Từ đó có ý thức rèn luyện kĩ năng nói, kĩ năng giao tiếp tích cực, yêu thích phân môn Tập làm văn, yêu thích bộ môn Tiếng Việt, yêu thích tiếng mẹ đẻ cũng như tôn trọng nó
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH KHOA SƯ PHẠM TIỂU HỌC - MẦM NON
- -
TRƯƠNG THỊ NHƯ QUỲNH
ỨNG DỤNG LÝ THUYẾT HỘI THOẠI VÀO DẠY TẬP LÀM VĂN NÓI CHO HOC SINH LỚP 2, 3 Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC SỐ 2 BẮC LÝ – ĐỒNG HỚI – QUẢNG BÌNH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan công trình nghiên cứu này là của riêng tôi, các số liệu và kết quả trong khóa luận là trung thực và chưa được công bố trong bất kì công trình nào khác
Tác giả
Trương Thị Như Quỳnh
Trang 3
Lời Cảm Ơn
Trong suốt quá trình hoàn thành khóa luận
này, tôi đã may mắn nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ quý báu của quý thầy cô, bạn bè,
người thân
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tôi xin được bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới quý thầy cô trong Khoa Sư phạm Tiểu hoc – Mầm non, Trường Đại học Quảng Bình đã tận tình giảng dạy tôi trong suốt quá trình tôi tham gia học tập tại cơ sở đào tạo
Xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến Tiến
sĩ Nguyễn Thị Nga người đã không quản ngại khó khăn hướng dẫn cho tôi nghiên cứu và thực hiện khóa luận
Xin gửi lời cảm ơn đến Ban giám hiệu, các giáo viên cùng các học sinh Trường Tiểu học số
II Bắc Lý đã hợp tác và giúp đỡ tận tình tôi trong suốt quá trình thực hiện khóa luận
Một lời cảm ơn nữa xin gửi đến gia đình và những người bạn đã luôn giúp đỡ, động viên, có những ý kiến đóng góp hết sức bổ ích giúp tôi hoàn thành khóa luận này
Mặc dù đã có nhiều cố gắng song không tránh khỏi những thiếu sót nhất định Kính mong nhận được ý kiến đóng góp của hội đồng khoa học để khóa luận được hoàn thện hơn
Xin chân thành cảm ơn
Trang 4Đồng Hới, tháng 5 năm 2016
Tác giả: Trương Thị Như Quỳnh
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài: 1
2 Lịch sử vấn đề: 2
3 Mục đích nghiên cứu của đề tài: 3
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu của đề tài: 4
5 Giả thuyết khoa học: 4
6 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài: 4
7 Giới hạn nghiên cứu của đề tài: 4
8 Phương pháp nghiên cứu của đề tài: 4
9 Đóng góp mới của đề tài: 5
10 Thời gian thực hiện đề tài 5
11 Cấu trúc đề tài 5
PHẦN NỘI DUNG 6
CHƯƠNG I: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC DẠY 6
TẬP LÀM VĂN NÓI 6
1.1 CƠ SỞ LÍ THUYẾT 6
1.1.1 Lý thuyết hội thoại 6
1.1.2 Cơ sở tâm lí học: 14
1.1.3 Cơ sở của việc dạy nói 16
1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN 18
1.2.1 Nội dung chương trình dạy – học Tập làm văn nói ở lớp 2, 3 18
1.2.2 Các kiểu bài tập dạy hội thoại trong tập làm văn nói ở lớp 2, 3: 21
1.3 THỰC TRẠNG DẠY – HỌC TẬP LÀM VĂN NÓI CHO HỌC SINH LỚP 2: 30
1.3.1 Qua dự giờ: 30
1.3.2 Qua phiếu hỏi 32
1.3.3 Nhận xét: 36
CHƯƠNG II: ĐỀ XUẤT CÁC BIỆN PHÁP DẠY TẬP LÀM VĂN NÓI 38
CHO HỌC SINH LỚP 2 TRƯỜNG TIỂU HỌC SỐ 2 BẮC LÍ THEO 38
LÍ THUYẾT HỘI THOẠI 38
2.1 NÂNG CAO NHẬN THỨC CHO GIÁO VIÊN TIỂU HỌC VỀ VAI TRÒ, Ý NGHĨA CỦA VIỆC VẬN DỤNG LÍ THUYẾT HỘI THOẠI VÀO DẠY TẬP LÀM VĂN NÓI 38 2.1.1 Vai trò, ý nghĩa của việc vận dụng lí thuyết hội thoại vào dạy Tập làm văn nói 38
Trang 72.1.2 Một số điểm chú ý trong dạy tập làm văn nói cho học sinh Tiểu học: 39
2.2 VẬN DỤNG LINH HOẠT CÁC PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TIẾNG VIỆT ĐỂ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY – HỌC TẬP LÀM VĂN NÓI THEO LÍ THUYẾT HỘI THOẠI 42
2.2.1 Phương pháp rèn luyện theo mẫu: 43
2.2.2 Phương pháp giao tiếp 45
2.2.3 Các bước vận dụng lí thuyết hội thoại, tích hợp giáo dục văn hóa giao tiếp vào dạy tập làm văn nói 48
2.3 ĐỔI MỚI CÁC HÌNH THỨC TỔ CHỨC DẠY HỌC TẬP LÀM VĂN NÓI THEO HƯỚNG VẬN DỤNG LÍ THUYẾT HỘI THOẠI 53
2.3.1 Hình thức tổ chức đóng vai: 53
2.3.2 Hình thức tổ chức thảo luận nhóm: 55
2.3.3 Hình thức tổ chức đàm thoại 56
2.3.4 Hình thức tổ chức diễn giảng 57
2.4 TĂNG CƯỜNG CÁC HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC NGOÀI GIỜ LÊN LỚP 57
CHƯƠNG III: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM TẠI TRƯỜNG TIỂU HỌC SỐ 2 BẮC LÍ 59
3.1 MỤC ĐÍCH THỰC NGHIỆM: 59
3.2 Nội dung thực nghiệm 59
3.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ ĐỊA BÀN THỰC NGHIỆM: 61
3.4 KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM 62
3.4.1 Kết quả định tính (qua điều tra quan sát và phiếu hỏi) 62
3.4.2 Kết quả định lượng (qua các bài kiểm tra) 62
3.4.3.Nhận xét chung 63
PHẦN KẾT LUẬN 85
TÀI LIỆU THAM KHẢO 86
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Có thể nói, quan điểm phát triển lời nói là một trong những phương hướng xây dựng chương trình môn Tiếng Việt cải cách giáo dục ở Tiểu học Sự phát triển của ngữ dụng học trong những năm gần đây đã đặt giao tiếp và hội thoại vào một vị thế mới
Trong chương trình Tiếng Việt Tiểu học, hội thoại gắn với tình huống giao tiếp đã trở thành một nội dung học tập Phân môn Tập làm văn là phân môn có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc rèn kỹ năng này cho học sinh Tiểu học mà đặc biệt là trong tập làm văn nói
Mục tiêu của chương trình Tập làm văn lớp 2, 3 thực chất là thông qua hệ thống các bài tập thực hành tổng hợp về Tiếng Việt, giúp hình thành và phát triển cho học sinh các kỹ năng sử dụng Tiếng Việt để học tập, giao tiếp Qua đó, góp phần rèn luyện các thao tác tư duy, giáo dục tư tưởng, tình cảm và mĩ cảm cho các em
Yêu cầu của tiết tập làm văn nói ở lớp 2 phần lớn ở mức độ bước đầu cho học sinh làm quen với việc tạo lập ngôn bản nói qua từng công đoạn, với những yêu cầu đơn giản như: nhắc lại lời người nói trong tranh, nói lời đáp phù hợp với tình huống đã cho…Ở lớp 3 thì nghi thức lời nói được giảm bớt mà tăng các văn bản nhật dụng trong cuộc sống cho các em
Chương trình Tập làm văn nói ở lớp 2 và 3 gồm có 31 tiết (1 tiết/1 tuần) trên tổng số 35 tuần học Trong 4 tuần ôn tập giữa học kỳ I và giữa học kỳ II, cuối học kỳ I
và cuối học kỳ II (mỗi tuần 10 tiết) Cũng có rất nhiều bài tập thuộc phân môn Tập làm văn
Khi học sinh học phân môn Tập làm văn, các em sẽ được rèn luyện cả 4 kỹ năng: nghe, nói, đọc, viết Đặc biệt là kỹ năng nói, ở hầu hết các nội dung học sinh đều được rèn luyện kỹ năng này, các em được rèn luyện kỹ năng trao lời, đáp lời – những nghi thức lời nói quan trọng và phổ biến của cuộc sống, gắn với hội thoại trong những tình huống giao tiếp cụ thể
Thế nhưng, một nét tâm lý khá phổ biến của các thầy, cô giáo trong nhà trường phổ thông nói chung và các thầy, cô giáo trong nhà trường Tiểu học nói riêng lại rất ngại dạy học sinh Tập làm văn nói Điều này có nhiều nguyên nhân, trong đó có một nguyên nhân hết sức quan trọng là giáo viên chưa được trang bị một cách đầy đủ những vấn đề lý thuyết về Tập làm văn nói đủ để hướng dẫn, rèn luyện cho các em một cách có hiệu quả Nhưng cho đến tận bây giờ, những vấn đề mang tính lý thuyết khoa học chứ không phải là những vấn đề lí thuyết của sự đúc kết kinh nghiệm giảng
Trang 9dạy về Tập làm văn nói, cũng vẫn chưa được nghiên cứu đầy đủ, mặc dù ai cũng thấy được tầm quan trọng của Tập làm văn nói trong nhà trường
Vì thế có thể nói rằng, trên con đường tìm tòi một lý thuyết riêng cho Tập làm văn nói, lí thuyết hội thoại đã góp phần không nhỏ tạo cơ sở lí luận cho việc nghiên cứu Tập làm văn nói ở những giai đoạn tiếp theo Tuy vậy, trong khi chờ đợi những kết quả nghiên cứu mới về Tập làm văn nói, chúng ta vẫn có thể sử dụng những kết quả nghiên cứu được từ lí thuyết hội thoại ứng dụng vào dạy tập làm văn nói trong nhà trường Tiểu học Chắc chắn rằng, việc ứng dụng lí thuyết hội thoại vào dạy tập làm văn nói ở trường Tiểu học cũng sẽ góp phần nào đó giúp người giáo viên – học sinh khắc phục một số khó khăn đang mắc phải hiện nay
Đó cũng chính là những lý do cơ bản khiến em chọn đề tài: “ỨNG DỤNG LÝ THUYẾT HỘI THOẠI VÀO DẠY TẬP LÀM VĂN NÓI CHO HỌC SINH LỚP
2, 3 Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC SỐ 2 BẮC LÝ – ĐỒNG HỚI – QUẢNG BÌNH.”
2 Lịch sử vấn đề
2.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề hội thoại
Hội thoại là hoạt động cơ bản của ngôn ngữ, vì vậy lí thuyết hội thoại là một phần không thể thiếu của ngữ dụng học Từ năm 1970 hội thoại trở thành đối tượng chính thức của một phân ngành ngôn ngữ học, ngành phân tích hội thoại Cho đến nay, ngôn ngữ học của hầu hết các quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam đều bàn đến hội thoại
Trong cuốn Đại cương ngôn ngữ học – tập 2 ngữ dụng học, tác giả Đỗ Hữu Châu
giải thích “Hội thoại là một hoạt động giao tiếp căn bản, thường xuyên, phổ biến trong
sự hành chức của ngôn ngữ” Lí thuyết hội thoại là lĩnh vực nghiên cứu cuối cùng của
ngôn ngữ học quan tâm đến các diễn ngôn trong hoạt động, trong hoàn cảnh giao tiếp Chính vì vậy, nghiên cứu hội thoại phải nghiên cứu tổng hòa những tri thức về cấu trúc ngôn ngữ, những tri thức ngữ dụng và cả những tri thức xã hội học, tâm lí học, văn hóa học Mặt khác qua nghiên cứu hội thoại, chúng ta mới có được những hiểu biết đầy đủ, toàn diện tất cả những thành tố tạo nên ngôn ngữ và những thành phần nằm trong lĩnh vực ngữ dụng học vốn từng được xem xét riêng lẽ trước đây
Ở cuốn Dụng học Việt ngữ, tác giả Nguyễn Thiện Giáp đã trình bày những vấn đề
của lí thuyết hội thoại bằng những dẫn chứng sinh động cụ thể, bằng sự sáng rõ trong phân tích, mạch lạc trong cách trình bày Trong cuốn sách này tác giả cũng không quên đề cập đến mối liên quan giữa văn hóa và ngôn ngữ Ngoài hai công trình đó còn rất nhiều những công trình nghiên cứu có tính dẫn luận về Ngữ dụng học nói chung và lí thuyết hội thoại nói riêng
Trang 10- Nguyễn Đức Dân (1998), Ngữ dụng học, tập 1, NXB giáo dục
- Đỗ Hữu Châu (2002), giáo trình giản yếu về Ngữ dụng học, NXB Đại học Quốc
gia Hà Nội
2.2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề dạy – học phân môn Tập làm văn nói ở trường Tiểu học
Về phân môn Tập làm văn trong trường Tiểu học đã có rất nhiều tác giả nghiên
cứu và thể hiện rõ quan điểm của mình qua các công trình nghiên cứu như: Nguyễn
Trí, Lê Phương Nga, Nguyễn Minh Thuyết…
Tác giả Nguyễn Trí trong một công trình cùng tác giả Lê Phương Nga trong cuốn
“Phương pháp dạy học Tiếng Việt” đã thể hiện chiến lược dạy – học Tiếng Việt theo
quan điểm giao tiếp Đó là hướng đi đúng đắn có cơ sở khoa học vững chắc song tác giả chưa đi sâu vào vấn đề dạy Tập làm văn nói, đặc biệt là kĩ năng trao lời – đáp lời
Trong một cuốn khác: Một số vấn đề dạy Tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp ở
Tiểu học của tác giả Nguyễn Trí đã đưa ra được quy trình dạy Tập làm văn có vận
dụng lí thuyết hội thoại Tuy nhiên tác giả mới chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu lí thuyết, lí luận, giới thiệu kinh nghiệm ban đầu chứ chưa có được những hướng dẫn cụ thể về việc rèn kĩ năng đáp lời – một phần quan trọng của kĩ năng nói – trong phân môn Tập làm văn
Ở cuốn “Một số vấn đề dạy hội thoại cho học sinh Tiểu học”, tác giả Nguyễn Trí
đã đưa ra quan điểm dùng thực hành giao tiếp để hình thành các kĩ năng nói trong dạy Tập làm văn
Cuốn “Luyện tập Tiếng Việt 2”, do Hoàng Văn Thung – Đỗ Xuân Thảo biên
soạn đưa ra hệ thống câu hỏi và bài tập chung cho các phân môn Tiếng Việt, phần Tập làm văn có đưa ra một số bài tập tình huống để học sinh sản sinh lời nói thích hợp theo nghi thức lời nói Tuy nhiên, chương trình Tập làm văn hiện nay đã có một số thay đổi với những dạng bài và mức độ, yêu cầu cũng phát triển hơn nên nhận định của các tác giả cũng có phần bị hạn chế
Những công trình nghiên cứu trên đây chưa bàn đến một cách cụ thể những vấn đề mà đề tài quan tâm Song đó chắc chắn là những gợi ý cần thiết định hướng cho
việc nghiên cứu đề tài “Ứng dụng lí thuyết hội thoại vào dạy Tập làm văn nói cho học sinh lớp 2, 3 Trường Tiểu học số 2 Bắc Lý – Đồng Hới – Quảng Bình”
3 Mục đích nghiên cứu của đề tài
- Làm rõ mối liên hệ chặt chẽ giữa lí thuyết hội thoại với việc rèn kĩ năng nói, kĩ năng giao tiếp thông qua Tập làm văn nói cho học sinh lớp 2, 3
- Làm rõ sự cần thiết của việc vận dụng lí thuyết hội thoại vào việc rèn kĩ năng nói, kĩ năng giao tiếp cho học sinh lớp 2, 3
Trang 11- Làm rõ hiệu quả của việc ứng dụng lí thuyết hội thoại vào dạy Tập làm văn nói cho học sinh lớp 2, 3
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu của đề tài
- Khách thể: Là phân môn Tập làm văn 2, 3 và học sinh lớp 2, 3 giáo viên dạy lớp 2, 3
- Đối tượng nghiên cứu: Lí thuyết hội thoại, phân môn Tập làm văn, học sinh và giáo viên khối lớp 2, 3
5 Giả thuyết khoa học
Đề tài thực hiện thành công sẽ giúp học sinh rèn kĩ năng nói, kĩ năng giao tiếp phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp sao cho đúng cấu trúc và quy tắc hội thoại Từ đó có ý thức rèn luyện kĩ năng nói, kĩ năng giao tiếp tích cực, yêu thích phân môn Tập làm văn, yêu thích bộ môn Tiếng Việt, yêu thích tiếng mẹ đẻ cũng như tôn trọng nó và có
mĩ cảm trong giao tiếp, ứng xử của người học sinh
6 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
- Nghiên cứu về lí thuyết hội thoại
- Nghiên cứu về đặc điểm tâm lí và ngôn ngữ lứa tuổi lớp 2, 3
- Nghiên cứu về chương trình SGK, tài liệu giảng dạy thực tế thuộc phân môn Tập làm văn nói ở lớp 2, 3
- Thực nghiệm sư phạm
7 Giới hạn nghiên cứu của đề tài
- Sơ lược về lí thuyết hội thoại
- Phân môn Tập làm văn nói ở lớp 2, 3
- Trường Tiểu học số 2 Bắc Lý
8 Phương pháp nghiên cứu của đề tài
* Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận
* Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp quan sát sư phạm: Phương pháp này được sử dụng khi thực hiện
nghiên cứu, quan sát thực tiễn diễn ra của quá trình dạy học Tập làm văn nói ở lớp 2, 3 – Trường Tiểu học số 2 Bắc Lý
- Phương pháp phân tích và tổng hợp các tài liệu: Phương pháp này được sử
dụng khi nghiên cứu, phân tích các tài liệu về lí thuyết hội thoại, các tài liệu về tâm lí lứa tuổi, đặc điểm ngôn ngữ lứa tuổi của học sinh Tiểu học, các tài liệu về chương trình, SGK, phương pháp dạy học đặc biệt là tài liệu về việc đổi mới phương pháp
Trang 12trong dạy Tập làm văn nói cho học sinh lớp 2, 3 theo hướng vận dụng lí thuyết hội thoại
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm giáo dục: Sử dụng phương pháp này vào
quá trình phân tích thực tiễn, quá trình dạy - học Tập làm văn ở trường Tiểu học từ đó nhằm rút ra nghững lí luận giáo dục cần thiết
- Phương pháp thực nghiệm: Phương pháp này vận dụng trong quá trình quan
sát, dự giờ, tìm hiểu để nắm bắt tình hình dạy học Tập làm văn nói cho học sinh lớp 2,
3 bao gồm: Hoạt động dạy – học, chất lượng dạy – học để rút ra được những nhận định về thực trạng cũng như hướng phát triển của phương pháp dạy Tập làm văn nói cho học sinh lớp 2, 3 hiện nay Phương pháp này cũng vận dụng trong việc định hướng thiết kế các bài dạy Tập làm văn nói vận dụng từ lí thuyết hội thoại
9 Đóng góp mới của đề tài
Đề tài mong muốn góp một phần tích cực trong việc dạy – học Tập làm văn nói, giúp người giáo viên có lựa chọn và vận dụng phương pháp dạy học Tập làm văn nói phù hợp, giúp học sinh nâng cao kĩ năng hội thoại, kĩ năng giao tiếp của mình
10 Thời gian thực hiện đề tài
Từ ngày 15 /02/2016 đến 05/2016
11 Cấu trúc đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục, khóa luận được chia thành 3 chương: Chương I: Cơ sở khoa học của việc dạy Tập làm văn nói
Chương II: Đề xuất các biện pháp dạy Tập làm văn nói cho học sinh lớp 2, 3 trường Tiểu học số 2 Bắc Lý theo lí thuyết hội thoại
Chương III: Thực nghiệm sư phạm
Trang 13PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG I: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC DẠY
TẬP LÀM VĂN NÓI 1.1 CƠ SỞ LÍ THUYẾT
1.1.1 Lý thuyết hội thoại
* Khái niệm hội thoại
Hội thoại là hoạt động giao tiếp bằng lời ở dạng nói giữa các nhân vật giao tiếp nhằm thay đổi các nội dung miêu tả và liên cá nhân theo đích được đặt ra.[4]
Hội thoại là hoạt động giao tiếp bằng miệng giữa các nhân vật tham dự giao tiếp nhằm trao đổi những thông tin hoặc trao đổi tư tưởng, tình cảm…theo một mục đích đã được đặt ra.[10]
Để có thể đi sâu hơn nữa vào việc tìm hiểu hội thoại, chúng ta cùng xem xét đoạn trích sau:
- Mẹ Sơn: Chào cháu
- Nam: Cháu chào cô ạ!
- Mẹ Sơn: Cháu cho cô hỏi đây có phải nhà bạn Sơn không?
- Nam: Vâng ạ! Cháu là Nam đây! Cô hỏi gì cháu ạ?
- Mẹ Sơn: Tốt quá cô là mẹ bạn Sơn đây
- Nam: Thế ạ!
- Mẹ Sơn: Sơn bị sốt Cô nhờ cháu chuyển giúp cô đơn xin phép cho Sơn nghỉ
học
- Nam: Vâng ạ Cháu sẽ chuyển
(Tập làm văn 2 –tập 2- tr12)
Trên đây là nội dung của bài tập 3 – tiết Tập làm văn đáp lời chào, lời tự giới thiệu – sách Tiếng Việt 2- tập 2- tr12
Cuộc nói chuyện trên đây là một cuộc hội thoại
Hội thoại có thể chia thành nhiều kiểu khác nhau tùy thuộc vào những nhân tố giao tiếp được lấy làm cơ sở phân chia
Nếu dựa vào nhân vật tham dự giao tiếp, chúng ta có thể có các kiểu hội thoại sau:
- Xét về số lượng người tham gia hội thoại, ta có: hội thoại giữa hai người (song thoại), ba người (tam thoại), bốn người (tứ thoại) hoặc nhiều người hơn nữa (đa thoại) Hội thoại trong đoạn trích trên là song thoại
- Xét về sự hiện diện hay không hiện diện của những người tham gia hội thoại, ta có: Hội thoại đều có mặt người nói và người nghe, hội thoại chỉ có mặt người nói và
Trang 14vắng mặt người nghe (nói trên đài phát thanh, truyền hình) Cuộc hội thoại trên là cuộc hội thoại trực tiếp, có sự hiện diện của cả người nói lẫn cả người nghe
- Xét về tính chủ động hay thụ động trong việc tham gia hội thoại, ta có: Hội thoại giữa người nói và người nghe, cả hai đều chủ động tham gia, hội thoại chỉ có một người chủ động nói còn những người khác chỉ nghe Cuộc hội thoại đang được chúng
ta nhắc tới trong ví dụ trên là cuộc hội thoại mà cả hai đều chủ động tham gia giao tiếp
- Xét về mối quan hệ vị thế trong hội thoại, ta có: hội thoại trong quan hệ bố mẹ/con cái, thầy giáo/ học sinh…Cuộc hội thoại trên là cuộc hội thoại giữa một người lớn tuổi với một người nhỏ tuổi hơn
Nếu dựa vào nội dung đề tài được thể hiện trong hội thoại, chúng ta lại có thể chia thành các kiểu hội thoại sau:
- Xét theo phạm vi xã hội của đề tài hội thoại
- Xét theo tính chất tự do hay bắt buộc của đề tài trong hội thoại
Nếu căn cứ vào hoàn cảnh giao tiếp hẹp diễn ra hội thoại chúng ta chia hội thoại thành
- Hội thoại có tính chất nghi thức chính thức, mang tính chất quy phạm
- Hội thoại không mang tính nghi thức
Như vậy, để giao tiếp có hiệu quả, bên cạnh việc nắm các quy tắc ngôn ngữ để xây dựng ngôn bản, chúng ta còn phải nắm các quy tắc nói năng để chủ động tạo ra những lời nói phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp miệng
1.1.1.1 Các vận động hội thoại
Khi theo dõi một cuộc hội thoại, ví dụ như cuộc hội thoại giữa Nam và mẹ Sơn đã dẫn ra ở trên, chúng ta có thể hình dung được những nét chung nhất về những vận động chính trong một cuộc hội thoại Đó là sự vận động trao lời, sự vận động đáp lời
và sự vận động tương tác Chúng ta sẽ cùng xem xét về các vận động này
a, Vận động trao lời
Trong một cuộc thoại, một người nào đó nói ra, hướng tới người nghe đang ở trước mặt, ta gọi vận động đó là vận động trao lời Lời trao có những đặc điểm riêng khác biệt về nội dung và hình thức với lời đáp Do đó, khi đóng vai trò là người trao lời, người nói cần đảm bảo một số yêu cầu nhất định
- Biết tự quy chiếu vị thế xã hội trong việc trao lời Tùy vào mối quan hệ xã hội, tuổi tác, trình độ học vấn…giữa người nghe và người trao mà người trao lời sẽ chọn một từ xưng hô phù hợp nhất Xác định vị thế xã hội sai thì việc giao tiếp chắc chắn sẽ không đạt hiệu quả
Trang 15- Giữ vai trò khởi xướng hội thoại, lời trao phải biết định hướng hội thoại, nêu đề tài hội thoại và thường giữ thế chủ động lái hội thoại theo chiều đã định
- Phải bộc lộ rõ ràng sự quan tâm, chú ý đến nội dung cuộc thoại và thể hiện được thái độ, tình cảm, sự tôn trọng của người trao lời đối với người nghe
Tóm lại, trong hội thoại lời trao có những yêu cầu riêng, thường sẽ bị quy định từ
cả phía người nghe những nghi thức giao tiếp, những chuẩn mực giao tiếp do xã hội quy định
b, Vận động đáp lời
Sự đáp lời là một nhu cầu bức thiết của việc nói năng Trong thực tế, khi đã có trao lời thường có đáp lời dù việc đáp lời đó có khi chỉ là một hành động, một cử chỉ hay là một sự im lặng Nhưng ở đây chúng ta tạm gạt ra ngoài những hành động đáp lời phi ngôn ngữ mà chỉ tập trung những hành động đáp lời mang tính ngôn ngữ Vì thế chúng ta coi khi đã có trao lời mà không có đáp lời thì không thành hội thoại Vận động trao lời và vận động đáp lời là vận động cơ bản của hội thoại Vận động trao đáp chịu sự chi phối bởi:
- Sự có mặt của người nghe trong lời trao và trong lời đáp
- Vị thế xã hội
Vận động trao lời và đáp lời phải là một sự vận động cần có sự phối hợp nhịp nhàng Trao lời phải lịch sự, văn hóa thì đáp lời phải cởi mở, nhiệt tình Nếu giữa trao lời và đáp lời thiếu sự hòa nhập, liên kết hay không có sự tích cực cộng tác thì đó là dấu hiệu tan vỡ mối quan hệ giữa các đối tượng tham gia hội thoại
c, Vận động tương tác
Vận động tương tác là vận động tác động lẫn nhau, cùng làm cho nhau biến đổi Hội thoại là một vận động tương tác
Có thể chia vận động hội thoại thành hai phương diện tương tác chính
- Tương tác đối với nhân vật giao tiếp
- Tương tác đối với chính cuộc hội thoại
Muốn cuộc hội thoại tiến triển theo hướng mong muốn cần có sự hòa phối hội thoại giữa những người tham dự giao tiếp Sự hòa phối trong hội thoại được thực hiện bằng hệ thống các lượt lời và bằng những yếu tố phi ngôn ngữ như nét mặt, cử chỉ, động tác…
Lượt lời là một lời trao mà đến lượt mình một nhân vật phải nói, khi nhân vật kia đã kết thúc lời trao.Trong hội thoại có sự luân phiên lượt lời giữa những người tham gia giao tiếp
Trang 16Sự hòa phối tốt là sự hòa phối nhịp nhàng giữa lời người nói và lời người nghe Điều quan trọng là người tham dự giao tiếp phải chú ý tiếp nối lượt lời của mình đúng lúc, đúng chỗ, đảm bảo cuộc hội thoại được tiến hành liền mạch.[10]
1.1.1.2 Các quy tắc hội thoại
a, Quy tắc thương lượng hội thoại
Thương lượng hội thoại là sự thỏa thuận giữa những người tham dự giao tiếp về đề tài, về nội dung, về vị thế giao tiếp… để việc giao tiếp được tiến hành thuận lợi Khi đã có sự thỏa thuận thống nhất, việc giao tiếp mới có thể tiếp tục Sự thương lượng thường nhằm vào một số điểm chính sau:
- Thương lượng về hình thức hội thoại
- Thương lượng về nội dung hội thoại
- Thương lượng về cấu trúc hội thoại
Việc kết thúc có thể là lời cảm ơn, lời tạm biệt, lời hứa hẹn hoặc lời nhắn nhủ, lời khuyên răn, cảnh báo
VD: Đoạn thoại trong phần a của bài tập 2 (tiết Tập làm văn đáp lời đồng ý, sách Tiếng Việt 2, tập 2, tr 66)
- Hương cho tớ mượn cái tẩy nhé
- Ừ
- Cảm ơn cậu nhé
(Tập làm văn 2 – tập 2 – tr66)
- Thương lượng về vị thế hội thoại
b, Quy tắc luân phiên lượt lời
Khi có hai người tham dự giao tiếp thì hai người này phải biết luân phiên lượt lời cho nhau Khi người này nói, người kia phải biết nhường lời, phải biết dừng lại để nghe Dấu hiệu của sự kết thúc lượt lời là sự trọn vẹn về ý, về cú pháp, ngữ điệu, các
câu hỏi, các kiểu từ tình thái cuối câu như: “nhé”, “ nghen”, “đấy”, “hả”,…
Trong sự luân phiên lượt lời, những cặp kế cận là lõi của một cuộc hội thoại Cặp lượt lời kế cận là những cặp có sự hòa phối chặt chẽ với nhau
VD:
- Mẹ Sơn: Cháu cho cô hỏi đây phải nhà bạn Nam không?
- Sơn: Vâng ạ! Cháu là Nam đây Cô hỏi gì cháu đấy ạ?
Cặp lượt lời trên là cặp kế cận
Quy tắc luân phiên lượt lời không phải lúc nào cũng được chỉ ra rành mạch nhưng rõ ràng quy tắc này có sự chi phối hội thoại buộc những người tham gia hội
Trang 17thoại phải có sự chú ý đến việc trao – đáp lời cũng như nhường lời, tiếp lời trong quá trình giao tiếp Dấu hiệu của sự kết thúc lượt lời là sự trọn vẹn về ý, về cú pháp, ngữ
điệu, các câu hỏi, các kiểu từ tình thái cuối câu “nhé”, “nghe”
VD: Đoạn đối thoại trong phần a của Bài tập 2 (Tiết TLV Đáp lời đồng ý - sách Tiếng Việt 2, tập 2, tr 66):
- Hương cho tớ mượn cái tay nhé
- Ừ
- Cảm ơn cậu nhé
c, Quy tắc liên kết hội thoại
Nếu như trong hội thoại, những người giao tiếp nói với nhau theo kiểu “ông
chằng bà chuộc” hay kiểu “ông nói gà, bà nói vịt” các lời nói được ghép với nhau
một cách ngẫu nhiên thì hội thoại sẽ bất thành Bởi thế, trong hội thoại các lượt lời phải có sự liên kết chặt chẽ với nhau Sự liên kết hội thoại này được thể hiện ở cả nội dung hội thoại lẫn hình thức hội thoại
Về nội dung, các lượt lời phải thống nhất về đề tài Ngoài ra các lượt lời cũng cần phải có sự thống nhất và liên kết chặt chẽ với nhau về lập luận
Về hình thức, các lượt lời cũng cần có những dấu hiệu cụ thể Việc dùng các phép thế, phép lặp, phép nối…chính là những dấu hiệu liên kết hội thoại về hình thức
d, Quy tắc tôn trọng thể diện của nhau
Chính là quy tắc buộc người tham dự giao tiếp phải giữ thể diện cho nhau Khi giao tiếp cả người nói lẫn người nghe cần nói sao cho phù hợp, lựa chọn lời sao cho phù hợp để giữ được thể diện cho cả hai phía
e, Quy tắc khiêm tốn
Quy tắc này đòi hỏi người nói khi hội thoại không nên nói về mình quá nhiều, không nên nói lời khen, lời tán dương bản thân Điều này khiến cho người nghe khó chịu Hãy nói về mình ít hơn, hãy hạ mình đi một chút thì hiệu quả giao tiếp chắc sẽ tăng lên Đó là điều nên lưu ý khi hội thoại
f, Quy tắc cộng tác
Chỉ có người nói không có người nghe hoặc ngược lại thì không thành hội thoại Trong hội thoại cần có sự cộng tác hội thoại với nhau thì quá trình giao tiếp mới diễn
ra được Do đó, khi hội thoại người nói cần phải:
- Nói những thông tin đúng như đích hội thoại yêu cầu
- Đừng nói những điều gì không đúng hoặc chưa đủ bằng chứng
Trang 18- Nói những gì có quan hệ với hội thoại
- Tránh nói tối nghĩa, nói mập mờ
- Nói ngắn gọn, rõ ràng
Những quy tắc hội thoại nói trên là những quy tắc cần thiết trong hội thoại, trong giao tiếp Chúng ta cần tôn trọng những quy tắc này Khi hội thoại những người nào liên tục vi phạm những quy tắc đó thì người đó chắc chắn chưa nắm được tính văn hóa trong giao tiếp.[10]
1.1.1.3 Các nhân tố giao tiếp và hội thoại
* Ngữ cảnh
Nhân vật hội thoại là những người tham gia hội thoại, mối quan hệ giữa các nhân vật tham gia hội thoại rất chặt chẽ và mật thiết với nhau Điều đó được iểu hiện qua sơ đồ sau:
nghiệp, địa
Vị thế hội thoại Mạnh hoặc yếu
Quan hệ thân cận Thân – Sơ Thân thiết – Lạnh lùng Quý mến – Xa lạ
Vai giao tiếp
Người
nói
Người nghe
Trang 19Hiện thực bên ngoài hội thoại gồm có nhiều yếu tố tác động lẫn nhau, có thể sơ đồ hóa như sau:
1.1.1.4 Cấu trúc hội thoại
a, Hành động ngôn trung
Hành động ngôn trung là đơn vị hành động nhỏ nhất tạo nên hội thoại
Khi tìm hiểu về câu, chúng ta thấy một câu thường gồm có một nội dung miêu tả
và một cách thức nói năng nào đó thể hiện nội dung miêu tả Cách thức nói năng ấy chính là hành động ngôn trung Từ một lõi miêu tả, chúng ta có thể có nhiều hành động ngôn trung khác nhau Ta gọi nội dung miêu tả của câu là lõi miêu tả còn hiệu quả mà các hành động ngôn trung mang lại cho người nghe là lực ngôn trung
b, Nghi thức ngôn trung
Nghi thức ngôn trung là việc người nói sử dụng những phương tiện ngôn ngữ để báo cho người nghe biết hành động ngôn trung của mình dùng là hành động ngôn trung gì
Nếu hành động ngôn trung là hành động hỏi thì phương tiện ngôn ngữ có thể
dùng là các từ sao, phải không, gì, nào… khi hành động ngôn trung là hành động khuyên nhủ, răn bảo thì có thể dùng các từ như: hãy đừng, chớ, nên, phải…các đấu
Trang 20trong giao tiếp đã hình thành nên các nghi thức ngôn trung Việc sử dụng đúng lúc, đúng chổ các nghi thức ngôn trung chứng tỏ sự giao tiếp có văn hóa ở những người tham dự
c, Các đơn vị hội thoại
Hội thoại gồm những loại đơn vị sau:
- Các đơn vị lưỡng thoại:
Đó là những đơn vị phải có ít nhất hai nhân vật giao tiếp cùng tạo nên Đơn vị lưỡng thoại gồm có:
+ Cuộc thoại
- + Đoạn thoại
- + Cặp thoại
- Các đơn vị đơn thoại:
- Đó là những đơn vị do một người tạo ra trong một lần trao lời Đơn vị đơn thoại bao gồm
+ Tham thoại
+ Hành vi ngôn ngữ
Dưới đây chúng ta chỉ xem xét những biểu hiện của các đơn vị này trong kiểu hội thoại thường gặp nhất, đặc trưng cho những cuộc hội thoại trong xã hội Đó là kiểu hội thoại có sự hiện diện của các người nói và người nghe tại một địa điểm và trong một thời gian liên tục
* Các đơn vị lưỡng thoại
+ Cuộc thoại
Cuộc thoại là toàn bộ cuộc trao đáp, trò chuyện giữa các nhân vật tham dự hội thoại kể từ khi kết thúc cuộc trò chuyện đó Một cuộc thoại có thể có nhiều đề tài Nhiều đích mà cũng có thể có một đề tài, một đích duy nhất
+ Đoạn thoại
Đoạn thoại chỉ là một bộ phận của cuộc thoại Việc tách biệt đoạn thoại này với đoạn thoại khác trong cuộc thoại phải dựa trên đề tài và đích hội thoại Mỗi một đoạn thoại được đánh dấu bởi một đề tài và một đích Khi chuyển đề tài và chuyển đích ta sẽ
có một đoạn thoại khác
Người ta có thể nhận biết được đoạn thoại trong cuộc thoại vì những dấu hiệu hình thức của nó Mỗi một đoạn cũng có thể có những dấu hiệu mở đoạn, thân đoạn và kết đoạn
+ Cặp đoạn
Cặp thoại là những cặp kế cận, gồm một hành động dẫn nhập và một hành động hồi đáp Tuy nhiên, một cặp thoại bình thường lại nhiều hơn hai hành động
Trang 21Cần chú ý phân biệt cặp thoại với lượt lời Một cặp thoại có thể trùng với hai lượt lời Nhưng cũng có thể một cặp lượt lời chứa hai cặp thoại Như vậy một hành động bộ phận của lượt lời cùng với một hành động bộ phận của lượt lời kia lập thành một cặp thoại chú không nhất thiết phải toàn bộ lượt lời này với toàn bộ lượt lời kia mới lập thành một cặp thoại Cặp thoại là đơn vị lưỡng thoại nhỏ nhất trong hội thoại
* Các đơn vị đơn thoại
+ Hành động ngôn ngữ
Đơn vị tố thiểu tạo nên tham thoại là hành động ngôn ngữ Mỗi một tham thoại cần được đáp lại bằng một hành động ngôn trung tương ứng, phù hợp Nhưng một tham thoại có thể do nhiều hành động ngôn ngữ tạo nên, song trong đó chỉ có một hành động đòi hỏi người nghe phải sử dụng một hành động ngôn trung tương ứng đáp lại, còn hành động kí thì không cần.[10]
1.1.2 Cơ sở tâm lí học
1.1.2.1 Đặc điểm tâm lí của lứa tuổi học sinh Tiểu học
Trong hoạt dộng học và các hoạt động khác, tâm lí học sinh Tiểu học được hình thành và phát triển đạt trình độ mới Đó là quá trình tâm lí có chủ định, như chú ý có chủ định, ghi nhớ có chủ định, tư duy, logic…Đặc biệt nhờ có hoạt động học được tổ chức một cách khoa học mà ở học sinh tiểu học hình thành được những cơ sở ban đầu của kiểu tư duy mới ( tư duy khoa học hay còn gọi là tư duy lí luận), mà trước khi đến trường hay học theo phương pháp cũ các em không thể đạt được Đó là tiền đề tốt đẹp cho việc hình thành ở học sinh mối quan hệ có tính sáng tạo đối với thế giới xung quanh
Học sinh tiểu học có tình cảm hồn nhiên, mang nặng màu sắc cảm tính Cùng với quá trình học tập và phát triển tâm lí, tình cảm đó được củng cố và phát triển trên cơ sở nhận thức ngày càng đứng đắn hơn, đầy đủ và chuẩn mực hơn của các mối liên hệ trong cuộc sống của các em
Có thể nói, ở mỗi độ tuổi khác nhau, việc tiếp nhận tiếng mẹ đẻ của trẻ đều chịu
sự chi phối của sự phát triển tâm sinh lí Dạy Tiếng Việt nói chung, dạy tập làm văn nói riêng, chúng ta phải chú ý đến đặc điểm tâm lí lứa tuổ để từ đó tìm ra phương hướng, biện pháp giảng dạy thích hợp Đối với học sinh lớp 2, 3 ở độ tuổi này thì đặc
Trang 22điểm của tri giác còn đượm màu sắc cảm xúc, chưa có khả năng quan sát tinh tế, chú ý đến các chi tiết ngẫu nhiên, chưa có khả năng tổng hợp Tri giác vẫn chưa thực sự mang tính mục đích và có phương hướng rõ ràng Khả năng tư duy vẫn còn mang tính cảm tính, mang tính trực quan cụ thể
Khả năng tưởng tượng của các em phát triển Tuy nhiên quá trình tưởng tượng còn tản mạn và ít tổ chức Hình ảnh của tưởng tượng chưa được gọt giũa, chưa được bền vững Học sinh Tiểu học rất hồn nhiên và có khả năng phát triển, còn bở ngỡ Do đó, trong dạy học người giáo viên cần nắm chắc những đặc điểm tâm lí của các em học sinh Ở cùng một độ tuổi nhưng sự phát triển tâm lí của các em khác nhau Các em thường tiếp nhận những hình ảnh cảm tính, những biểu tượng cụ thể Chương trình tập làm văn ở Tiểu học nói chung và ở lớp 2, 3 nói riêng đã bước đầu chú ý đến đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi để xây dựng nội dung cũng như cấu trúc chương trình
Vì vậy, để có phương pháp giảng dạy đúng đắn, phù hợp, khoa học nhằm đạt hiệu quả dạy – học cao Bên cạnh nắm trình độ, năng lực của học sinh người giáo viên cần nắm chắc đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi của học sinh Như vậy, việc dạy học Tập làm văn sẽ đạt kết quả như mong muốn.[11]
1.1.2.2 Đặc điểm ngôn ngữ của lứa tuổi học sinh lớp 2,3
Khi bước chân vào lớp 1 hầu hết các em đã có ngôn ngữ nói thành thạo Các em đã biết diễn đạt suy nghĩ của mình, yêu cầu của mình bằng lời nói cũng như thông hiểu được ngôn ngữ nói của người khác Lúc này ngôn ngữ của các em phát triển ở cả ba
mặt: ngữ âm, ngữ pháp và từ ngữ Vốn từ của các em được tăng lên nờ học được nhiều
môn học và phạm vi tiếp xúc được mở rộng Không chỉ là số lượng từ mà việc hiểu ý nghĩa khái quát của từ cũng phát triển ở trẻ Trẻ sử dụng từ ngày càng chính xác và hợp văn cảnh hơn Ngôn ngữ phát triển tạo điều kiện cho quá trìh nhận thức của trẻ Tiểu học phát triển nhanh Tư duy, tưởng tượng chỉ có thể mang tính khái quát và trừu tượng khi dựa trên phương tiện ngôn ngữ Do đó, việc phát triển ngôn ngữ cho học sinh đặc biệt là ngôn ngữ nói là nhiệm vụ cực kỳ quan trọng của người giáo viên cần chú ý chuẩn xác trong phát âm, tìm biện pháp làm giàu vốn từ cho trẻ, rèn luyện ngôn ngữ nói cho các em ngay từ các lớp đầu bậc Tiểu học, uốn nắn kịp thời những sai sót trong ngôn ngữ của học sinh, đặc biệt là những thói quen như nói ngọng, nói lắp, nói trống không ,…Muốn vậy, bản thân giáo viên phải có ngôn ngữ chuẩn mực, trong sáng, ngữ điệu phù hợp khi dạy học – giao tiếp với học sinh Vốn từ của HS lớp 2, 3 tăng lên rất nhiều do được học nhiều môn học, phạm vi tiếp xúc được mở rộng Không chỉ là số lượng từ mà việc hiểu ý nghĩa khái quát của từ cũng phát triển ở trẻ Trẻ ngày càng dùng từ chính xác hơn, hợp văn cảnh hơn Có thế nói, ngôn ngữ của HS lớp 2, 3 phát triển ở cả ba mặt: ngữ âm, ngữ pháp và từ vựng Nhờ có ngôn ngữ viết, trẻ có khả năng tự học mà không cần sự giúp đỡ trực tiếp của giáo viên Ngôn ngữ phát triển đã
Trang 23trở thành điều kiện cho các quá trình nhận thức của trẻ tiểu học phát triển mạnh Tư duy, tưởng tượng chỉ có thế mang tính khái quát và trừu tượng khi dựa trên phương tiện ngôn ngữ Vì vậy, việc phát triển ngôn ngữ cho HS là nhiệm vụ cực kì quan trọng của GV và nhà trường Tiếu học Trong quá trình dạy học, GV cần chú ý: chuẩn xác trong phát âm, tìm biện pháp làm giàu vốn từ cho trẻ, rèn luyện ngôn ngữ nói, viết cho các em ngay từ lớp 1, uốn nắn kịp thời những sai sót trong ngôn ngữ của HS, đặc biệt
là những thói quen như nói ngọng, nói lắp, nói trống không, Muốn vậy bản thân GV
phải có ngôn ngữ chuẩn mực, trong sáng, ngữ điệu phù hợp khi dạy học - giao tiếp với các em.[11]
1.1.3 Cơ sở của việc dạy nói
1.1.3.1 Mối quan hệ giữa hoạt động lời nói với các kỹ năng làm văn
Lý thuyết hoạt động lời nói là một lĩnh vực được các nhà khoa học nghiên cứu trên cơ sở vận dụng những thành tựu của tâm lí học hoạt động đi sâu nghiên cứu trong các mối quan hệ qua lại, các giai đoạn của quá trình hoạt động lời nói Lí thuyết hoạt động lời nói cho rằng, hành vi nói năng rất đa dạng nhưng lại có chung một cấu trúc
gồm bốn giai đoạn: định hướng, lập chương trình, hiện thực hóa và kiểm tra Chúng được thực hiện kế tiếp nhau một cách liên tục Theo A.N.Lê – Ôn chép “Để giao tiếp
được trọn vẹn, về nguyên tắc, con người cần nắm được các kĩ năng: kĩ năng định hướng giao tiếp, kĩ năng lập chương trình lời nói, kĩ năng xác định được những phương tiện hợp lí để truyền đạt nội dung và cuối cùng là cần phải đảm bảo mối quan hệ qua lại giữa các kĩ năng đó Nếu như một mắt xích nào đó của hoạt động giao tiếp bị phá hủy thì kết quả giao tiếp sẽ không hiệu quả”.[5]
Các nhà nghên cứu cũng nhận thấy, giữa hệ thống kĩ năng hoạt động lời nói và
hệ thống kĩ năng làm văn có những mối quan hệ tương đồng Vì vậy, các kĩ năng làm văn được dạy ở Tiểu học cũng được xây dựng trên cơ sở quy trình sản sinh lời nói
Cấu trúc hoạt động lời nói Hệ thống kĩ năng làm văn
1 Định hướng
- Nhận diện đặc điểm văn bản
- Phân tích đề bài, xác định yêu cầu
2 Lập chương trình - Xác định dàn ý của bài văn đã cho
3 Hiện thực hóa chương
trình
- Kĩ năng xây dựng đoạn (chọn từ, tạo câu, viết đoạn)
- Kĩ năng liên kết các đoạn thành bài văn
4 Kiểm tra, đánh giá
- Kĩ năng phát hiện và chữa lỗi về nội dung và hình thức diễn đạt
Bảng hệ thống hóa mối liên quan giữa cấu trúc hoạt động lời nói và kĩ năng làm văn
Trang 24Hiện nay, để xem xét khái niệm lời nói được chặt chẽ, người ta thường đặt lời nói trong các hành vi giao tiếp
1.1.3.2 Ngôn bản nói và việc tạo lập ngôn bản nói theo hướng giao tiếp
Hiểu một cách khái quát, dạng nói của ngôn bản là sự giao tiếp bằng âm thanh diễn ra trực tiếp giữa người nói và người nghe Đặc điểm của ngôn bản nói là sử dụg ngữ điệu để thể hiện nội dung Sự thay đổi ngữ điệu có tác động đến việc tiếp nhận thông tin ở người nghe Ngôn bản dưới dạng nói có thể sử dụng những yếu tố phi ngôn ngữ ( cử chỉ, điệu bộ, nét mặt ) để hỗ trợ cho việc truyền tải nội dung, đồng thời giúp người nghe hiểu về ngôn bản một cách chính xác hơn, tinh tế hơn Việc sử dụng từ và câu trong ngôn bản nói cũng có một số điểm khác biệt so với ngôn ngữ viết Ngôn bản nói thường dùng nhiều từ chêm., xen, đưa đẩy hoặc có hiện tượng dư thừa một số từ ngữ nhất định Về mặt đặt câu, ngôn bản nói cũng thường dùng kiểu câu ngắn, kết cấu đơn giản Loại câu này giúp người ta dễ theo dõi Bên cạnh đó, ngôn bản nói có thể dùng nhiều câu tỉnh lược mà do điều kiện cho phép, người ta vẫn hiểu đúng nội dung của câu
Sản phẩm Tập làm văn của học sinh được xem là một ngôn bản Vì vậy, trong quá trình rèn luyện kĩ năng làm văn, kĩ năng hội thoại cho học sinh, giáo viên cần chú ý đến đặc điểm của dạng ngôn bản nói để rèn luyện cho các em Đồng thời, xây dựng các đề bài gắn với tình huống giao tiếp tự nhiên của Học sinh, tạo cho các em nhu cầu giao tiếp tự nhiên Việc đánh giá cũng căn cứ vào mục đích giao tiếp của ngôn bản.[7]
1.1.3.3 Vai trò của việc dạy nói đối ớ học sinh lớp 2, 3
Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của xã hội loài người, ngôn ngữ tồn tại dưới hai dạng: nói và viết Cùng diễn đạt một nội dung nào đó bằng phương tiện ngôn ngữ, có thể sử dụng dạng nói hoặc viết theo yêu cầu, mục đích, đối tượng, điều kiện, hoàn cảnh giao tiếp Việc rèn kĩ năng nói rất có ích đối với sự phát triển và trưởng thành của học sinh đồng thời giúp học sinh phát triển sự nhận thức về thế giới xung quanh
Tác giả M.R.Lvov trong bài viết cơ sở lí luận của việc dạy ngôn ngữ đã khẳng định “ Ngôn ngữ chỉ có sự sống trong quá trình của nó, trong hành động nghĩa là
trong lời nói Chỉ trong lời nói ngôn ngữ mới có ý nghĩa thực hành, chỉ trong lời nói ngôn ngữ mới thể hiện những khả năng tiềm tàng”.[7]
Trong cuốn “Dạy học Tiếng Việt – giáo trình đào tạo cử nhân GD Tiểu học –
NXB ĐHSP Hà Nội – 1995” cũng đã chỉ rõ nguyên tắc giao tiếp đòi hỏi phải tổ chức
hoạt động nói năng cho học sinh để dạy học Tiếng Việt Nghĩa là phải sử dụng giao tiếp như là một phương pháp dạy học chủ đạo vì: Nếu ngôn ngữ được coi là phương tiện giao tiếp thì lời nói được coi là bản thân sự giao tiếp bằng ngôn ngữ Dạy Tiếng
Trang 25Việt theo phương pháp giao tiếp tức là dạy phát triển lời nói cho từng cá nhân học sinh Phương pháp giao tiếp coi trọng sự phát triển lời nói còn những kiến thức lí thuyết thì được nghiên cứu trên cơ sở phân tích các hiện tượng đưa ra trong bài khóa Có thể nói, ở trường Tiểu học dạy Tiếng Việt là quá trình tổ chức hoạt động lời nói cho học sinh Với học sinh lớp 2, 3 đây là đối tượng thuộc đầu bậc học Tiểu học, kĩ năng nói và
sử dụng lời nói trong hoạt động giao tiếp còn rất hạn chế Vấn đề dùng từ, đặt câu, cách lập luận cũng như sử dụng ngữ điệu để trình bày miệng một vấn đề nào đó cho chính xác, hấp dẫn và phù hợp đối với người nghe là một vấn đề còn khó khăn đối với các em Do đó việc dạy nói, dạy giao tiếp cho các em là rất quan trọng và cần thiết
1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN
1.2.1 Nội dung chương trình dạy – học Tập làm văn nói ở lớp 2, 3
Làm văn nói có nghĩa là tạo lập văn bản nói Nhiệm vụ chính cả tập làm văn nói
là rèn luyện cho học sinh kĩ năng tạo lập văn bản nói Thuật ngữ văn bản ở đây có thể hiểu là sản phẩm hoàn chỉnh của lời nói trong một hoàn cảnh giao tiếp cụ thể Nó có thể chỉ là một câu chào, một lời cảm ơn…Đối với lớp 2 dạy tập làm văn nói trước hết
là rèn luyện kĩ năng nói, kĩ năng phục vụ học tập và giao tiếp hàng ngày cụ thể là:
a, Dạy các nghi thức lời nói tối thiểu như chào hỏi, tự giới thiệu, cảm ơn, xin lỗi, nhờ vả, yêu cầu, đề nghị, khẳng định, từ chối, chia buồn…
b, Dạy một số kĩ năng phục vụ học tập và đời sống như: Khai bản tự thuật ngắn, gọi và nhận điện thoại, đọc thời khóa biểu…
c, Bước đầu dạy cách tổ chức đoạn văn, bài văn thông qua nhiệm vụ kể một sự việc đơn giản…
Có thể hình dung nội dung học tập làm văn ở lớp 2 thông qua bảng hệ thống sau:
Học kì 1:
Tuần Các nghi thức lời nói Các kĩ năng làm việc Cách tổ chức thực
hiện đoạn, bài
2 Chào hỏi, tự giới thiệu Tự thuật
4 Cảm ơn, xin lỗi
6 Khẳng định, phủ định Tra mục lục sách
Trang 267 Đọc thời khóa biểu Kể ngắn theo tranh và
câu hỏi
8 Mời, nhờ, yêu cầu, đề
nghị
Kẻ ngắn theo câu hỏi
11 Chia buồn, an ủi
câu hỏi
câu hỏi gợi ý)
16 Khen ngợi Lập thời gian biểu Kể tự do (không có
câu hỏi gợi ý)
17 Ngạc nhiên, thích thú Lập thời gian biểu
Nghe – Trả lời câu hỏi
19 Đáp lời chào, lời
tự giới thiệu
về một đoạn văn miêu tả, tả ngắn theo câu hỏi
về một đoạn văn miêu tả
Trang 27trong đoạnvăn miêu tả
tranh và câu hỏi
câu hỏi
28 Đáp lời chia vui Trả lời câu hỏi
về một đoạn văn miêu tả
32 Đáp lời từ chối Đọc sổ liên lạc
Ở lớp 3 nghi thức lời nói giảm so với lớp 2 mà tăng các văn bản nhật dụng trong cuộc sống cho các em Rèn luyện cho các em các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết
phục vụ cho học tập và giao tiếp cụ thể:
+ Biết dùng lời nói phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp trong sinh hoạt gia đình, trong sinh hoạt tập thể, biết giới thiệu các thành viên, các hoạt động của tổ, của lớp
+ Nghe – hiểu nội dung lời nói, ý kiến thảo luận trong các buổi sinh hoạt Nghe – hiểu
và kể lại được nội dung của mẩu chuyện ngắn, biết nhận xét về các nhân vật trong câu chuyện
Trang 28Các dạng bài tập dạy hội thoại trong SGK Tiếng Việt 3 cụ thể như sau:
Tuần Nội dung bài tập dạy hội thoại trong SGK Tiếng Việt 3
1 Nói những điều em biết về Đội TNTP Hồ Chí Minh
3 Hãy kể về gia đình em và một người bạn em mới quen
5 Dựa vào cách tổ chức cuộc họp mà em biết, hãy cùng các bạn tập tổ chức một cuộc họp tổ
6 Kể lại buổi đầu tiên em đi học
7 Hãy cùng các bạn trong tổ mình tổ chức một cuộc họp
11 Hãy nói về quê hương em hoặc nơi em đang ở
12 Nói những điều em biết về những cảnh đẹp có trong bức tranh
14 Hãy giới thiệu về tổ em và hoạt động của tổ em trong tháng vừa qua với một đoàn khách đến thăm lớp
20 Dựa vào bài tập đọc “Báo cáo kết quả tháng thi đua”, noi gương chú bộ đội, hãy báo cáo kết quả học tập, lao động của tổ em trong tuần vừa qua
21 Quan sát tranh và cho biết những người tri thức trong các bức tranh là ai? Họ đang làm việc gì?
31 Tổ chức họp nhóm trao đổi ú kiến về câu hỏi “Em cần làm gì để bảo vệ môi trường”
32 Kể lại một việc tốt mà em đã làm để góp phần bảo vệ môi trường
34 Nghe và nói lại từng mục trong bài “ Vươn tới các vì sao”
1.2.2 Các kiểu bài tập dạy hội thoại trong tập làm văn nói ở lớp 2, 3
1.2.2.1 Các kiểu bài tập dạy hội thoại trong tập làm văn nói lớp 2
Cùng với các kĩ năng nghe, đọc, viết phân môn tập làm văn dạy cho học sinh kĩ năng nói thông qua các bài tập thực hành luyện nói theo tình huống cho trước hoặc đề tài cho trước Luyện nói hội thoại thực hiện bằng những cách thức sau:
+ Cung cấp lời nói được thể hiện trong các bài học, yêu cầu học sinh nhắc lại:
Ví dụ: Nhắc lại lời các bạn trong tranh:
a, Chào hai cậu Tớ là Mít Tớ ở thành phố Tí Hon
b, Chào cậu, chúng tớ là Bóng Nhựa và Bút Thép
c, Chúng tớ là học sinh lớp 2
(Tập làm văn 2 – tập 1, tr.20)
+ Cung cấp tình huống hội thoại trong nghi thức lời nói, yêu cầu học sinh nói lời trao lời, đáp lời phù hợp với tình huống đó
Ví dụ1: Hãy nói lời an ủi của em với ông (bà)
- Khi cây hoa do ông (bà) trồng bị chết
Trang 29- Khi kính đeo mắt của ông (bà) bị vỡ
(Tập làm văn 2 – tập 1, tr 94)
Ví dụ 2: Có một người lạ đến nhà, gõ cửa và tự giới thiệu:
- Chú là bạn của bố cháu Chú đến thăm bố mẹ cháu
Em sẽ nói thế nào?
a, Nếu bố mẹ em có nhà
b, Nếu bố mẹ em đi vắng
+ Cung cấp lời thọai, yêu cầu học sinh nói đúng ngữ điệu câu, phù hợp với lời thọai
Ví dụ: Đọc đoạn thoại sau Nhắc lại lời cả bạn Hà khi được bố của Dũng đồng ý cho gặp Dũng
Hà: - Cháu chào bác ạ Cháu xin phép bác cho cháu gặp bạn Dũng
Bố Dũng: - Cháu vào nhà đi Dũng đang học bài đấy
Hà: - Cháu cảm ơn bác Cháu xin phép bác
(Tiếng Việt 2 – tập 2, tr66)
Trên đây là nhữg cách thức để luyện nói hội thoại cho học sinh lớp 2 Trong tập làm văn lớp 2 gồm các kiểu bài tập dạy hội thoại sau:
* Kiểu bài tập dạy nghi thức lời nói trong hội thoại
Nghi thức lời nói là những lời nói đã được xã hội quy thành chuẩn mực được sử dụng phổ biến trong giao tiếp
Dùng sai nghi thức lời nới đã là vi phạm chuẩn mực trong giao tiếp, điều đó dẫn tới các sai phạm, lỗi lầm trong quan hệ xã hội, thất bại trong giao tiếp Nghi thức lời nói chủ yếu dùng khi mở đầu và kết thúc cuộc giao tiếp, dùng khi thực hiện các công việc giao tiếp với các mục đích khác nhau
Dạy nghi thức lời nói là dạy văn hóa giao tiếp, là dạy tác phong văn minh, lịch sự trong quan hệ xã hội Việc dạy nghi thức lời nói được thực hiện bắt đầu từ cuối lớp 1
và tập trung ở lớp 2 và lớp 3 Trong đó ở chương trình lớp 2 chiếm phần lớn
a, Cấu trúc bài tập dạy nghi thức lời nói:
- Bài tập điền nghi thức lời nói:
Đầu bài kiểu bài tập này gồm một lời trao hay lời đáp Cũng có khi SGK dùng tranh, ảnh mô tả tình huống giao tiếp, trong đó một nhân vật nói lời trao hay lời đáp Học sinh sẽ căn cứ vào các dữ liệu đã cho, đóng vai nhân vật còn lại để viết tiếp lời đáp hay lời trao là một nghi thức lời nói
Trang 30Sau đây là bài tập gồm lời trao, người làm bài cần điền lời đáp là một nghi tức lòi nói
Viết lời đáp của Nam trong tình huống sau:
Một người lớn tuổi chào Nam:
- Chào cháu
- …………
(Tiếng Việt 2, tập 2, tr.12)
Còn bài tập sau lại dùng tranh để minh họa tình huống giao tiếp và nêu ra nhiệm vụ của người làm bài:
Theo em, các bạn học sinh trong hai bức tranh dưới đây sẽ đáp lại thế nào:
(Tiếng Việt 2, tập 2, tr.12)
- Bài tập lựa chọn nghi thức lời nói phù hợp với tình huống giao tiếp:
Đề bài tập gồm vài ba câu miêu tả tình huống giao tiếp sau đó đề bài đưa ra yêu cầu học sinh đưa ra một nghi thức lời nói phù hợp
Đề bài đó có thể có tranh minh họa hay không có tranh minh họa cho tình huống giao tiếp
+ Đề bài đòi hỏi người làm bài đưa ra lời chào :
Nói lời của Nam chào bố mẹ để đi học
+Đề bài đòi hỏi người làm bài đưa ra lời cảm ơn:
Em quên chiếc áo mưa trong lớp, quay lại trường để lấy Bác bảo vệ sắp đi nghỉ, thấy em xin vào, bác mở cửa nói: “cháu vào đi” Em quay lại đáp thế nào?
(Tiếng Việt 2, tập 2)
Em đoạt giải cao trong một cuộc thi (kể chuyện, vẽ hoặc múa, hát…) các bạn chúc mừng Em sẽ nói gì để đáp lại lời chúc mừng của các bạn?
(Tiếng Việt 2 – tập 2)
Trang 31Mục đích, ý nghĩa của bài tập này nhằm rèn luyện việc vận dụng các nghi thức lời nói phù hợp với các tình huống giao tiếp đề bài đã ra Tình huống giao tiếp chung của kiểu bài tập này có thể mô tả như sau: giữa các nhân vật xuất hiện những hoạt động (trao đổi, tranh luận ) đòi hỏi dùng nghi thức lời nói để giao tiếp Trong hoàn cảnh ấy lời đáp nên như thế nào nếu người mở đầu dùng nghi thức lời nói đúng chổ? Hoặc lời trao nên như thế nào nếu người đáp dùng nghi thức lời nói đúng chổ
Để xác định đúng nghi thức lời nói đáp lời hoặc trao lời, người làm bài cần tiến hành hai bước:
+ Xác định hoàn cảnh giao tiếp được mô tả trong đề bài là hoàn cảnh nào?(làm quen, cảm ơn Xin lỗi, đề nghị, yêu cầu…)
+ Lựa chọn nghi thức lời nói phù hợp
Công thức của lời trao hay lời đáp gồm: nghi thức dùng trong các hoàn cảnh giao tiếp đặt ra cộng với lời tỏ rõ phép lịch sự phù hợp quan hệ cá nhân các nhân vật giao tiếp
Ví dụ: Cùng lời “ cảm ơn” nhưng với người lớn tuổi, để thể hiện sự kính trọng, lễ phép, phải dùng thêm từ cháu ở trước hoặc từ ạ ở sau hoặc cả hai từ (cháu cảm ơn hoặc cháu cảm ơn ạ)
Với các bạn cùng tuổi thì chỉ cần dùng thêm từ “bạn” ở sau từ “cảm ơn” Với các
em nhỏ tuổi thì cần dùng thêm từ “em” sau từ “cảm ơn”
Ở loại bài tập này, chúng ta cần lưu ý về cách dùng nghi thức lời nói khi làm quen và khi nói xong một nghi thức lời nói chúng ta cần lưu ý điều gì?
Về cách dùng nghi thức lời nói khi làm quen, theo nguyên tắc chào hỏi khi gặp gỡ hoặc làm quen thì người chào dùng cách chào nào, người trả lời phải dùng cách đó để đáp lời hai tình huống làm quen gặp gỡ minh họa trong hai tranh trình bày ở mục a, mỗi chị phụ trách dùng cách chào và làm quen khác nhau
Chị phụ trách ở tranh thứ nhất dùng cách chào trực tiếp, đơn giản:
Chào các em
Chị phụ trách ở tranh thứ hai dùng cách làm quen khác, giới thiệu tên và nhiệm vụ của mình
Chị tên là Hương Chị được cử phụ trách sao của các em
Trong hai trường hợp trên, khi đáp lại lời chào của chị phụ trách, các em nhi đồng nên dùng cách nào?
Đúng với nguyên tắc chào hỏi, các em nhi đồng phải dùng hai cách khác nhau để đáp lại lời chào của chị phụ trách
Ở tranh thứ nhất, các em nhi đồng nên dùng lời chào trực tiếp:
Chúng em chào chị ạ!
Hoặc em chào chị ạ!
Trang 32Ở tranh thứ hai, các em nhi đồng sẽ dùng cách tự giới thiệu tên mình và nhiệm vụ của mình tương ứng với lời chào của chị phụ trách:
Em là Trang Em ở sao nhi đồng do chị phụ trách ạ
Trong nhiều trường hợp, khi nói xong một nghi thức lời nói, cần nói thêm một vài câu để khơi mào cho đề tài giao tiếp xuất hiện:
Sau khi cảm ơn các bạn đến chúc mừng vì em đoạt giải cao trong một cuộc thi,
em có thể nói thêm:
Phần thưởng tôi đạt được hôm nay cũng là phần thưởng toàn đội (lớp, tổ…) của chúng ta
Sau khi chào hỏi, làm quen với chị phụ trách, các em có thể nói thêm: Chiều nay
chúng em họp sao, mời chị đến dự với chúng em
Dù sử dụng nghi thức lời nói nào đi chăng nữa nhưng điều quan trọng là cuộc hội thoại diễn ra đảm bảo tuân thủ đúng các quy tắc hội thoại đó, cuộc hội thoại giữa các nhân vật diễn ra thuận lợi
* Kiểu bài tập đáp lời hoặc trao lời trong các tình huống giao tiếp
Kiểu bài tập này được tập trung nhiều trong chương trình tập làm văn lớp 2 Một cuộc hội thoại bao giờ cũng có lời trao và lời đáp Trong một tình huống giao tiếp nếu đề bài đã cho lời trao thì đòi hỏi học sinh phải đưa ra lời đáp phù hợp và ngược lại Hiểu theo nghĩa hẹp, kiểu bài tập sử dụng nghi thức lời nói là một dạng đặc biệt của kiểu bài đáp lời hoặc trao lời trong tình huống giao tiếp
a, Cấu trúc bài tập đáp lời hoặc trao lời:
Có hai dạng đề bài tập loại này:
- Dạng đề 1: Cho sẵn các lời trao trong một chuổi các cặp thoại liên tiếp nhưng
lời đáp thì bỏ trống, nhiệm vụ của người làm bài là điền vào đó các lời đáp phù hợp
Ví dụ1: Viết lời đáp của Nam vào vở:
- Sơn bị sốt Cô nhờ cháu chuyển giúp cô đơn xin phép cho Sơn nghỉ học
(Tập làm văn 2, tập 2, tr 12)
Ví dụ 2: Nói lời đáp của em
a,
- Mẹ ơi, đây có phải là con hươu sao không ạ?
Trang 33- Phải đấy con ạ
- ………
b,
- Con báo có trèo cây được không ạ?
- Được chứ! Nó trèo giỏi lắm
- ………
c,
- Thưa bác, bạn Lan có nhà không ạ?
- Có, Lan đang học bài ở trên gác
- ………
( Tập làm văn 2, tập 2, tr 49)
- Dạng đề 2: cho một tình huống giao tiếp, yêu cầu người làm bài đưa ra một lời
đáp để hoàn chỉnh đoạn thoại phù hợp tình huống đó
Ví dụ: Nói lời đáp của em trong các trường hợp trên:
a, Em muốn mượn bạn quyển truyện Bạn bảo: “Truyện này tớ cũng đi mượn”
Em đáp lời thế nào?
b, Em xin đi chợ cùng mẹ Mẹ bảo: “Con ở nhà học bài đi” Em đáp lời thế nào? (tiếng Việt 2, tập hai, tr.123)
b, Phương pháp chuẩn bị lời đáp:
- Ở kiểu bài tập này người làm cần trải qua 4 bước:
+ Bước 1: Rút ra tình huống giao tiếp (với dạng đề1) hay suy ngẫm về tình huống giao tiếp (với dạng đề 2)
+ Bước 2: Đưa ra lời đáp dự kiến
+ Bước 3: Xem xét tính phù hợp của lời đáp với tình huống giao tiếp
+Bước 4: Sửa chữa, hoàn chỉnh lời đáp
Ví dụ: Dự kiến lời đáp của người con trong đoạn thoại sau:
- Mẹ ơi, đây có phải con hươu sao không?
- Phải đấy con ạ
- ………
Sách giáo khoa Tiếng Việt 2 tập hai đã đưa ra ba lời đáp để học sinh lựa chọn
- Trông nó dễ thương quá!
- Nó giống con hươu trong phim thế, mẹ nhỉ?
- Nó xinh quá!
Với cách ra đề như trên, học sinh sẽ bỏ qua bước 1 và 2 để đi ngay vào bước 3 và
4 Trong ba lời đáp dự kiến, lời đáp nào là phù hợp? về nội dung giao tiếp, lời đáp thứ hai phù hợp với những gì hai mẹ con đang trò chuyện (bàn về con hươu sao) và phù hợp tình cảm thân thiết của hai mẹ con (nhờ câu nói biểu cảm: mẹ nhỉ?)
Trang 34Còn lời đáp thứ 1 và tứ 3 tuy phù hợp với nội dung giao tiếp (cùng nhận xét con hươu) nhưng lại thiếu các từ biểu thị tình cảm cho phù hợp quan hệ mẹ con trong cuộc đối thoại này
Người đọc cảm thấy hai lời đáp này, về mặt tình cảm chưa ăn nhập với quan hệ mẹ con trong cuộc hội thoại Do đó, cần có sự sửa chữa, hoàn thiện lời đáp thứ 1 và 3 Phương án mới của lời đáp thứ nhất và thứ ba sau khi hoàn thiện sẽ là:
- Trông nó dễ thương quá, mẹ nhỉ?
- Mẹ ơi, trông nó dễ thương quá!
- Mẹ ơi, nó xinh quá!
- Nó xinh quá, mẹ nhỉ?
* Kiểu bài tập xử lí trọn vẹn một tình huống giao tiếp
Các đề bài trình bày trong mục 1 và 2 có đặc điểm giống nhau là tạm thời phân tách các đoạn thoại khỏi cuộc giao tiếp, đồng thời lại tách lời trao, lời đáp ra tạo nên các tình huống cụ thể, chi tiết để người học có thể tập xử lí Làm các kiểu bài tập trên, học sinh mới được tập dượt các kĩ năng bộ phận (kĩ năng tìm lời trao hay đáp phù hợp với tình huống giao tiếp) nhưng không được tập các kĩ năng có tính tổng hợp thực hiện trọn vẹn một đoạn thoại
Kiểu bài tập xử lí trọn vẹn một tình huống giao tiếp đã xuất hiện trong SGK Tiếng Việt theo chương trình Tiểu học năm 2001 nhưng chưa nhiều trong khi đây mới
là bài tập quan trọng để rèn kĩ năng hội thoại
* Cấu trúc đề bài:
Đề bài trình bày toàn bộ tình huống giao tiếp để học sinh tập xử lí vậy tình huống giao tiếp ở đề bài loại này có gì khác với tình huống giao tiếp ở đề bài đáp lời hoặc trao lời, đề bài sử dụng nghi thức lời nói? Chúng ta cùng khảo sát các ví dụ sau:
Hãy phân tích sự khác nhau của ba tình huống giao tiếp sau:
a, Bạn tặng hoa, chúc mừng sinh nhật em
b, Bác hàng xóm sang chúc tết Bố mẹ đi vắng, chỉ có em ở nhà
c, Em là lớp trưởng, trong buổi họp mặt cuối năm, cô giáo phát biểu chúc mừng thành tích của lớp
(Tập làm văn 2, tập 2, tr.98)
Về mặt lí thuyết, nếu đề bài chỉ đòi hỏi người làm bài đưa ra một lượt lời trao hoặc đáp thì các yếu tố của tình huống giao tiếp phải có sẵn lượt lời đáp hoặc trao và
bỏ trống lượt lời còn lại
Đề bài a và c là loại đề bài như vậy Ở hai đề bài này, căn cứ vào nội dung trình bày trong đề thì lời chúc của bạn hay ý kiến phát biểu của cô giáo đã có Người làm bài chỉ cần nói lời cảm ơn bạn bè, cô giáo là hoàn thành cuộc hội thoại đó Không cần
Trang 35thêm bất cứ một lượt lời nào khác dù là lời trao hay đáp Đó là tình huống giao tiếp đóng
Ngược lại đề bài b có đặc điểm khác so với hai đề bài còn lại Đây là một tình huống giao tiếp có thể xử lí theo hai hướng:
+ Theo hướng một tình huống giao tiếp đóng:
Em bé khi mở cửa thấy bác hàng xóm đứng ngoài cửa nói rằng “Bác đến chúc tết
bố mẹ” Lúc này em chỉ cần nói lời cảm ơn bác kèm theo thông báo bố mẹ không có
nhà Trọn vẹn hơn em có thể mời bác lúc khác (chiều, tối…) đến thăm bố mẹ Đến đây tình huống giao tiếp kết thúc Cách xử lí này giống như cách xử lí đề a và c nêu trên + Theo hướng một tùnh huống giao tiếp mở:
Thực hiện đề bài theo hướng giao tiếp mở có ngiã là em bé phải thực hiện trọn vẹn một cuộc giao tiếp này, gồm các công việc: Mời bác hàng xóm vào nhà, em đại diện cho bố, mẹ chúc tết bác, trò chuyện với bác cho đến khi bác ra về…Như vậy, việc thực hiện đề bài không hạn định trong một đoạn thoại ngắn hay một cặp thoại tách rời Lúc này cuộc tiếp bác hang xóm là một buổi chúc tết có đầy đủ các màn chào hỏi, chúc tết, trò chuyện và kết thúc Dĩ nhiên điều này chỉ có thể xảy ra với điều kiện em học sinh đã lớn tuổi, đã đủ tư cách, kinh nghiệm thực hiện cuộc tiếp khách chúc tết Tóm lại đề bài yêu cầu xử lí trọn vẹn một cuộc giao tiếp là một đề bài đưa ra tình huống giao tiếp mở Đặc điểm của tình huống giao yiếp mở là các yếu tố đòi hỏi cuộc giao tiếp diễn ra qua nhiều đoạn thoại, có đoạn thoại mở đầu, có đoạn thoại phát triễn chủ đề và có đoạn thoại kết thúc cuộc giao tiếp Ngược lại tình huống giao tiếp đóng là tình huống giao tiếp chỉ đòi hỏi thực hiện một lượt lời trao hoặc đáp rồi kết thúc
1.2.2.2 Các kiểu bài dạy hội thoại trong tập làm văn nói ở lớp 3
* Kiểu bài rèn kĩ năng trao – đáp qua quan sát theo tranh
Ví dụ:
Quan sát các tranh dưới đây và cho biết những người tri thức trong các bức
tranh ấy là ai, họ đang làm việc gì?
(Tiếng Việt 3 – tập 2)
Trang 36Bài tập này yêu cầu nói đúng nghề nghiệp, công việc của từng người trong bức tranh Đưa ra những câu trao – đáp phù hợp với nội dung bức tranh Hỏi – đáp với nội dung ngoài bức tranh xoay quanh nghề nghiệp của từng người
Bài tập này có thể được tiến hành lồng ghép với dạy hội thoại cho học sinh thông qua việc để học sinh tự hỏi – đáp về nội dung của từng bức tranh theo chủ đề có sẵn
Một bài tập khác ở tuần 34 cũng thể hiện rõ kiểu bài này
Ví dụ:
Nghe và nói lại từng mục trong bài “Vươn tới các vì sao”
(Tiếng Việt 3 – tập 2)
Bài tập này yêu cầu học sinh trao đổi về tên con tàu vũ trụ, người đầu tiên đi trên con tàu vũ trụ đó…Yêu cầu học sinh đáp lời đúng với nội dung lời trao một cách rõ ràng,
tự tin, biết đặt câu hỏi xoay quanh chủ đề luyện nói, đưa ra câu trả lời phù hợp theo quy tắc hội thoại Bên cạnh đó giúp học sinh có niềm tự hào dân tộc
Mục tiêu của bài tập này đòi hỏi học sinh phải nói rõ ràng, rành mạch Tự nhiên, đúng mục đích giao tiếp Có sự luân phiên lượt lời, nói theo các quy tắc hội thoại đã được quy định và giáo dục niềm tự hào dân tộc
Với bài tập này, học sinh cần tiến hành hỏi đáp, trap đổi với nhau về nội dung của từng bức tranh thông qua đó phát triển khả năng nói một cách tự nhiên Đồng thời đòi hỏi ở giáo viên kỹ năng đưa ra vấn đề Nếu vấn đề đưa ra không hợp lí thì sẽ không rèn luyện được kĩ năng đố thoại của học sinh mà nhiều khi còn trở thành bài độc thoại Ở lớp 3, các bài tập theo mẫu trao – đáp này khó hơn ở lớp 2, bởi vì giáo viên không đưa sẵn lời trao hay lời đáp mà chỉ đưa ra các bức tranh cùng với kênh chữ ở SGK, học sinh phải tự tiến hành trao đổi hỏi – đáp cho đúng nội dung Câu hỏi của học sinh cũng rất phong phú và có nhiều kiểu đáp lời khác nhau Giáo viên cần lưu ý là phải lắng nghe và đưa ra lời nhận xét, bổ sung cho học sinh
Ở kiểu bài tập này, người làm phải trải qua 4 bước
Bước1: Rút ra tình huống giao tiếp (dựa vào bức tranh) và suy ngẫm về tình huống
giao tiếp
Bước 2: Học sinh đưa ra lời trao, học sinh khác đưa ra lời đáp dự kiến phù hợp lời trao
(tổ chức theo nhóm đôi)
Bước 3: Xem xét tính phù hợp của lời trao – đáp so với nội dung của bức tranh và
kênh chữ ở SGK
Bước 4: Nhận xét, chỉnh sữa, hoàn chỉnh lời trao - đáp
* Kiểu bài tập trao đổi theo chủ đề cho trước
Trang 37Ví dụ :
Nói những điều em biết về Đội TNTPHCM
(Tiếng Việt 3 – tập 1)
Đây là dạng bài dạy hội thoại đòi hỏi ở người học có những hiểu biết tương đối cao về các quy tắc tham gia hội thoại Để thực hiện được dạng bài tập này học sinh phải tiến hành không chỉ một cặp thoại mà là nhiều cặp thoại liên quan đến chủ đề Các đoạn thoại nêu ra phải có mối quan hệ lẫn nhau và phù hợp với chủ đề đã chọn
Ở bài tập trên người đưa ra lời trao có thể trực tiếp hay gián tiếp nêu ra câu hỏi để các bạn trong tổ mình tiến hành trả lời và thảo luận ý kiến với nhau Khi dạy bài này, nhiều giáo viên thực hiện như khi thảo luận nhóm, tức là giáo viên nêu câu hỏi? sau đó học sinh sẽ trả lời để đưa ra các ý kiến khác nhau Tuy nhiên cách dạy đó chỉ thực sự phát huy tính tích cực của học sinh và kĩ năng hội thoại cho học sinh Dạng bài tập này chỉ hiệu quả khi giáo viên chỉ nêu yêu cầu các em đọc yêu cầu của bài tập rồi thảo luận với các thành viên trong nhóm về cách tiến hành hội thoại.Có nghĩa là học sinh sẽ thảo luận để đóng vai một nhóm học tập để bàn về chủ đề đó Mỗi nhóm đóng vai thì các nhóm khác theo dõi và nhận xét Như vậy các em sẽ được tiến hành đóng vai theo chủ đề đặt ra
* Kiểu bài tập tự tổ chức một chủ đề trao đổi
Ở dạng bài tập này, học sinh không nhất thiết phải lựa chọn các chủ đề trong SGK mà
có thể tự chọn chủ đề mà các em quan tâm, điều đó giúp tư duy sáng tạo của học sinh phát triển Đồng thời kĩ năng đối thoại tự nhiên được rèn luyện và phát triển Qua đó giúp học sinh tự phát triển cuộc thoại và kiểm soát lời thoại của mình
1.3 THỰC TRẠNG DẠY – HỌC TẬP LÀM VĂN NÓI CHO HỌC SINH LỚP 2,
3
1.3.1 Qua dự giờ
Tôi đã tham gia dự giờ tập làm văn dạy học các nghi thức lời nói: Đáp lời chào,
lời tự giới thiệu (tuần 19), đáp lời cảm ơn (tuần 21), đáp lời đồng ý (tuần 25), đáp lời chia vui (tuần 28), đáp lời an ủi (tuần 33) của chương trình lớp 2 và các bài ở chương trình lớp 3: Giới thiệu hoạt động (tuần 14), nói về người lao động trí óc ( tuần 22), nói
Trang 38về bảo vệ môi trường (tuần 32) ở Trường Tiểu học số 2 Bắc lý trong năm học 2015 –
2016 Những vấn đề mà tôi tập trung theo dõi trong các tiết dự giờ là: quy trình dạy học tập làm văn, kĩ năng nói của học sinh lớp 2,3 kĩ năng ứng xử, xử lí tình huống trong giao tiếp của học sinh lớp 2,3 trường Tiểu học số 2 Bắc Lý
Nhìn chung, cách thức dạy học đã có sự chuyển theo hướng tăng cường hoạt động của học sinh, theo phương pháp mô hình dạy học mới VNEN Hội thoại là kĩ năng nghi thức lời nói, là nền tảng nội dung để rèn luyện kĩ năng đó chính là mục tiêu của chương trình SGK Tuy nhiên, phần lớn giáo viên chưa nắm vững mục tiêu này Sau mỗi bài tập hội thoại, học sinh chỉ mới được nhận xét, uốn nắn về kĩ năng diễn đạt lời nói (trao đáp có rõ ràng, trôi chảy không, đủ to không) Lẽ ra ở mỗi bài tập, giáo viên phải xác định rõ hành vi nói năng cần hoàn thành cho học sinh là gì, để thực hiện hành vi này cần đảm bảo những nghi thức nào, điều kiện nào Sau đó xem xét sự phù hợp giữa lời trao đáp của học sinh với các nhân tố: hoàn cảnh, mục đích, nội dung, việc giao tiếp đã cho trong bài tập Giáo viên còn bỡ ngỡ khi tổ chức hoạt động nói năng cho học sinh, chưa biết cách giúp học sinh tham gia giao tiếp một cách tự nhiên Nhiều giáo viên chỉ dừng lại ở chổ giúp học sinh hoàn thành nội dung bài tập trong vở bài tập Chưa gắn việc học các nghi thức lời nói trong chương trình với các cuộc hội thoại thường ngày để tạo thói quen
Giao tiếp có văn hóa cho học sinh rất quan trọng thế nhưng việc rèn luyện các yếu tố phi ngôn ngữ trong giao tiếp hầu như chưa được quan tâm Tất cả các dạng bài tập cần có phương pháp dạy học phù hợp theo quan sát thực tế 90% giáo viên chưa chú ý đến vấn đề này Tất cả các dạng bài tập đều được thực hiện quy trình: học sinh nêu yêu cầu bài tập,các nhóm thảo luận phân vai, thể hiện trước lớp Mỗi bài tập chỉ có 4 - 6 học sinh tham gia, còn lại chỉ đóng vai khán giả Vấn đề dạy hội thoại được tiến hành theo các bài học đã được phân bố trong SGK Tuy nhiên, trong quá trình dạy tập làm văn,
kĩ năng hội thoại được rèn luyện khi học sinh hỏi - đáp, đóng vai giải quyết tình huống nên nhiều khi giáo viên thường chủ quan, chỉ dạy qua loa, nhiều khi bỏ qua không dạy Giáo viên thường dạy theo mẫu sẵn có sẽ hạn chế tiềm năng ngôn ngữ, khả năng biểu
cảm của học sinh Một thực trạng mà tôi cho rằng khá phổ biến hiện nay nữa đó là
nhiều khi giáo viên đã nỗ lực rất nhiều trong các giờ dạy nói để giờ dạy thực sự đạt hiệu quả, học sinh thực sự được thực hành hội thoại và giao tiếp Thế nhưng trong một
số trường hợp, nhiều học sinh vì thiếu kỹ năng hội thoại đã tự biến lời thoại của mình
thành lời độc thoại Người ta gọi hiện tượng này là “ Độc thoại hóa cuộc hội thoại”
Ví dụ:
Ở bài “Giới thiệu hoạt động” – (Tiếng Việt 3, tập 1, tr120) Hoạt động 2 đã được tiến hành như sau:
Trang 39Hoạt động 2: Thực hành
GV: HS đọc yêu cầu của bài tập
GV: Nhắc nhở học sinh dựa vào gợi ý
trong SGK để thực hiện yêu cầu
GV: Yêu cầu học sinh khá giỏi làm mẫu
GV: Yêu cầu làm việc theo nhóm
GV: Cử đại diện các tổ lên trình bày
HS: Đọc yêu cầu của bài tập HS: Xem phần gợi ý
HS: Theo dõi mẫu từ bạn HS: Làm việc theo nhóm + Đại diện các tổ lên trình bày
- Các nhóm khác nhận xét, đánh giá
- Giáo viên nhận xét
- Cả lớp bình chọn Bản thân tôi nhận thấy trong đoạn trích bài giảng này người giáo viên đã tổ chức cho các em hoạt động nói năng mà nói chính xác hơn là hoạt động độc thoại Qua hoạt động này các em cơ bản cũng đã được rèn luyện kĩ năng nói của mình, kĩ năng nói trước lớp Tuy nhiên, theo tôi như thế thì chưa đủ, qua các tiết tập làm văn nói như thế này các em không những được rèn luyện kĩ năng độc thoại mà còn được luyện kĩ năng hội thoại, kĩ năng ứng xử linh hoạt, kĩ năng đóng vai…
Ở bài này giáo viên nên tổ chức cho các em đóng vai một đoàn khách đến thăm lớp để tạo tình huống giao tiếp tự nhiên Giáo viên phải hướng dẫn để học sinh trao đổi với nhau để nắm được hoàn cảnh giao tiếp, mục đích giao tiếp, nhân vật giao tiếp trong tình huống này như thế nào?, đưa ra cử chỉ, điệu bộ nên dùng?, giọng nói ra sao? Sau khi các nhóm thể hiện tình huống giao tiếp xong, giáo viên nên cho các nhóm khác nhận xét theo các tiêu chí cụ thể, tiến hành cho các nhóm thể hiện để so sánh giữa các nhóm từ đó rút ra những câu nói, giọng nói, cử chỉ, điệu bộ nên dùng cũng như những nội dung sâu sắc và phù hợp nhất…Như vậy thì tiết học nó sẽ hấp dẫn, lôi cuốn hơn mà đặc biệt là các em được hội thoại nhiều hơn, tích cực hơn từ đó làm nâng cao khả năng sử dụng ngôn ngữ, khả năng diễn đạt bằng lời nói, khả năng thực hiện trao – đáp và khả năng biểu cảm trong giao tiếp
1.3.2 Qua phiếu hỏi
Chúng tôi cũng tiến hành khảo sát 66 HS và 4 cô giáo ( khối 2) và 50 HS và 4 cô giáo (khối 3) ở Trường Tiểu học số 2 Bắc Lí trong năm học 2015 - 2016 theo phiếu hỏi Nội dung phiếu hỏi dành cho HS gồm 5 câu hỏi tập trung khảo sát xem có những hoạt động nào diễn ra, HS chú ý vào vấn đề nào khi học các bài rèn kĩ năng nói, kĩ năng Trao lời - Đáp lời và đặc biệt khảo sát sự hiểu biết của các em về thái độ lịch sự,
Trang 40văn minh trong tiết TLV Kết quả là qua các câu trả lời của học sinh đã cho thấy các
em có rất ít hiểu biết về hoạt động HT trong giờ TLV của HS và cho thấy HS vẫn còn thụ động chưa có nhu cầu giao tiếp và không muốn giao tiếp trong khi học TLV
Qua phiếu hỏi đối với 116 HS đã đưa đến những kết quả khảo sát ban đầu như sau:
Câu hỏi 1: Em có thích những giờ học Tập làm văn nói không?
Câu trả lời Số lượng Tỉ lệ
Câu hỏi 2: Trong quá trình học Tập làm văn nói em thích nhất hoạt động nào?
Câu trả lời Số lượng Tỉ lệ
Câu hỏi 3: Em sẽ áp dụng những nghi thức trao đáp đã được học khi nào?
Khi có hoàn cảnh giao tiếp phải giống hệt hoàn cảnh trao – đáp
Khi có hoàn cảnh giao tiếp khác hoàn cảnh trao – đáp trong bài tập
Khi có hoàn cảnh giao tiếp gần giống với hoàn cảnh trao – đáp