Với những đóng góp về tư tưởng và nghệ thuật như vậy, Nguyễn Du đã được Hội đổng hoà bình thế giới đưa vào danh sách 9 danh nhân văn hoá mà các quốc gia kỷ niệm đúng vào dịp 200 năm si
Trang 1SỞ VẢN HOÁ VÀ THÔNG TIN HÀ TĨNH
N H Â N KỶ NIỆM 240 NĂM (1765-2005) NĂM SINH NGUYÊN DU
Chỉ đạo n ộ i d u n g : NGUYỄN VĂN CÔNG
GIÁM ĐỐC THƯ VIỆN TỈNH
Trang 2I THAN THE NGUYÊN DU
Trang 3phẩm mang đậm tính dân tộc, được
kết tinh của hai dòng văn học dân
gian và dòng văn học bác học Bác
Hồ đương thời là người đả thuộc
lòng và hieu sâu sắc vể truyện Kiều
Bác đã vận dụng sáng tạo ngôn ngữ
nghệ thuật truyện Kiểu để sứ dụng
vao trong cuộc sống và hoạt động
cách mạng của mình, bên cạnh đo
còn là nhu cầu thẩm mỹ, thú văn
chương lao nhã cùa Bác
Tử những ngày Bác dang còn
hoạt động ở nước ngoài khi noi, khi
viết Bác thường dùng những câu
phỏng Kiểu làm cho người nghe
người đọc cảm thấy gần gùi vứa dẻ
hỉeu vừa giản đơn trong cách viết
Trong bức thư gữi cụ Phan Chu
Trinh năm 1924 Bác đã lẩy câu
Kiéu của Nguyễn Du "Chọc trời
khuấy nước mặc dầu" dể viết ý cún
minh: "Chọc trời khuây nước dùng
đùng/ Phải có kiên cưởng mới gọi
hung"
Khi xa Tổ quốc đêm khó ngũ, để
vơi bớt nỗi nhớ nhà nhớ nước, nhiều
lần Bác gọi bạn bè tri kỷ, đổng chí
của minh lại để đọc Kiều Trong
cuốn truyện Trần Phú, nhà văn Sơn
Tùng đã từng viết: Ngày đầu Trần
Phú từ đất nước Nga trơ vể Trung
Quốc gặp Bác, đêm nằm ngú, Bác
đã đọc Kiểu cho Trần Phú nghe,
trong đó có những câu:
"Tình sâu m ong trả n ợ dày
Hoa kia đã chắp cánh náy cho
chưa?"
Khi Irở về Tổ quốc trên những
nẻo đường kháng chiến, Bác đa
lửng nhen nhóm niềm say mô
truyện Kiều với nhiều đồng chí bằng
cách giảng cho họ hiểu, phân tích
cho họ nghe và giúp họ học thuộc
đường vừa k ể chuyện" Xác giá Trán
Lan đã viét "Khi rli cỏny tác Bác (lã đọc cho Iigho vá (lay cho c.-ic cán
bộ (li Ih-eu hoc tưny don rì và yini thich ý n yhin Urny cnu tưng chữ trong truyên Kiếu"
Sau này tiony nhiổu bni thư cám
ơn ban bè Bác cung thường láy tứ cúa các câu ttiơ trong truyện Kiéu
dể nói lên ý nghĩ cùa mình Trà lời
nữ thi sý Hằng Phương Irong bài
"Cảm ơn người tăng cam" Bác Hổ cJã viôt:
“Ăn quà nhở ké trổng cny Biét dâu khô tận ơèn ngáy cam lai"
Nhứnci năm tháng vố snu khi đn ttớ thánh líinli 'lu CIK1 IHÙI (J;in lóc, người dứng đnu nhn nước, mỗi khi đứng trước Oíic cuóc hop quốc liôi hay nói chuyên voi (lóng háo, Ríic vẫn (lunt| lõi |)hóri(| KÍỔII, lay KÍỒII
N ă m 1?)G0 n h à n (li|) lố ký n iê m .'?() nnm thaiih láp l)án<), B;ic lây Kiổti (lọc tini cãu thư cn Iigưi BàiiỊ) In:
"(JôỉÌ(J ơn ỉh iiụ i ỉilìi/ liir n lỏ iụ i
n hư non cao
Ba miroì náiìỉ iiy b icl hno lìlìiôa tình"
Ở buối khai ninc dai hội Đãng lần thư ba Bnc dùng tron cá câu Kiều:
"Dấn h ĩy ợ ló <7,1 tlhĩy (lây
Mà lóng ơ;ĩ cliác n lìu iig ngny một hai '
Trong bửc thơ yiiri clio thiêu nhi miền Nam nhân (lip lèì trung thu,
B á c đã nói lỏ n n ô i ư ớc m o n y n ư ớ c nhà SỚIII đưoc IhõiK) nluĩl, cric chrìu hai miền có diổn kiỏn găp Ini ihnu vui c h ơ i r.n hrit f) ô c h o cnr. n h n ti (lồ nhớ dỏ thuộc Híii; cunq dn dư, ì vào
cháu:
"Sno cho /V IHÌ f l h ' IIÌÕI nlì.i
Các (.hnu XI//;/ x il /rí In VUI òng"
Trang 4Sau nửa thế ký xa quê lấn trờ h i
Bác m ượn ý th ơ cún câu KÌỔII lúi
Ngay cá khi gino liếp voi bím
bầu quốc tê B ác cúng dừng nhứng
câu phỏng K iều g â y thêm không khi
yêu cẩ u nhữ n g n gư ời củ n g di doc
ch o Bác nghe m ọt số (loạn Kiều
Khi bước lê n m n y b n y Róc (Ịim y 1.11
Hai câu đ ỏ (lư ợ c Bác phóng
theo K iéu như ng dó cú n g là lởi tiên
đoán củ a B ác trư ớc ch u yế n di đáy
th ắ n g lợi S au c h u y ế n đi ây một
tháng, c u ộ c kh á n g ch iê n chõng Mỷ
cứu nước cùa d â n tộc ta dược tát cà
nhân dân th ế g iớ i đ ổ n g tình ùng hộ
T h e o n hiều nhà nghiên cửu dã
viết: N hững nă m ho ạ t động cùa Bác
ở bất cứ nơi đâ u , vả o thời gian nào,
SUỐI quá trình làm việ c Bác Hổ luôn
luôn vận d ụ n g ca dao, th ơ ca cún
dân lộc, đ ặ c biệt là T ruyên K iều dỏ
nói và viết B ác vậ n dụng K iều khi
nói khi viết là d ể gây không khí VUI
vé, biểu hiện tin h nhân dân, lính
dân tộc, tinh thần lạc quan, dê m ọi
tử, lúc dùng cả câu th ơ hay cá doạn thơ, nhưng khi sứ dụng Kiều, Bác đã thể hiện tin h cả m m ới, cách sắp đặt cấu trúc ngôn n g ữ m ới, phù hợ p với nội dung h o à n cả n h cụ thể, m ang
đư ợc ý vị của th ơ ca K ể cả trước khi gặp các cụ C á c M ác, Lê Nin, viết di chúc để lại c h o cả dân tộc Bác cũng lẩy Kiểu:
“C on n o n cò n n ư ớ c còn N g ư ờ i Thắng g iặ c M ỹ ta s ẽ x â y dự ng
hơ n m ư ò i n g à y n a y "
Đ ọ c hai câ u th ơ lên làm ta liên
tư ờng đ ế n câ u th ơ tro n g truyện Kiều của N guyễn Du “C on non còn nước còn d à i/ C ò n vể cò n n h ớ đến ngày hôm nay" N hư ng hai c â u của Bác là
m ột lời h iệ u triệu, m ột lời dặn dò,
m ột lời thề đ ể lại trư ớc lúc đi xa Bác
s ử dụng n g ô n n g ữ và ý tứ truyện
K iểu tinh lê n h ư vậy, nên như báo
V ăn nghệ s ố 2 0 -1 9 8 8 đã viết "Đ ấy
là cách ứng xử tài trí và tầm nhln
đầ y lín h d ự b á o cùa Bác"
Bác H ổ vớ i tru yệ n Kiéu, lâu nay
dã có nhiều bài v iế t của n hiều nhả nghiên cứu, tất cả đề u ch u n g một
su y nghĩ: B ác th u ộ c Kiéu, sứ dụng nghệ thuật T ru y ệ n Kiều dế làm tuyên truyền, hoạt đ ộ n g c h in h trị,
p h ụ c vụ c á c h m ạng Nhưng bên
c ạnh dó B ác Hổ cò n là m ột nhà thư, luôn yêu cá i đẹp, luôn n gư ỡng mộ các v ĩ nhân, biết kê thừa tinh hoa văn hóa của dân tộc để sáng la o nét độc đáo trong văn pho n g của m ình,
vl vậ y m ỗi bà i viết, lời nói cùa Bác
có sức sống lâu bền trong m ỗi
ch ú n g ta C h in h vi lẽ đó Bác không chỉ là m ột nhà lãnh tụ xuất sắc, là người anh hùng giải phóng dân lô c
mà còn đư ợc cả thế giới tôn vinh -
4
Trang 5VĂN HOÁ Chủ n h â t
Sô 1153 - Ngày 2 - 5/12/2005 HỘI THẢO KHOA HỌC
V ệ n m ã i l à
đ ề t à i h ạ i ỉ d ẫ n
TẮM THƯỢNG (L u p c th u ậ tì
ỉ)Ong dáo ctìc bạn sinh
v i 011
th u ộ c Illtiè ti
D ại bọc
ở UN dàn l i ự
H ội tháo.
Ả nh:
1 HÀN
n a ÁN i
Hâm trong các hoạt động hý nlộm 240 nảm ngày sinh Nguyẻn Du
(1765 2005) - nhã ttiirvi đại cùa dàn lờc - ngày 1.12 tai Hà Nội Bộ VH-
ìrr uầ UBND lin ti Ha rinh ăâ lổ chức HỘI thảo khoa học ' Dại thi hào
Nouyốn Du - dành nhàn vàn búa” ĩỉH dự bội tliảo cố các đống chỉ:
p m it t Khaa Đlổttt - Uỳ vtởn Bộ cttihh ỉrỊ, Bí Uiư T.ir Dáng ĩruứng
ban Tư tm hig' Vân hớa Ĩ.IT; Pham Gia Khiôm - Uý viôn ĩ.ư Đảng, Phớ
Thú urống Chỉnh phũ; Phạm Quang Nghị - Uỹ vtôn T.ư Dáng, Bộ tnrửng
Bộ VH-TĨ; Trán Dinh Dàn Bi thư Tinh uỹ Hà Tỉnh cúng nhiéu nhầ
nghiên cứu, nhà vàn hóa nhà
Trang 6thơ-( ÓI.ỉ' 'lflv ;lt) Iiiìm thơ-(1465),
Môi tlc»»»>» lỉp t bình Iliố giãi
' linp, D;in}>, N lin imức tn (1.Ĩ
kv n iệ m tro n g lliô năm
N guyền Un, n h ìn 200 n.im
ng.ìv sinh cún ông.Từ đó đến
Iinv, (liĩ rú hòng nghìn trnng
vièt nghiên cứu vê tài năng,
cucV d à i v,ì sir Iig liiệ p
Ngu vồn l) ii I)ến hội lli.in tô
cliú c tro n g ilip nnv, Han lô
'.'lnrr Ịir p lục nliân (lirọr l>rn
70 tlinm luận cùa OÍC Imv: gió
tron>> và n poâi Iiư óc v ó i
n litìn p r n i Iil«ìn p lio n g pbií
và linh tê về nhà llw lứn cún
-ỊỈân tộc D ường như không
bao g iờ V ơl cạn tro n g m o i
.chứng ta Hhh yêu vô bờ bến
đành cho NgUỵễn Du, dành
cho Truyện Kiêu Tất nhiên,
k h i n ó l dên N g u y ễ n Du,
n g u ờ i ta thừờng nhắc trước
tác phâm bát hù, dã đ i sâu
vào đ ờ i sông văn hóa tin h
Ếhản cùa'nhân dan, như lò i
thơ của Tố Hữu "N g h ìn năm
'Ịể b n h ờ N ưoyễn D u / Tiếng
ịh u ơ H ỊỊ nh ư tiế n g mọ rũ
h iiứ n g ng à y" Có tác phSm
hào tìr cổ chi klm (V In (vfi cũng
hiếm trên lhê'giói) lại lạo đirục
m ột liiệ u ứng rộng r/li n litf
Vậy: dọc K iề u , ngâm K iêu,
v ịn h K iêụ, lây Ki?u rồ i búi
K iề u (7 N g h i Xuân, llà
Tinh, người ta vận cò nhữnj>
phường vài Nhiều câu Kiều
đã trở thành dân ca Dc lại
ớho hậu thế một kiệt tác như
vây, nhầ thơ đã không chi viêt
băng tài nShg lỗi lạc mà còn
cà trá i tin i nhân hậu Cuộc
đời mười máy nftm luu lạc rồi
lồm q u a li bất đcìc chí tro n g
g i r t i i l o ạ n l Ị i l n ư ú c « I l ố i l l i ố
kv XV'l ữ , ilầ ti thế kv XIX v.Vi
h 111 'lộn g, <1.1 (11 I,í<
clộng S.ÌII sắc đen lir tuông
s«í n}i» tn i ( lia Ngu vt’ iv I )’ti
I tái tim cún ngưừi n^lu* 'si liv tl.ì (1au dâu nôi đnti Ir.ĩn tlir Nhiều tham luận dirạc trinh Kìv và gùi tứi hội thảo đà <ỉi Síìu, p,óp pliần lý giãi những dóng f>óp to lón cũng nhu •inh íurtVng d ia Tru vón Kictt
v'»i 11CI1 v íu hóa dân u v Iròn
Đan) Dù lấy cốt truyện cùa
n liư n g N g u y ễ n Du đã tài tình sáng tạo một tác pliâm bát hú, có sức lay động lòng người, đề cập tới những vấn
đễ có tính nhân loại Điều n.ìv tiế p tụ c đ u ợ c nhiề u nha
n g h iê n cứu plìSn tích tiế p trên các góc độ: so sánh v.in bàn (N g u y ễ n llu ệ C hi, l.ệ Xuân Lií), loại hình và thể lon ỉ (PCỈS-TS N g u yễ n I t ừ ii San), văn hóa đo th ị phong kiốn IMur<mj» Dỏng (Nguyền Thị Hích I lọng) Nhiều ván
tiôp tụ r khai lhác, nghiôn (úm đirọc mội số l.íc già {lít ra nlnr:
gian hóa trong lộc người Kinh
ở ĩr u n g Q uoc (GS-TS Kiệu
Nguyễn Du viết Truyện Kiều (Nguyền Quàng Tuân) - Nhà nghiên cứu Mai Quôc l.iên đã
lo n g kêt có 9 phươnp pháp tiếp cận Nguyền Du cẩn đưạr li('|’ lục Iighión cứu
I r\ọ lónli (|un snng lác ciiii
NjMiy«Mi Du là chu H}»hin
I i l i â n d Ị O cno c n Nhiồu lliítm
liiiĩn nia rá r Inc RÌ/ Nj>uyín PliỊ»nj» Niim, 1 r.ìn Nllm lltin ,
lr il) ì liị l hnnlì - Hn I rn II
T l u i y U iK T D g đ ã 1 1 1»)l l i i n t
nùn khăng đ ịn h đ iê u này Hcn canh đó, m ột cái nhìn mói về Nguyễn Du dã (lưựi l’()S-IS Nguyền Triràng l.ịcli dặt rĩi: tâm trạng yêu nưóc và
V lliứ r dân tộc qua c h ũ m th ơ
v iê t năm 1813 trẽ n đ irà n g ônp đ i sú "V iệ c cũ d ờ i ĩ.ý Trần xa xôi khó tìm b iế t/T rà i quá ba trầm năm cho đến
ng ày nay/M ứ c th à n h lr Ioi lìà v phân clìia hai n ư ớ c /M ộ t cihi ải hùng vỉ ổ ứ iìỊị trniì f>iừn
th à o " cùa l.ê Cìu.ing Dịnli
Tại hội thảo nliieu vấn đp khác nữa như: d ịc li tlicr chữ Mán, d ịch T ru yệ n K iê u ra
tiế n g nước n g o à i, T ru yệ n Kiêu và đọc âm vận Tiêng Việt
thế kỷ XV1II-XIX, bào tồn, pliát huy các giá Irị văn hóa liên quán đốn N g u y c n Du trôn quê lurnng llà rin h , quàng
bá hình ảnh N guyễn Du ra thế piới cũng đ irợ r các I-|ỌC| già, nhà quán lý đặt ra RõI rnng, công tác nghiên cứu sự
n g liiệ p , cuộc đ ò i, các tác píiẩm cùn Nguvền Du s'c còn liế p lụ c và chắc clin n SP khống b.io già VCTÍ cnn.H
6
Trang 7Văn nghệ
Số 51 (2396)- Ngày 17/12/2005 ĐẠI THI H À O N G U Y Ễ N DU
6iêu tượng văn ãoấ tỉnh thần của dân tộc
(Bài phát biểu của đồng chí Phạm Quang Nghị - ƯVTUĨ) - Bộ trưởng
Bộ VHTT, trong ỉễ kỷ niệm 240 năm năm sinh Đại thi hào Nguyễn Du
tại quê hương Hà Tĩnh)
Hà Tĩnh là vùng đất có nhiều những danh Ìihân văn hoá 1 ỗ y
lạc có những đỏng góp to lớn nbứ
Đăng Dung, NiỊuvễn Thiếp, PỊlum
Huy ích, Nguvễn Côny Trứ, Nguvễn
Huy Tự, Phan Đình Phùng, Trần
Phú, Hà Huy Tập v.v Cùng vởi
những tên tuôi sáng chói ây, Hà Tũih
rất tự hào là quê hương cùa đại thi
hào, danh nhân văn hoá Nguyễn Du
(1765-1820), một con người đã làm
rạng danh cho quê hương, đất nước;
một con người đã trở thành biêu
tượng văn hoá, tinh thần cao đẹp cùa
dân tộc Việt Nam.
Với cuộc đời hơn 50 năm,
Nguyễn Du đã miệt mài sáng tạo và
đê lại cho hậu thế một đi sản văn hoá
đồ sộ nhiều tác phẩm bất hủ, nổi bật
là kiệt tác Truyện Kiều, đỉnh cao thi
ca cổ điển Việt Nam Đánh giá cuộc
đời và sự nghiệp Nguyễn Du; trong
Chỉ thị số 112/CT-TVV ngày 26-10-
1965 của Ban Bí thư TƯ Đảng khoá
III viết: "Toàn bộ tác ph ẩm của ông
d ã m ô tả m ộ t cách sâu sắc xã h ội
p h on g kiêh thôi n á t của thời đại ông,
dã tô' cáo, phản kháng và p h ê phán những thủ đoạn tàn nhẵn, bất công■ , chà đạp lên vận m ệnh con người, đồng thời n ó i lên lò n g x ó t thương vô hạn cùa ông đ ố i v ớ i nhữ ng lớ p ngư ời bị áp bức, đau khô’.
Tắc ph ăm của N gu yễn Du có tính hiện thực và chứa chan tinh thân Iihân đạo Chúìh vì vậy, toàn hộ tác phârn cùa N guyễn Du, đặc biệt là Truyện Kiểu dược đ ôn g đảo nhân dân ta, từ th ế h ệ n à y qua th ế h ệ khác
h ết sức y ê u m ến ”.
Với những đóng góp về tư tưởng
và nghệ thuật như vậy, Nguyễn Du
đã được Hội đổng hoà bình thế giới đưa vào danh sách 9 danh nhân văn hoá mà các quốc gia kỷ niệm đúng vào dịp 200 năm sinh của ông Sự đánh giá của Đảng, Nhà nước, nhân dân ta và cộng đồng quôc tế đã khẳng định tầm vóc lớn lao của đại thi hào, một danh nhân văn hoá Tên tuổi và sự nghiệp của ông đã trở thành bâ't tử, vượt ra khỏi biên giới quốc gia, sống mãi trong lòng nhân dân ta và loài người tiến bộ.
Hôm nay, tại quê hương Hà Tữih, dưới bóng núi Hồng Lĩnh vời vợi
Trang 8ÔNG PHẠM QUANG NGHỊ PHÁT B1EU TAI HỘI NGHỊ
thân thương, bên đòng sông Lam
hiền hoà, chúng ta tô’ chức trọng thể
lễ kỷ niệm 240 năm năm sinh của
N guyễn Du Với lòng tự hào, trân
trọng và biết ơn, c ả o thơm lần g iở
trước đèn, chúng ta nghiêng mình
tường nhâ, bổi hồi Đ ố t lò h ư ơ n g ấ y
so tơ p h ím n ày, đọc lại những áng
thơ lay động đất trời mà ông đã để
lại cho muôn đời sau Hơn hai thế kỷ
đã trôi qua, nhưng tư tưởng nhân
đạo, tình yêu thương bao la của
N guyễn Du dành cho nàng Kiểu và
những thân phận bị dập vùi, đau
khô trong xã hội phong kiến ữước
đây, chăng những không hề phai
nhạt mà càng làm cho chúng ta thấm
thìa nỗi đau trần thế mà ông từng
mang nặng, đê càng thêm quyết tâm
xây dựng quê hương, đất nước mau
chón^ mạnh giàu.
Thực hiện đường lối văn hoá văn nghệ của Đảng trong việc kế thừa và phát huy truyền thống văn hoá của cha ông, xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà
bản sắc dân tộc, chúng ta đặc biệt
trân trọng giữ gìn và phát huy di sản ván hoá mà đại thi hào, danh nhân văn hoá N guyễn Du đê lại Cùng với các hoạt động nghiên cứu, giảng dạy, xuất bản các tác phẩm về cuộc đời và sự nghiệp N guyễn Du, Đảng, Nhà nước ta hết sức quan tâm đầu tư xây dựng quần thê’ di tích Nguyễn
Du khang trang, đẹp đẽ, xứng với tầm vóc của đại thi hào Có thê nói, điều mà N guyễn Du trước khi từ giã
cuộc đ ờ i, ông đã từ ng bao lần băn
khoăn tự hỏi: " Bất tri tam bách d ư
n iê n h ậ u ; T ìiiê n hạ hà n h â n k h ắ p T ố
Như', đến nay, chưa đầy ba trăm
8
Trang 9Bộ TRƯỞNG Bộ V H -rr PHẠM QUANG NGHỊ DẪN đ ầ u đ o à n c ô n g t á c bộ VH-TT VIẾNG M ộ ĐẠI THI HÀO NGUYÊN DU - HÀ TÌNH NGÀY 3-12-2005
năm, nhưng những người tri kỵ cùa
nhà thơ, những người hiêu rõ những
khô đau, chia xẻ cùng ông những
yêu thương, cãm giận, những người
yêu quý ông, như chính ông dã yêu
quý bao người khác, không phải quá
hiếm hoi như lúc đương thời ông
hằng trăn trở, mà là cá một đất nước,
một dân tộc đã, đang và mãi mãi
nhớ o'r>, vẽu quý và tự hào vé ỏng
Những người tới thăm viếng phán
mộ, thăm khu lưu niệm, thăm quê
hương Hà Tĩnh, ngâm ngợi Tru vện
Kiều, đọc thơ chừ Hán, tưỏng nhớ
đến ông Họ không chỉ là cháu con
dòng họ Nguyễn Tiên Điển, cùa quê
hương Hà Tĩnh, mà là hàng triệu,
hàng triệu người, đông đúc như cây
Ngàn Hông, dài như dòng sông Lam
đang ngày đêm ru giấc ngủ của
tự hào được kế thừa và phát huy đi sản của đại thi hào, danh nhân văn hoá Nguyễn Du Dí sản của ông là tài sản vô giá và là nguồn sức mạnh tinh thần của các thế hệ người Việt Nam.
Trong bầu không khí trọng thê của ngày kỷ niệm, ngước nhìn núi Hồng trông xuống đòng sông Lam, chúng ta dường như trông thây lồng lộng bóng đáng đại thi hào Nguyễn
Du cùng với bức tranh tuyệt mỹ do chính Người vẽ lên:
L o ĩiq lan h đ á y n ư ớ c in tr ờ i
T hẩiih x â y k h ó i biêc no n p h ơ i bóng vàng
Và trên cao, những áng mây đang bay lượn, như những vầng khói hương tưởng nhớ của tất cả chúng ta kính dâng lên Người.*
Trang 10V ăn hoá Hà Tĩnh
Sô 87+ 88 - Tháng 10 + 11 năm 2005
XUNG QUANH
N G À Y SINH Đ Ạ I THI H À O NG UYEN D U
thưởng tổ chức kỷ niệm
Nguyễn Du vảo ngày 10-8
âm lịch là ngày nhà thơ mất
Nhưng do phong tục tập quán của
người Việt Nam ta nói riêng, người
Á Đông nói chung, thì ngày mất là
ngày đau thương, nếu kỷ niệm
vào ngày đó sỗ là trái với ý nghĩa
kỷ niệm một danh nhân Cũng vi
lẽ đó, nên năm 1965, Trung ương
Đảng và Chính phù đã quyết định
tổ chức lễ kỷ niệm 200 năm năm
sinh của Nguyễn Du vào ngày 25
tháng 11 năm 1965
Sau lễ kỷ niệm này, các nhà
nghiên cứu Văn học, nghiên cứu
lịch sủ đã cố gắng xác định chính
xác ngày sinh của Nguyễn Du
Năm 1966, cụ Lê Thước (đậu Giải
nguyên năm 1919, người xã
Trung Lễ, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà
Tĩnh), là ngưởi bắt tay vào nghiên
cứu Nguyễn Du và họ Nguyễn
Tiên Điền từ năm 1922, đã tiến
hành nghiên cứu, tìm đọc rất
nhiều tài liệu, văn tự Hán học cỏ
nói đến thân thế, sự nghiệp cùa
nhà thơ, để tìm ra kỳ được ngày
sinh của Nguyễn Du Tại thư viện
khoa học Trung ương (nay là thư
viện Hán Nôm), cụ tìm được cuốn
Nguyễn tộc gia phả, số ký hiệu
rõ ngày tháng và giờ sinh của
Nguyễn Du Đây là tập thế phả do
Vụ Bảo tổn bảo tàng sưu tắm
được năm 1956, gồm 36 tờ giấy
bản khổ nhỏ, ở tờ thứ hai tên sách
được ghi rõ hơn "Nghệ An N ghi
Xuần Nguyễn gia th ế phả”.
Trong tập thế phả này đoạn
chép về Nguyễn Du bên cạnh
dòng chữ "Ất Dậu niên sinh", cỏ
nhất nguyệt, nhị thập tam nhật,
dần thì" Có nghĩa là: Sinh năm Ất
Dậu, tháng 11, ngày 23 giờ Dần
Đối chiếu với dương lịch tức là
ngày 3 tháng 1 năm 1766 Theo lịch Biên niên thì năm Ãt Dậu (1765), là năm nhuận, có hai tháng 2, cho nên khi đỗi chiếu với dương lịch thi ngày sinh cúa Nguyễn Du đã bước sang tháng 1 năm 1766 được 3 ngày (hết ngày 8-2-1766 mới hết năm Âm lịch)
Theo cụ Lê Thước, cuối tập thế phả do cháu là Nguyên Y (con
truyện cùa Nguyễn Du, mờ đáu
như sau: "Còn trai thứ 7 (của Nguyễn Nghiễm) húy là Du, tự Tố Như, do bà trắc thất (vợ thứ) họ Trần sình Ông sinh năm Ãt Dậu, tháng 11, ngày 23, giờ Dần”.
Căn cứ vào tài liệu phát hiện được, cụ Lê Thước đã cho công
bố trên báo Thời Mới ra ngày 17 tháng 9 năm 1966
Trên cơ sớ đó, sau này ờ một sô' sách, bài viết trên các tạp chí, đặc biệt trẽn một số lịch xuất bản hảng năm, ngày 3-1 dương lịch ghi là ngày sinh Đại thi hào Nguyễn Du
Tuy vậy, một số nhá nghiên cứu cho rằng ngày sinh Nguyễn
Du được ghi trong tập Nguyễn tộc gia phả hiện được lưu giữ ớ Thư viện Hán Nôm có một số chi tiết còn nghi ngờ, thiếu tin cậy
Người đưa ra ý kiến phủ nhận tính chính xác của tư liệu trên là Giáo sư Nguyễn Thach Giang
Ồng là người cỏ thâm niẻn về nghiên cứu Truyện Kiéu và đã có nhiều đầu sách viết Truyện Kiều
và m ột câu th ơ Kiểu đãng trên
báo Vãn Nghệ, số 23 ngày 10 tháng 6 năm 1995, ông cho rằng điều này không đáng tin vì: Cuốn
Nguyễn tộc th ế phả mang ký
mới bổ sung (1958), về phần Nguyễn Du ghi đúng 7 dòng (Tờ 20a 3 dòng, tờ 20b 4 dòng) như
Sĩ HÓNG
Như, trắc thất Trần thị sinh giã, Át Dậu niên sinh", đây là dòng chính
ghi chữ lớn, song bên phải dòng cuối "Át Dậu niên sinh"có ghi một
nguyệt, nhị thập tam nhật, dần thời", 9 chữ này có màu mực khác
so với chữ trong bản thế phả, thế chữ cùng hoàn toàn khác
Theo Giáo sư Nguyễn Thạch Giang, thi với các bản gia phả hiện có, không có một bản nào ghi ngày sinh của Nguyễn Du, kê’
th ế phả” do Nguyễn Nghiễm khởi
soạn Cũng như Giáo sư Nguyễn Thạch Giang thi 4 chữ "Nguyễn tộc th ế ph ả " là do cụ Nguyễn
Mạnh Hàm cán bộ Thư viện Khoa học Trung ương thêm vào, Ngày nay, khi tiến hành nghiên cứu các thư tịch Hán Nôm, nếu căn cứ vào
SỖ chữ cùa người đời sau chua thêm vào, thì sẽ không thể chính xác được và người đời sau sẽ còn bán cãi mãi chuyện không đâu
Do có những y kiến trái ngược nhau như vậy, hơn nữa ớ các tư liệu trên còn nhiéu điểm chưa được làm sáng tỏ, thiếu thuyết phục, Nên dù Truyện Kiều được các nhà xuất bản in đi, in lại nhiều lần, nhưng khi giới thiệu thân thế Nguyễn Du đều ghi năm sinh là
1765 như từ trước tới nay vẫn thường ghi
Nãm nay (Ất Dậu 2005), kỷ niệm 240 năm năm sinh Nguyễn
Du, Bộ Văn hóa Thông tin và ủy ban nhân dân tỉnh Hà Tĩnh, đổng
tổ chức lễ kỷ niệm Các nhà tổ chức đã thống nhất, do chưa làm sáng tỏ được ngày sinh của Nguyên Du nên vẫn lấy năm 1765 làm căn cứ để tổ chức kỷ niệm như năm 1965 Đảng và Nhà nước
ta đã quyết định làm
Trang 11V ăn hoá Há Tĩnh
- Tháng 10 + 11 năm 2005
SỐ 87+ 88
Tronă nhiều cuốn sách viết về rằn9: "Ty ồi trẻ N9uyẻn Du râì n ở
I Ng“ yf " KI: ả" ? 9'a đĩnh, đều làm quan ở Bấc, ca
không có tư liệu nào, kể cả gia phả,
* lỉ ứ ( l v tíè tt th ấ u
NGUYỄN DU SÓNG Ở ĐÂU?
viết rằng sau khi cha mọ mất
Gia phả họ Nguyễn Tiên Điển
(1765) niên hiệu cảnh Hung, tại
phường Bích Câu thảnh Thăng
Long (Hà Nội) Lén bảy tuổi Nguyễn
Nghiễm về hưu, Nguyễn Du theo
cha về Tiên Điền Sau này (1796),
khi vể Thái Binh vể quê, ông có ghi
lại sự kiện này trong bài '"Giang
Tàn quý chen mảy tựa hạc bay.
Từ đó áo xiêm nào thấy nữa,
Hai bờ cây cỏ xiết sầu thay.
Trăm năm lắm việc thương tâm
nhĩ,
Hẳn chốn Tràng An cũng khác
ngày.
(Bản dịch cùa cụ Nghè Mal -
cháu Nguyễn Du)
Theo tiểu sử Nguyễn Du mười
tuổi cha mất, mười ba tuổi mẹ mất,
vậy quãng thời gian từ khi cha mạ
mat đến khi ra Trấn Sơn Nam thi
Tam trường, Nguyễn Du sống ở
đâu?
ĐINH SỸ HỔNG
phẩm và lịch sử vãn bản xủa Nỹuyẽn Thạch Giang và Trương Chỉnh (Nhà xuất bản Thành phố Hỗ
gia và tác phẩm (Nhà xuất bản
ph ổ thõng , khi giới thiệu vềị thơ
Quốc âm Nguyễn Du lại bao Ò6m
Chiêu hồn thập loại chung sinh, Văn tế sống hai cô gái ĩrư ờng Lưu, Thác lo i trai phừong nón,
Với cách đánh giá và giới thiêu văn bản như trên thì còn có nhiều điểm thiếu nhất quán, cẩn phải làm
gái Trường Lưu, Thác lờ i trai phường nón là sáng tác Cua
Nguyễn Du, thl thời niên thiếu rõ ràng Nguyễn Du phải sống ở Tiên Điền
hai cô gál Trương Lưu, chủng tã
thấy thổi gian Nguyễn Du viết bài văn tế phải là những năm sau 1796, khi Nguyễn Du về song ở Tiên Điền
Lời bài văn cho ta thấy thời gian gặp nhau giữa o Uy, o Sạ và Nguyễn Du vào những năm Nguyên Du còn trai trẻ, thường cùng trai làng Tiên Điền
duyên với hai o Khi gặp lại, hai o đã
có gia thất cả rồi “Noi đến tên thì đã
mụ nọ, mụ kia" Lời bài văn tế thế
hiện tính kẻ cả, bề t|ên của cậu ấm con nhà danh giá "Ả nọ o này đông đức Anh kia chú nọ rình 010".
Ớ bài Thác lời trai phường nón lại có câu:
Ba sinh đành một kiếp hẹn hở Hai năm được mấy lán chung chạ.
Như vậy, ở hai bài thơ trên, chúng ta có thể khẳng định thời trai trẻ Nguyễn Du thường qua lại đất Trường Lưu Đây không thể là quãng thời gian sau khi thi Tam trưởng và ra làm quan
họ Nguyễn Tiên Điển ta thấy
không chỉ có dinh thự ở phường
trang địa ấp quan Đại Tư Đổ Nguyễn Nghiễm rất rộng lớn, dinh thự nguy nga đổ sộ Trong cuốn Nghi Xuan địa chí dó Lê Văn Diễn soạn năm 1824 còn ghi lại bài vè dân Nghi Xuân tả dinh thự của Nguyễn Nghiễm như sau:
Trèo lên Hồng Lĩnh mà trông Nhìn vể đã thấy dinh ông rỗ ràng
Lâu đài dãy dọc tòa ngang ông ngồi đọc sách nghiêm trang một mình.
(Võ Hổng Huy dịch)
Do vậy, khi không còn cha mẹ, Nguyễn Du có thể ve sống ở Tiên Điên Họ Nguyễn Tiên Điển có rất nhiều người đỗ đạt ra lảm quan, nhưng cung có một số con cháu đỗ đạt nhưng ở nhá làm nphề thuốc, nghề dạy học Thởi ấy, ơ làng Tiên ĐỈến phần đông là con cháu họ Nguyên sinh sống Ngoài gia đinh Nguyễn Nghiễm thi gia đình Nguyễn Trọng cũng rất đông đúc Nguyễn Nghiêm có 8 vợ, bà Đặng Thị Dương và Đặng Thị Tuyết sống
ở quê lo việc hứơrìg hoa to tiên ve
già mới ra Thăng Long ở với Nguyễn Khản, hai bà vợ cuối là Hồ Thị Ngạn và Hoàng Thị Thược thì sống tại dinh thự ở Tiên Điền, Nguyễn Khản 6 vợ, Nguyễn Điều 4
vợ Nói chung cha con, anh em Nguyễn Du hổi đó lấy rất nhiều vợ, không phải tất cả đểu ra sống ở Thăng Long
hai cô gái Trường Lưu, Thác lờ i trai phường nón, Nghi Xuân địa chí, Gia phả họ Nguyễn Tiên Điền, rất có khả năng sáu khi cha
mẹ mất Nguyễn Du ve sống tại Tiên Điền, sau này thi đậu Tam trường, Nguyễn Khản xin cho làm Chánh Thú hiệu Thái Nguyên mới trớ ra Bẳc
Trang 12Ong Iiữu Ngọc, một nhà nghiên cứu, giới thiệu văn /lóa Việt ra
nước Itgoài, người được Giải "Cành cọ Hàn Lăm ” cúu Pháp, có lần nói với tôi: Nếu không cỏ Nguyễn Du (1765-1820) thì trong văn học Việt Nam xưa, ìỉhó chọn ai đ ể giới thiệu với bạn đọc nước ngoài Quá vộv, Truyện Kiều là tác phẩm dề đến với trái tim nhân
loại Lòng nhân ái, nỗi đau thăn phận, th ế giới nội tăm phong phú,
sâu sắc, cao thượng dã giúp Kiểu trở thành nhân loại Khi cả một dân tộc đau khổ, “đói nghèo trong rơm rạ” (C h ếL an Viẽn) mà đẻ ra một tác phẩm “thiên thu tuyệt diệu” như vậy, ih ật dáng kinh ngạc, tự hào N hư Đỗ Phủ, Nguyễn Du nói nỗi đau đời, thương người trong bao nước mắt Như Tào Tuyết Cần trong Hồng lău mộng, Nguyễn Du nói tình yêu và th ể giới bẽn trong con người, sự tự ý thức về nhăn phẩm ,
sự "giật minh mình lại thương mình xót xa” Như Pusơkin, Nguyễn Du
là người phối hợp tuyệt diệu thơ và truyện, và là người nông tiểììg mọ
đ ẻ cứa minh lẽn hàng ngôn ngữ dẹp và phong phú nhất, diễn tả được
tất cd các sđc thái tinh tế, săn xa cửa tỉnh cảm.
Chù nghĩa nhân đạo của Nguyễn Du ngcuìg tầm với chứ nghĩa nhăn
văn thời Phục Hưng châu Âu, lấy con người làm trung tâm vũ trụ,
ph á t hiện ra cá nhản con người, con người bôn trong con người Nguyễn
Du là m ột thiên tài mẹ (génic-mèrc) cùa Việt Nam, sánh được với các
"thiên tài m ẹ” khác cùa nhăn loại.
Chúng ta dã viết Iiỉiièu, dã nỊỊỈũôn cửu nhiều, đã giới thiệu ra nước ngoài và giảng dạ y Nguyễn Du trung trường học, nhưng Nguyền Du
1*3/1 còn là mội bí -'ỉn, thách thức, mời ịịọi.
Văn hóa Việt Nam nhìn vào Nguyễn Du mà tin tưởng Người Việt
N am nhìn vào Nguyễn Du, Nguyễn Trãi, Hồ Chí Minh m à vững bước
K ỳ niệm Nguyễn Du là m ột lẩn chúng la kiểm điểm lại hành trang văn hóa, suy nghĩ về chiến lược văn hóa ■ văn nghệ, chiến lược con người, giáo dục, khoa học đ ể chấn hưng, bảo vệ và p h át triển con người, văn hóa Việt Nam Và như vậy, có biết bao việc ph ải làm, bao ahiỀu việc cần đến 8ự góp tay góp sức cửa tấ t cả.
Dân tộc ph ải đ i dôi với nhân loại và thời dại Chứng ta không bảo
vệ bản sắc dân tộc trong một cái vỏ ốc kin mlt Chúng ta phải đ i ra cùng nhăn loại và đ i lên cùng nhân loại, kịp nhân loại Các dân lộc khác, các nền văn khác có biết bao cái hay, cái tốt dẹp đã được tích lũy qua bao th ế kỷ, chúng ta còn học được quá ít Bản sắc dân tộc trong văn hóa ch ẩn gph ải là cái gì đứng im, không vận động, không biến cãi
mà cấn luôn tích hợp, biến đổi, gạn lọc v ề phương diện ấy, Nguyễn
Du cũng là m ột tấm gương, m ột điển hình Cho nên yêu Nguyễn Du, chúng ta không vọng ngoại cũng không bài ngoại.
Nhưng chẳng phải như ông chủ bút báo Nam Phong và sau đó là Thượng thư Phạm Quỳnh, hùng hồn tuyên bố ‘Truyện Kiều còn, tiếng
ta còn; tiếng ta còn, nước ta còn” I>à bị nhà chí s ĩ - nhà văn chính luận Ngô Đức K ể mắng cho là "con đĩ Kiều” Bởi nước ta sẽ không cùn, sẽ không nhữ hôm nay, nếu không có cuộc chiến đấu xương máu ■ thân thánh 30 năm, hàng th ế kỷ; và tiếng Việt và Truyện Kiều sẽ không như hôm nay, dưới bầu trời thu trong xanh Tổ Quốc thống nhất và độc lậpM
12
Trang 13V ăn hoá Hà Tĩnh
Số 87+ 88 - Tháng 10 + 11 năm 2005
ĐẠI THI HÀO NGUYỀN DU
VÀ KHU DI TÍCH HỌ NGUYỄN - TIÊN ĐIỀN
I - CUỘC ĐỜI VÀ Sự NGHIỆP
Nguyễn Du, tự Tố Nhự, hiệu
Thanh Hiên, sinh năm Ất Dặu
(1765), niên hiệu cảnh Hưng triểu
vua Lê Hiển Tông Nơi sính là
phường Bích Cảu, thành Thăng
Long (Hà Nội) Lúc bấy giờ, cha ông
là Nguyễn Nghiễm đang làm Tham
tụngT Bốn năm trước, ngưởi anh
cùng mẹ lè Nguyễn Nễ cung sinh
tại đây Bà Trần Thị Tẩn là con gái
thứ bá của một vị quan nhỏ coi vĩệc
sổ sách kế toán (chức Câu Kê) dứới
trướng Nguyễn Nghiễm, người xã
Họa Thiểu, huyện Đông Ngàn, tỉnh
Bắc Ninh (náy thuộc xã Hương
Mặc, huyện Từ Sơn) Bà sinh năm
Canh Thân (1740), thuộc dòng dõi
Tiến sỹ Trần Phi Chiêu (1549-1623)
- Thượng thư Bộ Hộ, kiêm Đô Ngự
Sử, tứớc Diệu Quận công Là một
phụ nữ nết na, xinh đẹp, lại sinh ra
tại xứ Kinh Bắc vùng quê quan họ
nên bậ đã có ảnh hơỏng lớn đến tâm hổn thd Nguyễn D:.‘ từ Iihidiq
n g á y CÒM b ỏ
Theo tộc phả của dòng ho Nguyễn Tiên Điển, tên 3 tuổi Nguyễn Du được phong ấm Hoằncj Tín đại trung thành môn vệ úy xuât thân th u Nhọc bá Với cái ham ấy Nguyễn Du đã đứng trong hàng ngũ
sỹ tịch của triều đinh nhà Lê, mặc
du không phải là một vị quan tại triều Nguyễn Du tướng mạo khồi ngõ, lêrl 6 tuổi bắt đấu đi học chữ Han, sách vờ chĩ cần xem qua một lấn là nhớ Năm Tân Mão (1771)t Nguyễn Nghiễm thôi giữ chức Tê iướng vể tri sỹ ở quệ nhà, Nguyễn
Du- cung theo cha về quê Tại Í>ỐI1
Giang Đinh, ỏng đã được chirtig kiến cảnh vinh hoa phú quý củạ gia đinh minh (sau này õng có nhắc lại trong bài thơ Giang Đinh hữu cảm)
Năm Binh Thân (1776), Nguyễn Nghiễm mất lúc Nguyễn Du rnớí 11
tuổi Híii năm sati (17/8), há Trán Thi Tan rũttq lâm bõnh rối m.iì (1 lụoi 3!), Nịịu/Ồii lỉu niti cỏi cá clK) lấn mẹ
Nguyên Nqltiỗm có 8 nyưởi V(I
nhưng chỉ có 2 bá ở quê lá Đặng Thị Dương (mẹ đẻ Nguyễn Khảti) và Dâng Thị Tuyết (mẹ dẻ Nguyễn Điếu)
Sau khi Nguyễn Nghiễm mất, gia cành không còn phong lưu như trước Tuy vậy, với địa vị và danh tiêng của qia tộc, Nguyễn Du vẫn là
"cậu Chiêu Bày" được mọi người ngưỡng mộ Một sõ tài liệu cho rang trong quăng thời gian này, ngoài viộo hoe hãnh, những ngây rõi rãi,
Ả n h trôn: K h u lu u n iệ m
N g u yê n D u lạ i 'liê n D iè n -
N i ị I ú X u â n
Ảnh: l \ v
Trang 14► lễ tết Nguyễn Du thường vượt
truông Hống đò Cái vào Trường LỨU
hát ví và xướng họa thơ phú Đất
Truỡng Luu ngoài hát phuờng vải có
tiếng, còn là chỗ thông gia với họ
Nguyễn Tiên Điển Nguyen Huy Tư
- tác già Truyện Hoa Tiên là con rề
Nguyễn Khan (lấy bà Nguyễn Thị
Bành và Nguyên Thị Đài) Nguyễn
Thiện - cháu Nguyễn DÚ là người
nhuận sắc Truyện Hoa Tiên Họ
Nguyễn Trường Lưu có "Phúc Giang
thư viên" lưu giữ rất nhiều sách quý
Vi thế, Truỡng Lưu là nơi đi lại rất
có nhiều tà i liệu chép sau khi bo
mất, Nguyễn Du ỏ với anh trai là
Nguyễn Khản tạ i Thăng Long và
học tập tạ i đây).
Năm Quý Mão (1783), tròh 19
tuổi Nguyễn Du dự khoa thi Hụơng
ở truởng Sơn Nam và đậu Tam
trường, được tập ấm chức Chánh
thủ hiệu hiệu quân Hùng hâu của
cha nuôi họ Hà (Hà Mo) ồ Thái
Nguyên
Ông lấy vợ là bà Đoàn Thi Huệ
con gáĩĐ oàn Nguyễn Thục, đố Tiến
sỹ năm Nhâm Thân (1752), từng giữ
chức Đốc trấn Nghệ An, ngưởi xã
An Hải, huyện Quynh Côi, tran Sơn
Nam (nay là tỉnh Thái Bình)
Năm Giáp Thỉn (1784) kiêu binh
nổi loạn, đốt phá tư dirịh Nguyễn
Khản ở phưởng Bích Câu Năm
Bính Ngộ (1786), Tây Sơn đánh
Thuận Hổa rổi tiến ra Bắc Hà, Trịnh
tô n g bị bắt và tự tử, kết thúc 216
năm “Vua Lê Chúa Trinh" Nãm
Mậu Thân (1788), Nguyến Huệ lẻn
ngôi Hoàng đế lấy niẻn hiệu là
Quang Trung, Lê Chiêu Thống chạy
đi cẩu viên nhà Thanh Nguyên DÚ
lánh vể ố nhờ nhà anh vợ la Đoàn
Nguyễn Tuấn tại Thái Bỉnh Năm
Tân Hợi (1791), ãnh thứ tư cùng cha
khác mẹ là Nguyễn Quýnh chống
Tây Sơri bị bắt và giết, dinh cơ họ
Nguyễn Tiến Điền cung bị đốt phá
Mười năm lưu lạc “ăn nhà ở đậu"
quê vợ là những năm tháng cô đơn
cùng cực của Nguyễn Du, đói
không cơm ăn, rét không có áo
mặc ô n g gọi quẵng thởi gian nảy là
trần) Suy 'nghĩ nhiểu đen (hời cuộc
và thảm cảnh mà gia đinh ông phải
gánh chịu nên mâi 30 tuổi mà tóc
đã bạc trắng như ông giãi bày Irong
bài tliơ u cư:
M ười năm trọn quê nguời nấn ná
Nương quẽ người tóc đã điểm
suong
Những năm này, gìa cành nhà
vợ chẳng lấy gi làm khá già Đoàn Nguyễn Thục đã mất, con trai lớn cũng mất, Nguyễn Du đành cõng người con trai còn lại là Nguỵễn Tứ
vễ quẻ cha đất tổ ố Tiên Điên Trỏ lại quê, nhà cửa tan hoang, anh em lũli tán khắp nơi, ông đã phải thốt
Đêm nằm nghe tiếng gió bắc thổi
đống sách khiến ông càng buồn
Để khuây khỏa, ông thuởng theo trái làng Tiên Điền lên núỉ Hổng Lĩnh đi săn và xuống sông la m đánh bắt cá ông tự đặt biệt hiệu
‘Hống sơn liệp hộ" (Phuởng săn núi
chài bể Nam)
Mùa đông năm Bính Thìn (1796), Nguyễn Du toan trốn' vào Gia Định Theo Nguyễn Ấnh nhung việc bại lộ, bị tưởng Tây Sơn la QÙận công Nguyễn Thận bắt giam
Nhổ Nguyên Thận là bạn thân cùa anh ruột cùng mẹ là Nguyễn Nễ nôn ông ch? bị giam vài tháng rổi cho vể như ông đă nôi trong bài "My trung mạn hứng”:
Bốn bổ giò bụi nghĩ lình nhà việc
Mùa đỏng năm Quý Hợi (1803),
sứ nhà Thanh sang sắc phong cho vua Gia Long, Nguyễn Du đư^c cử cùng Tri phủ Thượng Hổng lả Trần Quí Chuyên, Tri phu Thiên Trựởng
lả Ngô Nguyễn Viên và Tri phủ Tiến Hưng là Trân Lưu lẻn ải Nam Quan nghênh tiếp sứ thẩn
Mùa thu năm Giáp Tý (1804), Nguyễn Du lấy cớ bị bệnh từ chức xin vẽ quê Con đưàng lảm quan với nhả Nguyễn đang hanh thông nhưng ông vẫn không mặn mà lắm
Trong bài thơ “Hỷ Thúc phụ Thưởng Tin giả quan quý” Nguyễn Hành co
ý nổí về chú mình (dích nghĩa):
Đang buổi thanh bình cở sao chú
lại cáo quan mà về Chú mạnh mê rút lui lúc này lả do
ỷ muốn Chú đã có một chức tưỡc trong
thiên hạ Thi chú cần phải giữ trọn danh tiết
cho nhà ta
Về quê chưa được bao lâu thi vua Gia Long có chỉ gọi ông vào kinh đô, Mùa Xuân nấm Ất Sửu (1805), được thăng Đông các điện học SI, tước Du Đ ú t hầu (hàm Ngũ phẩm) Đây là một ân sủng lớn mà triều đinh giành cho Nguyen Du bởi ông chỉ đo Tam trường (Tủ tài) mà thởí đó phải đỗ Hương cống (Cử nhân) thi mới được bổ làm quan.Tháng 9 năm Đinh Mão (1807), ông được cử giữ chức giám khảo ky thi Hương ồ Hải Dương Xong việc, ông xin nghỉ về quê" nhưng đến mùa hạ năm Kỷ Tỵ (1809) lại có chỉ
bổ ông giữ chức Cai bạ tinh Quảng Binh Nguyễn Du giữ chức Cai bạ bốn năm, chính sự giản dị không cần tiếng tăm nên được sĩ phu và nhân dân yôu mến Năm 1811, nghs tin Trấn Nghệ An bị hạn hán mát mùa, dân đói kém, ỏng viết thư gửf Hiệp trấn Nghệ An tà Ngô Nhân Tĩnh xin miễn thuế cho dân Nghệ
An nam đố vằ lảm thơ cảm tạ:
Xa nhìn Hổng Lĩnh ngôi sao đủc Nâng chén mừng quê khắp dặm
ngàn
Cùng nãm đó, lại xẩy ra vụ án Dặng Trần Thường, Nguỵễn Gia Cát và VQ Quý Đình làm 500 đạo sắc giả bán lấy tiền Tháng 9 năm Nhâm Thân (1812), ông xin tạm nghỉ hai tháng về quê xây mộ cho anh lả Nguyễn Nễ
Tháng 2 năm Quý Dậu (1813)
có chì triệu ông về Kinh, thăng hàm Cần Chánh điện học sĩ, rổi cửđi sứ Trung Quốc với tư cách là Tuế cống Chánh sứ Hai phó sứ giúp việc là Thiêm Sự bộ lại Trần Văn Đại và Thiêm sự bộ lễ Nguyễn Văn Phong.Trên đường đi sứ sang Trung Quốc, Nguyễn Du có dịp trở lại Thăng Long Bạn bè mở tiệc ở dinh Tuyên PhủT gọi mấy chục nữ nhạc đến giúp vui; ong nhận rã một ngữời
mà 20 năm (rước, khi ông từ Thái Binh lên thăm nhà anh la Nguyễn
Nễ đã hát cho quân Tây Sơn nghe
14
Trang 15Bây giờ dung nhan tiểu tuy, ônc)
chạnh lòng nghĩ tới việc thê’ sự đoi
thay, buổn bã thốt lên trong bài thơ
Long thành cẩm già ca Ong còn
đau lòng hơn khi đi qua dinh thự
nhà minh lại phường Bích Câu Nhà
cũ không còn, Cung vua, Phủ chúa
đã thành đường cái quạn, những cô
gái quen đã đ ĩ lấy chổng, bạn (rai
chơi thân ngày trước thi đa nên ông,
nên lão
Ngày 6 tháng 2 năm 1813, đoàn
sứ Bọ qua ải rôam Quan, ngày 4
tháng 10 đến Bắc Kinh Trong íhởi
gian đi sứ, ngoài sứ mệnh bang
giao, mỗi khi đi gua các đển chùa,
các danh lam thắng cảnh nổi tiếng
của Trung Quốc, Nguyễn Du thường
ghé thăm và làm thơ Đến thăm đền
thờ nàng Tiểu Thanh ở Hàng Châu
khóc cho Tiểu Thanh và ngậm ngùi
nghĩ đến thân phận minh:
Bất tri tam bàch dư niên hậu
Thiỗn hạ hà nhân khấp Tố Như
Tháng 4 năm Giáp Tuất (1814),
Nguyễn Du trở vể nữớc và có tập
thơ Bắc hành tạp lục Mùa hạ nãm
At Hợi (1815), Nguyễn Du được
thănqchức Hưu Thám tri bộ le ,
hàm Tam phẩm (do đó người xưa
thựờng gọi ông là Quan Tham thúy
Kiểu)
Năm Binh Tý (1816), anh rể ông
là Vũ Trinh (1759 - 1828) liên quan đến vụ án cha con Tổng trấn Nguyễn Vãn Thành nên bị đay vào
(1819), Nguyễn Du được cử lam Đề Điệu trưởng thi Quảng Nam, ông dâng biểu xin từ chói và được vua chuan y Tháng 8 năm Canh Thìn(1820) vua Gia Long mất, vua Minh Mệnh lẻn ngôi, có lẹnh cử ông làm Chánh sứ sang nhà thanh báo tang
và cầu phong, nhung chưa kịp đi thì
bị cảm bệnh mất tại Kinh thành Huế vào ngày 10 tháng 8 niẻn hiệu Minh Mệnh năm đầu (dương lịch là 16/9/1820), hưởng thọ 55 tuổi Sách Đại Nam chính biển liệt truyện
chân, nói đã lạnh rồi ông bảo tốt, nói xong rối mất không trân trối lại điều gì về sau" Có lẽ ông chết do
bệnh dịch tà, trận dịch này bắt đấu
từ Xiêm La, Chàn Lạp rồi lan sang
Ị f _1 _ » i | _ 5 _
dịch phát sinh từ các tình Hà Tiên, Định Tường rồi lây lan khắp nưởc, đền tận Bắc Thành, ngừời chết không biết bao nhiêu mà kể Thành thị thôn quê đểu nào động
Nguyễn Hành lúc bấy đang ở Bắc Thanh được tin chủ mất, làm
phó, âm cảm tác có câu sau.
Ngộ môn hậu phúc công xảo hoàn Dịch lệ hà năng tốc công tử (Phúc dày này chú la dã giữ ỔƯỢC
trọn ven Bênh dịch sao có thể làm chủ chết
chúng sinh (Văn chiêu hổn), Văn tế
Trường Luù nhị nữ, Thác lòi trai phường nón; va vĩ đại nhất là tập Đoạn Trường Tân Thành mà nhằn
II - TRUYỆN KIỀU TRONG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TINH THẨN CÙA NHÂN DÂN VIỆT NAM VÀ THẾGIỚI
Truyện Kiểu được Nguyễn Du chuyển dịch, sáng tạo tử cuốn tiểu thuyết "truyện Kim Vân Kiều" của
Lữ Ngôn 81 tuổi, quê ở Quáng Bình đã chép íay cá cuốn Truyện Kiều bằng chữ Nôm cải tiên,
ên là m ội trong các trang chép tay đó cúa cụ.
Cụ Lữ Ngôn 81 tuổi, quê ở Quáng Bình đổ chép I
Ảnh trên là một trong các trang chép tay đó cúa cụ
Trang 16- Thanh Tâm Tài Nhân (1521 - 1593)
- tên Ihât là Tử Vãn Trưởng, tức Từ
Vị, quê à huyện Sơn Ảm, tỉnh Triết
Giang, Trung Quốc Tương truyền,
khi viết xong Nguyễn Du đưa bàn
Ihảo cho Phạm Quý Thích xem,
Phạm Quý Thlch có chữa một số
chữ trong bàn thảo của Nguyên Du
rổỉ viếí lời tựa đưa in, đổi tên sách
Đoạn Trường Tân Thanh thành Kim
Vân Kiều iruyện Một số nhả nghiên
cứu cho rằng bản này vể sau gọi là
bản Phường (vi được in ở phường
Hàng Gai, Hà Nội); sau này vua Tự
Đức cũng rất yêũ thfch Truyện Kiềú
đã chữa một số chữ và cho khắc in,
dân ta quen gọi là bản Kinh (in ở
kinh đô Huế), c ả hai bản này vể
sau đUdc in đi in lại nhiểu lẩn bằng
chữ Nôm Khi chữ Quốc ngữ ra đời,
lại được dịch ra Quốc ngữ, số lần in
lại càng nhiều hơn Bản Quốc ngữ
đầu tiên là của Trương Vĩnh Ký in
năm 1875
Truyện Kiểu ra đời được nhân
dân ta đón đọc một cách say sưa,
có nhiều lúc đã trỏ thành vấn để xã
hội, tiêu biểu là cuộc tranh luận
Tà thuyết" giữa cụ Nghè Ngô Đức
I ' Kế và ống Pham Quỳnh, thu hút rất
nhiểu người của hai phía cùng luận
chiến
Năm 1830, vua Minh Mạng, một
' người tinh thông Nho học và sùng
đạo Khổng vì mê say truyện Kiều
đầ mở đợt bình Kiều đẩu íiển Nhà
vua đửng ra chù iri mở vãn đàn
ngâm vịnh và sai các quan ở Hàn
Lam Viện chép để lại đời sau
Đến đời Tự Đức, nhà vua thường
triêu tâp các nhà khoa bảng trong
triều đe bỉnh và vịnh Kiều ở văn đàn
tại Phu Văn Lâu, mặc dù đó thường
là nơi để nhà vua bán bố nhOtìg vãn
kiện có tính quốc gia đại sự
Năm 1805j Tổng đốc Hưng Yên
là Lê Hoan mơ hội Tao Đàn thi văn
chương vể Truyện Kiều Nhiểu nhà
khoa bảng, quan lại tham dự; Cụ
Tam nguyên Yên Đỗ Nguyễn
Khuyến làm Chánh Chủ khảo
Trong cuộc thi này, Chu Mạnh Trinh
đươc giải nhất với 21 bài thơ vịnh
Kiếu Có tài liệu chép vụa Tự Đức
đã từng trách cứ các quẩn thần mẽ
Kiều với câu nói được truyền tụng
đành tổ tôm; mê lígựa hậu bo, mê
Nỗm Thúy K iểu"
Sang thế kỷ XX, Truyện Kiều
tiếp tục có ảnh hưởng sểu rộng
trong các lĩnh vực đời sống xã hội
Do yêu Truyện Kiều mà nảy sinh
nhiêu loại hỉnh nghệ thuật văn
chương xung qụnnh truyện Kiểu:
tập Kieu, lẩy Kiếu, binh KÍều, vịnh Kiẹu ; thạrii chí còn dừng Truyện
Kiếu để bói toán vận hạn tỗt xầu
(Bói Kiếu) Truyện kiểu được dụng
ihn n h phim , cíứn IÕI1 s;ìn khất ì:
Tuống, chèo, cải lương, hội họa ,
và còn có cà một cuốn Tư điển để học giả, người đọc tra cứu điển tích ngữ nghĩa
Mặc dù Truyện Kiếu ra dời cách đây mấy trăm năm nhựng các nhà
lượng lớn và dược nhân dân đón đọc ĩhích thú Truyện Kiểu đã được dịch ra rất nhiều íhứ liêng trên tbé giới: Anh, Pháp, Nga, Đức, Trung Quốc, Tây Ban Nha, Tiệp Khắc, Hung-ga-ri, Bun-ga-ri, Nhật Bản, Lào, Thái Lan, Hàn Quốc
Các nhà nghiên cứu trẽn thế giới
<đều đánh giá cao Truyện Kiểu Nãm
1926, dịch giả người Pháp Rơ-ne- cry-sac khi dịch Truyện Kiểu đã viết bải nghiên cứu dai 96 trang, có
có thể so sánh một cách xứng đáng vỡi kiệt tảc của bất kỳ quốc gia nào, bất kỳ thời đại nào ông so sánh
nền vân chương Pháp, không một lác phẩm nào được phổ Ihỗtig, đuộc loậiì dồn sùng kinh và ỵêu chuộng bàng quyến huyện nòy (I Việt Nam"
sưởng thay bậc thi s ĩ vòi một tàc phẩm độc nhẳt vô nhi đã làm rung dộng vncn vnng tất cằ tùm lĩốncũa một dân tộc"'.
Nãm 19G4 tại Béc-lin (Cộng hòa dân chủ Đức), Hội đổng Hồa Bình thê giới họp từ ngày 6 đến ngày 9 tháng 12 đa ra Quyet nghị lấy nãm
sinh Nguyễn Du trên toàn thê’ giới cùng với 8 danh nhân khác đã có nhưng đóng góp lớn cho nến văn hóa của nhan loại
Theo cách tính của một sỏ nhà nạhiên cứu, đến nay Truyện Kiểu cua Nguyễn Du đã đạt 5 kỷ lục ihế giới:
1, Thú chơi tập Kiều;
2, Mười bản dịch Truyên Kiều ra tiếng Pháp;
3: Bảy cuốn Hôu Truyện Kiều;
4, Truyên Kiền doc ngược;
8, Bộ phim truyện đầu tiên của Việt Nam là từ Truyện Kiều:
9, Quyến sàch nặng nhất Việt Nam;
10, Quyển sách dài nhất Việt Nam ■
Ngoài ra còn có rấl nhiếu điểm độc đáo khác, như: Quyển sách bằng chữ Nôm dược in di in lại nhiểú lẩn nhất; Tác phẩm có số lượng các bãi báo việì về nó nhiều nhất; Trong 4 năm gần đây nhất cộ thêm 20 quyển sách nghiên cứu về Truyện Kiéú; Quyển sách có đời sống thãna trầm nhất; Tác phẩm văn học đẩu tiên của Việt Nam làm điểm iựa cho một luận ản Tiến sĩ
sở cho nhiểu luận án Tiến sĩ nhất;
Tác phẩm đuọc đưa lèn sân khấu với nhiểu thể loại nhối; Truyện Kiểu
là lác phổj« văn học má Hội họa đã qui tụ nhiều danh họa hảng đầuị Văn bàn mà nguởi ta cãi nhau vế chữ nghĩa nhiểu nhất
III - QUẨN THỂ DI TÍCH NGUYỄN
DU VẢ MỌ NGUYỄN TIÊN ĐIỂN ở NGHI XUẨN, HÀ TĨNH
1 Nhả Tư Văn: Năm 1735 vế trước gọi là Vãn thánh huyện llìờ Khổng Tử, đặt tạỉ Xuân Viên vi ỏ đây co dòng họ Ngụy phát đạt nhất huyện Nghĩ Xuân jh ổ i đó NhUhg sau khi họ Nguyễn Tiên Điển nổi lên thi Văn Thanh Huỵện lại được chuyển vể họ Nguyền Tiên Điển Năm 1785, Xuarí Quận công
khu vườn của ông tổ họ Nguyễn Nhà được xảy dựng lại vào ‘năm thứ
13 vua Tự Đức (1850); đến năm
1860 dân làng Tiên Điên lại tu sửa lần nữa Theo truyển thống tốt đẹp của dòng họ vế mặt văn học, ngoi nhà này được dùng để làm nơi binh Ihc), binh văn của các nhà khoa bảng trong vùng Những người được vào đây để bỉnh thơ văn đều lã những người "Phượng trì long bảng" (Tức từ TO tài trở len), về sau có ihay đổi (Các nho sinh trúng Ihức nộp 10 quan tiền được vào) Sau khi
/f ổ
Trang 17Nhà văn Dức Ban thay mật cho các nhờ tlto, các dồng chi lãnh (lạo tinh tưới rượu lên mộ Nguyễn Du trong lễ dâng hương trước lúc khai mạc Nị>ày tho Việt Nam tần thứ I tại Khu ỉmt niệm
oình thơ xong các cụ xuống nhà hạ
điện uống Ira, uống rượu
Nhà thượncj, nhà hạ đều 3 gian,
kết cấu theo lôi chữ Nhị, đến nay đã
qua nhiều lần tu sửa
2 Nhà th ờ N guyễn Du
Nhá này do Hội khai trí Tiến Đức
làm vào năm 1940 Hội quyên góp
được 420 đổng tiến Đỏng Dương
giúp cho con cháu của họ Nguyễn
xây nhà thờ, dưâi sự đôn đốc của
Tôn trưởng Nguyễn Mai
Nhà kết cấu theo kiểu chữ Dinh
Phía trước, chính giữa có 4 chữ
"Nhân kiệt địa linh" và hai câu đối ở
cột quyết, một câu của quan thân ở
triều đinh, một câu của cụ Nghè
Mai, cháu đời thứ 10 đề tâng
Bài vị thở Nguyễn Du:
Quỷ Mão khoa Nho sinh, phụng
trực
Đại phu, cliin li trị
Khanh, khăm sai Bấc quốc cống
sứ,
Lễ bộ Hữu Tham Tri, Hầu tước
Thanh Hiên Nguyễn tiên sinh thần vị.
Khi về nưỡc được phong Lễ bộ Hữu Tham tri, tưởc Hếu,
Hiệu là Thanh Hiên.
Tháng 7 nãm 1954, bị trúng bom Pháp nhà thờ chỉ còn lại mội bức tường chơ vơ trên nến cũ và SÓI lại một ít đổ thờ tự, con cháu rước vào, đến thờ Nguyễn Nghiễm Sau năm 1954, nhà thờ được xây dụng lại nhưng chì làm lại nhà hạ điện, khung bang gỗ, xung quanh xảy tường, trên nóc có chạm hinh rống (Lưỡng long chầu nguyệt) và hoa sen Năm 1970, Ty Vãn hóa Hà Tĩnh tu sửa một lần và năm 1976 một lần Iiữ a Qua các lầti tu sửa nhưng đến nay vẫn chưa đáp ứng
được yêu cầu vể ý nghĩa vãn hóa, lịcli sử và tính thẩm mỹ
3 Mộ N guyễn Du
Nãm 1020, Mình Mệnh lẽn ngôi vua, xuống chiếu cử Nguyễn Du làm C h iin li sữ sattỊi nhá Thanh C.UI phong, nhưny chưa kịp di thi mát lại Huế ngày 10 tháng 8 năm Canh ritin (1020), thọ 55 Tuổi
Khi Nguyễn Du mất, có con là Nguyễn Tử và cháu gọi ông bằng chú ruột là Nguyễn Thắng dcìng ơ Huế, hai người lo việc tống táng ong
ờ cánh đống Bàu Đá, thuộc xả An Ninh, huyện Quảng Điền {Thừa Thiẻn) Mua hạ nãm Giáp_ Thân (1824), con trai ông là Nguyễn Ngũ đưa hải cốt về an tang tại quẽ nhà, lúc đầu táng tại sở vưon cũ của ông
ngày càng sa sút so với cha ông nen cài tang đến hai lần nữa, lần cuối cài táng đến xứ Đống Cùng, thuộc Tiên Giáp, thôn Lương Năng (nay là xóm Tiên An, xã Tiên Điền)Ban đầu ngôi mộ đơn sơ, về sau
Trang 18-Thai Mai làm bằng chữ Hán “Tiên
Điền Nguyễn Tiên Sinh phẩn mộ"
(hiện đang đưạc lưu giữ trưng bày
tại B Q l di tích Nguyễn Du)
Năm 1990, Sỏ Vân hóa Thông
tin Nghệ Tĩnh và ủy ban nhân dàn
huyện Nghi Xuân xây lại mô Từ đó
tới nay đẵ qua nhiều lẩn chình sửa,
mộ Nguyễn Du ngày một khang
(ráng hơn nhưng vấn chưa đáp ứng
được yêu cẩu thẩm mỹ của nhiều
du khách,
4 Đàn tế và Bia kỷ niệm
Nguyễn Quỳnh
Nguyễn Quỳnh là ông nội
Nguyên Du, có 5 vợ 9 người con, 6
trai 3 gái Trong 6 người con trai có
3 người làm quăn to lả Nguyễn Huệ
Nguyễn Nghiễm, Nguyễn Trọng Để
tương nhớ công ơn cha mẹ, Nguyễn
Nghiêm cùng em là Nguyễn Trọng
đa tổ chức xây dựng bia này
Bia dựng vào mùa thu năm
Nhâm Ngộ (1762), sau khi Nguyễn
Nghiễm nhậm chức Tể tướng đứọc
4 tháng
Bia xây bằng gạch và đá thanh
Tháng 7/1954, bom Pháp rơi xuống
làm bia sạt mất 1/4 , sau đó đuợc
vạn di (Nghĩa chung như là cảnh
Hưng muôn năm)
bộ Thượng thư Thái bảo Nhuận
Quận cóng Nguyễn liên sinh.
- Phong tặng Nhất phẩm Phu
nhân gia phỏng Quận phu nhân
Phan Thị
Dịch nghĩa: - Phong tăng
Thượng thư bộ Lễ, hàm Thái bảo,
tiên sinh;
- Phong tặng đệ nhất phẩm phu
nhân, phong thêm lên luởc Quận
phu nhân là bà Phan Thị.
Hai bên bia khắc câu đối:
- Niệm thời truy nhật nguyệt
- Truyền ngữ tại giang sơn.
Đển thờ Nguyễn Nghiễm ở thôn
Bảo Kệ, xã Tiên Điền Khi còn sống,
ông đật ruộng cũng và xây dựng
sẵn đển thờ ở mặt sông Sau khi
đẳng phúc thần, HÙàn dụ Đỗ hiển đai vũong", hàng năm Quồc gia làm
tế lễ, lại giao cho 4 xã chăm sóc huơng khoi Ngày sinh, ngày giỗ của ong có cả xã Uy Viễn cùng tế
lễ Đền có tấm biển lớn, một khẫc 4 chữ “Phúc lý vĩnh tuy" (Phúc ấm lảu dài) do tự tay chúa Trinh viết Một
(Dòng thi thư đời nối đời) do Đức Bào, sứ thần nhà Thanh đề tăng
hậu" (Rạng rỡ thế hệ trước, để lại
phúc am cho thế hệ sau), biển này
do Tô Kính người Viễn Đông đe tăng Đền còn có đôi câu đối:
- Lưỡng triều danh tể tướng
- Nhất thế đại nho sư
hư hỏng hoàn toàn, đổ te khí mất mát, hữ hỏng hết, 'chỉ còn lại hai tượng quan hầu, 2 con voi, 2 con ngựa, tất cả bằng đá thanh
6 Mộ Nguyễn Nghiễm INăm Binh Thân (1776), đang đánh nhau với quân Tây Sơn ỗ Châu Ồ, thuộc địa phận Quảng Ngãi, Nguyễn Nghiễm bị bệnh, xin
ve chữa trị Đến Ihảng Í1-Í77G thi mất; trước khi mất ong dăn con cháu phẩn mộ phải tang chim, Nguyễn Khản đang giữ trọng trách ởĩriếu, xin Chúa vẽ thăm cha Thẹo
di huấn, con cháu táng chim phẩn
mộ ông Ngoài nhũng người thẩn tin không ai biết phẩn mộ ở đâu, chỉ biết lang tại xứ Đổng Đài (Gia phả
họ Nguyễn)
Những năm tháng sau này, do mưa gió lâu ngày đất bị xói lở, một phần ngôi mộ Tộ ra Cọn cháu trong dòng họ phát hiện thấy, hàng nãm đến ngày tế lễ đều thắp hương
hợp, hinh vuổng (khoảng 10m^)
Nãm 1993, ông Nguyễn Phước Lương Bằng, Việt Kiêu íại Mỹ công đức 25.000 đô la, ủy ban nhấn dân huyện Nghi Xuân cùng con cháu xây tường bao quanh va mở đường
ra mộ
7 Đền thờ Nguyễn TrọngNguyễn Trọng là chú ruột Nguyen Du Lúc con sống ông đật
ruộng tế xóm sở tại và xây sẵn đểr thở Trước đền, ông cho dựng tấrr bia “Tích thiện gia (Nhà giữ điềi
thiên), con cháu họ Nguyen Tiẻr Điển quen gọi là “Biá gia huấn" B iỉ này do õng viết rồi sai người Tải khắc chữ vào bia nhằm khuyên dại con cháu về sau nên học tâp truyềr thống tổ tiên, trau dổi phẩm hạnh sổng có ích cho đời Trong đền trec tấm biển khắc 4 chữ “Hổng Sơn linl’ khí” (Khí thiêng núi Hồng), chữ dc Cao Đoàn viết Một tấm biền lớn gh chép các bài thơ đề vịnh của cá( bậc lúc nho đanh tiếng
Năm 2000, quần thể di tích nài được Bộ V H T Í cho lập dự án trùnị
tu, tôn tao Với tổng mức đầu tư gầr
10 tỷ đồng thực hiện từ năm 2Õ0C đến nãm 2004, một số hạng mục d tích gốc đã đuọc trùng tũ lại; cônc trình Taing tâm văn hóa Ngúyễn DÌ cũng được đẩu tư xây dựng mớ trong khúôn viên khu lưu niệm vớ các hạng mục chính: Tượriị Nguyễn Du bằng đồng cao 2(5rì {chiểu cao cả bệ tuợng là 4m), nhí Trung bày, phòrig ịh ự v iệ n , phònc Hôi thào Nam 2002, trước yêi cấu phát_ triển của di tích, UBNC tỉnh Hà Tĩnh đã có quyết định thànt lập Ban Quàn lý khu di tích Đại th hào Nguyễn Du Sau khi ra đởi dưới sự chỉ đạo trực tiếp của sở Vâr hóa vá Thông tin Hà Tinh, BQL khi
di tích đã tập trung SƯU tầm thên được nhiểu hiện vật, tài liệu quý liêr quán đến Ngùyễri Du, dồng họ vi tac phẩm Truyên Kiều, đặc biệt l< bản Kiểu cổ khẳc in nãm 1866 (bảr
in cổ nhất cho đến hiện nay), CUỐI
Truyện Kiều viết theo kiểu thư phá| (độc bàn) nặng 75kg, các bộ sưi lập sách vế Nguyễn Du của một sc
co nhân hiến tặng
Tuy nhiên, so với tên tuổi củi danh nhân vả yêu cầu ngày càn< cao của du khách thi hiện trạnị quẩn thể di tích họ Nguỳễn Tiêì Điển đã không đáp ímg được yẽi cầu Nhản kỷ niệm 240 nâni ngà; sinh của Đại thi hào, theo đề ngti của Bộ VHTT và ÚBND tỉnh Hí Tỉnh, Thủ tướng Chinh phủ đã đổrụ
ý cho lập và tnển khai dự án Quị hoạch tong thể khu văn hóa - di lịch Nguyển Du - Tiên Điền Hiệi nay, Sở VH&TT Hả Tĩnh đang tícl cực hoàn thiện dự án quy hoạch píiấn đấu hoán thầnh vào đầu nãn
2006 dể có căn cứ lập dự án tổn< Ihể đầu tư xây dựng khu Vãn hóa -
Du lịch Nguyễn Du trở thành mô trọng điểm du lịch vân hóa quô<
18
Trang 19còn là bãi bồi hoang
vu, người ở thưa
thớt, nằm ven bờ
sông Cả (Lam
Giang), mang cái
tên buồn thảm Vô
cối tên Tần Điền Khi ông tổ họ Nguyỗn
Nam Dương hầu vể ẩn náu và lập nghiệp
vào những nãm đầu thê kỷ XVII, thì Tán
Điền đã được đổi thành Phú Điển, do phải
tránh tên húy của vua Lê Kính Tông
(1599-1618) Sau đó, chưa rõ vào thời gian
hấo, Phú Điển lại đổi thành Tiên Điển
Dầu đời Cảnh Hưng, đội quân tình nguyện
toàn lính Tiên Điền có công bảo vệ kinh
thành Thăng Long, làng được ban tên “xã
Trung Nghla”(l) Đờỉ Nguyễn, Tiên Điển
thuộc tổng Phan Xá, huyện Nghi Xuân
Sau Cách mạng tháng Tám, từ 1947 dến
1953, hợp nhất với Uy Viễn thành xã Tiên
Uy Năm 1952, chia xã, Tiên Điền và một
nửa Uy Viễn là.xã Xuân Tiên Năm 1973,
Xã lấy lại tên cũ Tiên Điền.
Tiên Điển đông bắc giáp xã Đan Hải
(Xuân Hải), tây bắc giáp xã IJy Viễn (Thị
trấn Nghi Xuân), đông giáp xã Tiên Bào
(Xuân Yên), nam giáp xã Phnn Xá (Xuân
Thành, Xuân Mỹ) Từ Tiên Điển di qua
Tiên Bào là đến biển Đông Xưa, Tiên Bào là một thôn của Tiên Điền, dân các thôn khác gọi dân Tiên Bào là
Kẻ Bể Từ Tiên Điển nhìn qua Xuân Mỹ, thây núi Hồng Lĩnh đứng sừng sững
mé tây nam Do
Nguyễn Du đã lấy biệt hiệu
“Nam hải điếu đồ*, “Hồng stín liệp hộ” Ngày nay, không thể biết được ai là người đến khai phá, dòng họ nào đến lập nghiệp dâu tiên ở Tiên Điền Tác giả sách
N g h i X u â n h u y ệ n c h í (Lê Văn Diễn,
ng íời xã Tiên Bào) chép Nam dương công Nguyễn Nhiệm vào mục K iêu ngụ (ở dỗ) sau cả Hội quận công họ Phan Như vậy, khi vị tổ họ Nguyễn đến (đầu thê kỷ XVII) thì ở đây đã có nhiêu dòng họ khác Gia
phả họ Đ ặng, họ T rầ n đều cho b iế t vị sơ tổ
dến đây vào thê kỷ XV Nhưng sách trên cũng lại cho biết, vào thời gian này, một người'họ Hoàng, thôn Báu Kệ, tên thụy là Chính Trực (không rõ tên húy) đỗ hương công khai khoa ở Tiên Điền Tiếp đó là hai cha con nhà họ Lê Qua danh mục các nhà khoa bảng này thì có thể họ Hoàng, họ Lê còn đến sớm hơn họ Đặng, họ Trần Hai họ Hoàng, Lê ở tập trung nhất tại thôn Báu
Kệ, tương truyền được lập lên sớm nhất ở Tiên Điển.
Trang 20Mấy cứ liệu trên chưa phải đã hoàn
toàn thuyết phục, nhưng qua đây có thể
nghĩ rằng Tiên Điền lập làng muộn nhất là
từ th ế kỷ X III, X IV và còn có thể sớm hơn.
Cũng như nhiều làng xã khác, việc phân
bô' vùng cư trú ỏ Tiên Điển xưa theo huyết
thông, ngưòi cùng họ tập trung vào một
xóm, một thôn, ở Báu Kệ, ngoài họ Hoàng,
họ Lê còn có họ Trần Ở Lương Năng, phần
lớn là người họ Hà, họ Nguyễn, ở Võ Phấn
thì người cốc họ Nguyễn, Trần, Hoàng và ỏ
Vồn Trường, người họ Đặng, Nguyễn
M ột 8ố họ có nhiểu chi, nhiểu dòng Họ
Hoàng có hai chi; họ Lê cỏ ba, bôn dòng; họ
Nguyễn từ Canh Hoạch (Hà Tây) vào; họ
Phan (của Hội quận công) từ Sa Nam đến;
họ Hồ (của Hương cống Hồ Sĩ Lâm) từ
Hoàn Hậu (Quýnh Đôi) vào (naý còn cháu
đã đi nơi khốc); họ Đặng, họ Hà từ Đông
Rạng, Tỉnh Thạch (Tùng Lộc) ra; họ Trần
từ M in h Lang (Trung Lương) xuống Một
số tà i liệu oòn cho biết có mấy gia đình thợ
đúc đổng họ Hà từ DiỄn Châu vào hành
nghể và ố lọi thôn Văn Trường.
Theo bản thông kê của Tòa Công sứ
Phốp ỏ Hà T ĩnh năm 1942 thì dân sấ Tiên
Điền có 439 đinh và 1.201 nhân khẩu (con
8ố này thấp hơn thực tế một ít) Đến cuối
thế ky XX, Tiên Điền có 222 hộ và 3.005
nhần khẩu.
Tiên Điển là một xã nhỏ trong huyện,
diện tích tự nhiên chỉ già 1/6 và dân số già
1/4 của Cương Gián là xã lớn nhất huyện
Trước tháng 8-1945, cẳ xã chỉ có 212 mẫu
ruộng, chia đầu ngưòi chưa được nửa sào
Nay xã có 150 ha đất canh tác, và 25 ha đất
vưòn ao, bình quân đầu ngưòi là 500m2 (1
sào Trung bộ) đất canh tác Ruộng đất công
rấ t ít, chủ yếu là ruộng tế, ruộng binh,
ruộng chia cho các chức 8ắc trong xã
Phần lón là ruộng đầu tư, trong đó có một
sô' ít ruộng họ, ruộng dồng môn, ruộng đền
chùa, ruộng hậu, còn lại là của tư nhân Không rõ, đời Lê - Nguyễn, tình hỉnh chiếm ruộng đất của công, khanh, quan lạị
ra sao Nhưng đến trưổc, sau Cách mạng thống Tám, quan ỉại và địa chủ đã chiếm 120/212 mẫu ruộng, có gia đình có ruộng dất phốt canh trong ba bôn xã Hầu hết nông dân không có hoặc có rấ t ít ruộng (Ịấti Đất mặn, dồng chua, khô táo, bạc màu, Xưa trồng cây chủ yếu là lúa (một vụ), khoai, sau thêm ngô, đậu, ỉạc Vườn tược cũng chỉ có ít cây ăn quả thông thưòng Nhưng Tiên Điển lại có loại đặc sẻn quý lồ cây hồng, gọi là “hồng tiến” , một thời đượo chọn làm vậ t phẩm tiến vua Tương truyển, loại hồng này do Nguyễn Nễ (theo
cụ Nghè M ai là Nguyễn Du) đi sứ bên Tàu, lấy giấng từ Quảng Tây đưa vể (?), Nhưng loại cỗy này không phải nhà nào cũng cỏ I Ruộng vưòn không nuôi nổi con người, bao dời nông d&n ỏ đây phải làm đủ mọi nghề để mưu sinh Nơi ngưòi ta tỉm đến trước tiên là Ngàn Hống Và việc dễ dàng
mà nhiều người làm được là ỉấy củi, cắt tranh, lấy m&y, dang, lá tơi, lá nón, hoặc s&n bắt thú rừng Nhò của rừng, dận Tiển Giáp, Báu Kệ có nghề dan lá t chằm tợi, lợp nón ở Báu Kộ, ngoài nghề ỉàm tơi, cồn có nghề mộc, và nghể làm giấy bằng cây nỉ$t' Nghể rèn, dúc cũng có thời rấ t thịnh Ngh$ rèn ở đây do ông tô’ họ Trần ỗ M inh Lar*g (Trung Lưdng) xuống từ thế kỳ XV truyền lại Nghề đức đổng ồ Văn Trưòng Ịại do ông
Hà Chu T rị và ông Bôn, ông Loan từ Diễn Châu vào hành nghề chưa láụ lắm, cho đếĩị
thòi chống Mỹ, vẫn còn Nghể mộc cQng cố
từ đòi Lê Sách N ghi X uân hụyệnìíữhị
chép: “Xưa, chỉ ộ Tiên Điển ngựờỉ làm JỊịỊị<J nhiều hơn, ai cũng vừa ý ông ” Cộ anh thợ mộc Hà Thiềrn đến nhà XụâỊi,nhậQÌ công (Nguyễn Nghiễm) xem thợ Ặ ịi QĩÍẠụ (Thanh Hóa) khắc bỉa đá, mò mẫro W lvw trỏ thành thợ khác nổi tiếng- Các.biạ đậ â Tiên Điồn, ú y Viễn đểu do ông khốq; NgưỀrt đương thời khen ông là “ nhà thợ làm, 4 4 nghê Con cháu ông đều làm thợ cả làng Ngoài ra, một số ngưòi ỏ Võ Phệín« Lương Năng làm một số nghể khốc để kiếm
ao
Trang 21sống: bánh trá i hàng chợ, buôn bán nhò
Hói về những m ặ t nổi trộ i của dất Nghi
Xúân th ò i Lê - Ngúyễri, dân gian có câu:
“ Lồ Ợúá) Hoa (Xuân) Viêrii quăn Tiền Điền,
tiền Hội T h ố n g ”. Đ ịa bạc dân bần, nhưng
T iêíi Điềrt lạ i nổi tiếng lắm quan vân, quan
Vỗ, quan to, quan nhỏ, có th ờ i trong làng
đầy những tông hầu khanh tưông, có nhà
Hiển' hoạh cao khoa, có ngưòi là tể phụ
trìể u đìhh N h in lạ i quổ trìn h lịch sử, th ì
th ấ y hhiểu người đến Tiên Điền cư tr ú
x tlế t thân từ các danh gia vọng tộc trong
tiííổc* tro n g xứ N hiểu người đến đây không
ịíh ỗ i òhộrt đất lập nghiệp, mà là để trá n h
hộa d iệ t Vottg Đó là trường hợp vị tổ của họ
Đặhg, Ngúyễn, H à
iỉ à í i lâm th ị giảng (triề u H ậu T rần)
.Động Chủng, con thứ hai Quốc công Đặng
T ẩ t ở Đông Rạng (nay xã T ùng Lộc, Can
Lộti) 8aú k h í quân M itih cướp nước ta, chạy
, lêẺi chùá Hương Tích, Ngàn Hống lồm
tHiềìi sứ, th ấ y khồng yên, bèn lốnh vể Tiến
Đ iền íttbi danh ẩn tích Nam dương hầu
Nguyễn N hiệm , tướng nhà Mạc, dòng dõi
trọ n g ngtiyên Nguyễn Thiến ỏ Canh Hoạch
(tíà Tẳy) mưu đô khôi phục họ Mọc không
thành, Ểhạy về ẩn trố n h ở Tiên Điển, Cồn
tổ hộ Hà là con Giám 8Ỉnh Hà Công Hội, di
duệ của cốc tiến Bl Hà Công T rin h (T K XV),
Hằ Tông Mực (T K X V I) ở T ỉnh Thạch (nay
lố T ù n g Lộc) lọ i ra Tiên Điển lốnh nạn vĩ
một lý do khác Số là, nhân ngày đâtt làng
đắỊj dườhgi nhà ống Gỉám sinh nấu chốo
Ínờí bà con ftn Không ngờ gói thuốc chuột
ttỉi vàd nồi lúc nào không hay N hiều ngưòi
ầhi hgộ độc, nén cốc con ông phẳi chạy đi
íốhh hộh ìnỗi người m ột ngả, trong số đó,
itiộ t hgứdi đã trố n ra T iên Điển V ị vỗ quan
èaơ cấp, tíộ i quận công họ Phan, làm Tẳ đô
đốc, phong Thối phố, tướng truyền quê Sa
Ham (Nghệ An) về ở Đông Giáp khá aớm
M ộ t vỊ khác là Ưy quận công, tương truyền
ỈỊilê huỷện T hanh Oai (Hà Tây), th ì về ở
thôn Vố Phấn Phải chăng hai ông cũng
đ ế n 'T iê n Điển với lý do như cốc vị trên?
Chủng tô i fchưa cỏ tà i liệu về lai lịch vị tể
k h a i éơ cẩc dòng họ Hoàng, Lê và m ột 80' họ
khốc N hưng mấy cứ liệu trên cững cho
thấy chính những dòng họ này đã dem chữ nghĩa đến kh a i sống vùng đất nghèo nàn, hẻo lổnh này, tạo nên m ột Tiên Điền rực rỡ hào quang, rọi sáng đến hôm nay.
Cốc vị Đặng, Nguyễn, Hà đều xuất thân
từ những cự tộc văn học Họ Đặng, họ Nguyễn là dòng nhà tướng.
Ngoài hai dòng họ trên, dân Tiên Điền nổi chung đều là võ (lững M ộ t chàng tra i
họ Trần, lúc trẻ ra học ở Thăng Long, th i đấu với Đô lực 8Ĩ thắng CUỘCÍ được bổ là Đô lực si, Quản binh Có công đánh giặc, chàng được phong tớ i chức cẩ m y vệ Đô chỉ huy sứ Tả hiệu điểm Thự vệ sự, tước T rung phụ hầu, lấy con gối chúa T rịn h , được ban Phò mã, Đoan quận công M ộ t chàng tra i
họ T rầ n khác, lúc quân Nam Bắc đốnh nhau đã xướng suất dân chúng ra giúp vua, được giao quản quân dân hai tổng, bảo
vệ quê hương, có công, được phong tước
T rin h dững hầu Năm Ấ t Dậu (Ỉ885), nhà
nho Hà Văn Mỹ (Tiên Điển), cùng Ngồ
Quảng (quê N ghi Lộc) tổ chức quân cần vương chống Pháp ở N ghi X uân, được Phan
Đỉnh Phùng phong chức Thương Biện, giao
phụ trách N ghi thứ Căn cứ của hai ông xây dựng tạ i K he Rẫy, xã Cương Giốn được
duy * H cho đến thòi Duy Tân - Đông Du đo Phan Bội Châu lẫnh dạo Hà Vãn Mỹ bị
giặc PhÃp bắt, dã tự sál để giữ trọ n danh tiế t, ở thòi hiện dại, nếu hổi Xô V iế t Nghệ Tình, Tiên Điền có ngưòi con tiêu biểu, người cộng sản tru n g kiên, liệ t 8Ĩ Nguyễn Phương, th ì qua hai cuộc khống chiến, Tiên Điền đã được Nhà nước phong danh hiệu
“ Đơn v ị anh hừng lực lượng vũ tra n g nhân dân”
Tiên Điền đúng là đất Võ, nhưng người
ta lạ i biết nhiều hơn đến m ột làng của học hành, khoa bảng Gia phả họ Đặng chép về
vị tổ Đặng Chủng: “ Ban dầu ngài khai hoang mở đất dựng nhà, sau cảm thấy đã yên Ổn bèn mở trưòng học vừa dạy con chốu, vừa dạy con em nhà nghèo ” Nhiểu người xu ấ t thân từ các danh gia khác cũng làm như vậy Học trò Tiên Đ iền ngày càng đông Thòi ấy, học trò ở đây đểu nghèo, con chầu các th ế gia cũng không hơn gỉ mấy.
Trang 22Anh em Bá T rí, Trần Trọng Viêm đi học xa,
chiếc chiếu ngồi cũng rốch nát, thiếu ăn,
thiếu mộc, đến hạt muối trắng cũng phải
chia phần từng bữa Nhưng nhiều người
học giỏi nổi tiếng Ông Hoàng Chính Trực
(không rõ tên húy), ngưòi khai khoa ở đây,
lúc nhỏ học giỏi, vỉ da đen nên dược gọi là
“ Hắc thần đồng” , v ể sau, Nguyễn Nghiễm,
Lê Hoàng Đáp đều nổi tiếng thần đổng
Nguyễn Nghiễm đỗ Hoàng giáp còn Lê
Hoàng Dáp đỗ đầu th i hương Rất nhiều
người đỗ đạt lức còn ít tuổi Lê cảnh
Quang 17 tuổi, Phạm Kiều Nho 16 tuổi,
Nguyễn Do 15 tuổi đã đỗ Hương Cống Hà
Nguyên Tiếu, Nguyễn Khản, Nguyễn
Trước, Hà Văn Gia đểu đỗ lúc mới 20, 21
tuổi
So với các làng xã trong huyện thì về
khoa cử, Tiên Điền chậm sau khá xr
Nhưng từ giữạ thòi Lê Trung Hưng dến
thời Nguyễn, nhất là vào thế kỷ X V III,
Tiên Điền nổi tiếng về học hành, khoa bảng
â't, 5 tam trường
(sinh đồ) đòi Lê, số
nhưng nổi lên chỉ có
họ Nguyễn Khoa thì nhị, tam giáp tiến sĩ, chiếm 5/6 vị đại khoa trong làng, và hàng chục hưdng cấng, sinh dồ, cử nhân, tú tài thòi Lê - Nguyễn Hoạn th ì chức đến Thượng thư, thăng Tư dồ, Tham tụng, Bồi tụng, Tham đốc; Đố chỉ huy, lin h Trấn thủ, tưởc thảy Công, Hầu , cha con, anh'em đứng đầu trong triều, ngoài quận Ày là vào thòi Lê mạt, cuổĩ th ế kỷ X V III, lúc thịnh đạt nhất của họ Nguyễn, cũng là của Tiên Điển.
Hồi cuối Lê (TK X V III), làng Tiên Điển hẻo lánh xưa dã trỏ thành ndi đô hội nhất nhì xứ Nghệ Sốch cổ chép rằng, quanh dầm Phổ Quán, lầu gác, dinh th ấ t trống lệ mọc nôi tiếp nhau, hàng chục đền miếu, đình chừa được xây dựng khắp cốc thôn xóm, trong đó có cốc công trìn h văn hóa tiếng tăm Đình Tiên không lớn, nhưng là ngôi dinh đẹp nhất trong vừng, x&y dựng khi làng dược ban tên “ xã Trung Nghĩa” Chùa Trưòng N inh do dân làng lộp lên, đến đòi Hoằng Định (1601-1619), Đoan quận công cho sửa lạ i và dựng bia (bia vẫn
PHẢ HỆ HỌ NGUYỄN TIÊN ĐIỂN
T ừ ĐỜI THỨ NHẤT ĐẾN DỜI THỨ TÁM
(DỒNG TRỰC TIẾP NGUYỄN l)U)
Nim Dương Hầu Nfuyền Nhiệm
Dỏng trướng ddì tang Khinh trạch hầu Dòng út vẲn ỏ Dóng Giẩj»
ihón Vẩn Tưànf Nguyền Linh thôn L«tơng N*nf
1r
Phaong Trẹch Công Nguyền ổn
Nguyễn Chùng (Mất •dtn)
BÁO lộc 1^01 Nguyền THé Ch Anh au AI dội Nguyền Yếu
Nguvỉn lluyln Lỉnh Nam cỗng
Nguyỉn Quýnh Nguyền Lựu
tìiớ i Hìmi c6nf Ngh| Htén rAtig ShÁ IIlén róttf Hưng Nhac IU DAng Nh^r BA Vittng NKfc Bi
N tuy In I M N|U)in Nghilm NfU)in Tryng Nguyền Tm Nguy ỉn st Nguyỉn lluyến
Ngũ) in KHnn Nguyin DÚu NfU)ỉn Trụ N»ụ>ífi<ỉ“ ý-fc N|U)4n 1 T Ã 1 DĨ
’ U L j r Ngu\in
«c Ngiu
Nfu>4n Niuyia NHÓnc Ãoẹn
1
Nguyln Tứ
N fu)in
Sá, Ngu vinĨ M s
N|«y4ii TM N|U)4n
í ã á t - Ngwy4n
■ ĩte á iB Nfuyln
H Ĩ , Nguiỉn 11»
Nguylti
M 4*
Nsu>*lii
U n i N(U)4W Tni NguyỈR
71
Trang 23cònt nhưng chữ đẵ mất) Đình Từ Văn xưa
ở xã Hoa (Xuân) Viên, đời Vịnh Hựu (1735-
1740), Xuân quộn công cho dời về đầy,
đựng cạnh đinh Tiên và chùa Trưòng
Ninh < H ai cây cầu cũng được coi là thắng
tích trong làng, c ầ u Báu Kệ bắc trên bàu
nước trước đình “H ai mố cầu xây đá làm
chỗn, dọc bờ trồng cây đại thụ làm bóng
Ịáiốt,' tảnh trí th ậ t đẹp” , cẩu Tiên do Xuân
quận tốílg (Nguyễn Nghiễtn) cùng hai ông
Liếu quận công (Đặng Sĩ Vinh) và Hiến
ijhồ| (Đặrig Thối Bàng) ở Uy Viễn cho sửa
iậíj dựng bia đá đầu cầu ‘Thòi đó, ngựa xe,
mũ lọng đi lạ i như mắc cửi, cảnh tr í không
khốc gì Ngọ kiều nhà Đường” Còn chợ
'Rên th ì “ hàng quốn nốì rông lược, lầu cốc
chăỉig mạng nhện, lại có người Tàu lập phô'
xá buôn bán, th ậ t là nơi “ văn vật” nhất
huyện ”
Trong các thôn, còn có nhiều đền, miếu:
Đền Doan quận công, dển Hội quận công ở
Lương Năng, đền Uy quận công ở Võ Phấn,
đền T rin h Dũng hầu, đền Hà Chân đài ỏ
Bốu Kệ Riêng họ Nguyễn cổ đển Linh
Nam công, đển Tiên lin h hầu (Nguyễn
Huệ), đến Xuân nhạc công (Nguyễn
Nghiễm ), đền Lam khê hẩu (Nguyễn
Trọng), đền Điển nhạc hầu (Nguyễn
Điểu)
Năm Tân Hợi (1791), nhân vụ Nguyễn
Quýnh (con thứ tư Nguyễn Nghiễm) mưu
chống lạ i nhà Tây Sơn, làng Tiên Điển bị
quân Tây Sơn đốt phố Hầu hết dinh cơ cốc
đại gia và một số đình, miếu bị chốy trụ i
Đến đời Nguyễn, một số công trìn h được
trùng tu, nhưng cảnh tượng huy hoàng xưa
không còn nữa Cốc nhà quý tộc phong kiến
cùng thời với dinh cơ của họ và nhiều công
trìn h kiến trúc văn hóa, lịch sử đã mất từ
lầu Nhưng những tập tục hay, những
truyển thống tố t đẹp của nhân dân Tiên
Điền mà cốc dòng họ lốn cổ phần đóng góp
quan trọng th l vẫn còn mãi mãi Sốch
Nghi Xuân huyện chi chép sơ lược lịch sử
chùa Trường N inh và đình Tiên: “ Ngày
kưa, người già cả trong làng, ai đến lúa tuôi
2, phần lớn đểu gặp bâ't lợi Trong làng có
.cụ đến tuổi đó biện lễ đến cầu yên ỏ chùa
này thì cả năm cụ đều được yên ển Sang đầu năm sau, các cụ lên tuổi 63, họ làm cỗ lên chùa tạ, do dó trở thành lệ làng Từ 12 đến rằm tháng giêng hàng năm, mỗi thôn được chia lượt một ngày lễ chùa K hi các thôn lễ Phật xong, toàn xã về họp mặt tại đình Tiên uống rượu, ngâm thơ mừng thọ, chung vui”
Uổng rượu, ngâm thơ đầu xuân là sinh hoạt văn hóa của giới quý tộc, nho 81 Còn hốt ví giao duyên là sinh hoạt văn nghệ bỉnh dỗn mà nhiều tao nhân, mặc khách cũng đam mê không kém tra i gâi trong làng Ngày nay còn nhiều giai thoại về Nguyễn Du tham gia các cuộc hốt với tra i gái Tiên Điển, Tràng Lưu
Cùng với những tục lệ hay, những nếp sinh hoạt văn hỏa đẹp, học hành là truyền thống quý dược nhân dân giữ gin và phốt huy cho đến bây giờ, người được đi học chỉ tâm niệm ‘T iế n vi quan, thối vi sư” - Tiến lên th i làm quan, lu i vể thì làm thầy Nếu không dạy học (nho) thì làm thuốc (y), làm địa lý (lý), làm bối toán (số) cũng là những
“nghề thầy” Tiên Điền có nhiều thầy giỏi Động Chủng là một trong những ngưồi đầu tiên mở trường dạy học ở Tiên Điền Lê Hoằng Quy người thôn Tiên Bào (Tiên
Điển xưa) dạy học ở Bốu Kệ, dược học trò
thò làm TỔ 8li, Hà Đăng Chỗu, Hồ Sỹ Lắm đều là những vị sư mô nổi tiếng đã tạo nên nhiều nhà khoa bảng thòi Lê - Nguyễn Tiên Điền có nhiều người làm học quan như các Huấn đạo Hà Thúc Đạt, Hà Tôn Dao, Trần Thới Chuẩn , lại có Nguyễn Nghiễm ỉà Nhập nội kinh diên, Nguyễn Khản làm Tả tư giảng là thầy học của vua
Lê chúạ Trịnh.
Các dòng họ Hà, Trần, Lê , nhất là họ Nguyễn lạ i có nhiểu danh y: Nhân Hiền tiên sinh Hà Công Huy làm việc ỏ viện Nhung y, về hưu ở thôn Báu Kệ tiếp tục làm thuốc Họ Nguyễn, từ cốc vị tổ Nam dương công, Lĩnh nam công đến cốc con cháu, Nguyễn Trọng, Nguyễn c ả n h (2 ),
Nguyễn Nhưng, Nguyễn Nghi, Nguyễn Thị Uyên đểu là thầy thuốc có tài Nguyễn Trọng có công nghiên cứu thuốc Nam,
Trang 24thuốc của Nguyễn cảnh được coi là “ thuốc thốnh” , nhà thơ Nguyễn Hành thưồng nói
“ông có tà i “lương tướng" v ể sau, Tiên Điền vẫn là đất của nhiều vị lương y
L ĩn h nam công Nguyễn Quỳnh, giỏi nghề thuốc, lại có biệt tà i về nghể địa lý (phong thủy)
Trong nhiểu lĩn h vực sáng tạo văn hóa* Tiên Điển đều có những tác giả nổi tiếng trong xứ, trong nước Đó là Nguyễn Nhiệm, Nguyễn Quỳnh với cốc trước tốc y học
Nam dương tậ p yếu k in h nguyên, Từ
ấu chân thuyên quyết nghị tậpỊ Nguyễn
Nghiễm với các bộ sử, địa Việt sử bị lãm
(7 quyển), L ạn g Sơn toàn th à n h d ồ c h í ; Hoàng Tôn Tuẫn, Trần Duy Tự, Hoàng Kim Thành với các bộ sổch dịch thuật, SƯU tập: Thi p h ú chú g iả i, Tiểu hoc ăm diền n gh ĩa và Thái H iên d ư tệ p , Phú tập, Tứ lục tâp. Đặc biệt, Tiên Điền trỏ thành tên của th i hào dân tộc Nguyễn Du
Ngày nay, con em Tiên Điển vẫn tiếp tục phất huy truyền thống tố t dẹp của cha ông, có nhiều đổng góp xúng đống với quê hương đất nước, nhất ỉà tạo được nhiều nhân tài thòi hiện dại, tiêu biểu ỉà GS • TS
y học Hà Vàn Mạo, GS khảo cổ Hà Vân Tấn ■
9-2005 T.K.Đ
Trang 25ở nông thôn Việt Nam, vườn
nhà thường gắn với mỗi người
khi đã trở thành gia đình Đối với
Đại thi hào Nguyễn Du suốt cuộc
đời có hai thời kỳ sống chung cùng
với gia đình trong khu vườn biệt lập:
Thời kỳ ở Thái Binh và thời kỳ ở
Hà Tĩnh
Thời gian ở Thái Binh Bắt đầu
tử năm 1786, Nguyễn Du cùng vợ
về quê ở làng An Hải, huyện Quỳnh
Côi, tỉnh Thái Binh (nay là xã
Quỳnh Nguyên, huyện Quỳnh Phụ)
Cho đến nay chúng ta cũng chỉ biết
vợ của ông là người con gái họ
Đoàn, con của Hoàng giáp Đoàn
Nguyên Thục là em gái Hương cống
Đoàn Nguyên Tuấn Vợ chồng ông
được gia đinh họ Đoàn cho ra ở
riêng trong một căn nhà nhỏ nhưng
vẫn sống chung trong cảnh khó
khăn, nghèo túng, tuy vậy Nguyễn
Du rất quỷ vợ và trân trọng gia đinh
họ Đoàn Hai người kết duyên từ
bao giờ? 10 năm vợ chổng ông
chung sống ở Thái Binh gia thất,
vườn tược ra sao chưa thấy tài liệu
nào nhắc đến
Thời kỳ thứ hai ở ụà TTnh Theo
tư liệu "Nguyễn Du và Truyện Kiều’’
của nhà địa phương học Thái Kim
Đỉnh cùng nhiều tác giả khác, đầu
năm Bính Thin (1796), Nguyễn Du
trở về quê Tiên Điền kết thúc “ 10
năm gió bụi” ở Thái Bình Trở lại
quê cha đất tổ khi mái đầu đã điểm
bạc, sau vụ Nguyễn Quýnh anh ruột
Nguyễn Du đưng ra chống đối
phong trào Tây Sơn, Quan hiệp trấn
Nguyên Quang Dụ đem quân vẻ
triệt phá dinh thự chặt phá cây cối
của họ Nguyễn Tiên Điền Làng cũ,
vườn xưa tất cả đã điêu tàn, trước
cảnh nhân tinh thế thái ấy lòng ông
rối bời Lần về này chỉ có ông dắt
dfu những người con trai trở lại quê
nhà, còn người vợ họ Đoàn hiền
thục ở lại Thái Btnh Bước đầu ông
dự định chỉ về thăm lại quê hương
bản quán, nhưng không hiểu sao
sau đó ông lại quyết định ở hăn lại
Toàn bộ xung quanh thưng bằng phên đất, nhưng tấm phên đất lâu ngày nước thấm vào thường bị đổ nen vể sau được thay bằng liếp
trong nhà hầu như khong có gì để bày biện Giữa nhà kê một chiếc giường mộc, gian chái phía ngoài có chiếc võng tre gác lên hai đầu hạ ngang (võng tre ở vùng Nghệ Tĩnh
như một chiếc giường nhỏ giống chiếc xích đu ngày nay) Xung quanh treo các dóng sách và đó dùng sinh hoạt đơn sơ của gia đình
Khuon viên vườn nhà ban đầu rất
bé, xung quanh chì lơ thơ có các cây hoang cằn cỗi mọc trên cát
Sau khi trở lại làm quan ở triéu đinh Huế và đi sứ Trung Hoa về ông có cải lạo trổng thêm một số cây ăn quả như ổi, hổng không hạt và cây làm thuốc nam chữa bệnh
Những ngày sống ở Tiên Điền cũng giống như ở Thái Bình, nhà thớ sống trong cành đói cơm rách
áo, vợ con nheo nhóc, thường là:
'Trong bếp một tuần không có lửa"
lại bị bệnh tật dày vò triên miên, nhiều lúc đau ốm nằm mấy Iháng liền không thuốc thang chứa trị
Những lúc khỏe mạnh ông cúng bạn bè lên núi Hồng Lĩnh, làm một tiều phu lấy củi hoặc săn bắt muông thú để trợ giúp gia đình Đi săn trên núi Hồng là một thú vui của Nguyên
NGUYỀN XUÂN BÁCH
Du, ông đã tự khiếm mình là: "Hóng Sơn liệp hộ" (Người đi săn trên núi Hổng) Vào mùa nồm nam đổi gió, ông lại theo bạn chài xuôi dòng sông Lam ra cửa biển câu cá, nên ông còn có biệt danh: "Nam hải điếu
Đông) Õng còn tản bộ trong dân làng, lặn lội vượt Núi Cài sang làng Trường Lưu hát v( phường vải đe tim tứ văn thơ Đêm về nằm trên chiếc võng tre "hai đầu treo võng bị mòn vẹt" để “lời quê chắp nhặt rông dài" nhằm hoàn thảnh tác phẩm
"Văn chiêu hổn'' và "Truyện Kiéu" cùa mình trên mảnh đất quê hương
Vé sau, khi con cái đã trường thành, mỗi người Irong nhà đều lần lượt lấy vợ gả chổng, ra ớ riêng, vườn nhà cua ông chỉ dành cho người con Nguyễn Ngũ ở Năm
1820, ông mất tại cung đinh Huế, bổn năm sau, người con Nguyễn Ngũ vào kinh đô xin chuyên phần
mộ cùa ông về quê Mộ của ông được an táng phia sau vườn nha Irong lần di dời này triều đinh nhà Nguyễn cũng đã hồ trợ một khoản tiền, sau khi cải táng xong còn dư lai một số kinh phí Cũng năm đỏ con cháu trong dòng họ cùng dân làng
đã góp sức thêm xây dựng trong vườn cũ của ỏng một nhá thờ ba gian không chái Thời gian đầu, hàng năm nhà thờ được con cháu
và các bậc nho sỹ trong vùng góp
công góp sức tu bổ tôn tạo nhiểu lần nhưng về sau do con cháu chuyển
đi nơi khác để giành toàn bộ khu đất
đó làm nơi thờ tự ông nên việc chăm sóc không được thựởng xuyên Nắng mưa khl hậu khắc nghiệt của vùng miền Trung cùng với những biến động của xã hội, mái nhà thở ờ khu vườn lâu ngày bị dột, đó thờ tự
bị chuyển đổi thất lạc Năm 1940, hội Khai trí Tiến Đức đã góp tiến giao cho người cháu là Tiến sỹ Nguyễn Mai chuyến dời nhả Ihờ về trong khuôn v.iẽn gia tộc họ Nguyền Tiên Điền (Khu lưu niệm hiện nay) Khu vườn cũ về sau được giao cho một người cháu trực hệ sứ đụryg trổng khoai sắn Các di tích nha cứa trẽn khu vườn dã bị xốn bỉ), dflít tích
Trang 26ụ h n vồ và n h ữ n g lần n g h ỉ p h é p lúc l.im (|u n n th i lổ n g c ô n g ô n g s ố n g ở
( | i i r c h a (lâ ỉ tố ch ư n d ấ y 8 n á m
ỉ ; im n a m so vớ i c u ỏ c d ờ i 55 tuổi (.11,1 ô n y tuy kỉ lô n g n h iề u n h ư n g d ó
la th o i g ia n cỏ n h iề u b iế n c ô n h ấ t, no'i ônc) đ ư o c số n g c h u n g v ớ i n g ư ờ i
d â n la o d ô n g , nơi ô n g đ ư o c tiế p xú c VOI n h ié u ta o n h ã n m ă c k h á c h và tư
N y u y ồ n D u viế t nên T ru y ệ n K iề u
h ó i liu
N.X.B
26
Trang 27II KỶ NIỆM 240 NÃM
NĂM SINH NGUYỄN DU
27
Trang 28Quê ngoại chúng tôi ở làng
ĩiê h Điền huyệh Nghi Xuân,
tĩnh Hà Tĩnh Mệ chúng tôi
Nguyễn Thị Tảo, con gái thứ
tám ông Nguyễn Truyền (người
lấng quen gọi là cố Tời).
Năm 1938, ông ngoại và ông
chú (em họ ông ngoại)-ông
Nghè Mai, ra thăm gia đinh
chúng tôi ở thi xã Ninh Binh và
cỏ chụp ảnh lưu niệm.
Nghe mạ tôi,' bác Nguyễn
Diệu (con thứ 7, niất năm 1942)
và cậu Nguyễn Chung (con thứ
9, mất năm 1944) kể lại là ông
ngoại giỏi cẳ vỗh lẫn võ, đ i
tham gla phong trầo c ầ n Vương
là cháu đích tôn cụ Nguyễn Du
và cả họ tộc đều lưu truyền rằng
ồng ngoại rất nho nhã hào hoa
và rất giống cụ Nguyễn Du về
ngoại hình.
Việc thờ tự cụ Nguyễn Du
đều do gla đình ống ngoại tôi
đảm nhiệm sau khi cậu Nguyễn
Chung mất mới trao lại cho ông
Nyhè Mai và con trai là ông
Nguyễn Duật vạ òon gái là ba
Nguyễn Thị Vị (trong gia đình tôi
gọi là o Sáu)
Có lẽ vi thế mà tác giả
Nguyễn Đức Thu (Dạ Lan
Nguyễn Đức Dụ) trong cuốn Gia
phả khảo luận vả thực hành mới
ghi nhận: “Cháu đích tôn
Nguyễn Du là Nguyễn Mai”.
cùng các "học trò lớp đệ tứ niên”
và hậu duệ của cụ Nguyễn Du
Lởi chú của bức ảnh có ghi rõ:
ngưởi có râu bạc là cháu đích tôn cụ Nguyễn Du
Cũng bức ảnh này tác giả Đức Ban trong sách “Người Nghi Xuân tập 1, NXB VHTT, 2002) lại chú giải là: người đứng bên phải Le Braton (Giám đốc Cao đẳng tiểu học Vinh) lại là chắt đời thứ 4 của Nguyễn Du tên là
Nguyễn Tờí (thực ra tên cố Tời
là tốn gọi của làng xã, trong họ tộc chúng tôi không ai đặt tôn nôm cho Cồn cháu)
và UBND huyện Nghi Xuân xác nhận
nhà anh trai là Nguyễn Khản,
tiến sĩ, thượng thư Toỗn quện
công Năm 18 tuổi đậu tam trưởng kỳ thi hương nhận chức
quan võ ở Thái Nguyên.
Thời trẻ của Nguyễn Du là giai đoạn đất nước chia cắt
Đằng ngoài, Đằng trong Ở Bắc
Hà là thời kỳ loạn lạc Trịnh Sâm hết sức suy đổi
Năm 1789, người anh hùng
áo vải của cuộc khởi nghĩa Tây
Sơn - Vua Quang Trung đại phá
quân Thanh, Lê Chiêu Thống bỏ chạy cùng một số quan lại triều đình ra nước ngoài
Nguyễn Du về quê vợ ở Thái
Binh rồi về Hả Tĩnh, phải trốn tránh vì sợ nhà Tây Sơn Thế nhưng vua Qụang Trung vẫn ưu đãi sĩ phu Bắc Hả, vả sử dụng người tài như La Sợn phu tử Nguyễn Thiếp
Đối với Tây Sơn, Nguyễn Du
đã được mời đi ăn tiệc vói các
28
Trang 29'quan, Nguyễn Du đã gửi vào đó “Tất cả những
khao khát tha thiết của mình và của người đương
thôi Những khao khát ấy trong non một thế kỷ đa
lảm nổ ra liên tiếp những cuộc khởi nghĩa của
nông dân vả cuối cùnc) đưa đỗn cuộc khởi nghĩa
Tây Sơn vĩ đại” (Hoái Thanh, Nguyễn Du và
Truyện Kiểu Hà Nội, 1959) Khi thấy sự nghiệp
nhà Tây Sơn sụp đo, Nguyễn Du đau lòng nhỏ lẹ.
Thương tâm vãn sự lệ kỳ thi”
(Long thành cẩm giả ca-Văn học nguyệt san
số 16,1965) Ồng làm quan với Triều Nguyễn Gia Long
Năm 1813 được cử đl sứ ở Trung Quốc khi về
nước là Lễ bộ hữu tham tri Năm 1820 Minh Mạng
lốn ngôi định cử ông làm Chánh sứ cầu phong bộ
Nhưng chưa kịp đi thl ông mất.
Theo Đại Nam liệt truyện chính biến: Ở trong
triều ông tỏ ra không sốt sắng, nhiều lần cáo bệnh
về quê, ỗng ít nói nặng, nha vua đã có lần quở
tFách (Chân dung Nguyên Du, Sài Gòn 1971).
Nguyễn Du viết nhiều tác phẩm bằng chữ Hán
và chữ Nôm Tác phẩm lớn nhất là: Đoạn trường
tân Thanh tức Truyện Kiều.
Trong các tác phẩm của ông chan chứa một
tình yêu thương đối với con người, đối với nhân
dân, nông dân, những người đau khể bất hạnh-
đặc biệt đốl với phụ nữ bị đàn áp dưới thời phong
kiến.
Truyện Kiểu nól vể cuộc đởi bất hạnh của
Vương Thuỷ Kiều, một người con gái trong gia
đinh bỉnh thưởng, tài sắc vạn toàn nhưng iại phải
trải qua nhiều bất hạnh.
Truyện Kiều có nội dung sâu sắc và nghệ thuật
là một "đĩnh cao của thơ Câ eể điển của dân lộc"
(1)
Truyện Kiều đã được dịch ra nhiều thứ tiếng
ríứớc ngoài: Pháp, Anh, Nga, Trung Quốc, Tiệp
Khắc, Nhật Bản đặc biệt được lưu truyền, và
ngưỡng mộ của nhân dân qua các thời kỳ với
nhiều hỉnh thức: đố Kiều, lẩy Kiều, tập Kiều sân
phắm bình luận Truyện kiều của các tác giả trong
vá ngoài nước và đăng toàn văn 200 bài bằng
tlểng Việt và tiếng Pháp bình luận về triết học,
hịịôrí ngữ học, luân lý, nghệ thuật tả cảnh tả
người
Một tác phẩm lớn như vậy lại được kết luận
bằhg Hal câu thơ rất khiêm tôn:
“Lờí quê góp nhặt dông dài,
Muạ vui cũng được một vài trống canh.
Chúnị) tôi chi xin gỏp nhặt thêm một vấn đề mà
văn học của loải người luôn luôn đề cập đến là tình yêu nam nữ Thiên thụ (Tạp chí Nghiên cứu
Văn học, 1971) có viết: “Một Thuý Kiều, ba tình
yêu”: Kim Trọng, Thúc Sinh và Từ Hải-nhưnịj thẽo chúng tôi thỉ không nên gọi như vậy, Thúc Sinh có thể là người tinh, một nơi gửi gắm nương thân, sau những đồm:
"Biết bao bướm lả, ong lơi Cuộc say đầy tháng trận cười suốt đêm Khi tỉnh rượu lúc tàn canh
Giật mình, mình lại thương mình xót xa.”
Muốn nương tựa vào Thúc Sinh, nhung vẫn còn bao nhiêu lo âu sợ hãi về cha mạ chàng vả vợ chàng-Hoạn Thư ở quê nhả.
Theo chúng tôi, Thúy Kiều ch? có hai ngưởi yêu.
Mối tinh đầu với Kỉm Trọng Tinh yêu trong sáng ở tuổi mới lớn, của một cô con gái đạp (người quốc sắc) con nhà gia giáo với một nho sĩ (kẻ thiên tài) phong lưu Yêu tha thiết, nhưng vẫn biết giữ minh để tiến tới hôn nhân lâu dài:
'Thưa rằng: đùng lấy làm chơi
Dẽ cho ịhưa hết một ìời đã nao
Đã cho vào bậc bố kinh Đạo tỏng, phu lấy chữ trình làm đẩu"
Người yêu thứ hai là Từ Hải.
Khác với nho sinh Kim Trọng, Từ Hải là một vỗ tướng mạnh khỏe oai hùng:
Râu hùm, hàm én, mày ngài, Vaì năm tấc rộng, thân mười thước cao, Đường đường một đấng anh hào
Cỗn quyến hơn sức, lược thao gồm tài."
Hai ngưởi cùng yêu nhau từ buổi đầu gặp gỡ:
“Hai bên cùng liếc, hai lòng cùng ưa”
Thuý Kiều hiểu và tôn trọng Từ Hải, Từ Hải cũng đáp lai:
"Cười rằng: 'Trí kỷ trước sau mấy người? Khen cho con mất tinh đà',
Anh hùng đoán giữa trần ai mới già!
Một lời đã biết đến ta Muôn chùng nghìn từ cũng là có nhau.
Nửa năm hương lửa đang nồng, nhưng chí lớn vẫn giục người anh hùng ra đi, và Kiều chờ đợi và thỏa lòng với ngày về vinh quang của Từ Hải Nếu nói rằng tình yêu là phai hội tụ đù cả ba yếu tố tình cảm, lý trí và thể chất-Thì Từ Hải và Thúy Kiều rất đạp đôi.
Thuở xưa, trong văn chương các tác giả đều nói lên ý chí và gửi gắm tâm sự
Có ý kiến cho rằng Nguyễn Du đã gửi gắm tâm
sự vào truyện Kiểu Tư tưởng Hoài Lố thể hiện trong mối tình đầu với Kim Trọng Còn khát vọng cho quyền sống của con người, quyền được yêu,
Trang 30Kiều lại gửi vào Từ Hải Mà dưới triều Nguyễn thì không thể nào biến khát vọng đó thảnh cônp tốt đẹp hơn được Không nên so sánh hình ảnh vua Quang Trung Nguyễn Huệ với Từ Hải Nhưng có thể không có nhân vật Tử Hải không có người Anh hùng áo vải Quang Trung.
Trong khoảng 200 năm Truyện Kiều ra đời đã có nhiều thế hệ bình luận qua các thời đại (3) trong đó có: “Các khắt khe của những người bảo vệ trật tự phong kiến, cái cảm tình của các nhả nho phóng khoáng, của nhân dân cho tới thời đại Hồ Chí Minh.
“Những thành tựu quỷ báu như thế, mai đây con cháu chúng ta sẽ nối tiếp thêrri” (4) Chúng ta đếu biết rằng tư duy của con người phải dựa trên ngôn ngữ Chính ngòi bút của Nguyễn Du đã làm cho tiếng Việt phong phú hơn vả đẹp thêm, đã xây dựng được các mẫu người xấu tốt, nền tảng đạo đức Tâm, Tải để lại cho dân tộc Việt Nam.
Năm 1965, Hội đổng Hoà bình Thế giới quyết định kỷ niệm 200 năm, năm sinh của
nhà thơ trên toàn thế giới -
Chúng tôi tin tưởng rằng, 100 năm nữa “ba trăm năm sau ngày Nguyễn Du đề tựa Truyện Kiều, nhân dân ta vả nhân loai vẫn gòn tưởng nhớ
Tố Như'’.
GS, TSKH
NGUYỄN MẠNH LIÊN
30
Trang 31Văn nghệ
Sô 49(2394) * Ngày 3/12/2005
KỶ NIỆM 240 NĂM NĂM SINH
'NGHÌN NÃM SAU NHỠ NGUYỄN DU"
Phong Lê
Dấu ân đặc trưng của một tác gia lớn
bất cứ lúc nào, bất chấp moi thay đổi của thời cuộc, của thể chế chính
Nhưng không phải là một trạng thái đọc yên tĩnh, và một chiều
Mà là một sự đọc trong tranh cãi, bàn luận, khẳng định, điều chỉnh, bác bỏ giữa người đọc với nhau, trong cùng một thế hệ, hoặc từ thế hệ này sang thế hè khác, không lúc nào ngừng nghỉ
Khen, khẳng định và ca ngợi những giá trị được tiếp cận theo nhiều cách khác nhau, trong những ngưòi đương thời và hậu thế đương nhiên đó phải là hiện tượng được tính đến trước tiên, mà đại diện là Mộng Liên Đường, Phạm Quý Thích Nguyễn Văn Thắnq, Chu Mạnh Trinh, Đào Nguyên Phổ cho đến cả một lớp người, trong tên gọi chung là công chúng:
Mé gi rnè đánh tổ tôm
Mè ngựa hậu bổ mê Nôm Thuỳ Kiều
Nhưng rối sự thể sẽ càng trở nên phức tạp trong sự tiếp nhận, với một thế giới người "ọc, người kể, người nghe bỗng trở nên quá rộng, từ một ông vua cao chót vót là Tự Đức đến thé giới binh dân, đủ mọi tầng lớp, sỏ đỏng là mù chữ
Nguyễn Du ra mà đánh cho vài chục trượng giá như Nguyễn Du còn sống, ở đây
mẻ là mẻ giá trị văn chương! nhưng dẫu sự mẻ hoặc của vãn chương, là ông vua,
Tự Đức vẫn không thể mất cảnh giác mà bỏ qua những khía cạnh vi pham luân
lý (trong một phấn đời Kiều), và không chỉ là luân lý mà còn là chính trị (qua hành trạng cua Từ Hài)
Nhung thời thế đã chuyển đổi - ngaỵ từ triều Tự Đức Thời trung đại và thể chế phong kiến đến hổi tan rã đã làm xuất hiện một lớp nhà Nho - kẻ Sĩ chỉ muốn tìm đến văn chương như một thú chơi, trong SƯ "mê Nộm Thuý Kiều”, cho con người tìm đến văn chương - nghệ thuật như một nhu cầu tự thân, khác với các nhu cầu chính thống
Đầu thế kỷ XX, có một học giả chủ trương: "Truyện Kiều còn, tiếng ta còn
Tiếng ta còn, nước ta còn” Lập tức ngay sau đó, một nhà Nho - chí sĩ quyết đập cho tơi bời cái quan niệm đó, nên đã gán cho Truyện Kiều cái nội dung: ai, dâm,
sáu, oán, đạo, dục, tăng, bi - 8 chữ ay không tránh đường nào cho khỏi Và, từ điểm nhin và định hướng đó, Truyện Kiểu bi liệt vào dám thư, và nhản vật Thuỷ
Kiều bỗng trỏ thành con đĩ
Nửa sau thế kỷ XX - sự thể lại diễn ra theo một hướng khác, hoặc có khía
Trang 32phong kiến, nơi Quyền sống của con người trong
“Truyện Kiều” của Hoài Thanh, năm 1951 Mười năm
sau, vào mùa Xuân 1961, Nguyễn Du lại được Tố Hữu
huy động làm đối ứng cho một bài ca xuân thẳm thiết
tình yêu chủ nghĩa xã hội trong buổi đầu xuất hiện:
Trải qua một cuộc b ể dâu
Câu thơ còn đọng nỗi đau nhân tình
Nổi chim kiếp sống lênh đênh
Tố Như ơi, lệ chảy quanh thân Kiều
(Bài ca mùa xuân 1961; Gió lộng)
Rồi, vào chống Mỹ, đúng vào dịp kỷ niệm 200 năm
người đọc như một nhịp trống hào hùng, giục giã người
"ra trận":
Sông Lam nưởc chảy bên đối
Bỗng nghe trống giục ba hổi gọi quân
(Kính gửi cụ Nguyễn Du; Ra trận)
nhân lèn nhiều lẩn, nên đã cuốn theo biết bao nhièu
học giả vào mõt cuộc tìm kiếm, khảo sát khòng ngửng
nghĩ vế ngôn ngữ, về giá trị ván chương Muc tiêu đi tìm
m ỏt bàn K iề u đúng với n g u yê n tác là SƯ n g hiêp của
nhiế^ người, trong đò học già Hoàng Xuân Hãn gấn như
dành cà mỏt đòi cho việc đó, và cho đèn lúc qua đời
ỏng vàn chưa xong Một cuỏc tim đem lại vinh quang
cho bao còng trinh, bao luán án khoa hoc mà chì riéng
vièc xác đinh đung một chữ, mót cảu cũng đủ dươc
xem la một phat hiên quý giá Như ''gươm đàn" hay
g ư cm c u n g " , như ''đàng'' h o ã c "đường" và càu thơ sô
ỞƯơng nhièn là trong cuôc íim kiếm bất tận đó cũng đã
xảy ra khóng ít cãi vả, xó xát, do sư khác nhau trong
cách khai thác và xử lý văn bàn tư liêu
Han chưa có một tác phẩm nào của văn học cổ điển
và vàn học hiện đại có thể đưa đến một hiêu ứng đọc
rông rãi với mọi hình thái và cung bưc thường thức đa
Kiều, bói K iều Nếu măc khách, dành cho những
ngươi tim thấy ờ K iề u sự đam m ê của m ột thú chơi thi
bói Kiều là một sản phẩm của dân dã, của công chúng
ít học hoặc thất học, của những người chân lấm tay bùn
chia sẻ vái cảnh ngộ và tâm trạng; cũng lại là nơi gửi
găm những ao ước trước các bí ẩn của đời
Có ai hơn hoặc thay được Nguyễn Du?
Không ai vượt được Nguyễn Du - đó là điều có thể
khẳng định cho đến thời điểm hôm nay Kể cả trong ý
nghĩ - có lẽ chưa một văn nhân thi sĩ nào lả người đương thời hoặc hậu sinh lại dám nghĩ rằng minh có thể hơn được Nguyễn Du, hoặc thay được Nguyễn Du Hiện tượng này không thể xem là bình thường trong sự phát triển của các nền văn học dân tộc, trong đó văn học Việt Nam đã đi qua hai giai đoạn trung đại và hiện đại
ở một bước ngoặt quyết định như thế - từ trung đại sang hiện đai, khi thay đổi đặc trưng, phẩm chất và mô hình văn học, rất dễ có một gấp khúc hoặc cắt rời triệt
để, khiên cho các giá trị cũ nhanh chóng chỉ còn lại giá trị lịch sử, khó có được một sự sống tiếp, một sức lay động mới, trong các thế hệ người đọc đến sau
Thế nhưng Nguyễn Du - dẫu là tinh hoa của văn hoc cổ điển, với sự tuân thủ cá c quy phạm ch ậ t chội của
nó, vẫn không mất đi ý nghĩa tiêu biểu và mẫu mưc đối
VỚI vàn học hièn đại
Hãy từ Phong trào Thơ mới 1932-1945, mỏ ra một thời đại mới, một cuộc cách mạng triệt để trong lịch sử thơ ca; môt phong trào, trong cùng lúc, chỉ trên dưới 10 năm, làm sản sinh hang chục tên tuổi sáng giá, với đặc sắc mỗi người một vẻ: cái rộng mỏ của Thế Lữ, cái hùng tráng của Huy Thông, cái trong trẻo của Nguyễn Nhược Pháp, cái quê mùa cùa Nguyễn Bính, cái kỳ dị của Chế Lan Viên, cái rạo rực, băn khoăn của Xuân Diệu01 Thế nhưng, tất cả họ, là các nhà thơ, cùng với người chọn và bình là Hoài Thanh, tất cả đều đặt mình dưới thần tượng Nguyễn Du Lưu Trọng Lư viết: “Thơ mới dẫu
có sản xuất ra được một bậc thièn tài lỗi lạc nào, tôi cũng không vì bậc thiên tài ấy mà rẻ rúng ỏng Nguyên
Du thân yêu của tôi, ông Nguyễn Du bất diệt, nhà thi sĩ của muôn đời"'41
Còn Hoài Thanh, khi đã làm xong việc khẳng định một thời đại trong thi ca, lại không thể không trỏ về với lịch sử 'Tôi không so sánh các nhà Thơ mới với Nguyễn Du để xem ai hơn ai kém Đời xưa có thể có những bậc kỳ tài đời nay không ai sánh kịp Đừng lấy một người sánh với một người Hãy sánh thời đại cùng thời íại-w
tư cách người đầu tiên tôn vinh Thơ mới, đã chọn được một cách so sánh khôn ngoan là so thời với thời Những ngót 400 năm để từ Nguyễn Trãi đến Nguyễn Du, với bước tiến vượt bậc của thơ Nôm, nhưng van trong cùng một khuôn hình cổ điển Rồi ngót 200 năm, từ Nguyễn
cho trung đại, và khác với trung đại là sự xuằt hiện các
phong cách nghệ thuật riêng Thời của sự hình thành cái Tôi cá nhân trong đời sống lẽ dĩ nhiên đem đến sự
32
Trang 33chấp nhận, sự đòi hỏi cái Tôi riêng trong nghệ thuật
Thời là khác, là mới Nhưng so riêng ngưdi với người thì
Hoải Thanh đủ thận trọng để không đưa ai vào cùng
bình diện so sánh với Nguyễn Du Cái mà ông gọi là
"bậc kỳ tài đời nay không ai sánh kịp”, tôi nghĩ đo chinh
là Nguyễn Du
Nam, Hoài Thanh còn viết thêm: ”Một quyển sách nói
vể thơ Việt mà mở ra không nhắc đền Nguyễn Du tôi
thấy như một sự bôi bạc Nghĩ thế tôi muốn tìm một câu
tỏi nhớ lại câu: "Của tin gọi m ột chút này làm ghi" Đọc
đi đoc lại riêng lấy làm đắc ý lắm !”161
Vậy là Nguyễn Du vẫn sừng sững trong bấu trời thi
(1959) Để cho Tố Hữu nghiền ngẫm sáu hơn nỗi đau
đón nhàn mỏt tiếng thơ "đông đất trời", trong bối cành
bão lửa chiến tranh, theo bướr chân người "rr trận":
Tiếng thơ ai động đất trời
Nghe như non nưóc vọng lờ i nghìn thu
Tôi chon hai người, mòt là người mới nhất trong các
nhà Thơ mới, đỉnh cao của trào lưu lãng man trước
1945, và mỏt là người tiêu biểu nhất của trào lưu thơ
cách mang vá con chim đáu đàn của nền thơ Việt Nam
sau 1945 Đè’ thấy, thè kỷ XX trong chuyển đông gấp
rut cùa nó trẽn cà hai phương diên cách mang hoá và
hiệ n đai hoa, khõng những k h ô n g ai "q u è n " N g u yễ n Du,
mà còn kháng đinh tiếp sư sóng Nguyễn Du, môt sư
sõng hản rói sẽ là vĩnh viễn
Truyện Kiếu vả “ những điếu trông thấy”
Như ơi, lệ chày quanh thân K iề u" "Báng khuâng nhó
Cụ, thương thân nàng Kiều" (Tố Hữu) Có một nhân vật
nào cho đến thời hiên đai đưỢG biết, đươc nhớ đươc
nghĩ, đươc binh, được bàn, được kể nhiều đến như
nàng Kiều
Vậy là, dẫu tất cả những ràng buộc, hạn chế của tư
duy và phương thức miêu tả của văn hoc trung đại,
Nguyễn Du vẫn xây được những hinh tương sống đông
và bất hủ, xoay quanh nhản vật trung tâm là Thuý Kiều
mà không có bất cứ tác phẩm nào trong văn học trung
đai kể cả hiên đai r.ó đưcic
Dễu với thể truyện thơ gồm con số hàng trăm
truyện, trong đó có cả những truyện nổi danh nhưPAian
Trần, Hoa tiên, Sơ kính tân trang Truyện Kiều vẫn có
thể thoát ra khỏi mặt bằng chung, để trở thành một hiện
tượng thơ nổi bât, không bị khuất lấp bởi một bộ đổng
phục cơ bản là giống nhau, ở khuôn hình văn chương
và ý thức hệ Sao một truyện thơ, chứ không phải văn
xuôi và tiểu thuyết lại thực hiện được một sự sống bền
vững đến thế cho nhân vật?
nhân vật đã được lưu giữ gần như nguyên vẹn trong bộ
nhớ của biết bao là thế hệ công chúng suốt 250 nám đã
qua Không kể Thuý Kiều, Thuý Ván, Kim Trọng Từ
Hài, Thúc Sinh, Vương ổng, Vương Quan Không kể
Hổ Tôn Hiến Hoạn Thư, sở Khanh, Bạc Bà, Bạc Hanh,
Khuyẽn ưng, Khuyên Phệ Ma con lá Chung Công, sư Tam Hợp, vãi Giác Duyên, Thúc Ong, Mã Kiều, bóng
ma Đạm Tiên Rối còn là các nhân vật không tên như thằng bán tơ, mụ mối, quản gia nhà họ Hoạn, viên lại già họ Đô, viên quan xử kiện - “trông lên mặt sắt đen sì”, gã thổ quan
Những nhân vật sống đến thế qua ngôn ngữ NguyễnDu:
Những cảnh xiết bao mỹ lệ như sơn mài:
Cỏ non xanh rợn chấn trời
Cành lè trắng điểm m ột vài bông hoa
Những cảnh sống động như trong điện ảnh:
Đùng đủng gió dục mảy vần
Một xe trong cõi hổng trần như bay
Không một truyện thơ Nôm nào từ thế kỷ XVII cho
đến Lục Vân Tiên cuối thế kỷ XIX đạt được một hiệu
quả nghệ thuật hiện đại đến thế
Đã đành không khó nhận ra Nguyễn Du trong vai người can thiệp, với lời bình không cẩn kín đáo, trước mọi tình huống và cảnh ngộ của nhân vật:
Tiếc thay m ột đoá trà m y Con ong đã tỏ đường đi lố i về
Nhưng không có ở bất cứ nơi nào, một ý hướng giáo
dục, khuyên nhu, bảo ban, răn dạy người đọc như một nhà luân lý Gần như tất cả, Nguyễn Du đều nhường phần đất rộng rãi nhất cho nhân vật - để cho nhân vật sống sứ sống của bản thân nó; và đến trưc tiếc với
ngiiơi đọc
Với Thuý Kiều, trong tình yèu Kim Trong:
Người đáu gặp gỡ làm chi Trăm năm biết có duyên gì hay khõng?
Với Mã Giám Sinh, trong vai “chống” của Kiều:
Vả đây đường sá xa xôi
Mà ta bất động nữa người sinh nghi
Với Tú Bà, trong tức tối gã chồng hò Mã Giám Sinh:
Tuống võ nghĩa ỏ bất nhân Buồn minh trưởc đã tần mán thử chơi Màu hố đã mất đi rồi
Thôi thôi vốn liếng đi đời nhà ma.
Với Từ Hài:
Một lờ i ơã biết đến ta Muôn chung nghìn tứ cũng là có nhau
VỚI Hồ Tôn Hiến:
Nghe càng dấm, ngắm cànq sav Làm cho mặt sát cũng ngày vi tình.
Va đây chính là thành tựu tuyệt với của N cu/ẻn Du
d uy n h ấ t của vãn h oc cổ điển, có ôươc giá tri của m ột
"bức tra n h đ ổ r với "những điều trô n a thả’y ‘ , Phầi a o 3
Trang 34"nhửnu điêu irỏng thây ’ đẻ đèn VỚI giá tri nnản đao đau đơn lòng" chất chứa trong mót trái tim ỉởn
Thật rất tinh đời, và sâu sắc, mòt nhán xét cun Cao
Bá Quát "Kim Vân Kiều là tiếng nói hiểu đòi Heo ĩ ìn
là tiếng nói r in đời vậy
những rào cản của thơ nói chỉ, vàn chà đao Tránh S3C
kh ỏ i m ó t lịch sử p h ẩ m binh dài đè n thẻ ch u n g q u a n h
Kiều, bỏi Nguyễn Du có lè là người đấu tiên bảo hièij sư
dứt bỏ những rào cản lớn nhất trong phương thức tư duy
và ỷ hướng đao đức của văn chương trung đại
Đứng ở góc độ tư duy vãn học hiên đai nói chung và chủ nghĩa hiện thưc nói riêng, nhân vât tự nó cỏ sự sông rất riêng, đỏc lập với tác giả khiến cho người đoc có thè nuên tác aiả mà khôna sao auẽn nhản vảt đươc Trc.ng bài Kỷ niệm Nguyễn Du (1986), Chế Lan Viên đả một
lần xác nhận sự sống ấy, trong bốn cảu thơ, vừa là chia
sẻ một bùi ngùi với tác giả, vừa tìm được sự bù đắp trong vinh quang của tác phẩm:
K hi ta kỷ niệm Nguyễn Du chả ích gì cho Nguyễn Chả qua đ ể kẻ yêu thơ khỏi tủ i lòng
Ong đã hoá m ây trắng ngang trờ i hoài niệm Hoá ra Kiều cao gấp m ấy đời ông<8\
Kiều là sự chưng cất mọi trải nghiệm của Nguyễn Du, là
một sự dốc kiệt bản thân để viết ở Nguyễn Du Thế giới
mà thương, mà giận, mà trọng, mà khinh Nhưng cũng
có những nhản vật không thể ứng xử đơn giản, rach ròi
như thế - như Hoạn Thư - "ở ùn thì nết củng hay Nói
điều ràng buộc thi tay củng già": như Thúc Sinh - anh
nhà buỏn lấy vợ nhà quan, quen thói bốc ròi và sơ vơ, thế mà đả được hưởng ở Kiều môt nổi nhớ tuyẻt VỜI đến thành cổ điển:
Vầng tràng ai xẻ làm đó/
Nửa in gối chiếc nửa soi dăm trường.
Có như thế mới là thế giới người, là hiên thực đời
người - “trảm năm trong cỏi"
Đọc Truyện Kiều dường như ai cũng có thể tim thấy
mình trong đó Rất hiện đại, rất đương thời mà vẩn trong khuôn hình cổ điển; rất cổ điển mà vẫn có sức vươt thời gian để đến với thời hiện đại, với người hôm nay, người bây giờ - đó là một Nguyễn Du vĩnh cửu cho người đoc sau 200 năm, rồi 240 năm ỏ thời điểm hỏm nay Phải bao gốm, phải kết hơp, phải xuyên thảm cả hai phương diện đó mới đúng là Nguyễn Du, mới làm nên
sự sống bền vững của tác phẩm Nguyễn Du
Còn 60 năm nữa để ứng nghiệm cái giới hạn mà
hậu?" Đến lúc ấy không biết có ai còn khóc Tố Như
nữa không? Câu trả lời xin mượn ở Tố Hữu:
Nghìn năm sau nhở Nguyễn Du
Tiếng thương như tiếng mẹ ru những ngàyn m
P.L.
34
Trang 35<7 ỉăễi faoú Iiạltê th u ẩ t
phát triển cùa dòng họ Nguyễrì Tiên Điển.
Cuối th ế kỷ XVI, Nam Dương Công
Nguyễn Nhiệm chạy trôn sự truy bức của
triều đinh Lê Trịnh vào sông tại vùng đâ't
hoang vu hẻo lánh của xứ Nghệ An, mai
dahh ẩn tích lập nên dòng họ Nguyễn Tiên
Điển Từ đó cho đến đẩu th ế kỷ XIX, bằng
sức lao động cần cù, với tinh thần quả cảm,
dốc thế hệ con cháu dòng họ Nguyễn Tiên
£)ỉền đã khai hoang phục hóa, mở rộng
điền trang địa ấp, dựng nhft lập làng, trỏ
thành một dòng họ lớn ở Nghi Xuân.
Theo sách N g u y ễ n g i a d ă n g k h o a ,
dòng họ có 5 tiến sĩ, còn cử nhân tú tài thì
rết nhiều Hầu hết đểu kế tiếp nhau ra làm
quan Dân xứ Nghệ An hổi ấy có câu ngạn
hgữ! “Lắm lúa Xuân Viên, lắm quan Tiên
EỊiền, lắm tiền Hội Thông”.
I ; Vì th ế tại Tiên Điển, con cháu họ
Nguyễn đã cho xầy dựng rất nhiều công
trình kiên trúc vể lịch sử đòng họ, tôn giáo,
tâm linh, cầu cống Nhưng vể sau, qua
nhỉều biến động lịch sử, chiến tranh và Bự
tàọ phá của thiên nhiên, các công trình
này phần nhiều bị hư hỏng Chỉ còn lại một
8ố di tích được con cháu gìn giữ đến nay.
Nám 1964, trong phiên họp tại Berlin
(Cộng hòa dân chủ Đức) từ ngày 6 đến 9-
quyết nghị Kỷ niệm 200 năm năm sinh dại thi hào Nguyễn Du trên toàn thê giới cùng với 8 danh nhân khác dã có những đóng góp to lớn cho nền văn hóa của nhân loại
Ớ Việt Nam lúc bôy giờ, cuộc kháng chicn
chông M ỹ xâm lược tíang diễn ra ác liệt
Tuy vậy, Dáng và Nhà nước ta vẫn tổ chức
lễ kỷ niệm một cách long trọng trên cả hai miền và dã gây mộl ấn tượng sậu sắc trong các tầng lớp nhân dân ta và nhân dân thô giới.
Tại Nghi Xuân, Hà Tĩnh, quê hương của nhà thơ, Ty văn hóa Hà Tĩnh cùng với cụ
Lê Thước - Cán bộ Bảo tồn Bảo tàng Bộ Vãn hóa - dã tiến hành khảo sát và xây dựng Khu lưu niệm Nguyễn Du trên cơ sở nhữiig di tích còn lại của dòng họ, bao gồm: nhà thờ và mộ Nguyễn Du; đàn tế và bia đá Nguyễn Quỳnh - ông nội Nguyễn Du; nhà
Tư vãn; dồng thời chuyển ngôi đình làng Chợ Trổ, xã Đức Nhân, Đức Thọ, về đặt trong khuôn viên dòng họ làm nhà trưng bày các tư liệu hiện vật về Nguyễn Du và dòng họ Nguyễn Tiên Điền Bên cạnh dó còn có dền thờ và mộ Nguyễn Nghiêm - thân phụ Nguyễn Du; dền thờ Nguyễn Trọng - chú ruột Nguyễn Du và một sô di tích liên quan khác.
Trang 36Như vây, kể từ năm 1965, Khu lưu niệm
N guyễn Du được thành lập và đi vào hoạt
dộng phục vụ du khách trong nước và quốc
tế đến tham quan, nghiên cứu Ban đầu ở
Khu lưu niệm, chỉ có trơ trọi mấy di tích
còn sót lại qua nhiêu biến động của lịch sử
và sự tàn phá của thiên nhiên khắc nghiệt
với nắng gió dát m iền Trung Di Líqh nằm
trên một bãi cát trông trải, lưa thưa một ít
cây xanh bản dịa, ngoài hai cây cố thụ là
cây Muỗm (xoài) và cây Bồ Lỗ (cây Nóng)
do ông nội N guyễn Du trồng vào khoảng
năm 1720-1725 Bò rào chưa có nên trâu
bò, người đi chợ, di làm đồng cứ mặc nhiên
qua lại tự do trong Khu di tích Nhà Tư
Văn, sau năm 1945, được dùng làm trường
học cho con em trong vùng nên không còn
giữ nguyên hiện trạng ban dầu Nhà trưng
bày chỉ có một ít tư liệu, hiện vật do cụ Lê
Thước và Ty văn hóa Hà Tĩnh sưu tầm từ
con cháu và dân làng Tiên Điển Nhìn
chung, Khu di tích ngày ấy còn hoang sơ
Những người yêu m ến nhà thơ đều cốm
thấy (lay dứt, băn khoăn trưỏc thực trạng
dó.
Nồm 1965, giặc Mỹ ieo thang dánh phá
miền Bắc, làng Tiên ĐiỂn là cd sở hậu cần
của chiến trường miền Nam nên bị máy
bay Mỹ thường xuyên đánh phá Cán bộ
trông coi Khu di tích dă cùng với nhân dân
trong xã trồng cây xanh vừa làm đẹp cảnh
quan, vừa che chắn máy bay địch Mặc dù
Hà Tĩnh lúc bấy giờ là vùng đất bị bom Mỹ
đánh phá hết sức ác liệt, nhưng học sinh,
sinh viên, cán bộ chiến sĩ, trên dường ra
mặt trận, vẫn thường xuyên đến thắp
hương tưởng nhớ nhà thơ yêu quý của dân
tộc.
Từ năm 1965 đến 1970, tuy Khu di tích
đã được thành lập nhưng Ty văn hóa Hà
Tĩnh thời bấy giờ chưa có cán bộ chuyên
môn trực tiếp quản lý mà giao lại cho con
cháu dòng họ bảo quản trông coi Những
người được dòng họ cử ra là hai cụ Nguyễn
Nhụ và Nguyễn Lục Năm 1970, Khu di
tích lại dược giao cho phòng Văn hóa huyện
Nghi Xuân quản lý, người phụ trách lúc đó
là ông Phan Huy, người xã Xuân Song Năm 1975, đâ't nước thông nhất, Hà Tình
và Nghệ An sáp nhập thành tỉnh Nghệ Tĩnh Sau khi Lhành lập tỉnh, để bảo tồn và phát triển văn hóa, tỉnh mỏ trường Trung cấp Văn hóa, trong dó có khoa Bảo tàng, nhằm dào tạo cán bộ chuyên ngành cho Bảo tàng tỉnh và Phòng văn hóa các huyện Đến năm 1977, sau khóa tốt nghiệp, ba cán
bộ dược phân công về công tác ở Khu di tích
là chị N guyễn Thị Xuân Phương, chị Nguyễn Thị Mậu và anh Phạm Xuân Phượng, dưới sự quản lý và điểu hành của Phòng bảo tàng, s ỏ Văn hóa - Thông tin Nghệ Tĩnh Như vậy kể từ khi thành lập, dến lúc này, Khu di tích mâi có cán bộ có nghiệp vụ chuyên môn bảo quản và trông coi Năm 1980, Bảo tàng N ghệ Tĩnh được thành lập, Khu di tích N guyễn Du lại do Bảo tàng Nghệ Tĩnh quản lý Thòi ban đầu, Bảo tàng cùng vâi anh chị em công tác tại Khu di tích bắt tay vào sắp xếp tư liệii, hiện vật trong nhà triíng bày theo từng chuyên để, đồng thời tiến-hành làm hồ sơ phích phiếu cho cốc hiện vật đã có Tuy vậy, công việc cũng chỉ dừng lại ở những
thao tác nghiệp vụ đơn thuần, nhiệm vụ
chính là khi có khách thì mỏ cửa giới thiệu cho khách tham quan.
Phải nói rằng trong một thời gian dài,
Trang 37từ khi thành lập đến những năm 90, với
nhiều lý đo khách quan, Khu di tích hầu
như không được đầu tư kinh phí để nâng
cấp tôn tạo, kể cả đầu tư cho công tác
chuyên m ôn như: SƯU tầm bổ su n g tư liệu
phục vụ cho trưng bày, trong khi lượng
khách v ề tham quan ngày càng đông Đã có
nhiều vị khách tâm h u y ết có những ý kiến
trên báo chí bày tỏ sự không hài lòng với
thực trạn g di tích của m ột danh nhân văn
hóa th ế giới như N gu yễn Du.
Năm 1991, N ghệ Tinh được tách làm
hai tỉn h N ghệ An, Hà Tĩnh, Khu di tích trở
thành m ột tổ của Bảo tà n g Hà Tĩnh với ba
cán bộ trực tiếp trông coi: hai người có
trình độ trung cấp bảo tà n g và một cán bộ
bảo vệ G iai đoạn này đất nước bước vào
thời kỷ đổi mới, đời sổng k in h tế của nhân
dân ngày càn g được nâng cao, lượng du
khốch hàng năm về tham quan, học tập,
nghiên cứu ngày m ột nhiều Khu di tích
N gu yễn Du thực 8ự trở th àn h điểm hấp
dẫn khách trong nước và quốíc tế, hàng
năm đón và phục vụ h ồ n g vạn lượt khách
P hần đông khách về tham quan đểu mong
m uốn phải có sự (lầu tư đún g mức về vật
châ't, kể cả con nguời, dể Khu di tích tường
xứng với tẩm vóc danh nhẳn Trước thực tê
đó, Sở Văn hóa *• Thông tin Hà Tĩnh tăng
cưòng thêm cán bộ có năng lực và kinh
nghiệm công tác cho Khu di tích đồng thời
đầu tư kinh phí xây nhà trực, nhà tiếp
khốch, xầy bò rào Khu di tích và khu mộ
N gu yễn Du, tiến hành trồng cây xanh và
cây cảnh Từ đó, Khu di tích dã có những
th ay đổi đống kể, thường xuyên được trùng
tu, tôn tạo, phòng trưng bày được chỉnh lý
và b ể su n g mới các tư liệu hiện vật, chất
lượng phục vụ khách tham quan ngày càng
nâh g cao, được dư luận và đu khách khen
ngợi T h ốn g 7-1994, trong m ột lần về tham
quan khu di tích, đồng chí Thứ trưởng
Nguyễn D inh Bin đã thay mặt đoàn Bộ
Ngoại giao viết vào sổ cảm tưởng như sau:
“X in chồn thành cảm ơn lãnh đạo, nhân
dârì địa phương, đặc biệt là các đồng chí
cán bộ trực tiếp làm việc tại Khu đi tích dã
và đang giữ gìn cho đời này và mai sau, cho
V iệt Nam và thê giới, m ột giá trị văn hóa tinh thần bất hủ”.
Vói sự phát triển và đổi mới tại Khu di tích, trong những năm từ 1994 đến 1998, nhiều tổ chức đoàn thể xã hội, các cá nhân
đã tài trợ, ủng hộ kinh phí cho Khu di tích Năm 1994 ông N gu yễn Phước Lương Bằng, một Việt kiều tại Mỹ ủng hộ 25.000 USD
để xây mộ N guyễn N ghiễm và làm đường
ra mộ, năm 1997 tổ chức UN ESC O tài trợ 20.000 U SD xây lại bờ rào, làm đường đi lại trong khuôn viên, trồng thêm một sô" cây cảnh Diện mạo Khu di tích từng bước đổi mới, khang tran g hơn trước.
Trưốc sự phát triển của Khu di tích, dáp ứng nhu cầu ngày càng tăn g của khách tham quan, năm 2001, s ở Văn hóa - Thông tin Hà Tĩnh triển khai dự án Trùng tu và tôn tạo Khu di tích N guyễn Du với nguồn vốn trên 9 tỷ dồng, bao gồm 19 hạng mục, trong đó có nhữ ng hạng mục cơ bản: trùng tu’ các di tích quan trọng như nhà Tư Văn, đền thờ N gu yễn Du, đền thờ N guyễn
N ghiễm , N guyễn Trọng, xây dựng nhà văn hóa và dựng tượng N guyễn Dụ Với vai trò quan trọng của Khu di tích Nguyễn Du trong chiến lược phát triển văn hóa, kinh
tế xã hội của tỉnh, trong khi việc trùng tu
và xây dựng đang tiến hành, ngày 14-6-
2002, ƯBND tỉnh Hà Tĩnh ra quyết định sô" 1314/2002/QĐ-UI3-TC thành lập Ban quản
lý di tích N gu yễn Du là đơn vị cấp hai của tỉnh, trực thuộc s ở Văn hóa - Thông tin, có chức năng bảo quản và phát huy các giá trị văn hóa của Khu di tích thông qua các hoạt động nghiên cứu, sưu tầm , trưng bày, giới thiệu tài liệu hiện vật, đi tích liên quan đến cuộc dời và sự nghiệp của đại thi hào
N guyễn Du Từ m ột tổ di tích ở xa tỉnh lỵ,
xa cơ quan chủ quản, khó khăn nhiêu, đến nay, Khu di tích N guyễn Du trở thành một đơn vị độc lập có tài khoản, con dấu riêng, gồm 12 cán bộ trong biên chế, có cơ ngơi làtn việc đàng hoàng Ngoài khu lựu niệm
Trang 38rộng 2ha còn có m ột khu vărTTióa khnng tía n g đẹp đẽ gồm hội trường, nhà thư viện, kho bảo quản lưu giữ (rên 2.000 hiện vật,
tư liệu về Nguyễn Du và họ Nguyễn Tiên ẾHểh Đặc biệt phòng trư ng bày 200m^, trứ ng bày ba chủ đề chính: quê hương dòng họ; thân th ế sự nghiệp Nguyễn Du; ảnh hưỏng của Truyện K iêu dổi với nhân dân tro n g nước và th ế giới Đây là phòng trư ng bày được khách tham quan đánh giá cao không những về phương phốp trư ng bày
mà còn là nơi có những hiện vậ t quý hiếm
về Nguyễn Du và dòng họ còn lạ i qua nhiểu biến động của th ờ i gian.
V ới những thay đổi lớn, đáp ứng phần nào lòrig mong mỏi của du khách và những ngưòi yêu quý nhà thơ v ĩ đại của dân tộc, Ban quản lý di tích Nguyễn Du luôn nhận được 8ự quan tfím của các tổ chức đoàn thể, của nhân dân Ngoài ủng hộ về tin h thần,
m ột 8ố cố nhân, nhà nghiên cứu đã hiến tặng nhiểu hiện vật, tư liệu quý về Nguyễn Du
Sau 30 năm, kể từ ngày Khu di tích
được thành lập, trải qua nhiều khó khăn
tưởng chừng khó vượt qua, K hu di tích đã lớn mạnh và trưởng thành Đó là nhờ sự đổng gỏp cồng sức của nhiều thê hệ làm văn hóa của Hà T ĩn h nói chung và anh chị
em công tác tạ i Khu di tích Nguyễn Du nói riêng Năm 2005 là năm kỷ niệm 240 năm
- năm sinh Nguyễn Du, với tin h thần của Nghị quyết T ru n g ương 5 khóa V III, với sự quan tâm của các cấp các ngành, cùng với
sự đầu tư của ngành Văn hóa - Thông tin,
K hu di tích Nguyễn Dư sẽ trở thành một tru n g lảm văn hóa du lịch lớn của tỉnh Hà
T ĩn h nói riêng và cả nước nói chung, góp phồn phát triể n kinh tế xã hội của đất nước ■
Đ.S.H
38
Trang 39Vãn nghệ
s ố 50 - Ngày 10/12/2005
^ ĩtu ìn ú ă n h ú á k tj n iê m
n ụ ìiụ ắ Ìễ ih đ ạ i th i h ả o O hạẮAựẴễL rO u
Bài và ảnh của Phan Tùng Lưu
H ơn m ật tuẩn qua, từ ngày 25 tháng 11 nám 2005
đến n g ày m óng 3 tháng 12 năm 2005, tại Hà Tĩnh dã
t ổ c h ứ c tuần ván hoá Nguy én Du, k y niệm 240 năm
ngày sin h đại thi hào dân tộc, danh nhàn văn hoá
th ế giới.
1 CUỘC ĐÒI VÀ Sự NGHIỆP CỦA NGUYỄN DU
Long) vào mùa xuân năm Ất Dậu, niên hiêu
Cạnh Hưng thứ 26 (1765) đài vua Lê Hiền
Tông Dòng họ Tiên Điển có gốc tích từ huyện
Th?nh Oai, phù ứng Thiên, trấn Sơn Nam (nay là vung
Từ Liêm, Thanh Trì, Hà Nôi), ông là con trai thứ 7 của
Hoàng Giáp Nguyễn Nghiễm và bà Trắc Thất thứ rìhất
Trần Thị Tân, que ở Bac Ninh, Nguyễn Du có hiệu là
Thanh Hiên, tự là Tố Như Biệt hiệu là Hổng Sơn liệp bô,
Nam Hải điếu đô Nguyễn Du mổ côi cha lúc 10 tuổi,
đến 13 tuổi thì mẹ chết, phải về ỏ với anh trai là Nguyễn
Khản Nguyễn Khản là tiến sĩ khoa Canh Thìn (1760)
làm quan thượng thư tước Quân quận công Sau một
thời gian Nguyễn Khản sắp xếp cho Nguyễn Du gặp con
gái Hoàng Giáp Đoàn Nguyên Thu guế ở Quỳnh Côi,
Thái Bình Hai người kết hon và Nguỵen Du ở lại quê vợ
Khoa thi năm Quý Mão (1783) Nguyến Du đậu tú tài, tập
ấm chức Hoằng tín đại phú Năm Bính thin (179ẻ)
Nguyễn Du trở về Tiên Đien - Nghi Xuân Tương truyền
Nguyễn Du khộng thích chốn quan trường, chỉ mẽ ngày
ngày lên núi Hổng săn bắn, đêm về uống rượu, vịnh thơ
với bạn đổng liêu Thình thoảng lại vượt Rú Cài hát ví
với con gái vung Trường Lưu
Đến Triều Gia long, Nguyễn Du bị triệu ra làm quan
tri huyện Phu Dung (Hưng Nguyên) sau đó làm tri phủ
Thường Tín Sau khi ông cáo ốm xin về một thời gian,
lại bị triệu vào làm quan cai bạ Quảng Bình, Thãng
Đỏng các đại học sĩ, được triều đình chọn làm chánh
sứ, đi tức cổng nhà Thanh (1813-1814) Lúc vể ông
được thăng Lễ bộ hữu tham tri Ngày 10 tháng 8 năm
Canh Thin (1820) do bị bệnh dịch tả ông đã qua đời tại
Thuận Hoá ông mất đi để lại cho nền văn học Việt
Nam, dân tộc Việt Nam những tác phẩm vô giá Dịch
Nguyen Du có thể so sánh một cách xứng đấng vòi kiệt tác của bất kỳ quốc gia nào, bất kỳ thời đại nao".
16 giờ ngay 25 tháng 11 năm 2005, lễ dâng hương tại khu mộ và nhà thờ cụ Nguyễn Du được cử hành Dòng ngươi nườm nượp nối tay nhau thắp nén nhang, kính cẩn cúi đẩu bên lăng mộ Khói hướng trắng mờ, lãng đãng, la đà trên cánh đồng Đang là mua đông mà khí trời ấm lạ, không biết bầu tròi khoi hương hay cảu thơ của cụ, mà tôi ngỡ mình đi trong tiết thanh minh.Đêm, 19 giờ 45 phút, tuần văn hoá Nguyễn Du bắt đầu khai mạă Buổi khai mạc đầy đủ các vị quan khách
và những bài phát biểu Nhưng điều ấn tượng nhất vẫn
là các em học sinh trung học, đi tìm các nhầ thơ xin chữ
ký Các em yêu thơ, hao hức, trong trẻo và hổn nhiên đen thế Tõi nghĩ chính các em là sinh khí của buổi lễ này
Sáng 26 tháng 11 năm 2005, các nôi dung của tuần
lễ văn hoá Nguyễn Du bắt đầu Có thể nói đay là tuần
lễ trang trọng nhất từ trước đến nay Ban chỉ đạo lễ kỷ niêm 240 năm ngày sinh đại thi hào Nguyễn DÙ đã sắp xếp một chương trinh hoạt động văn hoá phong phú và sinh đọng Đầu tiên là khai trương thư viện Nguyễn Du Sau khai trương, rất nhiều nhà văn, nhà thơ và những người SƯU tầm sách đã tặng cho thư viện nhũng tập sach quý hiếm Tiếp theo là tổng kết cuộc thi tìm hiểu
Truyện Kiều, trao giải thưởng văn học nphệ Jhuảt
Ngúýễn Du, biểu diễn nghệ thuạt rối nước, bieu diễn trò chơi dân gian, diễn trò Kiểu, hầt ca trù và nhiều hoat động văn nghệ, thể thao v.v
Qua ba ngậy liên tục từ 25 đến 27 tháng 11 nám
2005 trong tuần văn hoá Nguyễn Du trẽn qụê hương Nghi Xuân - Hà Tĩnh, đã hâm nóng tinh thấn những người làm văn học nghệ thuật, những ngi/di dân miến đat văn vật này Đó la ước mớ, sự ngữõng mộ, nỗi khát khao, niềm tự hào về một bậc vĩ nhản và hơn hết là lòng
ơn Đảng 21 giờ ngày 27, lúc chia tay có một cò bé học
Nguyễn Du ở đất Tiên Điền không hầ chú?" Thú thực,
tôi rất buồn khi không trả lời được cảu hỏi này Nhưng tôi nhận ra rằng đó la khát vọng vươn tới tài năng của
II HỘI THÁO KHOA HỌC ĐẠI JHI HÀO NGUYỄN
DU - DÁNH NHÂN VĂN HOÁ THẺ GIỚI.
Ngày 1 tháng 12 năm 2005 tại Bảo tàng Hồ Chi Minh - Hà Nội, Bộ Văn hoá - Thông tin và tỉnh uỷ UBND tỉnh Hà Tĩnh tổ chức hội thảo khoa học Đại thi hào Nguyễn Du - danh nhân văn hoá thế giới Đến dự có đong chí Nguyễn Khoa điềm - UVBCT, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tư tưởng Văn hoá Trung ương Các đồng chí: Phạm Gia Khiêm - UVTƯ Đảng, Phó Thủ tướng Chính phủ Đổng chí Uông Chu Lưu - UVTƯ
Trang 40Đảng, Bộ trưởng Bô Tư pháp, Đòng chí Phạm Quang
N ghị - U V TƯ Đang, Bô trưởng Bô Văn hoá - Thông tin
Đ ong chí Hữu Thỉnh - Đại biều Q uốc hòi, Chủ tich HÔI Nhà văn V jệt Nam, Đ ổng chí Nguyễn Đình Hương, Pho chủ nhiệrrt UB văn hoá giáo dục thanh, thiếu niên
Đ ổng chí Nguyễn Chí Bển - PG S-TS Viôn trưởng Viên văn học Đổng chí Trấn Đinh Đàn - Bi thư rỉnh uỷ Ha Tinh Nhà văn Đức Ban - Giám đốc s ở VHTT Hà Tĩnh Các giáo
sư, tiến sĩ, các nhà khoa hoc, các nhà nghiên cửu và ỈÌOC sinh các trường đại hoc về tham gia hôi thảo Hơn 70 tham luân
để cập đến cuôc đời và sư nghiêp của Nguyền Du Có 15 tham luân được trinh bày để cập về chủ nghĩa nhãn bản, gjá trị nhân đao, tẩm tư tưởng, lòng yêu nước trong thơ Nguyên
Du Ánh hưởng của Nguyễn Du đối với nến vàn hoá Viẻt Nam Ảnh hưởng của cac nhà tư tưởng trên thế giới và nhân dân lao đỏng vơi Nguyễn Du Nguyền Du VỚI thời đai hôm nay v.v
Những bán tham luân các giáo sư tiến sĩ: Giáo sư Phong
Lẻ, GS Nguyễn Đình Chu, TS Nguyễn Trường Lích, GS Nguyễn Huệ Chi, GS-TS Mai Quốc Liên GS-TS Kiêu Thu Hoach, Nhà nghiên cứu Lẽ Xuân Lít Nhà ly luân phê binh Ha Quảng Có thể nói đó là các tác phẩm ly luân sáu sãc tri tuê Có góc nhìn riêng và phương pháp tiép cản mang tính khoa học cao.
Chiểu ngày 2 tháng 12 năm 2005 đoàn dai biểu từ Ha NÔI
về dư lễ kỷ niệm 240 năm ngày sinh đai thi hao Nguyễn Du Đoàn đã đến dâng hưdng tại lăng mô và nhà thở cu Nguyên Đoàn có các đồng chí Pham Quang Nghi - UVTƯ Đảng - Bỏ trưởng Bô VHTT Nhà thơ Hữu Thỉnh Đai biểu Quốc hội - Chủ tịch HNV Việt Nam, nhà văn Đào Thắng - Chánh văn phòng HNV Viêt Nam, nhà thơ Vũ Quấn Phương và các đống chí khác Sáng 3 tháng 12 nàm 2005 tai thị xã Ha Tĩnh, Bỏ VHTT
và UBND tỉnh Hà Tĩnh đã long trọng tổ chức lẻ kỷ niêm 240 năm sinh Đại thi hào Nguyễn Du - danh nhân văn hoa thế giới Dự lễ kỷ niêm có đai diên Bô VHTT, HÔI Nha văn Việt Nam, đại diện các bộ ngành Trung ương, về phía Ha Tĩnh có các đổng chí: Trần Đình Đàn - Bí thư tình uỷ, Lé Văn Chát - Phó bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tich UBND tỉnh, các đống chí trong
40