để kết quả nghiên cứu không bị chệch Kết quả nghiên cứu cho thấy: tác động của độ mở thương mại lên phát triển tài chính phụ thuộc vào mức thu nhập của các quốc gia.Đối

Trang 16

với các quốc gia có thu nhập cao độ mở thương mại không tác động trong ngắn hạn nhưng tác động cùng chiều đến phát triển tài chính trong dài hạn Đối với các quốc gia có thu nhập thấp, độ mở thương mại tác động cùng chiều đến phát triển tài chính trong dài hạn, tác động nghịch chiều trong ngắn hạn

Nghiên cứu của Thorsten Beck (2002), Financial development and international trade: Is there a link?

Tác giả nghiên cứu mối quan hệ giữa phát triển tài chính và thương mại trong các ngành sản xuất Mô hình lý thuyết tập trung vào vai trò của các trung gian tài chính trong việc tạo điều kiện cho các dự án có quy mô lớn, lãi suất cao và cho thấy nền kinh tế có bộ phận tài chính phát triển tốt hơn thì có lợi thế so sánh trong các ngành sản xuất Tác giả sử dụng dữ liệu bảng với 65 quốc gia trong vòng 30 năm Kiểm soát các hiệu ứng cố định của từng nước và mối quan hệ nhân quả, kết quả cho thấy phát triển tài chính tác động lớn đến cả xuất khẩu và cán cân thương mại của hàng hóa sản xuất

Nghiên cứu của Frederic S.Miskin (2009), Globalization and Financial Development

Tác giả lập luận rằng toàn cầu hóa là yếu tố chủ chốt trong việc thúc đẩy cải cách thể chế ở các nước đang phát triển dẫn đến phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế Các nước tiên tiến có thể giúp đỡ quá trình này bằng cách hỗ trợ mở cửa thị trường hàng hóa và dịch vụ đối với các quốc gia thị trường mới nổi Bằng cách khuyến khích các nước này tham gia vào thị trường toàn cầu, các nước tiên tiến có thể tạo ra những động lực cho các nước đang phát triển thực hiện việc cải cách để có thể phát triển tài chính, tăng trưởng kinh tế

2.2.2 Độ mở tài chính và phát triển tài chính

Nghiên cứu của Ross Levine (2001), International Financial Liberalization and Economic Growth

Tác giả đưa ra lý thuyết và bằng chứng hiện có để đánh giá về việc tự do hóa tài chính có cải thiện hoạt động của thị trường tài chính trong nước và các ngân hàng, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế hay không? Những phân tích đưa ra câu trả lời là “có”

Trang 17

Thứ nhất, tự do hóa đối với dòng vốn đầu tư quốc tế có xu hướng tăng tính thanh khoản của thị trường chứng khoán Tăng tính thanh khoản của thị trường chứng khoán dẫn đến tăng trưởng kinh tế chủ yếu bằng cách thúc đẩy tăng sản xuất Thứ hai, cho phép sự hiện diện của ngân hàng nước ngoài lớn hơn có xu hướng nâng cao hiệu quả của hệ thống ngân hàng trong nước Kết quả là các ngân hàng phát triển tốt hơn thúc đẩy tăng trưởng kinh tế chủ yếu bằng cách thúc đẩy tăng trưởng về sản xuất Do đó, hội nhập tài chính quốc tế có thể thúc đẩy phát triển kinh tế bằng cách khuyến khích cải tiến hệ thống tài chính trong nước

Nghiên cứu của Chinn và Ito (2006), What matters for financial development? Capital controls, institutions, and interactions

Tác giả nghiên cứu sự mở cửa tài chính có tác động đến phát triển tài chính không? Tập trung vào mối liên hệ giữa tự do hóa tài khoản vốn, phát triển thể chế và pháp lý, và phát triển tài chính, đặc biệt là trong thị trường chứng khoán Tác giả sử dụng dữ liệu bảng cho 108 quốc gia trong khoảng thời gian 20 năm (từ năm 1980 đến 2000) và khám phá ra nhiều khía cạnh tài chính Thứ nhất, tác giả kiểm tra liệu sự mở cửa về tài chính có thể dẫn đến phát triển thị trường chứng khoán không khi chúng ta kiểm soát mức độ phát triển pháp lý và thể chế Sau đó, tác giả kiểm tra liệu việc mở cửa của ngành hàng hoá là điều kiện tiên quyết để mở tài chính Cuối cùng, tác giả nghiên cứu xem liệu ngành ngân hàng phát triển tốt là điều kiện tiên quyết để tự do hóa tài chính, dẫn đến phát triển thị trường chứng khoán và liệu sự phát triển của ngân hàng và thị trường chứng khoán có thể bổ sung hay thay thế không Kết quả thực nghiệm cho thấy mở cửa về tài chính ở mức cao hơn góp phần vào sự phát triển của thị trường chứng khoán chỉ khi hệ thống pháp luật và thể chế chung được hoàn thiện

và thống nhất, điều này càng phổ biến ở các nước thị trường mới nổi Trong số các nước thị trường mới nổi, mức độ chất lượng của quan chức cấp cao và luật pháp cũng như mức độ tham nhũng thấp hơn làm tăng hiệu quả của việc mở cửa tài chính trong việc thúc đẩy sự phát triển của thị trường chứng khoán Tác giả cũng thấy rằng các quy định về pháp lý/thể chế liên quan đến tài chính không làm tăng hiệu quả của việc

mở tài khoản vốn mạnh mẽ như các quy định pháp lý/thể chế chung Ngoài ra, tác giả

Trang 18

thấy rằng tự do hóa trong giao dịch hàng hoá qua biên giới được coi là điều kiện tiên quyết cho tự do hóa tài khoản vốn Các phát hiện của tác giả cũng chỉ ra rằng sự phát triển trong ngành ngân hàng là điều kiện tiên quyết cho sự phát triển thị trường vốn

cổ phần và sự phát triển của hai loại thị trường tài chính này có những tác động đồng

bộ

2.2.3 Độ mở thương mại và độ mở tài chính

Nghiên cứu của Kandiero và Chitiga (2006), Trade openness and Foreign Direct Investment in Africa

Trong nghiên cứu của Lane và Milesi-Ferreti (2006), FDI được xem là nhân tố

đo lường độ mở tài chính Còn Kandiero và Chitiga (2006) nghiên cứu đến độ mở thương mại đến đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI Như vậy, tác động của độ mở thương mại đến FDI cũng là tác động đến độ mở tài chính Với dữ liệu tại các nước Châu Phi trong thời gian từ 1980 đến 2001, Kandiero và Chitiga hồi quy biến FDI theo các biến

độ mở thương mại (Openess), thuế đánh trên thương mại quốc tế (TAX), quy mô thị trường (GDP), lương (WAGE), cơ sở hạ tầng (ROAD), tỷ giá hối đoái thực (REER)

Để xử lý tốt vấn đề nội sinh của các biến trong mô hình, tác giả sử dụng phương pháp GMM để ước lượng Nghiên cứu cho ta kết quả độ mở thương mại có tác động tích cực đến sự thu hút vốn đầu tư nước ngoài (FDI) của các nước Châu Phi Nổi bật nhất

là việc hạn chế các hàng rào thuế quan, giảm thuế sẽ có tác động mạnh mẽ đến thu hút vốn đầu tư FDI Ngoài ra, ngành dịch vụ đang được bảo hộ nhiều nên nếu mở rộng tự do hóa trong khu vực này sẽ có được lợi ích rất lớn Như vậy, độ mở thương mại tác động tích cực đối với việc thu hút vốn FDI, đồng nghĩa với độ mở thương mại tác động mạnh đến độ mở tài chính

Nghiên cứu Thomas và cộng sự (2008), Linkage between Financial Deepening, Trade openness and Economic Development: Causality Evidence from Sub – Saharan Africa

Bằng cách sử dụng chuỗi thời gian 16 nước khu vực Sahara châu Phi, Thomas

và cộng sự (2008) đã nghiên cứu mối liên kết giữa mở cửa thương mại, mở cửa tài chính, phát triển tài chính và phát triển kinh tế Tác giả sử dụng các biến như sau:

Trang 19

Biến độ mở thương mại được đo lường bằng tổng xuất nhập khẩu/GDP, biến tăng trưởng được đo lường bằng GDP đầu người, phát triển tài chính được đo lường bằng các chỉ tiêu như M2/GDP, tín dụng nội địa cho khu vực tư nhân/GDP…Tác giả đã thực hiện một số các kiểm định để đưa ra kết quả cuối cùng Đầu tiên, tác giả thực hiện phân tích nhân tố khám phá để tìm ra những nhân tố đo lường phát triển tài chính Sau đó tác giả thực hiện kiểm định nghiệm đơn vị và kiểm định đồng liên kết

để xem tính dừng và mối liên hệ đồng liên kết trong chuỗi dữ liệu Sau đó tác giả thực hiện các kiểm định nhân quả giữa các biến trong mô hình Sau cùng là các kiểm định nhân quả Granger, VAR và VECM, tác giả đưa ra các kết quả nghiên cứu như sau: Đầu tiên là không có mối quan hệ trong dài hạn giữa các nhân tố phát triển, độ mở và tăng trưởng kinh tế Thứ hai, tác giả chỉ phát hiện sự tương tác hạn chế giữa độ sâu tài chính và tăng trưởng kinh tế Thứ ba tồn tại mối liên hệ giữa độ mở thương mại

và độ mở tài chính

Nghiên cứu của Asongu Simplice Anutechia (2010), Linkages between Financial Development and Openness: panel evidence from developing countries

Asongu (2010) thu thập dữ liệu trong thời gian 21 năm (1987-2008) tại 29 nước

ở Châu Phi để nghiên cứu lý thuyết về mối liên hệ giữa phát triển tài chính và độ mở Tác giả sử dụng các biến như sau: phát triển tài chính được đo lường bằng 2 yếu tố là cung tiền M3/GDP (LLgdp) và tín dụng tư nhân bằng tiền gửi ngân hàng/GDP (PCRgdp), độ mở thương mại được đo bằng tổng xuất nhập khẩu/GDP (IXgdp), độ

mở tài chính được đo lường bằng đầu tư nước ngoài/ GDP (FDIgdp) và dòng vốn tư nhân/GDP (PCFgdp) và biến kiểm soát tăng trưởng GDP trên đầu người Tác giả đã tiến hành một số các kiểm định để tìm ra kết quả ước lượng Đầu tiên, tác giả tiến hành phân tích nhân tố bằng phương pháp PCA (Principal Component Analysis) để

đo lường mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến các biến phát triển tài chính và độ

mở tài chính Tiếp theo tác giả thực hiện kiểm định nghiệm đơn vị để xem xét tính dừng của chuỗi dữ liệu Cuối cùng, tác giả thực hiện phương pháp GLS with FE (Generalized Least Squares with Fixed Efect) để tìm ra các ước lượng và kiểm định các ước lượng bằng kiểm định Robust Kết quả của bài nghiên cứu cho thấy độ mở

Trang 20

thương mại và độ mở tài chính có quan hệ hai chiều và là quan hệ cùng chiều Phát triển tài chính và độ mở tài chính có quan hệ hai chiều và quan hệ nghịch chiều Tất cả các nghiên cứu trên được nghiên cứu trên phạm vi các nước trên thế giới, còn ở Việt Nam thì sao? Đã có nghiên cứu nào xem xét đến các mối quan hệ giữa độ

mở thương mại, độ mở tài chính và phát triển tài chính ở Việt Nam chưa? Xin được

tổng quan nghiên cứu của TS Lê Thanh Tùng (2014), Mối quan hệ giữa vốn đầu tư

nước ngoài và độ mở thương mại tại Việt Nam Bằng phương pháp ước lượng ECM,

tác giả kiểm định mối quan hệ giữa FDI và độ mở thương mại tại Việt Nam trong khoảng thời gian từ năm 1989 – 2013 Kết quả nghiên cứu cho thấy tồn tại quan hệ đồng tích hợp giữa FDI và độ mở thương mại theo hướng tỷ lệ thuận, theo kiểm định Granger cũng khẳng định tồn tại quan hệ nhân quả từ FDI đến độ mở thương mại, tuy nhiên không tồn tại mối quan hệ nhân quả từ độ mở thương mại đến FDI

2.2.4 Tác động của độ mở thương mại, độ mở tài chính đến phát triển tài chính

Những bài nghiên cứu trên đều nghiên cứu mối quan hệ của 2 biến giữa độ mở thương mại và phát triển tài chính, độ mở tài chính và phát triển tài chính Bắt nguồn

từ chuyên đề của Rajan và Zingales (2003) cho rằng những phát hiện này dựa trên các kiểm định mối quan hệ hai biến có thể sẽ là không đầy đủ và thậm chí làm sai lệch kết quả Do đó, Rajan và Zingales đề nghị một mối quan hệ ba biến quan trọng

giữa mở cửa thương mại, công khai tài chính và phát triển tài chính

Nghiên cứu của Rajan và Zingales (2003), The great reversals: the politics of financial development in the twentieth century

Rajan và Zingales đưa ra giả thuyết rằng mở cửa thương mại mà không có sự

mở cửa tài chính là không thể dẫn đến sự phát triển tài chính và họ đã xem xét tính hiệu lực của giả thuyết này bằng cách sử dụng dữ liệu bảng cho 24 nước trong thời gian từ 1913 – 1999 với phương pháp hồi quy đa biến (đa số các nước mà tác giả chọn là các nước phát triển trên thế giới) Trong bài nghiên cứu, phát triển tài chính được đo bằng bốn yếu tố: phát triển ngân hàng (được đo lường bằng tỷ số tiền gửi ngân hàng/GDP); phát triển thị trường vốn (được đo lường bằng tỷ số tổng vốn đầu

Trang 21

tư của những công ty nội địa được niêm yết/tổng vốn đầu tư cố định nội địa); tổng chỉ số vốn hóa chứng khoán thị trường; và số công ty nội địa được niêm yết/1000 dân) Tác giả còn sử dụng các biến chỉ số công nghiệp/GDP, độ mở thương mại, biến tương tác của độ mở thương mại và chỉ số công nghiệp, biến tương tác của chỉ số công nghiệp và thuế làm biến độc lập Kết quả bài nghiên cứu cho thấy, khi quốc gia

mở cửa dòng vốn mạnh, phát triển tài chính tương quan dương mạnh với tự do hóa thương mại; nhưng nếu mức độ mở cửa dòng vốn giảm thì mức độ tương quan giữa phát triển tài chính và tự do hóa thương mại cũng giảm theo

Nghiên cứu của Siong Hook Law (2006), Openness, Institutions and Financial Development

Nghiên cứu của Law đã hỗ trợ tiếp cho nghiên cứu của Rajan vàZingales (2003) Với dữ liệu bảng của 43 nước đang phát triển trong 21 năm từ 1980 – 2001, Law đã nghiên cứu tác động của độ mở thương mại, độ mở tài chính đến phát triển tài chính Phát triển tài chính được đo lường bởi 2 chỉ tiêu: Phát triển khu vực ngân hàng (đo lường bằng cung tiền M3/GDP, tín dụng dành cho tư nhân/ GDP, và tín dụng nội địa của khu vực ngân hàng/ GDP) và phát triển thị trường vốn (đo lường bằng số công ty nội địa được niêm yết trên sàn chứng khoán) Độ mở tài chính được

đo lường dựa vào xây dựng của Chinn và Ito(2002) bằng dòng vốn tư nhân và chỉ số

tự do hóa tài chính Tổng xuất nhập khẩu/GDP và tỷ trọng nhập khẩu/tổng nhập khẩu

để đo lường độ mở thương mại Biến thể chế (institution) được đo lường bằng những biến đo lường rủi ro quốc gia Bằng phương pháp ước lượng GMM và PMG (Pooled Mean Group), kết quả cho thấy rằng độ mở thương mại và độ mở tài chính có tác động thúc đẩy phát triển tài chính Bài nghiên cứu còn khẳng định độ mở thương mại tác động đến phát triển tài chính đối với mỗi quốc gia phụ thuộc vào mức độ thu nhập trung bình của mỗi quốc gia

Nghiên cứu của Hanh (2009), Financial Development, Financial openness and Trade openness: New evidence

Với dữ liệu của hai mươi chín nước trong vòng 14 năm từ 1994 – 2008, Hanh nghiên cứu các mối liên kết hai chiều giữa phát triển tài chính với độ mở thương mại

Trang 22

và độ mở tài chính Đối với phát triển tài chính tác giả đo lường bằng cung tiền M3/GDP và tín dụng cho khu vực tư nhân/GDP Với độ mở tài chính tác giả đo lường bằng FDI/GDP và dòng vốn tư nhân/GDP Với độ mở thương mại tác giả đo lường bằng tổng xuất nhập khẩu/GDP Ngoài các biến chính như trên, tác giả còn sử dụng một số biến kiểm soát khác như sau: tốc độ tăng trưởng GDP, biến đo lường độ rủi

ro quốc gia, tỷ giá hối đoái thực, biến giả để đo lường khủng hoảng tài chính Bằng phương pháp GMM để ước lượng, tác giả đã đưa ra kết quả khá thú vị như sau: Đầu tiên, bài nghiên cứu cho thấy giữa phát triển tài chính với độ mở tài chính và độ mở thương mại có mối quan hệ nhân quả Ở các nước đang phát triển điều kiện tiên quyết cho sự phát triển là sự mở cửa thị trường hàng hóa và dịch vụ Và ngược lại, phát triển tài chính và độ mở tài chính tạo điều kiện cho các nước đang phát triển đạt được lợi ích lớn hơn trong việc mở cửa Thứ hai, bài nghiên cứu cho thấy mối quan hệ giữa

độ mở tài chính và phát triển tài chính là không đồng nhất Độ mở tài chính tương quan dương với tín dụng cho khu vực tư nhân Trong khi đó, không có bằng chứng cho thấy mối quan hệ giữa độ mở tài chính với cung tiền M3

Nghiên cứu của Baltagi và cộng sự (2009), Financial Development and openness: Evidence from panel data

Baltagi và cộng sự đã bổ sung giả thuyết của Rajan và Zingales (2003) sử dụng

dữ liệu bảng cho các nước đang phát triển và phát triển để làm nổi bật hiệu ứng tương tác giữa độ mở thương mại và độ mở tài chính đến phát triển tài chính Phát triển tài chính được đo lường bằng chỉ số vốn hóa chứng khoán thị trường và tín dụng tư nhân Với các nước đang phát triển, để đo lường độ mở tài chính tác giả sử dụng 2 biến là chỉ số tự do hóa tài chính được tính bằng tổng tài sản và nợ nước ngoài/GDP, và chỉ

số tự do hóa dòng vốn Độ mở thương mại được đo lường bằng tổng xuất nhập khẩu/GDP Dữ liệu thu thập từ 42 nước trong giai đoạn 1980 – 2003 và phương pháp ước lượng GMM Trong mô hình nghiên cứu, tác giả cũng đưa thêm các biến để đo lường rủi ro quốc gia Biến công cụ được sử dụng trong mô hình là độ mở thương mại của các nước láng giềngvà dòng vốn của Mỹ Kết quả nghiên cứu cho thấy tác động biên của mở cửa thương mại và mở cửa tài chính có tác động nghịch chiều với

Trang 23

độ mở tài chính và độ mở thương mại Tức là một nền kinh tế đóng cửa sẽ được hưởng lợi từ việc mở cửa thương mại hoặc mở cửa tài chính Các kết quả trong Baltagi (2009) cho thấy cả mở cửa thương mại và tài chính là yếu tố quyết định ý nghĩa thống

kê về phát triển ngành ngân hàng Và mở cửa thương mại mà không cần mở cửa tài chính hoặc mở cửa tài chính mà không cần mở cửa thương mại vẫn có thể tạo ra lợi nhuận trong phát triển tài chính

Nghiên cứu Zhang, Zhu và Lu (2015), Trade Openness, Financial Openness and Financial Development in China

Zhang, Zhu và Lu đã nghiên cứu tác động của độ mở thương mại, độ mở tài chính đến phát triển tài chính Với dữ liệu bảng của 30 tỉnh tại Trung Quốc trong giai đoạn từ 2000 – 2009 và phương pháp ước lượng GMM Tác giả sử dụng các biến như sau: Biến phát triển tài chính được đo lường thông qua quy mô, hiệu quả và cạnh tranh tài chính Biến quy mô được đo lường bởi 3 yếu tố là tổng dư nợ trong hệ thống tài chính/GDP danh nghĩa (DEPT), tổng tiền cho vay và tiền gửi trong hệ thống tài chính/GDP danh nghĩa (FIR) và tổng số tiền tiết kiệm của các hộ gia đình Biến hiệu quả tài chính được đo lường bằng tín dụng phân bổ cho doanh nghiệp tư nhân với tổng tín dụng trong nước (PRV) Biến cạnh tranh được đo lường bởi tỷ lệ tiền gửi giữa các tổ chức tài chính phi nhà nước với tổng số tiền gửi trong tất cả các tổ chức tài chính Biến độ mở thương mại được đo lường bằng tổng thương mại (tổng xuất nhập khẩu)/GDP (TO) Biến độ mở tài chính được đo bởi tỷ lệ đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) với GDP (FO) Kết quả nghiên của nghiên cứu cho thấy như sau: Thứ nhất, độ mở thương mại và độ mở tài chính có tác động ngược chiều với quy mô, nhưng có tác động cùng chiều với hiệu quả và cạnh tranh tài chính Thứ hai, tác động biên của sự mở cửa tới hiệu quả tài chính và cạnh tranh là tích cực đối với các tỉnh

mở cửa nhiều nhất, trong khi tác động biên của độ mở cửa tới quy mô phát triển tài chính nói chung là tiêu cực Thứ ba, tác động biên của sự mở cửa đến phát triển tài chính là khác nhau giữa các tỉnh khác nhau ở Trung Quốc và vấn đề lợi ích nhóm đặc biệt nghiêm trọng ở các tỉnh Trung Quốc mà có mức độ mở cửa thấp

Qua kết quả của các bài nghiên cứu trên, ta thấy được mối quan hệ giữa độ mở

Trang 24

thương mại, độ mở tài chính và phát triển tài chính Phụ thuộc vào mức thu nhập trung bình của quốc gia đó mà độ mở thương mại có mối tương quan khác nhau với phát triển tài chính Đối với quốc gia có thu nhập cao độ mở thương mại có tương quan dương với phát triển tài chính, các nước có thu nhập trung bình thấp độ mở thương mại tác động ngược chiều với phát triển tài chính Và ngược lại, phát triển tài chính cũng có tác động tới mở cửa thương mại Mở cửa tài chính khuyến khích cải thiện hệ thống tài chính trong nước, góp phần phát triển thị trường chứng khoán dẫn đến phát triển thị trường tài chính Không dừng lại ở mối quan hệ của hai yếu tố, các tác giả đã kiểm tra mối quan hệ của ba yếu tố trên và phát hiện tồn tại mối quan hệ nhân quả giữa phát triển tài chính, độ mở tài chính và độ mở thương mại

Bảng 2.1 Tóm tắt các công trình nghiên cứu trước đây

- 22 nước OECD, 55 nước đang phát triển

từ 1965-1995

- Phương pháp OLS

Tác động của độ mở thương mại đến phát triển tài chính phụ thuộc vào mức thu nhập trung bình của mỗi quốc gia

Kim và cộng sự (2009)

- 88 quốc gia từ 1960 –

2005

- Phương pháp PMG

Tác động của độ mở thương mại đến phát triển tài chính trong ngắn và dài hạn phụ thuộc vào mức thu nhập trung bình mỗi quốc gia

Thorsten Beck (2002)

- 65 quốc gia trong vòng 30 mươi năm

Phát triển tài chính tác động lớn đến cả xuất khẩu và cán cân

Trang 25

thương mại của hàng hóa sản xuất

Frederic S

Miskin (2009

có thể tạo ra những động lực cho các nước đang phát triển thực hiện việc cải cách để có thể phát triển tài chính, tăng trưởng kinh tế

có cải thiện hoạt động của thị trường tài chính trong nước và các ngân hàng, thúc đẩy tăng trưởng kinh

tế

Chinn và Ito (2006)

- 108 quốc gia từ năm 1980 –

2000

Mở cửa tài chính ở mức cao góp phần vào phát triển thi trường chứng khoán khi hệ thống pháp luật và thể chế chung được hoàn thiện và thống nhất Tự do hóa trong giao dịch hàng hóa qua biên giới được coi là điều kiện tiên quyết cho tự do

Trang 26

hóa tài khoản vốn

- Các nước châu Phi từ năm

1980 – 2001

- Phương pháp GMM

Độ mở thương mại có tác động tích cực đến

độ mở tài chính

Thomas và cộng

sự (2008)

- Các nước tiểu Saharan khu vực châu Phi

- Kiểm định nhân quả

Granger, VAR và VECM

- Không có mối quan hệ trong dài hạn giữa phát triển tài chính và độ mở thương mại và độ mở tài chính

- Có mối quan

hệ giữa độ mở tài chính và độ mở thương mại Asongu Simplice

Anutechia (2010)

- 29 nước đang phát triển từ châu Phi từ 1987 – 2008

- Phương pháp GLS

- Độ mở thương mại và độ mở tài chính có mối quan hệ hai chiều và là cùng chiều

- Độ mở tài chính và phát triển tài chính có mối quan hệ hai chiều và là nghịch chiều

Lê Thanh Tùng (2014)

Trang 27

- Phương pháp ước lượng ECM và

Granger

mở tài chính theo hướng tỷ lệ thuận

- 24 nước từ

1913 – 1999

- Phương pháp hồi quy đa biến

Nếu quốc gia mở cửa dòng vốn mạnh, độ

mở thương mại sẽ có tác động mạnh đến phát triển tài chính Siong Hook Law - 43 nước

đang phát triển từ

1980 – 2001

- Phương pháp GMM và PMG

Độ mở thương mại,

độ mở tài chính có tác động tích cực đối với phát triển tài chính mỗi quốc gia

Hanh (2009) - Các nước

châu Á từ năm

1994 – 2008

- Phương pháp GMM

Tồn tại mối quan hệ hai chiều giữa phát triển tài chính và độ

mở thương mại, độ

mở tài chính Baltagi và cộng

sự (2009)

- 42 nước từ

1980 – 2003

- Phương pháp GMM

Những nền kinh tế đóng của sẽ được hưởng nhiều lợi ích

từ mở cửa thương mại

và mở cửa tài chính Zhang, Zhu và

Lu (2015)

- 30 tỉnh tại Trung Quốc từ năm 2000 -2009

Độ mở thương mại và

độ mở tài chính có tác động ngược chiều với

Ngày đăng: 30/08/2017, 11:02

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[2] Baltagi, B.H., Demetriades, P.O., & Law, S. H.,(2009), Financial Development and Openness: evidence from panel data, Journal of Development Economics, 89(2), pp.285-296 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Financial Development and Openness: evidence from panel data
Tác giả: Baltagi, B.H., Demetriades, P.O., & Law, S. H
Năm: 2009
[3] Chinn và Ito (2006), What matters for financial development? Capital controls, institutions, and interactions, Journal of Financial Economics, 81,pp.163–192 Sách, tạp chí
Tiêu đề: What matters for financial development? Capital controls, institutions, and interactions
Tác giả: Chinn và Ito
Năm: 2006
[4] Do, Q.T., and Levchenko, A.A., 2004, Trade and financial development, World Bank Working Paper 3347 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trade and financial development
[5] Dornbusch, R. (1992), The Case for Trade Liberalization in the Developing countries, Journal of Economic Perspectives, 6(1), pp.69-85 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Case for Trade Liberalization in the Developing countries
Tác giả: Dornbusch, R
Năm: 1992
[6] Fatih Yucel, (2009), Causal Relationships between Financial Development, Trade, Openness and Economic Growth: The Case of Turkey, Journal of Social Sciences, ISSN 1549-3652 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Causal Relationships between Financial Development, Trade, Openness and Economic Growth: The Case of Turkey
Tác giả: Fatih Yucel
Năm: 2009
[7] Frederic S. Miskin (2009), Globalization and Financial Development, Journal of Financial Economics, 89,pp.164–169 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Globalization and Financial Development
Tác giả: Frederic S. Miskin
Năm: 2009
[8] Hanh, P. T. H., (2010), Financial Development, Financial Openness and Trade Openness: New evidence, CARE – EMR, University of Rouen, France. International Monetary Fund, 2013. World Economic Outlook database Sách, tạp chí
Tiêu đề: Financial Development, Financial Openness and Trade Openness: New evidence", CARE – EMR, University of Rouen, France. International Monetary Fund, 2013. "World Economic Outlook
Tác giả: Hanh, P. T. H
Năm: 2010
[10] Kandiero, T., & Chitiga, M.,(October, 2006), Trade Openness and Foreign Direct Investment in Africa, Department of Economics, University of Pretoria Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trade Openness and Foreign Direct Investment in Africa
[11] Kim, D., Lin, S., & Suen, Y., (2009), Dynamic effects of trade openness on financial development, Economic Modelling, 27, pp. 254-261 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dynamic effects of trade openness on financial development
Tác giả: Kim, D., Lin, S., & Suen, Y
Năm: 2009
[13] Menzie D. Chinn, and Hiro Ito, (2005), What matters for financial evelopment? Capital Controls, Istitutions, and Interactions, Cambridge, MA 02138 Sách, tạp chí
Tiêu đề: What matters for financial evelopment? "Capital Controls, Istitutions, and Interactions
Tác giả: Menzie D. Chinn, and Hiro Ito
Năm: 2005
[14] Omoke Philip Chimobi,( 2010), The causal Relationship among Financial Development, Trade Openness and Economic Growth in Nigeria, International Journal of Economics and Finance Sách, tạp chí
Tiêu đề: The causal Relationship among Financial Development, Trade Openness and Economic Growth in Nigeria
[15] Rajan, R.G., & Zingales, L., (2003), The great reversals: the politics of financial development in the twentieth century, Journal of Financial Economics, 69,pp.5–50 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The great reversals: the politics of financial development in the twentieth century
Tác giả: Rajan, R.G., & Zingales, L
Năm: 2003
[16] Ross Levine (2001), International Financial Liberalization and Economic Growth, Review of International Economics, 9,pp.688–702 Sách, tạp chí
Tiêu đề: International Financial Liberalization and Economic Growth
Tác giả: Ross Levine
Năm: 2001
[18] Takashi Yamano, (2009), Lecture Notes on Advanced Econometrics, Lecture 10: GLS, WLS, and FGLS Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lecture Notes on Advanced Econometrics
Tác giả: Takashi Yamano
Năm: 2009
[19] Thomas Gries, Kraft, M., & Meierrieks, D., (2008), Linkages between financial deepening, trade openness, and economic development: causality evidence from Sub- Saharan Africa, World Development, 37(12), pp. 1849-1860 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Linkages between financial deepening, trade openness, and economic development: causality evidence from Sub-Saharan Africa, World Development
Tác giả: Thomas Gries, Kraft, M., & Meierrieks, D
Năm: 2008
[20] Thorsten Beck, (2002), Financial Development and International Trade. Is There a Link?, World Bank Sách, tạp chí
Tiêu đề: Financial Development and International Trade. Is There a Link
Tác giả: Thorsten Beck
Năm: 2002
[22] Zhang, Zhu và Lu (2015), Trade Openness, Financial Openness and Financial Development in China, Journal of International Money and Finance, 59,pp 287–309 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trade Openness, Financial Openness and Financial Development in China
Tác giả: Zhang, Zhu và Lu
Năm: 2015
[1] Asongu Simplice Anutechia (2010), Linkages between Financial Developmentand Openness: panel evidence from developing countries Khác
[9] Joshua Aizenman, and Ilan Noy (2005), FDI and Trade – Two Way Linkages Khác
[12] Lê Thanh Tùng (2014), Mối quan hệ giữa vốn đầu tư nước ngoài và độ mở thương mại tại Việt Nam Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w