Nhóm phương pháp thống kê toán học Sử dụng phương pháp thống kê toán học để phân tích kết quả điều tra thực trạng và làm tăng độ tin cậy của các kết quả nghiên cứu về vấn đề biện pháp l
Trang 1Lời cảm ơn
Để hoàn thành khóa luận này, với tình cảm chân thành
em xin trân trọng cảm ơn Trường Đại học Quảng Bình, giảng viên khoa SP Tiểu học – mầm non đã tận tình giảng dạy, động viên, khích lệ, giúp đỡ em trong quá trình học tập, nghiên cứu
Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến giảng viên – TS Mai Thị Liên Giang đã hướng dẫn để em hoàn thành khóa luận này
Xin cảm ơn giáo viên chủ nhiệm đã động viên khi em gặp khó khăn, cảm ơn các thầy cô giáo và các em học sinh Trường Tiểu học số 2 Bắc Lý - TP Đồng Hới - tỉ nh Quảng Bình đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong quá trình nghiên cứu
Xin cảm ơn gia đình, bạn bè đã luôn lo lắng động viên và
ủng hộ em trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn
thành khóa luận
Do điều kiện về thời gian cũng như năng lực nghiên cứu của bản thân còn hạn chế, khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong được các ý kiến đóng góp của quý thầy cô giáo, các bạn sinh viên để đề tài được hoàn chỉ nh hơn
Trang 2Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu và kết quả nghiên cứu nêu trong khóa luận là trung thực và chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nào
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 1
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 1
3.1 Đối tượng nghiên cứu 1
3.2 Phạm vi nghiên cứu 2
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
5 Giả thuyết khoa học 2
6 Phương pháp nghiên cứu 2
6.1 Nhóm phương pháp lý thuyết 2
6.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn 2
6.3 Nhóm phương pháp thống kê toán học 3
7 Đóng góp của đề tài 3
8 Thời gian thực hiện đề tài 3
9 Cấu trúc đề tài 3
NỘI DUNG 4
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VẤN ĐỀ LÀM GIÀU VỐN TỪ CHO HỌC SINH LỚP 2 THÔNG QUA GIỜ TẬP ĐỌC, LUYỆN TỪ VÀ CÂU Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC SỐ 2 BẮC LÝ – TP ĐỒNG HỚI – TỈNH QUẢNG BÌNH ………4
1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 4
1.2 Một số vấn đề lý thuyết liên quan đến đề tài 5
1.2.1 Về đặc điểm phát triển ngôn ngữ của học sinh lớp 2 5
1.2.2 Về tri giác và nhận thức của HS lớp 2 6
1.2.3 Về tư duy và hứng thú của HS lớp 2 6
1.2.4 Vai trò của việc phát triển vốn từ cho học sinh lớp 2 7
1.3 Thực trạng của việc làm giàu vốn từ cho học sinh lớp 2 trường Tiểu học số 2 Bắc Lý - TP Đồng Hới - tỉnh Quảng Bình thông qua giờ Tập đọc, Luyện từ và câu 12
Trang 51.3.1 Một số thông tin về trường Tiểu học số 2 Bắc Lý - TP Đồng Hới - tỉnh
Quảng Bình 12
1.3.2 Nhận xét về việc làm giàu vốn từ cho HS lớp 2 trường Tiểu học số 2 Bắc Lý - TP Đồng Hới - tỉnh Quảng Bình 15
1.3.3 Mục đích và nội dung khảo sát 17
1.3.4 Kết quả khảo sát 19
1.3.4.1 Khảo sát thông qua phân môn Tập đọc 19
1.3.4.2 Khảo sát thông qua phân môn Luyện từ và câu 33
1.3.4.3 Đánh giá chung 37
CHƯƠNG 2 BIỆN PHÁP LÀM GIÀU VỐN TỪ CHO HỌC SINH LỚP 2 THÔNG QUA GIỜ TẬP ĐỌC, LUYỆN TỪ VÀ CÂU Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC SỐ 2 BẮC LÝ – TP ĐỒNG HỚI – TỈNH QUẢNG BÌNH………40
2.1 Biện pháp làm giàu vốn từ cho HS lớp 2 thông qua giờ Tập đọc 40
2.1.1 Hình thành và bồi dưỡng ý thức tự làm giàu vốn từ cho HS 40
2.1.2 Hướng dẫn HS làm việc theo nhóm 44
2.1.3 Xây dựng hệ thống bài tập giải nghĩa từ……… 50
2.2 Biện pháp làm giàu vốn từ cho HS lớp 2 thông qua giờ Luyện từ và câu 53
2.2.1 Xây dựng hệ thống bài tập mở rộng vốn từ theo chủ điểm……… 54
2.2.2 Tổ chức trò chơi học tập làm giàu vốn từ 57
CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 65
3.1 Những vấn đề chung của thực nghiệm 65
3.1.1 Mục đích, yêu cầu của thực nghiệm 65
3.1.2 Đối tượng, địa bàn, thời gian thực nghiệm 66
3.1.3 Nội dung thực nghiệm 67
3.2 Kế hoạch thực nghiệm 67
3.2.1 Trước tác động 67
3.2.2 Sau tác động 68
KẾT LUẬN 107
TÀI LIỆU THAM KHẢO 109
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng của nhân loại Thông qua ngôn ngữ, con người có thể nói lên được tâm tư, suy nghĩ, tình cảm của bản thân, tạo mối quan hệ với những người xung quanh Để làm được những điều này con người phải có vốn ngôn ngữ nhất định, hay nói cách khác họ phải có vốn từ nhất định.Vốn từ đó càng phong phú đa dạng, con người càng thực hiện tốt công việc cũng như quá trình giao tiếp của mình Làm giàu vốn từ rất cần thiết đối với lứa tuổi HS tiểu học, đặc biệt là HS lớp 2 Vì ở lứa tuổi bắt đầu “ học ăn, học nói
”, các em cần được hình thành vốn từ đạt chuẩn để có thể học tập và thực hiện quá trình giao tiếp một cách tốt nhất Ngoài nhiệm vụ giúp HS hình thành vốn từ ngữ, người GV còn có nhiệm vụ giúp các em trau dồi và làm giàu vốn từ Thông qua đó, GV rèn luyện cho các em năng lực tư duy, phương pháp suy nghĩ, giáo dục các em những tư tưởng lành mạnh, trong sáng, góp phần hình thành nhân cách cho HS Dạy mở rộng vốn từ góp phần rèn luyện cho
HS năng lực sử dụng tiếng mẹ đẻ, tạo điều kiện thuận lợi cho các em giao tiếp Trong chương trình Tiếng Việt lớp 2 có các phân môn: Tập đọc, Kể chuyện, Tập viết, Tập làm văn, Chính tả, Luyện từ và câu Để làm giàu vốn từ cho học sinh lớp 2, chương trình Tiếng việt yêu cầu không chỉ dạy học làm giàu vốn từ ở một phân môn chính mà cần phải tích hợp làm giàu vốn
từ trong các phân môn của Tiếng Việt Có thể thấy, vấn đề làm giàu vốn từ cho HS đã được các nhà giáo dục đặc biệt quan tâm, song trên thực tế việc thực hiện vẫn còn gặp phải những khó khăn, hạn chế nhất định Mặt khác, các biện pháp dạy học của GV nhằm làm giàu vốn từ cho HS hiện nay vẫn còn nhiều khoảng trống đáng bàn Xuất phát từ những lí do nêu trên, chúng tôi chọn đề tài “ Biện pháp làm giàu vốn từ cho HS lớp 2 thông qua giờ Tập đọc, Luyện từ và câu ở trường Tiểu học số 2 Bắc Lý - TP Đồng Hới - tỉnh Quảng Bình ”
2 Mục đích nghiên cứu
- Nghiên cứu thực trạng của việc làm giàu vốn từ cho HS lớp 2 thông qua
giờ Tập đọc, Luyện từ và câu ở trường Tiểu học số 2 Bắc Lý - TP Đồng Hới - tỉnh Quảng Bình
- Đề xuất các biện pháp làm giàu vốn từ cho học sinh lớp 2 thông qua giờ Tập đọc, Luyện từ và câu ở trường Tiểu học số 2 Bắc Lý - TP Đồng Hới - tỉnh Quảng Bình.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Biện pháp làm giàu vốn từ cho HS lớp 2 thông qua giờ Tập đọc, Luyện từ
và câu
Trang 73.2 Phạm vi nghiên cứu
- HS lớp 2 trường Tiểu học số 2 Bắc Lý - TP Đồng Hới - tỉnh Quảng Bình
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Với mục đích nghiên cứu trên, đề tài tập trung giải quyết các nhiệm vụ:
- Tìm hiểu cơ sở khoa học của vấn đề làm giàu vốn từ cho học sinh lớp 2 thông qua giờ Tập đọc, Luyện từ và câu ở trường Tiểu học số 2 Bắc Lý - TP Đồng Hới - tỉnh Quảng Bình
- Tìm hiểu thực trạng làm giàu vốn từ cho học sinh lớp 2 thông qua giờ Tập đọc, Luyện từ và câu ở trường Tiểu học số 2 Bắc Lý - TP Đồng Hới - tỉnh Quảng Bình
- Đề xuất các biện pháp làm giàu vốn từ cho học sinh lớp 2 thông qua giờ Tập đọc, Luyện từ và câu và thực nghiệm
5 Giả thuyết khoa học
Nếu GV có biện pháp phù hợp trong quá trình tổ chức dạy Tập đọc, Luyện
từ và câu ở lớp 2 thì có thể góp phần làm giàu vốn từ cho HS
6 Phương pháp nghiên cứu
Thực hiện đề tài này chúng tôi đã sử dụng các nhóm phương pháp nghiên cứu:
6.1 Nhóm phương pháp lý thuyết
Chúng tôi sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa để nghiên cứu lý thuyết các vấn đề về tư duy, khả năng sử dụng ngôn ngữ và vốn từ của HS tiểu học Nghiên cứu về chương trình dạy học môn Tiếng việt và các yếu
tố liên quan đến quá trình thực hiện nó
6.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra nhằm khảo sát thực trạng sử dụng các biện pháp làm giàu vốn từ cho HS lớp 2 thông qua giờ Tập đọc, Luyện từ và câu
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm nhằm đúc rút những kinh nghiệm, những bài học về quá trình dạy học, những kinh nghiệm làm giàu vốn từ cho HS lớp 2 thông qua giờ Tập đọc, Luyện từ và câu
Trang 8- Phương pháp thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm định tính khả thi của các biện pháp đưa ra
6.3 Nhóm phương pháp thống kê toán học
Sử dụng phương pháp thống kê toán học để phân tích kết quả điều tra thực trạng và làm tăng độ tin cậy của các kết quả nghiên cứu về vấn đề biện pháp làm giàu vốn từ cho học sinh lớp 2 thông qua giờ Tập đọc, Luyện từ và câu ở trường Tiểu học số 2 Bắc Lý - TP Đồng Hới - tỉnh Quảng Bình
6 Đóng góp của đề tài
Đề tài đã đề xuất các biện pháp góp phần làm giàu vốn từ cho HS lớp 2 thông qua giờ Tập đọc, Luyện từ và câu ở trường Tiểu học số 2 Bắc Lý - TP Đồng Hới - tỉnh Quảng Bình
7 Thời gian thực hiện đề tài
Thời gian thực hiện đề tài từ tháng 1 năm 2016 đến tháng 5 năm 2016
Chương 2: Biện pháp làm giàu vốn từ cho học sinh lớp 2 thông qua giờ Tập đọc, Luyện từ và câu ở trường Tiểu học số 2 Bắc Lý - TP Đồng Hới - tỉnh Quảng Bình
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 9NỘI DUNG
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VẤN ĐỀ LÀM GIÀU VỐN TỪ CHO HỌC SINH LỚP 2 THÔNG QUA GIỜ TẬP ĐỌC, LUYỆN TỪ VÀ CÂU Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC SỐ 2 BẮC LÝ – TP ĐỒNG HỚI – TỈNH QUẢNG BÌNH
1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Làm giàu vốn từ là một đề tài hấp dẫn cho nhiều nhà nghiên cứu phương pháp dạy học Đặc biệt là việc làm giàu vốn từ qua môn Tiếng Việt ở tiểu học đã được các nhà nghiên cứu quan tâm Năm 1999, hai tác giả Lê Phương Nga và Nguyễn Trí đã có công trình “Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở tiểu học” Cuốn sách trình bày rất nhiều vấn đề trong quá trình dạy học môn Tiếng Việt ở tiểu học Trong đó, vấn đề làm giàu vốn từ đã được các tác giả phân tích rất rõ Tác giả Lê Phương Nga đã bàn đến nội dung “Tìm hiểu vốn từ của học sinh tiểu học” [5 – 143, 148] Công trình của hai tác giả đã giải quyết được hai nhiệm vụ: Làm rõ khả năng hiểu nghĩa từ của HS tiểu học và xác định được khả năng sử dụng từ của các em Tác giả đã đưa ra những con số thống kê cụ thể về thực trạng nắm nghĩa của từ và sử dụng từ của HS Năm 2001, tác giả Lê Phương Nga trong công trình “Dạy học tập đọc ở tiểu học” đã xác định rõ “Đọc giúp các
em chiếm lĩnh được một ngôn ngữ để dùng trong giao tiếp và học tập…” [3 - 21] tác giả cũng đưa ra các cách thức tổ chức dạy học môn Tập đọc cho các lớp học cụ thể ở tiểu học Năm 2002, TS Nguyễn Thị Hạnh đã có công trình nghiên cứu về “Dạy học đọc hiểu ở tiểu học” Với công trình nghiên cứu này, tác giả đã nêu bật được các đặc điểm của bài dạy học đọc hiểu cũng như đưa ra các cách thức, phương pháp, hệ thống bài tập cho bài dạy học đọc hiểu ở tiểu học
Năm 2009, trong tài liệu đào tạo giáo viên tiểu học “Dạy học Luyện từ và câu ở tiểu học”, tác giả Chu Thị Thủy An và Chu Thị Hà Thanh đã phân tích khái quát nhiệm vụ, nội dung, cấu trúc chương trình phân môn Luyện từ và câu
ở tiểu học, đồng thời định hướng cụ thể phương pháp dạy học từng nội dung, từng kiểu bài, trong đó có kiểu bài MRVT góp phần làm giàu vốn từ cho HS Cùng năm 2009, tác giả Trịnh Thị Hương trong công trình “Một số biện pháp làm giàu vốn từ cho học sinh lớp 4” [4] đã đưa ra các biện pháp làm giàu
Trang 10vốn từ cho HS lớp 4 qua các bài MRVT ở phân môn Luyện từ và câu khá chi tiết
và cụ thể Luận án của tác giả Lê Hữu Tỉnh cũng đã trình bày “Hệ thống bài tập rèn luyện năng lực sử dụng từ ngữ cho học sinh tiểu học” [12] Luận án đã đưa
ra một hệ thống bài tập dạy từ cho HS tiểu học, với cái nhìn toàn cục, tổng thể
về diện mạo chung của các bài tập dạy từ ở tiểu học, tác giả đã phân tích về mục đích, ý nghĩa, tác dụng của bài tập, các loại bài tập Hệ thống bài tập cho phép người sử dụng lựa chọn tùy vào điều kiện dạy học cụ thể
Có thể nói, vấn đề làm giàu vốn từ cho HS tiểu học không phải hoàn toàn mới, đã có rất nhiều tài liệu nói về việc dạy từ cũng như làm giàu vốn từ cho HS như phát triển mở rộng, hệ thống hóa vốn từ, nắm nghĩa từ hay khả năng sử dụng vốn từ, … việc xây dựng các phương pháp, biện pháp làm giàu vốn từ cho
HS ở tiểu học qua các phân môn môn Tiếng Việt Tuy nhiên, các tài liệu trên chủ yếu đề cập một cách tổng quát về vấn đề dạy học các phân môn của môn Tiếng Việt ở tiểu học và vấn đề làm giàu vốn từ cho HS phần lớn chỉ mới chú trọng vào một phân môn chính, chưa có tác giả nào nghiên cứu vấn đề cụ thể ở trường Tiểu học số 2 Bắc Lý - TP Đồng Hới - tỉnh Quảng Bình Trên cơ sở tổng
kết kinh nghiệm đã nghiên cứu, chúng tôi chọn đề tài “Biện pháp làm giàu vốn
từ cho HS lớp 2 thông qua giờ Tập đọc, Luyện từ và câu ở trường Tiểu học số 2 Bắc Lý - TP Đồng Hới - tỉnh Quảng Bình”
1.2 Một số vấn đề lý thuyết liên quan đến đề tài
1.2.1 Về đặc điểm phát triển ngôn ngữ của học sinh lớp 2
Ngôn ngữ có vai trò hết sức quan trọng đối với quá trình nhận thức cảm tính và lý tính của trẻ, nhờ có ngôn ngữ mà cảm giác, tri giác, tư duy, tưởng tượng của trẻ phát triển dễ dàng và được biểu hiện cụ thể thông qua ngôn ngữ nói và viết Mặt khác, thông qua khả năng ngôn ngữ của trẻ ta có thể đánh giá được sự phát triển trí tuệ của chúng Hầu hết, học sinh tiểu học có ngôn ngữ nói thành thạo Khi trẻ vào lớp 1, bắt đầu xuất hiện ngôn ngữ viết Đến lứa tuổi lớp
2, học sinh có bước chuyển biến rõ rệt về ngôn ngữ Các em đã nắm được một vốn từ khá phong phú và có khả năng nắm bắt ngôn ngữ (kể cả ngôn ngữ nói và ngôn ngũ viết) nhanh hơn lứa tuổi lớp 1 Tuy vậy, khả năng nắm bắt ngôn ngữ
Trang 11và phán đoán nghĩa từ của các em diễn ra còn chậm hơn lứa tuổi ở lớp trên Đối với HS lớp 2 việc nói lại từng câu, từng chữ dễ dàng hơn dùng lời lẽ của mình
để diễn tả lại một sự kiện, một hiện tượng nào đó Các em đã bước đầu biết lựa chọn từ ngữ thích hợp với mục đích giao tiếp đồng thời dùng các yếu tố phi ngôn ngữ (cử chỉ, điệu bộ, nét mặt) để thể hiện rõ hơn điều cần diễn đạt
1.2.2 Về tri giác và nhận thức của HS lớp 2
Tri giác của HS tiểu học mang tính chất đại thể, ít đi sâu vào chi tiết và mang tính không chủ động, do đó, các em phân biệt các đối tượng chưa chính xác, dễ mắc sai lầm, có khi còn lẫn lộn Ở lớp 2, tri giác của các em thường gắn với hành động, với hoạt động thực tiễn Vì thế, trong quá trình dạy học, giáo viên cần quan tâm đến đặc điểm này để có biện pháp phù hợp giúp làm giàu vốn
từ cho HS một cách hiệu quả nhất
Bên cạnh đó, trong những năm đầu của bậc tiểu học, nhu cầu nhận thức của
HS phát triển rất rõ nét, đặc biệt là nhu cầu tìm hiểu thế giới xung quanh Ở lớp
2, các em có nhu cầu tìm hiểu những sự việc riêng lẻ, riêng biệt khác với nhu cầu gắn liền với sự phát hiện nguyên nhân, quy luật, các mối liên hệ và quan hệ phụ thuộc giữa các hiện tượng ở lớp 3, lớp 4, đặc biệt là lớp 5
1.2.3 Về tư duy và hứng thú của HS lớp 2
Dạy từ ngữ ở tiểu học có nhiệm vụ phát triển năng lực tư duy trừu tượng cho HS nên việc làm giàu vốn từ cho HS phải được tiến hành từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp Thông qua quá trình làm giàu vốn từ, HS nắm được các thao tác và phẩm chất tư duy như: phân tích, tổng hợp, khái quát hóa, trừu tượng hóa… Ở lứa tuổi lớp 2, tư duy của trẻ đã logic hơn và tư duy trực quan hình tượng của trẻ đã khác nhiều ở lứa tuổi trước đó Ở lứa tuổi này, trẻ đã biết phân tích so sánh, khái quát, đây là những năng lực cần thiết để trẻ học tập Chính vì vậy, làm giàu vốn từ cho HS bằng các phương pháp trừu tượng là rất thuận lợi Đối với trẻ em, đặc biệt là HS tiểu học khi làm một việc gì đó mà không hứng thú thì sẽ không tập trung chú ý Ngược lại, khi có hứng thú, thì các em thường hướng toàn bộ quá trình nhận thức của mình vào đó làm cho sự quan sát,
tư duy, suy nghĩ tinh tế hơn, nhớ nhanh và lâu bền hơn Việc làm giàu vốn từ
Trang 12cho HS bao gồm nhiều việc phức tạp không đơn giản, nếu GV không khơi nguồn hứng thú của HS thì giờ học sẽ trở nên khô khan thậm chí là nặng nề với
HS Điều này dẫn đến ý thức, mức tập trung của các em bị hạn chế, các em sẽ không tham gia tích cực, chủ động trong việc làm giàu vốn từ của mình Như vậy, người GV cần nắm bắt được những sự hay đổi tâm sinh lý đó của HS lớp 2
để có phương pháp dạy học tiếng Việt nói chung và dạy học làm giàu vốn từ cho
HS nói riêng phù hợp để kích thích được hứng thú học tập của HS và nâng cao hiệu quả giờ học
Đây cũng là cơ sở quan trọng để chúng tôi đề xuất các biện pháp làm giàu vốn từ cho HS lớp 2
1.2.4 Vai trò của việc phát triển vốn từ cho học sinh lớp 2
Như chúng ta đã biết, vốn từ là khối từ ngữ cụ thể, hoàn chỉnh (có đủ hình thức âm, chữ và nội dung ngữ pháp ) mà mỗi cá nhân tích lũy được trong vốn kí
ức của mình Vốn từ của từng người cụ thể, không ai giống ai Vốn từ nhiều hay
ít, đơn giản hay đa dạng tùy thuộc ở kinh nghiệm sống, ở trình độ học vấn, ở sự giao tiếp giao lưu văn hóa của từng người Mỗi một ngôn ngữ phát triển một số lượng từ vựng hết sức lớn và phong phú, có thể tới hàng chục, hàng vạn, hàng triệu từ Từ vựng của một ngôn ngữ bao gồm nhiều lớp từ, nhiều nhóm từ không đồng nhất và có chất lượng khác nhau Trong vốn từ ngữ của một ngôn ngữ nào
đó cũng đều có từ mới và từ cũ, những từ phổ biến chung, những từ văn hóa ( là những từ chuẩn mực ), những từ chuyên môn, từ vay mượn Vốn từ vựng của một ngôn ngữ và vốn từ của cá nhân sử dụng có quan hệ bao hàm Cụ thể vốn từ của cá nhân được hiểu là bộ phận của vốn từ chung Còn vốn từ của một cá nhân
là toàn bộ các từ và đơn vị tương đương từ tồn tại trong trí óc của cá nhân đó và được cá nhân đó sử dụng trong hoạt động giao tiếp Vốn từ của cá nhân được tích lũy trong đầu óc của con người còn vốn từ của ngôn ngữ theo cách nói của F.de.Saussure được lưu giữ “ trong bộ óc của mỗi tập thể những người cùng một cộng đồng ngôn ngữ ”.[11] Vốn từ được tích lũy trong đầu óc con người không phải là một mớ hỗn tạp mà tổ chức thành hệ thống gồm nhiều đơn vị ngôn ngữ
có nét chung về hình thức hoặc nôị dung khiến con người đứng trước đơn vị nào
Trang 13đó có thể dễ dàng nghĩ đến, liên tưởng đến những đơn vị khác cùng hệ thống Có thể nói, từ ngữ tồn tại trong đầu óc con người như là một hệ thống ( hệ thống lớn bao gồm nhiều hệ thống nhỏ thuộc các tầng bậc, cấp bậc khác nhau ) nhờ đó từ mới được tích lũy nhanh chóng và được sử dụng một cách dễ dàng Số lượng từ của một ngôn ngữ, một dân tộc rất lớn nhưng vốn từng cá nhân thuộc dân tộc đó
có thể không nhiều Vốn từ của từng cá nhân có được tùy thuộc vào sự phát triển trí tuệ nhận thức văn hóa, kinh nghiệm sống cuả mỗi cá nhân đó
Theo nghiên cứu của các nhà tâm lý ngôn ngữ học, người có trình độ học vấn trung bình có vốn từ khoảng 25000 từ Dựa vào tần suất sử dụng từ trong đời sống xã hội, người ta chia vốn từ thành hai loại đó là vốn từ tích cực và vốn
từ thụ động Vốn từ tích cực là những từ sử dụng hàng ngày, những từ có tần suất sử dụng cao, được con người nắm vững và sử dụng trong lời nói, trong giao tiếp một cách thành thạo Còn vốn từ thụ động là những từ ít được sử dụng hay không còn sắc thái mới, chưa được sử dụng rộng rãi Trong quá trình phát triển
và hoàn thiện ngôn ngữ, một số từ mới có nghĩa mới được nảy sinh, bên cạnh đó cũng có một số từ cũ bị đào thải loại bỏ Những từ đó đã lỗi thời dần dần bị gạt
ra khỏi vốn từ tích cực, chúng ít được sử dụng và trở thành vốn từ thụ động Những từ mới xuất hiện thì chưa thể trở thành vốn từ tích cực, phải tích cực hóa các từ đó bằng cách vận dụng vào hoạt động giao tiếp một cách thường xuyên và hiệu quả Một trong những nhiệm vụ chính nhằm nâng cao trình độ văn hóa về mặt ngôn ngữ của con người là nâng cao vốn từ bằng cách làm giàu vốn từ tích cực Vốn từ được hình thành theo hai con đường: con đường tự nhiên, vô thức (qua việc nghe, đọc sách, báo … từ ngữ tự nhiên xâm nhập vào con người) và con đường có ý thức (qua học tập) Làm giàu vốn từ cho HS tiểu học nhằm mục đích hình thành vốn từ cho HS theo con đường có ý thức thông qua các hoạt động học tập môn Tiếng Việt và các môn khác ở tiểu học
Có thể nói, vốn từ của HS là toàn bộ các từ và ngữ cố định (thành ngữ, tục ngữ…) mà HS có được trong quá trình học tập, giao tiếp trong và ngoài nhà trường Trước tuổi đến trường tiểu học các em đã tích lũy được một số vốn từ nhờ giao tiếp trong môi trường gia đình và nhà trường Mầm non Nhưng những
Trang 14từ các em tích lũy được còn lộn xộn, các em chưa hiểu nghĩa từ chính xác và sắp xếp chưa hệ thống nên các em thường bối rối và gặp trở ngại trong việc lựa chon trong việc sử dụng từ Khi đến trường tiểu học, vốn từ của các em dần được bổ sung và được sắp xếp thành hệ thống trật tự nhất định để các em sử dụng dễ dàng Theo tác giả Nguyễn Minh Thuyết (25, tr.123-137), nhiệm vụ chủ yếu của việc dạy từ (làm giàu vốn từ) ở tiểu học là giúp HS:
- Mở rộng, phát triển vốn từ (phong phú hóa vốn từ)
- Nắm nghĩa của từ (chính xác hóa vốn từ)
- Quản lý và phân loại vốn từ (hệ thống hóa vốn từ)
- Luyện tập sử dụng từ (tích cực hóa vốn từ)
Tương ứng với các nhiệm vụ trên, theo ông , SGK Tiếng Việt tiểu học đã thiết kế ba loại bài tập cơ bản sau:
+ Loại bài tập giúp HS mở rộng vốn từ theo chủ điểm
Ví dụ: Ghép các tiếng sau thành những từ có hai tiếng: yêu, thương, quý, mến,
kính
M: yêu mến, quý mến
(Chủ điểm “Cha mẹ”,Tiếng Việt 2, tập 1, tr.99) + Loại bài tập giúp HS nắm nghĩa của từ
Ví dụ: Tìm từ trong ngoặc đơn hợp với mỗi nghĩa sau:
a) Dòng nước chảy tương đối lớn, trên đó thuyền bè đi lại được
b) Dòng nước chảy tự nhiên ở đồi núi
c) Nơi đất trũng chữa nước, tương đối rộng và sâu, ở trong đất liền
(suối, hồ, sông)
(Tiếng Việt 2, tập 2, tr.64) + Loại bài tập giúp HS quản lý, phân loại vốn từ
Ví dụ: Kể tên các loài cây mà em biết theo nhóm:
a) Cây lương thực, thực phẩm M: lúa
b) Cây ăn quả M: cam
c) Cây lấy gỗ: M: xoan
d) Cây bóng mát M: bàng
Trang 15vụ cả các bài học có tên gọi “ Mở rộng vốn từ” Nhiệm vụ làm giàu vốn từ cho
HS tiểu học bao gồm các công việc dạy nghĩa từ, hệ thống hóa vốn từ, tích cực hóa vốn từ Theo tác giả Lê Nga thì dạy nghĩa từ là làm cho HS nắm nghĩa từ bao gồm việc thêm vào vốn từ của HS những từ mới và những nghĩa mới của từ
đã biết, làm cho các em nắm được tính nhiều nghĩa và sự chuyển nghĩa của từ Dạy nghĩa từ phải hình thành những khả năng phát hiện ra những từ mới chưa biết trong văn bản cần tiếp nhận, nắm một số thao tác giải nghĩa từ, phát hiện ra những nghĩa mới của từ đã biết, làm rõ những sắc thái nghĩa khác nhau của từ trong những ngữ cảnh khác nhau Cũng theo các nhà nghiên cứu thì ở Tiểu học, người ta thường sử dụng các biện pháp làm giàu vốn từ sau như: Giải nghĩa bằng trực quan, giải nghĩa bằng ngữ cảnh, giải nghĩa bằng cách đối chiếu, so sánh với từ khác, giải nghĩa bằng cách tìm từ đồng nghĩa, trái nghĩa, giải nghĩa
bằng cách phân tích các từ thành tiếng…
Còn hệ thống hóa vốn từ là dạy HS biết cách sắp xếp các từ một cách có hệ thống trong trí nhớ của mình để tích lũy được nhanh chóng và tạo ra tính thường trực của từ, tạo diều kiện cho các từ đi vào hoạt động lời nói được thuận lợi Công việc này hình thành ở HS kỹ năng đối chiếu từ trong hàng dọc của chúng, đặt từ trong hệ thống kiên tưởng cùng chủ đề, đồng ngĩa, gần nghĩa, trái nghĩa, đồng âm, cùng cấu tạo… tức là kỹ năng liên tưởng để huy động vốn từ Mặt khác, tích cực hóa vốn từ là dạy cho HS sử dụng từ, phát triển kỹ năng sử dụng
Trang 16từ trong lời nói và viết của HS, đưa từ vào trong vốn từ tích cực được HS dùng thường xuyên, tích cực hóa vốn từ tức là dạy HS biết dùng từ ngữ trong hoạt động nói năng của mình Tương ứng với ba công việc trên, theo tác giả các bài tập mở rộng vốn từ trong SGK Tiếng Việt tiểu học có thể chia thành 3 nhóm: Nhóm 1: Bài tập dạy nghĩa từ
Nhóm 2: Bài tập hệ thống hóa vốn từ
Nhóm 3: Bài tập sử dụng từ
Như vậy, tác giả Lê Phương Nga đã không xếp loại bài tập mở rộng vốn từ thành một nhóm bài tập riêng như quan điểm của tác giả Nguyễn Minh Thuyết,
tác giả đã đưa loại bài tập này vào trong nhóm bài tập hệ thống hóa vốn từ Mặc
dù diễn đạt bằng nhiều cách khác nhau nhưng chúng ta có thể hiểu nhiệm vụ chủ yếu của làm giàu vốn từ cho HS thông qua các công việc cụ thể sau:
+ Chính xác hóa vốn từ (dạy nghĩa từ): Là giúp HS có thêm những từ mới,
những nghĩa mới của từ đã học, thấy được tính nhiều nghĩa và sự chuyển nghĩa của từ
+ Hệ thống hóa vốn từ (trật tự hóa vốn từ): Là giúp HS sắp xếp các từ
thành một trật tự nhất định trong trí nhớ của mình để có thể ghi nhớ từ nhanh, nhiều và tạo tính thường trực của từ
+ Tích cực hóa vốn từ (luyện tập sử dụng từ): Là giúp HS biến những từ
ngữ tích cực (những từ ngữ hiểu nghĩa nhưng không sử dụng khi nói, viết) thành
từ ngữ tích cực, được sử dụng thường xuyên trong giao tiếp hàng ngày
Làm giàu vốn từ là nhiệm vụ của các bài học có tên gọi “Mở rộng vốn từ”.Vì vậy, trong kiểu bài “Mở rộng vốn từ” sẽ gồm các bài tập sau:
+ Bài tập giải nghĩa từ (còn gọi là bài tập chính xác hóa vốn từ) có mục
đích cung cấp cho HS các từ mới hoặc những nghĩa mới của từ đã học
+ Bài tập hệ thống hóa vốn từ (còn gọi là bài tập mở rộng vốn từ và phân loại, quản lý vốn từ) có mục đích giúp HS dựa vào một hình thức liên tưởng nào
đó, sắp xếp vốn từ trong trí nhớ của mình một cách trật tự để nhớ nhanh, nhiều
và sử dụng một cách dễ dàng Bài tập sử dụng từ (còn gọi là bài tập tích cực hóa
Trang 17vốn từ) làm giàu vốn từ cho HS bằng cách hướng dẫn các em sử dụng từ vào điền từ, tạo cụm từ, đăt câu, viết đoạn văn
1.3 Thực trạng của việc làm giàu vốn từ cho học sinh lớp 2 trường Tiểu học
số 2 Bắc Lý - TP Đồng Hới - tỉnh Quảng Bình thông qua giờ Tập đọc, Luyện từ và câu
1.3.1 Một số thông tin về trường Tiểu học số 2 Bắc Lý - TP Đồng Hới - tỉnh Quảng Bình
Trường Tiểu học số 2 Bắc Lý - TP Đồng Hới - tỉnh Quảng Bình là ngôi trường nằm trên địa bàn phường Bắc Lý – TP Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình Cụ thể: Tổng số CBGV, NV: 35 đồng chí Biên chế: 31 đồng chí Hợp đồng: 4 đồng chí Trình độ ĐH: 28 đồng chí; CĐ: 5 đồng chí; TC: 2 đồng chí (y tế và kế toán), đạt chuẩn cả 100% Đội ngũ đáp ứng với yêu cầu giáo dục hiện nay Trình
độ chuyên môn: 100% GV qua dự giờ đều đạt loại khá và tốt, không có GV yếu kém về năng lực Tổng số học sinh trong toàn trường là 563 em Khối 1: 136 em/4 lớp (bình quân 34 em/lớp) Khối 2: 140 em/4 lớp (bình quân 35 em/lớp) Khối 3: 113 em/4 lớp (bình quân 28 em/lớp) Khối 4: 91 em/3 lớp (bình quân 30 em/lớp) Khối 5: 83 em/3 lớp (bình quân 27 em/lớp) Tăng so với năm trước là
43 em Học sinh đa số ngoan, chăm học Một số em có hoàn cảnh gia đình khó khăn như: hộ nghèo và cận nghèo (10 em), nhiều em bố mẹ ly hôn ở với ông bà (21 em), phần đa là bố mẹ không có việc làm ổn định ảnh hưởng tới việc phối hợp để giáo dục Giáo viên được phổ biến, học tập nhiệm vụ năm học và các văn bản chỉ đạo của ngành và các cấp Các tổ chuyên môn, các cá nhân xây dựng kế hoạch hoạt động phù hợp với đặc điểm của lớp, tổ và của nhà trường ngay từ đầu năm học Thực hiện các cuộc vận động và phong trào thi đua từ đầu năm đến nay nhà trường đã thực hiện được: Phối hợp với các ban ngành đoàn thể trong và ngoài nhà trường và ban đại diện hội cha mẹ học sinh để thực hiện có hiệu quả các cuộc vận động và các phong trào thi đua Thực hiện một cách có sáng tạo, thiết thực, hiệu quả việc “Học tập và Làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” Cuộc vận động “Mỗi thầy giáo, cô giáo là một tấm gương về đạo đức, tự học và sáng tạo” Thực hiện phong trào “xây dựng trường học thân thiên,
Trang 18học sinh tích cực” Thực hiện các cuộc vận động thành nề nếp thường xuyên trong nhà trường, trong mỗi công việc và mỗi hoạt động Tiếp tục hoàn thành
mô hình lớp học thân thiện, phù hợp với tâm lý học sinh Với tinh thần phát huy thành quả của năm học trước, năm nay nhà trường chỉ đạo bổ sung thêm những chi tiết phù hợp nhưng đơn giản và có thể dùng được cho năm sau, đảm bảo tiết kiệm, hiệu quả Phát huy mô hình “Thư viện thân thiện”, phong trào “Giỏ sách lưu động” Nhà trường đã triển khai từ đầu năm đến nay và đang từng bước hoàn thiện dần Giáo dục đạo đức, kỹ năng sống cho học sinh thông qua các môn học, các hoạt động giáo dục và xây dựng quy tắc ứng xử văn hóa trong nhà trường Phối hợp với gia đình và cộng đồng trong giáo dục đạo đức và kỹ năng sống, đưa chương trình giáo dục địa phương lồng ghép vào các môn học Hoàn thiện quy hoạch khuôn viên trường, tôn tạo và chăm sóc bồn hoa, tạo phong cảnh xanh – sạch – đẹp Tổ chức các hoạt động vui chơi giải trí, hoạt động văn hóa thể thao, các hoạt động ngoài giờ lên lớp Chú trọng và tăng cường nếp sống văn hóa, văn minh đô thị, văn hóa truyền thống, kỹ năng sống Đẩy mạnh việc giáo dục an toàn giao thông, tai nạn thương tích, đuối nước Thực hiện nghiêm túc chương trình kế hoạch của ban chỉ đạo về: “Xây dựng trường học an toàn về
an ninh trật từ, xây dựng nhà trường thực sự trong sạch, yên bình, không tội phạm” Công tác huy động số lượng và phổ cập giáo dục được chú trọng, huy động trẻ trong độ tuổi trên địa bàn vào lớp 1 đạt 100% (134/134 em) Vận động trẻ 6 – 14 tuổi đến lớp Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện đổi mới phương pháp dạy học Đẩy mạnh việc đổi mới phương pháp và hình thức tổ chức dạy học theo mô hình trường học mới (VNEN) Sắp xếp, trang trí các phòng hoc đảm bảo khoa học, thân thiện tạo điều kiện cho việc tổ chức đổi mới PPDH đạt hiệu quả cao Nhà trường đã tổ chức các chuyên đề: Dạy học theo mô hình trường học mới (VNEN) chuyên đề về dạy học theo nhóm Bồi dưỡng học sinh giỏi toán Lớp 4, 5 Đánh giá học sinh theo thông tư 30 Khi có thông tư 30, nhà trường đã phổ biến đến từng giáo viên Họp phụ huynh các lớp đầu năm và hội nghị phụ huynh đầu năm nhà trường đã phổ biến một số nội dung trong thông tư
30 cho phụ huynh nắm để phối hợp thực hiện, đồng thời tham mưu với địa
Trang 19phương để kịp thời phổ biến đến nhân dân địa bàn phường phối hợp thực hiện Nâng cao chất lượng sinh hoạt tổ chuyên môn, bồi dưỡng giáo viên, tăng cường đổi mới sinh hoạt tổ khối chuyên môn theo quy định 2 tuần/lần; quán triệt các nội dung về đổi mới phương pháp dạy…trao đổi về nội dung bài tập theo từng đối tượng học sinh và các giải pháp để nâng cao việc dạy học theo nhóm lớp, vai trò của nhóm trong các giờ học nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện trong nhà trường Tham mưu xây dựng quỹ khuyến học trường để động viên giáo viên và học sinh có thành tích cao trong các mặt
Về giáo dục thể chất, thẩm mỹ: nhà trường đã tổ chức các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp trong năm như: “Vầng trăng tuổi thơ” nhân dịp trung thu;
“Hát về thầy cô, mái trường” kỷ niệm ngày nhà giáo Việt Nam 20 – 11; Chúng
em chăm sóc “Công trình măng non”; “Tuyên truyền phòng chống tai nạn bom mìn, đuối nước”…Một số trò chơi khám phá thế giới xung quanh em với hình thức “Rung chuông vàng” Tổ chức các hoạt động trong nhà trường, công tác Đội TNTP Hồ Chí Minh, Liên đội luôn sát chủ đề Chủ điểm, nhiệm vụ năm học
để triển khai các hoạt động một cách hiệu quả Tiếp tục duy trì nề nếp sinh hoạt đôin TNTP Hồ Chí Minh, đảm bảo 100% học sinh được uống nước sạch Đội ngũ nhân viên bếp ăn bám trú được tập huấn vệ sinh ATTP và kiểm tra sức khỏe định kỳ Duy trì mẫu thức ăn hàng ngày của nhà bếp, có tủ lưu trữ mẫu thức ăn Trường có 150 em bán trú so với năm trước tăng 60 em Đảm bảo công tác vệ sinh, an toàn thực phẩm cho học sinh bán trú; hợp đồng với cơ sở cung cấp thực phẩm sạch, kiểm tra vệ sinh bếp ăn, có sổ theo dõi khẩu phần ăn của học sinh hàng ngày
Về công tác quản lý: Phân công trách nhiệm trong quản lý để điều hành công việc khoa học, hiệu quả Khuyến khích sự cố gắng của mỗi GV, sử dụng,
bố trí phù hợp năng lực sở trường của giáo viên để các đồng chí phát huy tốt năng lực của mình Tập trung chỉ đạo và dạy học trọng tâm là giữ vững và phát huy tốt chất lượng giáo dục đại trà, chất lượng HSNK Tham mưu với các cấp chính quyền để giữ vững trường đạt chuẩn quốc gia mức độ 1 Từng bước xây dựng trường chuẩn quốc gia mức độ 2 Thực hiện tốt công tác kiểm tra nội bộ
Trang 20trường học, thực hiện đúng các yêu cầu quy trình 3 công khai và 4 kiểm tra, quy trình dạy thêm, học thêm Về công tác tự kiểm tra, đánh giá chất lượng, giám sát
và kiểm tra nội bộ trường học: Thực hiện tốt công tác thanh tra, kiểm tra nội bộ trường học, nhất là kiểm tra chuyên môn và quản lý chất lượng dạy học, tăng cường trật tự, kỉ cương, nề nếp trong nhà trường Kiểm tra giờ dạy của giáo viên đến thời điểm này đã đạt 28/30 đồng chí, có 2 đồng chí ốm dài ngày chưa kiểm tra Tổng số tiết kiểm tra: 66 tiết, trong đó tốt: 44 tiết – 66,7%; khá: 22 tiết – 33,3% Kiểm tra toàn diện 24 đồng chí, trong đó xuất sắc: 13 đồng chí, khá: 11 đồng chí Kiểm tra chuyên đề giáo viên đạt 100% Thành lập ban kiểm tra nội bôj trường học là những đồng chí cán bộ giáo viên có năng lực, trình độ, có kinh nghiệm Xây dựng và thực hiện nghiêm túc kế hoạch kiểm tra nội bộ trường học Tạo điều kiện thuận lợi cho ban thanh tra ND trong trường học hoạt động có hiệu quả trong việc giám sát Công đoàn nhà trường, UBKTCĐ thực hiện đúng chức năng nhiệm vụ của mình theo quy định Kiểm tra nghiêm túc hoạt động sư phạm của giáo viên với các nội dung: Phẩm chất chính trị, kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao, tính trung thực trong công tác, sự tín nhiệm của đồng nghiệp, thái độ giáo dục học sinh, giao tiếp với phụ huynh, việc thực hiện quy chế chuyên môn, nội quy nhà trường Tiếp tục hoàn thành tự đánh giá cơ sở giáo dục trong năm học Hoàn thành kiểm định chất lượng, phấn đấu đủ điều kiện tham gia đánh giá ngoài trong năm học tới Như vậy, trường đã có những sự cố gắng rất lớn trong việc tu sửa trường học, nâng cao trình độ chuyên môn của giáo viên trong trường, nhằm tạo môi trường học tập tốt nhất cho học sinh
1.3.2 Nhận xét về việc làm giàu vốn từ cho HS lớp 2 trường Tiểu học số 2 Bắc Lý - TP Đồng Hới - tỉnh Quảng Bình
Qua tìm hiểu tôi thấy việc làm giàu vốn từ cho HS lớp 2 thông qua giờ Tập đọc, Luyện từ và câu, Tập làm văn ở trường Tiểu học số 1 Bắc Lý có một số thuận lợi và khó khăn sau:
* Về thuận lợi
Nhà trường luôn quan tâm đến chất lượng dạy học, chỉ đạo chuyên môn luôn sát với thực tiễn, luôn đẩy mạnh việc dạy và học ứng dụng phương pháp
Trang 21dạy học tích cực theo mô hình mới Điều này góp phần làm giàu vốn từ, kích thích học tập môn học Tiếng việt cho HS, giúp HS biết giữ gìn và phát huy “thứ của cải vô cùng qúy giá của dân tộc” Đội ngũ GV luôn có ý thức trong việc nâng cao chất lượng dạy học Đa số GV đã nghiên cứu và chuẩn bị bài soạn chu đáo trước khi đến lớp, nắm được các bước tổ chức một trò chơi hay một tiết học GV đã xác định được vai trò của việc làm giàu vốn từ trong học tập, trong các phân môn Tập đọc, Luyện từ và câu, biết vận dụng các phương pháp vào từng thời điểm thích hợp trong quá trình dạy Phần lớn GV đã xác định vai trò của mình là người giúp đỡ hướng dẫn làm giàu vốn từ, còn HS mới là đối tượng giữ vai trò chủ động trong quá trình làm giàu vốn từ Đặc biệt, các GV luôn nhận được sự quan tâm, giúp đỡ của Ban giám hiệu nhà trường, hằng năm được tham gia vào các lớp tập huấn để bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ của mình Nhà trường nắm bắt nhanh nhạy các thông tư, hướng đổi mới dạy học để từ đó
GV xây dựng được kế hoạch phù hợp cho việc dạy học đảm bảo hiệu quả Lực lượng GV của trường đa số còn trẻ, nhiệt tình, có tinh thần học hỏi Hầu hết đã
có trình độ Cử nhân giáo dục Tiểu học Cơ sở vật chất nhà trường về cơ bản đáp ứng được yêu cầu thực hiện nhiệm vụ giảng dạy và giáo dục HS
- Đối với giáo viên dạy lớp 2: Đa số GV đã dạy khối lớp 2 nhiều năm nên
nắm khá tốt quan điểm chỉ đạo dạy học theo chưong trình và sách giáo khoa mới, ít nhiều đã có kinh nghiệm dạy các môn học lớp 2 Hơn nữa, phần lớn GV nắm khá tốt phương pháp, biện pháp, quy trình giảng dạy phân môn Tập đọc, Luyện từ và câu lớp 2
- Về học sinh: Các em đã được làm quen với các phương pháp dạy học mới
từ lớp 1 nên có nhiều thuận lợi khi học các phân môn Tiếng việt ở lớp 2
* Những khó khăn
- Về phía nhà trường: Sự chỉ đạo chuyên môn của Ban giám hiệu nhà
trường có khi chưa chặt chẽ, sâu sát Từ đó dẫn đến tình trạng GV còn lúng túng khi vận dụng quy trình và các biện pháp dạy học trong quá trình giảng dạy (do chưa có sự thống nhất) Nhà trường chưa tổ chức được việc dạy học ngoài giờ,
Trang 22tiến hành các buổi học ngoại khóa, đây cũng là một cản trở cho mục tiêu nâng cao chất lượng dạy học
- Về phía giáo viên: Một số GV gặp lúng túng khi thực hiện quy trình
giảng dạy, bám máy móc vào sách GV, hầu như rất ít sáng tạo, chưa tạo ra các tình huống giao tiếp sinh động để cuốn hút HS GV chỉ biết thực hiện đầy đủ các bước, các hoạt động theo quy trình đã được hướng dẫn nhưng không xác định được tại sao phải thực hiện hoạt động đó với biện pháp đó, ít chú ý đến quá trình và hiệu quả tổ chức từng hoạt động Việc đổi mới phương pháp dạy học đôi khi còn mang tính hình thức Mặt khác, vốn từ ngữ của bản thân GV chưa phong phú, chưa đáp ứng được yêu cầu hướng dẫn HS mở rộng vốn từ, phát triển vốn từ Việc nắm nghĩa của từ của nhiều GV chưa tốt Đa số GV còn lúng túng khi miêu tả, giải thích nghĩa của từ Có trường hợp GV không xác định được chính xác các từ ngữ mà HS nêu ra có thuộc chủ điểm hay không Khi giải nghĩa từ, GV sử dụng phần nhiều biện pháp mô tả, diễn giải từ đó không kích thích HS suy nghĩ, hạn chế rèn kỹ năng nói cho các em Đặc biệt, GV chưa xác định được vốn từ của HS mình dạy, từ đó có trường hợp GV say sưa cung cấp, giải nghĩa những từ mà thực sự HS lớp 2 đã biết qua (qua học tập ở lớp trước, qua kinh nghiệm), cũng chưa biết cách thiết kế lại nội dung bài tập sao cho phù hợp với đặc điểm nhận thức của HS, nhằm giúp các em tự mình hoàn thành bài tập Thiết bị dạy học phục vụ cho các giờ dạy còn ít và không đồng bộ GV cũng ít chịu khó đầu tư làm đồ dùng dạy học Việc sử dụng đồ dùng dạy học (nếu có) trong giờ dạy cũng chưa hợp lý, không rõ ràng về mục đích sử dụng
- Về phía học sinh: Do cách dạy của 1 số GV nên HS ngại học giờ Tập đọc,
Luyện từ và câu nói chung, nội dung mở rộng vốn từ nói riêng Do ảnh hưởng của môi trường gia đình vã xã hội, các em sống, sinh hoạt, giao tiếp trong nhiều vùng, cộng đồng khác nhau nên việc bổ sung vốn từ, trau dồi kỹ năng dùng từ còn nhiều hạn chế
1.3.3 Mục đích và nội dung khảo sát
* Mục đích khảo sát
Trang 23- Khảo sát nhận thức của GV về nhiệm vụ làm giàu vốn từ cho HS trong các bài dạy Tập đọc, Luyện từ và câu
- Khảo sát nội dung và các phương pháp dạy học mà GV thường sử dụng trong giờ Tập đọc, Luyện từ và câu
- Khảo sát những khó khăn mà GV thường gặp phải khi làm giàu vốn từ cho HS
- Khảo sát mức độ sử dụng vốn từ của HS thông qua các bài tập MRVT
- Khảo sát những đề xuất của GV để nâng cao chất lượng làm giàu vốn từ cho HS lớp 2
* Nội dung khảo sát
- SGK Tiếng Việt lớp 2 ( phân môn Tập đọc, Luyện từ và câu )
- Việc áp dụng các TBDH trong giờ Tập đọc, Luyện từ và câu để mở rộng vốn từ cho HS
- Vốn từ ngữ của HS, các PPDH của GV để làm giàu vốn từ
Trong quá trình khảo sát, chúng tôi sử dụng các phương pháp khảo sát sau:
- Phương pháp điều tra:
+ Điều tra bằng Anket: Dùng phiếu thăm dò, thu thập ý kiến của một số GV
và HS theo các chỉ tiêu đã được xác định
+ Thống kê toán học: Sau khi điều tra khảo sát tôi dùng phương pháp này
để tổng hợp kết quả điều tra làm cơ sở cho việc phân tích kết quả
- Phương pháp quan sát: Tiến hành dự giờ, quan sát quá trình giờ dạy trên lớp của GV và quá trình học tập của HS
- Phỏng vấn, tọa đàm: Tiến hành đối với các GV và HS lớp 2 nhằm thu thập những thông tin, dữ liệu bổ sung cho việc khẳng định các biện pháp mình đã đề xuất
* Đối tượng khảo sát
Chúng tôi tiến hành khảo sát đối với 80 HS được chọn ngẫu nhiên từ 140
em HS ở khối lớp 2 và 5 GV khối lớp 2 của trường Tiểu học số 2 Bắc Lý - TP Đồng Hới - tỉnh Quảng Bình
Trang 241.3.4 Kết quả khảo sát
Địa bàn khảo sát có 18 lớp với tổng số HS là 563 em, 100% đi học đúng độ tuổi Khối lớp 2 gồm 5 lớp với 140 em Nghiên cứu thực trạng HS lớp 2 hiện nay có vốn từ ngữ ra sao trong học tập, giao tiếp hàng ngày cũng như sự bày tỏ quan điểm nhận thức của bản thân trước những vấn đề mà HS phải sử dụng từ phù hợp qua những lời nói, theo nội dung bài học và sự giao tiếp với mọi người xung quanh ở trường, ở lớp Qua phân tích, tổng hợp tôi khảo sát cụ thể trong 2 phân môn như sau:
1.3.4.1 Khảo sát thông qua phân môn Tập đọc
a) Chương trình Tập đọc, Luyện từ và câu ở lớp 2
Bảng 1: Nội dung học phân môn Tập đọc chương trình SGK Tiếng Việt lớp 2 cũ
STT Nội dung học phân môn Tập đọc Trang – Tập
1 Có công mài sắt, có ngày nên kim Trang 4 - Tập 1
8 Danh sách học sinh tổ 1, lớp 2A Trang 25 - Tập 1
Trang 2518 Mua kính Trang 53 - Tập 1
Trang 2647 Gà “tỉ tê” với gà Trang 140 - Tập 1
54 Chim sơn ca và bông cúc trắng Trang 23 – Tập 2
55 Thông báo của thư viện vườn chim Trang 26 – Tập 2
57 Một trí khôn hơn trăm trí khôn Trang 31- Tập 2
Trang 2776 Cây đa quê hương Trang 93 - Tập 2
83 Bảo vệ như thế là rất tốt Trang 113 - tập 2
Bảng 2: Nội dung học phân môn Luyện từ và câu chương trình SGK
Tiếng Việt lớp 2 cũ
STT Nội dung học phân môn Luyện từ và câu Trang – Tập
2 Mở rộng vốn từ: từ ngữ về học tập
3 Từ chỉ sự vật Câu kiểu Ai là gì? Trang 26 - Tập 1
4 Từ chỉ sự vật
Mở rộng vốn từ: ngày, tháng, năm Trang 34 - Tập 1
5 Tên riêng và cách viết tên riêng Trang 44 - Tập 1
Trang 2810 Mở rộng vốn từ: từ ngữ về đồ dùng và công việc gia
11 Mở rộng vốn từ: từ ngữ về tình cảm
12 Mở rộng vốn từ: từ ngữ về công việc gia đình
13 Mở rộng vốn từ: từ ngữ về tình cảm gia đình
14 Từ chỉ đặc điểm Câu kiểu Ai thế nào? Trang 122 - tập 1
Đặt và trả lời câu hỏi Khi nào?
Dấu chấm, dấu chấm than
Trang 18 - Tập 2
19 Mở rộng vốn từ: từ ngữ về chim chóc Trang 27 - Tập 2
Trang 29Đặt và trả lời câu hỏi Ở đâu?
Đặt và trả lời câu hỏi Để làm gì?
Dấu chấm, dấu phẩy
29 Từ trái nghĩa Dấu chấm, dấu phẩy Trang 120 – Tập 2
30 Mở rộng vốn từ: từ ngữ chỉ nghề nghiệp
31 Mở rộng vốn từ: từ ngữ chỉ nghề nghiệp Trang 137 – Tập 2 Chương trình và sách giáo khoa tiếng Việt 2 phân môn Tập đọc, Luyện từ
và câu cũ có sự cụ thể, chi tiết Số lượng chủ điểm nhiều hơn với những tên gọi rất phong phú và hấp dẫn, lôi cuốn sự chú ý của HS Các chủ điểm được sắp xếp khá hợp lý và có nội dung phù hợp với trình độ nhận thức của các em Đối với lớp 2, chủ điểm học thường xoay quanh những lĩnh vực rất gần gũi với HS như: Gia đình, Thiên nhiên, Xã hội với nội dung ngắn gọn, dễ nhớ, rất thuận lợi cho việc rèn kĩ năng giao tiếp, kĩ năng nói cho HS lớp 2 Hiện nay, nhiều trường trên
Trang 30cả nước đã đưa bộ sách Vnen vào áp dụng phương pháp dạy học mới Với bộ sách này bao gồm 15 đơn vị học, mỗi đơn vị gắn 1 chủ điểm, học trong 2 tuần Chương trình Tiếng Việt lớp 2 gồm 35 tuần lễ Mỗi tuần học 9 tiết Được chia làm 4 tập: Sách TLHDH Tiếng Việt lớp 2 tập 1A Sách TLHDH Tiếng Việt lớp
2 tập 2A Sách TLHDH Tiếng Việt lớp 2 tập 1B Sách TLHDH Tiếng Việt lớp 2 tập 2B Và nội dung học 2 phân môn Tập đọc, Luyện từ và câu được cụ thể như sau:
Bảng 3: Nội dung học phân môn Tập đọc chương trình SGK
Tiếng Việt mới (TLHDH lớp 2)
STT Nội dung học phân môn Tập đọc Trang – Tập
1 Có công mài sắt, có ngày nên k Trang 4 – Tâp 1A
Trang 3121 Câu chuyện bó đũa Trang 57 - Tập 1B
31 Chim sơn ca và bông hoa cúc trắng Trang 33 - Tập 2A
33 Một trí khôn hơn trăm trí khôn Trang 48 - Tập 2A
Trang 3251 Chuyện quả bầu Trang 57- Tập 2B
Bảng 4: Nội dung học phân môn Luyện từ và câu chương trình SGK
Tiếng Việt mới (TLHDH, lớp 2)
STT Nội dung học phân môn Luyện từ và câu Trang – Tập
2 Thuộc bảng chữ cái (a → e) Hiểu thế nào là câu Trang 11 - Tập 1A
3 Thuộc bảng chữ cái (g → ơ) Trang 13 - Tập 1A
5 Nói và đáp lời chào Kể tên những môn học ở lớp 2 Trang 23 - Tập 1A
7 Nhận biết từ chỉ sự vật Đặt câu theo mẫu Ai là gì? Trang 36- Tập 1A
9 Mở rộng vốn từ thuộc chủ điểm: ngày, tháng, năm Trang 49 -Tập 1A
10 Biết nói lời cảm ơn, xin lỗi phù hợp với tình huống Trang 55 - Tập 1A
11 Nhận biết được tên riêng và cách viết hoa tên người,
12 Nhận biết các từ chỉ đồ vật và tác dụng của đồ vật Trang 76 - Tập 1A
13 Nhận biết mẫu câu Ai là gì?; Đặt câu hỏi cho bộ phận
14 Nhận biết các từ chỉ hoạt động Trang 91 - Tập 1A
15 Nhận biết các từ chỉ hoạt động Biết dùng dấu phẩy
16 Nói lời mời, nhờ, yêu cầu, đề nghị phù hợp Trang109- Tập 1A
17 Nói lời cảm ơn, xin lỗi lịch sự Trang118- Tập 1A
Trang 3318 Viết đúng câu hỏi Mở rộng vốn từ về ông bà Trang 5 - Tập 1B
19 Mở rộng vốn từ ngữ về họ hàng Trang 11 - Tập 1B
20 Mở rộng vốn từ về đồ dùng trong gia đình Trang 18 -Tập 1B
21 Mở rộng vốn từ về công việc trong nhà Trang 22 - Tập 1B
23 Mở rộng vốn từ về tình cảm gia đình Trang 33 - Tập 1B
24 Mở rộng vốn từ về gia đình Trang 37 - Tập 1B
25 Nhận biết về dùng câu kiểu Ai làm gì? Trang 46 - Tập 1B
26 Mở rộng vốn từ: công việc của cha mẹ ở nhà
Luyện dùng câu theo mẫu Ai làm gì? Trang 51 - Tập 1B
27 Đặt câu theo mẫu Ai là gì? Trang 60 - Tập 1B
28 Mở rộng vốn từ về tình cảm anh em Trang 62 - Tập 1B
29 Mở rộng vốn từ chỉ đặc điểm Trang 73 - Tập 1B
30 Nghe _ nói về tên gọi và đặc điểm của các con vật
31 Luyện tập dùng từ trái nghĩa Trang 91 - Tập 1B
32 Luyện nói theo cách so sánh Trang103 - Tập 1B
33 Mở rộng vốn từ về con vật Trang 108 - tập 1B
34 Nói lời nhờ hoặc yêu cầu, đề nghị và lời đáp lại lịch
35 Mở rộng vốn từ về mùa và các tháng trong năm Trang 7 -Tập 2A
36 Biết trả lời câu hỏi Khi nào? Trang 10 -Tập 2A
37 Nói lời đáp trong một vài tình huống đối thoại Trang 15 - Tập 2A
38 Mở rộng vốn từ về thời tiết của từng mùa Trang 21 - Tập 2A
39 Mở rộng vốn từ về bốn mùa trong năm Trang 30 - Tập 2A
40 Đặt và trả lời câu hỏi có cụm từ ở đâu? Trang 35 - Tập 2A
41 Mở rộng vốn từ về loài chim Trang 40 - Tập 2A
42 Luyện tập dùng dấu phẩy, dấu chấm Trang 51 -Tập 2A
43 Mở rộng vốn từ về loài chim Trang 65 - Tập 2A
Trang 3444 Mở rộng vốn từ ngữ về các loài thú Trang 77 - Tập 2A
45 Nói đặc điểm của một số con vật theo cách nói so
46 Mở rộng vốn từ về loài thú Trang 92 - Tập 2A
47 Mở rộng vốn từ ngữ về sông biển Trang 97 - Tập 2A
48 Hỏi _ đáp với câu hỏi Vì sao? Trang 102- Tập 2A
51 Biết đáp lại lời đồng ý trong một số tình huống giao
52 Đáp lời cảm ơn trong một số tình huống Trang 122- Tập 2A
53 Mở rộng vốn từ về bốn mùa Trang 6 - Tập 2B
55 Mở rộng vốn từ ngữ về cây cối Trang 11 - Tập 2B
56 Hỏi và trả lời câu hỏi Để làm gì? Trang 16 - Tập 2B
58 Đặt và trả lời câu hỏi với cụm từ Để làm gì? Trang 28 - Tập 2B
59 Mở rộng vốn từ về các bộ phận của cây Trang 34 - Tập 2B
60 Mở rộng vốn từ ngữ về Bác Hồ Trang 46 - Tập 2B
61 Mở rộng vốn từ thuộc chủ điểm Bác Hồ Trang 51 – Tập 2B
62 Mở rộng vốn từ thuộc chủ điểm Bác Hồ Trang 65 - Tập 2B
63 Nhận biết các cặp từ trái nghĩa Trang 72 - Tập 2B
64 Mở rộng vốn từ về lòng yêu nước Trang 75 - Tập 2B
65 Mở rộng vốn từ về nghề nghiệp Trang 80 - Tập 2B
67 Mở rộng vốn từ về nghề nghiệp Trang 90 - Tập 2B
68 Luyện tập về từ trái nghĩa Trang 94 - Tập 2B
70 Đặt và trả lời câu hỏi Khi nào? Vì sao? Trang112 - Tập 2B
Trang 35b) Thực trạng nhận thức của GV về nhiệm vụ và nội dung làm giàu vốn
từ cho HS lớp 2 qua giờ Tập đọc
* Đối với giáo viên
Dựa vào mục đích khảo sát thực trạng nhận thức và dạy học làm giàu vốn
từ cho HS của GV, chúng tôi đã thiết kế các phiếu điều tra, đề nghị GV thực hiện và thu lại kết quả sau
Bảng 5: Thực trạng nhận thức của GV về nhiệm vụ và nội dung làm giàu vốn từ
(LGVT) cho HS lớp 2 qua giờ Tập đọc
Mở rộng vốn từ, dạy nghĩa từ, luyện tập sử dụng từ
5 100
Dạy nghĩa từ, trật tự hóa vốn
Bài tập trong SGK và bài tập
HS thắc mắc
Những từ trong SGK, SGV yêu cầu
Qua phân tích kết quả khảo sát trên chúng tôi thấy:
- Đa số GV nhận thức được tầm quan trọng của việc làm giàu vồn từ cho
HS tiểu học nói chung và của HS lớp 2 nói riêng (chiếm 80%)
- Đa số các GV nhận thức về các nhiệm vụ làm giàu vốn từ cho HS của GV chưa đầy đủ, làm giàu vốn từ ở tiểu học có 3 nhiệm vụ: dạy nghĩa từ, trật tự hóa
Trang 36vốn từ (bao gồm: MRVT, phân loại quản lí vốn từ và luyện tập sử dụng từ) 100% GV cho rằng làm giàu vốn từ bao gồm: MRVT, dạy nghĩa từ, sử dụng từ
- Đa số GV chỉ sử dụng bài tập trong SGK( chiếm 60%) ít thiết kế thêm hệ thống bài tập để làm giàu vốn từ cho HS
- Đa số GV chỉ làm giàu vốn từ cho HS theo yêu cầu của SGK và những từ
HS thắc mắc (chiếm 60%) chưa chuẩn bị thêm các từ cần giải nghĩa bổ sung thêm trong giờ học để làm giàu vốn từ cho HS
- Đa số GV thấy hứng thú học tập của học sinh trong khi học các bài MRVT chưa cao (chiếm 40%)
c Thực trạng sử dụng các phương pháp dạy học trong giờ Tập đọc
Bảng 6 Các phương pháp dạy từ ngữ GV thường sử dụng trong giờ Tập đọc
- Chỉ 20% GV sử dụng thường xuyên phương pháp trực quan.Trong các giờ dạy MRVT, rất hiếm khi GV sử dụng đồ dùng phương tiện dạy học Phương pháp thảo luận nhóm cũng rất ít được GV sử dụng (chiếm 20%), nếu có sử dụng cũng ở mức hình thức, chưa thực sự mang lại hiệu quả, HS chưa có thời gian để thảo luận, một số HS trong các nhóm không thật hào hứng thảo luận
* Đối với HS lớp 2
a Thực trạng vốn từ
So với trước đây, vốn từ của HS hiện nay phong phú và khả năng nắm nghĩa từ, sử dụng từ của HS hơn trước đây, đặc biệt là HS học tập ở thành phố,
Trang 37vốn từ của các em phong phú và năng động hơn vốn từ của HS ở nông thôn và miền núi rất nhiều
Chúng tôi đã tiến hành điều tra 40 HS (khối 2) của trường tiểu học số 2 Bắc
Lý, yêu cầu HS thực hiện 5 bài kiểm tra vốn từ và kết quả thu được như sau:
Bảng 7: Vốn từ của HS lớp 2 ở các mức độ khác nhau
Mức độ Số HS Tỷ lệ (%)
Thực hiện được 5 bài tập 9 22,5 Thực hiện được 3 - 4 bài tập 10 25 Thực hiện được 2 - 3 bài tập 20 50 Thực hiện được 0 - 2 bài tập 1 2,5
Qua bảng trên ta thấy: Số HS thực hiện đúng 5 bài tập là 9 HS chiếm 22,5% , số HS thực hiện tương đối tốt 3 - 4 bài tập là 10 HS chiếm 25%, số HS thực hiện 2 - 3 bài tập là 20 HS chiếm 50%, số HS thực hiện 0 - 2 bài tập là 1 HS chiếm 2,5%
Như vậy, qua điều tra vốn từ của HS, chúng tôi thấy, vốn từ của HS còn nhiều hạn chế về cả 3 mặt: hiểu nghĩa từ, hệ thống hóa vốn từ và tích cực hóa vốn từ
b Thực trạng hứng thú của HS lớp 2 với việc làm giàu vốn từ trong các bài Tập đọc
Chúng tôi đã sử dụng các nội dung điều tra hứng thú học tập của HS đối với việc làm giàu vốn và thu được kết quả sau:
Bảng 8: Mức độ hứng thú của HS lớp 2 với việc làm giàu vốn từ
HS đối với bài
học Tập đọc
Trang 38Hiệu quả học
tập sau giờ học
Tập đọc
Hiểu được nghĩa các từ
và không sử dụng được từ.học
Hiểu nghĩa từ nhưng chưa
sử dụng được một số từ để đặt câu, viết văn
15 37,5
Hiểu nghĩa từ
và thường xuyên sử dụng các từ trong học tập
Như vậy, từ kết quả điều tra và các cuộc trò chuyện với HS, chúng tôi thấy:
Đa số các em đều thích học các bài Tập đọc (chiếm 50%) và có ý thức tự làm giàu vốn từ cho mình thông qua việc giải thích của GV và những người xung quanh (chiếm 80%) hoặc tra từ điển (chiếm 12,5%) để hiểu nghĩa từ Tuy nhiên, bên cạnh đó, còn có không ít học sinh không mấy hào hứng (chiếm 7,5%) và chưa ý thức việc làm giàu vốn từ cho bản thân mình Có một số em trả lời là không thích học trong các tiết học (chiếm 5%).Vì vậy, có rất nhiều từ các em không hiểu nghĩa và chưa sử dụng được để đặt câu, sử dụng trong giao tiếp hàng ngày (chiếm 37,5%)
Khi được hỏi vì sao không thích học tiết Tập đọc, một số HS trả lời không thể tập trung học vì GV chỉ chú ý đến những bạn học giỏi Một số HS khác lại trả lời trong tiết học em không hiểu bài nhưng không dám hỏi GV
1.3.4.2 Khảo sát thông qua phân môn Luyện từ và câu
* Đối với giáo viên
a) Thực trạng nhận thức của GV về nhiệm vụ và nội dung làm giàu vốn
từ cho HS lớp 2 qua giờ Luyện từ và câu
Bảng 9: Thực trạng nhận thức của GV về nhiệm vụ và nội dung làm giàu vốn từ
(LGVT) cho HS lớp 2 qua giờ Luyện từ và câu
dụng trong dạy
học Luyện từ
và câu
Chỉ sử dụng bài tập trong SGK 4 80
Bài tập trong SGK và bài tập
tự thiết kế
Bài tập trong SGK và SGV
Trang 39HS thắc mắc
Những từ trong SGK, SGV yêu cầu
Qua phân tích kết quả khảo sát trên chúng tôi thấy:
- Đa số GV chỉ sử dụng bài tập trong SGK( chiếm 80%) không thiết kế thêm hệ thống bài tập để làm giàu vốn từ cho HS
- Đa số GV chỉ làm giàu vốn từ cho HS theo yêu cầu của SGK và những từ
HS thắc mắc (chiếm 60%) chưa chuẩn bị thêm các từ cần giải nghĩa bổ sung thêm trong giờ học để làm giàu vốn từ cho HS
- Đa số GV thấy hứng thú học tập của học sinh trong khi học các bài MRVT chưa cao (chiếm 80%)
b Thực trạng sử dụng các phương pháp dạy học trong giờ Luyện từ và câu
Bảng 10 Các phương pháp dạy từ ngữ GV thường sử dụng
trong giờ Luyện từ và câu
Trang 40- GV ít sử dụng trò chơi học tập, theo kết quả phiếu điều tra chỉ có 1 GV sử dụng trong quá trình dạy học (chiếm 20%)
Qua nội dung điều tra về những khó khăn mà GV thường gặp phải trong quá trình làm giàu vốn từ, chúng tôi thấy, GV thường gặp những khó khăn sau: + Vốn từ của HS đang còn nghèo nàn, đôi khi GV phải giải nghĩa từ theo kiểu áp đặt
+ HS thường lúng túng trong việc tìm từ theo chủ điểm, lúng túng trong việc giải nghĩa từ đặc biệt là những từ Hán - Việt, thành ngữ, tục ngữ
+ HS chưa biết sử dụng từ, chưa biết đặt câu với từ đã học
+ GV gặp khó khăn trong việc giải nghĩa các từ trừu tượng
+ Phương tiện dạy học để phục vụ cho minh họa giải nghĩa từ còn thiếu + Một số GV lúng túng về mặt tri thức, do khó khăn về mặt tài liệu tham khảo, kiến thức về từ và vốn từ của GV chưa sâu
Khi được hỏi về những đề xuất để nâng cao hiệu quả làm giàu vốn từ, các
GV cho biết những công việc phải làm để nâng cao hiệu quả làm giàu vốn từ cho HS là:
+ Hướng dẫn HS tích lũy vốn từ qua các môn học, trong cuộc sống, vận dụng vốn từ trong giao tiếp, thực hành bài tập, viết văn
+ Đầu tư phương tiện dạy học phong phú và đa dạng
+ Luôn đổi mới phương pháp dạy học, lựa chọn các phương pháp dạy học kích thích hứng thú học tập của học sinh
+ Làm giàu vốn sống cho HS
* Đối với học sinh
a Thực trạng vốn từ
Chúng tôi đã tiến hành điều tra 40 HS (khối 2) của trường tiểu học số 2 Bắc
Lý, yêu cầu HS thực hiện 7 bài kiểm tra vốn từ và kết quả thu được như sau
Bảng 11: Vốn từ của HS lớp 2 ở các mức độ khác nhau
Mức độ Số HS Tỷ lệ (%)
Thực hiện được 7 bài tập 5 12,5 Thực hiện được 6 bài tập 10 25