Một số giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty đầu tư và phát triển kỹ thuật Việt – Ý
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Khi nền kinh tế Việt Nam chuyển sang cơ chế thị trường thì sự cạnh tranh
càng trở nên gay gắt vì vậy các doanh nghiệp cần phải nâng cao chất lượng sản
phẩm, hạ giá thành, mở rộng thị phần và phải hiểu rõ hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp mình như thế nào ? hiệu quả kinh tế và tình hình tài chính
ra sao ?
Điều đó buộc doanh nghiệp phải tiến hành phân tích tài chính để đánh giá
thực tại tình hình tài chính của doanh nghiệp, xác định các nhân tố ảnh hưởng tới
quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh bởi mục đích cuối cùng của bất cứ doanh
nghiệp nào cũng là lợi nhuận Lợi nhuận là kết quả cuối cùng của rất nhiều yếu tố
trong đó yếu tố quan trọng là có đủ vốn để tiến hành các hoạt động sản xuất kinh
doanh và sử dụng vốn một cách có hiệu quả
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, sử dụng vốn một cách có hiệu quả là
một đòi hỏi cấp thiết để doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh và đứng vững trên thị
trường.Có sử dụng vốn một cách có hiệu quả, doanh nghiệp mới có khả năng bảo
toàn và phát triển vốn, mới có khả năng tái đầu tư cho sản xuất kinh doanh cả về
chièu sâu và chiều rộng
Qua quá trình học tập tại trường cũng như quá trình học tập và làm việc tại
Công ty đầu tư và phát triển kỹ thuật Việt - ý, em thấy hiệu quả sử dụng vốn tại
Công ty đầu tư và phát triển kỹ thuật Việt - ý còn nhiều bất cập, chưa xứng với
tiềm năng của nó Chính vì vậy, em mạnh dạn chọn đề tài
"Một số giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại
Công ty đầu tư và phát triển kỹ thuật Việt - Ý"
Đề tài ngoài phần mở đầu và kết luận bao gồm ba bộ phận chính sau :
Chương I: Lý luận chung về vốn của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị
trường
Chương II: Thực trạng sử dụng vốn tại Công ty đầu tư và phát triển kỹ thuật
Trang 2Việt _Ý
Chương III: Một số giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng
vốn tại Công ty đầu tư và phát triển kỹ thuật Việt - Ý
Do kiến thức còn hạn hẹp cũng như thời gian thực tập không nhiều nên
chuyên đề không tránh khỏi sai sót mong thày cô góp ý để chuyên đề được hoàn
thiện hơn
Trang 3CHƯƠNG I : LÝ LUẬN CHUNG VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN CỦA
DOANH NGHIỆP TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
I TẦM QUAN TRỌNG CỦA VỐN TRONG HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH
CỦA DOANH NGHIỆP
1 Hoạt động của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường
Doanh nghiệp là chủ thể kinh tế độc lập, có tư cách pháp nhân thực hiện các hoạt
động sản xuất kinh doanh trên thị trường nhằm tối đa hoá lợi nhuận
Do nguồn lực cần thiết để sản xuất ra sản phẩm đều khan hiếm Cho nên, khi mà
nền kinh tế đạt tới sản lượng tiềm năng thì muốn tăng sản lượng sản phẩm này thì
buộc phaỉ giảm sản lượng sản phẩm khác Đây chính là giới hạn khả năng sản xuất
của một nền kinh tế
Muốn thành công trong hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp phải giải quyết thực
hiện tốt ba chức năng cơ bản, đó là : Sản xuất cái gì? Sản xuất cho ai ? Sản xuất
như thế nào ?
Để giải quyết được vấn đề sản xuất cái gì ? doanh nghiệp phải tiến hành nghiên cứu
thị trường, tìm hiểu nhu cầu thị trường, từ đó doanh nghiệp xác định được loại sản
phẩm để tiến hành các hoạt dộng sản xuất kinh doanh sao cho vừa phù hợp với nhu
cầu của thị trường vừa phù hợp với khả năng kinh doanh của mình Khi doanh
nghiệp quyết định sản xuất, kinh doanh mặt hàng này có nghĩa là doanh nghiệp đã
bỏ qua cơ hội kinh doanh mặt hàng khác Do đó, doanh nghiệp phải chịu một chi
phí cơ hội Việc xác định được sản phẩm để sản xuất, kinh doanh phù hợp với nhu
cầu của thị trường và năng lực của doanh nghiệp sẽ tạo tiền đề cho doanh nghiêp
làm ăn có hiệu quả Ngược lại, nếu xác định sai thì sễ dẫn đến những hậu quả khôn
lường Do vậy, có thể nói việc xác định sản xuất cái gì ảnh hưởng quyết định đến
sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp
Để sản xuất ra một sản phẩm, có rất nhiều phương thức Tuỳ vào từng điều kiện cụ
Trang 4thể của từng doanh nghiệp về thị trường, vốn, lao động, kỹ thuật mà mỗi doanh
nghiệp phải lựa chọn cho mình một phương thức sản xuất sao cho phù hợp vơí
lượng chi phí nhỏ nhất mà thu được lợi nhuận cao nhất
Phải nói rằng, trong các khâu của quá trình tái sản xuất xã hội thì khâu phân phối,
tiêu thụ sản phẩm là khâu quan trọng nhất Doanh nghiệp muốn tiêu thụ được sản
phẩm của mình, điều quan trọng bậc nhất đó là doanh nghiệp phải sản xuất,cung
cấp sản phẩm sao cho phù hợp với nhu cầu của thị trường, phải xác định rõ ai là
khách hàng của mình Có xác định được đối tượng phục vụ của mình, doanh nghiệp
mới có thể áp dụng một cách có hiệu quả các công cụ như : quảng cáo, khuyến mãi,
tiếp thị nhằm đạt được doanh số và lợi nhuận mong muốn
Những vấn đề trên đây cho ta thấy, thị trường quyết định mọi hành vi của doanh
nghiệp Mọi quyết định của doanh nghiệp như : đưa ra một sản phẩm mới hay
ngừng kinh doanh sản phẩm cũ : đổi mới tài sản cố định, mở rộng quy mô sản xuất
hay thu hẹp quy mô sản xuất : xâm nhập thị trường mới hay rút lui khỏi thi trường
cũ đều có ý nghĩa sống còn đối với doanh nghiệp Một quyết định đúng sẽ giúp
doanh nghiệp tồn tai và phát triển, một quyết định sai có thể dẫn đến sự thất bại của
doanh nghiệp, thậm chí dẫn đến sự phá sản của doanh nghiệp
2 Tầm quan trọng của vốn đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp
Để tiến hành sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp trước hết phải có vốn Vốn là điều
kiện cần thiết để doanh nghiệp tiến hành sản xuất kinh doanh Vậy vốn là gì ? Vai
trò của nó như thế nào đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp ?
2.1 Khái niệm và phân loại vốn
a Khái niệm
Vốn có vai trò hết sức quan trọng đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp nói
riêng và một nền kinh tế nói chung Do vậy, từ trước tới nay, có rất nhiều quan
niệm về vốn Do mỗi người ở một hoàn cảnh kinh tế khác nhau cũng như góc độ
khác nhau mà có những quan điểm khác nhau về vốn
Trang 5Theo quan điểm của Mác, dưới góc độ các yếu tố sản xuất, Mác cho rằng : Vốn ( tư
bản ) là giá trị đem lại giá trị thặng dư, là một đầu vào của quá trình sản xuất Định
nghĩa của Mác về vốn có một tầm khái quát lớn vì nó bao hàm đầy đủ bản chất và
vai trò của vốn Bản chất của vốn là giá trị, mặc dù nó được thể hiện ở dưới nhiều
hình thức khác nhau : tài sản cố định, nguyên vật liệu, tiền công, nhà cửa Tuy
nhiên, do hạn chế về trình độ phát triển của nền kinh tế , Mác đã chỉ bó hẹp khái
niệm về vốn trong khu vực sản xuất vật chất và cho rằng chỉ có quá trình sản xuất
mới tạo ra giá trị thặng dư cho nền kinh tế Đây chính là một hạn chế trong quan
niệm về vốn của Mác
David Begg, trong cuốn " Kinh tế học " của mình, ông đã đưa ra hai định nghĩa là :
Vốn hiện vật và vốn tài chính của doanh nghiệp Vốn hiện vật là dự trữ các hàng
hoá đã sản xuất ra để sản xuất các hàng hoá khác Vốn tài chính là các giấy tờ có
giá và tiền mặt của doanh nghiệp
Như vậy, David Begg đã đồng nhất vốn với tài sản của doanh nghiệp Thực chất
vốn của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của tất cả các loại tài sản của doanh
nghiệp dùng trong sản xuất kinh doanh Vốn của doanh nghiệp được phản ánh ở
bên phải bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp Nó phản ánh cơ cấu và nguồn tài
chính hình thành vốn của doanh nghiệp Còn tài sản phản ánh mục đích cụ thể của
việc sử dụng vốn trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Dù doanh
nghiệp hoạt động trong bất cứ lĩnh vực nào cũng cần có một lượng vốn nhất định
Lượng vốn đó dùng để thực hiện các khoản đầu tư cần thiết như chi phí thành lập
doanh nghiệp, chi phí mua sắm tài sản cố định, sở hữu công nghiệp, chi mua sắm
nguyên vật liệu, trả tiền công đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp được diễn ra liên tục Như vậy, vốn đưa vào sản xuất kinnh doanh có
nhiều hình thái vật chất khác nhau để từ đó tạo ra sản phẩm, dịch vụ phục vụ nhu
cầu thị trường Số tiền mà doanh nghiệp thu về sau khâu tiêu thụ sản phẩm,dịch vụ
phải bù đắp được các chi phí bỏ ra, đồng thời phải có lãi Lúc đó, giá trị tài sản của
chủ sở hữu được tăng thêm Quá trình này diễn ra liên tục đảm bảo cho sự tồn tại
Trang 6và phát triển của doanh nghiệp
Như vậy, vốn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là toàn bộ những giá trị
ứng ra ban đầu và trong các quá trình sản xuất kinh doanh tiếp theo của
+ Vốn do ngân sách nhà nước cấp : là vốn do Nhà nước cấp cho doanh nghiệp được
xác nhận trên cơ sở biên bản giao nhận vốn mà doanh nghiệp phải có trách nhiệm
bảo toàn và phát triển Vốn do Nhà nước cấp có hai loại là vốn cấp ban đầu và vốn
cấp bổ sung trong quá trình sản xuất kinh doanh Doanh nghiệp sử dụng vốn này
phải nộp ngân sách một tỷ lệ phần trăm nào đó trên vốn cấp, gọi là thu sử dụng vốn
ngân sách ( nhiều người quan niệm sai là thuế vốn )
+ Vốn tự bổ sung : là vốn nội bộ doanh nghiệp bao gồm vốn khấu hao cơ bản, lợi
nhuận để lại, vốn cổ phần
+ Vốn liên doanh, liên kết : là vốn do doanh nghiệp liên kết với các doanh nghiệp
khác trong nước và nước ngoài đóng góp để thực hiện quá trình sản xuất kinh
doanh
+ Vốn vay : gồm những khoản vốn vay từ ngân hàng, các tổ chức tín dụng, vay cán
bộ nhân viên trong doanh nghiệp, vay nước ngoài, phát hành trái phiếu
_ Xét theo tính chất sở hữu :
Đây là cách phân chia phổ biến nhất hiện nay Nguồn vốn được chia làm hai loại là
vốn chủ sở hữu và nợ phải trả của doanh nghiệp
+ Nợ của doanh nghiệp bao gồm nợ ngắn hạn và dài hạn
• Nợ ngắn hạn bao gồm các khoản tín dụng ngắn hạn ( các khoản nợ phải thanh
toán trong vòng một năm ) Các khoản tín dụng ngắn hạn bao gồm tín dụng
Trang 7thương mại và tín dụng ngân hàng
• Tín dụng thương mại : đây là một loại tín dụng thường được các doanh nghiệp
sử dụng, coi đó như là một nguồn vốn ngắn hạn Tín dụng thương mại được
phát sinh trong quan hệ mua bán chịu giữa các doanh nghiệp, mua bán trả góp
Tín dụng thương mại là phương thức tài trợ tiện lợi và linh hoạt trong kinh
doanh, ngoài ra nó còn tạo khả năng mở rộng quan hệ hợp tác kinh doanh một
cách lâu bền giữa các chủ thể kinh tế Tuy nhiên, do là nguồn vốn ngắn hạn nếu
sử dụng quá nhiều loại hình này cũng dễ gặp rủi ro ( rủi ro lãi suất, rủi ro thanh
toán )
• Tín dụng ngân hàng : đây là khoản vay tại ngân hàng thương mại Doanh nghiệp
có thể đáp ứng nhu cầu vốn nhanh chóng do ngân hàng tài trợ với thời hạn
tương đối ngắn ( từ vài ngày đến dưới một năm ) với số vốn nhất định nào đó
Thông thường doanh nghiệp vay ngắn hạn khi thiếu vốn lưu động
• Nợ dài hạn : bao gồm các khoản tín dụng dài hạn, vốn huy động được thông qua
phát hành trái phiếu công ty Nợ dài hạn thường dùng để tài trợ cho việc mua
sắm tài sản cố định Nợ dài hạn có mức rủi ro thấp hơn nợ ngắn hạn
• Vốn chủ sở hữu : là số vốn do ngân sách nhà nước cấp đối với các doanh nghiệp
nhà nước hoặc là số vốn đóng góp của các cổ đông đối với công ty cổ phần Vốn
chủ sở hữu là số vốn tài trợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh có thời hạn
không xác định và không bắt buộc phải trả lãi cho vốn cổ phần đã huy động
được khi doanh nghiẹp hoạt động chưa có lãi và doanh nghiệp có thể không trả
lãi cổ tức mà không bị các cổ đông kiện, thông qua phát hành cổ phiếu, lợi
nhuận giữ lại để tái đầu tư, vốn do nhà nước cấp, vốn do liên doanh, liên kết mà
có.Vốn chủ sở hữu là số vốn tài trợ cho phần lớn TSCĐ của doanh nghiệp, vì
vậy, sự biến động tăng hoặc giảm của vốn chủ sở hữu cũng sẽ ảnh hưởng đến
quy mô về hoạt động sản xuất kinh doanh, quy mô về tổ chức của doanh nghiệp
Sau mỗi chu kỳ SXKD, doanh nghiệp cần phải tiến hành đánh giá, phân tích vốn
chủ sở hữu của mình về các mặt
Trang 8_ Xét theo cơ cấu vốn kinh doanh của doanh nghiệp
Vốn kinh doanh của doanh nghiệp được đầu tư vào hai loại tài sản là tài sản cố định
(TSCĐ ) và tài sản lưu động ( TSLĐ ), tương ứng với nó người ta phân chia vốn
của doanh nghiệp thành vốn cố định và vốn lưu động
+ Vốn cố định của doanh nghiệp là một khoản tiền đầu tư vào việc mua sắm, xây
dựng tài sản cố định Tài sản cố định có thời gian hoạt động dài ( trên một năm ) và
có giá trị lớn, do vậy nó được phân bổ dần vào vào chi phí sản xuất của nhiều kỳ
sản xuất Chính vì lẽ đó, vốn cố định cũng có những đặc điểm là luân chuỷên dần
dần từng phần trong nhiều chu kỳ sản xuất và hoàn thành sau một vòng tuần hoàn
khi tài sản cố định hết thời gian sử dụng
Vốn cố định là một bộ phận hết sức quan trọng trong tổng vốn đầu tư và vốn sản
xuất của doanh nghiệp Quy mô vốn cố định, trình dộ quản lý vốn cố định là hai
nhân tố ảnh hưởng quyết định đến trình độ trang thiết bị kỹ thuật sản xuất kinh
doanh Không những thế nó còn ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp, nếu quy mô vốn cố định lớn thì doanh nghiệp sẽ có chi
phí sản xuất kinh doanh lớn, ảnh hưởng tới lợi nhuận của doanh nghiệp Nếu quy
mô vốn cố định nhỏ, thì sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp sẽ không đáp ứng
được nhu cầu của thị trường dẫn đến doanh lợi thu về không lớn Do vị trí then chốt
và đặc điểm vận động của nó lại tuân theo quy luật riêng, việc quản lý vốn cố định
được coi là một trọng điểm trong hoạt động tài chính của doanh nghiệp
+ Vốn lưu động của doanh nghiệp là số tiền ứng trước hay đầu tư vào tài sản lưu
động nhằm đảm bảo cho quá trình tái sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được
diễn ra thường xuyên, liên tục Vốn lưu động dịch chuyển toàn bộ giá trị ngay một
lần, tuần hoàn liên tục và hoàn thành một vòng tuần hoàn sau một chu kỳ sản xuất
Tài sản lưu động là một yếu tố cần thiết để tiến hành sản xuất kinh doanh, do đó,
vốn lưu động là điều kiện vật chất không thể thiếu được của quá trình tái sản xuất,
nó là công cụ phản ánh và đánh giá quá trình vận động của tài sản lưu động mà cụ
thể là : quá trình vận động của vật tư, hàng hoá, nguyên vật liệu dự trữ trong suốt
Trang 9quá trình sản xuất và tiêu thụ của doanh nghiệp
• Chiếm dụng vốn trong kinh doanh : là những khoản tiền phát sinh trong quá
trinh hoạt động sản xuất kinh doanh
Nợ lương công nhân : công nhân tham gia và hoạt động sản xuất kinh doanh sẽ
được doanh nghiệp trả một khoản gọi là lương Về nguyên tắc làm ngày nào sẽ trả
lương ngày đó, nhưng trên thực tế các doanh nghiệp thường trả lương vào cuối kỳ (
tháng ) Vì vậy số tiền lương doanh nghiệp chưa phải trả trong kỳ là số vốn mà
doanh nghiệp đã chiếm dụng của công nhân
Ưu điểm : khi chiếm dụng vốn bằng cách nợ lương thì doanh nghiệp không phải trả
bất cứ một khoản chi phí nào
Nhược điểm : nếu thời gian doanh nghiệp chậm trả lương dài sẽ làm giảm tinh thần
làm việc của công nhân viên dẫn đến năng suất lao động giảm
- Phải trả người bán (tín dụng thương mại ): khi mua hàng hoá doanh nghiệp có thể
mua theo phương thức mua hàng trả chậm nghĩa là doanh nghiệp sẽ trả tiền sau một
thời gian Khoản tiền phải trả người bán nhưng chưa trả là số vốn đi chiếm dụng
của người khác Tín dụng thương mại là nguồn tài trợ ngắn hạn quan trọng đối với
hầu hết doanh nghiệp
Ưu điểm : doanh nghiệp sử dụng mà không phải trả lãi cho đến ngày thanh toán
Nhược điểm : thời gian sử dụng vốn bị hạn chế, khi dùng tín dụng thương mại
doanh nghiệp phải trả chi phí đó là chi phí mà doanh nghiệp không thanh toán
trong thời hạn được hưởng chiết khấu
_ Thuế trả chậm : các khoản thuế phát sinh cùng với hoạt động sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp Khi doanh nghiệp mở rộng hoặc thu hẹp quy mô sản xuất thì
lượng thuế phải nộp cũng thay đổi theo Đối với doanh nghiệp có rất nhiều loại
thuế phải nộp và thời gian nộp khác nhau khoảng thời gian mà doanh nghiệp chưa
nộp thuế chính là khoảng thời gian doanh nghiệp đi chiếm dụng vốn của nhà nước (
thuế )
Ưu điểm : doanh nghiệp sử dụng mà không phải trả lãi
Trang 10Nhược điểm : nếu doanh nghiệp trì hoãn việc nộp thuế quá lâu thì sẽ bị phạt
_ Huy động vốn bằng con đường đi vay : bên cạnh nguồn vốn chiếm dụng trong
kinh doanh thì doanh nghiệp có thể huy động thêm vốn bằng cách vay ngân hàng,
các tổ chức tín dụng, cán bộ công nhân viên hoặc phát hành trái phiếu
_ Vay ngân hàng và các tổ chức tín dụng : khi đi vay doanh nghiệp phải trả chi phí
về lãi vay tuỳ thuộc vào lãi suất áp dụng và các chi phí khác như thế chấp tài sản,
bảo lãnh được vay, hoặc các khoản ký quỹ ở mức tối thiểu do bên cho vay yêu cầu
để đảm bảo khả năng thanh khoản
Ưu điểm : không hạn chế về thời gian cũng như quy mô vay
Nhược điểm : số lượng vốn huy động bị hạn chế
2.2 Tầm quan trọng của vốn với hoạt động của doanh nghiệp
Để tiến hành được quá trình sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp phải có máy móc,
nhà xưởng, các trang thiết bị kỹ thuật ( TSCĐ) và các nguyên vật liệu, vật tư, nhân
công ( TSLĐ ) Đây chính là những dạng cụ thể của vốn kinh doanh sản xuất Như
vậy, vốn là điều kiện cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp Vốn là sự tiền đề cho sự ra đời của doanh nghiệp, là cơ sở để doanh nghiệp
mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh, tạo công ăn việc làm cho người lao động,
tiến hành đầu tư đổi mới công nghệ, trang thiết bị sản xuất kinh doanh, nếu thiếu
vốn thì quá trình sản xuất kinh doanh sẽ bị ngưng trệ, kéo theo hàng loạt các tác
động tiêu cực khác đến bản thân doanh nghiệp và đến đời sống người lao động
Để cho quá trình sản xuất kinh doanh được diễn ra liên tục có hiệu quả, trước tiên
doanh nghiệp phải có đủ vốn để đầu tư vào các giai đoạn khác nhau của quá trình
sản xuất kinh doanh Doanh nghiệp có đủ vốn thì mới làm ăn có hiệu quả, có làm
ăn hiệu quả doanh nghiệp mới bảo toàn và phát triển được vốn đầu tư, đảm bảo cho
doanh nghiệp thực hiện mở rộng đầu tư theo cả chiều sâu và chiều rộng
Khả năng về vốn của doanh nghiệp là yếu tố chủ yếu tác động tới trình độ trang
Trang 11thiết bị, cơ sở vật chất kỹ thuật, ứng dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật vào sản
xuất kinh doanh, quyết định khả năng đổi mới tài sản cố định, quy trình công nghệ,
phương pháp quản lý mới trong doanh nghiệp Theo đó, nó ảnh hưởng tới sự đổi
mới, nâng cao chất lượng, mẫu mã sản phẩm, tăng năng suất lao động
Vốn được sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp luôn phải
có sẵn trước khi hoạt động này phát sinh Đó chính là khoản vốn mà doanh nghiệp
phải ứng trước cho quá trình sản xuất kinh doanh Về nguyên tắc, sau một chu kỳ
sản xuất kinh doanh, vốn phải thu hồi để tiếp tục chu kỳ sản xuất kinh doanh khác,
nếu không thu hồi được vốn doanh nghiệp sẽ bị phá sản Chính vì vậy, doanh
nghiệp phải có các biện pháp quản lý vốn có hiệu quả, đảm bảo vốn đầu tư đúng
thời điểm, đúng chỗ cho sản xuất kinh doanh, đặc biệt doanh nghiệp phải luôn quan
tâm đến hiệu quả sử dụng vốn tại doanh nghiệp của mình Có làm được như vậy,
hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mới có lãi
II HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN CỦA DOANH NGHIỆP TRONG NỀN KINH
TẾ THỊ TRƯỜNG
1 Khái niệm và các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn trong nền kinh tế
thị trường
1.1 Khái niệm về hiệu quả sử dụng vốn
Mục tiêu cơ bản của hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiẹp trong nền
kinh tế thị trường là tối đa hoá giá trị tài sản của các chủ sở hữu Do đó, sử dụng
vốn một cách có hiệu quả có nghĩa là kinh doanh có hiệu quả, kinh doanh có lợi
nhuận và không ngừng làm gia tăng giá trị tài sản của chủ sở hữu
Lợi nhuận là một chỉ tiêu chất lượng để phản ánh hiệu quả sử dụng vốn của một
Trang 12doanh nghiệp Lợi nhuận cũng là mục đích cuối cùng của hoạt động kinh doanh
Lợi nhuận càng cao, doanh nghiệp càng tự khẳng định vị trí và sự tồn tại của mình
trong nền kinh tế thị trường do đó lợi nhuận là một chỉ tiêu quan trọng đánh giá
hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định Nhưng chỉ
thông qua số lợi nhuận mà doanh nghiệp thu được trong kỳ cao hay thấp để đánh
giá chất lượng hoạt động sản xuất kinh doanh tốt hay xấu thì có thể đưa chúng ta
tới những kết luận sai lầm
Một doanh nghiệp có thể trong ngắn hạn có thể tạm hy sinh lợi nhuận (chịu lỗ )
để có lợi nhuận trong dài hạn thì không thể bị coi là một doanh nghiệp hoạt động
kinh doanh kém hiệu quả.Để khắc phục, các nhà phân tích thường bổ sung thêm
những chỉ tiêu tương đối bằng cách đặt lợi nhuận trong mối quan hệ với doanh thu
đạt được trong kỳ, với tổng số vốn mà doanh nghiệp đã huy động vào sản xuất kinh
doanh hoặc bằng cách so sánh với kỳ trước, hoặc so sánh với các doannh nghiệp
cùng nghành, trong các điều kiện tương tự
Như vậy hiệu quả sử dụng vốn có thể được hiểu như sau :
_ Một là trong giới hạn về nguồn vốn của mình, doanh nghiệp phải thu được lợi
nhuận ( có kết quả thu được lớn hơn các khoản chi phí bỏ ra ban đầu )
- Hai là, ngoài khả năng của mình, doanh nghiệp phải năng động tìm nguồn tài trợ
để tăng số vốn hiện có nhằm không ngừng mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh,
đầu tư có chiều sâu để gia tăng lợi nhuận so với khả năng ban đầu
1.2 Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp
a Cơ cấu vốn
Vốn của doanh nghiệp được đầu tư vào hai loại tài sản là TSCĐ và TSLĐ Việc
thiết lập cơ cấu đầu tư vào hai loại tà sản này là rất cần thiết, có thiết lập được cơ
cấu tài sản hợp lý ( cơ cấu vốn ) thì hoạt động sản xuất kinh doanh mới đạt hiệu quả
cao
Trang 13Công thức trên đây cho ta rõ, một đồng vốn đầu tư của doanh nghiệp thì có bao
nhiêu đồng đầu tư vào tài sản cố định, bao nhiêu đồng đầu tư vào tài sản lưu động
Tuỳ theo đặc điểm ngành nghề sản xuất kinh doanh mà doanh nghiệp đầu tư doanh
nghiệp sẽ có tỷ trọng của từng loại tài sản thấp hay cao Song, bố trí cơ cấu càng
hợp lý bao nhiêu thì hiệu quả sử dụng vốn càng cao bấy nhiêu Nếu bố trí không
hợp lý, làm mất cân đối giữa tài sản cố định và tài sản lưu động thì sẽ gây lãng phí
vốn, làm tăng giá thành sản phẩm
b Kỳ thu tiền trung bình
Công thức xác định kỳ thu tiền trung bình
Các khoản phải thu
Kỳ thu tiền trung bình = -
Doanh thu bình quân ngày
Do có sự lệch pha giữa chu kỳ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp với chu kỳ
Trang 14sản xuất kinh doanh cả doanh nghiệp khác cho nên việc phát sinh các khoản phải
thu, phải trả là điều tất yếu Khi các khoản phải thu càng lớn, có nghĩa là vốn của
doanh nghiệp càng bị chiếm dụng Do vậy, doanh nghiệp mà cụ thể hơn là bộ phận
quản lý tài chính phải có các biện pháp hữu hiệu nhanh chóng giải quyết vốn ứ
đọng trong khâu thanh toán Cũng chính vì tính chất của các khoản phải thu mà các
nhà phân tích tài chính rất quan tâm tới thời gian thu hồi các khoản phải thu, cụ thể
là chỉ tiêu thời kỳ thu tiền bình quân, nếu kỳ thu tiền bình quân nhỏ ( ngắn ) có
nghiã là khả năng thu hồi vốn trong khâu thanh toán của doanh nghiệp là tốt Nếu
kỳ thu tiền bình quân lớn có nghĩa là khả năng thu hồi vốn trong khâu thanh toán là
chậm
c Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cố định
Kết quả sản xuất mà vốn cố định đem lại được biểu hiện dưới nhiều hình thái khác
nhau như doanh thu, lợi nhuận, mức hạ giá thành Dưới đây là một số chỉ tiêu phản
ánh hiệu quả sử dụng vốn cố định chủ yếu
- Hiệu quả sử dụng vốn cố định : chỉ tiêu này cho biết một đồng vốn cố định sử
dụng trong kỳ tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu nói chung chỉ tiêu này càng cao
càng tốt
Lưu ý : do vốn cố định luân chuyển chậm trong nhiều kỳ sản xuất kinh doanh khác
nhau nên khi sử dụng để so sánh giữa các kỳ kinh doanh khác nhau thì cần phải loại
bỏ yếu tố trượt giá nếu có
Trang 15VCĐ đầu kỳ + VCĐ cuối kỳ
VCĐ sử dụng bình quân trong kỳ = _
2
_ Hàm lượng vốn cố định : chỉ tiêu này phản ánh số vốn cố định cần thiết để tạo ra
một đồng doanh thu trong kỳ Chỉ tiêu này nghịch đảo chỉ tiêu hiệu suất sử dụng
đầu tư vào quá trình sản xuất kinh doanh trong kỳ thì tạo ra bao nhiêu đồng lợi
nhuận Chỉ tiêu này càng cao càng tốt
Công thức tính :
Lợi nhuận sau thuế trong kỳ
Tỷ suất sinh lợi vốn cố định =
VCĐ sử dụng bình quân trong kỳ
Ngoài các chỉ tiêu tổng hợp trên, người ta còn sử dụng một số chỉ tiêu khác để phản
ánh sâu hơn về vốn cố định như : hệ số công suất của tài sản cố định ( so sánh công
suất thực tế với công suất thiết kế ), hệ số hao mòn tài sản cố định, hệ số này càng
thấp cho biết tỷ lệ vốn mà doanh nghiệp còn phải thu hồi để bảo toàn vốn nhỏ, song
Trang 16nó cũng chỉ ra rằng máy móc thiết bị của doanh nghiệp đã cũ kỹ cần phải thay mới
trong thời gian tới
Việc tính toán trên chỉ có ý nghĩa khi nó đan xen, bổ sung cho nhau, giúp người
quản lý đưa ra các biện pháp hữu hiệu để nâng cao hiệu suất sử dụng vốn, phù hợp
với loại hình và mục đích kinh doanh, cũng như các nguồn vốn mà doanh nghiệp
có thể huy động để tài trợ cho tài sản cố định
Ngoài ra, nếu chỉ xem xét các chỉ tiêu trên trong một thời kỳ thì chưa kết luận được
doanh nghiệp đó đã sử dụng vốn có hiệu quả hay chưa Do vậy người ta thường so
sánh các chỉ tiêu trên đó với các thời kỳ khác nhau để xem xét sự biến động đó là
tích cực, so sánh chỉ tiêu đó với chỉ tiêu trung bình của ngành để từ đó rút ra những
cái được và chưa được đồng thời có các biện pháp thích hợp để phát huy cái được,
khắc phục cái chưa được
d Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động
- Mức doanh lợi của vốn lưu động : chỉ tiêu này cho biết một đồng vốn lưu động
sử dụng bình quân trong kỳ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận
- Công thức tính :
Lợi nhuận sau thuế trong kỳ
Mứcdoanh lợi của vốn lưu động = _
Vốn lưu động sử dụng bình quân trong kỳ
Chỉ tiêu này càng cao càng tốt Nó phản ánh lượng sử dụng vốn trong doanh
nghiệp
Chú ý :
VLĐ sử dụng bình quân trong kỳ = (VLĐ đầu kỳ + VLĐ cuối kỳ ) /2
Trang 17- Hệ số đảm nhiệm của vốn lưu động : chỉ tiêu này cho biết để tạo ra một đồng
doanh thu cần bao nhiêu đồng vốn lưu dộng
- Công thức tính :
VLĐ bình quân trong kỳ
Hệ số đảm nhận vốn lưu động =
Doanh thu thuần
Chỉ tiêu này càng nhỏ thì hiệu quả sử dụng vốn lưu động càng cao, số vốn được tiết
kiệm càng nhiều
Tốc độ luân chuyển của vốn lưu động :
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, vốn lưu động vận động không ngừng qua các
giai đoạn khác nhau của quá trình tái sản xuất Đẩy nhanh tốc độ luân chuyển vốn
sẽ góp phần giải quyết nhu cầu vốn, tăng doanh thu và lợi nhuận, nâng cao hiệu quả
sử dụng vốn trong doanh nghiệp Chỉ tiêu này nói lên tình hình quản lý các khoản
tiền mặt, phải thu và dự trữ có hợp lý không Qua đó cho biết khả năng thanh toán
tốt hay xấu, các chi phí trong kinh doanh cao hay thấp, tiết kiệm hay lãng phí vốn
Việc phân tích chỉ tiêu này có thể đưa ra các chỉ dẫn cho doanh nghiệp ra các quyết
định đúng đắn để tăng cường công tác kinh doanh và sử dụng tiết kiệm vốn lưu
động
e Chỉ tiêu tốc độ lưu chuyển vốn lưu động bao gồm hai hình thức sau :
Số vòng quay của vốn lưu động :
Công thức tính :
Doanh thu thuần trong kỳ
Số vòng quay của vốn lưu động =
VLĐ sử dụng bình quân trong kỳ
Chỉ tiêu này phản ánh trong một kỳ sản xuất kinh doanh vốn lưu động quay được
bao nhiêu vòng Nếu số vốn quay lớn chứng tỏ vốn lưu động luân chuyển nhanh,
Trang 18hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đạt hiệu quả và ngược lại
- Thời gian của một vòng luân chuyển :
- Công thức tính :
360 ngày
Thời gian một vòng luân chuyển =
Số vòng luân chuyển VLĐ ( một năm )
Chỉ tiêu này cho biết số ngày cần thiết để vốn lưu động quay được một vòng Thời
gian của một vòng luân chuyển càng nhỏ thì tốc độ luân chuyển vốn càng lớn và
ngược lại
Trên đây chỉ là mặt lượng của chỉ tiêu tốc độ luân chuyển vốn Còn về mặt chất, nó
phản ánh sự phát triển của trình độ sản xuất kinh doanh, công tác quản lý, kế hoạch
hoá và tình hình tài chính của doanh nghiệp Vòng quay vốn lớn trong điều kiện
không có sự gia tăng đột biến về vốn chứng tỏ hàng hoá mà doanh nghiệp sản xuất
kinh doanh có sự tiêu thụ mạnh, doanh thu cao dẫn đến phần lợi nhuận tương ứng
cũng tăng mạnh Nếu không hoàn thành được một kỳ luân chuyển nghĩa là vốn lưu
động còn ứ đọng ở một khâu nào đó, cần phải có biện pháp thông kịp thời
Tốc độ luân chuyển vốn tăng cũng giúp doanh nghiệp tiết kiệm được vốn lưu động
trên hai mặt :
+ Tuyệt đối : phần vốn dư thừa có thể sử dụng vào mục đích khác
+ Tương đối : mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh ( tăng doanh thu ) mà không
hoặc tăng ít vốn
Tăng tốc độ luân chuyển vốn cũng góp phần hạ thấp giá thành hoặc phí lưu thông,
tăng tích luỹ
Ngoài những chỉ tiêu trên người ta còn có thể đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu
động thông qua đánh giá tình hình cụ thể của từng bộ phận cấu thành vốn lưu động
như : vòng quay hàng tồn kho, kỳ thu tiền bình quân, qua đó cân nhắc và tìm biện
pháp thích hợp để tính toán hiệu quả sử dụng vốn lưu động
Trang 191.3 Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp
Hoạt động của doanh nghiệp là hoạt động kinh tế nhằm mang lại lợi nhuận thông
qua sản xuất kinh doanh, thành bại của một doanh nghiệp phụ thuộc vào nhiều yếu
tố trong đó quan trọng nhất là ba yếu tố Vốn sản xuất kinh doanh gồm cả khả năng
cung ứng tích luỹ, tích tụ, đổi mới sử dụng vốn, trình độ quản lý và thị trường
Kinh doanh hiện đại ngày nay là sự tập hợp cả ba thế lực : Nhà kinh doanh, bạn
hàng _ khách hàng và các nhà khoa học gồm cả nhà làm luật về kinh doanh Một
giáo sư trường đại học HAVƠTS cho rằng xí nghiệp vừa là người bán vừa là người
mua Khi mua, họ bị giới hạn bởi nguồn lực tài chính Nguồn lực tài chính bao giờ
cũng có giới hạn, do vậy vấn đề cốt tử là làm sao sử dụng nguồn lực hiệu quả chứ
không phải đòi thêm nguồn lực Khi bán ra họ bị giới hạn bởi nhu cầu sức mua, thị
hiếu Do vậy hàng họ không bán được, khó bán, khó có khả năng tái tạo nguồn tài
chính ban đầu Do vậy doanh nghiệp là hoạt động tạo ra nguồn tài chính, tái tạo lại
ra nguồn tài chính là hoạt động quan trọng nhất, đó là nguyên tắc
Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh là một trong những nguyên nhân trực tiếp ảnh
hưởng đến lợi nhuận, đến quyền lợi, đến mục đích cao nhất của doanh nghiệp
Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cũng có nghĩa là nâng cao lợi nhuận, chẳng có một
lý do nào để doanh nghiệp có thể từ chối việc làm đó Như vậy ta có thể nhận thấy
nâng cao hiệu quả sử dụng vốn sản xuất kinh doanh là một việc làm thiết yếu của
bất kỳ một doanh nghiệp nào, người ta không thể từ chối thu một khoản lợi nhuận
hay doanh thu nhiều hơn trên một đồng vốn bỏ ra mà ngược lại họ muốn thu nhiều,
ngày càng nhiều từ việc bỏ ra một lượng vốn của mình hay với cùng một lượng vốn
thu về từ hoạt động sản xuất kinh doanh như năm trước nhưng năm nay doanh
nghiệp phải bỏ ra cho nó một lượng chi phí ít hơn Có thể tổng quát một số lý do cơ
bản, cụ thể làm nên sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn sản xuất kinh
Trang 20doanh của doanh nghiệp như sau :
* Do sự tác động của cơ chế mới, cơ chế thị trường có sự điều tiết của nhà nước
Kinh tế thị trường theo đuổi mục đích lớn và cốt yếu là lợi nhuận và lợi nhuận ngày
càng cao Tiền đề của quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh trong các doanh
nghiệp là vốn, đồng vốn sản xuất kinh doanh phải có khả năng sinh lời mới là vấn
đề cốt lõi liên quan trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp bởi thiếu
vốn thì mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp sẽ bị chết, bị ngưng
trệ bởi bây giờ không còn có sự cứu trợ của ngân sách nhà nước
* Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn sản xuất kinh doanh có ý nghĩa hết sức quan
trọng đối với quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Giờ đây,
người định đoạt số phận của doanh nghiệp chính là thị trường mà không phải là ai
khác, song nhà nước cũng có vai trò nhất định của nó Nếu sử dụng đồng vốn hiệu
quả thì việc áp dụng nhu cầu thị trường là điều không khó khăn đối với doanh
nghiệp nữa
* Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cũng là một nội dung cạnh tranh giữa các doanh
nghiệp, trong giai đoạn cạnh tranh gay gắt hiện nay thì điều này càng được khăng
định chắc chắn hơn doanh nghiệp muốn tồn tai và phát triển thì điều kiện tiên
quyết không thể thiếu được là doanh nghiệp phải xem xét vấn đề chất lượng sản
phẩm, mẫu mã sản phẩm và quan tâm đến hiệu quả sản xuất kinh doanh, vấn đề này
quyết định lớn đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
• Tình hình chung trong các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh ở nước
ta thì hiệu quả sử dụng vốn sản xuất kinh doanh còn chưa cao, thậm chí ngày
càng giảm Năm 1995, một đồng vốn của nhà nước tạo ra được 3.46 đồng doanh
thu và 0.19 đồng lợi nhuận, đến năm 1998 các tỷ lệ tương ứng chỉ là 2.9 và 0.14,
số doanh nghiệp làm ăn thua lỗ là 17 % , số doanh nghiệp làm ăn thực sự có
hiệu quả chỉ chiếm khoảng 21 % tổng số doanh nghiệp Do đó nâng cao hiệu
quả sử dụng vốn sản xuất kinh doanh là một yêu cầu chung đối với các doanh
nghiệp không riêng trong giai đoạn hiện nay Việc sử dụng vốn có hiệu quả trở
Trang 21thành một yêu cầu khách quan của cơ chế hạch toán đó là :kinh doanh tiết kiệm,
có hiệu quả trên cơ sở tự chủ về mặt tài chính
Tóm lại, việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn là một tất yếu trong cơ chế thị trường
cạnh tranh gay gắt Nó góp phần nâng cao khả năng hoạt động sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp, mở rộng quy mô hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp, tăng nhanh tốc độ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nhằm đem lại
cho doanh nghiệp lợi nhuận và lợi nhuận ngày càng cao, góp phần tăng trưởng kinh
tế xã hội
2 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn
Để đạt được kết quả cao nhất trong hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung, trong
sử dụng vốn noí riêng , các doanh nghiệp phải xác định phương hướng, mục tiêu rõ
ràng trong sử dụng vốn cũng như các nguồn tài vật lực sẵn có Muốn vậy, các
doanh nghiệp cần phải nắm bắt được các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả kinh
doanh, hiệu quả sử dụng vốn về cả xu hướng và mức độ tác động của nó
Có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn Chúng ta lần lượt xem xét
sự tác động của từng nhóm nhân tố khách quan và chủ quan
2.1.Những nhân tố khách quan
a Chính sách kinh tế của Đảng và Nhà nước
Nhà nước quản lý vĩ mô nền kinh tế bằng pháp luật và các chính sách kinh tế vĩ
mô Do vậy, bất cứ doanh nghiệp nào cũng phải tiến hành sản xuất kinh doanh trên
cơ sở pháp luật và các chính sách kinh tế vĩ mô hiện hành của Nhà nước Với bất
cứ một sự thay đổi nhỏ nào trong chế độ chính sách hiện hành đều trực tiếp hoặc
gián tiếp chi phối các mảng hoạt động của doanh nghiệp Chẳng hạn như Nhà nước
tăng thuế thu nhập doanh nghiệp, điều này trực tiếp làm suy giảm lợi nhuận sau
thuế của doanh nghiệp Nhà nước tăng thuế giá trị gia tăng lên sản phẩm của doanh
Trang 22nghiệp sẽ gián tiếp làm giảm doanh thu thuần của doanh nghiệp ( VAT tăng làm
sức mua của người dân giảm ) Đối với hiệu quả sử dụng vốn tài sản cố định doanh
nghiệp thì các văn bản pháp luật về tài chính, kế toán thống kê, về quy chế đầu tư
gây ảnh hưởng trong suốt quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhất là
các quy định về trích khấu hao, về tỷ lệ trích lập các quỹ, về thuế
b Thị trường cạnh tranh
Các yếu tố thị trường tác động không nhỏ tới hiệu quả sử dụng vốn của doanh
nghiệp Giả sử như lãi xuất của thị trường, khi lãi xuất này tăng sẽ làm cho chi phí
lãi vay tăng từ đó làm giảm lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp, ngược lại, nếu nó
giảm sẽ làm cho chi phí lãi vay giảm từ đó làm tăng lợi nhuận của doanh nghiệp
Nhu cầu của thị trường về sản phẩm kinh doanh của doanh nghiệp có ảnh hưởng
trực tiếp tới doanh thu của doanh nghiệp, nếu nhu cầu tăng thi doanh thu sẽ tăng,
nếu nhu cầu giảm thì doanh thu của doanh nghiệp sẽ giảm
Canh tranh là xu hướng tất yếu của nền kinh tế thị trường do vậy doanh nghiệp phải
không ngừng nâng cao chất lượng, hạ giá thành sản phẩm có như vậy doanh nghiệp
mới có thể thắng trong cạnh tranh, bảo vệ và mở rộng thị trường, nhất là các doanh
nghiệp hoạt động trong lĩnh vực có môi trường cạnh tranh cao, tốc độ thay đổi công
nghệ lớn như ngành viễn thông, tin học, điện tử
c. Các nhân tố khác
Ngoài các nhân tố khách quan nói trên, còn rất nhiều nhân tố chủ quan do chính
bản thân doanh nghiệp tạo nên gây ảnh hưởng lớn tới hiệu quả sử dụng vốn Nhân
tố này gồm nhiều yếu tố tác động trực tiếp đến kết quả cuối cùng của hoạt động
kinh doanh cả về trước mắt cũng như lâu dài Bởi vậy, việc xem xét, đánh giá, ra
quyết định đối với các yếu tố này cực kỳ quan trọng Thông thường, trên góc độ
tổng quát, người ta thường xem xét các yếu tố chủ yếu sau :
* Sản phẩm mà doanh nghiệp tiến hành sản xuất kinh doanh : Vị thế của sản phẩm
Trang 23trên thị trường nghĩa là sản phẩm mang tính cạnh tranh hay độc quyền, được người
tiêu dùng ưa chuộng hay không, sản phẩm đã bước sang giai đoạn nào của chu kỳ
sống sẽ quýêt định tới lượng hàng hoá bán ra ( hiện vật ) và giá cả đơn vị sản phẩm
Chính vì ảnh hưởng tới lượng hàng hoá bán ra và giá cả của chúng mà sản phẩm
ảnh hưởng lớn tới doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp từ đó làm ảnh hưởng
tới hiệu quả sử dụng vốn Cũng chính vì sự ảnh hưởng đó của sản phẩm tới hiệu
quả sử dụng vốn, trước khi quyết định sản phẩm hay ngành nghề kinh doanh, doanh
nghiệp phải nghiên cứu kỹ nhu cầu của thị trường và chu kỳ sống của sản phẩm Có
như vậy, doanh nghiệp mới mong thu được lợi nhuận
* Yếu tố về vốn của doanh nghiệp : Việc quyết định nguồn tài trợ, phân bổ vốn
vào các loại tài sản và việc xác đinh nhu cầu vốn của doanh nghiệp có ảnh hưởng
lớn đến hiệu quả sử dụng vốn
+ Cơ cấu vốn : có ảnh hưởng lớn tới hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp vì
nó liên quan trực tiếp đến tính chi phí ( khấu hao vốn cố định, tốc độ luân chuyển
vốn lưu động ) Giải quyết tốt vấn đề cơ cấu vốn hợp lý chính là thực hiện tốt các
mặt
@ Đảm bảo cân đối giữa vốn cố định và vốn lưu động trong tổng vốn kinh doanh
của doanh nghiệp
@ Đảm bảo tỷ lệ thích hợp giữa vốn cố định tích cực ( vốn đầu tư vào tài sản cố
định trực tiếp tham gia vào sản xuất kinh doanh như : máy móc chế tạo, phương
tiện vận tải ) và vốn cố định không tích cực ( vốn đầu tư vào kho tàng, văn phòng )
@Đảm bảo tính đồng bộ giữa các công đoạn của quá trình sản xuất ( duy trì tỷ lệ
các loại máy móc phù hợp ) để phát huy tối đa hiệu quả công suất về thời gian và
số lượng
Tỷ trọng các loại vốn hợp lý sẽ thúc đẩy đồng vốn vận động nhanh giữa các công
đoạn của quá trình sản xuất kinh doanh, không bị ứ đọng hay sử dụng sai mục đích
+ Nhu cầu vốn : nhu cầu vốn của một doanh nghiệp tại bất cứ thời điểm nào cũng
Trang 24bằng chính tổng số tài sản mà doanh nghiệp cần phải có để đảm bảo cho hoạt động
kinh doanh Việc xác định nhu cầu vốn của doanh nghiệp là hết sức quan trọng Khi
doanh nghiệp xác định nhu cầu vốn không chính xác, nếu thiếu hụt sẽ gây hậu quả
gián đoạn hoạt động sản xuất kinh doanh, ảnh hưởng xấu tới tiến độ thực hiện hợp
đồng đã ký kết với các đối tác, làm mất uy tín của doanh nghiệp Ngược lại, xác
định vốn quá cao, vượt ra khỏi nhu cầu thực của doanh nghiệp sẽ gây lãng phí vốn
Trong cả hai trường hợp, doanh nghiệp đều sử dụng vốn không hiệu quả
Xác đinh nhu cầu vốn không chỉ là việc xác định tổng vốn cần thiết mà còn phải
xác định cụ thể số vốn đầu tư cho tài sản lưu động và nhu cầu vốn cho tài sản cố
định Làm tốt công việc này sẽ giúp doanh nghiệp tìm kiếm các nguồn tài trợ một
cách hợp lý (nguồn vốn ngắn hạn đầu tư cho TSLĐ, nguồn vốn trung và dài hạn
đầu tư cho TSCĐ và một phần TSLĐ thì càng tốt
+ Nguồn tài trợ : việc tìm kiếm và quyết định các nguồn tài trợ cho hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp sẽ ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng vốn Cụ thể đó là chi
phí vốn Vốn là một yếu tố sản xuất, doanh nghiệp muốn sử dụng nó phải bỏ ra một
chi phí nhất định Một cách khái quát, chi phí vốn được hiểu là chi phí phải trả cho
người sở hữu các nguồn vốn mà doanh nghiệp huy động được tính bằng số lợi
nhuận cần phải đạt được trên nguồn vốn này sao cho không làm thay đổi số lợi
nhuận dành cho cổ đông thường cũ ( hoặc vốn tự có ) của doanh nghiệp Nếu chi
phí vốn cao sẽ làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp, giảm hiệu quả sử dụng vốn
Như vậy, chi phí vốn là tất yếu phải có Mức độlớn hay nhỏ của chi phí vốn phụ
thuộc vào việc tìm kiếm và lựa chọn những nguồn tài trợ VLĐ của doanh nghiệp
được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau, gồm vốn tự có và vốn huy động ngoài
doanh nghiệp Nguồn vốn bên trong ( lợi nhuận không chia, các quỹ, dự trữ, vốn
góp )thì chi phí vốn được tính bằng chi phí cơ hội Nguồn tài trợ nội bộ có ưu điểm
là tạo cho doanh nghiệp khả năng độc lập về tài chính song quyền kiểm soát sẽ bị
pha loãng ( nếu phát hành cổ phiếu thường mới ) và chi phí vốn lớn hơn Sử dụng
các nguồn vốn bên ngoài ( chủ yếu là vốn vay ) phải trả chi phí vốn đó chính là lãi
Trang 25suất vay nợ Ưu điểm của nguồn vốn này là chi phí vốn của nó nhỏ, do chi phí trả
lãi của nợ vay được tính vào chi phí hợp lý hợp lệ để tính thuế thu nhập doanh
nghiệp, nên lãi sau thuế mà doanh nghiệp phải trả thấp hơn Người ta gọi đó chính
là tiết kiệm nhờ thuế và nó chính là đòn bảy tài chính đối với hoạt động sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp Tuy nhiên, nếu doanh nghiệp làm ăn yếu kém thì nó
sẽ tạo ra gánh nặng nợ nần cho doanh nghiệp
_ Mối quan hệ của doanh nghiệp : mối quan hệ của doanh nghiệp ở đây được xét
trên hai phương diện là quan hệ giữa doanh nghiệp vơí khách hàng và mối quan hệ
giữa doanh nghiệp với nhà cung cấp Điều này rất quan trọng bởi nó ảnh hưởng tới
nhịp độ sản xuất, khả năng phân phối sản phẩm, lượng hàng hoá tiêu thụ là những
vấn đề trực tiếp tác động tới lợi nhuận của doanh nghiệp Nếu doanh nghiệp có mối
quan hệ tốt với khách và các nhà cung cấp thì các quá trình sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp mới diễn ra liên tục, thường xuyên, sản phẩm làm ra mới tiêu thụ
được nhanh chóng Để có được mối quan hệ tốt với khách hàng và các nhà cung
cấp, doanh nghiệp phải có kế hoạch cụ thể để vừa duy trì mối quan hệ với các bạn
hàng lâu năm, vừa thiết lập được mối quan hệ với các bạn hàng mới Tuỳ thuộc vào
đặc điểm tình hình cụ thể của mình, mỗi doanh nghiệp có những biện pháp riêng
Nhưng chủ yếu là các biện pháp : đổi mới quy trình thanh toán sao cho tiện lợi, mở
rộng các mạng lưới bán hàng và thu mua nguyên vật liệu, áp dụng các biện pháp
kinh tế để tăng cường lượng hàng bán (đa dạng hoá sản phẩm, hàng đổi hàng, bán
hàng trả chậm, giảm giá
_ Trình độ cán bộ công nhân viên trong doanh nghiệp : nói chung yếu tố con người
là yếu tố quyết định trong việc đảm bảo sử dụng vốn có hiệu quả trong doanh
nghiệp
Công nhân sản xuất có tay nghề cao, có kinh nghiệm là việc, có khả năng tiếp thu
công nghệ mới, phát huy được tính sáng tạo trong công việc, có ý thức giữ gìn và
bảo quản tài sản trong quá trình lao động sản xuất mới tăng được năng suất lao
động, tiết kiệm trong sản xuất từ đó tăng hiệu quả sử dụng vốn
Trang 26Trình độ cán bộ quản lý cũng có ảnh hưởng không nhỏ tới hiệu quả sử dụng vốn
của doanh nghiệp Có quản lý về mặt nhân sự tốt mới đảm bảo có được một đội
ngũ lao động có năng lực thực hiện nhiệm vụ, sắp xếp lao động hợp lý thì mới
không bị lãng phí lao động Những điều này sẽ giúp doanh nghiệp nâng cao được
hiệu quả sử dụng vốn Trình độ quản lý về mặt tài chính là hết sức quan trọng, quy
trình hạch toán cua doanh nghiệp có phù hợp, số liệu kế toán có chính xác thì các
quyết định tài chính của người lãnh đạo doanh nghiệp mới có cơ sở khoa học
Ngoài ra, trong quá trình hoạt động, việc thu, chi phải rõ ràng, tiết kiệm, đúng việc,
đúng thời điểm thì mới có thể nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp
Trình độ quản lý còn thể hiện trên một số mặt cụ thể như : quản lý hàng tồn kho,
quản lý khâu sản xuất, quản lý khâu tiêu thụ, chỉ khi các công tác quản lý này được
thực hiện tốt thì hiệu quả sử dụng vốn mới được nâng cao rõ rệt
Trênđây là những nguyên nhân chủ yếu có ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến
hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp Tuỳ theo từng loại hình, lĩnh vực kinh
doanh cũng như môi trường hoạt động của từng doanh nghiệp mà mức độ và xu
hướng của chúng có thể khác nhau Chính vì lẽ đó, doanh nghiệp cần phải nghiên
cứu, phân tích từng nhân tố để có các giải pháp kịp thời, đồng bộ nhằm không
ngừng nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp
CHƯƠNG II : THỰC TRẠNG SỬ DỤNG VỐN TẠI CÔNG TY ĐẦU TƯ VÀ
PHÁT TRIỂN KỸ THUẬT VIỆT - Ý
I. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÔNG TY ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN KỸ THUẬT
VIỆT - Ý (DIATCO)
Trang 271.Sự ra đời của công ty:
Công ty đầu tư và phát triển kỹ thuật Việt –ý được thành lập ngày 28/08/1997 theo
quyết định thành lập công ty TNHH số 3188 GP- TLDN với số vốn điều lệ là một
tỷ đồng Việt Nam Ngành nghề kinh doanh chủ yếu sản xuất kinh doanh giấy và
các sản phẩm từ giấy , phục vụ vệ sinh và tiêu dùng trong đó mặt hàng chủ yếu là
băng vệ sinh phụ nữ mang nhãn hiệu Diana Đây là một công ty có tư cách pháp
nhân riêng, hạch toán kinh tế độc lập, có con dấu riêng và tài khoản riêng được mở
tại ngân hàng nông nghiệp
Địa điểm : 9 A Vĩnh Tuy- Hai Bà Trưng - Hà Nội
Để phát triển nền kinh tế, Đảng và Nhà nước đã đưa ra nhiều chính sách kinh tế
nhằm từng bước cải thiện môi trường kinh doanh, giúp các doanh nghiệp về vốn,
miễn giảm thuế, đặc biệt là những doanh nghiệp phát triển ở những vùng còn khó
khăn tạo điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả Nhà nước thực
hiện xoá bỏ cơ chế “ lãi Nhà nước thu, lỗ Nhà nước bù ” như trước đây nhằm phát
huy quyền tự chủ tài chính và tự chủ sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp
trong cơ chế quản lý mới Từ đó quyết định 217/HĐBT ra đời, các doanh nghiệp
được mở rộng quyền hạn của mình trong sản xuất kinh doanh Doanh nghiệp có
quyền tự bổ sung và sử dụng vốn một cách linh hoạt, được quyền tổ chức lao động
và lựa chọn phương án kinh doanh có hiệu quả, có lợi nhất cho mình, được sử dụng
các hình thức trả lương và các đòn bảy kinh tế, chủ động trong việc tiêu thụ sản
phẩm như : xác định giá cả mặt hàng, thị trường tiêu thụ, được quỳên ký kết các
hợp đồng liên doanh , tuyển chọn lao động và chấm dứt các hợp đồng liên kết vốn,
hay nói cách khác, trong nền kinh tế thị trường doanh nghiệp là những đơn vị độc
lập tự chủ, tự lo vốn, vật tư, kỹ thuật để phục vụ sản xuất, chịu trách nhiệm về kết
quả của hoạt động sản xuất kinh doanh
Xuất phát từ việc trao quyền tự chủ về tài chính và tự chủ về sản xuất kinh
doanh,Công ty Đầu tư và phát triển kỹ thuật Việt _ ý với một dây chuyền công
Trang 28nghệ, máy móc, thiết bị hiên đại của Italia, nguyên vật liệu nhập ngoại cùng đội
ngũ kỹ sư, cán bộ kỹ thuật, cán bộ quản kinh doanh, đội ngũ công nhân lành nghề
2 Phạm vi hoạt động của công ty;
Công ty có một chi nhánh tại 817 Lê Hồng Phong nối dài - Quận I- Thành phố Hồ
Chí Minh
Tính đến thời điểm này, sản phẩm của công ty đã có mặt trên 64 tỉnh, thành phố
trong cả nước, bao gồm cả các vùng lân cận như ; Gia Lâm, Yên Viên, Hải Phòng,
Sơn tây, Nam Định, Thái Bình, Hải Dương đến các vùng cao, vùng sâu, vùng xa
như : Móng cái, Sơn La, Yên Bái, Lào Cai, Hà Giang , khu vực miền trung như
Vinh, Nghệ An, Hà Tĩnh, Huế, Đà Nẵng, Qui Nhơn, cho đến miền nam như thành
phố Hồ Chí Minh, Biên Hoà, Đồng Nai, Tuy Hoà và các sản phẩm của công ty
cũng đã có mặt tận địa đầu tổ quốc là Mũi Cà Mau
3 Đặc điểm về sản xuất kinh doanh
Công ty đầu tư và phát triển kỹ thuật Việt – ý là một công ty TNHH sản xuất kinh
doanh giấy và các sản phẩm từ giấy để phục vụ vệ sinh và tiêu dùng do vậy hoạt
động sản xuất và kinh doanh theo mô hình tập trung
II Tổ chức bộ máy lao động tại công ty :
Tổng số lao động tại công ty là 137 người trong đó lao động trực tiếp sản xuất là
92 người, chiếm 67,2% tổng số lao động của công ty, lao động gián tiếp 10 người,
khối văn phòng 35 người chiếm 25,5% tổng số lao động của công ty Công ty tổ
chức theo một cấp nên đứng đầu là Giám đốc Giám đốc là người chỉ đạo trực tiếp
các hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty giúp việc cho giám đốc là một trợ
lý giám đốc, ban tham mưu, các phòng ban chức năng
Có thể mô tả tổ chức quản lý của công ty qua sơ đồ sau :
GIÁM ĐỐC
Trang 29Giám đốc công ty là người đại diện hợp pháp của pháp nhân công ty trong quan
hệ sản xuất kinh doanh, chịu trách nhiệm trước nhà nước và pháp luật về mọi hoạt
động của công ty Giám đốc được toàn quyền tổ chức bộ máy của công ty sao cho
phù hợp với yêu cầu sản xuất kinh doanh trên nguyên tắc gọn nhẹ, có hiệu lực, có
quyền đưa ra các chỉ thị, quyết định, thông báo về các phương hướng, mục đích
hoạt dộng của công ty : có quyền bổ nhiệm hoặc miễn nhiệm các phó giám đốc
công ty, trưởng các phòng ban, chi nhánh, văn phòng đại diện
Phòng h nh
chính Phòng kế toán
Phòng kinh doanh
Phòng kỹ thuật Phòng quản lý v
bảo vệ kho
Trang 30-Phó giám đốc công ty là người giúp việc cho giám đốc điều hành công ty, có
trách nhiệm thực hiện phần việc được giám đốc uỷ quyền
-Trợ lý giám đốc là người tham mưu và trợ lý cho giám đốc có những quyết định
trong sản xuất kinh doanh, là người trung gian giữa giám đốc và các phòng ban, có
nhiệm vụ truyền đạt những đề bạt, ý kiến, kiến nghị của các phòng ban với giám
đốc
2 Phòng tổ chức nhân sự và quản lý hành chính
a- Chức năng :
Tham mưu cho giám dốc công ty có những quyết dịnh đúng về tổ chức bộ máy
điều hành và quản lý sản xuất, đồng thời tham mưu cho giám đốc về công tác tổ
chức,đào tạo, tuyển dụng và quản lý lao động, chính sách tiền lương, tiền thưởng
và các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm lao động cùng các chủ trương khảo sát với
tình hình thực tế của công ty sao cho phù hợp với chính sách của nhà nước, thực
hiện tốt công tác quản lý hành chính, thi đua, khen thưởng, kỷ luật
b- Nhiệm vụ
Phòng tổ chức nhân sự và quản lý hành chính có nhiệm vụ cụ thể sau:
-Nghiên cứu, đề xuất, tham mưu cho giám đốc về mô hình tổ chức của công ty sao
cho vừa gọn nhẹ, vừa có hiệu quả
-Nghiên cứu, soạn thảo các quy định nội bộ về tiêu chuẩn cán bộ bố trí trong dây
chuyền các phòng quản lý nghiệp vụ và tổ chức sản xuất cúa công ty
Trang 31-Nghiên cứu, xây dựng và thực hiện kế hoạch đào tạo, đề xuất về việc bố trí, tuyển
chọn, bồi dưỡng, đề đạt cán bộ, nhân viên trong toàn công ty ( két hợp với phòng
quản lý nghiệp vụ )
-Nghiên cứu chế độ, soạn thảo các quy dịnh nội bộ xây dựng kế hoạch lao động
và tiền lương, thực hiện các hình thức chia tiền, tiền thưởng và thuê mướn lao động
, bảo đảm thúc đẩy sản xuất kinh doanh đồng thời phát huy được người lao động
đặc thù có tay nghề cao để tăng năng suất lao động
- Đề xuất và theo dõi các hoạt động thi đua trong công ty để làm căn cứ
cho giám đốc công ty có quyết định khen thưởng, kỷ luật công nhân viên
- Nghiên cứu, xây dựng các định mức lao động, các định mức tiền lương để trả
lương cho người lao động, thống kê, theo dõi, báo cáo lao động tiền lương theo định
kỳ : kiểm tra, bồi dưỡng để thi tay nghề cho công nhân, thực hiện các công việc về
hành chính quản trị theo quy định trong công ty, đảm nhiệm công tác văn thư, đánh
máy, tiếp khách đến làm việc với công ty, chịu trách nhiệm về đièu kiện làm việc
của các phòng ban – các bộ phận trực thuộc công ty, ( trang thiết bị văn phòng )
-Tham mưu cho ban giám đốc công ty và trực tiếp tổ chức điều hành công tác an
ninh, chính trị nội bộ, an ninh kinh tế, trật tự an toàn công ty, công tác phòng cháy
chữa cháy, bảo hộ an toàn lao động và công tác bảo hiểm xã hội theo bộ luật lao
động
-Đảm bảo liên lạc giữa giám đốc công ty với các đơn vị trực thuộc và các tổ chức
bên ngoài có liên quan đến hoạt động của công ty : xây dựng và tổ chức thực hiện
chương trình làm việc của giám đốc và giúp giám đốc trong việc giao tiếp lễ tân
-Quản lý các khu tập thể là địa giới của công ty : thực hiện các nghi lễ trang trí
công ty trong cá ngày lễ, tết và theo yeu cầu của giấm đốc công ty, thực hiện công
tác bảo vệ môi trường và vệ sinh trong sản xuất, chế biến phục vụ khách và tổ chức
các biện pháp phòng bệnh, phòng dịch
3 Phòng kỹ thuật nghiệp vụ
Trang 32a - Chức năng:
Tham mưu cho giám đốc công ty về lĩnh vực đầu tư phát triển cơ sở vật chất, kỹ
thuật, điện nước, máy móc, thiết bị của công ty : thực hiẹn quản lý công tac vận
hành, duy tu, bảo dưỡng, sửa chữa trang thiết bị ở bộ phận sản xuất và toàn công ty
b - Nhiệm vụ
Xây dựng và đề xuất chính sách về đầu tư, liên doanh, liên kết, khai thác các nguồn
vốn đầu tư phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật của doanh nghiệp
- Giám sát và chịu trách nhiệm về chất lượng các công trình xây dựng cơ bản của
công ty : nghiên cứu và thực hiện các đề tài khoa học kỹ thuật, đề xuất và triển khai
ứng dụng các tiến bộ khoa học vào quá trình sản xuất kinh doanh, chịu trách nhiệm,
về an toàn thiết bị, nguồn điện, nguồn nước
- Phối hợp với phòng tổ chức nhân sự và quản lý hành chính tổ chức tốt công tác
đào tạo, thi tay nghề, nâng cao trình độ nghiệp vụ chuyên môn, kỹ thuật, ngoại ngữ
cho cán bộ công nhân viên đồng thời giám sát kiểm tra định kỳ, đột xuất ở các khâu
nghiệp vụ
- Lập kế hoạch và tổ chức thực hiện định kỳ duy tu và bảo dưỡng, sửa chữa trang
thiết bị ở các bộ phận trong toàn công ty kể cả hệ thống điện, nước đảm bảo phục
vụ cho sản xuất kinh doannh lien tục 24/ 24 giờ
- Trình giám đốc công ty về kế hoạch cải tạo, mở rộng, nang cấp, dổi mới thiết bị,
tổ chức và lên chương trình thực hiện việc sửa chữa lớn, nhỏ trong công ty theo
đúng quy định, đảm bảo chất lượng, chi tiét các hoá đơn mua bán thiết bị, công cụ,
dụng cụ, phụ gia phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh
Trang 334 Phòng quản lý và bảo vệ kho
a - Chức năng
Tham mưu cho giám đốc công ty trong công tác quản lý máy móc, thiết bị,
nguyên vật liệu, vật tư, kho hàng phục vụ cho sản xuất kinh doanh trong phạm vi
toàn công ty
b - Nhiệm vụ:
- Lập kế hoạch, bố trí thời gian, địa điểm, vị trí, công việc cho từng bộ phận khi
nhập nguyên vật liệu dùng cho sản xuất : theo dõi, thống kê, báo cáo danh mục,
chủng loại, số lượng, chất lượng nguyên vật liệu, bao bì, nhãn mác theo đúng quy
định
- Căn cứ vào tốc độ sản xuất để bố trí các ca kíp làm việc, tiến hành kiểm tra và
theo dõi hoạt động sản xuất theo từng công việc cụ thể : thực hiện thống kê, báo
cáo về tổng số thành phẩm hoàn thành nhập kho , số sản phẩm không đạt tiêu
chuẩn Quy định ngày công, giờ công và năng suất lao động cho từng đội, từng ca,
từng công nhân trong bộ phận sản xuất
- Nghiên cứu, soạn thảo các quy định, nội dung về sửa chữa tổng thành và chi tiết
cho tưng loại máy theo tháng – quý- năm:, tham mưu cho giám đốc xây dựng
các định mức nội bộ về mức tiêu thụ nguyên vật liệu, dầu mỡ, phụ gia cho từng dây
chuyền sản xuất
- Có trách nhiệm vận chuyển, bảo quản, cấp phát nguyên vật liệu hàng hoá một
cách hợp lý và khoa học theo quy đinh của ban giám đốc, đảm bảo an toàn phòng
cháy, chữa cháy an toàn và tiết kiệm
5.Phòng kinh doanh
Trang 34Sơ đồ các bộ phận phòng kinh doanh
Cơ cấu tổ chức của phòng kinh doanh bao gồm:
- Trưởng phòng: lãnh đạo chung
- Một phó phòng: trợ giúp trưởng phòng kinh doanh lãnh đạo chung, kiêm nghiệm
mảng Marketing của công ty và trực tiếp chỉ đạo phát triển thị trường
- Một cán bộ thống kê, theo dõi công nợ của các kênh phân phối trực thuộc công
ty, trực tiếp bố trí và điều hành phương tiện vận tải để lưu thông hàng hoá
- Hai cán bộ phụ trách kinh doanh tại các siêu thị
- Năm cán bộ quản lý và phụ trách các đại lý tại khu vực Hà Nội
- Một cán bộ xuất – nhập khẩu
- 18 nhân viên tiếp thị : giới thiệu, quảng cáo về vai trò, chức năng và chất lượng
của sản phẩm trong thị trường Hà Nội
- Tổ vận chuyển : 4 người
a - Chức năng
- Tham mưu, chủ chốt của công ty trong lĩnh vực quan hệ với các đối tác bên
ngoài
- Định hướng kế hoạch sản xuất kinh doanh, kế hoạch tiêu thụ sản phẩm, kế hoạch
thị trường thông qua công tác tiếp thị để lập kế hoạch xúc tiến thị trường, đồng thời
có chức năng tham mưu về định mức, đơn giá dự toán, các chương trình quảng cáo,
khuyến mãi
Trang 35CÁN BỘ PHỤ TRÁCH TỈNH A
CÁN BỘ PHỤ TRÁCH TỈNH B
CÁN
BỘ PHỤ TRÁCH TỈNH C
TỔ
TIẾP THỊ
TỔ VẬN CHUYỂN
BAN PHÁT TRIỂN THỊ
TRƯỜNG
TRƯỞNG PHÒNG
Trang 36- Lập kế hoach sản xuất kinh doanh của công ty từng tháng, từng quý và báo cáo
thực hiện đã đề ra, thông qua việc nghiên cứu sự cân đối giữa khối lượng sản phẩm
tiêu thụ với khả năng sản xuất của doanh nghiệp, đề xuất báo cáo giám đốc để dự
đoán được khả năng của doanh nghiệp trong việc thu hẹp hay mở rộng quy mô sản
xuất
- Đề xuất với giám đốc về các chương trình giá cả, chính sách tiêu thụ sản phẩm
như : sức hấp dẫn của sản phẩm đối với khách hàng, các chi phí về dịch vụ bán
hàng có liên quan đến các hình thức bán như : bán buôn, bán lẻ, bán chịu , giao
hàng tại nơi mua, bảo hành sản phẩm và các chi phí về chiêu hàng, phân phối
- Kiểm tra, phân tích, đánh giá được các nguồn tài chính, mức nợ và lợi nhuận của
khách hàng, từ đó tham mưu cho giám đốc ấn định mức tín dụng trong mua bán,
quản lý chặt chẽ công nợ của khách hàng, thực thi các biện pháp hữu hiệu để thu
hồi công nợ
- Lập kế hoạch, chương trình, đề xuất với giám đốc để nâng cao chất lượng, mẫu
mã, nhãn hiệu của sản phẩm trên thị trường, ngăn chặn sự thâm nhập thị trường của
các đối thủ cạnh tranh và giữ độc quyền lâu dài
- Củng cố các đại lý cũ,phát triển các lý mới trên cơ sở sàng lọc hệ thống đại lý cũ
để phát hiện trên thị trường các nhà phân phối có năng lực tại từng thời điểm cụ
thể
- Phó phòng kinh doanh được đề cử làm trưởng ban phát triển thị trường kết hợp
cùng các cán bộ phụ trách để lập các chương trình cho hoạt động sản xuất kinh
doanh của công ty
- Bộ phận tiếp thị có vai trò thúc đẩy hoạt động kinh doanh , giúp cho công ty thực
hiện tốt chính sách giá cả : sắp xếp lại sản xuất kinh doanh theo các hướng : triển
khai sản phẩm mới, sản phẩm mũi nhọn đủ sức cạnh tranh trên thị trường
6 Phòng kế toán : 7 người
a - Chức năng:
Trang 37Tham mưu cho giám đốc công ty xây dựng kế hoạch phát triển dài hạn, trung hạn,
ngắn hạn và các đề án sản xuất kinh doanh, huy động vốn, quản lý tài chính và tổ
chức hạch toán kinh tế trong toàn công ty
b - Nhiệm vụ :
- Thực hiện công tác quản lý tài chính của công ty, tổ chức mô hình hạch toán và
thực hiện toàn bộ công tác kế toán thống kê, thông tin kinh tế và hạch toán ở doanh
nghiệp
- Xây dựng các định mức chi phí phù hợp với điều kiện sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp theo từng thời điểm trên cơ sở quy định của pháp luật
- Tham mưu và tham gia điều hành việc sử dụng vốn trong sản xuất kinh doanh
theo phương án nhằm bảo toàn và phát triển vốn
- Tổng hợp toàn bộ số liệu, chứng từ thanh toán phân tích các chỉ tiêu kinh tế, tài
chính để phản ánh có hệ thống tình hình tài sản, vốn và sử dụng vốn, tình hình và
kết quả sản xuất của từng phân xưởng, của toàn công ty trong một thời kỳ nhất định
( tháng, quý, năm ), đề xuất các biện pháp nhằm thúc đẩy và tăng hiệu quả kinh
doanh
- Xây dựng quy trình và kiểm tra thực hiện việc luân chuyển chứng từ, tổ chức tốt
việc lưu trữ chứng từ theo quy định của tài chính
- Tổ chức thu nhập và sử lí kịp thời thông tin về tình hình thực hiện kế hoạch trong
doanh nghiệp, kiểm tra, giấm sát tính hợp lệ,hợp pháp của các hợp dồng kinh tế
các hợp đồng mua bán,
- Cùng các phòng kỹ thuật và phòng kinh doanh xây dựng chính sách khuyến mại
để thúc đẩy các kênh tiêu thụ sản phẩm
c - Các thành phần kế toán
- Bộ máy kế toán của công ty đầu tư và phát triển kỹ thuật Việt - ý hiện nay được
tổ chức theo hình thức bộ máy kế toán tập trung và tiến hành công tác kế toán theo
Trang 38hình thức chứng từ ghi sổ hàng tồn kho được hạch toán theo phương pháp kê khai
thường xuyên.Phòng kế toán gồm 7 người kiêm nhiều phần hành khác nhau
Sơ dồ tổ chức bộ máy kế toán của công ty đầu tư và phát triển kỹ thuật Việt - ý:
_ Kế toán trưởng là người tổ chức, kiểm tra công tác kế toán ở đơn vị, là người
giúp việc trong lĩnh vực chuyên môn kế toán,tài chính cho giám đốc nhằm thực
hiện hai chức năng cơ bản của kế toán là thông tin và kiểm tra hoạt động kinh
doanh, chịu trách nhiệm trước giám đốc về nghiệp vụ chuyên môn kế toán tài chính
của đơn vị, cụ thể là kế toán trưởng có trách nhiệm theo dõi tất cả các phần còn lại
như chi phí giá thành, xác định kết quả kinh doanh của công ty : tổ chức hệ thống
sổ kế toán thống nhất cho phù hợp với tình hình và điều kiện sản xuất kinh doanh,
lập báo cáo tài chính theo từng kỳ hạch toán
- Hai kế toán viên: kế toán công nợ nội bộ, theo dõi, tập hợp chi phí sản xuất và
tính giá thành:kết chuyển chi phí sản xuất vào giá thành sản phẩm và theo dõi tình
hình nhập -xuất - tồn kho thành phẩm; lập sổ theo dõi công nợ nội bộ và sổ theo dõi
bán hàng cho từng khách hàng có quan hệ làm ăn với công ty; hạch toán giá thành
BHXH,BHYT thanh tóan với người bán
Thủ quỹ Kế toán
tổng hợp