1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tổ chức dạy câu ghép cho học sinh lớp 5 trường tiểu học đồng phú – đồng hới – quảng bình từ quan điểm giao tiếp

77 766 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 1,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Về mặt dạy học, có công trình “Câu tiếng Việt và việc luyện câu cho học sinh tiểu học” của Nguyễn Quý Thành, năm 2009, trong chủ đề hai – Luyện câu cho học sinh tiểu học theo hướng giao

Trang 1

Để hoàn thành khóa luận này, với tình cảm chân thành, em xin trân trọng cảm ơn Trường Đại học Quảng Bình, tập thể giảng viên khoa Sư phạm Tiểu học - Mầm non đã tận tình giảng dạy, động viên khích lệ, giúp đỡ em trong quá trình học tập, nghiên cứu Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến giảng viên - TS Nguyễn Thị Nga, đã hướng dẫn chỉ bảo tận tâm, tận sức để em hoàn thành khóa luận này

Xin cảm ơn các thầy cô giáo và các em học sinh Trường Tiểu học Đồng Phú đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong quá trình nghiên cứu

Xin cảm ơn gia đình, bạn bè đã luôn lo lắng động viên em trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành khóa luận

Do điều kiện về thời gian cũng như năng lực nghiên cứu của bản thân còn hạn chế, khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được các ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo và các bạn sinh viên để đề tài hoàn chỉnh hơn

Xin chân thành cảm ơn!

Dương Thị Huyền

i

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của chính tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS Nguyễn Thị Nga Các tài liệu, những nhận định là trung thực Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về nội dung khoa học của công trình này

Quảng Bình, tháng 5 năm 2016

Dương Thị Huyền

Trang 3

MỤC LỤC

PHẦN I: MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 2

3 Mục đích nghiên cứu 3

4 Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

5 Giả thuyết khoa học 4

6 Nhiệm vụ nghiên cứu 4

7 Giới hạn nghiên cứu 5

8 Phương pháp nghiên cứu 5

9 Đóng góp mới của đề tài 5

10 Cấu trúc đề tài 6

PHẦN II: NỘI DUNG 7

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 7

1.1 Cơ sở lý luận 7

1.1.1 Quan điểm giao tiếp trong dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học 7

1.1.1.1 Giao tiếp và hoạt động giao tiếp 7

1.1.1.2 Cơ sở của quan điểm giao tiếp trong dạy học Tiếng Việt 7

1.1.1.3 Nội dung quan điểm giao tiếp trong dạy học Tiếng Việt 8

1.1.2 Đặc điểm tâm lý của học sinh lớp 4-5 11

1.1.2.1 Đặc điểm nhận thức 12

1.1.2.2 Đặc điểm ngôn ngữ 13

1.1.3 Một số khái niệm liên quan đến đề tài 13

1.1.3.1 Khái niệm về câu tiếng Việt 13

Trang 4

1.1.3.2 Quan niệm và cách định nghĩa câu ghép tiếng Việt 15

1.2 Cơ sở thực tiễn 16

1.2.1 Nội dung dạy học cụ thể về câu ghép ở lớp 5 hiện nay 16

1.2.2 Khái quát một số thông tin về thực trạng dạy học ở trường Tiểu học Đồng Phú có liên quan đến đề tài 18

1.2.3 Thực trạng của việc dạy câu ghép cho học sinh lớp 5 Trường Tiểu học Đồng Phú từ quan điểm giao tiếp 19

1.2.3.1 Mục đích khảo sát thực trạng 19

1.2.3.2 Nội dung khảo sát thực trạng 19

1.2.3.3 Cách thức khảo sát thực trạng 19

1.2.3.4 Chọn mẫu khảo sát thực trạng 19

1.2.3.5 Kết quả khảo sát thực trạng 20

1.2.3.5.1 Kết quả khảo sát thực trạng nhận thức của giáo viên 20

1.2.3.5.2 Thực trạng kiến thức về câu ghép và kỹ năng sử dụng câu ghép trong giao tiếp của học sinh lớp 5 trường Tiểu học Đồng Phú 24

1.2.4 Nguyên nhân của thực trạng dạy và học câu ghép 25

Tiểu kết chương 1 26

CHƯƠNG 2 MỘT SỐ BIỆN PHÁP TỔ CHỨC DẠY CÂU GHÉP CHO HỌC SINH LỚP 5 TRƯỜNG TIỂU HỌC ĐỒNG PHÚ TỪ QUAN ĐIỂM GIAO TIẾP 27

2.1 Đổi mới các hình thức tổ chức dạy học để nâng cao chất lượng dạy câu ghép 27

2.1.1 Dạy câu ghép theo hướng phát huy tính tích cực trong hoạt động giao tiếp của học sinh 27

2.1.2 Dạy câu ghép phải đặt trong ngữ cảnh 27

2.1.3 Vận dụng hình thức tổ chức trò chơi học tập trong dạy học câu ghép 27 2.2 Trên quan điểm giao tiếp, đề xuất bổ sung một số nội dung dạy học về câu ghép 29

Trang 5

2.3.Vận dụng linh hoạt một số phương pháp dạy học để tổ chức dạy câu ghép cho học

sinh lớp 5 từ quan điểm giao tiếp 36

2.3.1 Vận dụng phương pháp phân tích ngôn ngữ trong dạy học câu ghép 36

2.3.2 Vận dụng phương pháp luyện tập theo mẫu trong dạy học câu ghép 36

2.3.3 Vận dụng phương pháp giao tiếp trong dạy học câu ghép 37

2.3.4 Vận dụng phương pháp thảo luận nhóm trong dạy học câu ghép 38

2.4 Xây dựng hệ thống bài tập dạy câu ghép cho học sinh lớp 5 trường tiểu học Đồng Phú theo quan điểm giao tiếp 41

2.4.1 Xây dựng hệ thống bài tập dạy câu ghép cho HS lớp 5 gắn với chủ điểm và ngữ cảnh 41

2.4.2 Xây dựng hệ thống bài tập dạy câu ghép trong sự kế thừa và mở rộng vốn từ cho HS lớp 5 42

2.4.3 Xây dựng bài tập tình huống dạy câu ghép cho HS lớp 5 thông qua giờ học các tiết dạy thể loại văn miêu tả 43

2.4.4 Xây dựng bài tập giúp HS lớp 5 nhận diện và sử dụng đúng mục đích diễn đạt của câu ghép 44

Tiểu kết chương 2 45

CHƯƠNG III.THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 46

3.1 Những vấn đề chung của thực nghiệm 46

3.1.1.Mục đích thực nghiệm 46

3.1.2 Nội dung thực nghiệm 47

3.1.3 Địa bàn, thời gian, đối tượng thực nghiệm 47

3.2 Tổ chức thực nghiệm 48

3.2.1 Thiết kế giáo án và phiếu điều tra 48

3.2.1.1 Thiết kế giáo án thử nghiệm 48

3.2.1.2 Phiếu kiểm tra kết quả thực nghiệm và cách xếp loại 55

Trang 6

3.3 Đánh giá kết quả thực nghiệm 57

3.3.1 Bảng đối chiếu kết quả thực nghiệm 1 57

3.3.2 Bảng đối chiếu kết quả thực nghiệm 2 58

3.4 Kết luận thực nghiệm 59

KẾT LUẬN CHUNG 61

1 Kết luận 61

2 Kiến nghị 62

TÀI LIỆU THAM KHẢO 63

PHỤ LỤC 1 65

PHỤ LỤC 2 66

PHỤ LỤC 3: 68

Trang 7

KÍ HIỆU VIẾT TẮT TRONG KHÓA LUẬN

Trang 8

1

PHẦN I: MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Mục tiêu cơ bản của môn tiếng Việt ở tiểu học là hình thành và rèn luyện kĩ năng

sử dụng tiếng Việt (nghe, nói, đọc, viết) để học tập và giao tiếp trong môi trường hoạt động của lứa tuổi Để đạt được mục tiêu này, hầu hết các bài học đều hướng đến việc tổ chức các hoạt động giao tiếp bằng tiếng Việt cho HS

Chức năng giao tiếp là chức năng quan trọng nhất của ngôn ngữ V.B Kasevich khẳng định: “Truyền đạt thông tin là một trong những dạng và bình diện giao tiếp cần yếu nhất giữa con người với con người Vì vậy, nói theo V.I.Lênin, “ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người” Vì thế, dạy học tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp là tạo điều kiện cho học sinh tham gia vào hoạt động giao tiếp, học trong giao tiếp, bằng giao tiếp và để giao tiếp Qua đó sẽ phát triển mọi mặt kỹ năng giao tiếp của học sinh: nghe – nói – đọc – viết,…

Trong giao tiếp, đơn vị nhỏ nhất là câu Khi một người nói ra một câu hay một số câu thường hướng vào người nghe cụ thể, trong một tình huống cụ thể, nhằm một hoặc nhiều mục đích nhất định Nếu HS có kĩ năng sử dụng câu thì các em sẽ có điều kiện

cơ bản để nâng cao năng lực giao tiếp

Tuy nhiên, thực tế trong giờ học tiếng Việt, đặc biệt trong giờ dạy lý thuyết về câu ghép, giáo viên thường chú trọng đến hình thành khái niệm về câu ghép, cách nối các vế câu trong câu ghép mà chưa quan tâm đến việc dạy học sinh kỹ năng thể hiện mối quan hệ giữa những sự việc nêu ở các vế câu bằng phương tiện ngôn ngữ thích hợp Nhiều giáo viên thường chỉ chú trọng việc truyền tải nội dung kiến thức mà chưa nắm vững mục đích dạy cho học sinh kỹ năng để giao tiếp

Việc học của học sinh cũng nghiêng nhiều về hình thức, chủ yếu là nhận biết cấu tạo của câu ghép, các vế câu trong câu ghép mà không chú trọng đến việc sử dụng câu ghép đúng mục đích giao tiếp Điều này dẫn đến việc lựa chọn nội dung, hình thức và phương pháp dạy học chưa phù hợp, hiệu quả dạy học chưa cao

Việc tổ chức dạy học câu ghép nếu được thực hiện tốt HS sẽ chủ động trong học tập, thấy được sự đa dạng, phong phú của câu ghép trong giao tiếp; thấy được mục đích của môn Tiếng Việt Điều này làm cho môn học thật sự có ý nghĩa với các em, góp phần trong việc hoàn thành các nhiệm vụ của môn tiếng Việt ở tiểu học

Trang 9

2

Xuất phát từ những lý do vừa nêu, tôi chọn vấn đề “Tổ chức dạy câu ghép cho

học sinh lớp 5 trường Tiểu học Đồng Phú – Đồng Hới – Quảng Bình từ quan điểm giao tiếp” làm đề tài nghiên cứu

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

2.1 Câu ghép và vấn đề dạy câu ghép ở tiểu học

Theo sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 5, tập 2: “Câu ghép là câu do nhiều vế câu ghép lại Mỗi vế câu thường có cấu tạo giống một câu đơn (có đủ chủ ngữ, vị ngữ) và thể hiện một ý có quan hệ chặt chẽ với ý của những vế câu khác” [19, tr.8]

Việc dạy học câu ghép cho học sinh lớp 5 là một vấn đề từ lâu đã được chú trọng Điều này thể hiện khá rõ nét ở chỗ, có nhiều tài liệu tham khảo đã đề cập đến nội dung này:

Về mặt lý luận, một số công trình khoa học của các tác giả khi nghiên cứu về câu

ghép như: công trình “Ngữ pháp Tiếng Việt” của Đỗ Thị Kim Liên, năm 1999, ở

chương V – Câu [8, tr.100], tác giả đề cập đến các khái niệm về câu đơn, câu ghép, việc phân loại câu ghép: câu ghép có quan hệ từ liên kết, câu ghép không có quan hệ

từ liên kết “ Cơ sở ngữ pháp Tiếng Việt” của tác giả Nguyễn Kim Thản, năm 2008, ở

chương II – Cách đặt câu ghép [17, tr.40], tác giả đề cập về câu ghép có phần rộng hơn ngoài định nghĩa câu ghép, tác giả còn nêu các quy tắc đặt câu ghép Tất cả các tài liệu trên cũng chỉ mới đề cập đến vấn đề lý thuyết về câu ghép chưa nhắc đến việc dạy câu ghép như thế nào?

Về mặt dạy học, có công trình “Câu tiếng Việt và việc luyện câu cho học sinh tiểu học” của Nguyễn Quý Thành, năm 2009, trong chủ đề hai – Luyện câu cho học sinh

tiểu học theo hướng giao tiếp [18, tr.159], tác giả nói đến các định nghĩa giao tiếp, chức năng của giao tiếp, các nhân tố giao tiếp,… tác giả cũng đã nêu lên các phương pháp luyện câu cho học sinh tiểu học theo hướng giao tiếp

2.2 Dạy học tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp

Ở nước ta, từ hơn mười năm nay, dạy tiếng Việt theo hướng giao tiếp đã được đặt

ra và được nhiều nhà phương pháp dạy học tiếng Việt quan tâm nghiên cứu cùng đông đảo GV ủng hộ Từ những năm 1994-1995, hàng loạt các cuộc Hội thảo đánh giá

Trang 10

“Phương pháp dạy học tiếng Việt ở tiểu học I, II” của tác giả Nguyễn Quang Ninh,…

Những thành tựu đó đã đặt cơ sở lý thuyết và tổng kết kinh nghiệm cho các hoạt động nghiên cứu, biên soạn sách giáo khoa, đổi mới PPDH tiếng Việt

Năm 2002-2003, chương trình tiếng Việt năm 2000 được đưa vào giảng dạy ở bậc Tiểu học trên cả nước Chương trình đã khẳng định: dạy tiếng Việt ở Tiểu học nhằm mục tiêu dạy kỹ năng tiếng Việt và rèn luyện năng lực sử dụng tiếng Việt để học tập và giao tiếp trong môi trường hoạt động của lứa tuổi Song song đó, tác giả

Nguyễn Trí với “Một số vấn đề dạy học tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp”, tác giả

Lê Thị Thanh Bình và Chu Thị Hà Thanh với “Quan điểm giao tiếp trong dạy học tiếng Việt ở Tiểu học”, tác giả Nguyễn Thị Xuân Yến với nội dung “Bàn về hệ thống bài tập dạy học tiếng Việt theo nguyên tắc giao tiếp”, tác giả Phan Thị Ngọc Quỳnh với “Dạy học “Luyện câu” ở Tiểu học theo định hướng giao tiếp”… đã cụ thể hóa

quan điểm giao tiếp vào quá trình dạy học ở Tiểu học

Tóm lại, các tài liệu nêu trên đã đề cập khá nhiều đến vấn đề dạy tiếng Việt cho

học sinh theo quan điểm giao tiếp Nhưng vấn đề dạy “câu ghép theo quan điểm giao tiếp” chưa được nghiên cứu thành đề tài chuyên sâu và có tính hệ thống Vì vậy, vấn

đề khóa luận đưa ra là một vấn đề mới, cần được nghiên cứu và thử nghiệm cải tiến việc tổ chức dạy và học câu ghép ở lớp 5 theo quan điểm giao tiếp một cách thích hợp nhằm hình thành và rèn luyện năng lực giao tiếp cho học sinh ở Tiểu học

3 Mục đích nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu nhằm góp phần giải quyết những khó khăn của giáo viên và học sinh trong quá trình dạy và học về câu ghép, góp phần nâng cao chất lượng dạy học vấn đề về câu ghép tiếng Việt cho học sinh lớp 5 theo quan điểm giao tiếp

Trang 11

4.2 Đối tượng nghiên cứu

Các phương pháp dạy học và hệ thống bài tập dạy học về câu ghép tiếng Việt cho học sinh lớp 5 trong phân môn Luyện từ và câu theo quan điểm giao tiếp

4.3 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài chỉ khảo sát thực trạng và thử nghiệm kết quả dạy học về câu ghép tiếng Việt cho học sinh lớp 5 theo quan điểm giao tiếp, qua phân môn Luyện từ và câu, tại trường Tiểu học Đồng Phú trên địa thành phố Đồng Hới

5 Giả thuyết khoa học

Nếu đề tài đề xuất được cách thức vận dụng các phương pháp dạy học tích cực và xây dựng được hệ thống bài tập dạy học về câu ghép theo quan điểm giao tiếp, sẽ góp phần nâng cao hiệu quả dạy học về câu ghép cho học sinh lớp 5

6 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nêu trên, đề tài tập trung giải quyết các nhiệm vụ cụ thể sau:

- Nghiên cứu các vấn đề lý luận liên quan đến đề tài

- Tìm hiểu thực trạng về dạy học câu ghép cho học sinh lớp 5 tại trường Tiểu học Đồng Phú, thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình

- Đề xuất cách thức vận dụng các phương pháp dạy học tích cực vào việc dạy học câu ghép theo quan điểm giao tiếp ở lớp 5 trường Tiểu học Đồng Phú

- Đề xuất cách thức xây dựng hệ thống bài tập dạy học về câu ghép cho học sinh lớp 5 trường Tiểu học Đồng Phú theo quan điểm giao tiếp

Trang 12

5

7 Giới hạn nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu chủ yếu các bài học về câu ghép trong sách giáo khoa lớp 5, các phương pháp, bài tập nâng cao dạy học câu ghép theo quan điểm giao tiếp

8 Phương pháp nghiên cứu

8.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận

- Phương pháp phân tích và tổng hợp các tài liệu: Phương pháp này được sử dụng khi nghiên cứu, phân tích các tài liệu về lý thuyết giao tiếp, các tài liệu về tâm lý lứa tuổi, đặc điểm ngôn ngữ của học sinh tiểu học, các tài liệu về chương trình, SGK, phương pháp dạy học, đặc biệt là các tài liệu về việc dạy câu ghép cho học sinh lớp 5

từ quan điểm giao tiếp

8.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Phương pháp quan sát, điều tra nhằm khảo sát thực trạng, xác lập cơ sở thực tiễn cho đề tài

- Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia nhằm tổng kết kinh nghiệm đưa ra các phương pháp nâng cao hiệu quả dạy học về câu ghép cho học sinh lớp 5 theo quan điểm giao tiếp

- Phương pháp thử nghiệm sư phạm nhằm chứng minh tính khả thi của các phương pháp đã đề xuất

8.3 Phương pháp thống kê toán học

Nhằm xử lý các số liệu thu thập được, từ đó có cơ sở rút ra những kết luận phù hợp

9 Đóng góp mới của đề tài

Đề tài góp phần cụ thể hóa lý luận việc dạy học câu ghép cho học sinh lớp 5 từ quan điểm giao tiếp Từ kết quả của đề tài chúng tôi, khẳng định vai trò của quan điểm giao tiếp trong dạy học Tiếng Việt nói chung và dạy câu ghép nói riêng Đồng thời đưa

ra các phương pháp dạy học tích cực và xây dựng các dạng bài tập nhằm nâng cao hiệu quả dạy học câu ghép cho học sinh lớp 5 Qua đó, đề tài sẽ là tài liệu tham khảo bổ ích đối với giáo viên, phụ huynh và sinh viên

Trang 13

6

10 Cấu trúc đề tài

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, đề tài gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở khoa học của đề tài

Chương 2: Một số biện pháp tổ chức dạy câu ghép cho học sinh lớp 5 Trường

Tiểu học Đồng Phú từ quan điểm giao tiếp

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Trang 14

7

PHẦN II: NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Quan điểm giao tiếp trong dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học

1.1.1.1 Giao tiếp và hoạt động giao tiếp

a Giao tiếp

Giao tiếp là sự tiếp xúc, trao đổi tư tưởng, tình cảm, vốn sống, kinh nghiệm,… giữa các thành viên trong cộng đồng (giữa cá nhân với cá nhân, giữa cá nhân với tập thể, giữa tập thể với tập thể)

Giao tiếp là phương thức tồn tại của con người, là phương tiện cơ bản để hình thành nhân cách trẻ Con người sử dụng nhiều phương tiện để giao tiếp nhưng ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất

b Hoạt động giao tiếp

Mỗi cuộc giao tiếp đều gồm hai hoạt động: hoạt động tạo lập (sản sinh) lời nói (lí thuyết thông tin gọi là hoạt động truyền tin), hoạt động tiếp nhận (lĩnh hội) lời nói (lí thuyết thông tin gọi là hoạt động nhận tin)

Mỗi hoạt động lại liên quan đến một số kỹ năng Hoạt động sản sinh lời nói sử dụng kỹ năng nói và viết, hoạt động tiếp nhận lời nói sử dụng kỹ năng nghe và đọc

1.1.1.2 Cơ sở của quan điểm giao tiếp trong dạy học Tiếng Việt

Xét theo góc độ ngôn ngữ học, quan điểm giao tiếp có cơ sở xuất phát từ chức năng xã hội của ngôn ngữ Nếu coi “Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của loài người” thì việc dạy tiếng Việt trong nhà trường là hình thành và rèn luyện cho HS một công cụ giao tiếp Vì vậy, phương pháp dạy học hiệu quả nhất là dạy học trong giao tiếp

Từ góc độ lý luận dạy học, quan điểm giao tiếp là sử dụng nguyên tắc lí thuyết gắn với thực hành của lí luận dạy học đại cương vào lĩnh vực dạy tiếng Trong dạy học tiếng Việt, thực hành tức là tiến hành các hoạt động nói, nghe, đọc, viết, là phát triển

Trang 15

8

lời nói cá nhân Trong dạy học LT&C, đảm bảo nguyên tắc giao tiếp tức làm giàu vốn

từ, nâng cao kĩ năng đặt câu, sử dụng câu đúng, hay, tinh tế trong các tình huống giao tiếp cho HS

1.1.1.3 Nội dung quan điểm giao tiếp trong dạy học Tiếng Việt

Con người giao tiếp với nhau bằng công cụ quan trọng nhất là ngôn ngữ Vì thế, việc dạy tiếng thông qua hoạt động giao tiếp là một trong những nguyên tắc chủ đạo của việc xây dựng chương trình môn học ở cấp tiểu học Đây là xu hướng phố biến trong dạy học ở các nước tiên tiến hiện nay Khác với xu hướng dạy học theo cấu trúc,

xu hướng này có tác dụng rõ rệt trong việc hình thành và phát triển ở HS các kĩ năng

sử dụng ngôn ngữ Dạy tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp giúp thực hiện một cách

nhanh nhất, vững chắc nhất mục tiêu của chương trình tiếng Việt ở tiểu học là "Hình thành và phát triển ở HS kĩ năng sử dụng tiếng Việt (nghe, nói, đọc, viết) để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi”

Với việc thay tên gọi hai phân môn "Từ ngữ", "Ngữ pháp" của chương trình cũ bằng "LT&C" ở chương trình tiếng Việt mới không chỉ đơn thuần là việc đổi tên mà là

sự phản ánh quan điểm giao tiếp trong dạy học LT&C của chương trình tiếng Việt mới: dạy học tiếng Việt là dạy thực hành sử dụng ngôn ngữ (HS biết dùng từ đặt câu

và sử dụng các kiểu câu vào giao tiếp một cách có hiệu quả)

Quan điểm giao tiếp chi phối nội dung chương trình, phương pháp và hình thức dạy học môn tiếng Việt nói chung cũng như phân môn LT&C nói riêng Cụ thể là:

* Quan điểm giao tiếp chi phối nội dung dạy học

Dạy học tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp cần đáp ứng yêu cầu cung cấp kiến thức về ngôn ngữ và rèn luyện các kĩ năng, sử dụng ngôn ngữ trong hoạt động giao tiếp

Cách làm là xuất phát từ hệ thống kĩ năng để chọn kiến thức Trục cơ bản của chương trình là 4 kĩ năng nghe, nói, đọc, viết Các kiến thức lí thuyết được lựa chọn nhằm phục vụ cho việc hình thành và phát triển các kĩ năng đó của HS Kiến thức về tiếng Việt cung cấp cho HS ở dạng sơ giản nhưng cần đảm bảo tính hiện đại Các khái niệm lí thuyết được biến thành các quy tắc chỉ dẫn HS hành động Có như vậy quá

Trang 16

9

trình chuyển hóa từ kiến thức thành kĩ năng hoạt động lời nói của HS mới diễn ra dễ dàng; quá trình hình thành kĩ năng và tiếp thu kiến thức mới đi đôi với nhau giúp HS hình thành được năng lực giao tiếp

Việc dạy HS tiểu học giao tiếp bằng tiếng Việt luôn hướng tới hai mục đích:

- Một là giúp HS hiểu được lời nói, bài viết có sẵn, diễn đạt bằng lời và bằng chữ

ý nghĩ của mình theo một yêu cầu đặt ra trước

- Hai là giúp HS tự hiểu được lời nói, bài viết trong hoàn cảnh giao tiếp bằng ngôn ngữ (ngữ cảnh) tự nhiên và giúp các em tự diễn đạt bằng lời và bằng chữ ý nghĩ của mình theo một yêu cầu đặt ra trước

Ngữ liệu đưa vào giờ LT&C phải là những ngữ liệu sinh động, chân thực, thường được sử dụng trong hoạt động giao tiếp thường ngày, phù hợp với hoạt động giao tiếp

ở lứa tuổi tiểu học Không sử dụng những ngữ liệu khô cứng, rập khuôn, xa đời sống thực của HS

Ngữ liệu để dạy tiếng Việt không chỉ là những bài có sẵn trong tài liệu học tập (SGK, vở luyện tập, ) mà còn bao gồm những lời nói, bài nói, bài viết do HS tạo ra Nghĩa là HS không chỉ học đọc, học viết, học nói, học nghe trên các tài liệu học tập do nhà trường cung cấp mà còn thực hành các kĩ năng trên trong khi các em giao tiếp ở nhà, ở trường Thông qua các nội dung phong phú của những ngữ liệu dạy giao tiếp bằng tiếng Việt sẽ giúp HS ngoài việc đọc, viết, nghe, nói thông thạo, còn tích lũy được các tri thức thiết thực, không bỡ ngỡ với thực tiễn cuộc sống

Để tổ chức hoạt động giao tiếp, chúng ta cần tạo ra những môi trường giao tiếp có chọn lọc, phù hợp với cuộc sống thực thông qua các bài tập rèn kĩ năng mang tính tình huống, sinh động, hấp dẫn, phù hợp với những tình huống giao tiếp tự nhiên, kích thích HS hào hứng tham gia, bộc lộ bản thân, từ đó phát triển kĩ năng giao tiếp

* Quan điểm giao tiếp chi phối phương pháp dạy học

Quán triệt quan điểm giao tiếp, trong dạy học tiếng Việt nói chung và trong dạy học LT&C nói riêng:

Trang 17

10

- Phải luôn xem xét các đơn vị ngôn ngữ trong hoạt động hành chức, tức là đưa chúng vào các đơn vị lớn hơn, đặt nó trong hoạt động giao tiếp, trong các sản phẩm giao tiếp

- Phải xuất phát từ ngữ cảnh giao tiếp, từ ngữ liệu điển hình để quy nạp thành dấu hiệu khái niệm có tính lý thuyết rồi từ đó vận dụng vào giải quyết các bài tập cụ thể

- Phải coi trọng việc tổ chức dạy học câu giao tiếp cho HS, coi thực hành giao tiếp là hoạt động chủ yếu

Vì vậy, trong dạy học LT&C hay trong tổ chức dạy học câu thì phương pháp dạy học cần gắn dạy ngôn ngữ với giao tiếp, nghĩa là gắn ngôn ngữ với những yếu tố ngoài ngôn ngữ như: hoàn cảnh, mục đích, vai, nội dung và các yếu tố như cử chỉ, thái độ, điệu bộ trong khi nói Muốn vậy, GV phải tạo được các tình huống giao tiếp, GV

phải sử dụng phương pháp dạy học theohoạt động ngôn ngữ, tức là dạy cho HS chuyển

từ ngôn ngữ sang lời nói gắn với hoạt động giao tiếp Trong dạy học câu, GV phải sử dụng hệ thống bài tập tập hợp được những yêu cầu hoạt động bằng ngôn ngữ và lời nói cho HS nhằm giúp các em hình thành và rèn luyện kĩ năng giao tiếp bằng tiếng Việt Với hướng dạy học hoạt động ngôn ngữ, sử dụng phương pháp dạy học này, GV không chỉ cho HS thực hiện các bài tập theo mẫu có sẵn mà còn hướng dẫn cách chuyển ngôn ngữ sang lời nói trong hoàn cảnh giao tiếp, mục đích giao tiếp cụ thể và vai giao tiếp phù hợp Đây là quan điểm dạy học ngôn ngữ, trong hoạt động giao tiếp, theo nguyên tắc giao tiếp, đưa HS vào các hoạt động nói năng Thông qua thực hành,

HS tự rèn luyện các kĩ năng sử dụng từ, câu và tự nói ra các tri thức lý thuyết cần thiết

để ý thức hóa quá trình sử dụng từ, câu của mình

Trên cơ sở đó, GV cần lựa chọn và kết hợp các phương pháp dạy học nhằm đưa

HS vào các hoạt động giao tiếp, phát huy tính tích cực sáng tạo, khả năng độc lập suy nghĩ của HS như: phương pháp thực hành giao tiếp, phương pháp đóng vai, phương pháp luyện theo mẫu, phương pháp phân tích ngôn ngữ, phương pháp dạy học nêu vấn

đề,

Trang 18

11

* Quan điểm giao tiếp chi phối hình thức tổ chức dạy học

Quan điểm giao tiếp chi phối hình thức dạy học trong tất cả các giờ học tiếng Việt và các môn học khác trong nhà trường Trong quá trình dạy học, GV nên linh hoạt áp dụng các hình thức tổ chức dạy học, khuyến khích HS phối hợp giữa học cá nhân, học theo nhóm nhỏ, học theo lớp, tổ ngoại khóa, câu lạc bộ khoa học, tham gia hội "Các nhà khoa học trẻ", dạ hội khoa học hay nghệ thuật,…

Các hình thức tổ chức dạy học theo hướng giao tiếp bao gồm: thảo luận (lớp và nhóm), tham quan, hoạt động ngoại khóa, trò chơi học tập, đóng vai,…

Các hình thức dạy học trên góp phần tăng cường tối đa cơ hội để các HS trong lớp được làm việc và thể hiện khả năng của mình, phát huy cao tinh thần hiểu biết, học hỏi và khả năng hợp tác, thi đua giữa các thành viên trong lớp

Các em mạnh dạn tham gia ý kiến, phát huy được tính chủ động của mình; khuyến khích những em nhút nhát, những em không dám phát biểu chỗ đông người cũng có cơ hội nói lên suy nghĩ của mình trong nhóm nhỏ hơn Qua đó, HS chia sẻ ý kiến và kinh nghiệm; tạo điều kiện để các em học hỏi lẫn nhau theo quan điểm "Học thầy không tày học bạn"; hình thành và phát triển cho HS khả năng hợp tác Bên cạnh

đó, các hình thức dạy học này còn giúp HS củng cố, đào sâu tri thức mới được học, làm sáng tỏ những điều thắc mắc, GV có cơ hội thu được thông tin phản hồi từ HS nhiều hơn

Tóm lại, quá trình dạy học tiếng Việt ở tiểu học cần nghiên cứu hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ để làm cơ sở cho việc lựa chọn nội dung, phương pháp và hình thức dạy học cho đạt hiệu quả cao trong quá trình dạy học tiếng Việt

1.1.2 Đặc điểm tâm lý của học sinh lớp 4-5

Nếu như ở bậc mầm non hoạt động chủ đạo của trẻ là vui chơi, thì đến tuổi tiểu học hoạt động chủ đạo của trẻ đã có sự thay đổi về chất, chuyển từ hoạt động vui chơi sang hoạt động học tập Đây là một bước ngoặt lớn trong đời sống của trẻ

Trang 19

12

1.1.2.1 Đặc điểm nhận thức

Tri giác của học sinh tiểu học mang tính đại thể, ít đi vào chi tiết và mang tính không ổn định: ở đầu tuổi tiểu học tri giác thường gắn với hành động trực quan, đến cuối tuổi tiểu học tri giác bắt đầu mang tính xúc cảm, trẻ thích quan sát các sự vật hiện tượng có màu sắc sặc sỡ, hấp hẫn, tri giác của trẻ đã mang tính mục đích, có phương hướng rõ ràng - tri giác có chủ định (trẻ biết lập kế hoạch học tập, biết sắp xếp công việc nhà, biết làm các bài tập từ dễ đến khó, )

Nhận thấy điều này chúng ta cần phải thu hút trẻ bằng các hoạt động mới, mang màu sắc, tính chất đặc biệt khác lạ so với bình thường, khi đó sẽ kích thích trẻ cảm nhận, tri giác tích cực và chính xác

Tư duy mang đậm màu sắc xúc cảm và chiếm ưu thế ở tư duy trực quan hành động

Các phẩm chất tư duy chuyển dần từ tính cụ thể sang tư duy trừu tượng, khái quát

Khả năng khái quát hóa phát triển dần theo lứa tuổi, lớp 4, 5 bắt đầu biết khái quát hóa lý luận Tuy nhiên, hoạt động phân tích, tổng hợp kiến thức còn sơ đẳng ở phần đông học sinh tiểu học

Tưởng tượng của học sinh tiểu học đã phát triển phong phú hơn so với trẻ mầm non nhờ có bộ não phát triển và vốn kinh nghiệm ngày càng dày dạn Tuy nhiên, tưởng tượng của các em vẫn mang một số đặc điểm nổi bật sau:

- Ở đầu tuổi tiểu học thì hình ảnh tưởng tượng còn đơn giản, chưa bền vững và dễ thay đổi

- Ở cuối tuổi tiểu học, tưởng tượng tái tạo đã bắt đầu hoàn thiện, từ những hình ảnh cũ trẻ đã tái tạo ra những hình ảnh mới Tưởng tượng sáng tạo tương đối phát triển

ở giai đoạn cuối tuổi tiểu học, trẻ bắt đầu phát triển khả năng làm thơ, làm văn, vẽ tranh, Đặc biệt, tưởng tượng của các em trong giai đoạn này bị chi phối mạnh mẽ bởi các xúc cảm, tình cảm, những hình ảnh, sự việc, hiện tượng đều gắn liền với các rung động tình cảm của các em

Trang 20

13

Qua đây, chúng ta phải phát triển tư duy và trí tưởng tượng của các em bằng cách biến các kiến thức "khô khan" thành những hình ảnh có cảm xúc, đặt ra cho các em những câu hỏi mang tính gợi mở, thu hút các em vào các hoạt động nhóm, hoạt động tập thể để các em có cơ hội phát triển quá trình nhận thức lý tính của mình một cách toàn diện

1.1.2.2 Đặc điểm ngôn ngữ

Hầu hết học sinh tiểu học có ngôn ngữ nói thành thạo Khi trẻ vào lớp 1 bắt đầu xuất hiện ngôn ngữ viết Đến lớp 5 thì ngôn ngữ viết đã thành thạo và bắt đầu hoàn thiện về mặt ngữ pháp, chính tả và ngữ âm Nhờ có ngôn ngữ phát triển mà trẻ có khả năng tự đọc, tự học, tự nhận thức thế giới xung quanh và tự khám phá bản thân thông qua các kênh thông tin khác nhau

Ngôn ngữ có vai trò hết sức quan trọng đối với quá trình nhận thức cảm tính và lý tính của trẻ, nhờ có ngôn ngữ mà cảm giác, tri giác, tư duy, tưởng tượng của trẻ phát triển dễ dàng và được biểu hiện cụ thể thông qua ngôn ngữ nói và viết của trẻ Mặt khác, thông qua khả năng ngôn ngữ của trẻ ta có thể đánh giá được sự phát triển trí tuệ của trẻ

Xuất phát từ đặc điểm nhận thức và đặc điểm ngôn ngữ của trẻ, chương trình môn Tiếng Việt nói chung và phân môn Luyện từ và câu lớp 5 nói riêng lấy nguyên tắc dạy giao tiếp làm định hướng cơ bản

Tóm lại, việc tìm hiểu chung về các bài học câu ghép, cách vận dụng quan điểm giáo tiếp trong dạy học và đặc điểm tâm lý học sinh lớp 4-5 là cơ sở vững chắc về mặt

lí luận cho chúng tôi trong quá trình nghiên cứu đề tài: “Tổ chức dạy câu ghép cho học sinh lớp 5 trường tiểu học Đồng Phú từ quan điểm giao tiếp”

1.1.3 Một số khái niệm liên quan đến đề tài

1.1.3.1 Khái niệm về câu tiếng Việt

Từ trước đến nay có rất nhiều định nghĩa về câu Ở Việt Nam, hầu hết các nhà ngôn ngữ học đều dựa vào các định hướng của các nhà ngôn ngữ học trên thế giới để định nghĩa về câu Các định nghĩa này có thể được căn cứ về mặt nội dung của câu, hoặc căn cứ vào mối liên hệ của câu với hiện thực Cũng có tác giả định nghĩa câu dựa

Trang 21

14

vào cả hai mặt nội dung và hình thức cấu tạo câu Có thể kể ra một số định nghĩa sau: Tác giả Trương Văn Chình lấy mục đích giao tiếp làm cơ sở, ông chọn định nghĩa về

câu do A Meillet nêu: “Câu là một tổ hợp tiếng dùng để diễn tả một sự tình hay nhiều

sự tình có quan hệ với nhau; tổ hợp ấy tự nó tương đối đầy đủ ý nghĩa và không phụ huộc về ngữ pháp về một tổ hợp khác” [10, 476] Tác giả Nguyễn Kim Thản không đưa ra định nghĩa trực tiếp mà chọn định nghĩa về câu của V.V.Vinogradov: “Câu là đơn vị hoàn chỉnh của lời nói được hình thành về mặt ngữ pháp theo quy luật của một ngôn ngữ nhất định, làm công cụ quan trọng để cấu tạo, biểu thị tư tưởng Trong câu không chỉ có sự truyền đạt về hiện thực mà còn có cả mối quan hệ của người nói với hiện thực” [20] Tác giả Nguyễn Lân thì định nghĩa: ”Nhiều từ mà hợp lại mà biểu thị một ý nghĩa dứt khoát về động tác, tình hình hoặc tính chất của sự vật gọi là một câu”,

Định nghĩa câu khá dài là của nhóm tác giả Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng

Trọng Phiến: “Câu là đơn vị của ngôn ngữ có cấu tạo ngữ pháp (bên trong và bên ngoài) tự lập và có ngữ điệu kết thúc, mang một tư tưởng tương đối trọn vẹn và có kèm thái độ của người nói hoặc chỉ biểu thị thái độ của người nói, giúp hình thành và biểu hiện, truyền đạt tư tưởng, tình cảm với tư cách là một đơn vị thông báo nhỏ nhất” Theo tác giả Nguyễn Minh Thuyết, “Câu là đơn vị có chức năng thông báo, tức là biểu hiện một thông điệp Trong đó, vị ngữ là một nòng cốt, là “xuất phát điểm” của thông điệp” Tác giả Đỗ Thị Kim Liên có định nghĩa về câu rất súc tích, đủ cả mặt nội

dung và hình thức cấu tạo, đây cũng là định nghĩa gần gũi với việc dạy các kiểu câu trong chương trình tiểu học hiện nay mà chúng tôi đưa ra làm cơ sở cho mình khi tìm

hiểu vấn đề về câu: “Câu là một đơn vị dùng từ đặt ra trong quá trình suy nghĩ, được gắn với ngữ cảnh nhất định nhằm mục đích thông báo hay thể hiện thái độ đánh giá

Câu có cấu tạo độc lập, có ngữ điệu kết thúc”[12, 101].Theo định nghĩa này, câu có

các đặc điểm: có chức năng thông báo, thể hiện ở chỗ câu mang nội dung thông tin và thể hiện thái độ, tác động đến nhận thức người nghe, diễn đạt được ý của người nói Cách giải thích này gần gũi với nội dung dạy học về câu của HS tiểu học; câu có cấu trúc ngữ pháp độc lập, thể hiện ở chỗ câu thường có cấu trúc chủ - vị; câu có ngữ điệu kết thúc, đó là dấu hiệu giúp HS nhận biết câu về mặt hình thức; câu được gắn với một ngữ cảnh nhất định, gắn với hoàn cảnh giao tiếp phù hợp Với phương pháp dạy học môn tiếng Việt hiện nay: Dạy về câu không chỉ căn cứ các mẫu câu cụ thể mà còn căn

cứ cả về chức năng, tức phương diện giao tiếp, thông qua giao tiếp

Trang 22

15

1.1.3.2 Quan niệm và cách định nghĩa câu ghép tiếng Việt

Trong Việt ngữ học, có ít nhất là ba quan niệm khác nhau tương đối phổ biến về câu đơn, câu ghép (hoặc câu đơn, câu phức; câu đơn giản, câu phức hợp):

Một số tác giả quan niệm câu đơn là câu chỉ có một cụm chủ - vị, câu ghép là câu chứa hai cụm chủ - vị trở lên VD:

a/ Trời mưa rất to (câu đơn)

b/ Trời mưa rất to, mọi người đều mang áo mưa (câu ghép)

c/Vì trời mưa rất to nên mọi người đều mang áo mưa (câu ghép)

Một số tác giả phân biệt ba loại câu: câu a là câu đơn, câu b là câu phức, còn câu

Ngữ pháp tiếng Việt, năm 1983 của Viện Ngôn ngữ học và nhiều giáo trình đại học,

nhiều sách nghiên cứu Để phù hợp với trình độ nhận thức của HS tiểu học, sách định

nghĩa: “Câu ghép là câu do nhiều vế câu ghép lại Mỗi vế của câu ghép thường có cấu tạo giống câu đơn (có đủ chủ ngữ, vị ngữ) và thể hiện một ý có quan hệ chặt chẽ với ý của những vế câu khác”

Trang 23

16

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Nội dung dạy học cụ thể về câu ghép ở lớp 5 hiện nay

Bảng 1.1: Bảng nội dung các bài dạy câu ghép trong sách Tiếng Việt 5, tập hai

19 Người công

dân

Câu ghép

- Câu ghép là câu do nhiều vế câu ghép lại

- Mỗi vế câu ghép thường có cấu tạo giống một câu đơn (có đủ chủ ngữ, vị ngữ) và thể hiện một

ý có quan hệ chặt chẽ với ý của những vế câu khác

Cách nối các vế câu ghép

- Có hai cách nối các vế câu trong câu ghép + Nối bằng những từ ngữ có tác dụng nối

+ Nối trực tiếp (không dùng từ nối) Trong trường hợp này, giữa các vế câu cần có dấu phẩy, dấu chấm phẩy hoặc dấu hai chấm

20 Người công

dân

Nối các vế câu ghép bằng quan

- Những cặp quan hệ từ thường được dùng là:

+ Vì… nên…; do… nên…; nhờ… mà…

Trang 24

hệ từ

- Để thể hiện quan hệ điều kiện – kết quả, giả thuyết – kết quả giữa hai vế câu ghép, ta có thể nối chúng bằng:

+ Một quan hệ từ: nếu, hễ, giá, thì…

+ Hoặc một cặp quan hệ từ: nếu… thì…; nếu như… thì…; hễ… thì…; hễ mà… thì…; giá… thì…

Nối các vế câu ghép bằng quan

hệ từ

- Để thể hiện quan hệ tăng tiến giữa các vế câu ghép, ta có thể nối chúng bằng một trong các

cặp quan hệ từ: không những… mà…; chẳng những… mà…; không chỉ… mà…

từ hô ứng

- Để thể hiện quan hệ về nghĩa giữa các vế câu, ngoài quan hệ từ, ta còn có thể nối các vế câu ghép bằng một số cặp từ hô ứng như:

+ Vừa… đã…; chưa… đã…; mới… đã…; vừa… vừa…; càng… càng…

+ Đâu… đấy…; nào… ấy…; sao… vậy…; bao nhiêu… bấy nhiêu…

Trang 25

18

Chúng tôi tìm hiểu các tiết Luyện từ và câu có bài dạy câu ghép về cả thời lượng, các dạng bài Qua đó, chúng tôi nhận thấy: có 8 tiết dạy về câu ghép, cụ thể: khái niệm câu ghép (tuần 19: 1 tiết); Cách nối các vế câu ghép (tuần 19: 1 tiết); Nối các vế câu ghép bằng quan hệ từ (tuần 20: 1 tiết; tuần 21: 1 tiết; tuần 22: 2 tiết; tuần 23: 1 tiết); Nối các vế câu ghép bằng cặp từ hô ứng (tuần 24: 1 tiết)

Khảo sát 8 bài dạy về câu ghép thì cả 8 bài dạy đều là kiểu bài hình thành kiến thức mới và có ba mục Nhận xét, Ghi nhớ, Luyện tập, mỗi mục chứa một loại câu hỏi, bài tập tương ứng

1.2.2 Khái quát một số thông tin về thực trạng dạy học ở trường Tiểu học Đồng Phú có liên quan đến đề tài

Trường nằm trong địa bàn trung tâm thành phố Đồng Hới, trường luôn nhận được quan tâm chỉ đạo trực tiếp của Phòng Giáo Dục và Đào Tạo Thành phố Đồng Hới, sự chỉ đạo sát sao của các cấp Ủy Đảng, chính quyền địa phương và đặc biệt là sự ủng hộ nhiệt tình của các cấp đoàn thể và lực lượng cha mẹ học sinh luôn kề vai sát cánh cùng với nhà trường Với đội ngũ giáo viên đạt chuẩn của trường luôn nêu cao tinh thần đoàn kết, nhiệt tình , có kinh nghiệm trong giảng dạy, gắn bó với nhà trường Có ý thức tự học, tự bồi dưỡng, trau dồi kiến thức trình độ chuyên môn; đặc biệt luôn là đội ngũ đi đầu trong việc tích cực đổi mới phương pháp dạy học, ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học

Đội ngũ cán bộ giáo viên giỏi chuyên môn nghiệp vụ, dày dặn kinh nghiệm, có lòng nhiệt huyết, yêu trẻ mến nghề Trường có 38 giáo viên, trong đó 100% giáo viên đạt chuẩn trình độ đào tạo theo quy định, đều có năng lực sư phạm tốt cán bộ và giáo viên nhà trường luôn học hỏi, cầu tiến, trau dồi, tiếp thu những phương pháp dạy học mới Chính nhân tố này đã góp phần tạo nên một môi trường giáo dục tiến bộ lành mạnh tạo niềm tin cho cả phụ huynh và học sinh Bên cạnh đó nhà trường luôn đảm bảo về điều kiện cơ sở vật chất, đồ dùng dạy học được trang bị đầy đủ Các phòng học đều kiên cố, được trang bị bàn ghế đúng chuẩn, có bảng chống lóa và tủ đựng thiết bị

đồ dùng được trang trí đẹp mắt, tạo không gian lớp học gần gũi với học sinh Mang lại cảm giác thích thú cho học sinh khi đến trường yếu tố này giúp cho quá trình dạy học của các giáo viên được thuận lợi hơn và học sinh có hứng thú vào việc học tập, hình thành ý thức học tập, biết cố gắng phấn đấu trở thành con ngoan ,trò giỏi xứng đáng là những chủ nhân tương lai của đất nước

Trang 26

19

Ở trường Tiểu học Đồng Phú, môn Tiếng Việt do giáo viên trực tiếp đảm nhận Điều này cũng có nhiều thuận lợi, vì giáo viên có thể hiểu sâu sắc hơn về nội dung, yêu cầu của môn học Vì vậy, việc tổ chức dạy học câu ghép theo quan điểm giao tiếp đối với khối lớp 5 trường Tiểu học Đồng Phú là có tính khả thi

1.2.3 Thực trạng của việc dạy câu ghép cho học sinh lớp 5Trường Tiểu học Đồng Phú từ quan điểm giao tiếp

1.2.3.1 Mục đích khảo sát thực trạng

Để xác định được cơ sở thực tiễn của việc dạy câu ghép cho HS lớp 5 theo quan điểm giao tiếp, chúng tôi khảo sát thực trạng dạy và học câu ghép ở khối lớp 5 trường Tiểu học Đồng Phú Kết quả phân tích qua khảo sát sẽ giúp chúng tôi rút ra được những vấn đề liên quan đến thực tiễn dạy học về câu ghép ở lớp 5 hiện nay Trên cơ sở

đó, chúng tôi đề xuất cách thức vận dụng một số PPDH tích cực vào dạy học câu ghép

và cách thức xây dựng hệ thống bài tập dạy học câu ghép cho HS lớp 5 theo quan điểm giao tiếp

1.2.3.2 Nội dung khảo sát thực trạng

Để đạt được mục đích trên, chúng tôi tiến hành khảo sát các nội dung sau:

- Thực trạng dạy câu ghép cho HS lớp 5 theo quan điểm giao tiếp của GV

- Thực trạng kiến thức và kỹ năng sử dụng câu ghép trong giao tiếp của HS

Trang 27

20

1.2.3.5 Kết quả khảo sát thực trạng

1.2.3.5.1 Kết quả khảo sát thực trạng nhận thức của giáo viên

Bảng 1.2: Thực trạng nhận thức và việc tổ chức dạy câu ghép của GV

Dạy học Tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp là

a Tạo điều kiện cho mỗi HS phát triển tối đa theo năng lực

và sở trường của mình

b Hướng đến chức năng xã hội của ngôn ngữ, chức năng làm

công cụ giao tiếp để học tập và hoạt động trong các môi

Để dạy phần lý thuyết về câu ghép, thầy (cô) đã chuẩn bị

những công việc và nội dung nào sau đây:

a Sử dụng toàn bộ các bài tập, câu hỏi gợi ý trong SGK và

0

Trang 28

21

3

Những ngữ liệu dạy câu ghép trong SGK hiện nay:

a Phù hợp với kinh nghiệm sống, thực tiễn khi giao tiếp của

HS

b Chưa đa dạng

c Không gây được hứng thú với HS

d Một số ngữ liệu và lệnh bài tập còn khó hiểu, mơ hồ,

không phù hợp với trình độ của HS

0

4

Kỹ năng quan trọng cần đạt khi dạy học câu ghép:

a Kỹ năng nhận biết các kiểu câu ghép

b Kỹ năng thể hiện mối quan hệ giữa những sự việc nêu ở

các vế câu bằng phương tiện ngôn ngữ thích hợp

c Kỹ năng tạo lập các kiểu câu ghép đúng mục đích ngữ

pháp

d Kỹ năng sử dụng các kiểu câu ghép đúng mục đích giao

tiếp ngoài thực tiễn

33,33

16,67

5

Phân biệt mục đích diễn đạt của câu ghép căn cứ vào:

a Những dấu hiệu hình thức trong câu

b Nội dung (mục đích giao tiếp)

c Các quan hệ từ (cặp quan hệ từ, cặp tự hô ứng) trong câu

2

1

3

33,33 16,67

50

6

Khi dạy các bài về câu ghép, ngoài các bài tập trong SGK,

thầy (cô) có xây dựng các tình huống giao tiếp cho HS thực

Trang 29

b Chưa xác định đúng các vế câu trong câu ghép

c Chưa xác định đúng quan hệ từ (cặp quan hệ từ, cặp từ hô

0

8

Những khó khăn khi dạy câu ghép?

a Kỹ năng giao tiếp của HS

Đa số GV (3 GV) được khảo sát đều nắm vững mục tiêu dạy học Tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp là hướng đến chức năng xã hội của ngôn ngữ, chức năng làm công

cụ giao tiếp để học tập và hoạt động trong các môi trường của HS Bên cạnh đó, một

GV cho rằng: dạy học Tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp là tạo điều kiện cho mỗi

HS phát triển tối đa theo năng lực và sở trường của mình và 1 GV khác nghĩ rằng: dạy học Tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp là tổ chức dạy học như tổ chức một hoạt động giao tiếp bằng lời Tuy nhiên, 1 GV còn lại cho rằng: tập trung rèn luyện và phát triển các kỹ năng: nghe, nói, đọc, viết là đã dạy học Tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp

Để dạy phần lý thuyết về câu ghép, 3 GV trên tổng số 6 GV được khảo sát cho biết đã sử dụng toàn bộ các bài tập, câu hỏi gợi ý trong SGK và SGV, và chỉ có 2 GV

tự mình xây dựng các tình huống, bài tập khác nhau phù hợp với nội dung của bài dạy

và đối tượng HS

Trang 30

23

Qua trao đổi trực tiếp với GV cho thấy, chỉ có 1 GV nghiên cứu các tài liệu khác ngoài SGV khi chuẩn bị giáo án do phải dạy nhiều môn không đủ thời gian nghiên cứu sâu từng bài

Cũng do mất quá nhiều thời gian, tốn kinh phí nên chỉ có 2 GV làm phiếu học tập khi chuẩn bị cho bài dạy lý thuyết về câu ghép Ngoài các bài tập trong SGK, chỉ có 4

GV thình thoảng mới xây dựng các tình huống giao tiếp cho HS thực hành và 2 GV thường xuyên xây dựng các tình huống giao tiếp cho HS thực hành dẫn đến cách dạy của một số GV còn đơn điệu, lệ thuộc vào SGK, chưa lôi cuốn HS

Khi được hỏi về những ngữ liệu dạy câu ghép trong SGK hiện nay, chỉ có 1 GV cho rằng là phù hợp với kinh nghiệm sống, thực tiễn khi giao tiếp của HS và 2 GV nhận xét ngữ liệu dạy câu ghép không gây được hứng thú với HS Song song đó, 3 GV nhận định những ngữ liệu trong sgk đưa ra chưa đa dạng

Về kỹ năng quan trọng cần đạt khi dạy học câu ghép, 2 GV nhận định là kỹ năng nhận biết các kiểu câu ghép và kỹ năng tạo lập các kiểu câu ghép đúng ngữ pháp là 2

GV Còn kỹ năng sử dụng các kiểu câu ghép đúng mục đích giao tiếp ngoài thực tiễn

là 1 GV Trong khi đó, chỉ có 1 GV cho rằng: kỹ năng quan trọng cần đạt khi dạy học câu ghép là kỹ năng thể hiện mối quan hệ giữa những sự việc nêu ở các vế câu bằng phương tiện ngôn ngữ thích hợp Điều này cho thấy, đa số GV chưa nắm vững mục tiêu dạy học về câu ghép của SGK

Kết quả khảo sát cũng cho thấy, 2 GV cho biết HS phân biệt mục đích diễn đạt của câu ghép căn cứ vào những dấu hiệu hình thức trong câu và 3 GV cho rằng HS phân biệt dựa vào các quan hệ từ (cặp quan hệ từ, cặp từ hô ứng) trong câu, chỉ có 1

GV nhận định HS dựa vào nội dung (mục đích giao tiếp) để phân biệt mục đích diễn đạt của câu ghép

Về những lỗi HS thường mắc phải khi luyện tập câu ghép, 3 GV cho rằng HS chưa xác định đúng các vế câu trong câu ghép và 2 GV nhận xét HS chưa tạo lập được câu ghép đúng mục đích theo yêu cầu bài tập

Qua trao đổi về những khó khăn khi dạy câu ghép, 3 GV nhận định do kỹ năng giao tiếp của HS chưa tốt và 3 GV còn lại cho rằng do nhận thức của HS còn hạn chế

Trang 31

Bảng 1.3: Ý kiến học sinh về khái niệm và đặc điểm của câu ghép

Số phiếu Tỉ lệ (%)

1

Câu ghép là câu?

a Do một cụm chủ ngữ, vị ngữ tạo thành

b Do nhiều vế câu ghép lại Mỗi vế câu thường có cấu

tạo giống một câu đơn (có đủ chủ ngữ, vị ngữ) và thể

hiện một ý có quan hệ chặt chẽ với ý của những vế câu

khác

15

105

12,5 87,5

2

Câu ghép biểu thị những quan hệ gì trong câu?

a Quan hệ nguyên nhân – kết quả

b Quan hệ điều kiện (giả thiết) – kết quả

3

Khi nối các vế câu trong câu ghép, em dùng cách

nào sau đây:

4

Để nhận ra một câu có phải là câu ghép không, em

căn cứ vào:

a Số cụm chủ ngữ, vị ngữ trong câu

b Nội dung của câu

c Các quan hệ từ (cặp quan hệ từ, cặp từ hô ứng) xuất

hiện trong câu

Trang 32

Khi được hỏi, câu ghép biểu thị những quan hệ gì trong giao tiếp thì 87,5 % HS đều xác định câu ghép biểu thị tất cả các quan hệ nguyên nhân – kết quả, điều kiện (giả thiết) – kết quả, quan hệ tương phản và quan hệ tăng tiến Bên cạnh đó, cũng có một số

ít HS (12,5%) chọn câu ghép chỉ biểu thị quan hệ nguyên nhân – kết quả

Về việc nối các vế câu trong câu ghép, 70,83% HS đều chọn có hai cách nối các

vế câu trong câu ghép, đó là nối bằng những từ có tác dụng nối và nối trực tiếp (dùng dấu phẩy, dấu chấm phẩy hoặc dấu hai chấm) Chỉ có 16,67% HS chọn cách nối bằng những từ có tác dụng nối và 12,5% HS chọn cách nối trực tiếp (dùng dấu phẩy, dấu chấm phẩy hoặc hai chấm) để nối các vế câu trong câu ghép

Tất cả các điều nêu trên cho thấy, HS nắm rất vững các vấn đề lý thuyết về câu ghép trong sách Tiếng Việt 5, tập hai Tuy nhiên khi vận dụng vào luyện tập thực hành

để nhận ra một câu có phải là câu ghép thì đa số HS (63,33%) lại căn cứ vào các quan

hệ từ (cặp quan hệ từ, cặp từ hô ứng) trong câu và một tỉ lệ không nhỏ 10% HS căn cứ vào nội dung của câu để xác định đó là câu ghép Trong khi đó chỉ có 26,67% HS căn

cứ vào số cụm chủ ngữ, vị ngữ trong câu để xác định câu ghép Kết quả này cho thấy

HS còn khá lúng túng, chưa nắm vững bài học

1.2.4 Nguyên nhân của thực trạng dạy và học câu ghép

Nguyên nhân chính của những khó khăn và hạn chế của GV khi dạy câu ghép ở tiểu học là do GV chưa nắm vững mục tiêu dạy học câu ghép cho HS tiểu học là: dạy

kỹ năng thể hiện mối quan hệ giữa những sự việc nêu ở các vế câu bằng phương tiện ngôn ngữ thích hợp nên khi lên lớp các GV chủ yếu làm thế nào để truyền tải hết nội dung trong SGK Bên cạnh đó, các GV hiểu mục tiêu dạy câu ghép là dạy kỹ năng nhận biết các kiểu câu ghép nên hầu hết GV chỉ quan tâm dạy các bài tập nhận diện

như: “Tìm câu ghép trong đoạn văn Xác định các vế câu trong từng câu ghép” mà bỏ

qua các bài tập xây dựng – tổng hợp nên chưa hình thành cho HS kỹ năng giao tiếp tốt

Trang 33

26

Trong quá trình dạy học, GV chỉ chú trọng hình thành 2 kỹ năng đọc và viết mà chưa tập trung nhiều đến 2 kỹ năng nghe và nói Do đó, nhiều em còn lúng túng khi thực hiện hoạt động nói năng Các em chưa biết sử dụng quan hệ từ một cách đúng

nghĩa Ví dụ: Tuy ba em đã cố gắng vẽ bức tranh nhưng bức tranh rất đẹp

Thực tế, nhiều HS khi hỏi đến lý thuyết thì trả lời rất trôi chảy, chính xác nhưng khi làm bài tập thực hành thì không đạt yêu cầu Điều đó thể hiện HS nắm kiến thức một cách máy móc, thụ động và tỏ ra lúng túng thiếu chắc chắn

Nhìn chung, qua kết quả khảo sát nêu trên, vấn đề tổ chức dạy và học câu ghép thông qua hoạt động giao tiếp cho HS trường Tiểu học Đồng Phú một cách hiệu quả hơn là hết sức cần thiết

Tiểu kết chương 1

Trong chương 1, chúng tôi tập trung nghiên cứu về lí luận và thực tiễn của việc dạy câu ghép cho HS lớp 5 trường Tiểu học Đồng Phú theo quan điểm giao tiếp

Về cơ sở lí luận, chúng tôi đã khái quát được khái niệm về câu ghép, quan niệm

và cách định nghĩa câu ghép; nêu lên được cơ sở của quan điểm giao tiếp trong dạy học tiếng Việt; đồng thời chúng tôi cũng đã nêu được đặc điểm tâm lý của HS lớp 4-5

Về cơ sở thực tiễn, chúng tôi đã điều tra thực trạng dạy và học câu ghép tại trường Tiểu học Đồng Phú Trên cơ sở đó, chúng tôi đưa ra cách thức vận dụng một số phương pháp dạy học tích cực vào dạy học câu ghép và cách thức xây dựng hệ thống bài tập câu ghép theo quan điểm giao tiếp phù hợp với đặc điểm tâm lý, kinh nghiệm sống của HS lớp 5 trường Tiểu Học Đồng Phú ở chương 2

Trang 34

27

CHƯƠNG 2 MỘT SỐ BIỆN PHÁP TỔ CHỨC DẠY CÂU GHÉP CHO HỌC SINH LỚP 5 TRƯỜNG TIỂU HỌC ĐỒNG PHÚ TỪ QUAN ĐIỂM GIAO TIẾP

2.1 Đổi mới các hình thức tổ chức dạy học để nâng cao chất lượng dạy câu ghép

2.1.1 Dạy câu ghép theo hướng phát huy tính tích cực trong hoạt động giao tiếp của học sinh

Một đặc điểm vốn có của con người là tính tích cực Con người không chỉ là khách thể mà còn là chủ thể của các quan hệ xã hội, thể hiện ở chỗ tích cực tiếp thu có chọn lọc tất cả những tác động bên ngoài để sáng tạo và xây dựng nhân cách riêng của mình Nguồn gốc của tính tích cực là nhu cầu Con người sinh ra cùng với một loạt nhu cầu bẩm sinh khác nhau (VD: nhu cầu ăn, ở, đi lại, trao đổi thông tin,…) Những nhu cầu này không bao giờ cạn và luôn trở thành động cơ thúc đẩy con người hoạt động Khi nhu cầu nhận thức xuất hiện thì nó sẽ thúc đẩy hoạt động học tập

2.1.2 Dạy câu ghép phải đặt trong ngữ cảnh

Mục tiêu dạy học TV hiện nay là dạy tiếng thông qua giao tiếp Theo định hướng này, việc dạy ngôn ngữ nói chung và dạy câu ghép nói riêng sẽ lấy giao tiếp làm môi trường và PP Điều đó có nghĩa là dạy tiếng phải thông qua hoạt động giao tiếp, phải đặt HS trong từng tình huống, hoàn cảnh giao tiếp khác nhau Thông qua hoạt động giao tiếp mà hình thành và rèn luyện kỹ năng sử dụng câu ghép Tuy nhiên, việc rèn luyện kỹ năng phải lấy kiến thức làm nền tảng

Dạy câu ghép theo ngữ cảnh giúp HS dễ xác định, nhận biết câu ghép khi nghe, khi đọc Khi nói, viết, ngữ cảnh giúp các em có thể đặt câu ghép rõ nội dung, thể hiện đúng mối quan hệ giữa những sự vật nêu ở các vế câu bằng phương tiện ngôn ngữ thích hợp Cụ thể, các ngữ liệu để dạy câu ghép nếu được đặt trong ngữ cảnh cụ thể sẽ giúp HS dễ dàng xác định được mục đích, nội dung cụ thể mà ngữ cảnh nói đến

2.1.3 Vận dụng hình thức tổ chức trò chơi học tập trong dạy học câu ghép

Trò chơi học tập là hình thức học tập phù hợp với đặc điểm lứa tuổi HS tiểu học Phương pháp trò chơi được sử dụng như một PP tổ chức cho HS khám phá và chiếm lĩnh nội dung học tập hoặc thực hành, luyện tập một kỹ năng nào đó trong chương trình môn học hoặc củng cố kiến thức, kỹ năng đã học

Trang 35

Bản chất của phương pháp trò chơi học tập là dạy học thông qua việc tổ chức hoạt động cho HS Dưới sự hướng dẫn của GV, HS được hoạt động bằng cách tự chơi trò chơi trong đó mục đích của trò chơi chuyển tải mục tiêu của bài học Luật chơi

(cách chơi) thể hiện nội dung và PP học, đặc biệt là PP học tập có sự hợp tác và sự tự

đánh giá

Khi sử dụng phương pháp này, GV cần lưu ý một số yêu cầu sau:

- Mục đích trò chơi phải hướng vào việc củng cố kiến thức về câu ghép, rèn luyện

kỹ năng sử dụng câu ghép trong giao tiếp

- Nội dung trò chơi phải chứa ít nhất là một đơn vị kiến thức về câu ghép, một số thao tác của kỹ năng sử dụng câu ghép

- Hình thức trò chơi cần đa dạng, phong phú, phối hợp được nhiều cơ quan vận động và giác quan của HS

- Cách chơi đơn giản, dễ thực hiện; thu hút được nhiều người tham gia Phần thưởng phạt phải công minh, có sức thu hút

- Việc tổ chức trò chơi cần đúng lúc làm sao đạt được mục đích mình đề ra: khắc sâu được kiến thức (hay rèn luyện được kỹ năng), thay đổi không khí lớp học tạo hứng thú học tập ở HS

Trang 36

29

Trong dạy học câu ghép, phương pháp trò chơi học tập giúp cho giờ học sinh động, HS có điều kiện giao tiếp, hợp tác hoạt động Tuy nhiên, không nên lạm dụng

PP này, không phải bài dạy câu ghép nào cũng bắt buộc tổ chức trò chơi, cần tránh lặp

đi lặp lại một vài hình thức đến nhàm chán, HS buộc phải chơi Trò chơi học tập câu ghép chủ yếu được tổ chức vào cuối tiết học nhằm củng cố kiến thức, kỹ năng đã học Quy trình thực hiện:

Bước 1: GV giới thiệu tên, mục đích của trò chơi

Bước 2: Hướng dẫn HS chơi Bước này bao gồm những việc làm sau:

- Tổ chức người tham gia trò chơi: Số người tham gia, số đội tham gia (mấy đội chơi), trọng tài

- Các dụng cụ dùng để chơi (giấy khổ to, bảng nhóm,…)

- Cách chơi: Từng việc làm cụ thể của người chơi hoặc đội chơi, thời gian chơi, những điều người chơi không được làm,…

- Cách xác nhận kết quả và cách tính điểm chơi (nếu có)

Bước 3: Thực hiện trò chơi

Bước 4: Nhận xét sau cuộc chơi Bước này gồm những việc làm sau:

- GV hoặc HS là trọng tài nhận xét về thái độ tham gia trò chơi của từng đội, những việc làm chưa tốt của các đội để rút kinh nghiệm

- Trọng tài công bố kết quả chơi của từng đội, cá nhân và trao phần thưởng cho đội đoạt giải

- Một số HS nêu kiến thức, kỹ năng trong bài học mà trò chơi đã thể hiện

(Phụ lục 3: Một số trò chơi học tập về câu ghép theo quan điểm giao tiếp)

2.2 Trên quan điểm giao tiếp, đề xuất bổ sung một số nội dung dạy học về câu ghép

 Bài Câu ghép – Tuần 19

Phần Ghi nhớ trang 8 SGK đưa ra khái niệm về câu ghép:

Trang 37

30

Câu ghép là câu do nhiều vế câu ghép lại

Mỗi vế câu ghép thường có cấu tạo giống một câu đơn (có đủ chủ ngữ, vị ngữ) và thể hiện một ý có quan hệ chặt chẽ với ý của những vế câu khác

Chúng tôi nhận thấy phần 1 của Ghi nhớ: “Câu ghép là câu do nhiều vế câu ghép lại” nhưng ở phần Nhận xét chỉ đưa ra những câu ghép có hai vế câu và phần Luyện

tập chưa có nội dung cho HS thực hành đặt câu ghép theo tình huống nên chúng tôi đề nghị bổ sung thêm bài tập ở phần Luyện tập để giúp HS hiểu thêm câu ghép có thể do

ba vế câu tạo thành và sự cần thiết khi phải có câu ghép Chẳng hạn: Đặt câu ghép theo nội dung các bức ảnh sau:

Tùy theo cách đặt câu mà các câu ghép đó có thể tạo thành một câu ghép được nữa hay không bởi cả hai bức ảnh đều có nội dung liên quan đến “trời mưa”

VD: Dựa vào nội dung 2 bức ảnh trên, HS có thể đặt ra rất nhiều câu ghép như:

A Vì trời mưa nên đường phố ngập nước

B Vì trời mưa nên mọi người đều mặc áo mưa

Sau khi HS đặt câu, GV có thể hỏi thêm: Có thể ghép các câu ghép trên thành một câu ghép được không? Vì sao? Sau đó yêu cầu HS tìm chủ ngữ, vị ngữ cho các vế câu của câu ghép đó Chẳng hạn:

Vì trời / mưa nên đường phố / ngập nước, mọi người / đều mặc áo mưa

CN1 VN1 CN2 VN2 CN3 VN3

Trang 38

31

Cuối cùng, GV chốt lại kiến thức: Câu ghép có thể do ba vế câu tạo thành, mỗi vế câu ghép thể hiện một ý có quan hệ chặt chẽ với ý của các vế câu khác

 Bài Cách nối các vế câu ghép – Tuần 19

Phần Luyện tập ở SGK mới chỉ giúp HS nhận diện câu ghép, cách nối các vế câu ghép Vì thế, chúng tôi đề nghị bổ sung thêm bài tập giúp HS thực hành nối các vế câu

ghép bằng một trong hai cách vừa học Chẳng hạn: Thay các từ có tác dụng nối bằng dấu câu thích hợp trong từng câu ghép dưới đây:

a/ Mẹ tôi là giáo viên còn ba tôi là nông dân

b/ Cơn gió ập đến và bụi tung mịt mù

c/ Mặt trời đang từ từ nhô lên và bình minh lại trở về trên quê hương em

d/ Vườn nhà tôi khá rộng nhưng tôi thích nhất một góc vườn nhỏ phía đông

Gợi ý trả lời

a/ Điền dấu phẩy, dấu phẩy, dấu phẩy (hoặc từ “và”)

b/ Điền dấu phẩy (hoặc từ “và”)

Ngày đăng: 30/08/2017, 10:37

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w