LỜI NÓI ĐẦU 1 CHƯƠNG 1 6 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO HỘ QUYỀN CHỐNG CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH ĐỐI VỚI QUYỀN SỞ HỮU CÔNGTHỰC TIỆN TẠI VIỆT NAM 27 2.1 Pháp luật về bảo hộ quyền chống cạn
Trang 1KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
-*** -KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP Chuyên ngành: Luật kinh doanh quốc tế
THỰC TRẠNG BẢO HỘ QUYỀN CHỐNG CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH ĐỐI VỚI QUYỀN
SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP TẠI VIỆT NAM
Họ và tên sinh viên: Diệp Phương Linh
Mã sinh viên: 0952020027 Lớp: Nhật Quản trị kinh doanh Khóa: 48
Người hướng dẫn khoa học: ThS Mai Minh Hương
Hà Nội, tháng 06 năm 2013
Trang 2LỜI NÓI ĐẦU 1 CHƯƠNG 1 6 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO HỘ QUYỀN CHỐNG CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH ĐỐI VỚI QUYỀN SỞ HỮU CÔNG
THỰC TIỆN TẠI VIỆT NAM 27
2.1 Pháp luật về bảo hộ quyền chống cạnh tranh không lành mạnh đối với quyền sở hữu công nghiệp tại Việt Nam 27
2.1.1 Quy định về các hành vi cạnh tranh không lành mạnh xâm phạm quyềnchống cạnh tranh không lành mạnh đối với quyền SHCN 27
2.1.2 Các chủ thể liên quan đến hoạt động bảo hộ quyền chống cạnh tranhkhông lành mạnh đối với quyền SHCN tại Việt Nam 30
2.1.3 Quy định về biện pháp bảo hộ quyền chống cạnh tranh không lành mạnhđối với quyền sở hữu công nghiệp 32
2.1.4 Đánh giá pháp luật về bảo hộ quyền chống cạnh tranh không lành mạnhđối với quyền sở hữu công nghiệp tại Việt Nam 36
Trang 3sở hữu công nghiệp 39
2.2.1 Thực trạng cạnh tranh không lành mạnh đối với quyền sở hữu côngnghiệp tại Việt Nam hiện nay 39
2.2.1.1 Thực trạng cạnh tranh không lành mạnh 39
2.2.2 Thực trạng hoạt động bảo hộ quyền chống cạnh tranh không lành mạnhđối với quyền sở hữu công nghiệp 46
CHƯƠNG 3: 57 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG BẢO HỘ QUYỀN CHỐNG CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH ĐỐI VỚI
QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP Ở VIỆT NAM 57
3.1 Xu hướng tất yếu của các hành vi cạnh tranh không lành mạnh đối với quyền SHCN trong thời gian tới và tầm quan trọng của yêu cầu bảo hộ 57
3.2 Một số giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động bảo hộ quyền chống cạnh tranh không lành mạnh đối với quyền sở hữu công nghiệp tại Việt Nam 59
3.2.1 Hoàn thiện pháp luật hiện hành về bảo hộ quyền chống cạnh tranh khônglành mạnh đối với quyền sở hữu công nghiệp 59
3.2.2 Giải pháp đối với chủ quyền sở hữu công nghiệp (các doanh nghiệp) 623.2.3 Giải pháp hoàn thiện hệ thống cơ quan thực thi 65
3.3 Một số giải pháp khác nhằm hoàn thiện hoạt động bảo hộ quyền chống cạnh tranh không lành mạnh đối với quyền sở hữu công nghiệp 75
KẾT LUẬN 79
Trang 4TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG 1
Bảng 2.1: Số đơn đăng ký SHCN nộp vào Cục SHTT một vài năm gần đây 47
Bảng 2.2: Số vụ vi phạm quyền SHCN do QLTT xử lý những năm gần đây 50
Duy trì tổ chức Hội chợ - triển lãm nhận diện hàng thật, phân biệt hàng
giả 77
Từ ngày 14/3/2013 đến 17/3/2013, tại Nhà Văn hóa Thanh Niên, Hội chợ Triển lãm với chủ đề “Nhận biết hàng thật, phân biệt hàng giả nhân kỷ niệm ngày Quyền người tiêu dùng thế giới 15/3” đã được Sở Công thương TP Hồ Chí Minh tổ chức nhằm hưởng ứng ngày Quyền người tiêu dùng thế giới 15/3/2013 Hội chợ triễn lãm là dịp để người tiêu dùng nhận biết các sản phẩm thật, giả cũng như là cơ hợi lớn để các doanh nghiệp tham gia giới thiệu sản phẩm, giúp người tiêu dùng nhận biết hàng thật, phân biệt hàng giả, nâng cao hiệu quả kinh doanh và thương hiệu trên thị trường Triển lãm cũng là hoạt động mang tính mở đầu cho nhiều biện pháp, chương trình tiếp theo nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng cho doanh nghiệp, tạo tiền đề cho việc xây dựng phương thức tiêu dùng thông minh cho người dân, đồng thời góp phần tích cực vào công tác bảo hộ quyền chống cạnh tranh không lành mạnh đối với quyền SHCN trên thị trường hiện nay Đây là sự kiện được tổ chức lần đầu tiên
-do Sở Công thương TP Hồ Chí Minh chủ trì kết hợp với Hội thảo thường niên Hưởng hưởng ứng Quyền người tiêu dùng thế giới lần thứ 3 diễn ra vào ngày 14/3/2013 Sự kiện này đã thu hút được rất nhiều sự quan tâm của người dân và nhận được nhiều phản hồi tích cực Các chuyên gia trong lĩnh vực SHTT cho rằng triển lãm này cần được tổ chức không những như một hoạt động thường niên mà cần diễn ra thường xuyên hơn nhằm nâng cao nhận thức của cộng đồng, người tiêu dùng và các doanh nghiệp về sự tầm quan trọng của việc bảo hộ quyền chống cạnh tranh
không lành mạnh đối với quyền SHCN 77 Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế mang đến cả nhưng cơ hội và thách thức do đất nước ta Một trong những thách thức mà chúng ta đang phải đối mặt là làm sao có thể hoàn thiện được hệ thống pháp luật và tăng cường các hoạt động bảo hộ quyền SHTT, trong đó có quyền chống cạnh tranh không lành mạnh đối với quyền SHCN Muốn vậy, trước hết cần có
sự nghiên cứu, tìm hiểu về thực trạng cạnh tranh không lành mạnh đối với quyền SHCN cũng như thực trạng bảo hộ quyền chống cạnh tranh không lành mạnh đối với quyền SHCN của các cơ quan thực thi quyền và
chủ sở hữu quyền 79
Do pháp luật về SHTT nói chung, về bảo hộ quyền chống cạnh tranh không lành mạnh đối với quyền SHCN nói riêng còn khá mới mẻ ở Việt Nam nên hệ thống các quy định pháp luật liên quan tới vấn đề này hiện
Trang 5dạng, nhiều quy định chồng chéo, phức tạp gây khó khăn cho việc thực thi bảo hộ quyền chống cạnh tranh không lành mạnh đối với quyền SHCN Vì vậy, sửa đổi, bổ sung hệ thống pháp luật về bảo hộ quyền chống cạnh tranh không lành mạnh đối với quyền SHCN sao cho vừa tương thích với các điều ước quốc tế vừa có tính áp dụng thực tiễn cao vẫn đang là bài toán khó đặt ra với đất nước ta trong hội nhập kinh tế 79
1 Nhĩ Anh, 2013, Gia tăng vi phạm sở hữu trí tuệ-Cần hoàn thiện hành lang pháp lý và sửađổi, bổ sung chế tài xử phạt, Báo Thời báo kinh tế Việt Nam, Số 57, tháng 4/2013, tr 6 80
2 Nguyễn Văn Bảy, 2011 , Bảo vệ và giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp 80
3 Trần Minh Dũng, 2010, Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ bằng biện pháp hành chính, Tạp chíKhoa học và Công nghệ, Số 80
4 Bộ công thương, 2012, Chỉ thị số 14/CT-BCT về thực hiện một số biện pháp nâng cao chất lượng hoạt động công vụ của công chức Quản lý thị trường 80
10 Bộ công thương, 2012, Chỉ thị số 14/CT-BCT về thực hiện một số biện pháp nâng cao chất lượng hoạt động công vụ của công chức Quản lý thị trường 81
16 Nguyễn Thanh Tâm, 2008, Về pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh và kiểm soát độc quyền liên quan tới quyền sở hữu công nghiệp ở nước ta, Tạp chí thương mại, Số
24 tháng 4/2008, tr 11 81
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Quyền SHCN Quyền sở hữu công nghiệp
Quyền SHTT Quyền sở hữu trí tuệ
Hiệp định TRIPS Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương
mại của quyền sở hữu trí tuệ
Cục SHTT Cục sở hữu trí tuệ
Cục QLTT Cục quản lý thị trường
WTO Tổ chức thương mại thế giới
WIPO Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới
Trang 6
LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Bảo vệ quyền chống cạnh tranh không lành mạnh đối với quyền sở hữu côngnghiệp đã và đang là một trong những vấn đề nhận được nhiều sự quan tâm trongđời sống kinh tế, xã hội Việt Nam những năm gần đây Tuy nhiên cùng với sự thayđổi phát triển của xã hội thì pháp luật về sở hữu trí tuệ (SHTT) nói chung và sở hữucông nghiệp nói riêng cũng đã có nhiều sửa đổi, bổ sung, mặt khác trong thực tế cònnhiều tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh chưa ý thức được vai trò và tầm quantrọng của việc bảo vệ quyền chống cạnh tranh không lành mạnh đối với quyềnSHCN, chưa có sự đầu tư đúng mức cho việc duy trì, phát triển và bảo vệ quyền lợicủa mình đối với các đối tượng SHCN nên trong thời gian qua các hành vi cạnhtranh không lành mạnh đối với quyền SHCN vẫn diễn ra phức tạp và chưa có sựgiải quyết triệt để Tình trạng này do nhiều nguyên nhân, trong đó phải kể đến việcban hành và thực thi pháp luật liên quan đến bảo hộ quyền chống cạnh tranh khônglành mạnh đối với quyền SHCN còn chậm và chưa đồng bộ, sự am hiểu của các cơquan bảo vệ pháp luật trong lĩnh vực này còn hạn chế
Có thể nói trong thời đại hội nhập kinh tế quốc tế ngày nay, quyền SHCNđóng vai trò ngày càng quan trọng trong nền kinh tế nói chung và hoạt động kinhdoanh nói riêng, thể hiện ở chỗ nó có thể mang lại những lợi thế và lợi ích kinh tếcho ngườ sở hữu, người sử dụng Với tầm quan trọng như vậy SHCN trở thành mộttài sản quan trọng và rất có giá trị của doanh nghiệp như thực tế đã cho thấy ví dụnhững thương hiệu Coca Cola, Pepsi được các chuyên gia đánh giá lên đến nhiều
tỷ đô la Chính vì có giá trị như vậy mà nhiều khi quyền này bị người khác cạnhtranh không lành mạnh dưới nhiều hình thức như chiếm đoạt, sử dụng trái phép, sảnxuất, buôn bán hàng giả Thực tiễn ở thị trường Việt Nam những năm gần đây chothấy tình trạng cạnh tranh không lành mạnh đối với quyền SHTT nói chung vàquyền SHCN nói riêng ngày càng diễn biến phức tạp cả về phạm vi, quy mô và mức
độ vi phạm, trở thành một trong những vấn đề bức xúc của toàn xã hội Nếu nhưtình trạng cạnh tranh không lành mạnh xâm phạm quyền SHCN còn tiếp diễn trướchết sẽ gây cản trở lớn cho sự phát triển, hội nhập của kinh tế nước nhà, làm suy
Trang 7giảm uy tín các doanh nghiệp và hơn hết còn gây ảnh hưởng lớn đến cuộc sống củangười tiêu dùng.
Nhằm hướng tới thiết lập và duy trì môi trường kinh doanh lành mạnh gópphần tăng cường thu hút đầu tư nước ngoài (FDI), thúc đẩy chuyển giao công nghệđang là nhiệm vụ cấp thiết đối với Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc
tế, đặc biệt là sau khi Việt Nam trở thành thành viên của WTO Muốn làm đượcđiều này đòi hỏi chúng ta phải quan tâm hơn nữa đến vấn đề bảo vệ quyền chốngcạnh tranh không lành mạnh nói chung và quyền chống cạnh tranh không lànhmạnh đối với quyền SHCN nói riêng Thực tế trong thời gian qua, luật pháp liênquan đến bảo hộ quyền chống cạnh tranh không lành mạnh đối với quyền SHCNngoài những kết quả ban đầu đạt được đáng ghi nhận thì bên cạnh đó còn tồn tạinhiều bất cập khiến áp dụng luật xử lý các vụ việc trong thực tiễn trở nên khó khăn,phức tạp
Vì vậy em chọn đề tài “Thực trạng bảo hộ quyền chống cạnh tranh không
lành mạnh đối với quyền sở hữu công nghiệp tại Việt Nam” Trong khuôn khổ
khóa luận tốt nghiệp, em muốn nghiên cứu một số vấn đề lý luận và thực trạng bảo
hộ quyền chống cạnh tranh không lành mạnh đối với quyền SHCN, từ đó đưa ramột số giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan cũng như để hoàn thiệncông tác bảo vệ quyền chống cạnh tranh không lành mạnh đối với quyền SHCNtrong thực tiễn hiện nay
2 Mục tiêu nghiên cứu
Qua việc nghiên cứu một số vấn đề lý luận và thực tiễn bảo hộ quyền chốngcạnh tranh không lành mạnh đối với quyền SHCN, khóa luận đề xuất một số giảipháp nhằm hoàn thiện hoạt động bảo hộ quyền chống cạnh tranh không lành mạnhđối với quyền quyền SHCN tại Việt Nam
Khóa luận xin góp phần làm rõ những vấn đề sau:
•Hệ thống hóa và làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản liên quan đến bảo hộquyền chống cạnh tranh không lành mạnh đối với quyền SHCN
•Phân tích quy định của pháp luật Việt Nam trong mối tương quan với cácĐiều ước quốc tế về bảo hộ quyền chống cạnh tranh không lành mạnh đối vớiquyền SHCN
•Phân tích thực trạng bảo hộ quyền chống cạnh tranh không lành mạnh đốivới quyền SHCN ở Việt Nam
Trang 8•Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động bảo hộ quyền chốngcạnh tranh không lành mạnh đối với quyền SHCN tại Việt Nam.
3.Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu như: phương phápphân tích, tổng hợp; phương pháp so sánh; phương pháp kết hợp nghiên cứu lý luận
và tổng kết thực tiễn; phương pháp thống kê Các phương pháp này được sử dụngtrong sự kết hợp chặt chẽ với nhau
4 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi về nội dung: Khóa luận được viết dựa trên cơ sở các văn bản pháp
luật Việt Nam và một số Công ước, Hiệp định mà Việt Nam là thành viên có liênquan đến vấn đề bảo hộ quyền SHTT nói chung và bảo hộ quyền chống cạnh tranhkhông lành mạnh đối với quyền SHCN nói riêng
Phạm vi về không gian: Khóa luận nghiên cứu về thực trạng hoạt động bảo hộquyền chống cạnh tranh không lành mạnh đối với quyền SHCN ở phạm vi tronglãnh thổ Việt Nam
Phạm vi về thời gian: Khóa luận nghiên cứu về thực trạng hoạt động bảo hộ
quyền chống cạnh tranh không lành mạnh đối với quyền SHCN trong phạm vi thờigian những năm gần đây (từ năm 2008 đến năm 2012)
5 Bố cục khóa luận
Ngoài Lời nói đầu và Kết luận, Khóa luận có bố cục gồm 3 chương
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về bảo hộ quyền chống cạnh tranh không lành mạnh đối với quyền sở hữu công nghiệp.
Chương 2: Bảo hộ quyền chống cạnh tranh không lành mạnh đối với quyền sở hữu công nghiệp: quy định pháp luật và thực tiễn tại Việt Nam.
Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng hoàn thiện hoạt động bảo hộ quyền chống cạnh tranh không lành mạnh đối với quyền sở hữu công nghiệp tại Việt Nam.
Để hoàn thành khóa luận, em đã cố gắng vận dụng các kiến thức đã được họctập trên lớp cũng như cố gắng tìm tòi tài liệu, thu thập thông tin từ nhiều nguồn vàtổng hợp thành bài viết Tuy nhiên, do còn chưa có hiểu biết thật sự đầy đủ về vấn
đề mình nghiên cứu, các kỹ năng viết bài còn chưa hoàn chỉnh nên khóa luận không
Trang 9thể tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế Em rất mong nhận được sự chỉ bảo của cácthầy cô trong Trường.
Em muốn gửi lời cảm ơn chân thành đến ThS Mai Minh Hương, người đãhướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ em rất nhiều trong suốt quá trình viết khóa luận Emcũng xin gửi lời cảm ơn đến các cán bộ Cục Quản lý thị trường, Cục Sở hữu trí tuệ
đã cung cấp cho em những tài liệu quý báu để em có thể hoàn thành khóa luận này
Trang 11MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO HỘ QUYỀN CHỐNG CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH ĐỐI VỚI QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP
1.1 Khái quát chung về bảo hộ quyền chống cạnh tranh không lành mạnh đối với quyền sở hữu công nghiệp
1.1.1 Khái niệm về bảo hộ quyền chống cạnh tranh không lành mạnh đối với quyền sở hữu công nghiệp
1.1.1.1 Khái quát về quyền sở hữu công nghiệp
Sở hữu trí tuệ đóng vai trò ngày càng quan trọng đối với sự phát triển kinh tế
-xã hội của các quốc gia và đang dần trở thành mối quan tâm chung của cả thế giới.Thế kỷ mới được nhìn nhận là giai đoạn bùng nổ của sáng tạo trí tuệ, là thời đạiđịnh hình và hoàn thiện của các nền kinh tế dựa trên tri thức, trong đó vấn đề sở hữutrí tuệ lại càng trở nên quan trọng Sở hữu trí tuệ có vai trò khuyến khích hoạt độngsáng tạo, nghiên cứu triển khai, thúc đẩy hoạt động thương mại, đầu tư và hoạt độngcạnh tranh lành mạnh trong nền kinh tế quốc gia và nền kinh tế toàn cầu Sở hữu trítuệ có thể được hiểu là việc sở hữu các tài sản trí tuệ – những kết quả từ hoạt động
tư duy, sáng tạo của con người Đối tượng của loại sở hữu này là các tài sản phi vậtchất nhưng có giá trị kinh tế, tinh thần to lớn góp phần quan trọng trong quá trìnhhình thành và phát triển nền văn minh, khoa học, công nghệ của nhân loại Đó làcác tác phẩm văn học, nghệ thuật, các công trình khoa học kỹ thuật ứng dụng cũngnhư các tên gọi, hình ảnh được sử dụng trong các hoạt động thương mại Quyền sởhữu trí tuệ (quyền SHTT) là quyền của cá nhân, pháp nhân đối với các sản phẩm trítuệ do con người sáng tạo Đó là độc quyền được công nhận cho một người, mộtnhóm người hoặc một tổ chức, cho phép họ được sử dụng hay khai thác các khíacạnh thương mại của một sản phẩm sáng tạo Thông thường, người sang tạo đượcđộc quyền sử dụng sáng tạo của mình trong một khoảng thời gian nhất định
Quyền SHTT được chia làm hai lĩnh vực chính là bản quyền và sở hữu côngnghiệp (SHCN) Nhìn chung, các quốc gia trên thế giới đều có một cách hiểu tươngđối thống nhất về sở hữu công nghiệp và quyền SHCN theo các Điều ước quốc tế,
đó là quyền của tác giả hoặc chủ sở hữu đối với các đối tượng của SHCN Không có
Trang 12một định nghĩa rõ ràng về sở hữu công nghiệp mà khái niệm sở hữu công nghiệpđược pháp luật các nước quy định thông qua liệt kê các đối tượng của quyền SHCN.Cách diễn đạt này tương đối thống nhất với Công ước Paris 1883.
Công ước Paris 1883 là một trong những công ước quan trọng nhất về sở hữucông nghiệp, được ký kết sớm nhất (ngày 20/3/1883 với sự tham gia của 11 nước).Công ước mang tính nền tảng cho sự ra đời của các điều ước quốc tế điều chỉnhviệc bảo hộ từng đối tượng riêng biệt (như thoả ước Madrid về đăng ký nhãn hiệuhàng hoá, Công ước Lahay về đăng ký kiểu dáng công nghiệp, Hiệp ước hợp táctrong lĩnh vực cung cấp văn bằng bảo hộ sáng chế… đều được ký kết trong khuônkhổ của công ước Paris) Theo Điều 1 Công ước này , các đối tượng bảo hộ SHCN
bao gồm “patent, mẫu hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hóa, nhãn
hiệu dịch vụ, tên thương mại, chỉ dẫn nguồn gốc hoặc tên gọi xuất xứ, và chống cạnh tranh không lành mạnh” Đây có thể xem là sự liệt kê tương đối đầy đủ, dựa
vào đó pháp luật các nước khác nhau quy định về SHCN và bảo hộ SHCN thốngnhất với nhau
Có một điều cần lưu ý đó là sở hữu công nghiệp chỉ được pháp luật thừa nhận
và bảo hộ là quyền SHCN khi đối tượng sở hữu công nghiệp có chủ (tác giả hoặcchủ sở hữu) và người chủ có đăng ký, được thừa nhận quyền lợi vật chất và tinhthần đối với đối tượng SHCN Quyền SHCN còn được hiểu dưới góc độ là quan hệpháp luật với đầy đủ các yếu tố hội tụ như chủ thể, khách thể, nội dung Chủ thể củaquyền SHCN là tất cả các cá nhân, tổ chức như tác giả hay chủ sở hữu các đốitượng SHCN hoặc tổ chức, cá nhân được chủ sở hữu chuyển giao quyền SHCN.Khách thể chính là các đối tượng SHCN như đã đề cập ở trên Nội dung của quyềnSHCN là tổng hợp các quyền và nghĩa vụ của các chủ thể quyền SHCN (PhùngTrung Tập, 2011, tr109, 110)
1.1.1.2 Khái quát về cạnh tranh không lành mạnh
Cạnh tranh luôn là động lực phát triển sản xuất hàng hóa, đồng thời cũng làđộng lực phát triển nền kinh tế của mỗi quốc gia Cạnh tranh công bằng và hợppháp có tác dụng tích cực làm cho chất lượng hàng hóa dịch vụ ngày càng tốt hơn,giá cả hàng hóa thấp hơn, có lợi cho người tiêu dùng, làm cho người dân tin vào thịtrường Nếu hàng hóa/ dịch vụ được sự tín nhiệm của khách hàng, các giao dịch
Trang 13thương mại nhờ đó sẽ gia tăng, qua đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Đồng thời cạnhtranh buộc các doanh nghiệp phải tự cải tổ để duy trì sự tồn tại của mình Quy luậtđào thải trong quá trình cạnh tranh tạo cơ hội cho các chủ thể kinh doanh mạnh và
có năng lực cạnh tranh cao có thể phát huy được khả năng của mình (Tăng VănNghĩa, 2009, tr.11, 12)
Tuy nhiên, cạnh tranh với bản chất là sự ganh đua giữa các chủ thể kinh doanhtrong việc giành ưu thế của mình trên thị trường để đạt được một mục tiêu nào đó
Để đạt được mục tiêu của mình, chủ thể tham gia cạnh tranh có khả năng sang tạorất nhiều cách thức ganh đua khác nhau, tạo ra tình trạng cạnh tranh ở những mức
độ khác nhau, thậm chí, xuất hiện cả những hành vi trái với các chuẩn mực đạo đứckinh doanh Cạnh tranh không lành mạnh, trước hết, là một khái niệm bắt nguồn từnhững quy định mang tính nguyên tắc trong pháp luật dân sự, theo đó, các chủ thểtrong giao dịch phải đảm bảo tôn trọng thuần phong, mỹ tục và đạo đức xã hội ởmỗi quốc gia Với những quy định như vậy, giao dịch thương mại trên thị trườngcũng phải đảm bảo tôn trọng những quy tắc trong xã hội về đạo đức kinh doanh Sựphát triển đa dạng của các quan hệ thương mại trong điều kiện tự do cạnh tranh ởcác nền kinh tế thị trường theo cơ chế đã kéo theo những hành vi đa dạng, phức tạpnhằm giành được lợi thế nhất định cho mình, thậm chí gây thiệt hại cho đối thủcạnh tranh khác Hành vi cạnh tranh không lành mạnh có thể hiểu là những hành vicạnh tranh của chủ thể tham gia thị trường vi phạm những chuẩn mực đạo đức kinhdoanh thông thường có thể gây thiệt hại về vật chất hoặc tinh thần cho chủ thể kinhdoanh khác và người tiêu dùng (Tăng Văn Nghĩa, 2009,tr.132) Nhìn chung, cạnhtranh không lành mạnh là những hành vi cạnh tranh đi ngược lại các nguyên tắc xãhội, tập quán và truyền thống kinh doanh, xâm phạm lợi ích của các chủ thể kinhdoanh khác, lợi ích của người tiêu dùng và lợi ích chung của xã hội (Đặng Vũ Huân,
Trang 14đảm bảo chế độ bảo hộ chống lại các hành vi kinh doanh không trung thực tronglĩnh vực sở hữu công nghiệp.
Công ước Paris đề cập tới việc ngăn chặn cạnh tranh không lành mạnh cùngvới sang chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hóa, tênthương mại, chỉ dẫn nguồn gốc và tên gọi xuất xứ hàng hóa trong số các đối tượngcủa bảo hộ sở hữu công nghiệp (Điều 1(2) Công ước Paris), và cũng đưa ra quyđịnh về ngăn cấm cạnh tranh không lành mạnh Tại hơn một trăm năm mươi quốcgia thành viên của công ước Paris, cơ sở pháp lý cho việc bảo hộ chống cạnh tranhkhông lành mạnh vì vậy không chỉ thấy trong luật pháp quốc gia mà còn ở mức độquốc tế
Công ước Paris định nghĩa cạnh tranh không lành mạnh là “bất cứ hành vi
nào trái với các hành vi trung thực trong lĩnh vực công nghiệp hoặc thương mại”
(Điều 10bis(2) Công ước Paris 1883) Định nghĩa bỏ ngỏ việc quyết định khái niệm
“thương mại trung thực”cho tòa án quốc gia và các cơ quan hành chính Công ước
Paris đưa ra ba ví dụ cho trường hợp cụ thể phải bị cấm Những trường hợp này chỉmang tính khái quát chưa hẳn đã toàn diện nhưng là sự bảo hộ tối thiểu mà tất cảcác nước thành viên phải đưa ra, đó là:
Thứ nhất, mọi hành vi nhằm gây ra sự nhầm lẫn, bằng bất kỳ phương tiện nào,
với cơ sở, hàng hóa hay hoạt động kinh doanh, thương mại của đối thủ cạnh tranh
Thứ hai, những tuyên bố sai trái trong công việc kinh doanh nhằm làm mất uy
tín của cơ sở, hàng hóa hay hoạt động kinh doanh, thương mại của đối thủ cạnh tranh
Thứ ba, những chỉ dẫn hoặc tuyên bố sử dụng trong quá trình kinh doanh
nhằm lừa dối công chúng về bản chất, quy trình sản xuất, đặc điểm, sự phù hợp vềmục đích, của số lượng của hàng hóa (Điều 10bis(3) Công ước Paris1883)
Đối với hai trường hợp đầu tiên - gây ra sự nhầm lẫn và làm mất uy tín -có thểcoi là thuộc lĩnh vực truyền thống của luật cạnh tranh, đó là bảo hộ đối thủ cạnhtranh Trường hợp thứ ba – lừa dối – được bổ sung tại Hội nghị sửa đổi ở Lisbonnăm 1958, đã tính đến lợi ích của cả người cạnh tranh và người tiêu dùng (Trần HữuNam, Cẩm nang Sở hữu trí tuệ, 2005, tr 133) Tóm lại, có thể hiểu hành vi cạnhtranh không lành mạnh đối với quyền sở hữu công nghiệp là: Bất kỳ hành vi nào đitrái với thực tiễn thương mại trung thực trong quá trình tiến hành các hoạt động
Trang 15cạnh tranh trên thị trường liên quan đến các đối tượng của quyền sở hữu côngnghiệp đều bị coi là hành vi cạnh tranh không lành mạnh vi phạm quyền sở hữucông nghiệp.
1.1.1.4 Khái niệm bảo hộ quyền chống cạnh tranh không lành mạnh đối với quyền sở hữu công nghiệp
Muốn hiểu được khái niệm về bảo hộ quyền chống cạnh tranh không lànhmạnh đối với quyền SHCN trước hết cần nắm rõ khái niệm “bảo hộ” Theo từ điểntiếng Việt bảo hộ có nghĩa là che chở cho một đối tượng nào nó nguyên vẹn, không
để nó bị tổn thất
Như vậy bảo hộ quyền chống cạnh tranh không lành mạnh đối với quyềnSHTTnói chung và đối với quyền SHCN nói riêng được hiểu là việc nhà nước vàchủ văn bằng sở hữu công nghiệp sử dụng các phương thức pháp lý để bảo vệquyền sở hữu các đối tượng sở hữu công nghiệp của mình, chống lại mọi sự xâmphạm để giữ nguyên vẹn quyền sở hữu các đối tượng này Hoạt động bảo hộ quyềnchống cạnh tranh không lành mạnh đối với quyền SHCN bao gồm chủ yếu các khíacạnh sau:
Thứ nhất, Nhà nước ban hành các quy định của pháp luật về quyền SHCN.
Với mỗi quốc gia khác nhau, các quy định về quyền SHTT nói chung và quyềnSHCN nói chung có thể được quy định trong các bộ luật, luật, văn bản pháp luật vớinhiều hình thức khác nhau tuy nhiên các quy định này phải thống nhất với các côngước, điều ước quốc tế về SHTT mà quốc gia đó là thành viên Thường thì các quyđịnh về quyền SHTT, quyền SHCN được quy định trong các luật chuyên ngành nhưĐạo luật Patent, Nhãn hiệu và Bản quyền của Hàn Quốc, Luật Patent của Nhật Bản,
… Ngoài ra các quy định về quyền SHCN còn có thể tìm thấy trong luật dân sự, luậthình sự, luật chống cạnh tranh không lành mạnh,…
Thứ hai, Nhà nước cấp văn bằng bảo hộ các đối tượng SHCN cho các chủ thể
khác nhau khi đáp ứng các yêu cầu theo quy định (xác lập quyền) Đây chính là sựghi nhận và bảo đảm cơ sở pháp lý cho chủ sở hữu có thể đảm bảo quyền chốngcạnh tranh không lành mạnh của mình
Thứ ba, Nhà nước thông qua các cơ quan chức năng bằng các phương thức,
biện pháp khác nhau bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của chủ văn bằng (bảo vệquyền) Nhà nước tổ chức triển khai các hoạt động nhằm đảm bảo quyền chống
Trang 16cạnh tranh không lành mạnh của chủ sở hữu các đối tượng SHCN thông qua hệthống các cơ quan thực thi được quy định về quyền hạn và trách nhiệm tùy theo luậtpháp từng quốc gia.
Thứ tư, bảo hộ quyền chống cạnh tranh không lành mạnh đối với quyền SHCN
không chỉ là nghĩa vụ, là vai trò của riêng Nhà nước mà còn thuộc về trách nhiệmcủa các chủ sở hữu của các đối tượng SHCN Bản thân mỗi cá nhân, tổ chức nàyphải chủ động tự bảo vệ mình trước những hành vi cạnh tranh không lành mạnhxâm phạm lợi ích chính đáng của họ
Đặc biệt, trong thời đại ngày nay, khi mà các hành vi cạnh tranh trên thịtrường tự do ngày càng đa dạng, phức tạp trong đó phát sinh không ít hành vi cạnhtranh không lành mạnh thì hoạt động bảo hộ quyền chống cạnh tranh không lànhmạnh đối với quyền sở hữu công nghiệp không còn là nhiệm vụ của riêng bộ máynhà nước, các cơ quan chức năng có liên quan hay chỉ của riêng chủ sở hữu đốitượng SHCN mà đã trở thành yêu cầu với toàn xã hội, của mỗi cá nhân
1.1.2 Tầm quan trọng của việc bảo hộ quyền chống cạnh tranh không lành mạnh đối với quyền sở hữu công nghiệp
Hệ thống bảo hộ quyền chống cạnh tranh không lành mạnh đối với quyềnSHCN toàn cầu đang thay đổi một cách sâu sắc Nhiều nước đang phát triển đangtiến hành cải thiện và nâng cao hệ thống pháp luật nhằm đảm bảo sự cạnh tranh đốivới quyền SHCN.Theo hiệp định TRIPS, các thành viên WTO phải áp dụng đồngthời tăng cường các tiêu chuẩn tối thiểu và bình đẳng về bảo hộ quyền sở hữu trítuệ Trong khi đó các nước phát triển đang tăng cường bảo hộ chống cạnh tranhkhông lành mạnh đối với các lĩnh vực khác nhau, bao gồm sở hữu công nghiệp và
dữ liệu điện tử Tăng cường bảo hộ quyền chống cạnh tranh không lành mạnh đốivới quyền SHCN trên toàn thế giới gắn với tiến trình toàn cầu hóa nền kinh tế, hộinhập sâu hơn của thị trường quốc gia và khu vực thông qua việc xóa bỏ dần các ràocản thương mại, đầu tư và chuyển giao công nghệ Sáng tạo tri thức và ứng dụngvào kiểu dáng sản phẩm và công nghệ sản xuất đang ngày càng cần thiết cho cạnhtranh và tăng trưởng trên thế giới Trong bối cảnh đó có thể nói rằng việc đảm bảoquyền lợi chính đáng của chủ sở hữu các đối tượng quyền SHCN, bảo hộ quyềnchống cạnh tranh không lành mạnh đối với quyền SHCN là nhiệm vụ cấp thiết củamỗi quốc gia Ngày càng có những bằng chứng cho thấy rằng nếu xây dựng được hệ
Trang 17thống bảo hộ quyền chống cạnh tranh không lành mạnh đối với quyền SHCN mạnhhơn và ổn định hơn thì có thể thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đổi mới công nghệ, làmnền tảng cho một môi trường cạnh tranh lành mạnh giữa các doanh nghiệp.
Một câu hỏi đặt ra là việc bảo hộ quyền chống cạnh tranh không lành mạnhđối với quyền SHCN có ảnh hưởng như thế nào đến tiến trình tăng trưởng và pháttriển kinh tế cũng như quá trình tiếp thu và phổ biến tri thức trong toàn xã hội Dướiđây chúng ta sẽ cùng tìm hiểu về tầm quan trọng của việc bảo hộ quyền chống cạnhtranh không lành mạnh đối với quyền SHCN với các quốc gia
1.1.2.1 Thúc đẩy đổi mới công nghệ, sản xuất, nghiên cứu và phát triển (R&D)
Để tạo ra một sản phẩm mới hoặc một phương pháp, thiết bị mới, chế tạo ramột sản phẩm mới với năng suất, chất lượng cao hơn, kiểu dáng đẹp hơn cũng như
để tạo ra được một nhãn hiệu nổi tiếng, có uy tín với người tiêu dùng đòi hỏi phảiđầu tư nhiều thời gian, công sức và tiền của và phải sẵn sàng chịu rủi ro Trong bốicảnh đó, việc bảo hộ quyền chống cạnh tranh không lành mạnh đối với quyềnSHCN, đảm bảo đối tượng SHCN khỏi mọi sự xâm phạm của đối thủ cạnh tranh,giúp chủ sở hữu yên tâm khai thác giá trị của đối tượng SHCN chính là biện pháphữu hiệu nhất để khuyến khích mọi tổ chức, cá nhân nghiên cứu tạo ra và áp dụngnhanh chóng các kỹ thuật tiến bộ, làm ra những sản phẩm mới đáp ứng nhu cầungày càng cao của xã hội
Tình trạng trì trệ trong công tác nghiên cứu – triển khai; hiện tượng chụp giậtcác kết quả nghiên cứu đạt trình độ sáng chế, giải pháp hữu ích; nghiên cứu trùnglập; bí mật giấu diếm các giải pháp kỹ thuật mới; sao chép, bắt chước kiểu dángcông nghiệp, nhãn hiệu hàng hóa là kết quả tất yếu của tình trạng không triển khaihoặc triển khai không có hiệu quả bảo hộ quyền chống cạnh tranh không lành mạnhđối với quyền SHCN
1.1.2.2 Thiết lập và duy trì môi trường kinh doanh lành mạnh
Đa số quốc gia, ở cả khu vực phát triển và khu vực đang phát triển, đã hoặcđang tiếp nhận hệ thống kinh tế thị trường, cho phép tự do cạnh tranh giữa cácdoanh nghiệp công nghiệp và thương mại trong khuôn khổ pháp luật Tự do cạnhtranh giữa các doanh nghiệp được xem là phương tiện thỏa mãn cung và cầu tốtnhất trong nền kinh tế và phục vụ cho lợi ích của người tiêu dùng trong nền kinh tếnói chung Tuy nhiên ở đâu có cạnh tranh thì ở đó cũng có thể xảy ra các hành vi
Trang 18cạnh tranh không lành mạnh Có thể thấy rõ hiện tượng này ở tất cả các nước vàomọi thời điểm, bất kể hệ thống chính trị xã hội hiện hành nào Vì vậy các quốc gia
có nền kinh tế thị trường muốn đảm bảo sự công bằng, đúng pháp luật trong sảnxuất kinh doanh theo cơ chế thị trường, sự cần thiết phải có những quy định phápluật chống lại những hành vi cạnh tranh không lành mạnh Do vậy đối với mỗi quốcgia trên thế giới việc sớm xây dựng và hoàn thiện các quy định pháp luật nhằm bảo
hộ quyền chống cạnh tranh không lành mạnh nói chung và bảo hộ quyền chốngcạnh tranh không lành mạnh đối với quyền SHCN nói riêng luôn được chú trọng Như vậy pháp luật bảo hộ quyền chống cạnh tranh không lành mạnh nói chung
và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh đối với quyền SHCN nói riêng trongkhuôn khổ pháp luật – cạnh tranh dựa trên nguyên tắc trung thực, không xâm phạmđến lợi ích của Nhà nước, lợi ích cộng đồng, quyền và lợi ích hợp pháp của doanhnghiệp, của người tiêu dùng
1.1.2.3 Tăng cường thu hút đầu tư nước ngoài (FDI), thúc đẩy chuyển giao công nghệ
Các hãng, các công ty nước ngoài có ý định làm ăn nghiêm túc, lâu dài tại mộtquốc gia khác đều tìm cách đăng ký sáng chế, giải pháp hữu ích, nhãn hiệu và kiểudáng công nghiệp tại quốc gia đó để được đảm bảo rằng sản phẩm xuất khẩu của họhoặc sản phẩm mà họ hợp tác liên doanh với ta sản xuất, khi xuất hiện trên thịtrường, sẽ không một ai có thể bắt chước chế tạo theo sáng chế, giải pháp hữu ích,kiểu dáng hoặc nhãn hiệu của họ Họ cũng đăng ký sáng chế, giải pháp hữu ích đểđược đảm bảo rằng những kỹ thuật công nghệ tiên tiến, những thiết bị máy móchiện đại mà họ đưa vào hợp tác liên doanh triển khai các dự án đầu tư được bảo vệkhỏi bất cứ hành vi cạnh tranh không lành mạnh nào
Chính vì vậy khi các công ty nước ngoài tiến hành đầu tư vào một quốc gia, họđều tiến hành tìm hiểu sâu hệ thống các quy phạm pháp luật và hành vi pháp luật vềbảo hộ chống cạnh tranh không lành mạnh đối với quyền SHTT nói chung và quyềnSHCN nói riêng của quốc gia đó Họ coi đó là việc đảm bảo cho cạnh tranh có hiệuquả Hiện nay cùng với xu hướng toàn cầu hóa nền kinh tế thì việc đầu tư trực tiếp
ra nước ngoài ngày càng phát triển mạnh mẽ cả về quy mô và các lĩnh vực đầu tư
Xu hướng này chắc chắn sẽ còn diễn ra trong những năm tới và việc mở rông thuhút vốn đầu tư cũng như tăng cường quan hệ kinh tế với các quốc gia khác là một
Trang 19trong những nhiệm vụ hàng đầu đặt ra cho mỗi quốc gia Và chắc chắn để làm đượcđiều này cần xây dựng hệ thống các quy phạm pháp luật về SHCN cũng như triểnkhai có hiệu quả việc bảo hộ cạnh tranh không lành mạnh đối với quyền SHCN.
1.1.2.4 Làm giàu tri thức công nghệ, tăng cường kết nối toàn cầu.
Có thể nói việc bảo hộ quyền cạnh tranh không lành mạnh đối với quyềnSHCN còn tạo cơ hội cho mọi người tiếp nhận những thông tin về các công nghệ,
kỹ thuật hiện đại, tân tiến nhất Tại sao lại có thể khẳng định như vậy, có hai lý do.Thứ nhất rõ ràng chủ sở hữu đối tượng SHCN nếu muốn bảo vệ quyền và lợi íchchính đáng của mình đối với tài sản trí tuệ, muốn tránh sự cạnh tranh không lànhmạnh xâm phạm đến tài sản đó thì phải đăng ký xin cấp bằng độc quyền, giải pháphữu ích thì mới được pháp luật và xã hội thừa nhận và bảo hộ quyền Qua việc đăng
ký đó họ đã công khai với toàn xã hội nghiên cứu của mình Giả sử nếu không có hệthống bảo hộ thì rất có thể nhiều sáng chế, công nghệ hay kỹ thuật mới được sángtạo ra sẽ bị che giấu nhằm khai thác lợi ích cho cá nhân người nghiên cứu và dầndần những nghiên cứu đó sẽ bị mai một dần đi, sẽ chẳng có sự tiếp cận nào đối vớiđối tượng SHCN và do đó xã hội sẽ phải chịu rất nhiều lãng phí trong việc nghiêncứu lại những thứ đã từng có hoặc việc áp dụng công nghệ mới dựa trên nền tảngnhững thứ đã có sẽ trở nên khó khăn hơn rất nhiều Tri thức công nghệ theo đó cũng
sẽ bị hạn chế Thứ hai, sau thời gian bảo hộ, các đối tượng SHCN sẽ trở thành tàisản chung và mọi người sẽ được tự do sử dụng thông tin đó, làm giàu cho tri thứccông nghệ Tóm lại, bằng cách buộc bộc lộ sáng chế và hạn chế thời gian bảo hộ,việc bảo hộ quyền chống cạnh tranh không lành mạnh đối với quyền SHCN đã gópphần phát triển cơ sở công nghệ và làm giàu tri thức cho nhân loại
1.2 Nội dung bảo hộ quyền chống cạnh tranh không lành mạnh đối với quyền
sở hữu công nghiệp
1.2.1 Các hành vi cạnh tranh không lành mạnh xâm phạm quyền chống cạnh tranh không lành mạnh đối với quyền sở hữu công nghiệp
Tại hơn một trăm năm mươi quốc gia thành viên của Công ước Paris, cơ sởpháp lý cho việc bảo hộ chống cạnh tranh không lành mạnh không chỉ thấy trongluật pháp quốc gia mà còn ở mức độ quốc tế Theo Công ước Paris, Điều 10bis(2),
cạnh tranh không lành mạnh bao gồm “bất cứ hành vi cạnh tranh nào trái với các
thông lệ trung thực” Hầu hết các nước có luật đặc biệt về cạnh tranh không lành
Trang 20mạnh đều phê chuẩn các định nghĩa tương tự hoặc giống như vậy trong phần quyđịnh chung – sử dụng các thuật ngữ như “thông lệ thương mại trung thực” (Bỉ vàLuxembourg) “nguyên tắc ngay tình” (Tây Ban Nha và Thụy Sĩ), “chính xác vềmặt chuyên môn” (Italia) và “đạo đức hàng hóa” (Đức, Hy Lạp và Ba Lan) Dothiếu các quy định pháp luật chuyên ngành, các tòa án đã định nghĩa cạnh tranhlành mạnh là “các nguyên tắc giải quyết trung thực và công bằng” hoặc “đạo đứcthị trường” (Hoa Kỳ).
Nhằm mục đích thiết lập những hành vi cạnh tranh không lành mạnh xâmphạm đến quyền SHCN và tạo điều kiện cho việc phân tích trong nghiên cứu, người
ta phân thành hai nhóm hành vi cạnh tranh không lành mạnh, đó là những hành viđược đề cập tại Điều 10bis của Công ước Paris và những hành vi không được đềcập tới trong Điều 10bis Điều 10bis(3) có một danh sách không đầy đủ ba hìnhthức cạnh tranh không lành mạnh, đó là hành vi gây ra sự nhầm lẫn, những hành vilàm mất uy tín đối thủ cạnh tranh và những hành vi có thể lừa dối công chúng Bởinhững hành vi có thể gây ra sự nhầm lẫn và những hành vi có thể lừa dối côngchúng là tương tự và đôi khi chồng chéo nhau, nên các hành vi này cần được xử lýtrước hành vi làm mất uy tín đối thủ cạnh tranh Có nhiều hành vi không được nhắctới trong Điều 10bis song đã được các tòa án công nhận là các hành vi cạnh tranhkhông lành mạnh và dần trở thành đối tượng của các quy định pháp lý
1.2.1.1 Gây ra sự nhầm lẫn
Công ước Paris buộc các nước thành viên phải ngăn cấm tất cả các hành vi làkhởi nguyên gây ra sự nhầm lẫn, bằng bất kỳ phương tiện nào, đối với cơ sở, hànghóa hay các hoạt động công nghiệp, thương mại của đối thủ cạnh tranh (Điều10bis(3)1 Công ước Paris) Phạm vi của việc “gây ra sự nhầm lẫn” rất rộng, vì nóbao trùm bất kỳ hành vi nào trong hoạt động thương mại liên quan tới một nhãnhiệu, dấu hiệu, nhãn mác, khẩu hiệu, bao bì, hình dạng hay màu sắc của sản phẩm,hoặc bất kỳ chỉ dẫn độc đáo nào khác do một doanh nhân sử dụng Vì thế, không chỉcác chỉ dẫn được sử dụng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ hoặc công việc kinh doanh
mà biểu hiện bên ngoài của hàng hóa và việc giới thiệu dịch vụ cũng được coi nhưliên quan trong việc ngăn chặn sự nhầm lẫn
Trang 21Theo Công ước Paris, “ý định” gây nhầm lẫn là phi vật chất đối với mục đíchxác định hành vi nào là hành vi cạnh tranh không lành mạnh Tuy nhiên, do sựkhông trung thực của bên bắt chước mà có thể phải gánh chịu các biện pháp trừngphạt Song, điều này lại không cần thiết phải có đối với nhầm lẫn thực tế đã xảy ra,
vì khả năng nhầm lẫn đã đủ để khởi kiện hành vi cạnh tranh không lành mạnh Cuốicùng việc bảo hộ chống lại sự nhầm lẫn được quy định là không có giới hạn về mặtthời gian Việc bảo hộ vẫn có hiệu lực chừng nào sự nhầm lẫn còn tồn tại, nhưngđược cho phép tự do sử dụng những chỉ dẫn không gây hiểu lầm trên các trên các sảnphẩm, dịch vụ, công việc kinh doanh, để cho cạnh tranh trên thị trường liên quankhông bị chững lại Có hai hình thức nhầm lẫn thường xảy ra Thứ nhất, đó là nhữngchỉ dẫn xuất xứ thương mại, thứ hai là bề ngoài của hàng hóa Tuy nhiên, điều nàykhông loại trừ hay hạn chế việc bảo hộ những thuộc tính hay những thành tựu khácchống lại sự nhầm lẫn (Trần Hữu Nam, Cẩm nang Sở hữu trí tuệ, 2005, tr 138)
1.2.1.2 Lừa dối
Lừa dối có thể được định nghĩa là việc tạo ra một ấn tượng sai về sản phẩmhoặc dịch vụ thuộc sở hữu của đối thủ cạnh tranh Lừa dối là hình thức phổ biếnnhất của cạnh tranh không lành mạnh, và không phải là vô hại Ngược lại, lừa dối
có thể đem lại những hậu quả rất nghiêm trọng: người tiêu dùng, dựa trên nhữngthông tin không chính xác, có thể phải chịu những thiệt hại về mặt tài chính (hoặcnghiêm trọng hơn) Những đối thủ cạnh tranh trung thực thì mất khách hàng Sựtrong sáng của thị trường bị giảm bớt mang lại những hậu quả xấu đối với toàn bộnền kinh tế và phúc lợi kinh tế
Vì sự trung thực được coi là một trong những nguyên tắc chính của thông lệthương mại trung thực, nhìn chung người ta đều nhất trí rằng việc ngăn cấm hành vilừa dối là quan trọng đối với khái niệm lành mạnh trong cạnh tranh Hay theo nhưĐiều 10bis(3) Công ước Paris thì chỉ dẫn hay tên gọi bất kỳ có khả năng lừa dốiphải bị “đặc biệt” coi là không trung thực
Kết quả là, hầu hết các nước thành viên Công ước Paris đều đã ngăn cấmnhững hành vi hay hoạt động lừa dối trong hệ thống pháp lý của họ Hơn nữa, tòa
án đã mở rộng hàng loạt các án lệ về lừa dối Thậm chí ở nhiều nước mà trước đóviệc bảo hộ quyền chống cạnh tranh không lành mạnh đối với quyền SHCN không
Trang 22mạnh bằng ở những nước khác, thì những phát triển gần đây cho thấy một sựchuyển hướng nghiêm khắc hơn Tuy nhiên, trong khi tìm kiếm những giải pháppháp lý hiệu quả, các quốc gia đã chọn những phương pháp khác nhau Một nhân tốquan trọng của sự khác biệt này là hành vi lừa dối trước tiên hướng đến người tiêudùng chứ không trực tiếp đến đối thủ cạnh tranh Khi việc bảo vệ người tiêu dùngđược coi là vấn đề của luật hình sự, việc thực thi phải giành cho các cơ quan Nhànước thực hiện Tuy nhiên, hầu hết các nước có pháp luật chuyên ngành về cạnhtranh không lành mạnh đều có một quy định đối với hành vi lừa dối trong các luậttương ứng, vì vậy đã chọn cách tiếp cận theo luật dân sự (Trần Hữu Nam, Cẩm nang
Sở hữu trí tuệ, 2005, tr.144)
1.2.1.3 Làm mất uy tín đối thủ cạnh tranh
Việc làm mất uy tín thường được định nghĩa là bất kỳ tuyên bố giả tạo về đốithủ cạnh tranh mà chắc chắn sẽ gây thiệt hại đến uy tín thương mại của người đó.Cũng như việc lừa dối, việc làm mất uy tín được đưa ra nhằm cám dỗ người tiêudùng bằng những thông tin không chính xác Tuy nhiên, khác với lừa dối, hành vinày không được thực hiện bởi những tuyên bố sai hoặc lừa dối về sản phẩm củangười khác mà bằng việc bôi nhọ đối thủ cạnh tranh, hàng hóa hoặc các dịch vụ củaanh ta Vì vậy việc làm mất uy tín luôn luôn liên quan quan trực tiếp tới một thươnggia cụ thể hay một số thương gia đặc biệt mà những hậu quả của nó thường vượtquá mục đích đó: vì những thông tin về đối thủ cạnh tranh hoặc sản phẩm của anh ta
là không đúng, người tiêu dùng cũng có thể phải gánh chịu
Công ước Paris buộc các thành viên phải ngăn cấm tất cả “những tuyên bố sai
trái trong hoạt động thương mại nhằm làm mất uy tín cơ sở, hàng hóa, các hoạt động công nghiệp hoặc thương mại của một đối thủ cạnh tranh” ( Điều 10bis(3)2
Công ước Paris) Cũng có thể thấy một quy định tương tự trong hầu hết luật của cácquốc gia về cạnh tranh không lành mạnh đối với quyền SHTT nói chung và quyềnSHCN nói riêng Nhưng thậm chí nếu không có việc ngăn cấm rõ ràng như thế thìnhìn chung người ta đều nhất trí rằng việc làm mất uy tín là không thể phù hợp vớikhái niệm “lành mạnh” trong cạnh tranh Tại tất cả các nước theo hệ thống thôngluật, vi phạm đối với việc bôi nhọ hoặc làm mất uy tín đã được công nhận; một sốnước gần đây còn quy định về các biện pháp bồi thường Bởi vì ban đầu bản thân
Trang 23thương gia phải chịu những lời nhận xét mang tính chất hạ nhục, nên các biện pháptrừng phạt dân sự (lệnh yêu cầu phục hồi hoặc bồi thường thiệt hại) thường được sửdụng (Trần Hữu Nam, Cẩm nang Sở hữu trí tuệ, 2005, tr 148).
Có một số yếu tố được xem xét để quyết định xem thông tin nào là một bí mậtthương mại: phạm vi mà thông tin được công chúng biết tới hoặc trong một ngànhkinh doanh hay công nghiệp cụ thể, công sức và tiền của mà thương gia bỏ ra nhằmtạo dựng những thông tin bí mật, giá trị của thông tin đó đối với thương gia và vớiđối thủ cạnh tranh của anh ta, mức độ các biện pháp mà thương gia thực hiện để bảomật thông tin và khả năng để những người khác tiếp cận thông tin Theo quan điểmchủ quan, thương gia liên quan phải có lợi ích đáng kể trong việc giữ một thông tinnào đó như bí mật thương mại Mặc dù nghĩa vụ theo hợp đồng là không cần thiết,song thương gia đó phải chỉ rõ ý định coi thông tin nào là bí mật Thông thường,cần phải có những biện pháp cụ thể để duy trì việc bảo mật thông tin đặc biệt Trênthực tế, thông tin được cung cấp một cách bí mật vẫn không đủ Tại một số nước (ví
dụ như Hoa Kỳ và Nhật Bản), nỗ lực của chủ sở hữu nhằm bảo mật thông tin được
Trang 24các tòa án coi là tối quan trọng trong việc xem xét thông tin đó có là một bí mậtthương mại không (Trần Hữu Nam, Cẩm nang Sở hữu trí tuệ, 2005, tr.151).
1.2.2 Các chủ thể liên quan đến việc bảo hộ quyền chống cạnh tranh không lành mạnh đối với quyền sở hữu công nghiệp
Nhóm chủ thể đầu tiên liên quan đến hoạt động bảo hộ quyền chống cạnh
tranh không lành mạnh đối với quyền SHCN chính là chủ thể của quyền SHCN.Quyền chống cạnh tranh không lành mạnh là nội dung cơ bản, quan trọng củaquyền SHCN Vì vậy chủ thể của quyền SHCN đương nhiên là chủ thể quyền chốngcạnh tranh không lành mạnh đối với quyền SHCN Chủ thể quyền SHCN gồm cótác giả và chủ sở hữu đối tượng SHCN
Thứ nhất, về tác giả của các đối tượng SHCN: các đối tượng SHCN đều do
con người tạo ra nhưng không phải tất cả các đối tượng SHCN đều được thừa nhận
là có tác giả Chỉ dẫn địa lý, tên thương mại, bí mật kinh doanh thường không đượcbảo hộ quyền tác giả Tác giả là người đã sáng tạo ra các sản phẩm trí tuệ (đối tượngSHCN) Bằng lao động có tính sáng tạo, tác giả tạo ra sản phẩm được pháp luật bảo
hộ Thuật ngữ “sáng tạo” nhấn mạnh hình thức lao động đặc biệt của tác giả vớihình thức lao động khác không phải là hoạt động sáng tạo, đó có thể là người giúpsức cho tác giả, hỗ trợ kỹ thuật, người thực hiện các công việc theo sự chỉ đạo củatác giả…(Phùng Trung Tập, 2011, tr152)
Thứ hai, về chủ sở hữu các đối tượng SHCN: chủ sở hữu đối tượng SHCN
(ngoài tác giả) có thể thuộc một trong các trường hợp sau: Chủ sở hữu đối tượngSHCN (cá nhân hoặc tổ chức) đã đầu tư kinh phí, các điều kiện vật chất cần thiếtcho tác giả để người này sáng tạo nên các đối tượng SHCN trên cơ sở hợp đồnghoặc sự giao nhiệm vụ và đã đăng ký bảo hộ, được pháp luật thừa nhận quyền.Trường hợp này chủ sở hữu đối tượng SHCN có quyền tài sản đối với đối tượngSHCN và đương nhiên có quyền chống cạnh tranh lành mạnh Ngoài ra, chủ sở hữucác đối tượng SHCN còn là người được chuyển giao quyền sở hữu thông qua hợpđồng chuyển nhượng quyền sở hữu đối tượng SHCN hoặc thông qua nhận di sảnthừa kế Ngoài hợp đồng chuyển nhượng còn có hợp đồng li-xăng, hợp đồngchuyển giao bí quyết…
Trang 25Quyền chống cạnh tranh không lành mạnh đối với quyền SHCN được phápluật của các quốc gia trên thế giới thừa nhận Các biện pháp mà chủ thể bị xâmphạm quyền có thể sử dụng là ngăn ngừa hành vi cạnh tranh không lành mạnh; yêucầu tổ chức, cá nhân có hành vi cạnh tranh không lành mạnh phải chấm dứt hành vi;yêu cầu bồi thường thiệt hại; yêu cầu cơ quan có thầm quyền bảo vệ quyền và lợiích hợp pháp của mình Thiết nghĩ, quyền tự bảo vệ đóng vai trò chủ chốt trong việcthực hiện tốt vấn đề bảo hộ quyền chống cạnh tranh không lành mạnh đối với quyềnSHCN Do đó, sự chủ động từ phía các tổ chức, cá nhân là chủ sở hữu quyền trongviệc nắm vững pháp luật, tự xác lập và bảo vệ quyền lợi của mình là rất quan trọng.
Nhóm chủ thể thứ hai liên quan đến việc bảo hộ quyền chống cạnh tranh
không lành mạnh đối với quyền SHCN là hệ thống các cơ quan, tổ chức trực thuộchoặc không trực thuộc bộ máy Chính phủ của quốc gia Về cơ bản, cơ cấu tổ chức
mà Chính phủ của một quốc gia cần phải thiết lập để luật SHCN hoạt động có hiệuquả được chia làm ba phạm trù:
•Những cơ quan hoạt động trực tiếp như một phần trực thuộc bộ máy Chínhphủ - đó là Cục Sở hữu công nghiệp và Lực lượng cảnh sát kinh tế
•Những cơ quan không thuộc bộ máy Chính phủ nhưng có thể yêu cầu Chínhphủ giám sát
•Hệ thống các cơ quan Tư pháp (Tòa án)
Cơ quan Sở hữu công nghiệp nhất thiết là một cơ quan trực thuộc Chính phủ
Vị trí chính xác của cơ quan này trong bộ máy nhà nước có thể thay đổi tùy vào cơcấu hành chính của Chính phủ quốc gia đó (Trần Hữu Nam, Cẩm nang Sở hữu trítuệ, 2005, tr 365) Với nhiệm vụ quan trọng là tiếp nhận đơn đăng ký và xem xétnên cấp hay từ chối yêu cầu của đối tượng nộp đơn, cơ quan Sở hữu công nghiệpgiữ vai trò quan trọng trong việc bảo hộ quyền quyền chống cạnh tranh không lànhmạnh đối với quyền SHCN Thứ nhất, cơ quan này cấp văn bằng bảo hộ cho những
cá nhân, tổ chức có đầy đủ điều kiện làm chủ quyền SHCN, qua đó giúp các cánhân, tổ chức này được xã hội công nhận và bảo vệ quyền lợi chính đáng của họ khi
có bất kỳ hành vi cạnh tranh không lành mạnh nào xảy ra xâm phạm đến các đốitượng SHCN Thứ hai, thông qua việc từ chối cấp văn bằng bảo hộ cho những đốitượng SHCN cạnh tranh không lành mạnh (như sao chép, bắt chước từ ngườikhác, ) cơ quan này góp phần ngăn chặn các hành vi cạnh tranh không lành mạnh
Trang 26Cảnh sát kinh tế là một trong những lực lượng thực thi quyền sở hữu trí tuệ
nói chung, quyền SHCN nói riêng và chống hàng giả trong thị trường, góp phần bảo
vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp và người tiêu dùng trước những hành vicạnh tranh không lành mạnh Còn Tòa án có vai trò quan trọng trong việc giải quyếtcác vụ việc, tranh chấp xảy ra có liên quan đến cạnh tranh không lành mạnh đối vớiquyền SHTT nói chung và đặc biệt là quyền SHCN nói riêng Tòa hành chính xét
xử các vụ kiện hành chính liên quan đến quyết định hành chính trong việc xác lập,hủy bỏ văn bằng bảo hộ quyền và vụ kiện đối với quyết định xử phạt hành chínhhành vi cạnh tranh không lành mạnh đối với quyền SHCN; tòa dân sự xét xử theothủ tục tố tụng dân sự các vụ kiện xâm phạm quyền sở hữu đối với các đối tượng sởhữu công nghiệp và tòa hình sự xét xử theo thủ tục tố tụng hình sự các vụ án cạnhtranh không lành mạnh đối với quyền SHCN có dấu hiệu tội phạm
1.2.3 Các biện pháp bảo hộ quyền chống cạnh tranh không lành mạnh đối với quyền sở hữu công nghiệp
1.2.3.1 Các biện pháp hành chính
Trong bối cảnh trình độ công nghệ ngày càng cao, các hành vi cạnh tranhkhông lành mạnh đối với quyền SHCN có thể được tiến hành với quy mô lớn vàhàng hóa xâm phạm cũng được lưu thông với phạm vi rộng, khiến cho số người bịảnh hưởng hoặc bị tổn hại cũng sẽ chiếm số đông trong xã hội Vì vậy, các hành vicạnh tranh không lành mạnh làm tổn hại đến các đối tượng SHCN cũng thuộc loạihành vi chống lại lợi ích xã hội Do đó bên cạnh quan hệ dân sự, vấn đề này cũngđược xem xét và xử lý theo khía cạnh hành chính Mục tiêu của biện pháp hànhchính trong việc bảo hộ quyền chống cạnh tranh không lành mạnh đối với quyềnSHCN là bảo vệ lợi ích của người thứ ba (người tiêu dùng) và toàn xã hội, cũngchính là gián tiếp bảo vệ quyền lợi của chủ sở hữu đối tượng SHCN
Khái niệm biện pháp hành chính có thể bao gồm các hình thức xử lý hành vi viphạm và các biện pháp xử lý hàng hóa xâm phạm, tang vật, phương tiện vi phạmhành chính Theo nghĩa này biện pháp hành chính bao gồm các hình thức xử phạthành chính (biện pháp xử lý hành vi xâm phạm) và biện pháp khắc phục hậu quả(biện pháp xử lý hàng hóa xâm phạm) Hình thức xử phạt hành chính thông thườngnhất là phạt tiền, tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm,… Các biện pháp khắc phục
Trang 27hậu quả có thể là buộc tiêu hủy sản phẩm vi phạm, buộc loại bỏ yếu tố vi phạm trênsản phẩm,
Có hai yếu tố cấu thành nên biện pháp hành chính, đó là: vi phạm hành chính
và quyết định của cơ quan hành chính xử lý vi phạm hành chính Vi phạm hànhchính là hành vi trái pháp luật, có lỗi, xâm phạm các quy tắc quản lý Nhà nướcnhưng mức độ nguy hiểm thấp hơn tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị
xử phạt hành chính Quyết định áp dụng biện pháp hành chính, về bản chất, là việc
cơ quan quản lý dùng sức mạnh của quyền lực Nhà nước đề ra những quyết địnhmệnh lệnh hành chính đơn phương bắt buộc người vi phạm phải thực hiện quyếtđịnh hành chính đó
1.2.3.2 Các biện pháp dân sự
Trong thực tế, mà chủ yếu ở các nước áp dụng Common Law, biện pháp xửphạt quan trọng nhất là phát lệnh cấm của tòa án, lệnh cấm có thể là cuối cùngnhưng thông thường hay sử dụng lệnh cấm sơ bộ (hay trung gian hay tạm thời)
Lệnh cấm sơ bộ
Bên nguyên đơn có thể yêu cầu tòa án ban hành lệnh cấm này khi đưa ra đượcnhững bằng chứng cho thấy đối tượng SHCN của mình đang bị xâm hại bởi nhữnghành vi cạnh tranh thiếu trung thực, không lành mạnh từ bên bị Lệnh này cho phépbên nguyên buộc bên bị phải dừng ngay các hành vi kể trên mặc dù trong lúc đó cóthể còn rất khó để xác định được thiệt hại Nội dung lệnh cấm sơ bộ có tính chấtkiềm chế bên bị đơn tiếp tục thực hiện một hành vi nhất định, chỉ được cấp cho bênnguyên đơn nếu tòa án cho rằng đang diễn ra vụ việc nghiêm trọng cần phải xét xử,
mà không cần phải đánh giá phải, trái, lý lẽ kiện cáo của từng bên Điều đáng quantâm của lệnh cấm sơ bộ là: nó có thể được cấp để xử lý các đòi hỏi bằng chứng vềhành vi cạnh tranh không lành mạnh Lẽ phải, trái của vụ kiện sẽ được xem xét đểquyết định cần phải ban hành lệnh cấm sơ bộ hay xem các đền bù thiệt hại là các bùđắp thận trọng và chính xác hơn nếu bị đơn có khả năng chi trả (lệnh cấm bị từ chốinếu bên nguyên đơn được đền bù thỏa đáng qua việc trả tiền bồi thường) Việc banhành lệnh cấm sơ bộ sẽ thực sự quyết định kết cục của vụ kiện, vì bên bị đơn khônglưu tâm đến việc khởi sự lại phương thức hoạt động thương mại mà bên bị đơn đã bịbuộc phải đình chỉ trong nhiều tháng
Trang 28Lệnh cấm cuối cùng
Tòa án được quyền quyết định ban bố lệnh cấm cuối cùng, nhưng nói chung,khi hành vi vi phạm được chứng minh, lệnh cấm cuối cùng sẽ được ban bố nếukhông quyết định đền bù thiệt hại Ngoài ra, lệnh cấm cuối cùng có thể bị từ chốikhi bị đơn có thể làm cho tòa án thấy rằng sẽ không có khả năng lập lại hành vi viphạm nữa (Trần Hữu Nam, Cẩm nang Sở hữu trí tuệ, 2005, tr 230)
Các biện pháp đi kèm
Các biện pháp này có thể được sử dụng trong những nước có ban hành lệnhcấm của tòa án cũng như những nước không ban hành lệnh cấm này Trong bất kỳtrường hợp nào, lệnh cấm của tòa án cấm tiếp tục thực hiện hành vi vi phạm có thể
đi kèm theo một vài hoặc tất cả các biện pháp sau đây: Nếu cần thiết, ra lệnh hủy bỏđơn đăng ký hay giấy đăng ký bản quyền, hay từ chối cấp bằng bảo hộ cho sángchế, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu , tên thương mại sao chép, ăn cắp từ ngườikhác; ra lệnh xóa bỏ các chỉ dẫn có tính chất lừa gạt hay gây nhầm lẫn trên nhãn sảnphẩm, bao bì, quảng cáo hay trên các giấy tờ giao dich hay cổ động; ra lệnh thu hồicác sản phẩm vi phạm hoặc đình chỉ các hoạt động dịch vụ vi phạm trên thị trường;
ra lệnh giao nộp và/hoặc hủy bỏ các sản phẩm phi pháp hay các sản phẩm quảngcáo tuyên truyền; ra lệnh khai báo nguồn cung cấp hay danh sách người tiêu dùng; ởmột số nước còn ra lệnh phá hủy các công cụ dùng vào việc sản xuất ra các sảnphẩm vi phạm Toàn bộ các biện pháp kèm theo thường do tòa án tự quyết định vàcần phải thích hợp với mức độ vi phạm của từng trường hợp cụ thể
Biện pháp đền bù thiệt hại
Nhìn chung, những thiệt hại thường hay bị đòi hỏi phải đền bù nhất là khoảnlợi nhuận thất thu và thiệt hại do thị trường của bên nguyên đơn bị rối loạn, trongtrường hợp xâm phạm quyền chống cạnh tranh không lành mạnh đối với quyềnSHCN thì mức bồi thường được đánh giá để đền bù cho bên nguyên đơn dựa trênnhững hậu quả trực tiếp và đương nhiên của việc bán sản phẩm vi phạm gây nên.Bên bị đơn có thể phải trả một khoản lệ phí li - xăng giả định tương đương vớikhoản lệ phí mà bên mua li-xăng hợp pháp lẽ ra phải trả
Trong các trường hợp khác, thì khoản tiền đền bù còn có thể phải bao gồm cả
số tiền đền bù do việc làm tổn thương đến uy tín của bên nguyên đơn Tuy nhiên,
Trang 29trong các trường hợp kiện tụng về cạnh tranh không lành mạnh, yêu cầu chung nhất
để xác định tiền đền bù là phải có chứng cứ về ý đồ xấu hoặc ít nhất cũng phải cóchứng cứ về sự vô ý hoặc thiếu thận trọng của bị đơn
Số tiền đền bù thiệt hại do tòa án quyết định phụ thuộc vào một loạt các yếu tốnhư uy tín của dấu hiệu nguyên đơn sử dụng, tính chất gây hại của hành vi vi phạmhoặc phụ thuộc vào số lượng sản phẩm vi phạm bán ra Nếu yếu tố sản phẩm viphạm bán ra là rất quan trọng thì tòa án có thể cho rằng không xác định được số tiềnphải đền bù nếu không có giám đinh sơ bộ Có thể nói, ở một số nước, hiệu quả củabiện pháp này tăng lên rõ rệt vì tòa án thường sẵn sàng quyết định mức bồi thườngtài chính rất cao Thông báo cải chính và công bố quyết định của tòa án: Những biệnpháp dân sự này được sử dụng ở nhiều nước do bên bị đơn chịu chi phí (ví dụ thôngbáo cải chính hay công bố quyết định của tòa án trên một số báo và tạp chí) Cácbiện pháp này có thể được yêu cầu kèm theo lệnh cấm của tòa án và ở đa số cácnước, chúng độc lập với khoản bồi thường thiệt hại thực tế
1.2.3.3 Biện pháp hình sự
Ngoài các biện pháp xử lý và tố tụng dân sự còn có các biện pháp xử lý và tốtụng hình sự (thường là phạt tiền hoặc phạt án tù) Ở nhiều nước các biện pháp nàytồn tại song song với các biện pháp xử lý dân sự Tuy nhiên các biện pháp tố tụng
và xử lý hình sự chỉ quan trọng ở các nước không có luật bản quyền, luật bảo hộsáng chế, nhãn hiệu hàng hóa và kiểu dáng công nghiệp
Bảo hộ quyền chống cạnh tranh không lành mạnh đối với quyền SHCN bằngbiện pháp hình sự là sự ghi nhận và bảo vệ bằng các chế tài pháp lý hình sự củaquốc gia đối với quyền của chủ sở hữu các đối tượng SHCN khi các quyền lợi này
bị hành xâm phạm gây nên thiệt hại Trong Hiệp định TRIPS quy định rằng: “Các
thành viên phải quy định việc áp dụng các thủ tục hình sự và các hình phạt để áp dụng ít nhất đối với các trường hợp cố tình giả mạo nhãn hiệu hàng hóa hoặc xâm phạm bản quyền với quy mô thương mại Các biện pháp chế tài theo quy định phải bao gồm phạt tù hoặc phạt tiền đủ để ngăn ngừa xâm phạm, tương ứng với mức phạt được áp dụng cho tội phạm có mức độ nghiêm trọng tương đương trong những trường hợp thích hợp, các biện pháp chế tài cũng phải bao gồm cả việc bắt giữ,
Trang 30tịch thu, tiêu hủy hàng hóa xâm phạm và bất cứ vật liệu và các phương tiện nào khác được sử dụng chủ yếu để thực hiện tội phạm…”
1.2.3.4 Các biện pháp kiểm soát biên giới
Trước khi có Hiệp định TRIPS, thì Công ước về Bảo hộ sở hữu công nghiệp(Công ước Pari năm 1883, được sửa đổi tại Stockholm năm 1967) có quy định vềthu giữ khi nhập khẩu hàng hóa có gắn trái phép nhãn hiệu hàng hóa hay tên thươngmại
Thứ nhất, tất cả hàng hóa mang nhãn hiệu hàng hóa hoặc tên thương mại một
cách bất hợp pháp đều bị thu giữ khi nhập khẩu vào những nước thành viên củaLiên hiệp, nơi mà nhãn hiệu hàng hóa hoặc tên thương mại đó có quyền được bảo
hộ pháp lý
Thứ hai, việc thu giữ hàng hóa cũng áp dụng tại nước nơi đã xảy ra việc sản
xuất hàng hóa có gắn nhãn hiệu hàng hóa hoặc tên thương mại một cách trái phéphoặc tại nước nơi hàng hóa đã được nhập vào
Thứ ba, việc thu giữ hàng hóa được tiến hành phù hợp với pháp luật quốc gia
của mỗi nước theo yêu cầu của cơ quan công tố; hoặc bất kỳ cơ quan có thẩm quyềnnào khác; hoặc của bất kỳ cá nhân hoặc pháp nhân nào có liên quan
Thứ tư, nếu pháp luật quốc gia không quy định việc thu giữ hàng hóa khi nhập
khẩu, thì việc thu giữ được thay thế bằng biện pháp cấm nhập khẩu hoặc thu giữhàng hóa này trên thị trường nội địa…” (Điều 9, Công ước Paris 1883)
Như vậy, yêu cầu kiểm soát biên giới nhằm bảo đảm tính hợp pháp, trung thựccủa hàng hóa nhập khẩu đã được pháp luật quốc tế quan tâm từ rất sớm Mục đíchcủa các quy định này ngoài việc đề cao yêu cầu bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ nóichung và quyền SHCN nói riêng, còn kiểm soát, ngăn chặn hàng hóa giả mạo cảtrên thị trường nội địa và thị trường xuất, nhập khẩu Đây cũng chính là hướng tớimục tiêu ngăn chặn các hành vi cạnh tranh không lành mạnh xâm phạm quyềnSHCN hay nói cách khác là để bảo hộ quyền chống cạnh tranh không lành mạnh đốivới quyền SHCN Các quy định trên còn được cụ thể hóa và hoàn thiện hơn tại Hiệpđịnh TRIPS
Nói chung việc kiện tụng để ngăn ngừa các hành vi cạnh tranh không lànhmạnh xâm phạm tới quyền SHCN (liên quan đến bằng độc quyền sáng chế, nhãn
Trang 31hiệu hàng hóa hay kiểu dáng công nghiệp,…) đều do người nắm giữ các quyền nàytiến hành (không kể người đó là chính chủ hay là người được chuyển quyền thôngqua việc chuyển giao chuyển nhượng) Pháp luật của các quốc gia đều thừa nhậnquyền này và đó chính là quyền chống cạnh tranh không lành mạnh liên quan đếnquyền SHCN, một phần quan trọng cấu tạo nên quyền SHCN.
Trang 32CHƯƠNG 2 BẢO HỘ QUYỀN CHỐNG CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH ĐỐI VỚI QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP: QUY ĐỊNH PHÁP LÝ VÀ THỰC TIỆN TẠI
VIỆT NAM 2.1 Pháp luật về bảo hộ quyền chống cạnh tranh không lành mạnh đối với quyền sở hữu công nghiệp tại Việt Nam
2.1.1 Quy định về các hành vi cạnh tranh không lành mạnh xâm phạm quyền chống cạnh tranh không lành mạnh đối với quyền SHCN
2.1.2.1 Quy định trong Luật Sở hữu trí tuệ 2005
Ở Việt Nam, các ý kiến ban hành một đạo luật riêng về SHTT đã được nhiềuchuyên gia trong nước và ngoài nước cũng như các doanh nghiệp ủng hộ Năm
2003, Luật Sở hữu trí tuệ đã được đưa vào chương trình làm luật của Quốc hội Tại
kỳ họp quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 8, vào ngày 29/11/2005, Luật Sở hữu trí tuệ đãđược Quốc hội ban hành và có hiệu lực từ ngày 1/7/2006 Như vậy, Luật Sở hữu trítuệ đã trở thành một ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật Việt Nam TrongLuật Sở hữu trí tuệ 2005 có quy định về quyền SHCN và việc bảo hộ quyền SHCN.Quyền chống cạnh tranh không lành mạnh đối với quyền SHCN cũng được khẳngđịnh là một nội dung quan trọng của quyền SHCN và được quy đinh trong Luật Sởhữu trí tuệ 2005
Điều 130 Luật sở hữu trí tuệ 2005 đã quy định các dạng hành vi cụ thể sau đây
là hành vi cạnh tranh không lành mạnh đối với quyền SHCN:
Thứ nhất, là hành vi sử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn về chủ thể
kinh doanh, hoạt động kinh doanh, nguồn gốc thương mại của hàng hóa, dịch vụ;xuất xứ, cách sản xuất, tính năng, chất lượng, số lượng hoặc các đặc điểm khác củahàng hóa, dịch vụ
Chỉ dẫn thương mại là các dấu hiệu, thông tin nhằm hướng dẫn thương mạihàng hóa, dịch vụ bao gồm nhãn hiệu, tên thương mại, biểu tượng kinh doanh, chỉdẫn địa lí, kiểu dáng bao bì của hàng hóa, nhãn hàng hóa Như vậy, chỉ dẫn thươngmại có liên quan chặt chẽ đến các đối tượng SHCN như nhãn hiệu, tên thương mại,chỉ dẫn địa lí, kiểu dáng công nghiệp Các đối tượng này có đặc tính ưu việt trongviệc truyền tin đến người tiêu dùng về các loại hàng hóa và dịch vụ lưu thông trên
Trang 33thị trường và có ý nghĩa quyết định đến sự thành công hay không của các chủ doanhnghiệp (đồng thời là chủ sở hữu của các đối tượng SHCN trên) Sử dụng chỉ dẫnthương mại là gắn chỉ dẫn thương mại đó lên hàng hóa, bao bì hàng hóa, phươngtiện dịch vụ, giấy tờ giao dịch kinh doanh, phương tiện dịch vụ, giấy tờ giao dịchkinh doanh, phương tiện quảng cáo, bán, quảng cáo để bán, tang trữ để bán, nhậpkhẩu hàng hóa có gắn chỉ dẫn thương mại đó Tất cả các hành vi trên đều nhằm mụcđích lợi dụng ảnh hưởng, uy tín của các cơ sở sản xuất kinh doanh khác để trục lợi.Bên cạnh đó, chúng tất yếu sẽ gây thiệt hại hay làm lu mờ uy tín, danh tiếng của các
cơ sở sản xuất kinh doanh và cuối cùng người phải chịu mọi thiệt hại trực tiếp chính
là các khách hàng và người tiêu dùng do bị nhầm lẫn khi lựa chọn hàng hóa, dịch vụcho mình thông qua các dấu hiệu, thông tin sai lệch đó
Theo quy định tại Thông tư số 37/2011/TT- BKHCN của Bộ Khoa học vàCông nghệ: Hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 97/2010/NĐ-CPngày 21/9/2010 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực
sở hữu công nghiệp thì khái niệm các thuật ngữ chỉ đối tượng thuộc chỉ dẫn thươngmại trong điều luật trên đã được giải thích rõ hơn Theo đó, "khẩu hiệu kinh doanh"
là một nhóm từ ngữ xuất hiện bên cạnh tên doanh nghiệp hoặc nhãn hiệu của sảnphẩm của doanh nghiệp nhằm nhấn mạnh mục đích hoặc tiêu chí kinh doanh củadoanh nghiệp hoặc đối tượng khách hàng mà sản phẩm hướng tới (ví dụ: Bitis’:
“Nâng niu bàn chân Việt”, cà phê Trung Nguyên: “Khơi nguồn sáng tạo”,…); "biểutượng kinh doanh" là ký hiệu, chữ viết, hình vẽ, hình khối được thiết kế một cáchđộc đáo và được coi là biểu tượng của doanh nghiệp sử dụng trong hoạt động kinhdoanh; “kiểu dáng bao bì hàng hóa” là thiết kế, trang trí bao bì hàng hóa, gồm hìnhdạng, đường nét, hình vẽ, chữ, số, màu sắc, cách trình bày, cách phối hợp màu sắc,cách bố trí, kết hợp giữa các yếu tố nói trên tạo nên ấn tượng riêng hay nét đặctrưng của bao bì hàng hóa
Thứ hai, là hành vi sử dụng nhãn hiệu của người là đại diện hoặc đại lí của
chủ sở hữu nhãn hiệu: Loại hành vi cạnh tranh không lành mạnh này liên quan đếncác yếu tố như có việc sử dụng nhãn hiệu của người là đại diện hoặc đại lí của chủ
sở hữu nhãn hiệu tại nước ngoài; giữa Việt Nam và nước đó có điều ước quốc tếđược ký kết trong đó quy định việc cấm sử dụng này; việc sử dụng nhãn hiệu củangười là đại diện hay đại lí của chủ sở hữu nhãn hiệu không được sự đồng ý của chủ
Trang 34sở hữu nhãn hiệu và không có lý do chính đáng Tính không trung thực khi sử dụngnhãn hiệu luôn là một loại hành vi bị cấm trong lĩnh vực SHCN Bởi lẽ, người sửdụng là người đại diện hay đại lí của chủ sở hữu nhãn hiệu nên họ phải nhận thứcđược rằng có nhãn hiệu thuộc sở hữu của người khác đang tồn tại Mặt khác, việc sửdụng của họ nhằm mục đích lợi dụng uy tín của nhãn hiệu để trục lợi và để ngăncản việc lưu thông của hàng hóa mang nhãn hiệu đó trên thị trường nước ngoài mà
họ đang là đại lí hoặc đại diện
Thứ ba, đó là hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến tên miền:
Dạng hành vi: Đăng kí, chiếm giữ quyền sử dụng hoặc sử dụng tên miềnLoại tên miền: Trùng hoặc tương tự gây nhầm lẫn với nhãn hiệu, tên thươngmại, chỉ dẫn địa lí đang được bảo hộ của người khác
Mục đích của việc sử dụng: Nhằm chiếm giữ tên miền, lợi dụng uy tín, danhtiếng của nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lí tương ứng
Chủ thể có quyền yêu cầu xử lý hành vi đăng ký chiếm giữ quyền sử dụng tênmiền hoặc sử dụng tên miền là chủ sở hữu nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý, tên thương mại
đã sử dụng các đối tượng này một cách rộng rãi, ổn định trong hoạt động kinhdoanh hợp pháp tại Việt Nam, được người tiêu dùng trong lĩnh vực liên quan biếtđến uy tín, danh tiếng của chủ thể quyền sở hữu công nghiệp và hàng hóa, dịch vụmang nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý, tên thương mại đó
2.1.2.2 Quy định trong Luật Cạnh tranh 2004
Cạnh tranh được thừa nhận là yếu tố đảm bảo duy trì tính năng động và hiệuquả của nền kinh tế Trong bối cảnh hiện tại của nền kinh tế Việt Nam, cạnh tranhlành mạnh và bình đẳng đóng vai trò trụ cột, đảm bảo sự vận hành hiệu quả của cơchế thị trường Trong nỗ lực tạo lập môi trường thuận lợi cho phát triển kinh tế,ngày 03/12/2004, Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 6 đã thông qua Luật Cạnh tranh số27/2004/QH11 và Luật này đã có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/7/2005
Các hành vi cạnh tranh không lành mạnh đối với quyền SHCN cũng được quyđịnh trong Luật Cạnh tranh 2004 Điều 39, Luật Cạnh tranh 2004 đã liệt kê cáchành vi cạnh tranh không lành mạnh, trong đó có bao gồm:
Chỉ dẫn gây nhầm lẫn: chỉ dẫn gây nhầm lẫn được hiểu là chỉ dẫn chứa đựng
thông tin gây nhầm lẫn về tên thương mại, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinhdoanh, bao bì, chỉ dẫn địa lý và các yếu tố khác để làm sai lệch nhận thức của khách
Trang 35hàng về hàng hóa, dịch vụ nhằm mục đích cạnh tranh Luật Cạnh tranh 2004 cấmdoanh nghiệp sử dụng chỉ dẫn gây nhầm lẫn và kinh doanh hàng hoá, dịch vụ có sửdụng chỉ dẫn gây nhầm lẫn Như vậy quy định này hoàn toàn giống với quy định tạiĐiều 130 Luật Sở hữu trí tuệ 2005.
Vi phạm bí mật kinh doanh: Theo quy định tại Điều 41 Luật Cạnh tranh
2004, các hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh bị cấm bao gồm tiếp cận, thu thậpthông tin thuộc bí mật kinh doanh bằng cách chống lại các biện pháp bảo mật củangười sở hữu hợp pháp bí mật kinh doanh đó; tiết lộ, sử dụng thông tin thuộc bí mậtkinh doanh mà không được phép của chủ sở hữu bí mật kinh doanh; vi phạm hợpđồng bảo mật hoặc lừa gạt, lợi dụng lòng tin của người có nghĩa vụ bảo mật nhằmtiếp cận, thu thập và làm lộ thông tin thuộc bí mật kinh doanh của chủ sở hữu bí mậtkinh doanh đó; tiếp cận, thu thập thông tin thuộc bí mật kinh doanh của người kháckhi người này làm thủ tục theo quy định của pháp luật liên quan đến kinh doanh,làm thủ tục lưu hành sản phẩm hoặc bằng cách chống lại các biện pháp bảo mật của
cơ quan nhà nước hoặc sử dụng những thông tin đó nhằm mục đích kinh doanh, xincấp giấy phép liên quan đến kinh doanh hoặc lưu hành sản phẩm
2.1.2 Các chủ thể liên quan đến hoạt động bảo hộ quyền chống cạnh tranh không lành mạnh đối với quyền SHCN tại Việt Nam
Nhóm chủ thể đầu tiên có liên quan đến hoạt động bảo hộ quyền chống cạnh
tranh không lành mạnh đối với quyền SHCN tại Việt Nam chính là chủ sở hữuquyền SHCN Có thể khẳng định nhóm chủ thể có vai trò quan trọng, mang tính chủđộng trong hoạt động bảo hộ quyền chống cạnh tranh không lành mạnh đối vớiquyền SHCN chính là các chủ sở hữu đối tượng SHCN Bởi lẽ một trong nhữngquyền hết sức quan trọng của chủ sở hữu các đối tượng SHCN là quyền chống lạicác hành vi cạnh tranh không lành mạnh xâm hại đến các đối tượng SHCN mà họđang nắm giữ Theo pháp luật Việt Nam, chủ sở hữu đối tượng SHCN sẽ được phápluật bảo hộ quyền lợi của mình nếu họ chứng minh được đã có hành vi cạnh tranhkhông lành mạnh xảy ra trên thực tế
Theo quy định tại Điều 121 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, chủ sở hữu đối tượng sởhữu công nghiệp là cá nhân, pháp nhân, các chủ thể khác được cơ quan nhà nước cóthẩm quyền cấp hoặc được chuyển giao văn bằng bảo hộ Như vậy chủ sở hữu làngười được cấp văn bằng bảo hộ tương ứng với từng loại đối tượng Chủ sở hữu
Trang 36sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí là tổ chức, cá nhân được cơ quannhà nước cấp văn bằng bảo hộ các đối tượng SHCN tương ứng Chủ sở hữu nhãnhiệu là tổ chức, cá nhân được cơ quan có thẩm quyền cấp văn bằng bảo hộ nhãnhiệu hoặc có nhãn hiệu đã đăng ký quốc tế được cơ quan có thẩm quyền công nhậnhoặc có nhãn hiệu nổi tiếng Chủ sở hữu tên thương mại là tổ chức, cá nhân sử dụnghợp pháp tên thương mại đó trong hoạt động kinh doanh Chủ sở hữu bí mật thươngmại là tổ chức, cá nhân có được bí mật kinh doanh một cách hợp pháp và thực hiệnviệc bảo mật bí mật kinh doanh đó Bí mật kinh doanh mà bên thuê, bên thực hiệnnhiệm vụ được giao có được trong khi thực hiện công việc được thuê hoặc đượcgiao thuộc quyền sở hữu của bên thuê hoặc bên giao việc, trừ trường hợp các bên cóthỏa thuận khác Chủ sở hữu chỉ dẫn địa lí của Việt Nam là Nhà nước Nhà nướctrao quyền sử dụng chỉ dẫn địa lí cho tổ chức, cá nhân tiến hành việc sản xuất sảnphẩm mang chỉ dẫn địa lí tại địa phương tương ứng và đưa sản phẩm đó ra thịtrường Nhà nước trực tiếp thực hiện việc quản lí chỉ dẫn địa lí hoặc trao quyềnquản lí chỉ dẫn địa lí cho tổ chức đại diện quyền lợi của tất cả các tổ chức, cá nhânđược trao quyền sử dụng chỉ dẫn địa lí.
Nhóm chủ thể thứ hai có vai trò quyết định trong hoạt động bảo hộ quyền
chống cạnh tranh không lành mạnh đối với quyền SHCN là các cơ quan chức năngnhà nước có thẩm quyền trong lĩnh vực bảo hộ quyền SHTT nói chung Cơ quan cóthẩm quyền trực tiếp quản lý, thực hiện các thủ tục liên quan đến việc xác lập, bảo
hộ quyền chống cạnh tranh không lành mạnh đối với quyền SHCN là Cục sở hữu trítuệ thuộc Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường
Các cơ quan có thẩm quyền trực tiếp thực hiện các biện pháp xử lý hành chínhnhằm bảo hộ các đối tượng SHCN trước những hành vi cạnh tranh không lànhmạnh trong hoạt động thương mại, sản xuất kinh doanh, xuất nhập khẩu hàng hóalà: các cơ quan hải quan thuộc Tổng cục Hải quan, cục Quản lý thị trường thuộc BộThương mại, cơ quan Công an kinh tế thuộc Bộ nội vụ Ủy ban nhân dân các cấp(tỉnh, huyện, xã) là cơ quan hành chính Nhà nước ở địa phương có trách nhiệm,thẩm quyền quản lý Nhà nước về bảo hộ SHTT nói chung và bảo hộ quyền chốngcạnh tranh không lành mạnh đối với quyền SHCN nói riêng ở địa phương Bên cạnhcác cơ quan quyền lực, hành chính nêu trên còn có hệ thống các cơ quan xét xử (tòaán) có vai trò quan trọng trong việc bảo hộ chống cạnh tranh không lành mạnh Cơ
Trang 37quan có thẩm quyền tổ chức áp dụng các biện pháp cưỡng chế để đảm bảo việc thựcthi các phán quyết của tòa án là Cục thi hành án thuộc Bộ Tư pháp.
Các hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ theoquy định của Luật Sở hữu trí tuệ 2005 và Luật Cạnh tranh 2004, về cơ bản, có thểphân thành hai nhóm khi xem xét vấn đề thực thi quyền, đó là hành vi cạnh tranhkhông lành mạnh liên quan đến sử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn và xâmphạm bí mật kinh doanh; hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến tênmiền Theo đó, thẩm quyền xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh sẽ được xác địnhnhư sau:
Thứ nhất, hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến sử dụng chỉ dẫn
thương mại gây nhầm lẫn và xâm phạm bí mật kinh doanh sẽ thuộc thẩm quyền xử
lý của (i) Cơ quan Thanh tra Khoa học và Công nghệ; (ii) Ủy ban Nhân dân các cấp;
và (iii) Cục quản lý cạnh tranh Khi xử lý nhóm hành vi cạnh tranh không lànhmạnh này, các cơ quan thực thi có thể lựa chọn trình tự, thủ tục và biện pháp xử lýtheo quy định tại Luật Sở hữu trí tuệ 2005 và Nghị định 97/2010/NĐ-CP về xử phạt
vi phạm hành chính trong lĩnh vực SHCN hoặc thủ tục tố tụng cạnh tranh của LuậtCạnh tranh 2004 và Nghị định 120/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính tronglĩnh vực cạnh tranh
Thứ hai, hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến tên miền sẽ thuộc
thẩm quyền xử lý của (i) Cơ quan Thanh tra Khoa học và Công nghệ; (ii) Ủy banNhân dân các cấp; và (iii) Cơ quan Thanh tra Thông tin và Truyền thông Khi xử lýnhóm hành vi cạnh tranh không lành mạnh này, các cơ quan thực thi tuân theo quyđịnh về trình tự, thủ tục và biện pháp xử lý theo quy định tại Luật Sở hữu trí tuệ
2005 và Nghị định 97, có viện dẫn đến quy định về xử lý tên miền quốc gia ".vn" cótranh chấp theo quy định tại Quyết định 73/QĐ-VNNIC ngày 17/03/2010 của Giámđốc Trung tâm Internet Việt Nam
2.1.3 Quy định về biện pháp bảo hộ quyền chống cạnh tranh không lành mạnh đối với quyền sở hữu công nghiệp
2.1.3.1 Biện pháp hành chính
Tại Nghị định 106/2006/NĐ-CP về xử phạt hành chính trong lĩnh vực sở hữucông nghiệp, tại Điều 16 quy định: “Cá nhân, tổ chức có hành vi cạnh tranh không
Trang 38lành mạnh và hành vi vi phạm bí mật kinh doanh về sở hữu công nghiệp thì bị xửphạt theo quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực cạnh tranh” Tại Nghịđịnh 120/2005/NĐ-CP về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực cạnh tranh, có quyđịnh rõ về biện pháp hành chính xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh đối vớiquyền SHCN như sau:
Đối với hành vi chỉ dẫn gây nhầm lẫn :
Thứ nhất, phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong
các hành vi sau đây:
Sử dụng chỉ dẫn chứa đựng thông tin gây nhầm lẫn về tên thương mại, khẩuhiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, bao bì, chỉ dẫn địa lý để làm sai lệch nhậnthức của khách hàng về hàng hóa, dịch vụ của mình và của doanh nghiệp khácnhằm mục đích cạnh tranh; kinh doanh hàng hoá, dịch vụ có sử dụng chỉ dẫn gâynhầm lẫn quy định tại điểm a khoản này
Thứ hai, phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi
chỉ dẫn gây nhầm lẫn quy định tại khoản 1 Điều này thuộc một trong các trườnghợp sau đây:
Hàng hoá, dịch vụ liên quan là các mặt hàng quy định tại điểm a khoản 2 Điều
10 của Nghị định này; hàng hoá, dịch vụ được lưu thông, cung ứng trên phạm vi từhai tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trở lên
Thứ ba, ngoài việc bị phạt tiền theo khoản 1 và 2 Điều này, doanh nghiệp vi
phạm còn có thể bị áp dụng một hoặc một số hình thức xử phạt bổ sung và biệnpháp khắc phục sau đây:
Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để thực hiện hành vi vi phạm baogồm cả tịch thu toàn bộ khoản lợi nhuận thu được từ việc thực hiện hành vi viphạm; buộc cải chính công khai
Đối với hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh :
Thứ nhất, phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong
các hành vi sau đây:
a) Tiếp cận, thu thập thông tin thuộc bí mật kinh doanh bằng cách chống lạicác biện pháp bảo mật của người sở hữu hợp pháp bí mật kinh doanh đó;
Trang 39b) Tiết lộ, sử dụng thông tin thuộc bí mật kinh doanh mà không được phép củachủ sở hữu bí mật kinh doanh;
c) Vi phạm hợp đồng bảo mật hoặc lừa gạt, lợi dụng lòng tin của người cónghĩa vụ bảo mật nhằm tiếp cận, thu thập và làm lộ thông tin thuộc bí mật kinhdoanh của chủ sở hữu bí mật kinh doanh đó;
d) Tiếp cận, thu thập thông tin thuộc bí mật kinh doanh của người khác khingười này làm thủ tục theo quy định của pháp luật liên quan đến kinh doanh, làmthủ tục lưu hành sản phẩm hoặc bằng cách chống lại các biện pháp bảo mật của cơquan nhà nước hoặc sử dụng những thông tin đó nhằm mục đích kinh doanh, xincấp giấy phép liên quan đến kinh doanh hoặc lưu hành sản phẩm
Thứ hai, phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong
các hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh quy định tại khoản 1 Điều này thuộc mộttrong các trường hợp sau đây:
a) Sử dụng bí mật kinh doanh để sản xuất và lưu thông hàng hoá, cung ứngdịch vụ trên phạm vi từ hai tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trở lên;
b) Tiết lộ, cung cấp bí mật kinh doanh cho đối thủ cạnh tranh của chủ sở hữu
bí mật kinh doanh đó
Thứ ba, ngoài việc bị phạt theo khoản 1 Điều này, doanh nghiệp vi phạm còn có
thể bị tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để thực hiện hành vi vi phạm baogồm cả tịch thu toàn bộ khoản lợi nhuận thu được từ việc thực hiện hành vi vi phạm
2.1.3.2 Biện pháp dân sự
Trong Luật Sở hữu trí tuệ 2005 không có quy định cụ thể về hành vi cạnhtranh không lành mạnh đối với quyền SHCN nhưng có quy định chung về biện pháp
xử phạt dân sự đối với hành vi xâm phạm quyền SHCN
Theo Luật Sở hữu trí tuệ 2005, các biện pháp dân sự bao gồm:
•Buộc chấm dứt hành vi xâm phạm;
•Buộc xin lỗi, cải chính công khai;
•Buộc thực hiện nghĩa vụ dân sự;
•Buộc tiêu hủy hoặc buộc phân phối hoặc đưa vào sử dụng không nhằm mục đích thương mại đối với hàng hóa … được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh hàng hóa xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ… (Điều 202, Luật Sở hữu trí tuệ 2005).
Trang 40Theo Bộ luật Tố tụng dân sự 2004 thì các tranh chấp dân sự về sở hữu trí tuệnói chung và sở hữu công nghiệp nói riêng thuộc thuộc thẩm quyền giải quyết của
Tòa án: “Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân,
tổ chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận” (Khoản 2, Điều 29, Bộ luật Tố tụng
dân sự)
Trong hoạt động của mình, từ lâu Toà án các cấp đã có thẩm quyền giải quyếtcác tranh chấp, hoặc xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ nói chung và các vụ việc cạnhtranh không lành mạnh đối với quyền SHCN nói riêng Lúc đầu chỉ thể hiện ở hoạtđộng xét xử của Toà Dân sự, Toà Hình sự Sau này do sự thay đổi về tổ chức theohướng chuyên môn hoá cho phù hợp với sự phát triển và hội nhập của nền kinh tếViệt Nam Do đó các Toà Kinh tế, Toà Hành chính được thành lập và cũng có thẩmquyền giải quyết việc tranh chấp liên quan đến lĩnh vực sở hữu trí tuệ
2.1.3.3 Biện pháp hình sự
Trong Bộ luật Hình sự không quy định cụ thể về chế tài xử phạt hành vi cạnhtranh không lành mạnh đối với quyền SHCN mà chỉ quy định về chế tài xử phạt vớinhững hành vi xâm phạm quyền SHCN nói chung Tuy nhiên, vì quyền chống cạnhtranh không lành mạnh nội dung cơ bản của quyền SHCN nên xâm phạm đến quyềnchống cạnh tranh không lành mạnh đối với quyền SHCN cũng chính là xâm phạmquyền SHCN
Theo các quy định của pháp luật cụ thể trong Bộ luật Hình sự 1999 sửa đổi bổsung năm 2009 thì cơ chế pháp lý hình sự để bảo vệ quyền SHCN được áp dụngcho các tội danh sau: tội sản xuất, buôn bán hàng giả (Điều 156); tội sản xuất, buônbán hàng giả là lương thực thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh (Điều157); tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốcthú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng vật nuôi (Điều 158)
Đặc biệt, Bộ luật Hình sự sửa đổi bổ sung năm 2009 đã thêm vào một tội danhmới, đó là tội xâm phạm quyền SHCN tại Điều 171 Theo đó :
Thứ nhất, người nào cố ý xâm phạm quyền SHCN đối với nhãn hiệu hoặc
chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ tại Việt Nam với quy mô thương mại thì bị phạttiền từ năm mươi triệu đồng đến năm trăm triệu đồng hoặc cải tạo không giamgiữ đến hai năm