1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Vận dụng phương pháp dạy học theo mô hình trường học mới (VNEN) vào phân môn tập đọc lớp 2 ở thành phố đồng hới – tỉnh quảng bình

89 472 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 1,6 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhiệm vụ nghiên cứu Nghiên cứu các vấn đề lí thuyết và thực tiễn việc vận dụng phương pháp dạy học theo mô hình trường học mới VNEN vào phân môn Tập đọc lớp 2, từ đó đề xuất một

Trang 1

Lời cảm ơn

Để hoàn thành tốt khóa luận này, tôi xin bày tỏ lòng biết

ơn sâu sắc đến giảng viên ThS Trần Thị Mỹ Hồng đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn, cung cấp các thông tin, tài liệu để tôi hoàn thành đề tài

Xin chân thành cảm ơn trường Đại học Quảng Bình đã tạo điều kiện thuận lợi để tôi học tập, nghiên cứu, giúp tôi hoàn thành khoá luận này

Cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Sư phạm Tiểu học – Mầm non đã trang bị cho tôi những kiến thức để tôi hoàn thành khóa luận này

Tôi xin cảm ơn những người thân yêu trong gia đình, bạn bè đã giúp đỡ, động viên tôi trong thời gian học tập và hoàn thành khóa luận

Nhân dịp này cho phép tôi được bày tỏ lòng biết ơn chân thành nhất

Cuối cùng, tôi xin kính chúc quý thầy cô giáo luôn dồi dào sức khỏe, hạnh phúc và thành công trong cuộc sống

cũng như trong sự nghiệp trồng người

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu

và kết quả nghiên cứu nêu trong khóa luận là trung thực, khách quan và chưa từng công bố trong bất kì một công trình nào khác

Tác giả

Trần Thị Huyền Thông

Trang 3

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT VÀ KÍ HIỆU TRONG ĐỀ TÀI

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT VÀ KÍ HIỆU TRONG ĐỀ TÀI

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Đối tượng nghiên cứu 3

4 Giả thuyết khoa học 3

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

6 Giới hạn nghiên cứu 3

7 Phương pháp nghiên cứu 3

8 Đóng góp mới của đề tài 4

9 Cấu trúc đề tài 4

PHẦN NỘI DUNG 5

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC VẬN DỤNG CÁC PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC THEO MÔ HÌNH TRƯỜNG HỌC MỚI (VNEN) VÀO PHÂN MÔN TẬP ĐỌC 5

1.1 Cơ sở lí luận 5

1.1.1 Lịch sử vấn đề 5

1.1.2 Những điểm mới cơ bản về mô hình VNEN 6

1.2 Cơ sở thực tiễn 27

1.2.1 Về phía học sinh 28

1.2.2 Về phía giáo viên 29

1.2.3 Nguyên nhân thực trạng 30

CHƯƠNG 2: DẠY HỌC PHÂN MÔN TẬP ĐỌC LỚP 2 THEO MÔ HÌNH TRƯỜNG HỌC MỚI (VNEN) 31

2.1 Mục tiêu dạy học Tập đọc lớp 2 theo mô hình trường học mới (VNEN) 31 2.2 Dạy học thông qua tổ chức các hoạt động của học sinh trong phân môn Tập đọc 2 32

2.3 Rèn cho học sinh phương pháp tự học trong phân môn Tập đọc 2 33

Trang 5

2.4 Tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác trong phân môn

Tập đọc 2 34

2.5 Tổ chức trò chơi học tập trong phân môn Tập đọc 2 38

2.6 Dạy học phân hóa theo năng lực học sinh trong môn Tập đọc 2 41

2.7 Đổi mới cách đánh giá trong phân môn Tập đọc 2 45

2.8 Quy trình dạy một tiết Tập đọc lớp 2 theo mô hình VNEN 48

CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 50

3.1 Mục đích, nhiệm vụ của thực nghiệm sư phạm 50

3.2 Phương án thực nghiệm 50

3.3 Đối tượng và địa bàn thực nghiệm 51

3.3.1 Đối tượng thực nghiệm 51

3.3.2 Địa bàn thực nghiệm 51

3.4 Kế hoạch thực nghiệm 51

3.4.1 Tiến trình thực nghiệm 51

3.4.2 Nội dung thực nghiệm 52

3.5 Tổ chức thực nghiệm 52

3.5.1 Giới thiệu chung về đối tượng 52

3.5.2 Tiến hành thực nghiệm 52

3.5.3 Thời gian thực nghiệm 52

3.5.4 Giáo án thực nghiệm 53

3.5.5 Giáo án đối chứng 64

3.6 Đánh giá kết quả thực nghiệm 73

3.6.1 Nhận xét mức độ thực hiện các phương pháp dạy học thông qua tiết thực nghiệm 73

3.6.2 Nhận xét về tiến trình dạy học thực nghiệm 74

3.6.3 Rút kinh nghiệm bản thân qua các giờ dạy 74

3.6.4 Đánh giá kết quả thực nghiệm 75

KẾT LUẬN 80

TÀI LIỆU THAM KHẢO 82

Trang 7

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, những thách thức trên đường tiến vào thế kỉ XXI bằng đua tranh trí tuệ đang đòi hỏi đổi mới giáo dục trong đó có sự đổi mới căn bản về phương pháp dạy học (PPDH) nhằm đào tạo lớp người mới năng động, sáng tạo, đủ sức giải quyết những vấn đề đặt ra trong thực tiễn của đất nước Để đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội thì ngành giáo dục không ngừng được đổi mới và lần đổi mới này đã tìm ra một mô hình trường học mới tại Việt Nam – gọi tắt là VNEN Đây là bước tiến quan trọng trong cải cách giáo dục Vấn đề đổi mới PPDH ở Tiểu học đã được các nhà nghiên cứu, các cán bộ quản lý chỉ đạo cũng như các giáo viên trực tiếp giảng dạy đặc biệt quan tâm Đổi mới PPDH tức là tìm ra con đường ngắn nhất để đạt chất lượng và hiệu quả cao Con đường này không có sẵn, không bằng phẳng mà đầy chông gai, khúc khuỷu, gập ghềnh với sự đan xen giữa cái chung và cái riêng, giữa cái cũ và cái mới Vì vậy đổi mới PPDH bao gồm cả hai mặt: phải đưa vào các PPDH mới đồng thời tích cực phát huy những ưu điểm của phương pháp dạy học truyền thống Lý luận dạy học đã khẳng định không có phương pháp vạn năng đặc biệt trong lĩnh vực giáo dục Đổi mới PPDH là sự kết hợp nhuần nhuyễn sáng tạo giữa kinh nghiệm của giáo viên với những yếu tố mới của PPDH hiện đại vào dạy Tiếng Việt nói chung và phân môn Tập đọc nói riêng nhằm gây hứng thú học tập, tạo niềm tin, niềm vui bằng sự hình thành và phát triển ở học sinh các kỹ năng sử dụng Tiếng Việt: nghe, nói, đọc, viết để học sinh giao tiếp

Tiếng Việt là tiếng ghi âm - viết như thế nào thì đọc như thế đó, đọc được thì mới hiểu được nội dung Vì thế phân môn tập đọc có vị trí đặc biệt trong chương trình Tiểu học Nó đảm nhiệm việc hình thành và phát triển cho học sinh kỹ năng đọc, một kỹ năng quan trọng hàng đầu của học sinh Tiểu học đồng thời làm cơ sở, nền móng cho mọi sự phát triển Bởi vậy dạy cho học sinh biết đọc, đọc đúng, đọc hiểu và đọc diễn cảm là một việc làm cần

Trang 8

thiết và có ý nghĩa rất quan trọng Trong thực tế hiện nay việc dạy đọc bên cạnh thành công còn nhiều hạn chế Học sinh chưa đọc được như mong muốn, kết quả đọc của các em chưa đáp ứng được yêu cầu của việc hình thành kỹ năng đọc Trong các giờ tập đọc thì hầu như các em mới biết đọc đúng, đọc trơn, còn đọc diễn cảm thì rất ít quan tâm vì các em chưa có cơ hội luyện đọc nhiều Để giúp học sinh lớp 2 hình thành và phát triển các kĩ năng đọc, nói, nghe; trau dồi vốn kinh nghiệm, vốn văn hóa, phát triển tư duy, mở rộng sự hiểu biết của học sinh về cuộc sống; bồi dưỡng tư tưởng tình cảm và tâm hồn lành mạnh, trong sáng, tình yêu cái đẹp, cái thiện và thái độ ứng xử đúng mực trong cuộc sống, hứng thú đọc sách và yêu Tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách con người mới, đòi hỏi giáo viên phải tích cực đổi mới PPDH Học sinh lớp 2 là giai đoạn đầu được làm quen, tiếp xúc với mô hình trường học mới (VNEN) Nếu giáo viên tổ chức tốt các phương pháp dạy học theo mô hình này thì sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho cho việc học tập đọc cũng như các môn học khác ở các lớp trên Xuất phát từ những nhận thức trên, chúng tôi luôn trăn trở và suy nghĩ là làm thế nào để vận dụng PPDH theo mô hình VNEN vào dạy học phân môn Tập đọc ở lớp 2 có hiệu quả Đó chính là lí do mà chúng tôi đã chọn đề tài: “Vận dụng phương pháp dạy học theo mô hình trường học mới (VNEN) vào phân môn Tập đọc lớp 2 ở thành phố Đồng Hới – tỉnh Quảng Bình” này để nghiên cứu

2 Mục đích nghiên cứu

Tìm hiểu các vấn đề về lí luận và thực tiễn việc vận dụng các phương pháp dạy học theo mô hình trường học mới (VNEN) vào phân môn Tập đọc lớp 2

Đề xuất các biện pháp trong dạy học phân môn Tập đọc 2 theo mô hình trường học mới (VNEN) góp phần nâng cao chất lượng học tập môn Tiếng Việt cũng như các môn học khác, đáp ứng yêu cầu học tập hiện nay trong thời

kì hội nhập

Trang 9

3 Đối tượng nghiên cứu

Các phương pháp dạy học Tập đọc theo mô hình trường học mới (VNEN)

4 Giả thuyết khoa học

Nếu vận dụng linh hoạt các phương pháp dạy học theo mô hình trường học mới (VNEN) vào phân môn Tập đọc lớp 2 thì sẽ nâng cao hiệu quả dạy học môn Tiếng Việt

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

Nghiên cứu các vấn đề lí thuyết và thực tiễn việc vận dụng phương pháp dạy học theo mô hình trường học mới (VNEN) vào phân môn Tập đọc lớp 2, từ đó đề xuất một số phương pháp trong dạy học Tập đọc lớp 2 theo mô hình trường học mới (VNEN) để vận dụng một cách linh hoạt, hiệu quả và tổ chức thực nghiệm sư phạm để chứng minh tính khả thi của đề tài

6 Giới hạn nghiên cứu

Nghiên cứu phương pháp dạy học phân môn Tập đọc lớp 2 theo mô hình trường học mới (VNEN)

7 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: tìm hiểu, sưu tầm, tra cứu tài liệu có liên quan đến nội dung đề tài rồi từ đó phân tích, hệ thống hóa theo mục đích nghiên cứu

- Phương pháp quan sát: Quan sát giờ dạy Tập đọc lớp 2 Trường Tiểu học Đồng Phú – Đồng Hới – Quảng Bình và Trường Tiểu học Hải Thành - Đồng Hới – Quảng Bình nhằm nhận xét, đánh giá, rút kinh nghiệm cho giờ dạy thực nghiệm

- Phương pháp điều tra: kiểm tra mức độ lĩnh hội kiến thức của học sinh sau giờ học; điều tra, phỏng vấn các giáo viên về giờ dạy Tập đọc, về cách vận dụng các phương pháp dạy học theo mô hình trường học mới (VNEN)

Trang 10

- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm sư phạm: thông qua các hoạt động dạy học, qua việc dự giờ các tiết dạy để tổng kết kinh ngiệm và đi đến kết luận

- Phương pháp thực nghiệm khoa học: để xác định tính khả thi của biện pháp được đưa ra trong đề tài

8 Đóng góp mới của đề tài

Đề xuất các biện pháp để vận dụng các phương pháp dạy học theo mô hình trường học mới (VNEN) vào thực tiễn dạy học phân môn Tập đọc lớp 2 ở thành phố Đồng Hới - tỉnh Quảng Bình

9 Cấu trúc đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, phần nội dung được triển khai trong ba chương:

Chương 1: Cơ sở khoa học của việc vận dụng các phương pháp dạy học theo mô hình trường học mới (VNEN) vào phân môn Tập đọc

Chương 2: Dạy học phân môn Tập đọc lớp 2 theo mô hình trường học mới (VNEN)

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Trang 11

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC VẬN DỤNG CÁC PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC THEO MÔ HÌNH TRƯỜNG HỌC MỚI

(VNEN) VÀO PHÂN MÔN TẬP ĐỌC 1.1 Cơ sở lí luận

1.1.1 Lịch sử vấn đề

Dự án Mô hình trường học mới tại Việt Nam (Dự án GPE-VNEN, Global Partnership for Education – Viet Nam Escuela Nueva) là một Dự án

về sư phạm nhằm xây dựng và nhân rộng một kiểu mô hình nhà trường tiên tiến, hiện đại, phù hợp với mục tiêu phát triển và đặc điểm của giáo dục Việt Nam Dự án về mô hình trường học mới tại Việt Nam này được gọi tắt là VNEN

Mô hình trường học mới có khởi nguồn từ Cô-lôm-bi-a từ những năm 1995-2000 để dạy học trong những lớp ghép ở vùng miền núi khó khăn, theo nguyên tắc lấy học sinh làm trung tâm Năm 2009, tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc (UNESCO), Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc (UNICEF) và Tổ chức Ngân hàng thế giới (WB) đã giới thiệu mô hình trường học mới tại Hội nghị Giáo dục khu vực tại CEBU, Phi-líp-pin Năm 2010, Bộ Giáo dục và Đào tạo tiến hành tham quan mô hình ở Cô-lôm-bi-a và tiến hành xây dựng mô hình trường học mới này ở Việt Nam Năm 2011-2012, Bộ GD-

ĐT đã chỉ đạo thí nghiệm mô hình trường học mới (VNEN) ở 24 trường Tiểu học thuộc 6 tỉnh với các môn Toán, Tiếng Việt và Tự nhiên – Xã hội lớp 2 Năm 2012-2013, mô hình được triển khai thí điểm tại 1447 trường thuộc 63 tỉnh thành Năm 2013-2014 có trên 1650 trường dạy học theo VNEN Đến năm 2014-2015, mô hình VNEN đã được áp dụng cho tất cả các môn học ở trường Tiểu học cho toàn bộ khối lớp nhằm tạo sự đồng bộ trong quá trình giáo dục học sinh Mô hình này vừa kế thừa những mặt tích cực của mô hình trường học truyền thống, vừa có sự đổi mới căn bản về mục tiêu đào tạo, nội

Trang 12

dung chương trình, tài liệu học tập, phương pháp dạy - học, cách đánh giá, cách tổ chức quản lí lớp học, cơ sở vật chất phục vụ cho dạy - học…

1.1.2 Những điểm mới cơ bản về mô hình VNEN

Mô hình VNEN là một trong những mô hình nhà trường phát triển theo

xu hướng hiện đại, với định hướng tiếp cận là giáo dục năng lực của người học Dựa trên cơ sở mô hình dạy học truyền thống, Dự án GPE-VNEN đã tiến hành nghiên cứu, chuyển đổi các thành tố trong Chương trình dạy học, đặc biệt các nội dung về mặt sư phạm theo định hướng tiếp cận giáo dục của mô hình

Mô hình VNEN là một “quá trình chuyển đổi” từ mô hình dạy học chủ

yếu truyền thụ kiến thức sang mô hình dạy học, giáo dục hình thành nhân cách và phát triển năng lực của học sinh

Nhìn chung, theo tư tưởng đổi mới của mô hình VNEN, quá trình dạy học và giáo dục, được hiểu là :

• Dạy và học thông qua tổ chức các hoạt động của học sinh Tổ chức các hoạt động học tập của học sinh cần phải trở thành trung tâm của quá trình giáo dục

• Chú trọng rèn luyện phương pháp tự học, phương pháp tư duy và phương pháp giải quyết vấn đề Đây là những phẩm chất và điều kiện tốt nhất

để có thể duy trì thói quen học tập thường xuyên và học tập suốt đời

• Tăng cường học tập cá nhân, phối hợp với học hợp tác và học nhóm Học sinh là chủ thể của quá trình học, tự mình chủ động chiếm lĩnh kiến thức, tạo ra môi trường học tập tương tác, thầy - trò, trò - trò vì thế nó có tác dụng rất tốt để phát huy năng lực của mỗi cá nhân học sinh

• Dạy và học chú trọng tới sự quan tâm và hứng thú của học sinh, nhu cầu và lợi ích của xã hội Quá trình dạy học dựa trên những gì các em đã có, tạo hứng thú, óc tò mò, sáng tạo cho học sinh Học sinh phải biết cách làm việc độc lập, sáng tạo, biết tổ chức công việc để giải quyết các đòi hỏi của xã hội và nhu cầu đa dạng, phức tạp của công việc sau này

Trang 13

• Dạy và học coi trọng hướng dẫn tìm tòi, học qua trải nghiệm Giáo viên hướng dẫn mang tính định hướng mà không có ý áp đặt trong quá trình học của học sinh

• Kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò, của gia đình, cộng đồng Ngoài đánh giá kết quả học (đánh giá định kì) rất coi trọng đánh giá bằng nhận xét qua quá trình học của học sinh (đánh giá theo tiến trình, đánh giá theo từng phần)

Điểm nổi bật của mô hình này là đổi mới về các hoạt động sư phạm, những hoạt động đó là đổi mới về cách thức tổ chức lớp học, đổi mới tổ chức dạy học và đổi mới về cách đánh giá kết quả học tập của học sinh

1.1.2.1 Đổi mới tổ chức lớp học

 Hội đồng tự quản (HĐTQ)

* Thành lập hội đồng tự quản

Hội đồng tự quản (HĐTQ) học sinh là một biện pháp giáo dục nhằm thúc đẩy sự phát triển về đạo đức, tình cảm và xã hội của học sinh thông qua những kinh nghiệm hoạt động thực tế của các em trong nhà trường và mối quan hệ với những người xung quanh [16, tr.4] HĐTQ học sinh được thành lập vì học sinh và bởi học sinh để đảm bảo cho các em tham gia hoạt động một cách dân chủ và tích cực vào đời sống học đường; khuyến khích các em tham gia một cách toàn diện vào các hoạt động của nhà trường và phát triển lòng khoan dung, sự tôn trọng, bình đẳng, tinh thần hợp tác và đoàn kết cho học sinh HĐTQ học sinh giúp học sinh phát triển kỹ năng ra quyết định, kỹ năng hợp tác và kỹ năng lãnh đạo Đồng thời cũng chuẩn bị cho các em ý thức trách nhiệm khi thực hiện những quyền và bổn phận của mình Với sự hướng dẫn của giáo viên, học sinh sẽ tổ chức HĐTQ và thành lập các ban để lập kế hoạch và thực thi hoạt động, các dự án Nhà trường nên khuyến khích sự tham gia của phụ huynh học sinh vào các hoạt động và dự án của học sinh[16, tr.4]

- Hội đồng tự quản là tổ chức của học sinh, vì học sinh và do học sinh

thực hiện Hội đồng tự quản học sinh gồm có: Chủ tịch HĐTQ và 2 Phó chủ

Trang 14

tịch quản lí các ban: Ban Học tập / Ban Thư viện / Ban Quyền lợi học sinh và Ban Đối ngoại / Ban Sức khỏe và Vệ sinh / Ban Văn nghệ và Thể dục-Thể thao

- Chức năng của hội đồng tự quản:

Chủ tịch HĐTQ có vai trò là người tổ chức, quản lý lớp học (thay thế lớp

trưởng)

Phó chủ tịch HĐTQ là cùng với CT HĐTQ tổ chức, quản lí các ban

trong các hoạt động (thay thế lớp phó)

Các ban hoạt động theo chức năng riêng của từng ban (Ví dụ: Ban học tập thực hiện các việc liên quan đến học tập)

- Quy trình thành lập HĐTQ:

+Xây dựng kế hoạch thành lập HĐTQ

+Triển khai thành lập HĐTQ: (Tiến hành bầu cử)

Trước bầu cử: Giáo viên, phụ huynh học sinh chuẩn bị tư tưởng cho học sinh về mục đích, ý nghĩa, khả năng học sinh… Định ngày bầu cử Lãnh đạo HĐTQ; Các ban của đạo HĐTQ

Tiến hành bầu cử

a, Bầu lãnh đạo HĐTQ ( chủ tịch, phó chủ tịch HĐTQ)

- Thảo luận để đưa ra tiêu chí của lãnh đạo HĐTQ

- Tổ chức cho học sinh tự ứng cử

- Tổ chức cho học sinh giới thiệu ứng cử viên

b, Các ứng cử viên chuẩn bị chương trình hành động để thuyết trình

-Tổ chức bầu cử: Bầu ban kiểm phiếu, Ban kiểm phiếu công bố thể lệ bầu cử, phát phiếu bầu, kiểm phiếu, công bố kết quả

- Ban lãnh đạo HĐTQ ra mắt

c, Bầu các ban tự quản

- Lãnh đạo HĐTQ họp bàn về xây dựng thể lệ, quy chế, thống nhất số

lượng học sinh trong các ban (Dưới sự hướng dẫn của giáo viên)

- Giới thiệu về các ban: mục đích, quyền lợi và nghĩa vụ, nhiệm vụ…

Trang 15

- Học sinh đăng kí vào các ban;

- Bầu trưởng ban;

- Các trưởng ban ra mắt

Sơ đồ Quy trình thành lập Hội đồng tự quản học sinh:

Sơ đồ Bộ máy Hội đồng tự quản học sinh:

Chủ tịch Hội đồng Hội đồng tự quản Học sinh

Phó Chủ tịch Hội đồng Phó Chủ tịch Hội đồng

Ban thư viện

Ban

học

tập

Ban Văn nghệ Thể thao

Ban đối ngoại

Ban sức khoẻ,

vệ sinh

Ban quyền lợi

Ban học tập

Nhà trường thông

báo tới giáo viên,

học sinh, phụ huynh

Lấy ý kiến tư vấn của học sinh, giáo viên, phụ huynh

Nhà trường thông báo tới giáo viên, học sinh, phụ huynh

Đăng ký danh sách ứng cử, đề cử

Thành lập các Ban

của Hội đồng

Chủ tịch và hai phó

Chủ tịch

Học sinh và giáo viên cùng tổ chức bầu cử

Ứng cử viên trình bày đề xuất hoạt động

Trang 16

*Các công cụ để tổ chức hoạt động của HĐTQ

Các công cụ đã được chứng minh là hữu ích cho công tác quản lí các hoạt động ở lớp học, trường học (đồng thời cũng là các công cụ, biện pháp tổ chức hoạt động của Hội đồng tự quản học sinh) bao gồm:

– Hộp thư “Điều em muốn nói”

– Hộp thư vui

– Ngày hội thành công

– Câu lạc bộ nhóm bạn

– Mong muốn lớp học tương lai

– Sổ ghi chép (nhật kí cá nhân)

– Tham gia quản lí lớp học

– Khen ngợi đức tính tốt của bạn – Xây dựng quy trình học tập 10 bước – Bảng theo dõi chuyên cần

– Sổ tay học tập – Hộp thư cam kết – Kế hoạch bảo trợ học sinh –Tìm hiểu mong muốn của học sinh

Sổ nhật kí cá nhân : nhằm tạo cơ hội cho học sinh chia sẻ một cách thoải

mái về những câu chuyện riêng tư, những thành công, những nhận xét hay mong muốn nhận được sự giúp đỡ, hỗ trợ về những vấn đề các em gặp phải hay bất cứ điều gì các em thích.…và không được công bố cho tất cả mọi người Sổ nhật kí giúp các em cân bằng được tâm lí, học cách thể hiện suy nghĩ cũng như góp phần nâng cao khả năng sử dụng tiếng Việt của các em

Sổ tay học tập: giúp học sinh phản ảnh lại việc học tập của mình Cuối

tuần, các em học sinh có thể nghĩ về những gì đã học được, cách học thế nào, làm sao để cải thiện được các phương pháp học hay nhớ lại những điều các

em đã học và ghi vào sổ này

Hộp thư bè bạn : tạo cơ hội cho giáo viên và học sinh trong lớp được

chia sẻ những cảm xúc, suy nghĩ ; hình thành cho hình thành thói quen quan tâm, chia sẻ với mọi người ; rèn luyện HS biết tôn trọng sự riêng tư của bạn ; góp phần nâng cao năng lực sử dụng tiếng Việt của các em Công cụ này còn

là cách để giáo viên động viên, khích lệ học sinh, hiểu được học sinh hơn

Hộp thư "Điều em muốn nói" : là công cụ giúp học sinh được bày tỏ ý

kiến của mình Những ý kiến của học sinh có thể là những tình cảm, cảm

Trang 17

nhận, mong muốn, đề nghị hoặc bất cứ điều gì các em muốn nói về thầy cô, bạn bè, cha mẹ, nhân viên phục vụ, điều kiện học tập – sinh hoạt và các hoạt động vui chơi… mà các em không thể hoặc chưa dám nói trực tiếp Qua hộp thư này, người lớn (thầy cô, cha mẹ…) sẽ có điều kiện hiểu các em nhiều hơn, đồng thời điều chỉnh các hoạt động giáo dục, sinh hoạt sao cho phù hợp Bên cạnh đó, hộp thư này còn có ý nghĩa giúp các em nhận biết mình là một thành viên của nhà trường và quyền cơ bản của trẻ được tạo điều kiện thể hiện (quyền được học tập – quyền được vui chơi – quyền được tham gia ý kiến…) Từ đó các em có ý thức, tự giác và chủ động khi tham gia các hoạt động của chính các em

Góc sinh nhật: Tạo sự vui tươi trong lớp học Giúp cho học sinh biết

cách quan tâm đến bạn bè, biết cách tổ chức những buổi lễ kỉ niệm nho nhỏ Tạo sự gắn kết của các thành viên trong lớp

Tổ chức cho học sinh tham gia các hoạt động quản lí lớp học: Điều đó

giúp học sinh phát triển sự tự giác, chủ động khi tham gia các hoạt động của lớp Tạo cơ hội cho học sinh cảm nhận được mình là một phần của tập thể và

có trách nhiệm để tập thể đó hoạt động và phát triển tốt Phát huy sự sáng tạo

và để các em có điều kiện được hỗ trợ lẫn nhau

Công nhận những đức tính tốt: có tác dụng giúp “giáo dục” đạo đức một

cách tự nhiên và thú vị cho các em học sinh Hoạt động này tạo điều kiện cho học sinh tìm kiếm và nhìn vào những đức tính tốt, những điều hay từ phía bạn học để khích lệ động viên bạn tiếp tục phát huy những điều tốt đẹp đó đồng thời cũng là cơ hội để học sinh cả lớp cùng học tập những đức tính tốt Đây còn là cơ hội cho các em được chia sẻ, gần gũi nhau hơn, góp phần tạo không khí thân tình trong lớp

Câu lạc bộ "Nhóm tình bạn": có vai trò tạo môi trường thân thiện cho

học sinh; giúp các em có được nơi để tâm sự, chia sẻ những niềm vui, nỗi buồn cũng như những sự tư vấn, động viên và giúp các em có những quyết định đúng đắn khi có vấn đề gì đó xảy ra trong nhóm bạn cùng lứa tuổi và có

Trang 18

những điều kiện tương đối đồng đều Đây là cách giúp cho học sinh biết cách giao tiếp, tự tin giải quyết các vấn đề ở mức độ nhỏ của mình và dần hình thành sự mạnh dạn, tự chủ

Xây dựng nội quy trường học, lớp học: Việc tổ chức cho học sinh xây

dựng nội quy trường học, lớp học tạo cho các em cảm thấy có trách nhiệm khi

tự mình xây dựng nội quy của trường mình, lớp mình, vì vậy sẽ giúp học sinh

có ý thức tự giác hơn trong việc thực hiện nội quy của lớp học, trường học

 Góc học tập – Góc thư viện – Góc cộng đồng

*Góc học tập

Góc học tập là nơi học sinh có thể tiếp cận được dễ dàng với các đồ dùng dạy học và các tài liệu khác nhau

Giáo viên nên tổ chức tìm những tài liệu phù hợp để đưa vào góc học tập với sự giúp đỡ của học sinh và cộng đồng Các tài liệu không phải là thứ duy nhất có trong các góc học tập Chúng ta cần xem xét các tác phẩm hay nhất, liên quan đến nội dung bài học để trưng bày trong các góc học tập, nên phát triển, bổ sung các tài liệu này để trợ giúp cho học sinh khi học ở trên lớp, phát huy được hết giá trị học thuật và sư phạm của các tài liệu đó [16, tr.50] Góc học tập có thể bao gồm: Góc Toán, Góc Tiếng Việt, Góc Tự nhiên, Góc Xã hội, Trong các góc học tập, chúng ta nên có những loại tài liệu và đồ dùng học tập sau đây:

– Những vật dụng phục vụ cho cuộc sống: là những đồ dùng thiết thực, trong sinh hoạt hàng ngày Ví dụ: cái bát, cái thìa, cái giỏ đựng cua…

– Dụng cụ thực hành: Đó là các công cụ mà học sinh có thể sử dụng để học trong các giờ thực hành, thí nghiệm Ví dụ: dụng cụ đo lường, mô hình trái đất, nhiệt kế, mô hình quả cầu thế giới, cân, chai, lọ, …

– Tài liệu in ấn: Sách tham khảo, tờ rơi, tranh ảnh minh họa, bản đồ, giúp học sinh tăng sự hiểu biết và mở rộng thêm kiến thức

Trang 19

– Tài liệu sáng tạo nghệ thuật: Đó là các vật dụng có thể chỉ dùng một lần mà học sinh dùng để học, tìm hiểu hoặc kết hợp để tạo ra một vật dụng có giá trị nghệ thuật Ví dụ: thú nhồi bông, con rối, máy bay giấy…

– Đồ dùng học tập do học sinh tự làm: Các tác phẩm, bài văn, bài kiểm tra đạt điểm tốt, các bài vẽ, các sản phẩm cắt dán, những đồ dùng dễ kiếm trong thiên nhiên…

Hình: Góc Học tập lớp 2 2

- Trường Tiểu học Đồng Phú - Đồng Hới - Quảng Bình

*Góc Học tập không thể thiếu trong quá trình học tập :

- Góc Học tập giúp học sinh thu nhận, tổng hợp kiến thức bằng cách thực hành, thao tác, quan sát và sử dụng các đồ vật ở góc học tập, học sinh được phát triển kiến thức của chính bản thân

- Học sinh tự nghiên cứu và sử dụng thời gian rỗi của mình vào những chủ đề mà các em yêu thích nhất ở góc học tập, tạo nên thói quen học tập và khả năng nghiên cứu tự nhiên và xã hội ngay từ nhỏ

- Học sinh có thể làm việc theo nhóm nhỏ hoặc làm việc độc lập ở góc học tập, do đó khuyến khích tinh thần trách nhiệm và học tập đặc thù của cá nhân

- Người giáo viên có thể khám phá những xu hướng và mối quan tâm mang tính nghề nghiệp của từng học sinh qua cách mà các em làm việc tại

Trang 20

góc học tập và những kết quả tích cực mà các em thu được có thể chỉ ra định hướng nghề nghiệp của các em

- Góc học tập mang lại sự hài lòng, hứng thú và động cơ khi các em quan sát công việc của chính mình hoặc của các bạn làm việc trong góc học tập

- Ở góc học tập cần có tài liệu Hướng dẫn học các môn, những hướng dẫn sử dụng tài liệu, đặc biệt là hướng dẫn sử dụng tài liệu tham khảo liên quan đến các môn học Giáo viên cần quan sát xem học sinh thích gì, quan tâm đến lĩnh vực nào khi các em học và nghiên cứu môn học nào đó trong các góc học tập, lưu ý xem kết quả học tập của các em ở góc học tập nào tốt hơn, hiệu quả hơn để đáp ứng kịp thời sở thích của trẻ vì nó sẽ giúp học sinh yêu thích công việc và có thể định hướng nghề Học sinh có thể tự kiểm tra những

gì đã nghiên cứu, tự học theo từng lĩnh vực để xác định các em muốn quan tâm, phát huy cái gì

*Góc thư viện

Thư viện là một nơi quan trọng, tạo cơ hội cho học sinh học tập một cách tích cực, chủ động, đồng thời cung cấp các nguồn tài liệu khác nhau để học sinh học tập và nghiên cứu Thư viện đóng vai trò hỗ trợ nguồn tài liệu phong phú cho mỗi môn học, mỗi chủ đề Thư viện là nơi rất hữu ích để học sinh tiến hành các dự án nghiên cứu nhỏ, việc tìm kiếm các thông tin tham khảo ở thư viện là rất cần thiết [16, tr.74] Trong Mô hình trường học mới (VNEN), các giáo viên đều biết rằng bản thân họ không phải là nguồn thông tin duy nhất cho các em Vì vậy, giáo viên cần hướng dẫn học sinh tham khảo các nguồn thông tin khác từ thư viện để phục vụ cho bài học Thư viện là một nguồn tài liệu tham khảo rất hữu ích cho việc học cá nhân của từng học sinh hoặc nhóm học sinh Học sinh rất tò mò muốn tìm hiểu về thế giới xung quanh mình, do đó thư viện sẽ giúp học sinh thỏa mãn sự tò mò đó bằng cách cho các em đọc và tìm hiểu về các chủ đề mà các em thấy thích và hứng thú nhất Mô hình trường học mới tăng cường khả năng tự học của học sinh Vì vậy, nguồn thông tin trong thư viện là một công cụ đắc lực hỗ trợ các em

Trang 21

trong việc tự học Qua việc đọc, chúng ta có thể giáo dục chính mình, tích lũy

và tăng khả năng tưởng tượng, trải nghiệm một cách gián tiếp Ngoài việc cung cấp thông tin cho học sinh, thư viện còn góp phần hình thành, phát triển thói quen đọc sách và tìm hiểu cho các em từ những năm học đầu tiên bước chân tới trường[16, tr.74]

Các loại sách trong thư viện lớp học cần được sắp xếp, phân loại theo từng lĩnh vực để tiện cho việc học sinh sử dụng và quản lí sách Giáo viên không đọc sách thay cho học sinh mà là người hướng dẫn, gợi mở, đặt vấn đề, giao việc cho học sinh tìm hướng giải quyết từ trong sách và khen ngợi, động viên học sinh biết đọc sách Chính vì thế mà người giáo viên phải đọc sách để mở rộng, nâng cao, cập nhật kiến thức, tạo điều kiện làm tốt chức năng dạy học của mình Thư viện là công cụ hỗ trợ đắc lực cho giáo viên và học sinh trong dạy học Với mỗi chủ đề hay bài học, giáo viên cần tham khảo thêm tư liệu về chủ đề hay bài học đó trong thư viện để bổ sung, làm giàu thêm kiến thức cho mình và cung cấp cho học sinh tên, trang, mục tài liệu cần tham khảo để hoàn thành bài học Thư viện có thể hỗ trợ cho từng đối tượng học sinh trong quá trình học tập khác nhau Việc bổ sung sách cho thư viện là việc cần làm thường xuyên Cha mẹ học sinh và cộng đồng có thể hỗ trợ nhà trường trong việc xây dựng thư viện lớp học, ví dụ như: đóng góp tủ sách, giá sách, cung cấp sách, tư liệu tham khảo, đồ dùng dạy học, cho thư viện lớp học

Trang 22

Hình: Góc thư viện

*Góc cộng đồng

Góc cộng đồng là một bảng mô tả một cách đơn giản về mối quan hệ giữa nhà trường và cộng đồng địa phương, trong đó bao gồm các thông tin về mùa vụ, nghề thủ công đặc trưng, phong tục tập quán, văn hóa lễ hội, trang phục đặc sắc, khí hậu thời tiết…, và một số sản vật đặc trưng của địa phương

Và quan trọng nhất là cách thức đưa những nội dung thông tin đó vào các hoạt động dạy học trong lớp học một cách hữu ích nhất[16, tr.88] Các thành viên trong cộng đồng bao gồm cha mẹ học sinh, học sinh và giáo viên tham gia vào quá trình xây dựng "Góc cộng đồng" này Có thể vẽ trên giấy khổ to, hoặc trên tấm vải trắng để mô tả thông tin về mùa vụ, nghề thủ công của địa phương, lễ hội, khí hậu thời tiết… với các màu sắc sinh động Mọi người có thể đóng góp hoặc sưu tầm một số sản phẩm đặc trưng của địa phương để trưng bày tại Góc cộng đồng Góc cộng đồng cần được sắp xếp tại một góc ở lớp học, bên cạnh Bản đồ cộng đồng

Trang 23

Hình: Góc cộng đồng

Góc cộng đồng giúp biết rõ môi trường vật chất và tinh thần của cộng đồng địa phương; sử dụng các yếu tố tích cực của môi trường vật chất và tinh thần đó vào trong các hoạt động dạy học tại lớp; giúp học sinh áp dụng kiến thức học ở lớp vào thực tiễn cuộc sống ở gia đình và cộng đồng; tìm ra những nguồn lực sẵn có trong cộng đồng để hỗ trợ nhà trường trong giáo dục học sinh, đặc biệt là những người có ảnh hưởng lớn ở cộng đồng như trưởng bản, già làng, trưởng dòng họ, Hội trưởng các hội: phụ nữ, thanh niên, cựu chiến binh, cựu giáo chức… ; Là nguồn thông tin giới thiệu về cộng đồng với những người đến thăm và làm việc tại cộng đồng

Quản lí Góc cộng đồng học sinh rất vui vì nhìn thấy một góc lớp rất sinh động với một số sản vật, trang phục đặc sắc của đia phương, của dân tộc mình, một số dụng cụ lao động hàng ngày,… các em lại được biết thêm về thông tin về mùa vụ, nghề thủ công đặc trưng, phong tục tập quán, văn hóa lễ hội, khí hậu thời tiết…

*Bản đồ cộng đồng: (hay còn gọi là sơ đồ cộng đồng) là sự mô tả một

cách đơn giản bằng hình vẽ trên giấy khổ to hoặc trên một miếng vải về cộng đồng địa phương, trong đó bao gồm đường đi lại, giếng nước, ao hồ, trường học, các tòa nhà công cộng, trụ sở công an, nhà văn hóa, trạm y tế và những

Trang 24

nơi có thể nguy hiểm với học sinh … Quan trọng nhất là Bản đồ cộng đồng có tất cả các ngôi nhà, nơi các gia đình học sinh trong lớp học của chúng tôi đang sinh sống

Hình: Sơ đồ cộng đồng trường

Bản đồ cộng đồng có tác dụng giúp các em học sinh biết được: Khoảng cách mà mỗi học sinh phải đi học từ nhà đến trường; Những thuận lợi và khó khăn khi học sinh đi học; Những địa điểm mà học sinh có thể gặp nguy hiểm

để hướng dẫn các em phòng tránh rủi ro; Những địa điểm cần thiết để chỉ dẫn cho học sinh đến, khi cần sự trợ giúp hoặc vui chơi; Những địa điểm và cách

đi thăm gia đình học sinh Bản đồ cộng đồng là nguồn thông tin giới thiệu về cộng đồng với những người đến thăm và làm việc tại cộng đồng Bản đồ cộng đồng còn giúp học sinh biết tìm đường đến thăm nhà bạn để hỏi bài, vui chơi, đường đến trường an toàn, thuận tiện nhất, đường đến hiệu sách, chợ, ủy ban nhân dân, đồn công an, bưu điện… Đặc biệt các em thấy tên mình trong Bản

đồ cộng đồng, các em ý thức được mình là một thành viên của cộng đồng, từ đó nâng cao hơn nữa ý thức trách nhiệm xây dựng và bảo vệ cộng đồng Bản

đồ cộng đồng giúp học sinh ý thức được mình là một thành viên của cộng đồng, từ đó ý thức xây dựng và giữ gìn cộng đồng được nâng cao

Trang 25

1.1.2.2 Đổi mới tổ chức dạy học

 Năm bước giảng dạy theo mô hình VNEN

Để góp phần tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh, người ta thường khuyến khích sử dụng kiểu dạy học thông qua các hoạt động trải nghiệm, khám phá, phát hiện của học sinh bao gồm 5 bước chủ yếu hay còn gọi là quy trình năm bước giảng dạy theo mô hình VNEN: Gợi động cơ, tạo hứng thú => Trải nghiệm => Phân tích, khám phá, rút ra bài học => Thực hành => Vận dụng

Bước 1 Tạo hứng thú cho học sinh

* Yêu cầu cần đạt

Kích thích sự tò mò, khơi dậy hứng thú của học sinh về chủ đề sẽ học và làm cho học sinh cảm thấy vấn đề nêu lên rất gần gũi, quen thuộc với họ Tạo không khí lớp học vui vẻ, tò mò, chờ đợi hay thích thú

Trang 26

* Cách làm

Có thể tổ chức thực hiện một số hoạt động như đặt câu hỏi; câu đố vui;

kể chuyện; đặt một tình huống hay tổ chức trò chơi hoặc sử dụng các hình

thức khác Có thể thực hiện với toàn lớp, tùng nhóm nhỏ hoặc từng cá nhân

học sinh

Bước 2 Tổ chức cho học sinh trải nghiệm

Để nhận thức được về một đối tượng, một sự việc hay một vấn đề nào

đó, người học phải dựa trên vốn kiến thức, vốn kinh nghiệm đã có từ trước

Nếu học sinh không có vốn kiến thức cần thiết (có liên quan đến kiến thức

mới), hoặc không có những trải nghiệm nhất định thì không thể hình thành

được kiến thức mới Trong dạy học môn Tập đọc, các kiến thức trong bài

thường liên quan đến các lĩnh vực trong đời sống sinh hoạt hằng ngày của các

em như cách ứng xử, giao tiếp hay kinh nghiệm trong giải quyết vấn đề

Việc tạo điều kiện cho các em hình thành trước những trải nghiệm thường là

cơ sở cho việc hình thành và phát triển những kiến thức tiếp theo

Do đó, trong dạy học, người giáo viên cần phải tìm hiểu vốn kinh

nghiệm và những hiểu biết sẵn có của học sinh trước khi học một kiến thức

mới và tổ chức cho học sinh tự trải nghiệm Sự định hướng và tổ chức các

hoạt động của giáo viên là quan trọng, nhưng vốn kiến thức của học sinh,

những trải nghiệm của học sinh vẫn là yếu tố quyết định trong việc hình thành

kiến thức mới

* Yêu cầu cần đạt

Huy động vốn hiểu biết, kinh nghiệm có sẵn của học sinh để chuẩn bị

học bài mới

Học sinh trải qua tình huống có vấn đề, trong đó chứa đựng những nội

dung kiến thức, những thao tác, kỹ năng để làm nảy sinh kiến thức mới

* Cách làm

Tổ chức các hình thức trải nghiệm thú vị, gần gũi với học sinh

Trang 28

Bước 3 Phân tích - Khám phá - Rút ra kiến thức mới

Đây là quá trình xem xét, nhìn nhận, tìm hiểu đối tượng, sự việc để phát hiện đặc điểm, ý nghĩa của chúng, trên cơ sở đó tìm tòi, khám phá ý tưởng mới

* Yêu cầu cần đạt

Học sinh rút ra được kiến thức, khái niệm hay quy tắc lí thuyết, thực

hành mới; học sinh nhận biết dấu hiệu/đặc điểm kiến thức mới

* Cách làm

- Dùng các câu hỏi gợi mở, câu hỏi phân tích, đánh giá để giúp học sinh

thực hiện tiến trình phân tích và rút ra bài học

- Sử dụng các hình thức thảo luận cặp đôi, thảo luận theo nhóm, hoặc các hình thức sáng tạo khác nhằm kích thích trí tò mò, sự ham thích tìm tòi, khám phá phát hiện của học sinh

- Nên soạn những câu hỏi thích hợp giúp học sinh đi vào tiến trình phân tích thuận lợi và hiệu quả

Các hoạt động trên có thể thực hiện với toàn lớp, nhóm nhỏ, hoặc cá nhân từng học sinh

Bước 4 Thực hành - Củng cố bài học

Đây là quá trình đúc rút thành bài học, khái niệm, quy tắc lí thuyết hay thực hành mới

* Yêu cầu cần đạt

Học sinh nhớ lại nội dung bài học

Học sinh biết chú ý tránh những sai lầm điển hình thường mắc trong quá trình thực hành

Tự tin về bản thân mình

Cách làm

Thông qua việc giải những bài tập rất cơ bản để học sinh rèn luyện việc nhận dạng, áp dụng các bước giải và công thức cơ bản Giáo viên quan sát

Trang 29

học sinh làm bài và phát hiện xem học sinh gặp khó khăn ở bước nào Giáo viên giúp học sinh nhận ra khó khăn của mình, nhấn mạnh lại quy tắc, thao

tác, cách thực hiện

Tiếp tục ra các bài tập với mức độ khó dần lên phù hợp với khả năng của học sinh Giáo viên tiếp tục quan sát và phát hiện những khó khăn của học sinh, giúp các em giải quyết khó khăn bằng cách liên hệ lại với các quy tắc,

công thức, cách làm, thao tác cơ bản đã rút ra ở trên

Có thể giao bài tập áp dụng cho cả lớp, cho từng cá nhân, hoặc theo

nhóm, theo cặp đôi, theo bàn, theo tổ học sinh

Bước 5 Ứng dụng

Vận dụng điều đã học để giải quyết các tình huống trong thực hành hoặc

thay đổi cách làm cũ

* Yêu cầu cần đạt

Học sinh củng cố, nắm vững các nội dung kiến thức trong bài đã học

Học sinh biết vận dụng kiến thức đã học trong hoàn cảnh mới, đặc biệt trong những tình huống gắn với thực tế đời sống hàng ngày

Học sinh cảm thấy tự tin khi lĩnh hội và vận dụng kiến thức mới

Cách làm

Học sinh thực hành, vận dụng từng phần, từng đơn vị kiến thức cơ bản

của nội dung bài đã học

Giáo viên giúp học sinh thấy được ý nghĩa thực tế của các tri thức toán học, từ đó khắc sâu kiến thức đã học

Khuyến khích học sinh diễn đạt theo ngôn ngữ, cách hiểu của chính các

em Khuyến khích học tập phát biểu, tập diễn đạt bước đầu có lí lẽ, có lập luận

Dạy học thông qua trải nghiệm là cách thức tổ chức quá trình dạy học thông qua một chuỗi các hoạt động trải nghiệm của người học.Dạy học thông qua trải nghiệm khuyến khích tổ chức các hoạt động độc lập, tự học hoặc nhóm hợp tác của học sinh, đòi hỏi giáo viên thiết kế, đạo diễn các hoạt động

Trang 30

học tập giúp học sinh tự phát hiện, phân tích và vận dụng kiến thức Giáo viên

sẽ thành công hơn nếu có khả năng sử dụng kiểu quy trình 5 bước

 Mười bước học tập của mô hình VNEN

Bước 1: Chúng em làm việc nhóm (nhóm trưởng lấy tài liệu và đồ dùng)

Bước 2: Em đọc tên bài học và viết vào vở

Bước 3: Em đọc mục tiêu bài học

Bước 4: Em thực hiện hoạt động cơ bản (nhớ xem làm việc cá nhân hay

theo nhóm theo lôgô trong tài liệu)

Bước 5: Kết thúc HĐ cơ bản, em tự đánh giá rồi báo cáo những việc đã

làm được với thầy, cô giáo để thầy, cô xác nhận

Bước 6: Em thực hiện hoạt động thực hành (Làm việc cá nhân rồi chia

sẻ với bạn kề bên, với cả nhóm)

Bước 7: Chúng em đánh giá cùng thầy, cô giáo

Bước 8: Em thực hiện Hoạt động ứng dụng (với sự giúp đỡ của gia đình,

người lớn)

Bước 9: Kết thúc bài, em viết vào Bảng đánh giá

Bước 10: Em đã học xong bài mới em phải ôn lại phần nào?

Hình: Quy trình 10 bước học tập theo mô hình trường học mới (VNEN)

Trang 31

1.1.2.3 Đổi mới cách đánh giá kết quả học tập của học sinh

Theo hướng phát triển của mô hình VNEN là để đào tạo ra những con người năng động, sớm thích ứng với đời sống xã hội, hòa nhập và góp phần phát triển cộng đồng thì việc kiểm tra phải khuyến khích trí thông minh, sáng tạo, phát hiện sự chuyển biến thái độ và xu hướng hành vi của học sinh trước những vấn đề của đời sống cá nhân, gia đình và cộng đồng; rèn luyện cho các

em khả năng phát hiện và vận dụng giải quyết các vấn đề nảy sinh trong các tình huống thực tế Việc đổi mới kiểm tra đánh giá sẽ có tác dụng thúc đẩy sự đổi mới trong phương pháp dạy học

Hiện nay, việc đánh giá kết quả học tập của học sinh dựa theo thông tư 30/2014/TT-BGDĐT (Thông tư 30) về quy định đánh giá học sinh tiểu học Theo đó, cách đánh giá mới nhằm đánh giá toàn diện về kiến thức, kỹ năng, năng lực, phẩm chất cần thiết nhất của học sinh Việc đánh giá gồm hai phần: Đánh giá thường xuyên và Đánh giá định kỳ trong đó Đánh giá thường xuyên không dùng điểm số mà thay vào đó là lời nhận xét, khuyến khích trong quá trình học tập của học sinh

Mục đích

- Giúp giáo viên điều chỉnh, đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức hoạt động dạy học, hoạt động trải nghiệm ngay trong quá trình và kết thúc mỗi giai đoạn dạy học, giáo dục; kịp thời phát hiện những cố gắng, tiến bộ của học sinh để động viên, khích lệ và phát hiện những khó khăn chưa thể tự vượt qua của học sinh để hướng dẫn, giúp đỡ; đưa ra nhận định đúng những

ưu điểm nổi bật và những hạn chế của mỗi học sinh để có giải pháp kịp thời nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động học tập, rèn luyện của học sinh; góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục tiểu học

- Giúp học sinh có khả năng tự đánh giá, tham gia đánh giá; tự học, tự điều chỉnh cách học; giao tiếp, hợp tác; có hứng thú học tập và rèn luyện để tiến bộ

Trang 32

- Giúp phụ huynh học sinh tham gia đánh giá quá trình và kết quả học tập, rèn luyện, quá trình hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất của con

em mình; tích cực hợp tác với nhà trường trong các hoạt động giáo dục học sinh

- Giúp cán bộ quản lí giáo dục các cấp kịp thời chỉ đạo các hoạt động giáo dục, đổi mới phương pháp dạy học, phương pháp đánh giá nhằm đạt hiệu quả giáo dục

Nguyên tắc

- Đánh giá vì sự tiến bộ của học sinh; coi trọng việc động viên, khuyến khích tính tích cực và vượt khó trong học tập, rèn luyện của học sinh; giúp học sinh phát huy tất cả khả năng; đảm bảo kịp thời, công bằng, khách quan

- Đánh giá toàn diện học sinh thông qua đánh giá mức độ đạt chuẩn kiến thức, kĩ năng và một số biểu hiện năng lực, phẩm chất của học sinh theo mục tiêu giáo dục tiểu học

- Kết hợp đánh giá của giáo viên, học sinh, cha mẹ học sinh, trong đó đánh giá của giáo viên là quan trọng nhất

- Đánh giá sự tiến bộ của học sinh, không so sánh học sinh này với học sinh khác, không tạo áp lực cho học sinh, giáo viên và cha mẹ học sinh

Đổi mới

- Tăng cường Đánh giá cả Quá trình học tập

- Đánh giá trong lớp (Học sinh tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau, giáo viên đánh giá học sinh)

- Đánh giá ngoài lớp (Cha mẹ học sinh và cộng đồng đánh giá kết quả giáo dục học sinh)

- Chú trọng Đánh giá Năng lực học sinh

Nội dung đánh giá

- Đánh giá quá trình học tập, sự tiến bộ và kết quả học tập của học sinh theo chuẩn kiến thức, kĩ năng từng môn học và hoạt động giáo dục khác theo chương trình giáo dục phổ thông cấp tiểu học

Trang 33

- Đánh giá sự hình thành và phát triển một số năng lực của học sinh: (Tự phục vụ, tự quản; Giao tiếp, hợp tác; Tự học và giải quyết vấn đề)

- Đánh giá sự hình thành và phát triển một số phẩm chất của học sinh: (Chăm học, chăm làm; tích cực tham gia hoạt động giáo dục; Tự tin, tự trọng,

tự chịu trách nhiệm; Trung thực, kỉ luật, đoàn kết; Yêu gia đình, bạn và những người khác; yêu trường, lớp, quê hương, đất nước)

Công cụ đánh giá

a Đối với GV

- Đánh giá thường xuyên :

+ Sổ ghi nhận xét của giáo viên qua theo dõi hoạt động học của học sinh trong các tiết học, ngày, tuần, tháng

+ Các sản phẩm hoạt động học tập của học sinh (phiếu học tập, quá trình và kết quả thảo luận nhóm, tranh vẽ, bài viết ngắn, báo cáo kết quả sưu tầm, tìm hiểu, học sinh báo cáo kết quả hoạt động học tập với giáo viên, …) + Bảng đánh giá tiến độ học tập của học sinh theo nhóm

- Đánh giá Định kì: bài kiểm tra, bài thi

b Đối với học sinh

- Bảng tự đánh giá

- Báo cáo kết quả học tập với giáo viên sau mỗi hoạt động

- Bảng đánh giá nhóm: Mỗi bài, mỗi ngày, mỗi tuần nhóm tự đánh giá, giới thiệu cá nhân có nhiều cố gắng trong học tập, hợp tác trong hoạt động

1.2 Cơ sở thực tiễn

Mô hình trường học mới (VNEN) là mô hình nhà trường tiên tiến, hiện đại, phù hợp với mục tiêu phát triển và đặc điểm của giáo dục nước ta Mô

Trang 34

hình VNEN thực hiện đổi mới phương pháp dạy học theo nguyên tắc lấy học sinh làm trung tâm, học tập mang tính tương tác và phù hợp với từng cá nhân học sinh Chuyển việc từ truyền thụ của giáo viên thành việc hướng dẫn học sinh tự học Lớp học do học sinh tự quản và được tổ chức theo các hình thức, như: Làm việc theo cặp, làm việc cá nhân và làm việc theo nhóm Học sinh được học trong môi trường học tập thân thiện, thoải mái, không bị gò bó, luôn được gần gũi với bạn bè, với thầy cô, được sự giúp đỡ của bạn học trong lớp, trong nhóm và thầy cô, phù hợp với tâm sinh lý lứa tuổi các em Học sinh khá giỏi được phát huy, học sinh còn hạn chế, yếu kém được học sinh của nhóm

và giáo viên giúp đỡ kịp thời ngay tại lớp

Cho đến năm 2016, trên địa bàn thành phố Đồng Hới – tỉnh Quảng Bình thì đã có rất nhiều trường Tiểu học đưa mô hình trường học mới (VNEN) vào giảng dạy và đã nhận được rất nhiều những phản hồi tích cực từ phía giáo viên, phụ huynh, học sinh và cả cộng đồng

1.2.1 Về phía học sinh

+ Học sinh được trang bị đầy sách và đồ dùng học tập

+ Học sinh trong lớp và trường thích học theo mô hình VNEN này

*Khó khăn

+ Học sinh lớp 2 là giai đoạn đầu được tiếp xúc nên chưa quen với mô hình VNEN

+ Hoạt động nhóm chưa thật sự sôi nổi và đạt hiệu quả cao

+ Một số em chưa đủ mạnh dạn để hỏi thầy cô những nội dung, yêu cầu chưa hiểu trong tài liệu Một số học sinh không làm việc dẫn đến hiệu quả

thảo luận trong các nhóm chưa cao

Trang 35

+ Một số học sinh (nhóm trưởng) không đủ mạnh dạn để đặt các câu hỏi gợi mở cho các bạn trong nhóm, chưa đủ tự tin để bảo nhau điều hành hoạt

+ Bản thân giáo viên thích nghiên cứu sâu và dạy học theo nhóm học sinh có hiệu quả

*Khó khăn

+ Giáo viên chưa linh hoạt và làm chủ thời gian trong việc hỗ trợ từng cá nhân, từng nhóm để em nào cũng cảm thấy mình được thầy cô quan tâm + Giáo viên chưa điều hành hợp lí hoạt động giữa các cá nhân, các nhóm học sinh Chính vì vậy mà nhịp độ học tập có sự chênh lệch nhau

+ Số lượng học sinh đông với thời gian giảng dạy từ 35 đến 40 phút học một tiết là một trở ngại rất lớn cho dạy học nhóm thành công Nếu như giáo viên không kiểm soát cẩn thận tương tác giữa học sinh trong nhóm, thì một vài học sinh có thể lãng phí thời gian vào việc thảo luận những vấn đề không

có liên quan hoặc có thể xảy ra trường học là một học sinh phụ trách nhóm theo kiểu độc đoán Đa số các thành viên trong nhóm không tham gia thảo luận mà lại quan tâm đến vấn đề khác…Trong nhóm và giữa các nhóm có thể phát sinh tình trạng đối địch, ganh đua quá mức trong các hoạt động thi đua Thường khó để đánh giá từng học sinh một cách công bằng và một vài em có thể cảm thấy không thoải mái với việc đánh giá dựa trên sự nỗ lực của nhóm

và sự bình xét của các bạn

Trang 36

1.2.3 Nguyên nhân thực trạng

- Học sinh còn lúng túng, nhút nhát, ít nói, chưa mạnh dạn tham gia vào hoạt động nhóm nhất là học sinh yếu

- Một số học sinh còn thiếu tích cực trong hợp tác với các bạn trong nhóm Một số trưởng nhóm có kĩ năng điều hành hoạt động nhóm chưa tốt

- Do ý thức học tập của học sinh chưa cao, còn ỷ lại vào các thành viên khác, không chịu khó suy nghĩ để giải quyết vấn đề

- Giáo viên quen với việc sử dụng các phương pháp cũ và ngại tìm hiểu, vận dụng các phương pháp mới

- Giáo viên ít tổ chức trò chơi vì thời gian của mỗi tiết học là có hạn, cơ sở vật chất không đáp ứng

Trang 37

CHƯƠNG 2: DẠY HỌC PHÂN MÔN TẬP ĐỌC LỚP 2 THEO MÔ HÌNH TRƯỜNG HỌC MỚI (VNEN)

2.1 Mục tiêu dạy học Tập đọc lớp 2 theo mô hình trường học mới (VNEN)

Về cơ bản, Dạy học theo mô hình trường học mới (VNEN) vẫn giữ nguyên mục tiêu, yêu cầu theo Chuẩn kiến thức kĩ năng của Bộ Giáo dục và Đào tạo; giữ nguyên quy trình và thời gian dạy học của các môn học; Sử dụng

phân phối chương trình và sách giáo khoa hiện hành để giảng dạy Phân môn

Tập đọc lớp 2 hướng đến mục tiêu: Hình thành và phát triển cho học sinh kĩ

năng sử dụng Tiếng Việt (nghe, nói, đọc, viết) để học tập và giao tiếp trong

các môi trường hoạt động của lứa tuổi; Thông qua việc dạy và học Tiếng Việt góp phần rèn các thao tác tư duy; Cung cấp cho học sinh một số kiến thức sơ giản về Tiếng Việt và xã hội, tự nhiên, con người, về văn hóa, văn học của Việt Nam và nước ngoài Cụ thể các mục tiêu đó như sau:

*Về kiến thức: Hình thành và phát triển các kĩ năng đọc,nghe và nói cho

học sinh Bao gồm:

Đọc thành tiếng: Phát âm đúng; Ngắt nghỉ hơi hợp lý; Tốc độ đọc vừa

phải (không ê a hay ngắt ngứ)

Đọc thầm và hiểu nội dung: Học sinh biết đọc không thành tiếng,

không mấp máy môi; Hiểu được nghĩa của các từ ngữ trong văn cảnh (bài đọc); Nắm được nội dung của câu, đoạn hoặc bài đọc

Nghe: Nghe và nắm được cách đọc đúng các từ ngữ, câu, đoạn và bài;

Nghe hiểu các câu hỏi và yêu cầu của thầy cô; Nghe hiểu và có khả năngnhận xét ý kiến của bạn

Nói: Biết cách trao đổi với các bạn trong nhóm học tập về bài đọc; Biết

cách trả lời các câu hỏi của bài đọc

Trang 38

*Về kĩ năng: Trau dồi vốn Tiếng Việt, vốn văn học, phát triển tư duy,

mở rộng sự hiểu biết của học sinh về cuộc sống

- Làm giàu và tích cực hóa vốn từ, vốn diễn đạt

- Bồi dưỡng vốn văn học ban đầu, mở rộng hiểu biết về cuộc sống, hình thành một số kĩ năng phục vụ cho đời sống và việc học tập của bản thân (như khai lý lịch đơn giản, đọc thời khóa biểu, tra và lập mục lục sách…)

- Phát triển một số thao tác tư duy cơ bản (phân tích, tổng hợp, phán đoán… )

*Về thái độ: Bồi dưỡng cho học sinh những tư tưởng tình cảm và tâm

hồn lành mạnh, trong sáng; tình yêu cái đẹp, cái thiện và thái độ ứng xử đúng mực trong cuốc sống; hứng thú đọc sách và yêu Tiếng Việt

- Bồi dưỡng tình cảm yêu quý, kính trọng biết ơn và trách nhiệm với ông

bà, cha mẹ, thầy cô; yêu trường lớp; đoàn kết giúp đỡ bạn bè; vị tha, nhân hậu

- Xây dựng ý thức và năng lực thực hiện những phép xã giao tối thiểu

- Từ những mẩu chuyện bài văn, bài thơ hấp dẫn trong sách giáo khoa, hình thành lòng ham muốn đọc sách, khả năng cảm thụ văn bản văn học, cảm thụ vẻ đẹp của Tiếng Việt và tình yêu Tiếng Việt

2.2 Dạy học thông qua tổ chức các hoạt động của học sinh trong phân môn Tập đọc 2

Nhân cách của trẻ được hình thành và phát triển thông qua các hoạt động chủ động, thông qua các hành động có ý thức Trí tuệ của trẻ được phát triển nhờ sự “đối thoại” giữa chủ thể với đối tượng và môi trường

Trong mô hình VNEN, học sinh – chủ thể của hoạt động học tập do giáo viên tổ chức và chỉ đạo, thông qua đó tự lực khám phá những điều mình chưa biết chứ không phải là thụ động tiếp thu những tri thức đã được sắp đặt sẵn Được đặt vào những tình huống của đời sống thực tế, học sinh trực tiếp quan sát, làm thí nghiệm, thảo luận, giải quyết vấn đề đặt ra theo suy nghĩ cá

Trang 39

nhân, từ đó vừa nắm được kiến thức mới, kĩ năng mới vừa được bộc lộ và phát huy tiềm năng sáng tạo của mình

Trong phân môn Tập đọc lớp 2, dạy học thông qua tổ chức các hoạt động của học sinh được thể hiện ở chỗ giáo viên tổ chức cho học sinh thực hiện liên tiếp các hoạt động học tập, từ đó giúp học sinh tự khám phá những điều chưa biết chứ không phải thụ động tiếp thu những tri thức được sắp đặt sẵn Theo tinh thần này, giáo viên không cung cấp, áp đặt kiến thức có sẵn mà là người tổ chức và chỉ đạo học sinh tiến hành các hoạt động học tập như nhớ lại kiến thức cũ, phát hiện kiến thức mới, vận dụng sáng tạo kiến thức đã biết vào các tình huống học tập hoặc tình huống thực tiễn Học sinh tự mình thực hiện các hoạt động và tự mình tìm ra kiến thức mới

Các hoạt động trong phân môn Tập đọc 2 thường là: Hoạt động cơ bản bao gồm: Quan sát tranh và trả lời câu hỏi, nội dung câu hỏi có liên quan đến bài Tập đọc, giúp học sinh liên hệ đến nội dung bài học, giáo viên có thể sử dụng để giới thiệu sang bài mới -> Nghe giáo viên dọc mẫu và hướng dẫn cách đọc bài đọc -> Học sinh tìm hiểu từ giải nghĩa trong sách hướng dẫn hoặc các từ chưa hiểu trong bài đọc để cùng nhau giải nghĩa -> Luyện đọc theo nhóm Hoạt động thực hành bao gồm: Tìm hiểu bài và trả lời câu hỏi -> Thi đọc bài giữa các nhóm

2.3 Rèn cho học sinh phương pháp tự học trong phân môn Tập đọc 2

Trong phương pháp học thì cốt lõi là phương pháp tự học Phương pháp

tự học là cầu nối giữa học tập và nghiên cứu khoa học Nếu rèn luyện cho học sinh có được phương pháp, kĩ năng, thói quen tự học, biết vận dụng linh hoạt những điều đã học vào những tình huống mới, biết tự lực phát hiện, đặt ra và giải quyết những vấn đề gặp phải trong thực tiễn thì sẽ tạo cho các em lòng ham học, khơi dậy tiềm năng vốn có của các em Vì những lẽ đó, mô hình VNEN nhấn mạnh dạy phương pháp học trong quá trình dạy học, cố gắng tạo

ra sự chuyển biến từ học tập thụ động sang tự học chủ động Việc rèn luyện

Trang 40

phương pháp học tập cho học sinh không chỉ là một biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học mà còn là một mục tiêu dạy học

Trong xã hội đang biến đổi nhanh, với sự bùng nổ thông tin, khoa học và công nghệ phát triển như vũ bão thì việc dạy phương pháp học phải được quan tâm ngay từ đầu bậc tiểu học và càng lên bậc cao hơn càng được coi trọng Đây là bước hữu hiệu để chuẩn bị cho lớp người kế tục thích ứng với

xã hội học tập, trong đó mỗi người phải có năng lực học tập liên tục, suốt đời Trong dạy học theo VNEN, tất cả các học sinh trong lớp đều phải cùng hoạt động Bắt đầu từ hoạt động cá nhân, đến trao đổi theo nhóm đôi( bạn cùng bàn), đến thảo luận nhóm thống nhất ý kiến và cuối cùng là chia sẻ với

cả lớp

Trong phân môn Tập đọc 2, việc rèn cho học sinh phương pháp tự học có vai trò rất quan trọng Cụ thể là tất cả học sinh tự mình thực hiện từng hoạt động học tập Ví dụ: Trong hoạt động đọc trong nhóm, cá nhân học sinh luyện đọc bài tập đọc, sau đó luyện đọc theo nhóm đôi (hai bạn cùng bàn đọc cho nhau nghe), tiếp đến là luyện đọc theo nhóm (các thành viên trong nhóm đọc nối tiếp theo từng đoạn)

Tất cả các học sinh đều phải tự mình thực hiện các hoạt động và tự mình tìm ra kiến thức Quá trình trao đổi, thảo luận, chia sẻ với các bạn sẽ giúp cho các em tranh luận, tìm tòi chân lí và khắc sâu hơn kiến thức mới Nhiệm vụ của người giáo viên tiểu học là hướng dẫn học sinh có phương pháp tự học của riêng mình, tự tìm ra kiến thức khi gặp vấn đề Học sinh dưới sự hướng dẫn của giáo viên, dưới sự chỉ dẫn của nhóm trưởng, các em tự mình thực hiện các hoạt động nhằm tìm ra kiến thức

2.4 Tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác trong phân môn Tập đọc 2

Theo quan điểm dạy học lấy học sinh làm trung tâm là đặt người học vào trung tâm của quá trình dạy học, tạo cơ hội tới mức tối đa để học sinh được tích cực tham gia vào quá trình học tập thông qua các hoạt động trên lớp Đây

Ngày đăng: 30/08/2017, 10:34

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hướng dẫn học Tiếng Việt 2 (sách thử nghiệm) - tập 1A - Bộ Giáo dục và Đào tạo - Vụ Giáo dục Tiểu học - Dự án Mô hình trường học mới Việt Nam, NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn học Tiếng Việt 2
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
2. Hướng dẫn học Tiếng Việt 2 (sách thử nghiệm) - tập 1B - Bộ Giáo dục và Đào tạo - Vụ Giáo dục Tiểu học - Dự án Mô hình trường học mới Việt Nam, NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn học Tiếng Việt 2
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
3. Hướng dẫn học Tiếng Việt 2 (sách thử nghiệm) - tập 2A - Bộ Giáo dục và Đào tạo - Vụ Giáo dục Tiểu học - Dự án Mô hình trường học mới Việt Nam, NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn học Tiếng Việt 2
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
4. Hướng dẫn học Tiếng Việt 2 (sách thử nghiệm) - tập 2B - Bộ Giáo dục và Đào tạo - Vụ Giáo dục Tiểu học - Dự án Mô hình trường học mới Việt Nam, NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn học Tiếng Việt 2
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
5. Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kĩ năng các môn học ở Tiểu học lớp 2, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kĩ năng các môn học ở Tiểu học lớp 2
Nhà XB: NXB Giáo dục
6. Hỏi – Đáp. Mô hình trường học mới Việt Nam - Đặng Tự Ân, NXB Giáo dục Việt Nam, 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hỏi – Đáp. Mô hình trường học mới Việt Nam - Đặng Tự Ân
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
7. Mô hình trường học mới – Bước đột phá về cách dạy và cách học, theo Báo Giáo dục và thời đại Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mô hình trường học mới – Bước đột phá về cách dạy và cách học", theo Báo
8. Những xu hướng đổi mới đào tạo giáo viên - Bài học từ các nước Mĩ La Tinh và ở Colombia - Trần Trung Ninh - Tài liệu Hội thảo Đào tạo nghiệp vụ sư phạm ở trường đại học Sư phạm Hà Nội, 1/2014, tr. 19 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những xu hướng đổi mới đào tạo giáo viên - Bài học từ các nước Mĩ La Tinh và ở Colombia" - Trần Trung Ninh - Tài liệu Hội thảo "Đào tạo nghiệp vụ sư phạm ở trường đại học Sư phạm Hà Nội
9. Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học - Lê Phương Nga- Đặng Kim Nga - NXB Đại học Sư phạm – NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm – NXB Giáo dục
10. Sách giáo viên Tiếng Việt 2 – Tập 1, NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách giáo viên Tiếng Việt 2
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
11. Sách giáo viên Tiếng Việt 2 – Tập 2, NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách giáo viên Tiếng Việt 2
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
12. Thông tư 30/2014/TT - BGDĐT – Ban hành quy định đánh giá học sinh tiểu học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư 30/2014/TT - BGDĐT
13. Tiếng Việt 2 – Tập 1, NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt 2
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
14. Tiếng Việt 2 – Tập 1, NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt 2
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
15. Tiếng Việt thực hành - Nguyễn Quang Ninh, NXB Đại học Sư phạm – NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt thực hành
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm – NXB Giáo dục
16. Tổ chức lớp học theo mô hình trường học mới tại Việt Nam - Bộ Giáo dục và Đào tạo - Vụ Giáo dục Tiểu học - Dự án Mô hình trường học mới Việt Nam, NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức lớp học theo mô hình trường học mới tại Việt Nam
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
17. Từ điển giáo khoa Tiếng Việt Tiểu học, NXB Giáo dục, 1992 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển giáo khoa Tiếng Việt Tiểu học
Nhà XB: NXB Giáo dục

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w