Những năm gần đây, khi nghề nuôi tôm liên tiếp gặp nhiều rủi ro do diễn biến phức tạp của dịch bệnh thì diện tích các ao nuôi tôm bị bỏ hoang ngày càng nhiều, đặc biệt là các ao nuôi vùng thấp triều do đặc điểm vùng nuôi dễ bị ô nhiễm, tốc độ lây lan dịch bệnh nhanh. Trước thực tế đó, nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường, tăng hiệu quả kinh tế và hướng tới nghề nuôi ổn định, bền vững. Trong những năm trở lại đây, Trung tâm Khuyến nông Khuyến ngư Quảng Trị đã xây dựng các mô hình chuyển đổi các ao nuôi chuyên tôm kém hiệu quả sang các hình thức nuôi luân canh, xen canh tôm với các đối tượng khác nhau trong cùng một ao nuôi như nuôi tôm cua ; tôm – cá; tôm – cua – cá… Trong đó mô hình Nuôi Kết hợp cá đối mục, tôm sú và cua trong ao nuôi thấp triều đã cho thấy đây thực sự là một giải pháp hiệu quả và an toàn cho bà con trong tình hình nuôi hiện nay
Trang 1
Những năm gần đây, khi nghề nuôi tôm liên tiếp gặp nhiều rủi ro do diễn biến phức tạp của dịch bệnh thì diện tích các ao nuôi tôm bị bỏ hoang ngày càng nhiều, đặc biệt là các ao nuôi vùng thấp triều do đặc điểm vùng nuôi dễ
bị ô nhiễm, tốc độ lây lan dịch bệnh nhanh Trước thực tế đó, nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường, tăng hiệu quả kinh tế và hướng tới nghề nuôi ổn định, bền vững Trong những năm trở lại đây, Trung tâm Khuyến nông Khuyến ngư Quảng Trị đã xây dựng các mô hình chuyển đổi các ao nuôi chuyên tôm kém hiệu quả sang các hình thức nuôi luân canh, xen canh tôm với các đối tượng khác nhau trong cùng một ao nuôi như nuôi tôm - cua ; tôm – cá; tôm – cua – cá… Trong đó mô hình Nuôi Kết hợp cá đối mục, tôm
sú và cua trong ao nuôi thấp triều đã cho thấy đây thực sự là một giải pháp hiệu quả và an toàn cho bà con trong tình hình nuôi hiện nay
1 Lựa chọn ao nuôi:
- Ao nuôi gần nguồn nước sạch, không bị ô nhiễm do chất thải nông nghiệp, công nghiệp và sinh hoạt , ao nuôi ở xa khu dân cư và thuận tiện giao thông;
- Có diện tích từ 3.000 – 5.000m2; Có cống cấp và thoát nước riêng biệt,
bờ đê chắc chắn không bị rò rỉ;
- Ao phải đảm bảo độ sâu mực nước từ 1,2 – 1,5 m
2 Cải tạo ao nuôi: Tiến hành việc cải tạo ao nuôi như sau:
- Tháo cạn nước ao nuôi, vét bùn đáy ao và tu sửa bờ, các cống cấp nước, thoát nước
- Rào lưới quanh ao để tránh các loài ký chủ trung gian gây bệnh từ bên ngoài
và tránh thất thoát cua trong ao nuôi bò ra ngoài
- Bón vôi với liều lượng 7 – 10kg/100 m2 và bừa kỹ cho vôi ngấm vào đáy để diệt hết tôm, cua, còng, ốc, côn trùng, cá tạp còn sót lại, diệt khuẩn trong bùn, giảm bớt các chất khí độc tồn tại trong đất và trung hòa pH
- Phơi đáy ao khoảng 7 - 10 ngày trong thời tiết nắng nóng là tốt nhất
- Lấy nước vào ao qua túi lọc bằng vải dày nhằm loại bỏ rác, ấu trùng, tôm, cua, còng, ốc, côn trùng, cá tạp với mức nước lên 1,2 – 1,4 m
- Gây màu nước bằng phân NPK với liều lượng 2g/m3 Sau 3 ngày thấy màu nước có màu xanh lá chuối non thì tiến hành kiểm tra các yếu tố môi trường trong ao nuôi đảm bảo thích hợp như: Độ mặn: 10 - 30‰; Nhiệt độ: 26 - 320C; Hàm lượng oxy hòa tan trên 4mg/l; pH: 7,5 – 8,5 thì tiến hành thả giống
Trang 2Lưu ý: Nếu có điều kiện có nhiều ao nuôi, bà con nên chuẩn bị một ao làm ao chứa lắng để cấp nước vào ao nuôi trong suốt quá trình nuôi nhằm ngăn ngừa dịch bệnh từ bên ngoài
3 Chọn và thả giống
* Chọn con giống:
- Đối với cá Đối mục: Nên chọn giống khỏe mạnh đều kích cỡ, không bị xây xát, hoạt động nhanh, nhìn bên ngoài màu sắc tươi sáng, không bị dị hình, dị tật
- Đối với cua giống (còn gọi là Cua khay): Chọn cua đồng đều kích cỡ, màu sắc sáng bóng, cua hoạt động tốt không có dấu hiệu bệnh, cua đầy đủ que càng không bị tổn thương, mất mát các phần phụ
- Đối với tôm sú giống: Có màu nâu xám tự nhiên, hoạt động nhanh nhẹn, cở tôm đồng đều và đạt từ 1,2 – 1,3 cm (P15), các bộ phận phụ đầy đủ không bị
dị tật dị hình Chọn tôm giống đã qua kiểm dịch không nhiễm bệnh đốm trắng, tỉ lệ MBV thấp < 10%
* Mật độ nuôi xen ghép:
- Cá đối mục: 0,2 – 0,5 con/m2, kích cỡ 3 – 5 cm/con
- Tôm sú: 3 – 5 con/m2, Tôm P15 kích cỡ 1,2 – 1,3cm/con,
- Cua: 0,2 – 0,5 con/m2, cua khay cỡ c3, nếu sử dụng cua giống lớn từ tự nhiên thì mật độ giảm đi một nửa Nếu có điều kiện thì nên thả cua khay trong giai hoặc ao nhỏ để ương cua khoảng 2 tuần trước khi thả ra ao nuôi
* Phương pháp thả giống:
- Nên thả giống vào lúc sáng sớm khoảng 6 đến 9 giờ sáng hay chiều mát 16 giờ đến 17 giờ, không nên thả giống khi trời mưa hoặc gió mùa đông bắc
- Trước khi thả đối với tôm, cá đối mục nên ngâm các bao giống trong ao 10 – 15 phút để cân bằng nhiệt độ, sau đó mở túi cho nước vào từ từ rồi thả giống ra ao nuôi, thả giống đầu hướng gió để tạo điều kiện cho tôm cá phân bố đều khắp ao
4 Chăm sóc quản lý
* Thức ăn: Loại thức ăn tùy thuộc vào khả năng đầu tư của bà con, có thể
là thức ăn công nghiệp, chế biến, thức ăn tươi hoặc kết hợp các loại đó với nhau
- Đối với cá đối: Sử dụng thức ăn viên nổi công nghiệp dành cho cá (thức ăn
có độ đạm 22 – 30%),
- Tôm sú: Sử dụng thức ăn công nghiệp dành cho tôm
Trang 3- Cua: Sử dụng thức ăn tươi như cá tạp, hến; giai đoạn đầu khi mới thả nuôi
có thể sử dụng thức ăn công nghiệp của tôm để cho cua ăn
* Cách cho ăn:
Thức ăn được rải đều trong ao, ngày có thể cho ăn 2 lần sáng 7 - 8 giờ và chiều 5 - 6 giờ, có thể cho ăn bổ sung vào ban đêm đối với tôm Trong một bữa ăn, để đảm bảo cho tôm, cua nuôi ăn đầy đủ thức ăn thì phải cho cá đối mục ăn trước sau đó đến cho tôm cua ăn Vì cá đối mục rất háu ăn, nếu ăn cùng 1 lần cá dành thức ăn của tôm
* Liều lượng thức ăn cho ăn như sau:
- Giai đoạn đầu: Lượng thức ăn công nghiệp hàng ngày 5 – 10% trọng lượng tổng đàn nuôi
- Sau tháng nuôi thứ 3 trở lên lượng thức ăn trong ngày 3 – 5% trọng lượng đàn trong ao
5 Quản lý ao nuôi
Định kỳ hàng tuần tiến hành đo các yếu tố môi trường như pH, độ kiềm,
DO, độ mặn… để đảm bảo các thông số này nằm trong ngưỡng thích hợp cho các đối tượng nuôi sinh trưởng phát triển tốt
Định kỳ 7 – 10 ngày phải cấp hoặc thay nước cho ao nuôi, mức nước trong ao nuôi phải đạt >1,2m để ổn định nhiệt độ Đối với ao nuôi ghép mật
độ thấp chỉ cần thêm nước để bù vào lượng nước đã bị bốc hơi và rò rỉ ra bên ngoài Việc thay nước chỉ nên tiến hành ở những ao có sự cố và có thể lấy nước ra vào một cách tự nhiên hoặc dùng máy bơm
- Định kỳ hàng tuần bón vôi với liều lượng 3 – 4kg/100m2 để ổn định môi trường nước nuôi
- Thường xuyên kiểm tra hoạt động của tôm, cua, cá nuôi trong ao để có biện pháp xử lý kịp thời, mặt khác cũng để kiểm tra tốc độ sinh trưởng nhằm điều chỉnh lượng thức ăn cho phù hợp Trong quá trình nuôi để tăng sức đề kháng cho các đối tượng nuôi, bà con cần trộn thêm vitamin C vào thức ăn với liều lượng 2 - 5g/1kg thức ăn
- Đối với cá đối mục: Sau 3 tháng nuôi khi cá đã lớn bà con lưu ý có thể cá sẽ
bị nổi đầu vào sáng sớm Nếu hiện tượng nổi đầu nghiêm trọng bà con có thể
xử lý bằng cách bật máy quạt khí, cấp thêm nước và dùng Zeolite để bón cho
ao với liều lượng 2 – 3kg/1.000m2
3 Thu hoạch
Đối với hình thức nuôi xen ghép nên áp dụng hình thức thu tỉa bớt sản phẩm rồi mới tiến hành thu toàn bộ
Trang 4Sau thời điểm nuôi 3 – 4 tháng tiến hành thu tỉa đối với tôm cua đạt kích cỡ thương phẩm Riêng cá Đối Mục sau khi nuôi từ 5 – 6 tháng có thể tiến hành thu tỉa dần cá đạt trọng lượng từ 0,3 - 0,4 kg/con