1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Những bài viết về thân thế sự nghiệp đại thi hào nguyễn du nhân kỷ niệm 240 năm (1965 2005) năm sinh

102 727 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 14,84 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với những đóng góp về tư tưởng và nghệ thuật như vậy, Nguyễn Du đã được Hội đổng hoà bình thế giới đưa vào danh sách 9 danh nhân văn hoá mà các quốc gia kỷ niệm đúng vào dịp 200 năm si

Trang 1

SỞ VẢN HOÁ VÀ THÔNG TIN HÀ TĨNH

N H Â N KỶ NIỆM 240 NĂM (1765-2005) NĂM SINH NGUYÊN DU

Chỉ đạo n ộ i d u n g : NGUYỄN VĂN CÔNG

GIÁM ĐỐC THƯ VIỆN TỈNH

Trang 2

I THAN THE NGUYÊN DU

Trang 3

phẩm mang đậm tính dân tộc, được

kết tinh của hai dòng văn học dân

gian và dòng văn học bác học Bác

Hồ đương thời là người đả thuộc

lòng và hieu sâu sắc vể truyện Kiều

Bác đã vận dụng sáng tạo ngôn ngữ

nghệ thuật truyện Kiểu để sứ dụng

vao trong cuộc sống và hoạt động

cách mạng của mình, bên cạnh đo

còn là nhu cầu thẩm mỹ, thú văn

chương lao nhã cùa Bác

Tử những ngày Bác dang còn

hoạt động ở nước ngoài khi noi, khi

viết Bác thường dùng những câu

phỏng Kiểu làm cho người nghe

người đọc cảm thấy gần gùi vứa dẻ

hỉeu vừa giản đơn trong cách viết

Trong bức thư gữi cụ Phan Chu

Trinh năm 1924 Bác đã lẩy câu

Kiéu của Nguyễn Du "Chọc trời

khuấy nước mặc dầu" dể viết ý cún

minh: "Chọc trời khuây nước dùng

đùng/ Phải có kiên cưởng mới gọi

hung"

Khi xa Tổ quốc đêm khó ngũ, để

vơi bớt nỗi nhớ nhà nhớ nước, nhiều

lần Bác gọi bạn bè tri kỷ, đổng chí

của minh lại để đọc Kiều Trong

cuốn truyện Trần Phú, nhà văn Sơn

Tùng đã từng viết: Ngày đầu Trần

Phú từ đất nước Nga trơ vể Trung

Quốc gặp Bác, đêm nằm ngú, Bác

đã đọc Kiểu cho Trần Phú nghe,

trong đó có những câu:

"Tình sâu m ong trả n ợ dày

Hoa kia đã chắp cánh náy cho

chưa?"

Khi Irở về Tổ quốc trên những

nẻo đường kháng chiến, Bác đa

lửng nhen nhóm niềm say mô

truyện Kiều với nhiều đồng chí bằng

cách giảng cho họ hiểu, phân tích

cho họ nghe và giúp họ học thuộc

đường vừa k ể chuyện" Xác giá Trán

Lan đã viét "Khi rli cỏny tác Bác (lã đọc cho Iigho vá (lay cho c.-ic cán

bộ (li Ih-eu hoc tưny don rì và yini thich ý n yhin Urny cnu tưng chữ trong truyên Kiếu"

Sau này tiony nhiổu bni thư cám

ơn ban bè Bác cung thường láy tứ cúa các câu ttiơ trong truyện Kiéu

dể nói lên ý nghĩ cùa mình Trà lời

nữ thi sý Hằng Phương Irong bài

"Cảm ơn người tăng cam" Bác Hổ cJã viôt:

“Ăn quà nhở ké trổng cny Biét dâu khô tận ơèn ngáy cam lai"

Nhứnci năm tháng vố snu khi đn ttớ thánh líinli 'lu CIK1 IHÙI (J;in lóc, người dứng đnu nhn nước, mỗi khi đứng trước Oíic cuóc hop quốc liôi hay nói chuyên voi (lóng háo, Ríic vẫn (lunt| lõi |)hóri(| KÍỔII, lay KÍỒII

N ă m 1?)G0 n h à n (li|) lố ký n iê m .'?() nnm thaiih láp l)án<), B;ic lây Kiổti (lọc tini cãu thư cn Iigưi BàiiỊ) In:

"(JôỉÌ(J ơn ỉh iiụ i ỉilìi/ liir n lỏ iụ i

n hư non cao

Ba miroì náiìỉ iiy b icl hno lìlìiôa tình"

Ở buối khai ninc dai hội Đãng lần thư ba Bnc dùng tron cá câu Kiều:

"Dấn h ĩy ợ ló <7,1 tlhĩy (lây

Mà lóng ơ;ĩ cliác n lìu iig ngny một hai '

Trong bửc thơ yiiri clio thiêu nhi miền Nam nhân (lip lèì trung thu,

B á c đã nói lỏ n n ô i ư ớc m o n y n ư ớ c nhà SỚIII đưoc IhõiK) nluĩl, cric chrìu hai miền có diổn kiỏn găp Ini ihnu vui c h ơ i r.n hrit f) ô c h o cnr. n h n ti (lồ nhớ dỏ thuộc Híii; cunq dn dư, ì vào

cháu:

"Sno cho /V IHÌ f l h ' IIÌÕI nlì.i

Các (.hnu XI//;/ x il /rí In VUI òng"

Trang 4

Sau nửa thế ký xa quê lấn trờ h i

Bác m ượn ý th ơ cún câu KÌỔII lúi

Ngay cá khi gino liếp voi bím

bầu quốc tê B ác cúng dừng nhứng

câu phỏng K iều g â y thêm không khi

yêu cẩ u nhữ n g n gư ời củ n g di doc

ch o Bác nghe m ọt số (loạn Kiều

Khi bước lê n m n y b n y Róc (Ịim y 1.11

Hai câu đ ỏ (lư ợ c Bác phóng

theo K iéu như ng dó cú n g là lởi tiên

đoán củ a B ác trư ớc ch u yế n di đáy

th ắ n g lợi S au c h u y ế n đi ây một

tháng, c u ộ c kh á n g ch iê n chõng Mỷ

cứu nước cùa d â n tộc ta dược tát cà

nhân dân th ế g iớ i đ ổ n g tình ùng hộ

T h e o n hiều nhà nghiên cửu dã

viết: N hững nă m ho ạ t động cùa Bác

ở bất cứ nơi đâ u , vả o thời gian nào,

SUỐI quá trình làm việ c Bác Hổ luôn

luôn vận d ụ n g ca dao, th ơ ca cún

dân lộc, đ ặ c biệt là T ruyên K iều dỏ

nói và viết B ác vậ n dụng K iều khi

nói khi viết là d ể gây không khí VUI

vé, biểu hiện tin h nhân dân, lính

dân tộc, tinh thần lạc quan, dê m ọi

tử, lúc dùng cả câu th ơ hay cá doạn thơ, nhưng khi sứ dụng Kiều, Bác đã thể hiện tin h cả m m ới, cách sắp đặt cấu trúc ngôn n g ữ m ới, phù hợ p với nội dung h o à n cả n h cụ thể, m ang

đư ợc ý vị của th ơ ca K ể cả trước khi gặp các cụ C á c M ác, Lê Nin, viết di chúc để lại c h o cả dân tộc Bác cũng lẩy Kiểu:

“C on n o n cò n n ư ớ c còn N g ư ờ i Thắng g iặ c M ỹ ta s ẽ x â y dự ng

hơ n m ư ò i n g à y n a y "

Đ ọ c hai câ u th ơ lên làm ta liên

tư ờng đ ế n câ u th ơ tro n g truyện Kiều của N guyễn Du “C on non còn nước còn d à i/ C ò n vể cò n n h ớ đến ngày hôm nay" N hư ng hai c â u của Bác là

m ột lời h iệ u triệu, m ột lời dặn dò,

m ột lời thề đ ể lại trư ớc lúc đi xa Bác

s ử dụng n g ô n n g ữ và ý tứ truyện

K iểu tinh lê n h ư vậy, nên như báo

V ăn nghệ s ố 2 0 -1 9 8 8 đã viết "Đ ấy

là cách ứng xử tài trí và tầm nhln

đầ y lín h d ự b á o cùa Bác"

Bác H ổ vớ i tru yệ n Kiéu, lâu nay

dã có nhiều bài v iế t của n hiều nhả nghiên cứu, tất cả đề u ch u n g một

su y nghĩ: B ác th u ộ c Kiéu, sứ dụng nghệ thuật T ru y ệ n Kiều dế làm tuyên truyền, hoạt đ ộ n g c h in h trị,

p h ụ c vụ c á c h m ạng Nhưng bên

c ạnh dó B ác Hổ cò n là m ột nhà thư, luôn yêu cá i đẹp, luôn n gư ỡng mộ các v ĩ nhân, biết kê thừa tinh hoa văn hóa của dân tộc để sáng la o nét độc đáo trong văn pho n g của m ình,

vl vậ y m ỗi bà i viết, lời nói cùa Bác

có sức sống lâu bền trong m ỗi

ch ú n g ta C h in h vi lẽ đó Bác không chỉ là m ột nhà lãnh tụ xuất sắc, là người anh hùng giải phóng dân lô c

mà còn đư ợc cả thế giới tôn vinh -

4

Trang 5

VĂN HOÁ Chủ n h â t

Sô 1153 - Ngày 2 - 5/12/2005 HỘI THẢO KHOA HỌC

V ệ n m ã i l à

đ ề t à i h ạ i ỉ d ẫ n

TẮM THƯỢNG (L u p c th u ậ tì

ỉ)Ong dáo ctìc bạn sinh

v i 011

th u ộ c Illtiè ti

D ại bọc

ở UN dàn l i ự

H ội tháo.

Ả nh:

1 HÀN

n a ÁN i

Hâm trong các hoạt động hý nlộm 240 nảm ngày sinh Nguyẻn Du

(1765 2005) - nhã ttiirvi đại cùa dàn lờc - ngày 1.12 tai Hà Nội Bộ VH-

ìrr uầ UBND lin ti Ha rinh ăâ lổ chức HỘI thảo khoa học ' Dại thi hào

Nouyốn Du - dành nhàn vàn búa” ĩỉH dự bội tliảo cố các đống chỉ:

p m it t Khaa Đlổttt - Uỳ vtởn Bộ cttihh ỉrỊ, Bí Uiư T.ir Dáng ĩruứng

ban Tư tm hig' Vân hớa Ĩ.IT; Pham Gia Khiôm - Uý viôn ĩ.ư Đảng, Phớ

Thú urống Chỉnh phũ; Phạm Quang Nghị - Uỹ vtôn T.ư Dáng, Bộ tnrửng

Bộ VH-TĨ; Trán Dinh Dàn Bi thư Tinh uỹ Hà Tỉnh cúng nhiéu nhầ

nghiên cứu, nhà vàn hóa nhà

Trang 6

thơ-( ÓI.ỉ' 'lflv ;lt) Iiiìm thơ-(1465),

Môi tlc»»»>» lỉp t bình Iliố giãi

' linp, D;in}>, N lin imức tn (1.Ĩ

kv n iệ m tro n g lliô năm

N guyền Un, n h ìn 200 n.im

ng.ìv sinh cún ông.Từ đó đến

Iinv, (liĩ rú hòng nghìn trnng

vièt nghiên cứu vê tài năng,

cucV d à i v,ì sir Iig liiệ p

Ngu vồn l) ii I)ến hội lli.in tô

cliú c tro n g ilip nnv, Han lô

'.'lnrr Ịir p lục nliân (lirọr l>rn

70 tlinm luận cùa OÍC Imv: gió

tron>> và n poâi Iiư óc v ó i

n litìn p r n i Iil«ìn p lio n g pbií

và linh tê về nhà llw lứn cún

-ỊỈân tộc D ường như không

bao g iờ V ơl cạn tro n g m o i

.chứng ta Hhh yêu vô bờ bến

đành cho NgUỵễn Du, dành

cho Truyện Kiêu Tất nhiên,

k h i n ó l dên N g u y ễ n Du,

n g u ờ i ta thừờng nhắc trước

tác phâm bát hù, dã đ i sâu

vào đ ờ i sông văn hóa tin h

Ếhản cùa'nhân dan, như lò i

thơ của Tố Hữu "N g h ìn năm

'Ịể b n h ờ N ưoyễn D u / Tiếng

ịh u ơ H ỊỊ nh ư tiế n g mọ rũ

h iiứ n g ng à y" Có tác phSm

hào tìr cổ chi klm (V In (vfi cũng

hiếm trên lhê'giói) lại lạo đirục

m ột liiệ u ứng rộng r/li n litf

Vậy: dọc K iề u , ngâm K iêu,

v ịn h K iêụ, lây Ki?u rồ i búi

K iề u (7 N g h i Xuân, llà

Tinh, người ta vận cò nhữnj>

phường vài Nhiều câu Kiều

đã trở thành dân ca Dc lại

ớho hậu thế một kiệt tác như

vây, nhầ thơ đã không chi viêt

băng tài nShg lỗi lạc mà còn

cà trá i tin i nhân hậu Cuộc

đời mười máy nftm luu lạc rồi

lồm q u a li bất đcìc chí tro n g

g i r t i i l o ạ n l Ị i l n ư ú c « I l ố i l l i ố

kv XV'l ữ , ilầ ti thế kv XIX v.Vi

h 111 'lộn g, <1.1 (11 I,í<

clộng S.ÌII sắc đen lir tuông

s«í n}i» tn i ( lia Ngu vt’ iv I )’ti

I tái tim cún ngưừi n^lu* 'si liv tl.ì (1au dâu nôi đnti Ir.ĩn tlir Nhiều tham luận dirạc trinh Kìv và gùi tứi hội thảo đà <ỉi Síìu, p,óp pliần lý giãi những dóng f>óp to lón cũng nhu •inh íurtVng d ia Tru vón Kictt

v'»i 11CI1 v íu hóa dân u v Iròn

Đan) Dù lấy cốt truyện cùa

n liư n g N g u y ễ n Du đã tài tình sáng tạo một tác pliâm bát hú, có sức lay động lòng người, đề cập tới những vấn

đễ có tính nhân loại Điều n.ìv tiế p tụ c đ u ợ c nhiề u nha

n g h iê n cứu plìSn tích tiế p trên các góc độ: so sánh v.in bàn (N g u y ễ n llu ệ C hi, l.ệ Xuân Lií), loại hình và thể lon ỉ (PCỈS-TS N g u yễ n I t ừ ii San), văn hóa đo th ị phong kiốn IMur<mj» Dỏng (Nguyền Thị Hích I lọng) Nhiều ván

tiôp tụ r khai lhác, nghiôn (úm đirọc mội số l.íc già {lít ra nlnr:

gian hóa trong lộc người Kinh

ở ĩr u n g Q uoc (GS-TS Kiệu

Nguyễn Du viết Truyện Kiều (Nguyền Quàng Tuân) - Nhà nghiên cứu Mai Quôc l.iên đã

lo n g kêt có 9 phươnp pháp tiếp cận Nguyền Du cẩn đưạr li('|’ lục Iighión cứu

I r\ọ lónli (|un snng lác ciiii

NjMiy«Mi Du là chu H}»hin

I i l i â n d Ị O cno c n Nhiồu lliítm

liiiĩn nia rá r Inc RÌ/ Nj>uyín PliỊ»nj» Niim, 1 r.ìn Nllm lltin ,

lr il) ì liị l hnnlì - Hn I rn II

T l u i y U iK T D g đ ã 1 1 1»)l l i i n t

nùn khăng đ ịn h đ iê u này Hcn canh đó, m ột cái nhìn mói về Nguyễn Du dã (lưựi l’()S-IS Nguyền Triràng l.ịcli dặt rĩi: tâm trạng yêu nưóc và

V lliứ r dân tộc qua c h ũ m th ơ

v iê t năm 1813 trẽ n đ irà n g ônp đ i sú "V iệ c cũ d ờ i ĩ.ý Trần xa xôi khó tìm b iế t/T rà i quá ba trầm năm cho đến

ng ày nay/M ứ c th à n h lr Ioi lìà v phân clìia hai n ư ớ c /M ộ t cihi ải hùng vỉ ổ ứ iìỊị trniì f>iừn

th à o " cùa l.ê Cìu.ing Dịnli

Tại hội thảo nliieu vấn đp khác nữa như: d ịc li tlicr chữ Mán, d ịch T ru yệ n K iê u ra

tiế n g nước n g o à i, T ru yệ n Kiêu và đọc âm vận Tiêng Việt

thế kỷ XV1II-XIX, bào tồn, pliát huy các giá Irị văn hóa liên quán đốn N g u y c n Du trôn quê lurnng llà rin h , quàng

bá hình ảnh N guyễn Du ra thế piới cũng đ irợ r các I-|ỌC| già, nhà quán lý đặt ra RõI rnng, công tác nghiên cứu sự

n g liiệ p , cuộc đ ò i, các tác píiẩm cùn Nguvền Du s'c còn liế p lụ c và chắc clin n SP khống b.io già VCTÍ cnn.H

6

Trang 7

Văn nghệ

Số 51 (2396)- Ngày 17/12/2005 ĐẠI THI H À O N G U Y Ễ N DU

6iêu tượng văn ãoấ tỉnh thần của dân tộc

(Bài phát biểu của đồng chí Phạm Quang Nghị - ƯVTUĨ) - Bộ trưởng

Bộ VHTT, trong ỉễ kỷ niệm 240 năm năm sinh Đại thi hào Nguyễn Du

tại quê hương Hà Tĩnh)

Hà Tĩnh là vùng đất có nhiều những danh Ìihân văn hoá 1 ỗ y

lạc có những đỏng góp to lớn nbứ

Đăng Dung, NiỊuvễn Thiếp, PỊlum

Huy ích, Nguvễn Côny Trứ, Nguvễn

Huy Tự, Phan Đình Phùng, Trần

Phú, Hà Huy Tập v.v Cùng vởi

những tên tuôi sáng chói ây, Hà Tũih

rất tự hào là quê hương cùa đại thi

hào, danh nhân văn hoá Nguyễn Du

(1765-1820), một con người đã làm

rạng danh cho quê hương, đất nước;

một con người đã trở thành biêu

tượng văn hoá, tinh thần cao đẹp cùa

dân tộc Việt Nam.

Với cuộc đời hơn 50 năm,

Nguyễn Du đã miệt mài sáng tạo và

đê lại cho hậu thế một đi sản văn hoá

đồ sộ nhiều tác phẩm bất hủ, nổi bật

là kiệt tác Truyện Kiều, đỉnh cao thi

ca cổ điển Việt Nam Đánh giá cuộc

đời và sự nghiệp Nguyễn Du; trong

Chỉ thị số 112/CT-TVV ngày 26-10-

1965 của Ban Bí thư TƯ Đảng khoá

III viết: "Toàn bộ tác ph ẩm của ông

d ã m ô tả m ộ t cách sâu sắc xã h ội

p h on g kiêh thôi n á t của thời đại ông,

dã tô' cáo, phản kháng và p h ê phán những thủ đoạn tàn nhẵn, bất công■ , chà đạp lên vận m ệnh con người, đồng thời n ó i lên lò n g x ó t thương vô hạn cùa ông đ ố i v ớ i nhữ ng lớ p ngư ời bị áp bức, đau khô’.

Tắc ph ăm của N gu yễn Du có tính hiện thực và chứa chan tinh thân Iihân đạo Chúìh vì vậy, toàn hộ tác phârn cùa N guyễn Du, đặc biệt là Truyện Kiểu dược đ ôn g đảo nhân dân ta, từ th ế h ệ n à y qua th ế h ệ khác

h ết sức y ê u m ến ”.

Với những đóng góp về tư tưởng

và nghệ thuật như vậy, Nguyễn Du

đã được Hội đổng hoà bình thế giới đưa vào danh sách 9 danh nhân văn hoá mà các quốc gia kỷ niệm đúng vào dịp 200 năm sinh của ông Sự đánh giá của Đảng, Nhà nước, nhân dân ta và cộng đồng quôc tế đã khẳng định tầm vóc lớn lao của đại thi hào, một danh nhân văn hoá Tên tuổi và sự nghiệp của ông đã trở thành bâ't tử, vượt ra khỏi biên giới quốc gia, sống mãi trong lòng nhân dân ta và loài người tiến bộ.

Hôm nay, tại quê hương Hà Tữih, dưới bóng núi Hồng Lĩnh vời vợi

Trang 8

ÔNG PHẠM QUANG NGHỊ PHÁT B1EU TAI HỘI NGHỊ

thân thương, bên đòng sông Lam

hiền hoà, chúng ta tô’ chức trọng thể

lễ kỷ niệm 240 năm năm sinh của

N guyễn Du Với lòng tự hào, trân

trọng và biết ơn, c ả o thơm lần g iở

trước đèn, chúng ta nghiêng mình

tường nhâ, bổi hồi Đ ố t lò h ư ơ n g ấ y

so tơ p h ím n ày, đọc lại những áng

thơ lay động đất trời mà ông đã để

lại cho muôn đời sau Hơn hai thế kỷ

đã trôi qua, nhưng tư tưởng nhân

đạo, tình yêu thương bao la của

N guyễn Du dành cho nàng Kiểu và

những thân phận bị dập vùi, đau

khô trong xã hội phong kiến ữước

đây, chăng những không hề phai

nhạt mà càng làm cho chúng ta thấm

thìa nỗi đau trần thế mà ông từng

mang nặng, đê càng thêm quyết tâm

xây dựng quê hương, đất nước mau

chón^ mạnh giàu.

Thực hiện đường lối văn hoá văn nghệ của Đảng trong việc kế thừa và phát huy truyền thống văn hoá của cha ông, xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà

bản sắc dân tộc, chúng ta đặc biệt

trân trọng giữ gìn và phát huy di sản ván hoá mà đại thi hào, danh nhân văn hoá N guyễn Du đê lại Cùng với các hoạt động nghiên cứu, giảng dạy, xuất bản các tác phẩm về cuộc đời và sự nghiệp N guyễn Du, Đảng, Nhà nước ta hết sức quan tâm đầu tư xây dựng quần thê’ di tích Nguyễn

Du khang trang, đẹp đẽ, xứng với tầm vóc của đại thi hào Có thê nói, điều mà N guyễn Du trước khi từ giã

cuộc đ ờ i, ông đã từ ng bao lần băn

khoăn tự hỏi: " Bất tri tam bách d ư

n iê n h ậ u ; T ìiiê n hạ hà n h â n k h ắ p T ố

Như', đến nay, chưa đầy ba trăm

8

Trang 9

Bộ TRƯỞNG Bộ V H -rr PHẠM QUANG NGHỊ DẪN đ ầ u đ o à n c ô n g t á c bộ VH-TT VIẾNG M ộ ĐẠI THI HÀO NGUYÊN DU - HÀ TÌNH NGÀY 3-12-2005

năm, nhưng những người tri kỵ cùa

nhà thơ, những người hiêu rõ những

khô đau, chia xẻ cùng ông những

yêu thương, cãm giận, những người

yêu quý ông, như chính ông dã yêu

quý bao người khác, không phải quá

hiếm hoi như lúc đương thời ông

hằng trăn trở, mà là cá một đất nước,

một dân tộc đã, đang và mãi mãi

nhớ o'r>, vẽu quý và tự hào vé ỏng

Những người tới thăm viếng phán

mộ, thăm khu lưu niệm, thăm quê

hương Hà Tĩnh, ngâm ngợi Tru vện

Kiều, đọc thơ chừ Hán, tưỏng nhớ

đến ông Họ không chỉ là cháu con

dòng họ Nguyễn Tiên Điển, cùa quê

hương Hà Tĩnh, mà là hàng triệu,

hàng triệu người, đông đúc như cây

Ngàn Hông, dài như dòng sông Lam

đang ngày đêm ru giấc ngủ của

tự hào được kế thừa và phát huy đi sản của đại thi hào, danh nhân văn hoá Nguyễn Du Dí sản của ông là tài sản vô giá và là nguồn sức mạnh tinh thần của các thế hệ người Việt Nam.

Trong bầu không khí trọng thê của ngày kỷ niệm, ngước nhìn núi Hồng trông xuống đòng sông Lam, chúng ta dường như trông thây lồng lộng bóng đáng đại thi hào Nguyễn

Du cùng với bức tranh tuyệt mỹ do chính Người vẽ lên:

L o ĩiq lan h đ á y n ư ớ c in tr ờ i

T hẩiih x â y k h ó i biêc no n p h ơ i bóng vàng

Và trên cao, những áng mây đang bay lượn, như những vầng khói hương tưởng nhớ của tất cả chúng ta kính dâng lên Người.*

Trang 10

V ăn hoá Hà Tĩnh

Sô 87+ 88 - Tháng 10 + 11 năm 2005

XUNG QUANH

N G À Y SINH Đ Ạ I THI H À O NG UYEN D U

thưởng tổ chức kỷ niệm

Nguyễn Du vảo ngày 10-8

âm lịch là ngày nhà thơ mất

Nhưng do phong tục tập quán của

người Việt Nam ta nói riêng, người

Á Đông nói chung, thì ngày mất là

ngày đau thương, nếu kỷ niệm

vào ngày đó sỗ là trái với ý nghĩa

kỷ niệm một danh nhân Cũng vi

lẽ đó, nên năm 1965, Trung ương

Đảng và Chính phù đã quyết định

tổ chức lễ kỷ niệm 200 năm năm

sinh của Nguyễn Du vào ngày 25

tháng 11 năm 1965

Sau lễ kỷ niệm này, các nhà

nghiên cứu Văn học, nghiên cứu

lịch sủ đã cố gắng xác định chính

xác ngày sinh của Nguyễn Du

Năm 1966, cụ Lê Thước (đậu Giải

nguyên năm 1919, người xã

Trung Lễ, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà

Tĩnh), là ngưởi bắt tay vào nghiên

cứu Nguyễn Du và họ Nguyễn

Tiên Điền từ năm 1922, đã tiến

hành nghiên cứu, tìm đọc rất

nhiều tài liệu, văn tự Hán học cỏ

nói đến thân thế, sự nghiệp cùa

nhà thơ, để tìm ra kỳ được ngày

sinh của Nguyễn Du Tại thư viện

khoa học Trung ương (nay là thư

viện Hán Nôm), cụ tìm được cuốn

Nguyễn tộc gia phả, số ký hiệu

rõ ngày tháng và giờ sinh của

Nguyễn Du Đây là tập thế phả do

Vụ Bảo tổn bảo tàng sưu tắm

được năm 1956, gồm 36 tờ giấy

bản khổ nhỏ, ở tờ thứ hai tên sách

được ghi rõ hơn "Nghệ An N ghi

Xuần Nguyễn gia th ế phả”.

Trong tập thế phả này đoạn

chép về Nguyễn Du bên cạnh

dòng chữ "Ất Dậu niên sinh", cỏ

nhất nguyệt, nhị thập tam nhật,

dần thì" Có nghĩa là: Sinh năm Ất

Dậu, tháng 11, ngày 23 giờ Dần

Đối chiếu với dương lịch tức là

ngày 3 tháng 1 năm 1766 Theo lịch Biên niên thì năm Ãt Dậu (1765), là năm nhuận, có hai tháng 2, cho nên khi đỗi chiếu với dương lịch thi ngày sinh cúa Nguyễn Du đã bước sang tháng 1 năm 1766 được 3 ngày (hết ngày 8-2-1766 mới hết năm Âm lịch)

Theo cụ Lê Thước, cuối tập thế phả do cháu là Nguyên Y (con

truyện cùa Nguyễn Du, mờ đáu

như sau: "Còn trai thứ 7 (của Nguyễn Nghiễm) húy là Du, tự Tố Như, do bà trắc thất (vợ thứ) họ Trần sình Ông sinh năm Ãt Dậu, tháng 11, ngày 23, giờ Dần”.

Căn cứ vào tài liệu phát hiện được, cụ Lê Thước đã cho công

bố trên báo Thời Mới ra ngày 17 tháng 9 năm 1966

Trên cơ sớ đó, sau này ờ một sô' sách, bài viết trên các tạp chí, đặc biệt trẽn một số lịch xuất bản hảng năm, ngày 3-1 dương lịch ghi là ngày sinh Đại thi hào Nguyễn Du

Tuy vậy, một số nhá nghiên cứu cho rằng ngày sinh Nguyễn

Du được ghi trong tập Nguyễn tộc gia phả hiện được lưu giữ ớ Thư viện Hán Nôm có một số chi tiết còn nghi ngờ, thiếu tin cậy

Người đưa ra ý kiến phủ nhận tính chính xác của tư liệu trên là Giáo sư Nguyễn Thach Giang

Ồng là người cỏ thâm niẻn về nghiên cứu Truyện Kiéu và đã có nhiều đầu sách viết Truyện Kiều

và m ột câu th ơ Kiểu đãng trên

báo Vãn Nghệ, số 23 ngày 10 tháng 6 năm 1995, ông cho rằng điều này không đáng tin vì: Cuốn

Nguyễn tộc th ế phả mang ký

mới bổ sung (1958), về phần Nguyễn Du ghi đúng 7 dòng (Tờ 20a 3 dòng, tờ 20b 4 dòng) như

Sĩ HÓNG

Như, trắc thất Trần thị sinh giã, Át Dậu niên sinh", đây là dòng chính

ghi chữ lớn, song bên phải dòng cuối "Át Dậu niên sinh"có ghi một

nguyệt, nhị thập tam nhật, dần thời", 9 chữ này có màu mực khác

so với chữ trong bản thế phả, thế chữ cùng hoàn toàn khác

Theo Giáo sư Nguyễn Thạch Giang, thi với các bản gia phả hiện có, không có một bản nào ghi ngày sinh của Nguyễn Du, kê’

th ế phả” do Nguyễn Nghiễm khởi

soạn Cũng như Giáo sư Nguyễn Thạch Giang thi 4 chữ "Nguyễn tộc th ế ph ả " là do cụ Nguyễn

Mạnh Hàm cán bộ Thư viện Khoa học Trung ương thêm vào, Ngày nay, khi tiến hành nghiên cứu các thư tịch Hán Nôm, nếu căn cứ vào

SỖ chữ cùa người đời sau chua thêm vào, thì sẽ không thể chính xác được và người đời sau sẽ còn bán cãi mãi chuyện không đâu

Do có những y kiến trái ngược nhau như vậy, hơn nữa ớ các tư liệu trên còn nhiéu điểm chưa được làm sáng tỏ, thiếu thuyết phục, Nên dù Truyện Kiều được các nhà xuất bản in đi, in lại nhiều lần, nhưng khi giới thiệu thân thế Nguyễn Du đều ghi năm sinh là

1765 như từ trước tới nay vẫn thường ghi

Nãm nay (Ất Dậu 2005), kỷ niệm 240 năm năm sinh Nguyễn

Du, Bộ Văn hóa Thông tin và ủy ban nhân dân tỉnh Hà Tĩnh, đổng

tổ chức lễ kỷ niệm Các nhà tổ chức đã thống nhất, do chưa làm sáng tỏ được ngày sinh của Nguyên Du nên vẫn lấy năm 1765 làm căn cứ để tổ chức kỷ niệm như năm 1965 Đảng và Nhà nước

ta đã quyết định làm

Trang 11

V ăn hoá Há Tĩnh

- Tháng 10 + 11 năm 2005

SỐ 87+ 88

Tronă nhiều cuốn sách viết về rằn9: "Ty ồi trẻ N9uyẻn Du râì n ở

I Ng“ yf " KI: ả" ? 9'a đĩnh, đều làm quan ở Bấc, ca

không có tư liệu nào, kể cả gia phả,

* lỉ ứ ( l v tíè tt th ấ u

NGUYỄN DU SÓNG Ở ĐÂU?

viết rằng sau khi cha mọ mất

Gia phả họ Nguyễn Tiên Điển

(1765) niên hiệu cảnh Hung, tại

phường Bích Câu thảnh Thăng

Long (Hà Nội) Lén bảy tuổi Nguyễn

Nghiễm về hưu, Nguyễn Du theo

cha về Tiên Điền Sau này (1796),

khi vể Thái Binh vể quê, ông có ghi

lại sự kiện này trong bài '"Giang

Tàn quý chen mảy tựa hạc bay.

Từ đó áo xiêm nào thấy nữa,

Hai bờ cây cỏ xiết sầu thay.

Trăm năm lắm việc thương tâm

nhĩ,

Hẳn chốn Tràng An cũng khác

ngày.

(Bản dịch cùa cụ Nghè Mal -

cháu Nguyễn Du)

Theo tiểu sử Nguyễn Du mười

tuổi cha mất, mười ba tuổi mẹ mất,

vậy quãng thời gian từ khi cha mạ

mat đến khi ra Trấn Sơn Nam thi

Tam trường, Nguyễn Du sống ở

đâu?

ĐINH SỸ HỔNG

phẩm và lịch sử vãn bản xủa Nỹuyẽn Thạch Giang và Trương Chỉnh (Nhà xuất bản Thành phố Hỗ

gia và tác phẩm (Nhà xuất bản

ph ổ thõng , khi giới thiệu vềị thơ

Quốc âm Nguyễn Du lại bao Ò6m

Chiêu hồn thập loại chung sinh, Văn tế sống hai cô gái ĩrư ờng Lưu, Thác lo i trai phừong nón,

Với cách đánh giá và giới thiêu văn bản như trên thì còn có nhiều điểm thiếu nhất quán, cẩn phải làm

gái Trường Lưu, Thác lờ i trai phường nón là sáng tác Cua

Nguyễn Du, thl thời niên thiếu rõ ràng Nguyễn Du phải sống ở Tiên Điền

hai cô gál Trương Lưu, chủng tã

thấy thổi gian Nguyễn Du viết bài văn tế phải là những năm sau 1796, khi Nguyễn Du về song ở Tiên Điền

Lời bài văn cho ta thấy thời gian gặp nhau giữa o Uy, o Sạ và Nguyễn Du vào những năm Nguyên Du còn trai trẻ, thường cùng trai làng Tiên Điền

duyên với hai o Khi gặp lại, hai o đã

có gia thất cả rồi “Noi đến tên thì đã

mụ nọ, mụ kia" Lời bài văn tế thế

hiện tính kẻ cả, bề t|ên của cậu ấm con nhà danh giá "Ả nọ o này đông đức Anh kia chú nọ rình 010".

Ớ bài Thác lời trai phường nón lại có câu:

Ba sinh đành một kiếp hẹn hở Hai năm được mấy lán chung chạ.

Như vậy, ở hai bài thơ trên, chúng ta có thể khẳng định thời trai trẻ Nguyễn Du thường qua lại đất Trường Lưu Đây không thể là quãng thời gian sau khi thi Tam trưởng và ra làm quan

họ Nguyễn Tiên Điển ta thấy

không chỉ có dinh thự ở phường

trang địa ấp quan Đại Tư Đổ Nguyễn Nghiễm rất rộng lớn, dinh thự nguy nga đổ sộ Trong cuốn Nghi Xuan địa chí dó Lê Văn Diễn soạn năm 1824 còn ghi lại bài vè dân Nghi Xuân tả dinh thự của Nguyễn Nghiễm như sau:

Trèo lên Hồng Lĩnh mà trông Nhìn vể đã thấy dinh ông rỗ ràng

Lâu đài dãy dọc tòa ngang ông ngồi đọc sách nghiêm trang một mình.

(Võ Hổng Huy dịch)

Do vậy, khi không còn cha mẹ, Nguyễn Du có thể ve sống ở Tiên Điên Họ Nguyễn Tiên Điển có rất nhiều người đỗ đạt ra lảm quan, nhưng cung có một số con cháu đỗ đạt nhưng ở nhá làm nphề thuốc, nghề dạy học Thởi ấy, ơ làng Tiên ĐỈến phần đông là con cháu họ Nguyên sinh sống Ngoài gia đinh Nguyễn Nghiễm thi gia đình Nguyễn Trọng cũng rất đông đúc Nguyễn Nghiêm có 8 vợ, bà Đặng Thị Dương và Đặng Thị Tuyết sống

ở quê lo việc hứơrìg hoa to tiên ve

già mới ra Thăng Long ở với Nguyễn Khản, hai bà vợ cuối là Hồ Thị Ngạn và Hoàng Thị Thược thì sống tại dinh thự ở Tiên Điền, Nguyễn Khản 6 vợ, Nguyễn Điều 4

vợ Nói chung cha con, anh em Nguyễn Du hổi đó lấy rất nhiều vợ, không phải tất cả đểu ra sống ở Thăng Long

hai cô gái Trường Lưu, Thác lờ i trai phường nón, Nghi Xuân địa chí, Gia phả họ Nguyễn Tiên Điền, rất có khả năng sáu khi cha

mẹ mất Nguyễn Du ve sống tại Tiên Điền, sau này thi đậu Tam trường, Nguyễn Khản xin cho làm Chánh Thú hiệu Thái Nguyên mới trớ ra Bẳc

Trang 12

Ong Iiữu Ngọc, một nhà nghiên cứu, giới thiệu văn /lóa Việt ra

nước Itgoài, người được Giải "Cành cọ Hàn Lăm ” cúu Pháp, có lần nói với tôi: Nếu không cỏ Nguyễn Du (1765-1820) thì trong văn học Việt Nam xưa, ìỉhó chọn ai đ ể giới thiệu với bạn đọc nước ngoài Quá vộv, Truyện Kiều là tác phẩm dề đến với trái tim nhân

loại Lòng nhân ái, nỗi đau thăn phận, th ế giới nội tăm phong phú,

sâu sắc, cao thượng dã giúp Kiểu trở thành nhân loại Khi cả một dân tộc đau khổ, “đói nghèo trong rơm rạ” (C h ếL an Viẽn) mà đẻ ra một tác phẩm “thiên thu tuyệt diệu” như vậy, ih ật dáng kinh ngạc, tự hào N hư Đỗ Phủ, Nguyễn Du nói nỗi đau đời, thương người trong bao nước mắt Như Tào Tuyết Cần trong Hồng lău mộng, Nguyễn Du nói tình yêu và th ể giới bẽn trong con người, sự tự ý thức về nhăn phẩm ,

sự "giật minh mình lại thương mình xót xa” Như Pusơkin, Nguyễn Du

là người phối hợp tuyệt diệu thơ và truyện, và là người nông tiểììg mọ

đ ẻ cứa minh lẽn hàng ngôn ngữ dẹp và phong phú nhất, diễn tả được

tất cd các sđc thái tinh tế, săn xa cửa tỉnh cảm.

Chù nghĩa nhân đạo của Nguyễn Du ngcuìg tầm với chứ nghĩa nhăn

văn thời Phục Hưng châu Âu, lấy con người làm trung tâm vũ trụ,

ph á t hiện ra cá nhản con người, con người bôn trong con người Nguyễn

Du là m ột thiên tài mẹ (génic-mèrc) cùa Việt Nam, sánh được với các

"thiên tài m ẹ” khác cùa nhăn loại.

Chúng ta dã viết Iiỉiièu, dã nỊỊỈũôn cửu nhiều, đã giới thiệu ra nước ngoài và giảng dạ y Nguyễn Du trung trường học, nhưng Nguyền Du

1*3/1 còn là mội bí -'ỉn, thách thức, mời ịịọi.

Văn hóa Việt Nam nhìn vào Nguyễn Du mà tin tưởng Người Việt

N am nhìn vào Nguyễn Du, Nguyễn Trãi, Hồ Chí Minh m à vững bước

K ỳ niệm Nguyễn Du là m ột lẩn chúng la kiểm điểm lại hành trang văn hóa, suy nghĩ về chiến lược văn hóa ■ văn nghệ, chiến lược con người, giáo dục, khoa học đ ể chấn hưng, bảo vệ và p h át triển con người, văn hóa Việt Nam Và như vậy, có biết bao việc ph ải làm, bao ahiỀu việc cần đến 8ự góp tay góp sức cửa tấ t cả.

Dân tộc ph ải đ i dôi với nhân loại thời dại Chứng ta không bảo

vệ bản sắc dân tộc trong một cái vỏ ốc kin mlt Chúng ta phải đ i ra cùng nhăn loại và đ i lên cùng nhân loại, kịp nhân loại Các dân lộc khác, các nền văn khác có biết bao cái hay, cái tốt dẹp đã được tích lũy qua bao th ế kỷ, chúng ta còn học được quá ít Bản sắc dân tộc trong văn hóa ch ẩn gph ải là cái gì đứng im, không vận động, không biến cãi

mà cấn luôn tích hợp, biến đổi, gạn lọc v ề phương diện ấy, Nguyễn

Du cũng là m ột tấm gương, m ột điển hình Cho nên yêu Nguyễn Du, chúng ta không vọng ngoại cũng không bài ngoại.

Nhưng chẳng phải như ông chủ bút báo Nam Phong và sau đó là Thượng thư Phạm Quỳnh, hùng hồn tuyên bố ‘Truyện Kiều còn, tiếng

ta còn; tiếng ta còn, nước ta còn” I>à bị nhà chí s ĩ - nhà văn chính luận Ngô Đức K ể mắng cho là "con đĩ Kiều” Bởi nước ta sẽ không cùn, sẽ không nhữ hôm nay, nếu không có cuộc chiến đấu xương máu ■ thân thánh 30 năm, hàng th ế kỷ; và tiếng Việt Truyện Kiều sẽ không như hôm nay, dưới bầu trời thu trong xanh Tổ Quốc thống nhất và độc lậpM

12

Trang 13

V ăn hoá Hà Tĩnh

Số 87+ 88 - Tháng 10 + 11 năm 2005

ĐẠI THI HÀO NGUYỀN DU

VÀ KHU DI TÍCH HỌ NGUYỄN - TIÊN ĐIỀN

I - CUỘC ĐỜI VÀ Sự NGHIỆP

Nguyễn Du, tự Tố Nhự, hiệu

Thanh Hiên, sinh năm Ất Dặu

(1765), niên hiệu cảnh Hưng triểu

vua Lê Hiển Tông Nơi sính là

phường Bích Cảu, thành Thăng

Long (Hà Nội) Lúc bấy giờ, cha ông

là Nguyễn Nghiễm đang làm Tham

tụngT Bốn năm trước, ngưởi anh

cùng mẹ lè Nguyễn Nễ cung sinh

tại đây Bà Trần Thị Tẩn là con gái

thứ bá của một vị quan nhỏ coi vĩệc

sổ sách kế toán (chức Câu Kê) dứới

trướng Nguyễn Nghiễm, người xã

Họa Thiểu, huyện Đông Ngàn, tỉnh

Bắc Ninh (náy thuộc xã Hương

Mặc, huyện Từ Sơn) Bà sinh năm

Canh Thân (1740), thuộc dòng dõi

Tiến sỹ Trần Phi Chiêu (1549-1623)

- Thượng thư Bộ Hộ, kiêm Đô Ngự

Sử, tứớc Diệu Quận công Là một

phụ nữ nết na, xinh đẹp, lại sinh ra

tại xứ Kinh Bắc vùng quê quan họ

nên bậ đã có ảnh hơỏng lớn đến tâm hổn thd Nguyễn D:.‘ từ Iihidiq

n g á y CÒM b ỏ

Theo tộc phả của dòng ho Nguyễn Tiên Điển, tên 3 tuổi Nguyễn Du được phong ấm Hoằncj Tín đại trung thành môn vệ úy xuât thân th u Nhọc bá Với cái ham ấy Nguyễn Du đã đứng trong hàng ngũ

sỹ tịch của triều đinh nhà Lê, mặc

du không phải là một vị quan tại triều Nguyễn Du tướng mạo khồi ngõ, lêrl 6 tuổi bắt đấu đi học chữ Han, sách vờ chĩ cần xem qua một lấn là nhớ Năm Tân Mão (1771)t Nguyễn Nghiễm thôi giữ chức Tê iướng vể tri sỹ ở quệ nhà, Nguyễn

Du- cung theo cha về quê Tại Í>ỐI1

Giang Đinh, ỏng đã được chirtig kiến cảnh vinh hoa phú quý củạ gia đinh minh (sau này õng có nhắc lại trong bài thơ Giang Đinh hữu cảm)

Năm Binh Thân (1776), Nguyễn Nghiễm mất lúc Nguyễn Du rnớí 11

tuổi Híii năm sati (17/8), há Trán Thi Tan rũttq lâm bõnh rối m.iì (1 lụoi 3!), Nịịu/Ồii lỉu niti cỏi cá clK) lấn mẹ

Nguyên Nqltiỗm có 8 nyưởi V(I

nhưng chỉ có 2 bá ở quê lá Đặng Thị Dương (mẹ đẻ Nguyễn Khảti) và Dâng Thị Tuyết (mẹ dẻ Nguyễn Điếu)

Sau khi Nguyễn Nghiễm mất, gia cành không còn phong lưu như trước Tuy vậy, với địa vị và danh tiêng của qia tộc, Nguyễn Du vẫn là

"cậu Chiêu Bày" được mọi người ngưỡng mộ Một sõ tài liệu cho rang trong quăng thời gian này, ngoài viộo hoe hãnh, những ngây rõi rãi,

Ả n h trôn: K h u lu u n iệ m

N g u yê n D u lạ i 'liê n D iè n -

N i ị I ú X u â n

Ảnh: l \ v

Trang 14

► lễ tết Nguyễn Du thường vượt

truông Hống đò Cái vào Trường LỨU

hát ví và xướng họa thơ phú Đất

Truỡng Luu ngoài hát phuờng vải có

tiếng, còn là chỗ thông gia với họ

Nguyễn Tiên Điển Nguyen Huy Tư

- tác già Truyện Hoa Tiên là con rề

Nguyễn Khan (lấy bà Nguyễn Thị

Bành và Nguyên Thị Đài) Nguyễn

Thiện - cháu Nguyễn DÚ là người

nhuận sắc Truyện Hoa Tiên Họ

Nguyễn Trường Lưu có "Phúc Giang

thư viên" lưu giữ rất nhiều sách quý

Vi thế, Truỡng Lưu là nơi đi lại rất

có nhiều tà i liệu chép sau khi bo

mất, Nguyễn Du ỏ với anh trai là

Nguyễn Khản tạ i Thăng Long và

học tập tạ i đây).

Năm Quý Mão (1783), tròh 19

tuổi Nguyễn Du dự khoa thi Hụơng

ở truởng Sơn Nam và đậu Tam

trường, được tập ấm chức Chánh

thủ hiệu hiệu quân Hùng hâu của

cha nuôi họ Hà (Hà Mo) ồ Thái

Nguyên

Ông lấy vợ là bà Đoàn Thi Huệ

con gáĩĐ oàn Nguyễn Thục, đố Tiến

sỹ năm Nhâm Thân (1752), từng giữ

chức Đốc trấn Nghệ An, ngưởi xã

An Hải, huyện Quynh Côi, tran Sơn

Nam (nay là tỉnh Thái Bình)

Năm Giáp Thỉn (1784) kiêu binh

nổi loạn, đốt phá tư dirịh Nguyễn

Khản ở phưởng Bích Câu Năm

Bính Ngộ (1786), Tây Sơn đánh

Thuận Hổa rổi tiến ra Bắc Hà, Trịnh

tô n g bị bắt và tự tử, kết thúc 216

năm “Vua Lê Chúa Trinh" Nãm

Mậu Thân (1788), Nguyến Huệ lẻn

ngôi Hoàng đế lấy niẻn hiệu là

Quang Trung, Lê Chiêu Thống chạy

đi cẩu viên nhà Thanh Nguyên DÚ

lánh vể ố nhờ nhà anh vợ la Đoàn

Nguyễn Tuấn tại Thái Bỉnh Năm

Tân Hợi (1791), ãnh thứ tư cùng cha

khác mẹ là Nguyễn Quýnh chống

Tây Sơri bị bắt và giết, dinh cơ họ

Nguyễn Tiến Điền cung bị đốt phá

Mười năm lưu lạc “ăn nhà ở đậu"

quê vợ là những năm tháng cô đơn

cùng cực của Nguyễn Du, đói

không cơm ăn, rét không có áo

mặc ô n g gọi quẵng thởi gian nảy là

trần) Suy 'nghĩ nhiểu đen (hời cuộc

và thảm cảnh mà gia đinh ông phải

gánh chịu nên mâi 30 tuổi mà tóc

đã bạc trắng như ông giãi bày Irong

bài tliơ u cư:

M ười năm trọn quê nguời nấn ná

Nương quẽ người tóc đã điểm

suong

Những năm này, gìa cành nhà

vợ chẳng lấy gi làm khá già Đoàn Nguyễn Thục đã mất, con trai lớn cũng mất, Nguyễn Du đành cõng người con trai còn lại là Nguỵễn Tứ

vễ quẻ cha đất tổ ố Tiên Điên Trỏ lại quê, nhà cửa tan hoang, anh em lũli tán khắp nơi, ông đã phải thốt

Đêm nằm nghe tiếng gió bắc thổi

đống sách khiến ông càng buồn

Để khuây khỏa, ông thuởng theo trái làng Tiên Điền lên núỉ Hổng Lĩnh đi săn và xuống sông la m đánh bắt cá ông tự đặt biệt hiệu

‘Hống sơn liệp hộ" (Phuởng săn núi

chài bể Nam)

Mùa đông năm Bính Thìn (1796), Nguyễn Du toan trốn' vào Gia Định Theo Nguyễn Ấnh nhung việc bại lộ, bị tưởng Tây Sơn la QÙận công Nguyễn Thận bắt giam

Nhổ Nguyên Thận là bạn thân cùa anh ruột cùng mẹ là Nguyễn Nễ nôn ông ch? bị giam vài tháng rổi cho vể như ông đă nôi trong bài "My trung mạn hứng”:

Bốn bổ giò bụi nghĩ lình nhà việc

Mùa đỏng năm Quý Hợi (1803),

sứ nhà Thanh sang sắc phong cho vua Gia Long, Nguyễn Du đư^c cử cùng Tri phủ Thượng Hổng lả Trần Quí Chuyên, Tri phu Thiên Trựởng

lả Ngô Nguyễn Viên và Tri phủ Tiến Hưng là Trân Lưu lẻn ải Nam Quan nghênh tiếp sứ thẩn

Mùa thu năm Giáp Tý (1804), Nguyễn Du lấy cớ bị bệnh từ chức xin vẽ quê Con đưàng lảm quan với nhả Nguyễn đang hanh thông nhưng ông vẫn không mặn mà lắm

Trong bài thơ “Hỷ Thúc phụ Thưởng Tin giả quan quý” Nguyễn Hành co

ý nổí về chú mình (dích nghĩa):

Đang buổi thanh bình cở sao chú

lại cáo quan mà về Chú mạnh mê rút lui lúc này lả do

ỷ muốn Chú đã có một chức tưỡc trong

thiên hạ Thi chú cần phải giữ trọn danh tiết

cho nhà ta

Về quê chưa được bao lâu thi vua Gia Long có chỉ gọi ông vào kinh đô, Mùa Xuân nấm Ất Sửu (1805), được thăng Đông các điện học SI, tước Du Đ ú t hầu (hàm Ngũ phẩm) Đây là một ân sủng lớn mà triều đinh giành cho Nguyen Du bởi ông chỉ đo Tam trường (Tủ tài) mà thởí đó phải đỗ Hương cống (Cử nhân) thi mới được bổ làm quan.Tháng 9 năm Đinh Mão (1807), ông được cử giữ chức giám khảo ky thi Hương ồ Hải Dương Xong việc, ông xin nghỉ về quê" nhưng đến mùa hạ năm Kỷ Tỵ (1809) lại có chỉ

bổ ông giữ chức Cai bạ tinh Quảng Binh Nguyễn Du giữ chức Cai bạ bốn năm, chính sự giản dị không cần tiếng tăm nên được sĩ phu và nhân dân yôu mến Năm 1811, nghs tin Trấn Nghệ An bị hạn hán mát mùa, dân đói kém, ỏng viết thư gửf Hiệp trấn Nghệ An tà Ngô Nhân Tĩnh xin miễn thuế cho dân Nghệ

An nam đố vằ lảm thơ cảm tạ:

Xa nhìn Hổng Lĩnh ngôi sao đủc Nâng chén mừng quê khắp dặm

ngàn

Cùng nãm đó, lại xẩy ra vụ án Dặng Trần Thường, Nguỵễn Gia Cát và VQ Quý Đình làm 500 đạo sắc giả bán lấy tiền Tháng 9 năm Nhâm Thân (1812), ông xin tạm nghỉ hai tháng về quê xây mộ cho anh lả Nguyễn Nễ

Tháng 2 năm Quý Dậu (1813)

có chì triệu ông về Kinh, thăng hàm Cần Chánh điện học sĩ, rổi cửđi sứ Trung Quốc với tư cách là Tuế cống Chánh sứ Hai phó sứ giúp việc là Thiêm Sự bộ lại Trần Văn Đại và Thiêm sự bộ lễ Nguyễn Văn Phong.Trên đường đi sứ sang Trung Quốc, Nguyễn Du có dịp trở lại Thăng Long Bạn bè mở tiệc ở dinh Tuyên PhủT gọi mấy chục nữ nhạc đến giúp vui; ong nhận rã một ngữời

mà 20 năm (rước, khi ông từ Thái Binh lên thăm nhà anh la Nguyễn

Nễ đã hát cho quân Tây Sơn nghe

14

Trang 15

Bây giờ dung nhan tiểu tuy, ônc)

chạnh lòng nghĩ tới việc thê’ sự đoi

thay, buổn bã thốt lên trong bài thơ

Long thành cẩm già ca Ong còn

đau lòng hơn khi đi qua dinh thự

nhà minh lại phường Bích Câu Nhà

cũ không còn, Cung vua, Phủ chúa

đã thành đường cái quạn, những cô

gái quen đã đ ĩ lấy chổng, bạn (rai

chơi thân ngày trước thi đa nên ông,

nên lão

Ngày 6 tháng 2 năm 1813, đoàn

sứ Bọ qua ải rôam Quan, ngày 4

tháng 10 đến Bắc Kinh Trong íhởi

gian đi sứ, ngoài sứ mệnh bang

giao, mỗi khi đi gua các đển chùa,

các danh lam thắng cảnh nổi tiếng

của Trung Quốc, Nguyễn Du thường

ghé thăm và làm thơ Đến thăm đền

thờ nàng Tiểu Thanh ở Hàng Châu

khóc cho Tiểu Thanh và ngậm ngùi

nghĩ đến thân phận minh:

Bất tri tam bàch dư niên hậu

Thiỗn hạ hà nhân khấp Tố Như

Tháng 4 năm Giáp Tuất (1814),

Nguyễn Du trở vể nữớc và có tập

thơ Bắc hành tạp lục Mùa hạ nãm

At Hợi (1815), Nguyễn Du được

thănqchức Hưu Thám tri bộ le ,

hàm Tam phẩm (do đó người xưa

thựờng gọi ông là Quan Tham thúy

Kiểu)

Năm Binh Tý (1816), anh rể ông

là Vũ Trinh (1759 - 1828) liên quan đến vụ án cha con Tổng trấn Nguyễn Vãn Thành nên bị đay vào

(1819), Nguyễn Du được cử lam Đề Điệu trưởng thi Quảng Nam, ông dâng biểu xin từ chói và được vua chuan y Tháng 8 năm Canh Thìn(1820) vua Gia Long mất, vua Minh Mệnh lẻn ngôi, có lẹnh cử ông làm Chánh sứ sang nhà thanh báo tang

và cầu phong, nhung chưa kịp đi thì

bị cảm bệnh mất tại Kinh thành Huế vào ngày 10 tháng 8 niẻn hiệu Minh Mệnh năm đầu (dương lịch là 16/9/1820), hưởng thọ 55 tuổi Sách Đại Nam chính biển liệt truyện

chân, nói đã lạnh rồi ông bảo tốt, nói xong rối mất không trân trối lại điều gì về sau" Có lẽ ông chết do

bệnh dịch tà, trận dịch này bắt đấu

từ Xiêm La, Chàn Lạp rồi lan sang

f _1 _ » i | _ 5 _

dịch phát sinh từ các tình Hà Tiên, Định Tường rồi lây lan khắp nưởc, đền tận Bắc Thành, ngừời chết không biết bao nhiêu mà kể Thành thị thôn quê đểu nào động

Nguyễn Hành lúc bấy đang ở Bắc Thanh được tin chủ mất, làm

phó, âm cảm tác có câu sau.

Ngộ môn hậu phúc công xảo hoàn Dịch lệ hà năng tốc công tử (Phúc dày này chú la dã giữ ỔƯỢC

trọn ven Bênh dịch sao có thể làm chủ chết

chúng sinh (Văn chiêu hổn), Văn tế

Trường Luù nhị nữ, Thác lòi trai phường nón; va vĩ đại nhất là tập Đoạn Trường Tân Thành mà nhằn

II - TRUYỆN KIỀU TRONG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TINH THẨN CÙA NHÂN DÂN VIỆT NAM VÀ THẾGIỚI

Truyện Kiểu được Nguyễn Du chuyển dịch, sáng tạo tử cuốn tiểu thuyết "truyện Kim Vân Kiều" của

Lữ Ngôn 81 tuổi, quê ở Quáng Bình đã chép íay cá cuốn Truyện Kiều bằng chữ Nôm cải tiên,

ên là m ội trong các trang chép tay đó cúa cụ.

Cụ Lữ Ngôn 81 tuổi, quê ở Quáng Bình đổ chép I

Ảnh trên là một trong các trang chép tay đó cúa cụ

Trang 16

- Thanh Tâm Tài Nhân (1521 - 1593)

- tên Ihât là Tử Vãn Trưởng, tức Từ

Vị, quê à huyện Sơn Ảm, tỉnh Triết

Giang, Trung Quốc Tương truyền,

khi viết xong Nguyễn Du đưa bàn

Ihảo cho Phạm Quý Thích xem,

Phạm Quý Thlch có chữa một số

chữ trong bàn thảo của Nguyên Du

rổỉ viếí lời tựa đưa in, đổi tên sách

Đoạn Trường Tân Thanh thành Kim

Vân Kiều iruyện Một số nhả nghiên

cứu cho rằng bản này vể sau gọi là

bản Phường (vi được in ở phường

Hàng Gai, Hà Nội); sau này vua Tự

Đức cũng rất yêũ thfch Truyện Kiềú

đã chữa một số chữ và cho khắc in,

dân ta quen gọi là bản Kinh (in ở

kinh đô Huế), c ả hai bản này vể

sau đUdc in đi in lại nhiểu lẩn bằng

chữ Nôm Khi chữ Quốc ngữ ra đời,

lại được dịch ra Quốc ngữ, số lần in

lại càng nhiều hơn Bản Quốc ngữ

đầu tiên là của Trương Vĩnh Ký in

năm 1875

Truyện Kiểu ra đời được nhân

dân ta đón đọc một cách say sưa,

có nhiều lúc đã trỏ thành vấn để xã

hội, tiêu biểu là cuộc tranh luận

Tà thuyết" giữa cụ Nghè Ngô Đức

I ' Kế và ống Pham Quỳnh, thu hút rất

nhiểu người của hai phía cùng luận

chiến

Năm 1830, vua Minh Mạng, một

' người tinh thông Nho học và sùng

đạo Khổng vì mê say truyện Kiều

đầ mở đợt bình Kiều đẩu íiển Nhà

vua đửng ra chù iri mở vãn đàn

ngâm vịnh và sai các quan ở Hàn

Lam Viện chép để lại đời sau

Đến đời Tự Đức, nhà vua thường

triêu tâp các nhà khoa bảng trong

triều đe bỉnh và vịnh Kiều ở văn đàn

tại Phu Văn Lâu, mặc dù đó thường

là nơi để nhà vua bán bố nhOtìg vãn

kiện có tính quốc gia đại sự

Năm 1805j Tổng đốc Hưng Yên

là Lê Hoan mơ hội Tao Đàn thi văn

chương vể Truyện Kiều Nhiểu nhà

khoa bảng, quan lại tham dự; Cụ

Tam nguyên Yên Đỗ Nguyễn

Khuyến làm Chánh Chủ khảo

Trong cuộc thi này, Chu Mạnh Trinh

đươc giải nhất với 21 bài thơ vịnh

Kiếu Có tài liệu chép vụa Tự Đức

đã từng trách cứ các quẩn thần mẽ

Kiều với câu nói được truyền tụng

đành tổ tôm; mê lígựa hậu bo, mê

Nỗm Thúy K iểu"

Sang thế kỷ XX, Truyện Kiều

tiếp tục có ảnh hưởng sểu rộng

trong các lĩnh vực đời sống xã hội

Do yêu Truyện Kiều mà nảy sinh

nhiêu loại hỉnh nghệ thuật văn

chương xung qụnnh truyện Kiểu:

tập Kieu, lẩy Kiếu, binh KÍều, vịnh Kiẹu ; thạrii chí còn dừng Truyện

Kiếu để bói toán vận hạn tỗt xầu

(Bói Kiếu) Truyện kiểu được dụng

ihn n h phim , cíứn IÕI1 s;ìn khất ì:

Tuống, chèo, cải lương, hội họa ,

và còn có cà một cuốn Tư điển để học giả, người đọc tra cứu điển tích ngữ nghĩa

Mặc dù Truyện Kiếu ra dời cách đây mấy trăm năm nhựng các nhà

lượng lớn và dược nhân dân đón đọc ĩhích thú Truyện Kiểu đã được dịch ra rất nhiều íhứ liêng trên tbé giới: Anh, Pháp, Nga, Đức, Trung Quốc, Tây Ban Nha, Tiệp Khắc, Hung-ga-ri, Bun-ga-ri, Nhật Bản, Lào, Thái Lan, Hàn Quốc

Các nhà nghiên cứu trẽn thế giới

<đều đánh giá cao Truyện Kiểu Nãm

1926, dịch giả người Pháp Rơ-ne- cry-sac khi dịch Truyện Kiểu đã viết bải nghiên cứu dai 96 trang, có

có thể so sánh một cách xứng đáng vỡi kiệt tảc của bất kỳ quốc gia nào, bất kỳ thời đại nào ông so sánh

nền vân chương Pháp, không một lác phẩm nào được phổ Ihỗtig, đuộc loậiì dồn sùng kinh và ỵêu chuộng bàng quyến huyện nòy (I Việt Nam"

sưởng thay bậc thi s ĩ vòi một tàc phẩm độc nhẳt vô nhi đã làm rung dộng vncn vnng tất cằ tùm lĩốncũa một dân tộc"'.

Nãm 19G4 tại Béc-lin (Cộng hòa dân chủ Đức), Hội đổng Hồa Bình thê giới họp từ ngày 6 đến ngày 9 tháng 12 đa ra Quyet nghị lấy nãm

sinh Nguyễn Du trên toàn thê’ giới cùng với 8 danh nhân khác đã có nhưng đóng góp lớn cho nến văn hóa của nhan loại

Theo cách tính của một sỏ nhà nạhiên cứu, đến nay Truyện Kiểu cua Nguyễn Du đã đạt 5 kỷ lục ihế giới:

1, Thú chơi tập Kiều;

2, Mười bản dịch Truyên Kiều ra tiếng Pháp;

3: Bảy cuốn Hôu Truyện Kiều;

4, Truyên Kiền doc ngược;

8, Bộ phim truyện đầu tiên của Việt Nam là từ Truyện Kiều:

9, Quyến sàch nặng nhất Việt Nam;

10, Quyển sách dài nhất Việt Nam ■

Ngoài ra còn có rấl nhiếu điểm độc đáo khác, như: Quyển sách bằng chữ Nôm dược in di in lại nhiểú lẩn nhất; Tác phẩm có số lượng các bãi báo việì về nó nhiều nhất; Trong 4 năm gần đây nhất cộ thêm 20 quyển sách nghiên cứu về Truyện Kiéú; Quyển sách có đời sống thãna trầm nhất; Tác phẩm văn học đẩu tiên của Việt Nam làm điểm iựa cho một luận ản Tiến sĩ

sở cho nhiểu luận án Tiến sĩ nhất;

Tác phẩm đuọc đưa lèn sân khấu với nhiểu thể loại nhối; Truyện Kiểu

là lác phổj« văn học má Hội họa đã qui tụ nhiều danh họa hảng đầuị Văn bàn mà nguởi ta cãi nhau vế chữ nghĩa nhiểu nhất

III - QUẨN THỂ DI TÍCH NGUYỄN

DU VẢ MỌ NGUYỄN TIÊN ĐIỂN ở NGHI XUẨN, HÀ TĨNH

1 Nhả Tư Văn: Năm 1735 vế trước gọi là Vãn thánh huyện llìờ Khổng Tử, đặt tạỉ Xuân Viên vi ỏ đây co dòng họ Ngụy phát đạt nhất huyện Nghĩ Xuân jh ổ i đó NhUhg sau khi họ Nguyễn Tiên Điển nổi lên thi Văn Thanh Huỵện lại được chuyển vể họ Nguyền Tiên Điển Năm 1785, Xuarí Quận công

khu vườn của ông tổ họ Nguyễn Nhà được xảy dựng lại vào ‘năm thứ

13 vua Tự Đức (1850); đến năm

1860 dân làng Tiên Điên lại tu sửa lần nữa Theo truyển thống tốt đẹp của dòng họ vế mặt văn học, ngoi nhà này được dùng để làm nơi binh Ihc), binh văn của các nhà khoa bảng trong vùng Những người được vào đây để bỉnh thơ văn đều lã những người "Phượng trì long bảng" (Tức từ TO tài trở len), về sau có ihay đổi (Các nho sinh trúng Ihức nộp 10 quan tiền được vào) Sau khi

/f ổ

Trang 17

Nhà văn Dức Ban thay mật cho các nhờ tlto, các dồng chi lãnh (lạo tinh tưới rượu lên mộ Nguyễn Du trong lễ dâng hương trước lúc khai mạc Nị>ày tho Việt Nam tần thứ I tại Khu ỉmt niệm

oình thơ xong các cụ xuống nhà hạ

điện uống Ira, uống rượu

Nhà thượncj, nhà hạ đều 3 gian,

kết cấu theo lôi chữ Nhị, đến nay đã

qua nhiều lần tu sửa

2 Nhà th ờ N guyễn Du

Nhá này do Hội khai trí Tiến Đức

làm vào năm 1940 Hội quyên góp

được 420 đổng tiến Đỏng Dương

giúp cho con cháu của họ Nguyễn

xây nhà thờ, dưâi sự đôn đốc của

Tôn trưởng Nguyễn Mai

Nhà kết cấu theo kiểu chữ Dinh

Phía trước, chính giữa có 4 chữ

"Nhân kiệt địa linh" và hai câu đối ở

cột quyết, một câu của quan thân ở

triều đinh, một câu của cụ Nghè

Mai, cháu đời thứ 10 đề tâng

Bài vị thở Nguyễn Du:

Quỷ Mão khoa Nho sinh, phụng

trực

Đại phu, cliin li trị

Khanh, khăm sai Bấc quốc cống

sứ,

Lễ bộ Hữu Tham Tri, Hầu tước

Thanh Hiên Nguyễn tiên sinh thần vị.

Khi về nưỡc được phong Lễ bộ Hữu Tham tri, tưởc Hếu,

Hiệu là Thanh Hiên.

Tháng 7 nãm 1954, bị trúng bom Pháp nhà thờ chỉ còn lại mội bức tường chơ vơ trên nến cũ và SÓI lại một ít đổ thờ tự, con cháu rước vào, đến thờ Nguyễn Nghiễm Sau năm 1954, nhà thờ được xây dụng lại nhưng chì làm lại nhà hạ điện, khung bang gỗ, xung quanh xảy tường, trên nóc có chạm hinh rống (Lưỡng long chầu nguyệt) và hoa sen Năm 1970, Ty Vãn hóa Hà Tĩnh tu sửa một lần và năm 1976 một lần Iiữ a Qua các lầti tu sửa nhưng đến nay vẫn chưa đáp ứng

được yêu cầu vể ý nghĩa vãn hóa, lịcli sử và tính thẩm mỹ

3 Mộ N guyễn Du

Nãm 1020, Mình Mệnh lẽn ngôi vua, xuống chiếu cử Nguyễn Du làm C h iin li sữ sattỊi nhá Thanh C.UI phong, nhưny chưa kịp di thi mát lại Huế ngày 10 tháng 8 năm Canh ritin (1020), thọ 55 Tuổi

Khi Nguyễn Du mất, có con là Nguyễn Tử và cháu gọi ông bằng chú ruột là Nguyễn Thắng dcìng ơ Huế, hai người lo việc tống táng ong

ờ cánh đống Bàu Đá, thuộc xả An Ninh, huyện Quảng Điền {Thừa Thiẻn) Mua hạ nãm Giáp_ Thân (1824), con trai ông là Nguyễn Ngũ đưa hải cốt về an tang tại quẽ nhà, lúc đầu táng tại sở vưon cũ của ông

ngày càng sa sút so với cha ông nen cài tang đến hai lần nữa, lần cuối cài táng đến xứ Đống Cùng, thuộc Tiên Giáp, thôn Lương Năng (nay là xóm Tiên An, xã Tiên Điền)Ban đầu ngôi mộ đơn sơ, về sau

Trang 18

-Thai Mai làm bằng chữ Hán “Tiên

Điền Nguyễn Tiên Sinh phẩn mộ"

(hiện đang đưạc lưu giữ trưng bày

tại B Q l di tích Nguyễn Du)

Năm 1990, Sỏ Vân hóa Thông

tin Nghệ Tĩnh và ủy ban nhân dàn

huyện Nghi Xuân xây lại mô Từ đó

tới nay đẵ qua nhiều lẩn chình sửa,

mộ Nguyễn Du ngày một khang

(ráng hơn nhưng vấn chưa đáp ứng

được yêu cẩu thẩm mỹ của nhiều

du khách,

4 Đàn tế và Bia kỷ niệm

Nguyễn Quỳnh

Nguyễn Quỳnh là ông nội

Nguyên Du, có 5 vợ 9 người con, 6

trai 3 gái Trong 6 người con trai có

3 người làm quăn to lả Nguyễn Huệ

Nguyễn Nghiễm, Nguyễn Trọng Để

tương nhớ công ơn cha mẹ, Nguyễn

Nghiêm cùng em là Nguyễn Trọng

đa tổ chức xây dựng bia này

Bia dựng vào mùa thu năm

Nhâm Ngộ (1762), sau khi Nguyễn

Nghiễm nhậm chức Tể tướng đứọc

4 tháng

Bia xây bằng gạch và đá thanh

Tháng 7/1954, bom Pháp rơi xuống

làm bia sạt mất 1/4 , sau đó đuợc

vạn di (Nghĩa chung như là cảnh

Hưng muôn năm)

bộ Thượng thư Thái bảo Nhuận

Quận cóng Nguyễn liên sinh.

- Phong tặng Nhất phẩm Phu

nhân gia phỏng Quận phu nhân

Phan Thị

Dịch nghĩa: - Phong tăng

Thượng thư bộ Lễ, hàm Thái bảo,

tiên sinh;

- Phong tặng đệ nhất phẩm phu

nhân, phong thêm lên luởc Quận

phu nhân là bà Phan Thị.

Hai bên bia khắc câu đối:

- Niệm thời truy nhật nguyệt

- Truyền ngữ tại giang sơn.

Đển thờ Nguyễn Nghiễm ở thôn

Bảo Kệ, xã Tiên Điền Khi còn sống,

ông đật ruộng cũng và xây dựng

sẵn đển thờ ở mặt sông Sau khi

đẳng phúc thần, HÙàn dụ Đỗ hiển đai vũong", hàng năm Quồc gia làm

tế lễ, lại giao cho 4 xã chăm sóc huơng khoi Ngày sinh, ngày giỗ của ong có cả xã Uy Viễn cùng tế

lễ Đền có tấm biển lớn, một khẫc 4 chữ “Phúc lý vĩnh tuy" (Phúc ấm lảu dài) do tự tay chúa Trinh viết Một

(Dòng thi thư đời nối đời) do Đức Bào, sứ thần nhà Thanh đề tăng

hậu" (Rạng rỡ thế hệ trước, để lại

phúc am cho thế hệ sau), biển này

do Tô Kính người Viễn Đông đe tăng Đền còn có đôi câu đối:

- Lưỡng triều danh tể tướng

- Nhất thế đại nho sư

hư hỏng hoàn toàn, đổ te khí mất mát, hữ hỏng hết, 'chỉ còn lại hai tượng quan hầu, 2 con voi, 2 con ngựa, tất cả bằng đá thanh

6 Mộ Nguyễn Nghiễm INăm Binh Thân (1776), đang đánh nhau với quân Tây Sơn ỗ Châu Ồ, thuộc địa phận Quảng Ngãi, Nguyễn Nghiễm bị bệnh, xin

ve chữa trị Đến Ihảng Í1-Í77G thi mất; trước khi mất ong dăn con cháu phẩn mộ phải tang chim, Nguyễn Khản đang giữ trọng trách ởĩriếu, xin Chúa vẽ thăm cha Thẹo

di huấn, con cháu táng chim phẩn

mộ ông Ngoài nhũng người thẩn tin không ai biết phẩn mộ ở đâu, chỉ biết lang tại xứ Đổng Đài (Gia phả

họ Nguyễn)

Những năm tháng sau này, do mưa gió lâu ngày đất bị xói lở, một phần ngôi mộ Tộ ra Cọn cháu trong dòng họ phát hiện thấy, hàng nãm đến ngày tế lễ đều thắp hương

hợp, hinh vuổng (khoảng 10m^)

Nãm 1993, ông Nguyễn Phước Lương Bằng, Việt Kiêu íại Mỹ công đức 25.000 đô la, ủy ban nhấn dân huyện Nghi Xuân cùng con cháu xây tường bao quanh va mở đường

ra mộ

7 Đền thờ Nguyễn TrọngNguyễn Trọng là chú ruột Nguyen Du Lúc con sống ông đật

ruộng tế xóm sở tại và xây sẵn đểr thở Trước đền, ông cho dựng tấrr bia “Tích thiện gia (Nhà giữ điềi

thiên), con cháu họ Nguyen Tiẻr Điển quen gọi là “Biá gia huấn" B iỉ này do õng viết rồi sai người Tải khắc chữ vào bia nhằm khuyên dại con cháu về sau nên học tâp truyềr thống tổ tiên, trau dổi phẩm hạnh sổng có ích cho đời Trong đền trec tấm biển khắc 4 chữ “Hổng Sơn linl’ khí” (Khí thiêng núi Hồng), chữ dc Cao Đoàn viết Một tấm biền lớn gh chép các bài thơ đề vịnh của cá( bậc lúc nho đanh tiếng

Năm 2000, quần thể di tích nài được Bộ V H T Í cho lập dự án trùnị

tu, tôn tao Với tổng mức đầu tư gầr

10 tỷ đồng thực hiện từ năm 2Õ0C đến nãm 2004, một số hạng mục d tích gốc đã đuọc trùng tũ lại; cônc trình Taing tâm văn hóa Ngúyễn DÌ cũng được đẩu tư xây dựng mớ trong khúôn viên khu lưu niệm vớ các hạng mục chính: Tượriị Nguyễn Du bằng đồng cao 2(5rì {chiểu cao cả bệ tuợng là 4m), nhí Trung bày, phòrig ịh ự v iệ n , phònc Hôi thào Nam 2002, trước yêi cấu phát_ triển của di tích, UBNC tỉnh Hà Tĩnh đã có quyết định thànt lập Ban Quàn lý khu di tích Đại th hào Nguyễn Du Sau khi ra đởi dưới sự chỉ đạo trực tiếp của sở Vâr hóa vá Thông tin Hà Tinh, BQL khi

di tích đã tập trung SƯU tầm thên được nhiểu hiện vật, tài liệu quý liêr quán đến Ngùyễri Du, dồng họ vi tac phẩm Truyên Kiều, đặc biệt l< bản Kiểu cổ khẳc in nãm 1866 (bảr

in cổ nhất cho đến hiện nay), CUỐI

Truyện Kiều viết theo kiểu thư phá| (độc bàn) nặng 75kg, các bộ sưi lập sách vế Nguyễn Du của một sc

co nhân hiến tặng

Tuy nhiên, so với tên tuổi củi danh nhân vả yêu cầu ngày càn< cao của du khách thi hiện trạnị quẩn thể di tích họ Nguỳễn Tiêì Điển đã không đáp ímg được yẽi cầu Nhản kỷ niệm 240 nâni ngà; sinh của Đại thi hào, theo đề ngti của Bộ VHTT và ÚBND tỉnh Hí Tỉnh, Thủ tướng Chinh phủ đã đổrụ

ý cho lập và tnển khai dự án Quị hoạch tong thể khu văn hóa - di lịch Nguyển Du - Tiên Điền Hiệi nay, Sở VH&TT Hả Tĩnh đang tícl cực hoàn thiện dự án quy hoạch píiấn đấu hoán thầnh vào đầu nãn

2006 dể có căn cứ lập dự án tổn< Ihể đầu tư xây dựng khu Vãn hóa -

Du lịch Nguyễn Du trở thành mô trọng điểm du lịch vân hóa quô<

18

Trang 19

còn là bãi bồi hoang

vu, người ở thưa

thớt, nằm ven bờ

sông Cả (Lam

Giang), mang cái

tên buồn thảm Vô

cối tên Tần Điền Khi ông tổ họ Nguyỗn

Nam Dương hầu vể ẩn náu và lập nghiệp

vào những nãm đầu thê kỷ XVII, thì Tán

Điền đã được đổi thành Phú Điển, do phải

tránh tên húy của vua Lê Kính Tông

(1599-1618) Sau đó, chưa rõ vào thời gian

hấo, Phú Điển lại đổi thành Tiên Điển

Dầu đời Cảnh Hưng, đội quân tình nguyện

toàn lính Tiên Điền có công bảo vệ kinh

thành Thăng Long, làng được ban tên “xã

Trung Nghla”(l) Đờỉ Nguyễn, Tiên Điển

thuộc tổng Phan Xá, huyện Nghi Xuân

Sau Cách mạng tháng Tám, từ 1947 dến

1953, hợp nhất với Uy Viễn thành xã Tiên

Uy Năm 1952, chia xã, Tiên Điền và một

nửa Uy Viễn là.xã Xuân Tiên Năm 1973,

Xã lấy lại tên cũ Tiên Điền.

Tiên Điển đông bắc giáp xã Đan Hải

(Xuân Hải), tây bắc giáp xã IJy Viễn (Thị

trấn Nghi Xuân), đông giáp xã Tiên Bào

(Xuân Yên), nam giáp xã Phnn Xá (Xuân

Thành, Xuân Mỹ) Từ Tiên Điển di qua

Tiên Bào là đến biển Đông Xưa, Tiên Bào là một thôn của Tiên Điền, dân các thôn khác gọi dân Tiên Bào là

Kẻ Bể Từ Tiên Điển nhìn qua Xuân Mỹ, thây núi Hồng Lĩnh đứng sừng sững

mé tây nam Do

Nguyễn Du đã lấy biệt hiệu

“Nam hải điếu đồ*, “Hồng stín liệp hộ” Ngày nay, không thể biết được ai là người đến khai phá, dòng họ nào đến lập nghiệp dâu tiên ở Tiên Điền Tác giả sách

N g h i X u â n h u y ệ n c h í (Lê Văn Diễn,

ng íời xã Tiên Bào) chép Nam dương công Nguyễn Nhiệm vào mục K iêu ngụ (ở dỗ) sau cả Hội quận công họ Phan Như vậy, khi vị tổ họ Nguyễn đến (đầu thê kỷ XVII) thì ở đây đã có nhiêu dòng họ khác Gia

phả họ Đ ặng, họ T rầ n đều cho b iế t vị sơ tổ

dến đây vào thê kỷ XV Nhưng sách trên cũng lại cho biết, vào thời gian này, một người'họ Hoàng, thôn Báu Kệ, tên thụy là Chính Trực (không rõ tên húy) đỗ hương công khai khoa ở Tiên Điền Tiếp đó là hai cha con nhà họ Lê Qua danh mục các nhà khoa bảng này thì có thể họ Hoàng, họ Lê còn đến sớm hơn họ Đặng, họ Trần Hai họ Hoàng, Lê ở tập trung nhất tại thôn Báu

Kệ, tương truyền được lập lên sớm nhất ở Tiên Điển.

Trang 20

Mấy cứ liệu trên chưa phải đã hoàn

toàn thuyết phục, nhưng qua đây có thể

nghĩ rằng Tiên Điền lập làng muộn nhất là

từ th ế kỷ X III, X IV và còn có thể sớm hơn.

Cũng như nhiều làng xã khác, việc phân

bô' vùng cư trú ỏ Tiên Điển xưa theo huyết

thông, ngưòi cùng họ tập trung vào một

xóm, một thôn, ở Báu Kệ, ngoài họ Hoàng,

họ Lê còn có họ Trần Ở Lương Năng, phần

lớn là người họ Hà, họ Nguyễn, ở Võ Phấn

thì người cốc họ Nguyễn, Trần, Hoàng và ỏ

Vồn Trường, người họ Đặng, Nguyễn

M ột 8ố họ có nhiểu chi, nhiểu dòng Họ

Hoàng có hai chi; họ Lê cỏ ba, bôn dòng; họ

Nguyễn từ Canh Hoạch (Hà Tây) vào; họ

Phan (của Hội quận công) từ Sa Nam đến;

họ Hồ (của Hương cống Hồ Sĩ Lâm) từ

Hoàn Hậu (Quýnh Đôi) vào (naý còn cháu

đã đi nơi khốc); họ Đặng, họ Hà từ Đông

Rạng, Tỉnh Thạch (Tùng Lộc) ra; họ Trần

từ M in h Lang (Trung Lương) xuống Một

số tà i liệu oòn cho biết có mấy gia đình thợ

đúc đổng họ Hà từ DiỄn Châu vào hành

nghể và ố lọi thôn Văn Trường.

Theo bản thông kê của Tòa Công sứ

Phốp ỏ Hà T ĩnh năm 1942 thì dân sấ Tiên

Điền có 439 đinh và 1.201 nhân khẩu (con

8ố này thấp hơn thực tế một ít) Đến cuối

thế ky XX, Tiên Điền có 222 hộ và 3.005

nhần khẩu.

Tiên Điển là một xã nhỏ trong huyện,

diện tích tự nhiên chỉ già 1/6 và dân số già

1/4 của Cương Gián là xã lớn nhất huyện

Trước tháng 8-1945, cẳ xã chỉ có 212 mẫu

ruộng, chia đầu ngưòi chưa được nửa sào

Nay xã có 150 ha đất canh tác, và 25 ha đất

vưòn ao, bình quân đầu ngưòi là 500m2 (1

sào Trung bộ) đất canh tác Ruộng đất công

rấ t ít, chủ yếu là ruộng tế, ruộng binh,

ruộng chia cho các chức 8ắc trong xã

Phần lón là ruộng đầu tư, trong đó có một

sô' ít ruộng họ, ruộng dồng môn, ruộng đền

chùa, ruộng hậu, còn lại là của tư nhân Không rõ, đời Lê - Nguyễn, tình hỉnh chiếm ruộng đất của công, khanh, quan lạị

ra sao Nhưng đến trưổc, sau Cách mạng thống Tám, quan ỉại và địa chủ đã chiếm 120/212 mẫu ruộng, có gia đình có ruộng dất phốt canh trong ba bôn xã Hầu hết nông dân không có hoặc có rấ t ít ruộng (Ịấti Đất mặn, dồng chua, khô táo, bạc màu, Xưa trồng cây chủ yếu là lúa (một vụ), khoai, sau thêm ngô, đậu, ỉạc Vườn tược cũng chỉ có ít cây ăn quả thông thưòng Nhưng Tiên Điển lại có loại đặc sẻn quý lồ cây hồng, gọi là “hồng tiến” , một thời đượo chọn làm vậ t phẩm tiến vua Tương truyển, loại hồng này do Nguyễn Nễ (theo

cụ Nghè M ai là Nguyễn Du) đi sứ bên Tàu, lấy giấng từ Quảng Tây đưa vể (?), Nhưng loại cỗy này không phải nhà nào cũng cỏ I Ruộng vưòn không nuôi nổi con người, bao dời nông d&n ỏ đây phải làm đủ mọi nghề để mưu sinh Nơi ngưòi ta tỉm đến trước tiên là Ngàn Hống Và việc dễ dàng

mà nhiều người làm được là ỉấy củi, cắt tranh, lấy m&y, dang, lá tơi, lá nón, hoặc s&n bắt thú rừng Nhò của rừng, dận Tiển Giáp, Báu Kệ có nghề dan lá t chằm tợi, lợp nón ở Báu Kộ, ngoài nghề ỉàm tơi, cồn có nghề mộc, và nghể làm giấy bằng cây nỉ$t' Nghể rèn, dúc cũng có thời rấ t thịnh Ngh$ rèn ở đây do ông tô’ họ Trần ỗ M inh Lar*g (Trung Lưdng) xuống từ thế kỳ XV truyền lại Nghề đức đổng ồ Văn Trưòng Ịại do ông

Hà Chu T rị và ông Bôn, ông Loan từ Diễn Châu vào hành nghề chưa láụ lắm, cho đếĩị

thòi chống Mỹ, vẫn còn Nghể mộc cQng cố

từ đòi Lê Sách N ghi X uân hụyệnìíữhị

chép: “Xưa, chỉ ộ Tiên Điển ngựờỉ làm JỊịỊị<J nhiều hơn, ai cũng vừa ý ông ” Cộ anh thợ mộc Hà Thiềrn đến nhà XụâỊi,nhậQÌ công (Nguyễn Nghiễm) xem thợ Ặ ịi QĩÍẠụ (Thanh Hóa) khắc bỉa đá, mò mẫro W lvw trỏ thành thợ khác nổi tiếng- Các.biạ đậ â Tiên Điồn, ú y Viễn đểu do ông khốq; NgưỀrt đương thời khen ông là “ nhà thợ làm, 4 4 nghê Con cháu ông đều làm thợ cả làng Ngoài ra, một số ngưòi ỏ Võ Phệín« Lương Năng làm một số nghể khốc để kiếm

ao

Trang 21

sống: bánh trá i hàng chợ, buôn bán nhò

Hói về những m ặ t nổi trộ i của dất Nghi

Xúân th ò i Lê - Ngúyễri, dân gian có câu:

“ Lồ Ợúá) Hoa (Xuân) Viêrii quăn Tiền Điền,

tiền Hội T h ố n g ”. Đ ịa bạc dân bần, nhưng

T iêíi Điềrt lạ i nổi tiếng lắm quan vân, quan

Vỗ, quan to, quan nhỏ, có th ờ i trong làng

đầy những tông hầu khanh tưông, có nhà

Hiển' hoạh cao khoa, có ngưòi là tể phụ

trìể u đìhh N h in lạ i quổ trìn h lịch sử, th ì

th ấ y hhiểu người đến Tiên Điền cư tr ú

x tlế t thân từ các danh gia vọng tộc trong

tiííổc* tro n g xứ N hiểu người đến đây không

ịíh ỗ i òhộrt đất lập nghiệp, mà là để trá n h

hộa d iệ t Vottg Đó là trường hợp vị tổ của họ

Đặhg, Ngúyễn, H à

iỉ à í i lâm th ị giảng (triề u H ậu T rần)

.Động Chủng, con thứ hai Quốc công Đặng

T ẩ t ở Đông Rạng (nay xã T ùng Lộc, Can

Lộti) 8aú k h í quân M itih cướp nước ta, chạy

, lêẺi chùá Hương Tích, Ngàn Hống lồm

tHiềìi sứ, th ấ y khồng yên, bèn lốnh vể Tiến

Đ iền íttbi danh ẩn tích Nam dương hầu

Nguyễn N hiệm , tướng nhà Mạc, dòng dõi

trọ n g ngtiyên Nguyễn Thiến ỏ Canh Hoạch

(tíà Tẳy) mưu đô khôi phục họ Mọc không

thành, Ểhạy về ẩn trố n h ở Tiên Điển, Cồn

tổ hộ Hà là con Giám 8Ỉnh Hà Công Hội, di

duệ của cốc tiến Bl Hà Công T rin h (T K XV),

Hằ Tông Mực (T K X V I) ở T ỉnh Thạch (nay

lố T ù n g Lộc) lọ i ra Tiên Điển lốnh nạn vĩ

một lý do khác Số là, nhân ngày đâtt làng

đắỊj dườhgi nhà ống Gỉám sinh nấu chốo

Ínờí bà con ftn Không ngờ gói thuốc chuột

ttỉi vàd nồi lúc nào không hay N hiều ngưòi

ầhi hgộ độc, nén cốc con ông phẳi chạy đi

íốhh hộh ìnỗi người m ột ngả, trong số đó,

itiộ t hgứdi đã trố n ra T iên Điển V ị vỗ quan

èaơ cấp, tíộ i quận công họ Phan, làm Tẳ đô

đốc, phong Thối phố, tướng truyền quê Sa

Ham (Nghệ An) về Đông Giáp khá aớm

M ộ t vỊ khác là Ưy quận công, tương truyền

ỈỊilê huỷện T hanh Oai (Hà Tây), th ì về ở

thôn Vố Phấn Phải chăng hai ông cũng

đ ế n 'T iê n Điển với lý do như cốc vị trên?

Chủng tô i fchưa cỏ tà i liệu về lai lịch vị tể

k h a i éơ cẩc dòng họ Hoàng, Lê và m ột 80' họ

khốc N hưng mấy cứ liệu trên cững cho

thấy chính những dòng họ này đã dem chữ nghĩa đến kh a i sống vùng đất nghèo nàn, hẻo lổnh này, tạo nên m ột Tiên Điền rực rỡ hào quang, rọi sáng đến hôm nay.

Cốc vị Đặng, Nguyễn, Hà đều xuất thân

từ những cự tộc văn học Họ Đặng, họ Nguyễn là dòng nhà tướng.

Ngoài hai dòng họ trên, dân Tiên Điền nổi chung đều là võ (lững M ộ t chàng tra i

họ Trần, lúc trẻ ra học ở Thăng Long, th i đấu với Đô lực 8Ĩ thắng CUỘCÍ được bổ là Đô lực si, Quản binh Có công đánh giặc, chàng được phong tớ i chức cẩ m y vệ Đô chỉ huy sứ Tả hiệu điểm Thự vệ sự, tước T rung phụ hầu, lấy con gối chúa T rịn h , được ban Phò mã, Đoan quận công M ộ t chàng tra i

họ T rầ n khác, lúc quân Nam Bắc đốnh nhau đã xướng suất dân chúng ra giúp vua, được giao quản quân dân hai tổng, bảo

vệ quê hương, có công, được phong tước

T rin h dững hầu Năm Ấ t Dậu (Ỉ885), nhà

nho Hà Văn Mỹ (Tiên Điển), cùng Ngồ

Quảng (quê N ghi Lộc) tổ chức quân cần vương chống Pháp N ghi X uân, được Phan

Đỉnh Phùng phong chức Thương Biện, giao

phụ trách N ghi thứ Căn cứ của hai ông xây dựng tạ i K he Rẫy, xã Cương Giốn được

duy * H cho đến thòi Duy Tân - Đông Du đo Phan Bội Châu lẫnh dạo Hà Vãn Mỹ bị

giặc PhÃp bắt, dã tự sál để giữ trọ n danh tiế t, ở thòi hiện dại, nếu hổi Xô V iế t Nghệ Tình, Tiên Điền có ngưòi con tiêu biểu, người cộng sản tru n g kiên, liệ t 8Ĩ Nguyễn Phương, th ì qua hai cuộc khống chiến, Tiên Điền đã được Nhà nước phong danh hiệu

“ Đơn v ị anh hừng lực lượng vũ tra n g nhân dân”

Tiên Điền đúng là đất Võ, nhưng người

ta lạ i biết nhiều hơn đến m ột làng của học hành, khoa bảng Gia phả họ Đặng chép về

vị tổ Đặng Chủng: “ Ban dầu ngài khai hoang mở đất dựng nhà, sau cảm thấy đã yên Ổn bèn mở trưòng học vừa dạy con chốu, vừa dạy con em nhà nghèo ” Nhiểu người xu ấ t thân từ các danh gia khác cũng làm như vậy Học trò Tiên Đ iền ngày càng đông Thòi ấy, học trò ở đây đểu nghèo, con chầu các th ế gia cũng không hơn gỉ mấy.

Trang 22

Anh em Bá T rí, Trần Trọng Viêm đi học xa,

chiếc chiếu ngồi cũng rốch nát, thiếu ăn,

thiếu mộc, đến hạt muối trắng cũng phải

chia phần từng bữa Nhưng nhiều người

học giỏi nổi tiếng Ông Hoàng Chính Trực

(không rõ tên húy), ngưòi khai khoa ở đây,

lúc nhỏ học giỏi, vỉ da đen nên dược gọi là

“ Hắc thần đồng” , v ể sau, Nguyễn Nghiễm,

Lê Hoàng Đáp đều nổi tiếng thần đổng

Nguyễn Nghiễm đỗ Hoàng giáp còn Lê

Hoàng Dáp đỗ đầu th i hương Rất nhiều

người đỗ đạt lức còn ít tuổi Lê cảnh

Quang 17 tuổi, Phạm Kiều Nho 16 tuổi,

Nguyễn Do 15 tuổi đã đỗ Hương Cống Hà

Nguyên Tiếu, Nguyễn Khản, Nguyễn

Trước, Hà Văn Gia đểu đỗ lúc mới 20, 21

tuổi

So với các làng xã trong huyện thì về

khoa cử, Tiên Điền chậm sau khá xr

Nhưng từ giữạ thòi Lê Trung Hưng dến

thời Nguyễn, nhất là vào thế kỷ X V III,

Tiên Điền nổi tiếng về học hành, khoa bảng

â't, 5 tam trường

(sinh đồ) đòi Lê, số

nhưng nổi lên chỉ có

họ Nguyễn Khoa thì nhị, tam giáp tiến sĩ, chiếm 5/6 vị đại khoa trong làng, và hàng chục hưdng cấng, sinh dồ, cử nhân, tú tài thòi Lê - Nguyễn Hoạn th ì chức đến Thượng thư, thăng Tư dồ, Tham tụng, Bồi tụng, Tham đốc; Đố chỉ huy, lin h Trấn thủ, tưởc thảy Công, Hầu , cha con, anh'em đứng đầu trong triều, ngoài quận Ày là vào thòi Lê mạt, cuổĩ th ế kỷ X V III, lúc thịnh đạt nhất của họ Nguyễn, cũng là của Tiên Điển.

Hồi cuối Lê (TK X V III), làng Tiên Điển hẻo lánh xưa dã trỏ thành ndi đô hội nhất nhì xứ Nghệ Sốch cổ chép rằng, quanh dầm Phổ Quán, lầu gác, dinh th ấ t trống lệ mọc nôi tiếp nhau, hàng chục đền miếu, đình chừa được xây dựng khắp cốc thôn xóm, trong đó có cốc công trìn h văn hóa tiếng tăm Đình Tiên không lớn, nhưng là ngôi dinh đẹp nhất trong vừng, x&y dựng khi làng dược ban tên “ xã Trung Nghĩa” Chùa Trưòng N inh do dân làng lộp lên, đến đòi Hoằng Định (1601-1619), Đoan quận công cho sửa lạ i và dựng bia (bia vẫn

PHẢ HỆ HỌ NGUYỄN TIÊN ĐIỂN

T ừ ĐỜI THỨ NHẤT ĐẾN DỜI THỨ TÁM

(DỒNG TRỰC TIẾP NGUYỄN l)U)

Nim Dương Hầu Nfuyền Nhiệm

Dỏng trướng ddì tang Khinh trạch hầu Dòng út vẲn ỏ Dóng Giẩj»

ihón Vẩn Tưànf Nguyền Linh thôn L«tơng N*nf

1r

Phaong Trẹch Công Nguyền ổn

Nguyễn Chùng (Mất •dtn)

BÁO lộc 1^01 Nguyền THé Ch Anh au AI dội Nguyền Yếu

Nguvỉn lluyln Lỉnh Nam cỗng

Nguyỉn Quýnh Nguyền Lựu

tìiớ i Hìmi c6nf Ngh| Htén rAtig ShÁ IIlén róttf Hưng Nhac IU DAng Nh^r BA Vittng NKfc Bi

N tuy In I M N|U)in Nghilm NfU)in Tryng Nguyền Tm Nguy ỉn st Nguyỉn lluyến

Ngũ) in KHnn Nguyin DÚu NfU)ỉn Trụ N»ụ>ífi<ỉ“ ý-fc N|U)4n 1 T Ã 1 DĨ

’ U L j r Ngu\in

«c Ngiu

Nfu>4n Niuyia NHÓnc Ãoẹn

1

Nguyln Tứ

N fu)in

Sá, Ngu vinĨ M s

N|«y4ii TM N|U)4n

í ã á t - Ngwy4n

■ ĩte á iB Nfuyln

H Ĩ , Nguiỉn 11»

Nguylti

M 4*

Nsu>*lii

U n i N(U)4W Tni NguyỈR

71

Trang 23

cònt nhưng chữ đẵ mất) Đình Từ Văn xưa

ở xã Hoa (Xuân) Viên, đời Vịnh Hựu (1735-

1740), Xuân quộn công cho dời về đầy,

đựng cạnh đinh Tiên và chùa Trưòng

Ninh < H ai cây cầu cũng được coi là thắng

tích trong làng, c ầ u Báu Kệ bắc trên bàu

nước trước đình “H ai mố cầu xây đá làm

chỗn, dọc bờ trồng cây đại thụ làm bóng

Ịáiốt,' tảnh trí th ậ t đẹp” , cẩu Tiên do Xuân

quận tốílg (Nguyễn Nghiễtn) cùng hai ông

Liếu quận công (Đặng Sĩ Vinh) và Hiến

ijhồ| (Đặrig Thối Bàng) ở Uy Viễn cho sửa

iậíj dựng bia đá đầu cầu ‘Thòi đó, ngựa xe,

mũ lọng đi lạ i như mắc cửi, cảnh tr í không

khốc gì Ngọ kiều nhà Đường” Còn chợ

'Rên th ì “ hàng quốn nốì rông lược, lầu cốc

chăỉig mạng nhện, lại có người Tàu lập phô'

xá buôn bán, th ậ t là nơi “ văn vật” nhất

huyện ”

Trong các thôn, còn có nhiều đền, miếu:

Đền Doan quận công, dển Hội quận công

Lương Năng, đền Uy quận công Võ Phấn,

đền T rin h Dũng hầu, đền Hà Chân đài ỏ

Bốu Kệ Riêng họ Nguyễn cổ đển Linh

Nam công, đển Tiên lin h hầu (Nguyễn

Huệ), đến Xuân nhạc công (Nguyễn

Nghiễm ), đền Lam khê hẩu (Nguyễn

Trọng), đền Điển nhạc hầu (Nguyễn

Điểu)

Năm Tân Hợi (1791), nhân vụ Nguyễn

Quýnh (con thứ tư Nguyễn Nghiễm) mưu

chống lạ i nhà Tây Sơn, làng Tiên Điển bị

quân Tây Sơn đốt phố Hầu hết dinh cơ cốc

đại gia và một số đình, miếu bị chốy trụ i

Đến đời Nguyễn, một số công trìn h được

trùng tu, nhưng cảnh tượng huy hoàng xưa

không còn nữa Cốc nhà quý tộc phong kiến

cùng thời với dinh cơ của họ và nhiều công

trìn h kiến trúc văn hóa, lịch sử đã mất từ

lầu Nhưng những tập tục hay, những

truyển thống tố t đẹp của nhân dân Tiên

Điền mà cốc dòng họ lốn cổ phần đóng góp

quan trọng th l vẫn còn mãi mãi Sốch

Nghi Xuân huyện chi chép sơ lược lịch sử

chùa Trường N inh và đình Tiên: “ Ngày

kưa, người già cả trong làng, ai đến lúa tuôi

2, phần lớn đểu gặp bâ't lợi Trong làng có

.cụ đến tuổi đó biện lễ đến cầu yên ỏ chùa

này thì cả năm cụ đều được yên ển Sang đầu năm sau, các cụ lên tuổi 63, họ làm cỗ lên chùa tạ, do dó trở thành lệ làng Từ 12 đến rằm tháng giêng hàng năm, mỗi thôn được chia lượt một ngày lễ chùa K hi các thôn lễ Phật xong, toàn xã về họp mặt tại đình Tiên uống rượu, ngâm thơ mừng thọ, chung vui”

Uổng rượu, ngâm thơ đầu xuân là sinh hoạt văn hóa của giới quý tộc, nho 81 Còn hốt ví giao duyên là sinh hoạt văn nghệ bỉnh dỗn mà nhiều tao nhân, mặc khách cũng đam mê không kém tra i gâi trong làng Ngày nay còn nhiều giai thoại về Nguyễn Du tham gia các cuộc hốt với tra i gái Tiên Điển, Tràng Lưu

Cùng với những tục lệ hay, những nếp sinh hoạt văn hỏa đẹp, học hành là truyền thống quý dược nhân dân giữ gin và phốt huy cho đến bây giờ, người được đi học chỉ tâm niệm ‘T iế n vi quan, thối vi sư” - Tiến lên th i làm quan, lu i vể thì làm thầy Nếu không dạy học (nho) thì làm thuốc (y), làm địa lý (lý), làm bối toán (số) cũng là những

“nghề thầy” Tiên Điền có nhiều thầy giỏi Động Chủng là một trong những ngưồi đầu tiên mở trường dạy học ở Tiên Điền Lê Hoằng Quy người thôn Tiên Bào (Tiên

Điển xưa) dạy học ở Bốu Kệ, dược học trò

thò làm TỔ 8li, Hà Đăng Chỗu, Hồ Sỹ Lắm đều là những vị sư mô nổi tiếng đã tạo nên nhiều nhà khoa bảng thòi Lê - Nguyễn Tiên Điền có nhiều người làm học quan như các Huấn đạo Hà Thúc Đạt, Hà Tôn Dao, Trần Thới Chuẩn , lại có Nguyễn Nghiễm ỉà Nhập nội kinh diên, Nguyễn Khản làm Tả tư giảng là thầy học của vua

Lê chúạ Trịnh.

Các dòng họ Hà, Trần, Lê , nhất là họ Nguyễn lạ i có nhiểu danh y: Nhân Hiền tiên sinh Hà Công Huy làm việc ỏ viện Nhung y, về hưu ở thôn Báu Kệ tiếp tục làm thuốc Họ Nguyễn, từ cốc vị tổ Nam dương công, Lĩnh nam công đến cốc con cháu, Nguyễn Trọng, Nguyễn c ả n h (2 ),

Nguyễn Nhưng, Nguyễn Nghi, Nguyễn Thị Uyên đểu là thầy thuốc có tài Nguyễn Trọng có công nghiên cứu thuốc Nam,

Trang 24

thuốc của Nguyễn cảnh được coi là “ thuốc thốnh” , nhà thơ Nguyễn Hành thưồng nói

“ông có tà i “lương tướng" v ể sau, Tiên Điền vẫn là đất của nhiều vị lương y

L ĩn h nam công Nguyễn Quỳnh, giỏi nghề thuốc, lại có biệt tà i về nghể địa lý (phong thủy)

Trong nhiểu lĩn h vực sáng tạo văn hóa* Tiên Điển đều có những tác giả nổi tiếng trong xứ, trong nước Đó là Nguyễn Nhiệm, Nguyễn Quỳnh với cốc trước tốc y học

Nam dương tậ p yếu k in h nguyên, Từ

ấu chân thuyên quyết nghị tậpỊ Nguyễn

Nghiễm với các bộ sử, địa Việt sử bị lãm

(7 quyển), L ạn g Sơn toàn th à n h d ồ c h í ; Hoàng Tôn Tuẫn, Trần Duy Tự, Hoàng Kim Thành với các bộ sổch dịch thuật, SƯU tập: Thi p h ú chú g iả i, Tiểu hoc ăm diền n gh ĩa Thái H iên d ư tệ p , Phú tập, Tứ lục tâp. Đặc biệt, Tiên Điền trỏ thành tên của th i hào dân tộc Nguyễn Du

Ngày nay, con em Tiên Điển vẫn tiếp tục phất huy truyền thống tố t dẹp của cha ông, có nhiều đổng góp xúng đống với quê hương đất nước, nhất ỉà tạo được nhiều nhân tài thòi hiện dại, tiêu biểu ỉà GS • TS

y học Hà Vàn Mạo, GS khảo cổ Hà Vân Tấn ■

9-2005 T.K.Đ

Trang 25

ở nông thôn Việt Nam, vườn

nhà thường gắn với mỗi người

khi đã trở thành gia đình Đối với

Đại thi hào Nguyễn Du suốt cuộc

đời có hai thời kỳ sống chung cùng

với gia đình trong khu vườn biệt lập:

Thời kỳ ở Thái Binh và thời kỳ ở

Hà Tĩnh

Thời gian ở Thái Binh Bắt đầu

tử năm 1786, Nguyễn Du cùng vợ

về quê ở làng An Hải, huyện Quỳnh

Côi, tỉnh Thái Binh (nay là xã

Quỳnh Nguyên, huyện Quỳnh Phụ)

Cho đến nay chúng ta cũng chỉ biết

vợ của ông là người con gái họ

Đoàn, con của Hoàng giáp Đoàn

Nguyên Thục là em gái Hương cống

Đoàn Nguyên Tuấn Vợ chồng ông

được gia đinh họ Đoàn cho ra ở

riêng trong một căn nhà nhỏ nhưng

vẫn sống chung trong cảnh khó

khăn, nghèo túng, tuy vậy Nguyễn

Du rất quỷ vợ và trân trọng gia đinh

họ Đoàn Hai người kết duyên từ

bao giờ? 10 năm vợ chổng ông

chung sống ở Thái Binh gia thất,

vườn tược ra sao chưa thấy tài liệu

nào nhắc đến

Thời kỳ thứ hai ở ụà TTnh Theo

tư liệu "Nguyễn Du và Truyện Kiều’’

của nhà địa phương học Thái Kim

Đỉnh cùng nhiều tác giả khác, đầu

năm Bính Thin (1796), Nguyễn Du

trở về quê Tiên Điền kết thúc “ 10

năm gió bụi” ở Thái Bình Trở lại

quê cha đất tổ khi mái đầu đã điểm

bạc, sau vụ Nguyễn Quýnh anh ruột

Nguyễn Du đưng ra chống đối

phong trào Tây Sơn, Quan hiệp trấn

Nguyên Quang Dụ đem quân vẻ

triệt phá dinh thự chặt phá cây cối

của họ Nguyễn Tiên Điền Làng cũ,

vườn xưa tất cả đã điêu tàn, trước

cảnh nhân tinh thế thái ấy lòng ông

rối bời Lần về này chỉ có ông dắt

dfu những người con trai trở lại quê

nhà, còn người vợ họ Đoàn hiền

thục ở lại Thái Btnh Bước đầu ông

dự định chỉ về thăm lại quê hương

bản quán, nhưng không hiểu sao

sau đó ông lại quyết định ở hăn lại

Toàn bộ xung quanh thưng bằng phên đất, nhưng tấm phên đất lâu ngày nước thấm vào thường bị đổ nen vể sau được thay bằng liếp

trong nhà hầu như khong có gì để bày biện Giữa nhà kê một chiếc giường mộc, gian chái phía ngoài có chiếc võng tre gác lên hai đầu hạ ngang (võng tre ở vùng Nghệ Tĩnh

như một chiếc giường nhỏ giống chiếc xích đu ngày nay) Xung quanh treo các dóng sách và đó dùng sinh hoạt đơn sơ của gia đình

Khuon viên vườn nhà ban đầu rất

bé, xung quanh chì lơ thơ có các cây hoang cằn cỗi mọc trên cát

Sau khi trở lại làm quan ở triéu đinh Huế và đi sứ Trung Hoa về ông có cải lạo trổng thêm một số cây ăn quả như ổi, hổng không hạt và cây làm thuốc nam chữa bệnh

Những ngày sống ở Tiên Điền cũng giống như ở Thái Bình, nhà thớ sống trong cành đói cơm rách

áo, vợ con nheo nhóc, thường là:

'Trong bếp một tuần không có lửa"

lại bị bệnh tật dày vò triên miên, nhiều lúc đau ốm nằm mấy Iháng liền không thuốc thang chứa trị

Những lúc khỏe mạnh ông cúng bạn bè lên núi Hồng Lĩnh, làm một tiều phu lấy củi hoặc săn bắt muông thú để trợ giúp gia đình Đi săn trên núi Hồng là một thú vui của Nguyên

NGUYỀN XUÂN BÁCH

Du, ông đã tự khiếm mình là: "Hóng Sơn liệp hộ" (Người đi săn trên núi Hổng) Vào mùa nồm nam đổi gió, ông lại theo bạn chài xuôi dòng sông Lam ra cửa biển câu cá, nên ông còn có biệt danh: "Nam hải điếu

Đông) Õng còn tản bộ trong dân làng, lặn lội vượt Núi Cài sang làng Trường Lưu hát v( phường vải đe tim tứ văn thơ Đêm về nằm trên chiếc võng tre "hai đầu treo võng bị mòn vẹt" để “lời quê chắp nhặt rông dài" nhằm hoàn thảnh tác phẩm

"Văn chiêu hổn'' và "Truyện Kiéu" cùa mình trên mảnh đất quê hương

Vé sau, khi con cái đã trường thành, mỗi người Irong nhà đều lần lượt lấy vợ gả chổng, ra ớ riêng, vườn nhà cua ông chỉ dành cho người con Nguyễn Ngũ ở Năm

1820, ông mất tại cung đinh Huế, bổn năm sau, người con Nguyễn Ngũ vào kinh đô xin chuyên phần

mộ cùa ông về quê Mộ của ông được an táng phia sau vườn nha Irong lần di dời này triều đinh nhà Nguyễn cũng đã hồ trợ một khoản tiền, sau khi cải táng xong còn dư lai một số kinh phí Cũng năm đỏ con cháu trong dòng họ cùng dân làng

đã góp sức thêm xây dựng trong vườn cũ của ỏng một nhá thờ ba gian không chái Thời gian đầu, hàng năm nhà thờ được con cháu

và các bậc nho sỹ trong vùng góp

công góp sức tu bổ tôn tạo nhiểu lần nhưng về sau do con cháu chuyển

đi nơi khác để giành toàn bộ khu đất

đó làm nơi thờ tự ông nên việc chăm sóc không được thựởng xuyên Nắng mưa khl hậu khắc nghiệt của vùng miền Trung cùng với những biến động của xã hội, mái nhà thở ờ khu vườn lâu ngày bị dột, đó thờ tự

bị chuyển đổi thất lạc Năm 1940, hội Khai trí Tiến Đức đã góp tiến giao cho người cháu là Tiến sỹ Nguyễn Mai chuyến dời nhả Ihờ về trong khuôn v.iẽn gia tộc họ Nguyền Tiên Điền (Khu lưu niệm hiện nay) Khu vườn cũ về sau được giao cho một người cháu trực hệ sứ đụryg trổng khoai sắn Các di tích nha cứa trẽn khu vườn dã bị xốn bỉ), dflít tích

Trang 26

ụ h n vồ và n h ữ n g lần n g h ỉ p h é p lúc l.im (|u n n th i lổ n g c ô n g ô n g s ố n g

( | i i r c h a (lâ ỉ tố ch ư n d ấ y 8 n á m

ỉ ; im n a m so vớ i c u ỏ c d ờ i 55 tuổi (.11,1 ô n y tuy kỉ lô n g n h iề u n h ư n g d ó

la th o i g ia n cỏ n h iề u b iế n c ô n h ấ t, no'i ônc) đ ư o c số n g c h u n g v ớ i n g ư ờ i

d â n la o d ô n g , nơi ô n g đ ư o c tiế p xú c VOI n h ié u ta o n h ã n m ă c k h á c h và tư

N y u y ồ n D u viế t nên T ru y ệ n K iề u

h ó i liu

N.X.B

26

Trang 27

II KỶ NIỆM 240 NÃM

NĂM SINH NGUYỄN DU

27

Trang 28

Quê ngoại chúng tôi ở làng

ĩiê h Điền huyệh Nghi Xuân,

tĩnh Hà Tĩnh Mệ chúng tôi

Nguyễn Thị Tảo, con gái thứ

tám ông Nguyễn Truyền (người

lấng quen gọi là cố Tời).

Năm 1938, ông ngoại và ông

chú (em họ ông ngoại)-ông

Nghè Mai, ra thăm gia đinh

chúng tôi ở thi xã Ninh Binh và

cỏ chụp ảnh lưu niệm.

Nghe mạ tôi,' bác Nguyễn

Diệu (con thứ 7, niất năm 1942)

và cậu Nguyễn Chung (con thứ

9, mất năm 1944) kể lại là ông

ngoại giỏi cẳ vỗh lẫn võ, đ i

tham gla phong trầo c ầ n Vương

là cháu đích tôn cụ Nguyễn Du

và cả họ tộc đều lưu truyền rằng

ồng ngoại rất nho nhã hào hoa

và rất giống cụ Nguyễn Du về

ngoại hình.

Việc thờ tự cụ Nguyễn Du

đều do gla đình ống ngoại tôi

đảm nhiệm sau khi cậu Nguyễn

Chung mất mới trao lại cho ông

Nyhè Mai và con trai là ông

Nguyễn Duật vạ òon gái là ba

Nguyễn Thị Vị (trong gia đình tôi

gọi là o Sáu)

Có lẽ vi thế mà tác giả

Nguyễn Đức Thu (Dạ Lan

Nguyễn Đức Dụ) trong cuốn Gia

phả khảo luận vả thực hành mới

ghi nhận: “Cháu đích tôn

Nguyễn Du là Nguyễn Mai”.

cùng các "học trò lớp đệ tứ niên”

và hậu duệ của cụ Nguyễn Du

Lởi chú của bức ảnh có ghi rõ:

ngưởi có râu bạc là cháu đích tôn cụ Nguyễn Du

Cũng bức ảnh này tác giả Đức Ban trong sách “Người Nghi Xuân tập 1, NXB VHTT, 2002) lại chú giải là: người đứng bên phải Le Braton (Giám đốc Cao đẳng tiểu học Vinh) lại là chắt đời thứ 4 của Nguyễn Du tên là

Nguyễn Tờí (thực ra tên cố Tời

là tốn gọi của làng xã, trong họ tộc chúng tôi không ai đặt tôn nôm cho Cồn cháu)

và UBND huyện Nghi Xuân xác nhận

nhà anh trai là Nguyễn Khản,

tiến sĩ, thượng thư Toỗn quện

công Năm 18 tuổi đậu tam trưởng kỳ thi hương nhận chức

quan võ ở Thái Nguyên.

Thời trẻ của Nguyễn Du là giai đoạn đất nước chia cắt

Đằng ngoài, Đằng trong Ở Bắc

Hà là thời kỳ loạn lạc Trịnh Sâm hết sức suy đổi

Năm 1789, người anh hùng

áo vải của cuộc khởi nghĩa Tây

Sơn - Vua Quang Trung đại phá

quân Thanh, Lê Chiêu Thống bỏ chạy cùng một số quan lại triều đình ra nước ngoài

Nguyễn Du về quê vợ ở Thái

Binh rồi về Hả Tĩnh, phải trốn tránh vì sợ nhà Tây Sơn Thế nhưng vua Qụang Trung vẫn ưu đãi sĩ phu Bắc Hả, vả sử dụng người tài như La Sợn phu tử Nguyễn Thiếp

Đối với Tây Sơn, Nguyễn Du

đã được mời đi ăn tiệc vói các

28

Trang 29

'quan, Nguyễn Du đã gửi vào đó “Tất cả những

khao khát tha thiết của mình và của người đương

thôi Những khao khát ấy trong non một thế kỷ đa

lảm nổ ra liên tiếp những cuộc khởi nghĩa của

nông dân vả cuối cùnc) đưa đỗn cuộc khởi nghĩa

Tây Sơn vĩ đại” (Hoái Thanh, Nguyễn Du và

Truyện Kiểu Hà Nội, 1959) Khi thấy sự nghiệp

nhà Tây Sơn sụp đo, Nguyễn Du đau lòng nhỏ lẹ.

Thương tâm vãn sự lệ kỳ thi”

(Long thành cẩm giả ca-Văn học nguyệt san

số 16,1965) Ồng làm quan với Triều Nguyễn Gia Long

Năm 1813 được cử đl sứ ở Trung Quốc khi về

nước là Lễ bộ hữu tham tri Năm 1820 Minh Mạng

lốn ngôi định cử ông làm Chánh sứ cầu phong bộ

Nhưng chưa kịp đi thl ông mất.

Theo Đại Nam liệt truyện chính biến: Ở trong

triều ông tỏ ra không sốt sắng, nhiều lần cáo bệnh

về quê, ỗng ít nói nặng, nha vua đã có lần quở

tFách (Chân dung Nguyên Du, Sài Gòn 1971).

Nguyễn Du viết nhiều tác phẩm bằng chữ Hán

và chữ Nôm Tác phẩm lớn nhất là: Đoạn trường

tân Thanh tức Truyện Kiều.

Trong các tác phẩm của ông chan chứa một

tình yêu thương đối với con người, đối với nhân

dân, nông dân, những người đau khể bất hạnh-

đặc biệt đốl với phụ nữ bị đàn áp dưới thời phong

kiến.

Truyện Kiểu nól vể cuộc đởi bất hạnh của

Vương Thuỷ Kiều, một người con gái trong gia

đinh bỉnh thưởng, tài sắc vạn toàn nhưng iại phải

trải qua nhiều bất hạnh.

Truyện Kiều có nội dung sâu sắc và nghệ thuật

là một "đĩnh cao của thơ Câ eể điển của dân lộc"

(1)

Truyện Kiều đã được dịch ra nhiều thứ tiếng

ríứớc ngoài: Pháp, Anh, Nga, Trung Quốc, Tiệp

Khắc, Nhật Bản đặc biệt được lưu truyền, và

ngưỡng mộ của nhân dân qua các thời kỳ với

nhiều hỉnh thức: đố Kiều, lẩy Kiều, tập Kiều sân

phắm bình luận Truyện kiều của các tác giả trong

vá ngoài nước và đăng toàn văn 200 bài bằng

tlểng Việt và tiếng Pháp bình luận về triết học,

hịịôrí ngữ học, luân lý, nghệ thuật tả cảnh tả

người

Một tác phẩm lớn như vậy lại được kết luận

bằhg Hal câu thơ rất khiêm tôn:

“Lờí quê góp nhặt dông dài,

Muạ vui cũng được một vài trống canh.

Chúnị) tôi chi xin gỏp nhặt thêm một vấn đề mà

văn học của loải người luôn luôn đề cập đến là tình yêu nam nữ Thiên thụ (Tạp chí Nghiên cứu

Văn học, 1971) có viết: “Một Thuý Kiều, ba tình

yêu”: Kim Trọng, Thúc Sinh và Từ Hải-nhưnịj thẽo chúng tôi thỉ không nên gọi như vậy, Thúc Sinh có thể là người tinh, một nơi gửi gắm nương thân, sau những đồm:

"Biết bao bướm lả, ong lơi Cuộc say đầy tháng trận cười suốt đêm Khi tỉnh rượu lúc tàn canh

Giật mình, mình lại thương mình xót xa.”

Muốn nương tựa vào Thúc Sinh, nhung vẫn còn bao nhiêu lo âu sợ hãi về cha mạ chàng vả vợ chàng-Hoạn Thư ở quê nhả.

Theo chúng tôi, Thúy Kiều ch? có hai ngưởi yêu.

Mối tinh đầu với Kỉm Trọng Tinh yêu trong sáng ở tuổi mới lớn, của một cô con gái đạp (người quốc sắc) con nhà gia giáo với một nho sĩ (kẻ thiên tài) phong lưu Yêu tha thiết, nhưng vẫn biết giữ minh để tiến tới hôn nhân lâu dài:

'Thưa rằng: đùng lấy làm chơi

Dẽ cho ịhưa hết một ìời đã nao

Đã cho vào bậc bố kinh Đạo tỏng, phu lấy chữ trình làm đẩu"

Người yêu thứ hai là Từ Hải.

Khác với nho sinh Kim Trọng, Từ Hải là một vỗ tướng mạnh khỏe oai hùng:

Râu hùm, hàm én, mày ngài, Vaì năm tấc rộng, thân mười thước cao, Đường đường một đấng anh hào

Cỗn quyến hơn sức, lược thao gồm tài."

Hai ngưởi cùng yêu nhau từ buổi đầu gặp gỡ:

“Hai bên cùng liếc, hai lòng cùng ưa”

Thuý Kiều hiểu và tôn trọng Từ Hải, Từ Hải cũng đáp lai:

"Cười rằng: 'Trí kỷ trước sau mấy người? Khen cho con mất tinh đà',

Anh hùng đoán giữa trần ai mới già!

Một lời đã biết đến ta Muôn chùng nghìn từ cũng là có nhau.

Nửa năm hương lửa đang nồng, nhưng chí lớn vẫn giục người anh hùng ra đi, và Kiều chờ đợi và thỏa lòng với ngày về vinh quang của Từ Hải Nếu nói rằng tình yêu là phai hội tụ đù cả ba yếu tố tình cảm, lý trí và thể chất-Thì Từ Hải và Thúy Kiều rất đạp đôi.

Thuở xưa, trong văn chương các tác giả đều nói lên ý chí và gửi gắm tâm sự

Có ý kiến cho rằng Nguyễn Du đã gửi gắm tâm

sự vào truyện Kiểu Tư tưởng Hoài Lố thể hiện trong mối tình đầu với Kim Trọng Còn khát vọng cho quyền sống của con người, quyền được yêu,

Trang 30

Kiều lại gửi vào Từ Hải Mà dưới triều Nguyễn thì không thể nào biến khát vọng đó thảnh cônp tốt đẹp hơn được Không nên so sánh hình ảnh vua Quang Trung Nguyễn Huệ với Từ Hải Nhưng có thể không có nhân vật Tử Hải không có người Anh hùng áo vải Quang Trung.

Trong khoảng 200 năm Truyện Kiều ra đời đã có nhiều thế hệ bình luận qua các thời đại (3) trong đó có: “Các khắt khe của những người bảo vệ trật tự phong kiến, cái cảm tình của các nhả nho phóng khoáng, của nhân dân cho tới thời đại Hồ Chí Minh.

“Những thành tựu quỷ báu như thế, mai đây con cháu chúng ta sẽ nối tiếp thêrri” (4) Chúng ta đếu biết rằng tư duy của con người phải dựa trên ngôn ngữ Chính ngòi bút của Nguyễn Du đã làm cho tiếng Việt phong phú hơn vả đẹp thêm, đã xây dựng được các mẫu người xấu tốt, nền tảng đạo đức Tâm, Tải để lại cho dân tộc Việt Nam.

Năm 1965, Hội đổng Hoà bình Thế giới quyết định kỷ niệm 200 năm, năm sinh của

nhà thơ trên toàn thế giới -

Chúng tôi tin tưởng rằng, 100 năm nữa “ba trăm năm sau ngày Nguyễn Du đề tựa Truyện Kiều, nhân dân ta vả nhân loai vẫn gòn tưởng nhớ

Tố Như'’.

GS, TSKH

NGUYỄN MẠNH LIÊN

30

Trang 31

Văn nghệ

Sô 49(2394) * Ngày 3/12/2005

KỶ NIỆM 240 NĂM NĂM SINH

'NGHÌN NÃM SAU NHỠ NGUYỄN DU"

Phong Lê

Dấu ân đặc trưng của một tác gia lớn

bất cứ lúc nào, bất chấp moi thay đổi của thời cuộc, của thể chế chính

Nhưng không phải là một trạng thái đọc yên tĩnh, và một chiều

Mà là một sự đọc trong tranh cãi, bàn luận, khẳng định, điều chỉnh, bác bỏ giữa người đọc với nhau, trong cùng một thế hệ, hoặc từ thế hệ này sang thế hè khác, không lúc nào ngừng nghỉ

Khen, khẳng định và ca ngợi những giá trị được tiếp cận theo nhiều cách khác nhau, trong những ngưòi đương thời và hậu thế đương nhiên đó phải là hiện tượng được tính đến trước tiên, mà đại diện là Mộng Liên Đường, Phạm Quý Thích Nguyễn Văn Thắnq, Chu Mạnh Trinh, Đào Nguyên Phổ cho đến cả một lớp người, trong tên gọi chung là công chúng:

Mé gi rnè đánh tổ tôm

Mè ngựa hậu bổ mê Nôm Thuỳ Kiều

Nhưng rối sự thể sẽ càng trở nên phức tạp trong sự tiếp nhận, với một thế giới người "ọc, người kể, người nghe bỗng trở nên quá rộng, từ một ông vua cao chót vót là Tự Đức đến thé giới binh dân, đủ mọi tầng lớp, sỏ đỏng là mù chữ

Nguyễn Du ra mà đánh cho vài chục trượng giá như Nguyễn Du còn sống, ở đây

mẻ là mẻ giá trị văn chương! nhưng dẫu sự mẻ hoặc của vãn chương, là ông vua,

Tự Đức vẫn không thể mất cảnh giác mà bỏ qua những khía cạnh vi pham luân

lý (trong một phấn đời Kiều), và không chỉ là luân lý mà còn là chính trị (qua hành trạng cua Từ Hài)

Nhung thời thế đã chuyển đổi - ngaỵ từ triều Tự Đức Thời trung đại và thể chế phong kiến đến hổi tan rã đã làm xuất hiện một lớp nhà Nho - kẻ Sĩ chỉ muốn tìm đến văn chương như một thú chơi, trong SƯ "mê Nộm Thuý Kiều”, cho con người tìm đến văn chương - nghệ thuật như một nhu cầu tự thân, khác với các nhu cầu chính thống

Đầu thế kỷ XX, có một học giả chủ trương: "Truyện Kiều còn, tiếng ta còn

Tiếng ta còn, nước ta còn” Lập tức ngay sau đó, một nhà Nho - chí sĩ quyết đập cho tơi bời cái quan niệm đó, nên đã gán cho Truyện Kiều cái nội dung: ai, dâm,

sáu, oán, đạo, dục, tăng, bi - 8 chữ ay không tránh đường nào cho khỏi Và, từ điểm nhin và định hướng đó, Truyện Kiểu bi liệt vào dám thư, và nhản vật Thuỷ

Kiều bỗng trỏ thành con đĩ

Nửa sau thế kỷ XX - sự thể lại diễn ra theo một hướng khác, hoặc có khía

Trang 32

phong kiến, nơi Quyền sống của con người trong

“Truyện Kiều” của Hoài Thanh, năm 1951 Mười năm

sau, vào mùa Xuân 1961, Nguyễn Du lại được Tố Hữu

huy động làm đối ứng cho một bài ca xuân thẳm thiết

tình yêu chủ nghĩa xã hội trong buổi đầu xuất hiện:

Trải qua một cuộc b ể dâu

Câu thơ còn đọng nỗi đau nhân tình

Nổi chim kiếp sống lênh đênh

Tố Như ơi, lệ chảy quanh thân Kiều

(Bài ca mùa xuân 1961; Gió lộng)

Rồi, vào chống Mỹ, đúng vào dịp kỷ niệm 200 năm

người đọc như một nhịp trống hào hùng, giục giã người

"ra trận":

Sông Lam nưởc chảy bên đối

Bỗng nghe trống giục ba hổi gọi quân

(Kính gửi cụ Nguyễn Du; Ra trận)

nhân lèn nhiều lẩn, nên đã cuốn theo biết bao nhièu

học giả vào mõt cuộc tìm kiếm, khảo sát khòng ngửng

nghĩ vế ngôn ngữ, về giá trị ván chương Muc tiêu đi tìm

m ỏt bàn K iề u đúng với n g u yê n tác là SƯ n g hiêp của

nhiế^ người, trong đò học già Hoàng Xuân Hãn gấn như

dành cà mỏt đòi cho việc đó, và cho đèn lúc qua đời

ỏng vàn chưa xong Một cuỏc tim đem lại vinh quang

cho bao còng trinh, bao luán án khoa hoc mà chì riéng

vièc xác đinh đung một chữ, mót cảu cũng đủ dươc

xem la một phat hiên quý giá Như ''gươm đàn" hay

g ư cm c u n g " , như ''đàng'' h o ã c "đường" và càu thơ sô

ỞƯơng nhièn là trong cuôc íim kiếm bất tận đó cũng đã

xảy ra khóng ít cãi vả, xó xát, do sư khác nhau trong

cách khai thác và xử lý văn bàn tư liêu

Han chưa có một tác phẩm nào của văn học cổ điển

và vàn học hiện đại có thể đưa đến một hiêu ứng đọc

rông rãi với mọi hình thái và cung bưc thường thức đa

Kiều, bói K iều Nếu măc khách, dành cho những

ngươi tim thấy ờ K iề u sự đam m ê của m ột thú chơi thi

bói Kiều là một sản phẩm của dân dã, của công chúng

ít học hoặc thất học, của những người chân lấm tay bùn

chia sẻ vái cảnh ngộ và tâm trạng; cũng lại là nơi gửi

găm những ao ước trước các bí ẩn của đời

Có ai hơn hoặc thay được Nguyễn Du?

Không ai vượt được Nguyễn Du - đó là điều có thể

khẳng định cho đến thời điểm hôm nay Kể cả trong ý

nghĩ - có lẽ chưa một văn nhân thi sĩ nào lả người đương thời hoặc hậu sinh lại dám nghĩ rằng minh có thể hơn được Nguyễn Du, hoặc thay được Nguyễn Du Hiện tượng này không thể xem là bình thường trong sự phát triển của các nền văn học dân tộc, trong đó văn học Việt Nam đã đi qua hai giai đoạn trung đại và hiện đại

ở một bước ngoặt quyết định như thế - từ trung đại sang hiện đai, khi thay đổi đặc trưng, phẩm chất và mô hình văn học, rất dễ có một gấp khúc hoặc cắt rời triệt

để, khiên cho các giá trị cũ nhanh chóng chỉ còn lại giá trị lịch sử, khó có được một sự sống tiếp, một sức lay động mới, trong các thế hệ người đọc đến sau

Thế nhưng Nguyễn Du - dẫu là tinh hoa của văn hoc cổ điển, với sự tuân thủ cá c quy phạm ch ậ t chội của

nó, vẫn không mất đi ý nghĩa tiêu biểu và mẫu mưc đối

VỚI vàn học hièn đại

Hãy từ Phong trào Thơ mới 1932-1945, mỏ ra một thời đại mới, một cuộc cách mạng triệt để trong lịch sử thơ ca; môt phong trào, trong cùng lúc, chỉ trên dưới 10 năm, làm sản sinh hang chục tên tuổi sáng giá, với đặc sắc mỗi người một vẻ: cái rộng mỏ của Thế Lữ, cái hùng tráng của Huy Thông, cái trong trẻo của Nguyễn Nhược Pháp, cái quê mùa cùa Nguyễn Bính, cái kỳ dị của Chế Lan Viên, cái rạo rực, băn khoăn của Xuân Diệu01 Thế nhưng, tất cả họ, là các nhà thơ, cùng với người chọn và bình là Hoài Thanh, tất cả đều đặt mình dưới thần tượng Nguyễn Du Lưu Trọng Lư viết: “Thơ mới dẫu

có sản xuất ra được một bậc thièn tài lỗi lạc nào, tôi cũng không vì bậc thiên tài ấy mà rẻ rúng ỏng Nguyên

Du thân yêu của tôi, ông Nguyễn Du bất diệt, nhà thi sĩ của muôn đời"'41

Còn Hoài Thanh, khi đã làm xong việc khẳng định một thời đại trong thi ca, lại không thể không trỏ về với lịch sử 'Tôi không so sánh các nhà Thơ mới với Nguyễn Du để xem ai hơn ai kém Đời xưa có thể có những bậc kỳ tài đời nay không ai sánh kịp Đừng lấy một người sánh với một người Hãy sánh thời đại cùng thời íại-w

tư cách người đầu tiên tôn vinh Thơ mới, đã chọn được một cách so sánh khôn ngoan là so thời với thời Những ngót 400 năm để từ Nguyễn Trãi đến Nguyễn Du, với bước tiến vượt bậc của thơ Nôm, nhưng van trong cùng một khuôn hình cổ điển Rồi ngót 200 năm, từ Nguyễn

cho trung đại, và khác với trung đại là sự xuằt hiện các

phong cách nghệ thuật riêng Thời của sự hình thành cái Tôi cá nhân trong đời sống lẽ dĩ nhiên đem đến sự

32

Trang 33

chấp nhận, sự đòi hỏi cái Tôi riêng trong nghệ thuật

Thời là khác, là mới Nhưng so riêng ngưdi với người thì

Hoải Thanh đủ thận trọng để không đưa ai vào cùng

bình diện so sánh với Nguyễn Du Cái mà ông gọi là

"bậc kỳ tài đời nay không ai sánh kịp”, tôi nghĩ đo chinh

là Nguyễn Du

Nam, Hoài Thanh còn viết thêm: ”Một quyển sách nói

vể thơ Việt mà mở ra không nhắc đền Nguyễn Du tôi

thấy như một sự bôi bạc Nghĩ thế tôi muốn tìm một câu

tỏi nhớ lại câu: "Của tin gọi m ột chút này làm ghi" Đọc

đi đoc lại riêng lấy làm đắc ý lắm !”161

Vậy là Nguyễn Du vẫn sừng sững trong bấu trời thi

(1959) Để cho Tố Hữu nghiền ngẫm sáu hơn nỗi đau

đón nhàn mỏt tiếng thơ "đông đất trời", trong bối cành

bão lửa chiến tranh, theo bướr chân người "rr trận":

Tiếng thơ ai động đất trời

Nghe như non nưóc vọng lờ i nghìn thu

Tôi chon hai người, mòt là người mới nhất trong các

nhà Thơ mới, đỉnh cao của trào lưu lãng man trước

1945, và mỏt là người tiêu biểu nhất của trào lưu thơ

cách mang vá con chim đáu đàn của nền thơ Việt Nam

sau 1945 Đè’ thấy, thè kỷ XX trong chuyển đông gấp

rut cùa nó trẽn cà hai phương diên cách mang hoá và

hiệ n đai hoa, khõng những k h ô n g ai "q u è n " N g u yễ n Du,

mà còn kháng đinh tiếp sư sóng Nguyễn Du, môt sư

sõng hản rói sẽ là vĩnh viễn

Truyện Kiếu vả “ những điếu trông thấy”

Như ơi, lệ chày quanh thân K iề u" "Báng khuâng nhó

Cụ, thương thân nàng Kiều" (Tố Hữu) Có một nhân vật

nào cho đến thời hiên đai đưỢG biết, đươc nhớ đươc

nghĩ, đươc binh, được bàn, được kể nhiều đến như

nàng Kiều

Vậy là, dẫu tất cả những ràng buộc, hạn chế của tư

duy và phương thức miêu tả của văn hoc trung đại,

Nguyễn Du vẫn xây được những hinh tương sống đông

và bất hủ, xoay quanh nhản vật trung tâm là Thuý Kiều

mà không có bất cứ tác phẩm nào trong văn học trung

đai kể cả hiên đai r.ó đưcic

Dễu với thể truyện thơ gồm con số hàng trăm

truyện, trong đó có cả những truyện nổi danh nhưPAian

Trần, Hoa tiên, Sơ kính tân trang Truyện Kiều vẫn có

thể thoát ra khỏi mặt bằng chung, để trở thành một hiện

tượng thơ nổi bât, không bị khuất lấp bởi một bộ đổng

phục cơ bản là giống nhau, ở khuôn hình văn chương

và ý thức hệ Sao một truyện thơ, chứ không phải văn

xuôi và tiểu thuyết lại thực hiện được một sự sống bền

vững đến thế cho nhân vật?

nhân vật đã được lưu giữ gần như nguyên vẹn trong bộ

nhớ của biết bao là thế hệ công chúng suốt 250 nám đã

qua Không kể Thuý Kiều, Thuý Ván, Kim Trọng Từ

Hài, Thúc Sinh, Vương ổng, Vương Quan Không kể

Hổ Tôn Hiến Hoạn Thư, sở Khanh, Bạc Bà, Bạc Hanh,

Khuyẽn ưng, Khuyên Phệ Ma con lá Chung Công, sư Tam Hợp, vãi Giác Duyên, Thúc Ong, Mã Kiều, bóng

ma Đạm Tiên Rối còn là các nhân vật không tên như thằng bán tơ, mụ mối, quản gia nhà họ Hoạn, viên lại già họ Đô, viên quan xử kiện - “trông lên mặt sắt đen sì”, gã thổ quan

Những nhân vật sống đến thế qua ngôn ngữ NguyễnDu:

Những cảnh xiết bao mỹ lệ như sơn mài:

Cỏ non xanh rợn chấn trời

Cành lè trắng điểm m ột vài bông hoa

Những cảnh sống động như trong điện ảnh:

Đùng đủng gió dục mảy vần

Một xe trong cõi hổng trần như bay

Không một truyện thơ Nôm nào từ thế kỷ XVII cho

đến Lục Vân Tiên cuối thế kỷ XIX đạt được một hiệu

quả nghệ thuật hiện đại đến thế

Đã đành không khó nhận ra Nguyễn Du trong vai người can thiệp, với lời bình không cẩn kín đáo, trước mọi tình huống và cảnh ngộ của nhân vật:

Tiếc thay m ột đoá trà m y Con ong đã tỏ đường đi lố i về

Nhưng không có ở bất cứ nơi nào, một ý hướng giáo

dục, khuyên nhu, bảo ban, răn dạy người đọc như một nhà luân lý Gần như tất cả, Nguyễn Du đều nhường phần đất rộng rãi nhất cho nhân vật - để cho nhân vật sống sứ sống của bản thân nó; và đến trưc tiếc với

ngiiơi đọc

Với Thuý Kiều, trong tình yèu Kim Trong:

Người đáu gặp gỡ làm chi Trăm năm biết có duyên gì hay khõng?

Với Mã Giám Sinh, trong vai “chống” của Kiều:

Vả đây đường sá xa xôi

Mà ta bất động nữa người sinh nghi

Với Tú Bà, trong tức tối gã chồng hò Mã Giám Sinh:

Tuống võ nghĩa ỏ bất nhân Buồn minh trưởc đã tần mán thử chơi Màu hố đã mất đi rồi

Thôi thôi vốn liếng đi đời nhà ma.

Với Từ Hài:

Một lờ i ơã biết đến ta Muôn chung nghìn tứ cũng là có nhau

VỚI Hồ Tôn Hiến:

Nghe càng dấm, ngắm cànq sav Làm cho mặt sát cũng ngày vi tình.

Va đây chính là thành tựu tuyệt với của N cu/ẻn Du

d uy n h ấ t của vãn h oc cổ điển, có ôươc giá tri của m ột

"bức tra n h đ ổ r với "những điều trô n a thả’y ‘ , Phầi a o 3

Trang 34

"nhửnu điêu irỏng thây ’ đẻ đèn VỚI giá tri nnản đao đau đơn lòng" chất chứa trong mót trái tim ỉởn

Thật rất tinh đời, và sâu sắc, mòt nhán xét cun Cao

Bá Quát "Kim Vân Kiều là tiếng nói hiểu đòi Heo ĩ ìn

là tiếng nói r in đời vậy

những rào cản của thơ nói chỉ, vàn chà đao Tránh S3C

kh ỏ i m ó t lịch sử p h ẩ m binh dài đè n thẻ ch u n g q u a n h

Kiều, bỏi Nguyễn Du có lè là người đấu tiên bảo hièij sư

dứt bỏ những rào cản lớn nhất trong phương thức tư duy

và ỷ hướng đao đức của văn chương trung đại

Đứng ở góc độ tư duy vãn học hiên đai nói chung và chủ nghĩa hiện thưc nói riêng, nhân vât tự nó cỏ sự sông rất riêng, đỏc lập với tác giả khiến cho người đoc có thè nuên tác aiả mà khôna sao auẽn nhản vảt đươc Trc.ng bài Kỷ niệm Nguyễn Du (1986), Chế Lan Viên đả một

lần xác nhận sự sống ấy, trong bốn cảu thơ, vừa là chia

sẻ một bùi ngùi với tác giả, vừa tìm được sự bù đắp trong vinh quang của tác phẩm:

K hi ta kỷ niệm Nguyễn Du chả ích gì cho Nguyễn Chả qua đ ể kẻ yêu thơ khỏi tủ i lòng

Ong đã hoá m ây trắng ngang trờ i hoài niệm Hoá ra Kiều cao gấp m ấy đời ông<8\

Kiều là sự chưng cất mọi trải nghiệm của Nguyễn Du, là

một sự dốc kiệt bản thân để viết ở Nguyễn Du Thế giới

mà thương, mà giận, mà trọng, mà khinh Nhưng cũng

có những nhản vật không thể ứng xử đơn giản, rach ròi

như thế - như Hoạn Thư - "ở ùn thì nết củng hay Nói

điều ràng buộc thi tay củng già": như Thúc Sinh - anh

nhà buỏn lấy vợ nhà quan, quen thói bốc ròi và sơ vơ, thế mà đả được hưởng ở Kiều môt nổi nhớ tuyẻt VỜI đến thành cổ điển:

Vầng tràng ai xẻ làm đó/

Nửa in gối chiếc nửa soi dăm trường.

Có như thế mới là thế giới người, là hiên thực đời

người - “trảm năm trong cỏi"

Đọc Truyện Kiều dường như ai cũng có thể tim thấy

mình trong đó Rất hiện đại, rất đương thời mà vẩn trong khuôn hình cổ điển; rất cổ điển mà vẫn có sức vươt thời gian để đến với thời hiện đại, với người hôm nay, người bây giờ - đó là một Nguyễn Du vĩnh cửu cho người đoc sau 200 năm, rồi 240 năm ỏ thời điểm hỏm nay Phải bao gốm, phải kết hơp, phải xuyên thảm cả hai phương diện đó mới đúng là Nguyễn Du, mới làm nên

sự sống bền vững của tác phẩm Nguyễn Du

Còn 60 năm nữa để ứng nghiệm cái giới hạn mà

hậu?" Đến lúc ấy không biết có ai còn khóc Tố Như

nữa không? Câu trả lời xin mượn ở Tố Hữu:

Nghìn năm sau nhở Nguyễn Du

Tiếng thương như tiếng mẹ ru những ngàyn m

P.L.

34

Trang 35

<7 ỉăễi faoú Iiạltê th u ẩ t

phát triển cùa dòng họ Nguyễrì Tiên Điển.

Cuối th ế kỷ XVI, Nam Dương Công

Nguyễn Nhiệm chạy trôn sự truy bức của

triều đinh Lê Trịnh vào sông tại vùng đâ't

hoang vu hẻo lánh của xứ Nghệ An, mai

dahh ẩn tích lập nên dòng họ Nguyễn Tiên

Điển Từ đó cho đến đẩu th ế kỷ XIX, bằng

sức lao động cần cù, với tinh thần quả cảm,

dốc thế hệ con cháu dòng họ Nguyễn Tiên

£)ỉền đã khai hoang phục hóa, mở rộng

điền trang địa ấp, dựng nhft lập làng, trỏ

thành một dòng họ lớn ở Nghi Xuân.

Theo sách N g u y ễ n g i a d ă n g k h o a ,

dòng họ có 5 tiến sĩ, còn cử nhân tú tài thì

rết nhiều Hầu hết đểu kế tiếp nhau ra làm

quan Dân xứ Nghệ An hổi ấy có câu ngạn

hgữ! “Lắm lúa Xuân Viên, lắm quan Tiên

EỊiền, lắm tiền Hội Thông”.

I ; Vì th ế tại Tiên Điển, con cháu họ

Nguyễn đã cho xầy dựng rất nhiều công

trình kiên trúc vể lịch sử đòng họ, tôn giáo,

tâm linh, cầu cống Nhưng vể sau, qua

nhỉều biến động lịch sử, chiến tranh và Bự

tàọ phá của thiên nhiên, các công trình

này phần nhiều bị hư hỏng Chỉ còn lại một

8ố di tích được con cháu gìn giữ đến nay.

Nám 1964, trong phiên họp tại Berlin

(Cộng hòa dân chủ Đức) từ ngày 6 đến 9-

quyết nghị Kỷ niệm 200 năm năm sinh dại thi hào Nguyễn Du trên toàn thê giới cùng với 8 danh nhân khác dã có những đóng góp to lớn cho nền văn hóa của nhân loại

Ớ Việt Nam lúc bôy giờ, cuộc kháng chicn

chông M ỹ xâm lược tíang diễn ra ác liệt

Tuy vậy, Dáng và Nhà nước ta vẫn tổ chức

lễ kỷ niệm một cách long trọng trên cả hai miền và dã gây mộl ấn tượng sậu sắc trong các tầng lớp nhân dân ta và nhân dân thô giới.

Tại Nghi Xuân, Hà Tĩnh, quê hương của nhà thơ, Ty văn hóa Hà Tĩnh cùng với cụ

Lê Thước - Cán bộ Bảo tồn Bảo tàng Bộ Vãn hóa - dã tiến hành khảo sát và xây dựng Khu lưu niệm Nguyễn Du trên cơ sở nhữiig di tích còn lại của dòng họ, bao gồm: nhà thờ và mộ Nguyễn Du; đàn tế và bia đá Nguyễn Quỳnh - ông nội Nguyễn Du; nhà

Tư vãn; dồng thời chuyển ngôi đình làng Chợ Trổ, xã Đức Nhân, Đức Thọ, về đặt trong khuôn viên dòng họ làm nhà trưng bày các tư liệu hiện vật về Nguyễn Du và dòng họ Nguyễn Tiên Điền Bên cạnh dó còn có dền thờ và mộ Nguyễn Nghiêm - thân phụ Nguyễn Du; dền thờ Nguyễn Trọng - chú ruột Nguyễn Du và một sô di tích liên quan khác.

Trang 36

Như vây, kể từ năm 1965, Khu lưu niệm

N guyễn Du được thành lập và đi vào hoạt

dộng phục vụ du khách trong nước và quốc

tế đến tham quan, nghiên cứu Ban đầu ở

Khu lưu niệm, chỉ có trơ trọi mấy di tích

còn sót lại qua nhiêu biến động của lịch sử

và sự tàn phá của thiên nhiên khắc nghiệt

với nắng gió dát m iền Trung Di Líqh nằm

trên một bãi cát trông trải, lưa thưa một ít

cây xanh bản dịa, ngoài hai cây cố thụ là

cây Muỗm (xoài) và cây Bồ Lỗ (cây Nóng)

do ông nội N guyễn Du trồng vào khoảng

năm 1720-1725 Bò rào chưa có nên trâu

bò, người đi chợ, di làm đồng cứ mặc nhiên

qua lại tự do trong Khu di tích Nhà Tư

Văn, sau năm 1945, được dùng làm trường

học cho con em trong vùng nên không còn

giữ nguyên hiện trạng ban dầu Nhà trưng

bày chỉ có một ít tư liệu, hiện vật do cụ Lê

Thước và Ty văn hóa Hà Tĩnh sưu tầm từ

con cháu và dân làng Tiên Điển Nhìn

chung, Khu di tích ngày ấy còn hoang sơ

Những người yêu m ến nhà thơ đều cốm

thấy (lay dứt, băn khoăn trưỏc thực trạng

dó.

Nồm 1965, giặc Mỹ ieo thang dánh phá

miền Bắc, làng Tiên ĐiỂn là cd sở hậu cần

của chiến trường miền Nam nên bị máy

bay Mỹ thường xuyên đánh phá Cán bộ

trông coi Khu di tích dă cùng với nhân dân

trong xã trồng cây xanh vừa làm đẹp cảnh

quan, vừa che chắn máy bay địch Mặc dù

Hà Tĩnh lúc bấy giờ là vùng đất bị bom Mỹ

đánh phá hết sức ác liệt, nhưng học sinh,

sinh viên, cán bộ chiến sĩ, trên dường ra

mặt trận, vẫn thường xuyên đến thắp

hương tưởng nhớ nhà thơ yêu quý của dân

tộc.

Từ năm 1965 đến 1970, tuy Khu di tích

đã được thành lập nhưng Ty văn hóa Hà

Tĩnh thời bấy giờ chưa có cán bộ chuyên

môn trực tiếp quản lý mà giao lại cho con

cháu dòng họ bảo quản trông coi Những

người được dòng họ cử ra là hai cụ Nguyễn

Nhụ và Nguyễn Lục Năm 1970, Khu di

tích lại dược giao cho phòng Văn hóa huyện

Nghi Xuân quản lý, người phụ trách lúc đó

là ông Phan Huy, người xã Xuân Song Năm 1975, đâ't nước thông nhất, Hà Tình

và Nghệ An sáp nhập thành tỉnh Nghệ Tĩnh Sau khi Lhành lập tỉnh, để bảo tồn và phát triển văn hóa, tỉnh mỏ trường Trung cấp Văn hóa, trong dó có khoa Bảo tàng, nhằm dào tạo cán bộ chuyên ngành cho Bảo tàng tỉnh và Phòng văn hóa các huyện Đến năm 1977, sau khóa tốt nghiệp, ba cán

bộ dược phân công về công tác ở Khu di tích

là chị N guyễn Thị Xuân Phương, chị Nguyễn Thị Mậu và anh Phạm Xuân Phượng, dưới sự quản lý và điểu hành của Phòng bảo tàng, s ỏ Văn hóa - Thông tin Nghệ Tĩnh Như vậy kể từ khi thành lập, dến lúc này, Khu di tích mâi có cán bộ có nghiệp vụ chuyên môn bảo quản và trông coi Năm 1980, Bảo tàng N ghệ Tĩnh được thành lập, Khu di tích N guyễn Du lại do Bảo tàng Nghệ Tĩnh quản lý Thòi ban đầu, Bảo tàng cùng vâi anh chị em công tác tại Khu di tích bắt tay vào sắp xếp tư liệii, hiện vật trong nhà triíng bày theo từng chuyên để, đồng thời tiến-hành làm hồ sơ phích phiếu cho cốc hiện vật đã có Tuy vậy, công việc cũng chỉ dừng lại ở những

thao tác nghiệp vụ đơn thuần, nhiệm vụ

chính là khi có khách thì mỏ cửa giới thiệu cho khách tham quan.

Phải nói rằng trong một thời gian dài,

Trang 37

từ khi thành lập đến những năm 90, với

nhiều lý đo khách quan, Khu di tích hầu

như không được đầu tư kinh phí để nâng

cấp tôn tạo, kể cả đầu tư cho công tác

chuyên m ôn như: SƯU tầm bổ su n g tư liệu

phục vụ cho trưng bày, trong khi lượng

khách v ề tham quan ngày càng đông Đã có

nhiều vị khách tâm h u y ết có những ý kiến

trên báo chí bày tỏ sự không hài lòng với

thực trạn g di tích của m ột danh nhân văn

hóa th ế giới như N gu yễn Du.

Năm 1991, N ghệ Tinh được tách làm

hai tỉn h N ghệ An, Hà Tĩnh, Khu di tích trở

thành m ột tổ của Bảo tà n g Hà Tĩnh với ba

cán bộ trực tiếp trông coi: hai người có

trình độ trung cấp bảo tà n g và một cán bộ

bảo vệ G iai đoạn này đất nước bước vào

thời kỷ đổi mới, đời sổng k in h tế của nhân

dân ngày càn g được nâng cao, lượng du

khốch hàng năm về tham quan, học tập,

nghiên cứu ngày m ột nhiều Khu di tích

N gu yễn Du thực 8ự trở th àn h điểm hấp

dẫn khách trong nước và quốíc tế, hàng

năm đón và phục vụ h ồ n g vạn lượt khách

P hần đông khách về tham quan đểu mong

m uốn phải có sự (lầu tư đún g mức về vật

châ't, kể cả con nguời, dể Khu di tích tường

xứng với tẩm vóc danh nhẳn Trước thực tê

đó, Sở Văn hóa *• Thông tin Hà Tĩnh tăng

cưòng thêm cán bộ có năng lực và kinh

nghiệm công tác cho Khu di tích đồng thời

đầu tư kinh phí xây nhà trực, nhà tiếp

khốch, xầy bò rào Khu di tích và khu mộ

N gu yễn Du, tiến hành trồng cây xanh và

cây cảnh Từ đó, Khu di tích dã có những

th ay đổi đống kể, thường xuyên được trùng

tu, tôn tạo, phòng trưng bày được chỉnh lý

và b ể su n g mới các tư liệu hiện vật, chất

lượng phục vụ khách tham quan ngày càng

nâh g cao, được dư luận và đu khách khen

ngợi T h ốn g 7-1994, trong m ột lần về tham

quan khu di tích, đồng chí Thứ trưởng

Nguyễn D inh Bin đã thay mặt đoàn Bộ

Ngoại giao viết vào sổ cảm tưởng như sau:

“X in chồn thành cảm ơn lãnh đạo, nhân

dârì địa phương, đặc biệt là các đồng chí

cán bộ trực tiếp làm việc tại Khu đi tích dã

và đang giữ gìn cho đời này và mai sau, cho

V iệt Nam và thê giới, m ột giá trị văn hóa tinh thần bất hủ”.

Vói sự phát triển và đổi mới tại Khu di tích, trong những năm từ 1994 đến 1998, nhiều tổ chức đoàn thể xã hội, các cá nhân

đã tài trợ, ủng hộ kinh phí cho Khu di tích Năm 1994 ông N gu yễn Phước Lương Bằng, một Việt kiều tại Mỹ ủng hộ 25.000 USD

để xây mộ N guyễn N ghiễm và làm đường

ra mộ, năm 1997 tổ chức UN ESC O tài trợ 20.000 U SD xây lại bờ rào, làm đường đi lại trong khuôn viên, trồng thêm một sô" cây cảnh Diện mạo Khu di tích từng bước đổi mới, khang tran g hơn trước.

Trưốc sự phát triển của Khu di tích, dáp ứng nhu cầu ngày càng tăn g của khách tham quan, năm 2001, s ở Văn hóa - Thông tin Hà Tĩnh triển khai dự án Trùng tu và tôn tạo Khu di tích N guyễn Du với nguồn vốn trên 9 tỷ dồng, bao gồm 19 hạng mục, trong đó có nhữ ng hạng mục cơ bản: trùng tu’ các di tích quan trọng như nhà Tư Văn, đền thờ N gu yễn Du, đền thờ N guyễn

N ghiễm , N guyễn Trọng, xây dựng nhà văn hóa và dựng tượng N guyễn Dụ Với vai trò quan trọng của Khu di tích Nguyễn Du trong chiến lược phát triển văn hóa, kinh

tế xã hội của tỉnh, trong khi việc trùng tu

và xây dựng đang tiến hành, ngày 14-6-

2002, ƯBND tỉnh Hà Tĩnh ra quyết định sô" 1314/2002/QĐ-UI3-TC thành lập Ban quản

lý di tích N gu yễn Du là đơn vị cấp hai của tỉnh, trực thuộc s ở Văn hóa - Thông tin, có chức năng bảo quản và phát huy các giá trị văn hóa của Khu di tích thông qua các hoạt động nghiên cứu, sưu tầm , trưng bày, giới thiệu tài liệu hiện vật, đi tích liên quan đến cuộc dời và sự nghiệp của đại thi hào

N guyễn Du Từ m ột tổ di tích ở xa tỉnh lỵ,

xa cơ quan chủ quản, khó khăn nhiêu, đến nay, Khu di tích N guyễn Du trở thành một đơn vị độc lập có tài khoản, con dấu riêng, gồm 12 cán bộ trong biên chế, có cơ ngơi làtn việc đàng hoàng Ngoài khu lựu niệm

Trang 38

rộng 2ha còn có m ột khu vărTTióa khnng tía n g đẹp đẽ gồm hội trường, nhà thư viện, kho bảo quản lưu giữ (rên 2.000 hiện vật,

liệu về Nguyễn Du và họ Nguyễn Tiên ẾHểh Đặc biệt phòng trư ng bày 200m^, trứ ng bày ba chủ đề chính: quê hương dòng họ; thân th ế sự nghiệp Nguyễn Du; ảnh hưỏng của Truyện K iêu dổi với nhân dân tro n g nước và th ế giới Đây là phòng trư ng bày được khách tham quan đánh giá cao không những về phương phốp trư ng bày

mà còn là nơi có những hiện vậ t quý hiếm

về Nguyễn Du và dòng họ còn lạ i qua nhiểu biến động của th ờ i gian.

V ới những thay đổi lớn, đáp ứng phần nào lòrig mong mỏi của du khách và những ngưòi yêu quý nhà thơ v ĩ đại của dân tộc, Ban quản lý di tích Nguyễn Du luôn nhận được 8ự quan tfím của các tổ chức đoàn thể, của nhân dân Ngoài ủng hộ về tin h thần,

m ột 8ố cố nhân, nhà nghiên cứu đã hiến tặng nhiểu hiện vật, tư liệu quý về Nguyễn Du

Sau 30 năm, kể từ ngày Khu di tích

được thành lập, trải qua nhiều khó khăn

tưởng chừng khó vượt qua, K hu di tích đã lớn mạnh và trưởng thành Đó là nhờ sự đổng gỏp cồng sức của nhiều thê hệ làm văn hóa của Hà T ĩn h nói chung và anh chị

em công tác tạ i Khu di tích Nguyễn Du nói riêng Năm 2005 là năm kỷ niệm 240 năm

- năm sinh Nguyễn Du, với tin h thần của Nghị quyết T ru n g ương 5 khóa V III, với sự quan tâm của các cấp các ngành, cùng với

sự đầu tư của ngành Văn hóa - Thông tin,

K hu di tích Nguyễn Dư sẽ trở thành một tru n g lảm văn hóa du lịch lớn của tỉnh Hà

T ĩn h nói riêng và cả nước nói chung, góp phồn phát triể n kinh tế xã hội của đất nước ■

Đ.S.H

38

Trang 39

Vãn nghệ

s ố 50 - Ngày 10/12/2005

^ ĩtu ìn ú ă n h ú á k tj n iê m

n ụ ìiụ ắ Ìễ ih đ ạ i th i h ả o O hạẮAựẴễL rO u

Bài và ảnh của Phan Tùng Lưu

H ơn m ật tuẩn qua, từ ngày 25 tháng 11 nám 2005

đến n g ày m óng 3 tháng 12 năm 2005, tại Hà Tĩnh dã

t ổ c h ứ c tuần ván hoá Nguy én Du, k y niệm 240 năm

ngày sin h đại thi hào dân tộc, danh nhàn văn hoá

th ế giới.

1 CUỘC ĐÒI VÀ Sự NGHIỆP CỦA NGUYỄN DU

Long) vào mùa xuân năm Ất Dậu, niên hiêu

Cạnh Hưng thứ 26 (1765) đài vua Lê Hiền

Tông Dòng họ Tiên Điển có gốc tích từ huyện

Th?nh Oai, phù ứng Thiên, trấn Sơn Nam (nay là vung

Từ Liêm, Thanh Trì, Hà Nôi), ông là con trai thứ 7 của

Hoàng Giáp Nguyễn Nghiễm và bà Trắc Thất thứ rìhất

Trần Thị Tân, que ở Bac Ninh, Nguyễn Du có hiệu là

Thanh Hiên, tự là Tố Như Biệt hiệu là Hổng Sơn liệp bô,

Nam Hải điếu đô Nguyễn Du mổ côi cha lúc 10 tuổi,

đến 13 tuổi thì mẹ chết, phải về ỏ với anh trai là Nguyễn

Khản Nguyễn Khản là tiến sĩ khoa Canh Thìn (1760)

làm quan thượng thư tước Quân quận công Sau một

thời gian Nguyễn Khản sắp xếp cho Nguyễn Du gặp con

gái Hoàng Giáp Đoàn Nguyên Thu guế ở Quỳnh Côi,

Thái Bình Hai người kết hon và Nguỵen Du ở lại quê vợ

Khoa thi năm Quý Mão (1783) Nguyến Du đậu tú tài, tập

ấm chức Hoằng tín đại phú Năm Bính thin (179ẻ)

Nguyễn Du trở về Tiên Đien - Nghi Xuân Tương truyền

Nguyễn Du khộng thích chốn quan trường, chỉ mẽ ngày

ngày lên núi Hổng săn bắn, đêm về uống rượu, vịnh thơ

với bạn đổng liêu Thình thoảng lại vượt Rú Cài hát ví

với con gái vung Trường Lưu

Đến Triều Gia long, Nguyễn Du bị triệu ra làm quan

tri huyện Phu Dung (Hưng Nguyên) sau đó làm tri phủ

Thường Tín Sau khi ông cáo ốm xin về một thời gian,

lại bị triệu vào làm quan cai bạ Quảng Bình, Thãng

Đỏng các đại học sĩ, được triều đình chọn làm chánh

sứ, đi tức cổng nhà Thanh (1813-1814) Lúc vể ông

được thăng Lễ bộ hữu tham tri Ngày 10 tháng 8 năm

Canh Thin (1820) do bị bệnh dịch tả ông đã qua đời tại

Thuận Hoá ông mất đi để lại cho nền văn học Việt

Nam, dân tộc Việt Nam những tác phẩm vô giá Dịch

Nguyen Du có thể so sánh một cách xứng đấng vòi kiệt tác của bất kỳ quốc gia nào, bất kỳ thời đại nao".

16 giờ ngay 25 tháng 11 năm 2005, lễ dâng hương tại khu mộ và nhà thờ cụ Nguyễn Du được cử hành Dòng ngươi nườm nượp nối tay nhau thắp nén nhang, kính cẩn cúi đẩu bên lăng mộ Khói hướng trắng mờ, lãng đãng, la đà trên cánh đồng Đang là mua đông mà khí trời ấm lạ, không biết bầu tròi khoi hương hay cảu thơ của cụ, mà tôi ngỡ mình đi trong tiết thanh minh.Đêm, 19 giờ 45 phút, tuần văn hoá Nguyễn Du bắt đầu khai mạă Buổi khai mạc đầy đủ các vị quan khách

và những bài phát biểu Nhưng điều ấn tượng nhất vẫn

là các em học sinh trung học, đi tìm các nhầ thơ xin chữ

ký Các em yêu thơ, hao hức, trong trẻo và hổn nhiên đen thế Tõi nghĩ chính các em là sinh khí của buổi lễ này

Sáng 26 tháng 11 năm 2005, các nôi dung của tuần

lễ văn hoá Nguyễn Du bắt đầu Có thể nói đay là tuần

lễ trang trọng nhất từ trước đến nay Ban chỉ đạo lễ kỷ niêm 240 năm ngày sinh đại thi hào Nguyễn DÙ đã sắp xếp một chương trinh hoạt động văn hoá phong phú và sinh đọng Đầu tiên là khai trương thư viện Nguyễn Du Sau khai trương, rất nhiều nhà văn, nhà thơ và những người SƯU tầm sách đã tặng cho thư viện nhũng tập sach quý hiếm Tiếp theo là tổng kết cuộc thi tìm hiểu

Truyện Kiều, trao giải thưởng văn học nphệ Jhuảt

Ngúýễn Du, biểu diễn nghệ thuạt rối nước, bieu diễn trò chơi dân gian, diễn trò Kiểu, hầt ca trù và nhiều hoat động văn nghệ, thể thao v.v

Qua ba ngậy liên tục từ 25 đến 27 tháng 11 nám

2005 trong tuần văn hoá Nguyễn Du trẽn qụê hương Nghi Xuân - Hà Tĩnh, đã hâm nóng tinh thấn những người làm văn học nghệ thuật, những ngi/di dân miến đat văn vật này Đó la ước mớ, sự ngữõng mộ, nỗi khát khao, niềm tự hào về một bậc vĩ nhản và hơn hết là lòng

ơn Đảng 21 giờ ngày 27, lúc chia tay có một cò bé học

Nguyễn Du ở đất Tiên Điền không hầ chú?" Thú thực,

tôi rất buồn khi không trả lời được cảu hỏi này Nhưng tôi nhận ra rằng đó la khát vọng vươn tới tài năng của

II HỘI THÁO KHOA HỌC ĐẠI JHI HÀO NGUYỄN

DU - DÁNH NHÂN VĂN HOÁ THẺ GIỚI.

Ngày 1 tháng 12 năm 2005 tại Bảo tàng Hồ Chi Minh - Hà Nội, Bộ Văn hoá - Thông tin và tỉnh uỷ UBND tỉnh Hà Tĩnh tổ chức hội thảo khoa học Đại thi hào Nguyễn Du - danh nhân văn hoá thế giới Đến dự có đong chí Nguyễn Khoa điềm - UVBCT, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tư tưởng Văn hoá Trung ương Các đồng chí: Phạm Gia Khiêm - UVTƯ Đảng, Phó Thủ tướng Chính phủ Đổng chí Uông Chu Lưu - UVTƯ

Trang 40

Đảng, Bộ trưởng Bô Tư pháp, Đòng chí Phạm Quang

N ghị - U V TƯ Đang, Bô trưởng Bô Văn hoá - Thông tin

Đ ong chí Hữu Thỉnh - Đại biều Q uốc hòi, Chủ tich HÔI Nhà văn V jệt Nam, Đ ổng chí Nguyễn Đình Hương, Pho chủ nhiệrrt UB văn hoá giáo dục thanh, thiếu niên

Đ ổng chí Nguyễn Chí Bển - PG S-TS Viôn trưởng Viên văn học Đổng chí Trấn Đinh Đàn - Bi thư rỉnh uỷ Ha Tinh Nhà văn Đức Ban - Giám đốc s ở VHTT Hà Tĩnh Các giáo

sư, tiến sĩ, các nhà khoa hoc, các nhà nghiên cửu và ỈÌOC sinh các trường đại hoc về tham gia hôi thảo Hơn 70 tham luân

để cập đến cuôc đời và sư nghiêp của Nguyền Du Có 15 tham luân được trinh bày để cập về chủ nghĩa nhãn bản, gjá trị nhân đao, tẩm tư tưởng, lòng yêu nước trong thơ Nguyên

Du Ánh hưởng của Nguyễn Du đối với nến vàn hoá Viẻt Nam Ảnh hưởng của cac nhà tư tưởng trên thế giới và nhân dân lao đỏng vơi Nguyễn Du Nguyền Du VỚI thời đai hôm nay v.v

Những bán tham luân các giáo sư tiến sĩ: Giáo sư Phong

Lẻ, GS Nguyễn Đình Chu, TS Nguyễn Trường Lích, GS Nguyễn Huệ Chi, GS-TS Mai Quốc Liên GS-TS Kiêu Thu Hoach, Nhà nghiên cứu Lẽ Xuân Lít Nhà ly luân phê binh Ha Quảng Có thể nói đó là các tác phẩm ly luân sáu sãc tri tuê Có góc nhìn riêng và phương pháp tiép cản mang tính khoa học cao.

Chiểu ngày 2 tháng 12 năm 2005 đoàn dai biểu từ Ha NÔI

về dư lễ kỷ niệm 240 năm ngày sinh đai thi hao Nguyễn Du Đoàn đã đến dâng hưdng tại lăng mô và nhà thở cu Nguyên Đoàn có các đồng chí Pham Quang Nghi - UVTƯ Đảng - Bỏ trưởng Bô VHTT Nhà thơ Hữu Thỉnh Đai biểu Quốc hội - Chủ tịch HNV Việt Nam, nhà văn Đào Thắng - Chánh văn phòng HNV Viêt Nam, nhà thơ Vũ Quấn Phương và các đống chí khác Sáng 3 tháng 12 nàm 2005 tai thị xã Ha Tĩnh, Bỏ VHTT

và UBND tỉnh Hà Tĩnh đã long trọng tổ chức lẻ kỷ niêm 240 năm sinh Đại thi hào Nguyễn Du - danh nhân văn hoa thế giới Dự lễ kỷ niêm có đai diên Bô VHTT, HÔI Nha văn Việt Nam, đại diện các bộ ngành Trung ương, về phía Ha Tĩnh có các đổng chí: Trần Đình Đàn - Bí thư tình uỷ, Lé Văn Chát - Phó bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tich UBND tỉnh, các đống chí trong

40

Ngày đăng: 30/08/2017, 10:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w