1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

dia CD

88 129 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 896,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trước vai trò và đóng góp to lớn của du lịch đối với nền kinh tế quốcdân, Đảng và Nhà nước ta, trong chiến lược phát triển du lịch 2000-2010 đãxác địch: “đưa du lịch Việt Nam trở thành m

Trang 1

Khoa qu¶n trÞ kinh doanh Chuyªn ngµnh kinh doanh quèc tÕ

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU

Tính cấp thiết của đề tài

Ngày nay, với sự phát triển vũ bão của khoa học-công nghệ, nền kinh tếthế giới đang chuyển sang giai đoạn “hậu công nghiệp”, phát triển theo hướngchuyển dịch cơ cấu sang dịch vụ Trong đó du lịch là một trong những ngànhdịch vụ được hầu hết các nước ưu tiên phát triển

Du lịch là một ngành hoạt động tổng hợp có hiệu quả về cả kinh tế và

xã hội Trên giác độ kinh tế đó là ngành thực hiện "xuất khẩu tại chỗ", mang

về nguồn thu ngoại tệ lớn cho quốc gia Trên giác độ xã hội, du lịch tạo ranhiều công ăn việc làm, xoá đói giảm nghèo; góp phần tôn tạo các giá trị tựnhiên và nhân văn… Trên thế giới, từ thế kỉ 19 du lịch đã chính thức trở thànhmột ngành kinh tế, theo đấy khoa học du lịch cũng ra đời, với trọng tâm làviệc nghiêm cứu nhằm đề ra các giải pháp, chiến lược phát triển du lịch quốcgia

Trước vai trò và đóng góp to lớn của du lịch đối với nền kinh tế quốcdân, Đảng và Nhà nước ta, trong chiến lược phát triển du lịch 2000-2010 đãxác địch: “đưa du lịch Việt Nam trở thành một trong những ngành kinh tế mũi

Trang 3

nhọn của đất nước” Để tiến tới mục tiêu đó du lịch Việt Nam cần phải có cácgiải pháp hiệu quả và tập trung mọi nguồn lực để thực hiện tốt các giải pháp

đã đề ra Với đề tài luận văn “Một số giải pháp phát triển du lịch Việt Nam”,

em mong muốn được đóng góp một phần nhỏ bé công sức của mình trongviệc tìm ra và đề xuất một số giải pháp tích cực, từ đó thúc đẩy sự phát triểncủa du lịch Việt Nam

Mục tiêu nghiên cứu

Nội dung của đề tài tập trung vào việc đề ra một số giải pháp nhằmphát triển du lịch Việt Nam trên cơ sở:

- Nghiên cứu về đặc điểm, tính chất, vai trò của du lịch trên thế giớinói chung và du lịch Việt Nam nói riêng

- Khảo sát xu hướng phát triển của du lịch quốc tế và khu vực

- Đánh giá thực trạng hoạt động du lịch của Việt Nam hiện nay, để từ

đó đề xuất các giải pháp phát triển du lịch Việt Nam

Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng các phương pháp diễn giải, phân tích, tổng hợp, sosánh trên cơ sở sử dụng các bảng, biểu và các tài liệu tham khảo về mặt lýthuyết lẫn thực tiễn của những nghiên cứu trước đó Đồng thời, luận văn cũnglấy phép biện chứng làm cơ sở phương pháp luận

Phạm vi nghiên cứu

Nội dung luận văn nghiên cứu tổng quan hoạt động du lịch, thực trạngphát triển du lịch ở Việt Nam những năm qua, qua đó đưa ra những giải phápnhằm mục tiêu hướng đến sự phát triển bền vững du lịch nước ta

Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn

Trang 4

được kết cấu gồm 3 chương:

Chương I: Tổng quan về hoạt động du lịch

Chương II: Thực trạng phát triển du lịch Việt Nam những năm qua Chương III: Một số giải pháp phát triển du lịch Việt Nam

CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG DU LỊCH

1 Một số khái niệm cơ bản về du lịch

1.1 Khái niệm "du lịch"

Du lịch ra đời gần như cùng lúc với sự suất hiện của xã hội loài người,tuy lúc đó mục đích du lịch có thể chưa hoàn toàn tách bạch với các mục đíchkhác Theo ngành khảo cổ học, Châu Phi được xem là cái nôi của xã hội loàingười, tuy nhiên vết tích của người Châu Phi cổ đại đã được tìm thấy ở Châu

Á, họ được xem là tiền nhân của giống người Bắc Kinh (Trung Quốc), vàngười Java (Indonexia) Ngoài giả thiết cho rằng người cổ xưa di cư để tìmthức ăn và trốn tránh nguy hiểm, còn một giả thiết khác được các nhà khoahọc đưa ra, đấy là con người quan sát sự di cư của loài chim, muốn biết chúng

từ đâu bay đến và sẽ bay đến đâu nên họ di chuyển theo hướng đi của chúng.Tức giả thiết này cho rằng, con người, từ xa xưa luôn có tính tò mò, hammuốn khám phá thế giới chung quanh Cũng có thể, cuộc di dân này có động

cơ từ cả hai giả thuyết đã nêu Sự xuất hiện của chủng tộc người gốc Á ởChâu Mỹ (người da đỏ) cách hàng vạn năm trước khi Christospher Colombustìm ra nơi này là khác là một minh chứng khác cho sự hiếu kỳ của người xưa

Trang 5

Trong chuyến chuyến di dân từ Châu Á đến Châu Mỹ thì các nhà nghiên cứulại nghiêng về giả thuyết cho rằng động lực chính là lòng ham hiểu biết Nếuchỉ đơn thuần là đi tìm thức ăn thì chưa đủ thuyết phục lý giải cho quảngđường di cư vượt biển dài tới nửa vòng trái đất.

Mặc dù có nguồn gốc từ rất lâu, song cho đến nay, những nhận thức vềnội dung du lịch vẫn chưa thống nhất Dưới nhiều góc độ và hoàn cảnh chiphối (thời gian, địa lý) đưa đến một cánh hiểu khác nhau về du lịch

Ý nghĩa đầu tiên của từ du lịch là sự khởi hành và sự lưu trú tạm thờicủa con người ra khỏi nơi cư trú thường xuyên của họ Có nhiều lý do để kéocon người ra khỏi nơi cư trú thường xuyên của mình như lòng ham hiểu biết

về thế giới xung quanh, vì lòng yêu thiên nhiên Có thể hiểu lúc này du lịch

là sự mở rộng không gian văn hoá của mỗi cá nhân.

Với ý nghĩa này, du lịch mang tính chất là một hiện tượng xã hội nhiềuhơn một hiện tượng kinh tế, nó ứng với thời kỳ trước cuộc phân công laođộng lần thứ hai (lúc thủ công nghiệp tách khỏi nông nghiệp truyền thống).Biểu hiện của hoạt động kinh doanh du lịch chỉ rõ nét vào giai đoạn phâncông lao động lần thứ ba của xã hội loài người (thương nghiệp ra đời) Lúcnày trong xã hội xuất hiện các cơ sở lưu trú, các trung tâm tham quan, vuichơi như Kim tự tháp (Ai Cập), đấu trường La mã, các nhà tắm hơi cổ đạithành Roma, những nơi được sử sách mô tả vào thời hoàng kim luôn tấp nậpcác du khách Đặc biệt, du khách đến đây còn có thể mua về các kỷ vật củađịa phương Hiện tượng tham quan của du khách đã mang lại một nguồn thu

nhập các kể cho các địa phương này Khi có sự tiêu dùng các dịnh vụ trong quá trình duy chuyển, du lịch được hiểu là toàn bộ những quan hệ và hiện tượng xảy ra trong quá trình con người rời khỏi nơi cư trú thường xuyên của mình.

Du lịch bắt đầu phát triển mạnh mẽ vào đầu thế kỷ XVII khi cuộc cách

Trang 6

mạng khoa học kỹ thuật lần thứ nhất diễn ra kéo theo cuộc cách mạng về giaothông trên thế giới Đầu máy hơi nước được sử dụng rộng rãi, kim loại ngàycàng có mặt nhiều hơn trong ngành đường sắt, đóng tầu và công nghiệp sảnxuất ô tô Giao thông phát triển là nguyên nhân chính và là điều kiện vật chấtquan trọng thúc đẩy các cuộc khởi hành của con người

Bắt đầu từ nửa sau thế kỷ IXX thì du lịch mới trở thành một hiện tượngđại chúng Trong xã hội xuất hiện một nghề mới, rất phát triển ở các địaphương có nhiều khách tham quan như kinh doanh khách sạn, nhà hàng, môigiới, hướng dẫn du lịch, cửa hàng, tiện ăn cùng các tổ chức và đội ngũ phục

vụ du khách ra đời Với ý nghĩa như đã nêu trên du lịch đã tạo nên nhiều hoạtđộng thu về lợi ích kinh tế Lúc này, du lịch từ chỗ xuất hiện ban đầu chỉ làmột hiện tượng xã hội đã trở thành một hiện tượng kinh tế-xã hội phổ biến,

khái niệm ''ngành du lịch'' hay ''kinh tế du lịch'' xuất hiện, nội dung của nó coi du lịch là một ngành kinh doanh kiếm lời từ việc thoả mãn các nhu cầu của du khách.

Như vậy du lịch là một hiện tượng kinh tế-xã hội phức tạp và trong quátrình phát triển, nội dung của nó không ngừng mở rộng và ngày càng phongphú Tuy nhiên du lịch là một hiện tượng có tính hai mặt mặt kinh tế và mặt

xã hội, do đó rất khó để gộp chung cả hai mặt này vào một định nghĩa, trong

từ điển bách khoa toàn thư Việt Nam, du lịch cũng được xếp vào nhóm các từ

đa nghĩa Do vậy cánh tiếp cận tốt nhất thuật ngữ du lịch là tách nó thành haiphần

Xét trên giác độ xã hội: Du lịch là sự di chuyển và lưu trú tạm thờitrong thời gian rảnh rỗi của mỗi cá nhân hay tập thể nhằm mục đính phục hồisức khoẻ, nâng cao nhận thức về thế giới quan, có hoặc không kèm theo việctiêu thụ một số giá trị tự nhiên, văn hoá, kinh tế, và dịch vụ do các cơ sởchuyên nghiệp cung cấp Theo góc độ này thì du lịch cần hội đủ ba điều kiện

Trang 7

về không gian, thời gian và mục đính chuyến đi Về không gian, người đi dulịch phải đi ra ngoài môi trường thường xuyên của mình, điều này ngoại trừcác chuyến đi trong phạm vi của nơi ở và các chuyến đi có tính chất thườngxuyên hàng ngày Về thời gian, du lịch phải đảm bảo độ dài thời gian qui địnhtrước của các tổ chức du lịch để loại trừ sự di cư trong một thời gian dài Vềmặt mục đính chuyến đi nhằm loại trừ việc di cư để làm việc tạm thời.

Xét trên giác độ kinh tế: Thì du lịch là một lĩnh vực kinh doanh cácdịch vụ nhằm thoả mãn nhu cầu nảy sinh trong quá trình di chuyển và lưu trútạm thời trong thời gian rảnh rỗi của cá nhân hay tập thể ngoài nơi cư trú vớimục đích phục hồi sức khoẻ, nâng cao tại chỗ nhận thức về thế giới quan

Trong từ điển bách khoa toàn thư Việt Nam, các học giả cũng có quanđiểm tách hai nội dung cơ bản của du lịch thành hai phần riêng biệt Nghĩathứ nhất của từ này là một dạng nghỉ ngơi, dưỡng sức, tham quan tích cực củacon người ngoài nơi cư trú với mục đính nghỉ ngơi, giải trí, xem danh lamthắng cảnh, di tích lịch sử, công trình văn hoá, nghệ thuật Theo nghĩa thứhai, du lịch được coi là một ngành kinh doanh tổng hợp có hiệu quả cao vềmọi mặt, nâng cao hiểu biết về thiên nhiên, truyền thống lịch sử và văn hoádân tộc, từ đó góp phần làm tăng thêm tình yêu đất nước; đối với người nướcngoài là tình hữu nghị với dân tộc mình; về mặt kinh tế, du lịch là lĩnh vựckinh doanh mang lại hiệu quả rất lớn, có thể coi là hình thức xuất khẩu hànghoá dịch vụ tại chỗ

1.2 Khái niệm "khách du lịch"

Trên thế giới, khái niệm khách du lịch xuất hiện lần đầu tiên vào cuốithế kỷ XVIII tại Pháp Thời đó người Pháp chia các cuộc hành trình của ngườidân các nước lân cận trên nước Pháp ngoài thành hai loại:

- Cuộc hành trình nhỏ: Từ Paris đến miền Đông Nam nước Pháp

Trang 8

- Cuộc hành trình lớn: Là cuộc hành trình theo bờ Địa Trung Hảixuống phía Tây Nam nước Pháp.

Trong đó những người thực hiện cuộc hành trình lớn được gọi là khách

du lịch hay du khách

Tương tự, tại Vương Quốc Anh, khách du lịch cũng được định nghĩa lànhững người thực hiện cuộc hành trình lớn xuyên Vương Quốc Anh

Theo cánh hiểu này, những người được gọi là du khách ở đây phải hội

đủ hai điều kiện Thứ nhất, họ phải là người ngoại quốc; thứ hai, họ thực hiệnchuyến hành trình xuyên quốc gia có nghĩa khách du lịch là những ngườingoại quốc có khả năng mang lại một một lượng ngoại tệ đáng kể cho nước

sở tại Các định nghĩa này nói chung mang tính chất hẹp và phiến diện thếnhưng bước đầu đã đưa ra một khái niệm để gọi tên những người thực hiệncác chuyến du lịch

Một số khái niệm tiếp theo của các nhà kinh tế học cho đến đầu thế kỷ

XX cũng mới chỉ mang tính chất chủ yếu phản ảnh sự phát triển của du lịchđương thời và xem xét không đầy đủ, hạn chế nội dung Như khái niệm do

nhà kinh tế học người Áo đưa ra vào đầu thế kỷ XX: "Khách du lịch là hành khách xa hoa ở lại theo ý thích, ngoài nơi cư trú thường xuyên để thoả mãn những nhu cầu sinh hoạt cao cấp mà không theo đuổi các mục đính kinh tế".

Nhà kinh tế học người Anh cùng thời lại khẳng định để trở thành du khách

phải có hai điều kiện: "Thứ nhất phải xa nhà dưới một năm; thứ hai phải tiêu những khoản tiền đã tiết kiệm ở nơi khác"

Sau này khi ngành du lịch ngày càng phát triển và sự ra đời của các hộinghị quốc tế, các tổ chức quốc tế quan tâm đến hoạt động du lịch thì địnhnghĩa khách du lịch thì mới được nghiên cứu một cách đầy đủ và có cơ sởđáng tin cậy

Trang 9

Định nghĩa được chấp nhập rộng rãi đầu tiên là định nghĩa của liên hiệpcác quốc gia (League of Nations) vào năm 1937 về ''khách du lịch nước

ngoài" trên phương pháp liệt kê và loại trừ: "Bất cứ ai đến thăm một nước khác với nơi cư trú thường xuyên của mình trong khoảng thời gian ít nhất là 24h" theo định nghĩa này tất cả những người được coi là khách du lịch bao

3 Những người khởi hành vì mục đính kinh doanh

4 Những người cập bến từ các chuyến hành trình du ngoại trên biển thậm chí cả khi họ dừng lại trong khoảng thời gian ít hơn 24h

Những người không được xem là khách du lịch

1 Những người đến lao động, kinh doanh có hoặc không có hợp đồnglao động

2 Những người đến với mục đính định cư

3 Sinh viên hay những người đến học ở các trường

4 Những người ở biên giới sang làm việc

5 Những người đi qua một nước mà không dừng lại mặc dù cuộc hànhtrình đi qua nước đó có thể kéo dài 24h

Năm 1978 tiểu ban các vấn đề kinh tế-xã hội của Liên hiệp quốc lạiphân chia khách du lịch thành khách du lịch chủ động và khách du lịch bị

động "khách viếng tham quốc tế là tất cả những người đến thăm một đất nước-chúng ta gọi là khách du lịch chủ động; những người từ một đất nước

Trang 10

đi ra một nước ngoài viếng thăm-chúng ta gọi là khách du lịch bị động với khoảng thời gian nhiều nhất là một năm" Bên cạnh khái niệm về khách du

lịch quốc tế tiểu ban này cũng đưa ra định nghĩa về khách du lịch nội địa:

"khách du lịch nội địa là công dân của một nước (không kể quốc tịch) hành trình đến một nơi trong đất nước đó, khác nơi cư trú thường xuyên của mình trong khoảng thời gian ít nhất là 24 giờ, hay một đêm với mọi mục đính trừ mục đích hoạt động để được trả phù lao"

Ngoài các định nghĩa do các tiểu ban trực thuộc liên hợp quốc đưa rathì các hội nghị quốc tế về du lịch cũng đưa ra các định nghĩa quốc tế về dulịch riêng cho mình Hội nghị quốc tế về du lịch tại Ha Lan năm 1989 đưa ra

định nghĩa: "khách du lịch quốc tế là những người đi tham quan một nước khác, với mục đính tham, nghỉ ngơi giải trí, thăm hỏi trong thời gian nhỏ hơn

ba tháng, những hành khách này không làm gì để được trả phù lao, sau thời gian lưu trú đó du khách trở về nơi ở thường xuyên của mình" Định nghĩa

này khác với định nghĩa trước đó và thời gian tối đa lưu lại ở các nước khácthay vì tối đa là một năm được giảm xuống còn ba tháng, không qui định thờigian tối thiểu

Tổng kết về khái niệm khách du lịch

Như vậy tổng kết lại khái niệm khách du lịch có hai khía cạnh:

Thứ nhất, động cơ khởi hành phải xuất phát từ động cơ du lịch (có thể

là đi tham quan, nghỉ dưỡng, thăm người thân, kết hợp kinh doanh trừ động

cơ lao động kiếm tiền)

Thứ hai, vấn đề thời gian: khoảng thời gian tối thiểu và tối đa cư trú ởnơi khác nơi cư trú thường xuyên theo qui định của từng tổ chức, từng quốcgia hay địa phương

Ở Việt Nam thì cụm từ khách du lịch có một từ tương đương là "Lữ

Trang 11

khách", hay "khách thập phương", những từ này ra đời từ rất lâu và có nguồn gốc từ Trung Quốc theo nghĩa Hán việt có nghĩa là khách đi vãn cảnh từ phương xa đến với mục đính thăm thú thiên nhiên hoặc các mục đính khác ngoài mục đính lao động kiếm tiền.

Trong luật du lịch Việt Nam ban hành năm 2005, tại chương năm, điều

ba mươi sáu có nêu khái niệm về khách du lịch như sau:

- Khách du lịch gồm khách du lịch nội địa và khách du lịch quốc tế

- Khách du lịch nội địa là công dân Việt Nam, người nước ngoàithường trú tại Việt Nam đi du lịch trong phạm vi lãnh thổ ViệtNam

- Khách du lịch quốc tế là người nước ngoài, người Việt Nam định

cư ở nước ngoài vào Việt Nam du lịch; công dân Việt Nam, người

nước ngoài thường trú tại Việt Nam ra nước ngoài du lịch.

1.3 Khái niệm sản phẩm du lịch

Sản phẩm du lịch là các dịnh vụ hàng hoá cấp cho du khách, được tạonên bởi sự kết hợp giữa việc khai thác các yếu tố tự nhiên, xã hội với việc sửdụng các nguồn lực, cơ sở vật chất kỹ thuật và lao động tại một đơn vị kinhdoanh du lịch, một vùng hay một quốc gia

Sản phẩm du lịch bao gồm cả yếu tố hữu hình lẫn vô hình Yếu tố hữuhình là hàng hoá, yếu tố vô hình là dịch vụ, nếu liệt kê theo quá trình đi dulịch của khách du lịch thì nó có thể bao gồm: Dịch vụ vận chuyển; dịch vụ lưutrú; dịch vụ ăn uống; dịch vụ tham quan giải trí trong đó, dịch vụ chiếm từ

80 đên 90% thành phần của sản phẩm du lịch

1.4 khái niệm tài nguyên du lịch

Du lịch là hoạt động mang tích chất định hướng tài nguyên cao Muốnphát triển du lịch thì cần phải có tài nguyên du lịch Một đất nước có càng

Trang 12

nhiều tài nguyên du lịch thì càng có cơ hội để phát triển du lịch dựa trên khaithác các tài nguyên đó.

Tài nguyên vốn được hiểu là những nguồn vô hình hay hữu hình có khả năng đưa vào khai thác và sử dụng mang lại lợi ích cho con người Vậy tài nguyên du lịch có thể được hiểu đơn giản là Những nguồn tài nguyên có thể được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch của con người Tài nguyên du

lịch là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến dulịch, đô thị du lịch.

Tài nguyên du lịch bao gồm tài nguyên du lịch thiên nhiên và tàinguyên du lịch nhân văn

Tài nguyên du lịch thiên nhiên là các điều kiện về môi trường tự nhiên

có thể khai thác phục vụ cho các mục đích du lịch như địa hình, khí hậu, thựcvật, động vât, tài nguyên nước, vị trí địa lý v.v…

Tài nguyên du lịch nhân văn bao gồm các giá trị văn hoá, các thành tựuchính trị và kinh tế có ý nghía đặc trưng cho sự phát triển du lịch tại một địađiểm, một đất nước

2 Các loại hình du lịch

Có nhiều cách để phân loại du lịch, theo các tiêu chí khác nhau, du lịch

có thể được chia thành nhiều loại hình Theo đó, loại hình du lịch được hiểu làcác nhóm sản phẩm du lịch có cùng những đặc điểm giống nhau theo tiêu chíphân loại như cùng thoả mãn một nhu cầu, một động cơ du lịch, được tiêu thụbởi cùng một nhóm khách hàng, có cùng một cách phân phối, một cách tổchức như nhau hay cùng một mức giá

2.1 Phân loại theo lãnh thổ

Nếu lấy tiêu chí là phân chia theo lãnh thổ thì du lịch có thể chia thành

du lịch quốc tế và du lịch nội địa

Trang 13

Du lịch quốc tế: Là loại hình du lịch có sự tham gia của yếu tố nước

ngoài (hoặc khách du lịch hoặc nhà cung ứng dịch vụ du lịch) Trong loại hình

du lịch quốc tế còn có thể chia tiếp thành hai nhóm nhỏ

- Du lịch đón khách: là việc tổ chức phục vụ, đón tiếp khách nướcngoài đến du lịch trong nước của tổ chức cung ứng dịch vụ du lịch

- Du lịch gửi khách: Phục vụ và tổ chức đưa khách trong nước đi dulịch ở nước ngoài

Du lịch nội địa: Được hiểu là các hoạt động tổ chức, phục vụ người

trong nước đi du lịch, không có sự tham gia của yếu tố nước ngoài

2.2 Phân loại theo mục đích chuyến đi

Phân chia theo mục đính chuyến đi có thể chia thành du lịch thuần tuý vớimục đính: tham quan, nghỉ ngơi, giải trí hoặc kết hợp với các mục đích khácnhư học tập, công tác, khám chữa bệnh…

Hình 1: Phân loại du lịch theo mục đích chuyến đi

Trang 14

2.3 Phân loại theo tổ chức chuyến đi

Du lịch trọn gói: Theo hình thức này khách du lịch có thể mua dịch vụ

của các công ty kinh doanh dịch vụ lữ hành, các công ty này sẽ là người đứng

ra tổ chức cho chuyến đi của họ bao gồm: phương tiện đi lại, dịch vụ lưu trú,

ăn uống, tham quan theo một lịnh trình đã định trước

Du lịch tự do: Là loại hình du lịch mà cá nhân hay tổ chức tự tổ chức

tự xắp xếp cho chuyến hành trình du lịch của mình

2.4 Phân loại theo môi trường

Hoạt động du lịch theo cánh phân loại này được chia thành hai nhóm:

du lịch văn hoá và du lịch thiên nhiên

Du lịch thiên nhiên: Là chuyến hành trình đến thăm thú khám phá

những nơi có cảnh quan thiên nhiên hấp dẫn Trong nhóm du lịch này có thểchia thành các nhóm nhỏ hơn như: du lịch biển, du lịch núi, rừng, sông suối,

du lịch nông thôn thành thị v.v… Khi xã hội ngày càng phát triển thì conngười càng ít có cơ hội gần gũi với thiên nhiên Bị bao bọc bởi những tiệnnghi của cuộc sống hiện đại và áp lực công việc ngày càng gia tăng có thể làmcho con người ta mệt mỏi Khi đó, việc hoà mình vào thiên nhiên là một nhucầu nhằm giải toả căng thẳng, nâng cao sức khoẻ và đến với một môi trườngđầy mới lạ đầy hấp dẫn

Du lịch văn hoá: Là hoạt động du lịch chủ yếu diễn ra chủ yếu trong

môi trường văn hoá hay có liên quan tới các yếu tố văn hoá tức là khai tháccác tài nguyên văn hoá, nó có thể bao gồm: đi thăm các di tích, các công trìnhvăn hoá, các lễ hội, phong tục v.v… Du lịch văn hoá hấp dẫn du khách bởi sựđậm đà, tính truyền thống cũng như sự độc đáo của từng địa phương Du lịch

Trang 15

văn hoá là một hướng mà các quốc gia đều chú trọng phát triển vì nó khôngchỉ góp phần gìn giữ mà còn là một kênh giới thiệu các giá trị văn hoá đángquí với bạn bè trên khắp năm châu

Ngoài ra còn có thể phân chia theo một vài tiêu chí khác như phân chiatheo thời gian thành du lịch ngắn ngày và du lịch dài ngày; phân chia theohành trình thành hành trình ngắn và hành trình dài; phân chia theo tiêu chíphương tiện thì có du lịch đường thuỷ, du lịch đường bộ v.v…

3 Đặc điểm của du lịch

Đặc điểm của hiện tượng du lịch là các dấu hiệu, yếu tố, tính chất khácbiệt của du lịch với các hiện tượng khác Việc nghiên cứu các đặc điểm của dulịch là rất cần thiết để hiểu rõ bản chất của du lịch và làm cơ sở cho nhữnggiải pháp, kế hoạch, chiến lược phát triển du lịch của đất nước Là một hiệntượng kinh tế xã hội phức tạp du lịch có nhiều đặc điểm riêng biệt rất khó liệt

kê hết, dưới đây xin nêu ra một số đặc điểm chính yếu của du lịch

3.1 Các nhóm yếu tố cấu thành nên hiện tượng du lịch

Có bốn nhóm yếu tố cấu thành nên hiện tượng du lịch bao gồm: Dukhách, nhà cung cấp dịch vụ du lịch, chính quyền địa phương và người dân sởtại Bốn nhóm yếu tố này có mối quan hệ tương tác lẫn nhau, mối quan hệgiữa chúng được biểu hiện qua sơ đồ sau

Hình 2: Mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành nên hiện tượng du lịch

Trang 16

Du khách: Là những người thực hiện các chuyến hành trình với mục

đích du lịch Họ phải là những người có thời gian nhàn rỗi, có nhu cầu đi dulịch và đủ khả năng tài chính để đi du lịch Ngày nay khi mức sống và vănhoá của người dân ngày càng được nâng cao cộng thêm với sức ép của cuộcsống hiện đại thì nhu cầu du lịch cũng tăng theo và trở thành một nhu cầu phổbiến

Nhà cung cấp dịch vụ: Là những người cung cấp trọn vẹn hay một

phần của dịch vụ du lịch bao gồm các công ty du lịch lữ hành, nhà hàng,khách sạn, khu vui chơi, giải trí, nhà sản xuất đồ lưu nhiệm Du khách khi cónhu cầu đi du lịch thì cần tới những nhà cung cấp dịch vụ du lịch để thoả mãnnhu cầu của mình

Chính quyền địa phương: Sản phẩm du lịch là không thể di chuyển

được, do đó nếu muốn tiêu dùng nó thì người có nhu cầu phải đến nơi có tàinguyên du lịch Chính quyền địa phương là tổ chức quản lý tại nơi có tàinguyên du lịch Về mặt kinh tế, du lịch mang lại một khoản thu cho địaphương Nhưng về mặt xã hội, lại đặt ra những thách thức với vấn đề quản lýhoạt động kinh doanh du lịch và quản lý sinh hoạt của lượng khách từ nơikhác tới để không có tác động xấu đến môi trường tự nhiên, văn hoá, an ninhtrật tự Trên thực tế, nếu chính quyền địa phương tạo được một môi trường

Cư dân sở tại

Du khách cấp dịch vụ Nhà cung

Chính quyền địa phương

Trang 17

thuận lợi để phát triển du lịch, có hướng phát triển đúng đắn sẽ có tác độngthu hút khách du lịch và tạo điều kiện cho việc kinh doanh du lịch tại địaphương phát triển mạnh mẽ.

Cư dân sở tại: Hiện tượng du lịch có tác động rất lớn đến cư dân sở tại

khi nơi họ sinh sống xuất hiện rất nhiều du khách xen vào cuộc sống của họ.Xét về mặt kinh tế, nó mang lại cơ hội việc làm cho họ trong ngành du lịch

Về mặt xã hội, họ có cơ hội giao lưu văn hoá, tăng cường hiểu biết với nhiềungười từ các vùng miền khác Tức du lịch giúp cư dân sở tại tăng các mốiquan hệ xã hội và mở rộng thế giới quan, nhân sinh quan Thái độ của cư dânđịa phương cũng là một nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động du lịch, sự thânthiện, hiền hoà, của người dân địa phương giúp thu hút và tạo sự thoải máicho du khách, nói cách khác sự hiếu khách của người dân cũng làm giàu thêmcho tài nguyên du lịch Tuy nhiên, du lịch cũng có thể gây ra tác động tiêu cựcnhư tiêm nhiễm các thói hư tật xấu, ảnh hưởng đến văn hoá và nếp sinh hoạtthường nhật của người dân

Do có mối quan hệ tương tác lẫn nhau này của bốn nhóm yếu tố cấuthành nên hiện tượng du lịch nên ngành du lịch cần phải có sự phối hợp đồng

bộ để hoạt động du lịch mang lại các lợi ích kinh tề và hiệu quả xã hội cao

3.2 Đặc thù của sản phẩm du lịch

Như đã đề cập ở phần một, sản phẩm du lịch là sự kết hợp giữa yếu tốhữu hình và yếu tố vô hình, nó là toàn bộ những sản phẩm, dịch vụ cung cấpcho khách du lịch nhằm thoả mãn nhu cầu của họ Sản phẩm du lịch về cơ bản

có các đặc trưng:

Là sự kết hợp của nhiều sản phẩm dịch vụ, có thể liệt kê ra đây nhưdịch vụ di chuyển, phòng trọ, dịch vụ ăn uống, dịch vụ tham quan, nghỉdưỡng

Trang 18

Thành phần chính của sản phẩm du lịch là dịch vụ, dịch vụ thườngchiếm tới 80%-90%, hàng hoá chiếm tỉ lệ rất nhỏ do đó việc đánh giá chấtlượng sản phẩm du lịch là rất khó khăn.

Sản phẩm du lịch thường được tạo ra gắn liền với yếu tố tài nguyên dulịch Do đó sản phẩm không thể dịch chuyển được Trên thực tế, du lịch gắnliền với việc di chuyển, không thể đưa sản phẩm du lịch đến nơi có khách dulịch mà bắt buộc khách du lịch phải đến nơi có sản phẩm du lịch để thoả mãnnhu cầu của mình thông qua việc tiêu dùng sản phẩm du lịch

Sản phẩm du lịch về cơ bản là không cụ thể, phần lớn quá trình tạo ra

và tiêu thụ sản phẩm du lịch không trùng nhau về không gian và thời gian do

đó sản phẩm du lịch không thể cất trữ, tồn kho như các loại hàng hoá khác

3.3 Tính thời vụ trong du lịch

Do sự tác động của nhiều nhân tố khác nhau mà hoạt động du lịchmang tính thời vụ Nghiên cứu tính thời vụ của du lịch luôn là vấn đề đượcđặt ra đối du lịch nhằm bắt và quản lý tốt hoạt động du lịch Tính thời vụtrong du lịch có thể hiểu là những thay đổi lặp đi lặp lại hàng năm đối với cácdịnh vụ và hàng hoá của du lịch dưới sự tác động của các nhân tố nhất định.Các yếu tố tạo nên tính thời vụ của du lịch có thể nêu lên ở đây là:

Nhóm nhân tố mang tính tự nhiên: Trong nhóm nhân tố tự nhiên thì khíhậu là nhân tố có tính ảnh hưởng mạnh mẽ nhất đến du lịch, thông thường khíhậu tác động lên cả cung và cầu du lịch Tuy nhiên khí hậu có ảnh hưởng khácnhau tới từng loại hình du lịch Đối với du lịch thiên nhiên thì ảnh hưởng củanhân tố khí hậu là rất lớn, điều kiện khí hậu thuận lợi là cơ sở để nảy sinh cầuvới du lịch tự nhiên Ví dụ như với du lịch biển thì đòi hỏi phải có nhiệt độkhông khí 25-300 C, cường độ ánh sáng và độ ẩm cao, chỉ mùa hè mới đápứng được những yêu cầu này do đó mùa hè là mùa du lịch chính tại các bãi

Trang 19

biển Nhưng đối với du lịch chữa bệnh, du lịch văn hoá thì vào mùa xuânkhi khí hậu trong lành và dịu mát mới là mùa thích hợp.

Nhân tố mang tính kinh tế-xã hội: Người ta chỉ đi du lịch khi nhàn rỗi,vậy lượng khách du lịch du lịch tăng lên khi có nhiều người có khoảng thờigian nhàn rỗi vào cùng một khoảng thời gian trong năm

Sự phân bổ không đồng đều của quĩ thời gian nhàn rỗi của các nhómdân cư gây ảnh hưởng không đồng đều lên lượng khách du lịch Khi xem xéttác động của thời gian nhàn rỗi lên tính thời vụ phải xem xét ở cả hai khíacạnh Khía cạnh thứ nhất là thời gian nghỉ phép trong năm có thể tác động lênthời vụ du lịch Thực tế cho thấy ở những quốc gia có thời gian nghỉ phépngắn thì số lần đi du lịch trong năm cũng ít Người dân có xu hướng đi nghỉvào các dịp lễ, tết nếu thời gian nghỉ ngắn họ sẽ chủ yếu đi du lịch vào dịp cóthời gian nghỉ nhiều nhất chẳng hạn như dịp tết hay giáng sinh điều này có thểtạo nên mùa du lịch chính ở nhiều vùng, nhiều quốc gia

Góc độ thứ hai của tác động thời gian nhàn rỗi lên du lịch là thời giannghỉ của các trường học Thời gian nghỉ này, học sinh có một lượng thời giannhàn rỗi khá lớn do đó các bậc phụ huynh thường bố trí những chuyến du lịchvào thời gian không phải đến trường của học sinh để cả gia đình có thể cùngnhau vui vẻ mà không ảnh hưởng đến kế hoạch học tập của con em mình Tạicác quốc gia, học sinh đều có kỳ nghỉ hè do đó mùa hè thường là mùa du lịchchính ở hầu hết mọi nơi, một số quốc gia còn có thêm kỳ nghỉ đông cũng gópphần làm tăng lượng khách du lịch vào mùa đông tăng lên đáng kể

Phong tục tập quán: Phong tục tâp quán là một trong số các yếu tố tácđộng trực tiếp lên lượng khách du lịch và tạo nên sự tập trung lượng khách dulịch du lịch vào những thời vụ nhất định

Thông thường những phong tục tập quán có tính chất lịch sử do đó nó

Trang 20

khá bền vững Cùng với sự thay đổi của các điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội

có thể tạo nên những phong tục mới nhưng khó có thể thay đổi được nhữngphong tục cũ Ở Việt Nam, ta có thể thầy rõ những tác động của phong tục tậpquán, theo phong tục mùa xuân là mùa của những tháng hội hè, lễ bái Thánghai tháng ba âm lịch thì hầu hết các chùa đều tổ chức hội bất kể thời tiết thuậnlợi hay không như hội Chùa Hương, hội Chùa Thầy, hội Đền Hùng, HộiLim

Các nhân tố khác: Ngoài ra còn có một số nhân tố khác tác động lêntính mùa vụ của du lịch có thể kể thêm ở đây như:

Chất lượng của dịch vụ du lịch: Chất lượng dịch vụ du lịch có thể có

ảnh hưởng đến độ dài của thời vụ du lịch Ví dụ như một khách sạn ở vùngbiển có thể có thời gian phục vụ khách trong năm dài hơn một số khách sạnkhác khi nó có chất lượng tố hơn và có khả năng thoả mãn các nhu cầu phụtrợ khác ngoài phục vụ nhu cầu tắm biển chẳng hạn như nó có hội trường lớn,

có bể bơi kín, trung tâm chữa bệnh, massage, khu vui chơi giải trí

Yếu tố tâm lý: Du lịch là một nhu cầu do đó nó cũng tác động của yếu

tố tâm lý, chẳng hạn có thể có một trào lưu mốt về một loại hình du lịch nàođó

Tâm lý bắt chước: Ngoài mốt thì cầu du lịch còn có thể bị tác động bởi

tâm lý bắt chước Ví dụ như ở Trung Quốc, mọi người đều xem ai chưa đếnTây Hồ coi như chưa đến Hàng Châu do vậy du khách nào đến Hàng Châuđều đến vãn cảnh Tây Hồ

Tính thời vụ về cơ bản tác động bất lợi đến hoạt động du lịch Vì tínhmùa vụ mà du lịch vào chính vụ thì quá tải làm giảm chất lượng dịch vụ, cóthể ảnh hưởng đến đời sống của dân cư sở tại, giao thông, môi trường, khókhăn cho việc quản lý đối với chính quyền địa phương do lượng khách đổ về

Trang 21

quá đông Vào các mùa khác thì lượng khách thưa thớt không đảm bảo hiệuquả kinh doanh, một số lao động có thể mất việc, chính quyền thì bị giảm thungân sách Do đó Nhà nước, chính quyền địa phương và các cơ sở kinh doanh

du lịch phải phối hợp để giảm bớt tính thời vụ trong du lịch

3.4 Lao động trong du lịch

Ngành du lịch mặc dù có liên quan tới nhiều ngành và nhiều lĩnh vựckhác nhau nhưng bản chất của nó bao gồm một số dịch vụ kinh doanh nhấtđịnh như: dịch vụ vận chuyển, dịch vụ lưu trú, dịch vụ ăn uống, dịch vụ thamquan giải trí, dịch vụ tĩnh dưỡng, nghỉ ngơi do các cơ sở kinh doanh dịch vụ

du lịch đảm nhiệm Do đó có thể chia lao động trong du lịch thành ba nhóm:

Nhóm lao động có chức năng quản lý Nhà nước về du lịch: Nhóm laođộng này bao gồm những người làm việc trong các cơ quan quản lý về du lịch

từ Trung ương đến địa phương Bộ phận lao động này có vai trò rất quantrọng trong việc xây dựng chiến lược phát triển du lịch của quốc gia và củatừng địa phương, tham mưu chính quyền trong việc đề ra đường lối và chínhsách phát triển du lịch bền vững và có hiệu quả Mặt khác họ cũng đại diệncho Nhà nước để hướng dẫn, giúp đỡ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp dulịch kinh doanh có hiệu quả cũng như kiểm tra giám sát các hoạt động kinhdoanh đó Từ chức năng và nhiệm vụ của mình, nhóm lao động này đòi hỏiphải có kiến thức tổng hợp và chuyên sâu về một số lĩnh vực mà công việccủa họ liên quan một cách trực tiếp

Nhóm lao động làm việc trong lĩnh vực nghiên cứu và đào tạo du lịch:Nhóm lao động này gồm những người làm việc trong các cơ sở giáo dục vàđào tạo như các cán bộ giảng dậy, nghiên cứu ở các trường đại học, cao đẳng,trung học chuyên nghiệp và các cán bộ nghiên cứu ở các tổ chức các việnkhoa học du lịch Số lượng lao động này chiếm tỉ lệ rất thấp trong toàn laođộng ngành du lịch nhưng họ là những người có hiểu biết và chuyên môn sâu

Trang 22

về du lịch và có nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực cho ngành du lịch Côngviệc của họ về cơ bản ổn định và có thu nhập đều đặn Chất lượng của laođộng làm việc trong ngành du lịch chịu tác động rất lớn của những người làmcông tác đào do vậy bộ phận này cần phải được đào tạo bài bản, lâu dài hướngtới trình độ ngày một cao.

Nhóm lao động hoạt động trong ngành kinh doanh du lịch: Nhóm laođộng này có thể phân chia thành hai nhóm nhỏ, nhóm lao động quản lý vànhóm lao động thừa hành

Nhóm lao động quản lý: Nhóm lao động quản lý trong lĩnh vực kinh

doanh du lịch được hiểu là những người làm công tác quản lý thuộc các đơn

vị kinh tế, cơ sở doanh nghiệp kinh doanh du lịch như khách sạn, hãng du lịch

lữ hành, vận tải, nhà hàng Lao động của họ có hai đặc điểm Một là, laođộng của họ trong lĩnh vực này là lao động trí óc, công cụ chủ yếu của laođộng là tư duy Người quản lý trong lĩnh vực kinh doanh du lịch dựa trênnghiên cứu các tình huống, từ đó bằng kiến thức và kinh nghiệm của mìnhđưa ra các quyết định cho quá trình kinh doanh du lịch Hai là, lao động củangười quản lý trong kinh doanh du lịch là loại lao động tổng hợp Là ngườiquản lý trong lĩnh vực kinh doanh du lịch nên các mối quan hệ cuả họ cũngrất đa dạng và phực tạp Đó như là một xã hội thu nhỏ chồng chéo các mốiquan hệ quan hệ với khách hàng, quan hệ với đối tác, quan hệ với chínhquyền, quan hệ với nhân viên cấp dưới, cấp trên chưa kể đến các mối quan

hệ khác như gia đình, bạn bè, hàng xóm láng giềng có quan hệ diễn ra trongthời gian ngắn, có quan hệ bền chặt, lâu dài Là người quản lý họ phải thamgia vào đó một cách tích cực và giải quyết tốt các mối quan hệ đó để đơn vịhoạt động bền vững, ổn định, kinh doanh có hiệu quả Từ đặc điểm này màlao động quản lý là lao động tổng hợp Tính tổng hợp của nó biểu hiện ở chỗvừa là lao động quản lý vừa là lao động giáo dục, lao động chuyên môn, lao

Trang 23

động của các hoạt động xã hội khác.

Nhóm lao động thừa hành: Là nhóm lao động thực hiện nghiệp vụ kinh

doanh du lịch Họ được hiểu là những người trực tiếp tham gia vào quá trìnhkinh doanh du lịch, trực tiếp cung cấp dịch vụ và phục vụ cho khách Nhómlao động này rất đông đảo, thuộc nhiều ngành nghề khác nhau Ví dụ nhưnhân viên phục vụ, lễ tân trong khách sạn; nhân viên bưng bê, đầu bếp trongcác nhà hàng; nhân viên điều hành chuyến đi và hướng dẫn viên du lịch trongcác công ty lữ hành… Nhóm nhân viên này đòi hỏi phải thạo chuyên môn và

có thái độ phục vụ khách tốt Nghề nghiệp của họ gắn chặt với tình hình kinhdoanh du lịch do đó có thể thấy thu nhập, cường độ công việc của họ gắn vớiđặc điểm của hoạt động kinh doanh du lịch Công việc của họ có thể chịu ảnhhưởng xấu của tính mùa vụ trong du lịch Vào mùa du lịch chính thì lượngnhân viên và cường độ công việc tăng lên, vào các khoảng thời gian khác thìcường độ giảm và số lao động cũng bớt đi Lượng lao động dư dôi trongkhoảng thời gian vắng khách du lịch gây tác động tiêu cực về mặt xã hội nhưthất nghiệp, tệ nạn, an ninh trật tự đây chính là vấn đề mà ngành du lịchđang phải đối mặt

4 Vai trò của du lịch

Du lịch ngày nay đã trở thành một hiện tượng kinh tế-xã hội phổ biến

Nó bao gồm một hệ thống phức tạp các hoạt động và sự tương tác về mặt kinh

tế và xã hội

4.1 Vai trò của du lịch về mặt xã hội

Về mặt xã hội, du lịch là các mối quan hệ phi vật chất nảy sinh khi dukhách tiếp xúc với con người, văn hoá, phong tục và tập quán của người dânđịa phương Đối với bản thân khách du lịch thì việc tiêu dùng dịch vụ du lịch

là nhằm thoả mãn các nhu cầu cấp cao: như nghỉ ngơi, giải trí, tăng cường sức

Trang 24

khoẻ Như vậy có thể chia tác động của du lịch về mặt xã hội thành cácnhóm vai trò nhỏ hơn như:

- Vai trò của du lịch đối với đời sống con người

- Vai trò của du lich với văn hoá và hợp tác quốc tế

- Vai trò của du lịch đối với vấn đề việc làm

- Vai trò của du lịch đối với qui hoạch xã hội

4.1.1 Vai trò của du lịch đối với đời sống con người

Du lịch có vai trò giữ gìn, phục hồi sức khoẻ và tăng cường sức sốngcho người dân Trong một chừng mực nào đó du lịch có tác dụng có tác dụnglàm hạn chế bệnh tật, kéo dài tuổi thọ và tăng khả năng lao động của conngười Theo công trình ngiên cứu về sinh học của Crivosev, Dorin 1981, nhờchế độ nghỉ ngơi và du lịch, bệnh tật của cư dân giảm trung bình 30% Đặcbiệt du lịch có tác dụng rõ rệt đối với một số bệnh phổ biến Bệnh tim mạnhgiảm 50%, bệnh thần kinh giảm 30%, bệnh đường tiêu hoá giảm 20%

Du lịch làm tăng cường và thắt chặt hơn các mối quan giữa người vớingười Khi đi du lịch con người có cơ hội tiếp xúc, gần gũi nhau hơn Nhữngđức tính tốt, những sự giúp đỡ, chia sẻ có dịp được bộc lộ Lúc này, phần nào

đó du lịch giúp cho con người thêm yêu thương, gắn bó và hiểu nhau hơn

Ngoài ra du lịch còn mở rộng thế giới quan, tăng cường hiểu biết củacon người Cha ông ta có câu: "Đi ra cho biết đó đây, ở nhà với mẹ biết ngàynào khôn" hay ''Đi một ngày đàng, học một sàng khôn" Mỗi chuyến đithường để lại cho con người ta một số kinh nghiệm Ví dụ, những chuyến dulịch văn hóa, thăm quan các di tích lịch sử có tác dụng giáo dục lòng yêunước, khơi dậy niềm tự hào dân tộc; những chuyến đi dã ngoại lại lại giúp dukhách hiểu biết thêm về thiên nhiên, yêu thiên nhiên và sống hoà mình vàothiên nhiên hơn Những kinh nghiệm, những kiến thức như vậy rất có tác

Trang 25

dụng mở mang nhận thức, giúp người dân sống vui vẻ, yêu đời và sống tránhnhiệm với xã hội hơn.

4.1.2 Vai trò của du lịch với văn hoá và hợp tác quốc tế

Như đã phân tích ở phần trước, văn hoá cũng là một dạng tài nguyên dulịch Tài nguyên di sản văn hoá bao gồm các danh lam thắng cảnh, di tích lịch

sử, văn hoá, làng nghề, phong tục, tập quán, lễ hội dân gian, ẩm thực dân tộc,thành tựu kinh tế Khi đi du lịch du khách được tắm mình vào môi trườngvăn hoá, thông qua đó du khách hiểu biết thêm về nét đẹp văn hoá của từngvùng, từng quốc gia lúc này du khách có thể đóng vai trò như nhứng sứ giảvăn hoá, mang sự hiểu biết văn hoá thu nhặt từ nơi mình đến thăm quantruyền đạt lại tho cộng đồng dân cư khác thông qua các mối quan hệ xã hộicủa mình, mặt khác họ cũng mang những nét văn hoá tại nơi mình sinh sốngđến hoà nhập với nơi thăm quan du lịch Như vậy thông qua du lịch, văn hoáđược giới thiệu rộng rãi, được quảng bá và giao lưu với những nơi khác, qua

đó không gian văn hoá không ngừng được mở rộng Khi văn hoá trở thành thếmạnh trong du lịch của mỗi nước thì nó không chỉ có tác dụng giao lưu vănhoá giữa các vùng miền trong một nước mà nó còn là chiếc cầu nối văn hoá,tăng cường tình hữu nghị, hợp tác và hiểu biết lẫn nhau giữa các nước trên thếgiới

4.1.3 Vai trò của du lịch đối với vấn đề việc làm

Du lịch góp phần giải quyết công ăn việc làm cho người dân

Theo thống kê năm 2005 của thế giới, du lịch là ngành tạo việc làmquan trọng, tổng số lao động làm việc trong ngành du lịch chiếm 10.94% tổng

số lao động toàn cầu Cứ khoảng 2,5 giây du lịch lại tạo ra một việc làm mới.Đến năm 2007 cứ tám người dân thì có một người làm việc trong ngành dulịch

Trang 26

Một buồng khách sạn từ 1 đến 3 sao trên thế giới hiện nay thu hútkhoảng 1,3 lao động trong các dịch vụ chính và khoảng 5 lao động trong cácdịch vụ bổ xung Số lao động cần thiết trong dịch vụ bổ xung có thể tăng thêmnhiều lần, nếu các dịch vụ này nâng cao về chất lượng và phong phú về chủngloại Theo dự báo của WTO, năm 2010 ngành du lịch sẽ tạo thêm đượckhoảng 180 triệu việc làm, chủ yếu tập trung ở Châu Á-Thái Bình Dương.

Khi du lịch có vai trò tạo công ăn việc làm thì nó cũng có tác dụng làmgiảm các hậu quả của nạn thất nghiệp như tệ nạn, mất trật tự an toàn xã hội

4.1.4 Vai trò của du lịch đối với qui hoạch xã hội

Du lịch giúp sự phân bố dân cư hợp lý hơn và giảm quá trình đô thịhoá Điều này thể hiện ở hai điểm:

Thứ nhất, thông thường tài nguyên du lịch phân bố ở các vùng, miền xaxôi Việc khai thác các tài nguyên này đòi hỏi phải có sự đầu tư cơ sở hạ tầng

về mọi mặt giao thông, hệ thống thông tin liên lạc, hệ thống điện nước, hệthống giáo dục Do vậy việc phát triển du lịch đã làm thay đổi bộ mặt củanhững vùng đó vì vậy mà góp phần làm giảm sự tập trung dân cư cao ở các đôthị

Thứ hai, du lịch là ngành đòi hỏi số lượng nhân lực cao, sự phát triển

du lịch đóng vai trò như một nam châm hút lao động Nó giữ chân lao độngđịa phương và thu hút lực lượng lao động từ các địa phương khác đến Điềunày cũng giúp giảm sự căng thẳng do sức ép đông dân tại thành phố lớn

4.2 Vai trò của du lịch đối với nền kinh tế

Về phương diện xã hội, du lịch là một hiện tượng xã hội có trình độcao; về mặt kinh tế, du lịch là một ngành dịch vụ mà sản phẩm của nó dựatrên và bao gồm sản phẩm của nhiều ngành kinh tế khác nhau Thông thườngkhi đi du lịch, du khách thường đòi hỏi mặt hàng có chất lượng cao, hưởng

Trang 27

những tiện nghi hiện đại Do vậy ở các nước tiên tiến, du lịch đóng góp đáng

kể trong tổng thu nhập quốc dân của cả nước

Kinh doanh dịch vụ du lịch là ngành có chu kỳ sản xuất ngắn, ít bị rủi

ro nên vòng quay đồng vốn nhanh và đạt hiệu quả sử dụng vốn cao Hoạtđộng kinh doanh du lịch làm tăng nguồn thu cho địa phương và đất nước đặcbiệt là nguồn ngoại tệ, việc phát triển du lịch quốc tế cho phép thực hiện ''xuấtkhẩu tại chỗ'' và ''xuất khẩu vô hình" tạo nguồn thu ngoại tệ rất hiệu quả.''xuất khẩu tại chỗ" thông qua việc bán sản phẩm cho du khách, thu ngoại tệ

mà không cần phải tiến hành việc xuất khẩu như thông thường, từ đó mang lạinhiều lợi nhế: tiết kiệm được khoản phí vận chuyển; chi phí bảo quản, đónggói; chi phí hải quan; không mất thời gian vận chuyển, không phải làm thủ tụchải quan, ngân hàng; không đòi hỏi lượng hàng lớn, thời gian, địa điểm giaohàng Đối với ''xuất khẩu vô hình'' có ưu điểm là chỉ bán cho khách quốc tếquyền cảm nhận một lần giá trị tài nguyên du lịch tại một thời điểm du lịch,trong đó sản phẩm là những "ấn tượng tức thời", các giá trị tài nguyên du lịchsau khi tiêu dùng vẫn giữ nguyên giá trị

Phát triển du lịch không làm mất đi các nguồn tài nguyên thiên nhiên.Nếu như nhiều ngành sản xuất sử dụng nguyên liệu đầu vào là các nguồn tàinguyên thiên nhiên không thể tái chế như dầu mỏ, than đá, các loại quạng, gỗv.v… làm cho chúng trở nên cạn kiệt và mất đi Việt khai thác này về lâu vềdài đặt con người vào vị thế phải liên tục tìm kiếm các nguồn thay thế vànguy cơ khủng hoảng tài nguyên là có thể xảy ra Du lịch không như vậy, khitiêu dùng dịch vụ du lịch xong tài nguyên du lịch không bị mất đi, không bịsuy giảm giá trị Do vậy phát triển du lịch là cách tốt nhất để phát triển kinh tế

mà không làm cạn kiệt nguồn tài nguyên đất nước

Trên bình diện vĩ mô, hoạt động du lịch có tác dụng biến đổi các cânthu chi của đất nước và khu vực Du khách mang ngoại tệ vào nước đến, làm

Trang 28

tăng ngoại tệ cho nước đó Ngược lại phần chi ngoại tệ sẽ tăng tại nước cónhiều công dân ra nước ngoài du lịch Trường hợp đầu cán cân thanh toán sẽnghiêng về nước đón khách, trường hợp sau Nhà nước phải xuất một lượngngoại tệ lớn để gửi khách Trong phạm vi quốc gia, hoạt động du lịch làm xáotrộn hoạt động luân chuyển tiền tệ, hàng hóa Tuy không làm biến đổi cán cânthanh toán của đất nước, song có tác dụng điều hoà nguồn vốn từ vùng kinh tếphát triển sang vùng kinh tế kém phát triển hơn, kính thích sự phát triển kinh

tế của vùng sâu, vùng sa

4.3 Các tác hại về mặt kinh tế-xã hội do việc khai thác và phát triển du lịch quá mức

Phát triển du lịch quốc tế thụ động quá tải sẽ dẫn đến mất cân bằng cáncân thành toán quốc tế, gây áp lực cho lạm phát Vì lý do này một số nướctrên thế giới đã dùng các biện pháp ngăn chặn như như hạn chế các chuyến dulịch ra nước ngoài của người dân (chẳng hạn như Malaysia qui định mỗi côngdân một năm chỉ được đi du lịch ra nước ngoài một lần, trong mỗi lần ra nướcngoài chỉ được mang theo một lượng nội tệ nhất định)

Nếu du lịch phát triển quá mạnh sẽ tạo ra sự phụ thuộc kinh tế vàongành dịch vụ Ngành du lịch là ngành tạo ra dịch vụ là chủ yếu, vịêc tiêu thụphụ thuộc vào nhiều yếu tố chủ quan và khách quan chẳng hạn như thời tiết,tình hình an ninh trật tự, đặc biệt là thảm hoạ như bệnh dịch, khủng bố, bất ổnchính trị, sóng thần, động đất… Khi thảm hoạ đi qua, hậu quả trước mắt làdoanh thu đột ngột sụt giảm mạnh, hậu quả lâu dài là đánh mất lòng tin nơi dukhách Do đó việc ổn định doanh thu và phát triển du lịch là khó hơn rất nhiều

so với các ngành sản xuất Nếu tỷ trọng của ngành du lịch là lớn trong tổngsản phẩm quốc nội (GNP) của một nước thì nền kinh tế của nước đó có nhiềukhả năng bấp bênh hơn các nước không phụ thuộc vào du lịch

Tạo ra sự mất cân đối và mất ổn định trong một số ngành và trong việc

Trang 29

trong việc sử dụng lao động trong du lịch Nguyên nhân chính ở đây là dongành du lịch có quan hệ mật thiết với nhiều ngành khác của nền kinh tế quốcdân mà thường thì việc tiêu dùng dịch vụ du lịch lại diễn ra theo thời vụ.Chính tính thời vụ đó làm ảnh hưởng đến việc sử dụng lao động và tiêu thụsản phẩm đầu ra của một số ngành khác có quan hệ mật thiết đến việc kinhdoanh du lịch.

Việc khai thác du lịch quá mức không chú trọng tới bảo vệ môi trườnglàm ảnh hưởng đến tài nguyên thiên nhiên của đất nước

Du lịch còn có thể gây ra một số tệ nạn xã hội (do kinh doanh các hìnhthức du lịch không lành mạnh) và các tác hại sâu xa khác trong đời sống tinhthần mỗi dân tộc

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH VIỆT NAM NHỮNG NĂM QUA

1 Tổng quan về du lịch Việt Nam

1.1 Lịch sử phát triển du lịch Việt Nam

Du lịch là một hiện tượng có mặt trong xã hội Việt Nam từ rất lâu, thờiphong kiến nó được xem như là một thú chơi của "tao nhân mặc khách"thường dành cho những người có địa vị, có trình độ, hiểu biết cao tức tầng lớpthượng lưu của xã hội Vì giai đoạn này giao thông chưa phát triển việc dichuyển chủ yếu bằng phương tiện thô sơ, các dịch vụ cũng đơn giản, chủ yếuphục vụ các nhu cầu thiết yếu như ăn, mặc, đi lại… dó đó việc thực hiện cácchuyến hành trình là rất vất vả, tốn kém và mất khá nhiều thời gian

Thăm thú thiên nhiên, vãn cảnh chùa chiền là hai thú vui phổ biến nhấtcủa trí thức, nho sĩ đương thời Sử sách và tương truyền còn lưu lại, thế kỷ

XV, vua Lê Thánh Tông từng phong "tam thiên động''-ba động đẹp nhất trờiNam, trong đó Động Hương Tích ở Chùa hương (Chùa Hương) được tôn vinh

Trang 30

là Nam thiên đệ nhất động, Tam cốc-Bích Động (Ninh Bình) là đệ nhị và LịchĐộng (Ninh Bình) là đệ tam động; một số địa điểm tín ngưỡng khác như Chùahương, Côn Sơn-Kiếp Bạc, Yên Tử vừa có cảnh đẹp vừa có các chùa chiềnmiếu mão cũng là những nơi tấp nập khách viễn phương Tức cảnh sinh tình,thiên nhiên đã truyền cảm hứng cho nhiều ánh thơ văn còn lưu truyền cho hậuthế qua sử sách và cả dấu tích trạm khắc tại chính các danh lam thắng cảnh.Trước vẻ đẹp của Côn Sơn Nguyễn Trãi đã có những vần thơ :

"Côn Sơn hữu tuyền kỳ thanh linh linh nhiên

Ngô dĩ vi cầm huyền

Côn Sơn hũu thạch vũ tẩy đài phô bích

ngô dĩ vi đạm tịch."

Dịch ra là:

''Côn Sơn nước chảy rì rầm

Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai

Côn Sơn có đá rêu phơi

Ta ngồi trên đá như ngồi đệm êm.''

Xét về mục đích du lịch, người xưa khởi hành vì mục đích đi ra để mởrộng tầm mắt, để chiêm ngưỡng cái đẹp, tỏ tâm thành kính với tổ tiên, thầnlinh…chỉ một số ít xuất phát với mục đích nghỉ dưỡng, chữa bệnh…

Manh nha của ngành kinh doanh du lịch chỉ thực sự xuất hiện vào kỳthời thực dân Pháp đô hộ nước ta Khi sang Việc Nam, người Pháp để phục vụcho nhu cầu của mình và tầng lớp thượng lưu đã cho xây dựng một số trungtâm nghỉ dưỡng tại đây Phong cách du lịch cũng thay đổi theo phong cách dulịch phương Tây, tức là du lịch mang nhiều tính chất nghỉ dưỡng Nếu như

Trang 31

trước đây tham quan vùng núi non hiểm trở được xem là thú vui tao nhã thìngười Pháp lại ưa chuộng các cao nguyên có khí hậu ôn đới và các bãi biểnthuận lợi cho việc tắm biển Một số địa điểm như Đà Lạt, Bà Nà-Núi Chúa,Nha Trang, Sầm Sơn, Cửa Lò… được đầu tư thành các khu du lịch được yêuthích thời bấy giờ.

Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, điềukiện chiến tranh nên du lịch không có nhiều điểm thuận lợi cho du lịch pháttriển Hoạt động du lịch chỉ chủ yếu đáp ứng yêu cầu phục vụ các đoàn kháchcủa Đảng và Nhà nước, khách Du lịch vào nước ta theo các Nghị định thư.Trong điều kiện rất khó khăn như vậy nhưng một số cơ sở du lịch Hà Nội, HảiPhòng, Quảng Ninh, Tam Đảo, Hoà Bình, Thanh Hoá, Nghệ An vẫn được đầu

tư phát triển với rất nhiều những nỗ lực của những người làm công tác dulịch

Sau ngày miền Nam hoàn toàn giả phóng, đất nước thống nhất, hoạtđộng Du lịch dần trải rộng ra các miền Tổ quốc Trong điều kiện hoà bình đấtnước chúng ta có điều kiện để khác phục và xây dựng lại các cơ sở du lịch vàlần lượt mở rộng, xây dựng thêm nhiều cơ sở mới từ Huế, Đà Nẵng, BìnhĐịnh đến Nha Trang, Lâm Đông, thành phố Hồ Chí Minh, Vũng Tàu, CầnThơ Kinh tế du lịch cũng từng bước được xây dựng, các doanh nghiệp dulịch Nhà nước trực thuộc Tổng cục Du lịch và Uỷ ban Nhân dân tỉnh, thànhphố và đặc khu Tháng 6 năm 1978, Tổng cục Du lịch Việt Nam được thànhlập trực thuộc Hội đồng Chính phủ, đánh dấu một bước phát triển mới của Dulịch.Tuy nhiên trong thời gian này đất nước chúng ta còn nghèo lại quản lýtheo chế độ bao cấp nên du lịch chưa là nhu cầu phổ biến Hoạt động chủ yếu

là công tác kết hợp du lịch hoặc các chuyến du lịch nghỉ dưỡng theo chế độ,đóng góp của ngành du lịch đối với kinh tế-xã hội là hạn chế

Từ sau khi đất nước mở cửa, du lịch mới thật sự được tạo điều kiện

Trang 32

phát triển Đới sống của người dân ngày một nâng cao, hiện tượng du lịch trởnên phổ biến hơn Sự mở cửa hợp tác hội nhập với thế giới khiến cho lượng

du khách quốc tế vào Việt Nam thêm đông qua mỗi năm, vai trò của du lịchtrong nền kinh tế ngày một tăng Bên cạnh đó tổ chức bộ mày quản lý du lịchcũng ngày một kiện toàn, cơ chế chính sách phát triển du lịch từng bước đượchình thành, thể chế hoá bằng văn bản quy phạm phát luật, tạo môi trường cho

du lịch phát triển, nâng cao hiệu lực quản lý Có thể nói du lịch Việt Namchưa bao giờ phát triển mạnh mẽ như bây giờ và sẽ còn có cơ hội phát triểnmạnh hơn nữa khi nền kinh tế đang trên đà phát triển và tiếp tục hội nhập sâuvào nền kinh tế thế giới

1.2 Tài nguyên du lịch của Việt Nam

Việt Nam được đánh giá là một đất nước giàu tài nguyên du lịch, đây làđiều kiện và tiền đề cơ bản để phát triển du lịch trong nước Với vị trí địa lý,khí hậu và cấu tạo địa chất phức tạp đã giúp Việt Nam sở hữu một nguồn tàinguyên du lịch thiên nhiên giàu có 4000 năm dựng nước và giữ nước gắn vớinền văn minh sông Hồng rực rỡ, tài nguyên du lịch nhân văn của Việt Namcũng rất phong phú, đậm đà bẳn sắc dân tộc Nhìn chung tài nguyên du lịchViệt Nam phân bố đồng đều trong phạm vi toàn quốc, vừa tập trung thànhtừng cụm gần đô thị lớn, các trục giao thông quan trọng thuận tiện cho việc tổchức khai thác, hình thành các tuyến du lịch bổ sung cho nhau giữa các vùng

1.2.1 Tài nguyên du lịch thiên nhiên

Về tài nguyên thiên nhiên du lịch, chúng ta có những lợi thế đặc biệt về

vị trí địa lý, nằm ở trung tâm vùng Đông Nam Á, lãnh thổ Việt Nam vừa gắnvới lục địa vừa thông thương với đại dương, có vị trí giao lưu quốc tế thuậnlợi cả về đường biển, đường sông, đường sắt, đường bộ và đường hàng không

Vị trí địa lý là tiền đề quan trọng trong việc phát triển du lịch quốc tế

Các đặc điểm đa dạng về cấu trúc địa hình biển và hải đảo, đồng bằng,

Trang 33

đồi núi cao nguyên đã tạo cho lãnh thổ Việt Nam sự đa dạng, phong phú vềcảnh quan, hệ sinh thái độc đáo, đặc biệt là hệ sinh thái biển đảo, hệ sinh thái

đã 2 lần được công nhận là di sản văn hoá thế giới Trong tổng số 2700 hònđảo lớn nhỏ ven bờ nhiều đảo như: Cái Hầu, Cát Bà, Tuần Châu, Cù LaoChàm, Phú Quí, Côn Đảo, Côn Lôn… với hệ sinh thái phong phú, cảnh quanđẹp là nơi có điều kiện hình thành các khu, điểm du lịch hấp dẫn

Với khoảng 50.000 Km2 địa hình Karst, Việt Nam là nước có tiểm năng

du lịch hang động, thác ghềnh to lớn trong đó có 200 hang động đã được pháthiện, điển hình là động Phong Nha với chiều dài đã khai phá là 8km2 đã đượccông nhận là di sản thiên nhiên thế giới

Nguồn nước khoáng của nước ta phong phú và có ý nghĩa to lớn đốivới phát triển du lịch Đến nay chúng ta đã phát hiện ra khoảng 400 nguồnnước khoáng tự nhiên với nhiệt độ từ 27 đến 1050C Thành phần hoá học củanước khoáng rất đa dạng từ Bicatconat Natri đến Clorua Natri có độ khoánghoá cao có gia trị đối với du lịch nghỉ dưỡng và chữa bệnh

Việt Nam có hệ sinh thái động thực vật-rừng đa dạng Tính đến nay cảnước có 107 khu rừng đặc dụng, trong đó có 16 rừng quốc gia, 55 khu bảo tồnthiên nhiên và 43 khu rừng văn hóa-lịch sử-môi trường với tổng diện tíchrừng bao phủ là 2.092.466 ha Đây là nguồn tài nguyên du lịch sinh thái quí

Trang 34

giá, nơi bảo tồn khoảng 12.000 loài thực vật và khoảng 7000 loài động vật vớinhiều giống đặc hữu và quí hiếm.

1.2.2 Tài nguyên du lịch nhân văn

Chúng ta có khoảng 40.000 di tích lịch sử trong đó có 2500 di tích lịch

sử được nhà nước xếp hạng Tiêu biểu là quần thể di tịch cố đô Huế (TỉnhThừa Thiên-Huế), đô thị cổ Hội An, di tích Mỹ Sơn (Quảng Nam) đã đượcUNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới

Bên cạnh các di tích, văn hóa Việt Nam còn được làm giàu bởi kho tàngnghệ thuật đa dạng như chèo, tuồng, cải lương, múa rối, hát quan họ, hátxoan, hát ghẹo, các điệu lý, câu hò… trong đó Nhã nhạc cung đình Huế vàcồng chiêng Tây Nguyên được UNESCO công nhận là hai di sản văn hoá thếgiới

Các di tích lịch sử, văn hoá, cánh mạng, nhiều nghề thủ công truyềnthống với kỹ năng độc đáo, nhiều lễ hội gắn với sinh hoạt, văn hoá, văn nghệdân gian đặc sắc của cộng đồng 54 dân tộc anh em cùng với nét riêng tinh tếcủa nghệ thuật ẩm thực được hoà quyện đan xen trong kiến trúc phong cảnh

có giá trị triết học phương Đông đã tạo cho du lịch Việt Nam có nhiều điềukiện khai thác thế mạnh văn hoá-lịch sử

1.3 Tính mùa vụ trong du lịch Việt Nam

Có thể có một vài nhận định về tính mùa vụ trong du lịch Việt Nam nhưsau:

Việt Nam là một nước có tài nguyên du lịch thuận lợi cho việc phát triển kinh doanh du lịch quanh năm

Đất nước chúng ta trải dài qua 15 vĩ độ từ Bắc đến Nam đưa lại choViệt Nam một sự đa dạng về khí hậu Việt Nam là nước duy nhất ở Đông Nam

Á có mùa Đông lạnh Miền Bắc và miền Trung có đủ bốn mùa Xuân, Hạ,

Trang 35

Thu, Đông; còn ở miền Nam khí hậu nóng ẩm quanh năm, bờ biển dài phẳngmịn thuận lợi cho việc kinh doanh du lịch biển quanh năm

Tài nguyên nhân văn ở khắp mọi nơi và phân bố trải dài theo nhiều thờiđiểm trong năm, do đó tính thời vụ có thể được hạn chế và có điều kiện giảmcường độ của thời vụ du lịch

Mùa cao điểm du lịch nội địa và du lịch quốc tế là khác nhau

Khách du lịch nội đi du lịch chủ yếu để tắm biển, nghỉ dưỡng, thamquan lễ hội, họ đi du lịch chủ yếu vào các tháng hè và vào các tháng đầu năm.Trong khi đó, khách du lịch quốc tế hiện nay đến Việt Nam chủ yếu với mụcđích kinh doanh kết hợp du lịch do đó họ đến Việt Nam vào mùa làm ăn chínhtrong năm (khoảng từ tháng 10 đến tháng 3 đầu năm sau) Luồng khách dulịch mội địa lớn hơn quốc tế rất nhiều Do vậy ở tầm vĩ mô, nếu xét riêng hoạtđộng kinh doanh du lịch quốc tế chủ động thì thời vụ du lịch chính là vàokhoảng tháng 10 cuối năm đến tháng 3 đầu năm sau, còn nếu xét hoạt độngkinh doanh du lịch nói chung nước ta có hai mùa du lịch chính là mùa hè vàmùa xuân

Thời vụ du lịch, độ dài của thời vụ du lịch và cường độ biểu hiện của

du lịch ở các thành phố lớn, các tỉnh và trung tâm du lịch là khác nhau Điều

này phụ thuộc vào sự phát triển và tiềm năng du lịch của từng địa phương.Một số trung tâm kinh tế như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh luôn thu hútđông đảo khách đến làm ăn công tác sau đó kết hợp luôn với mục đích du lịchnên hai nơi này lượng khách du lịch đông quanh năm và cao điểm vào một sốtháng trước và sau tết Nếu xét về mục đích du lịch thuần tuý thì một số tỉnhthành phố có lợi thế phát triển về du lịch biển như Quảng Ninh, Khánh hoà,Thanh Hoá… các tháng mùa hè là mùa du lịch chính Một số nơi tập trungnhiều lễ hội, chùa chiền như Hà Tây, Bắc Ninh… đầu mùa Xuân là thời điểmtập trung nhiều khách thập phương Ngoài ra một số trung tâm du lịch lớn

Trang 36

hiện đại như Hạ Long, Nha trang… luôn có mùa du lịch dài hơn các trung tâmkém phát triển hơn.

1.3 Lao động trong du lịch Việt Nam

Hiện nay số lượng lao động làm việc trong du lịch vào khoảng 23 vạnlao động trực tiếp và 50 vạn lao động gián tiếp, chiếm 2,5% lực lượng laođộng toàn quốc và chủ yếu ở độ tuổi dưới 30 (60%) Lực lượng lao độngtrong du lịch ở Việt Nam cũng mang những đặc điểm chính của lao động dulịch nói chung nhưng cũng có những nét khác biệt do sự tác động của điềukiện kinh tế-xã hội của Việt Nam

Lao động trong du lịch Việt Nam cũng có thể chia thành ba thành phần,nhóm lao động có chức năng quản lý nhà nước về du lịch, nhóm lao động đàotạo và phát triển du lịch và nhóm lao động kinh doanh du lịch Trong đó nhómlao động kinh doanh du lịch chiếm khoảng 99%, hai nhóm lao động còn lạichiếm tỉ lệ không đáng kể trong cơ cấu lao động trong du lịch

Nhóm lao động có chức năng quản lý Nhà nước về du lịch: Nhóm laođộng này bao gồm những người làm việc trong các cơ quan quản lý về du lịch

từ Trung ương đến địa phương như Bộ Thể thao Văn hoá và Du lịch, Tổngcục Du lịch, sở Du lịch hoặc sở Thương mại-Du lịch tỉnh, thành phố, phòngquản lý Du lịch ở các quận, huyện Họ là bộ phận lao động đóng vai trò quantrọng trong việc định hướng phát triển du lịch của quốc gia và của từng địaphương Mặt khác họ cũng đại diện cho Nhà nước để hướng dẫn, giúp đỡ tạođiều kiện cho các doanh nghiệp du lịch kinh doanh có hiệu quả cũng nhưkiểm tra giám sát các hoạt động kinh doanh đó Đội ngũ cán bộ, công chứcngành Du lịch hiện nay có biên chế rất hạn hẹp (Cơ quan Tổng cục Du lịchhiện có 135 biên chế; các Sở Du lịch khoảng 15 biên chế; Sở Du lịch-Thươngmại và sở Thương mại-Du lịch biên chế khoảng 3-5 người), chiếm tỉ lệ khôngđáng kể trong cơ cấu lao động du lịch

Trang 37

Nhóm lao động làm việc trong lĩnh vực nghiên cứu và đào tạo du lịch:Đây là nhóm lao động có trình độ chuyên môn sâu chịu tránh nhiệm đào tạo

và nghiên cứu trong các trường nghiệp vụ hay đại học, cao đẳng, viện nghiêncứu chuyên về khoa học du lịch tại Việt Nam Hiện tại, mạng lưới cơ sở đàotạo du lịch Việt Nam có khoảng gần 40 trường đào tạo bậc đại học, cao đẳng;trên 30 trường trung học chuyên nghiệp, dạy nghề và nhiều trung tâm dạy trên

cả nước nghề Công việc của những người làm công tác đào tạo và nghiên cứu

du lịch có ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng lao động trong du lịch ViệtNam, vai trò của họ có thể ví như những chiếc máy cái trong quá trình sảnxuất Tuy nhiên bộ phận lao động này trong du lịch Việt Nam còn khá mỏng,lĩnh vực đào tạo du lịch ở Việt Nam chưa phát triển tương xứng với tốc độphát triển và tiềm năng du lịch Việt Nam Tỉ lệ người làm công tác đào tạo vànghiên cứu du lịch hiện nay rất nhỏ so với tổng số lao động du lịch trong cảnước và thấp hơn khá nhiều so với các nước Đông Nam Á khác Trong thờigian tới, nếu chúng ta không sớm có thêm các viện nghiên cứu phát triển, cáctrường đào tạo du lịch chất lượng cao, các phương án hợp tác giảng dậy vớicác nước bạn thì ngành du lịch Việt Nam sẽ có nguy cơ thiếu lớp cán bộ kếcận và nguồn nhân lực chất lượng cao

Nhóm lao động kinh doanh du lịch: Ở Việt Nam, kinh doanh du lịchmới chỉ thật sự phát triển trong vòng hơn một thập kỷ qua, nhưng với tốc độphát triển bình quân 20% một năm, kinh doanh du lịch đang là lĩnh vực thuhút nhiều lao động Lao động trong lĩnh vực kinh doanh du lịch có thể chiathành hai nhóm chính

- Lao động quản lý trong kinh doanh du lịch

- Lao động thực thừa hành

Lao động quản lý trong kinh doanh du lịch: Là người làm công tácquản lý trong các cơ sở kinh doanh du lịch Việt Nam từ cấp quản lý nhỏ, vừa

Trang 38

đến cấp cao Do đặc thù của ngành du lịch, nhóm lao động này chiếm tỉ lệ nhỏhơn khá nhiều so với tỉ lệ lao động thừa hành, vào khoảng 24-25% trong tổng

số lao động trong du lịch Ở Việt Nam, phần lớn các doanh nghiệp du lịch lànhỏ và rất nhỏ nên mức độ chuyên môn hoá chưa cao, nhiều người trong số

họ ngoài công tác quản lý còn kiêm thêm nhiều nghiệp vụ du lịch khác

Lao động thực hiện nghiệp vụ kinh doanh du lịch: Lực lượng nàychiếm 75% số lượng lao động trong du lịch, trong đó lễ tân là 9%, phục vụbuồng là 14,8%, phục vụ ăn uống (bàn, bar) là 15%, nhân viên nấu ăn là10,6%, nhân viên lữ hành và hướng dẫn viên là 4,9%, nhân viên lái xe, tàu dulịch là 10,6% và 36,5% còn lại là các lao động làm các nghề khác Là đốitượng tiếp xúc trực tiếp với du khách nên có thể nói họ là những người thểhiện bộ mặt của du lịch Việt Nam, thái độ và chuyên môn của họ có ảnhhưởng lớn đến sự hài lòng của du khách

Dù kinh doanh du lịch đang là lĩnh vực phát triển mạnh mẽ nhưng tínhchuyên môn hóa trong kinh doanh du lịch ở Việt Nam chưa cao, ngoài cácđơn vị kinh doanh có tổ chức và phân cấp chặt chẽ thì cũng có sự tham giađông đảo của các cá nhân và hộ gia đình Thông thường các đối tượng nàykinh doanh du lịch nhỏ lẻ như các tiệm ăn, nhà nghỉ, cửa hàng lưu niện họ

có đặc điểm là vừa là người chủ vừa là lao động chính, vừa là người phục vụvừa là người quản lý Lực lượng này ở các vùng du lịch là rất đông đảo, phầnlớn họ là người dân địa phương Vì kinh doanh nhỏ lẻ nên thu nhập của họgắn với mùa du lịch chính ở các địa điểm du lịch Việc tận dụng thế mạnh củađịa phương để kinh doanh du lịch đã giúp nhiều gia đình có thu nhập, xóa đóigiảm nghèo nhưng do tính chất nhỏ lẻ và tự phát, nên khá khó khăn trong việcquản lý các đối tượng này, đặc biệt là quản lý chất lượng dịch vụ mà họ cungcấp Trong tương lai, các cấp chính quyền cần phối hợp với các cơ quan chứcnăng để quản lý các tiểu thương sao cho vừa để người dân có công ăn, việc

Trang 39

làm, có thu nhập vừa đảm bảo chất lượng, hình ảnh của Việt Nam đối với dukhách quốc tế.

2 Tình hình phát triển du lịch Việt Nam trong thời gian qua

2.1 Về việc thực hiện các chỉ tiêu

Từ năm 2000, du lịch Việt Nam phát triển một cánh ổn định và đónggóp vai trò quan trọng vào sự phát triển chung của cả nền kinh tế

Bảng 1: Số liệu du lịch Việt Nam từ năm 2000 đến 2006

(Nguồn: Số liệu từ Tổng Thống kê)

Riêng trong năm 2006, là một năm Việt Nam có nhiều sự kiện lớn,tháng 11/2006, Việt Nam chính thức là thành viên của tổ chức thương mại thếgiới (WTO), tiếp đó chúng ta tổ chức thành công hội nghị thượng đỉnhAPECT Hai sự kiện quốc tế này đã giúp thu nhập du lịch Việt Nam tăng độtbiến đạt 51.000 tỷ VND tăng 62% so với năm 2005 trong đó thu nhập từ dulịch quốc tế chiếm hơn 40.000 tỷ VND, khách du lịch nội địa đạt 17.5 triệulượt người, tăng 11% so với kế hoạch năm 2005 Năm 2007, chỉ tính riêng 8tháng đầu năm thu nhập du lịch ước tính đạt 28.000 vượt kế hoạch đề ra

Trang 40

Về thị trường du lịch, có sự tăng trưởng khác nhau của mỗi phân đoạnthị trường Trong các quốc gia Châu Á thì lượng khách du lịch Hàn Quốc vàNhật Bản tăng mạnh nhất Anh và Đức là hai mảng thị trường du lịch tăngnhanh của Việt Nam trong số các nước Châu Âu Với Châu Úc, lượng dukhách từ Australia trong vòng 2 năm (2004-2006) đã tăng lên gần gấp rưỡi

Bảng 2: Số lượng khách du lịch quốc tế theo thị trường

Ngày đăng: 30/08/2017, 00:01

Xem thêm

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1: Phân loại du lịch theo mục đích chuyến đi - dia CD
Hình 1 Phân loại du lịch theo mục đích chuyến đi (Trang 13)
Bảng 1: Số liệu du lịch Việt Nam từ năm 2000 đến 2006 - dia CD
Bảng 1 Số liệu du lịch Việt Nam từ năm 2000 đến 2006 (Trang 39)
Bảng 2: Số lượng khách du lịch quốc tế theo thị trường - dia CD
Bảng 2 Số lượng khách du lịch quốc tế theo thị trường (Trang 40)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w