1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Việc thực hiện chính sách cho trẻ khuyết tật tại trường phổ thông chuyên biệt Nguyễn Đình Chiểu Đà Nẵng.

65 268 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 65
Dung lượng 229,24 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc thực hiện chính sách cho trẻ khuyết tật tại trường phổ thông chuyên biệt Nguyễn Đình Chiểu Đà Nẵng.Việc thực hiện chính sách cho trẻ khuyết tật tại trường phổ thông chuyên biệt Nguyễn Đình Chiểu Đà Nẵng.Việc thực hiện chính sách cho trẻ khuyết tật tại trường phổ thông chuyên biệt Nguyễn Đình Chiểu Đà Nẵng.Việc thực hiện chính sách cho trẻ khuyết tật tại trường phổ thông chuyên biệt Nguyễn Đình Chiểu Đà Nẵng.Việc thực hiện chính sách cho trẻ khuyết tật tại trường phổ thông chuyên biệt Nguyễn Đình Chiểu Đà Nẵng.Việc thực hiện chính sách cho trẻ khuyết tật tại trường phổ thông chuyên biệt Nguyễn Đình Chiểu Đà Nẵng.Việc thực hiện chính sách cho trẻ khuyết tật tại trường phổ thông chuyên biệt Nguyễn Đình Chiểu Đà Nẵng.Việc thực hiện chính sách cho trẻ khuyết tật tại trường phổ thông chuyên biệt Nguyễn Đình Chiểu Đà Nẵng.Việc thực hiện chính sách cho trẻ khuyết tật tại trường phổ thông chuyên biệt Nguyễn Đình Chiểu Đà Nẵng.Việc thực hiện chính sách cho trẻ khuyết tật tại trường phổ thông chuyên biệt Nguyễn Đình Chiểu Đà Nẵng.Việc thực hiện chính sách cho trẻ khuyết tật tại trường phổ thông chuyên biệt Nguyễn Đình Chiểu Đà Nẵng.Việc thực hiện chính sách cho trẻ khuyết tật tại trường phổ thông chuyên biệt Nguyễn Đình Chiểu Đà Nẵng.Việc thực hiện chính sách cho trẻ khuyết tật tại trường phổ thông chuyên biệt Nguyễn Đình Chiểu Đà Nẵng.Việc thực hiện chính sách cho trẻ khuyết tật tại trường phổ thông chuyên biệt Nguyễn Đình Chiểu Đà Nẵng.Việc thực hiện chính sách cho trẻ khuyết tật tại trường phổ thông chuyên biệt Nguyễn Đình Chiểu Đà Nẵng.Việc thực hiện chính sách cho trẻ khuyết tật tại trường phổ thông chuyên biệt Nguyễn Đình Chiểu Đà Nẵng.Việc thực hiện chính sách cho trẻ khuyết tật tại trường phổ thông chuyên biệt Nguyễn Đình Chiểu Đà Nẵng.Việc thực hiện chính sách cho trẻ khuyết tật tại trường phổ thông chuyên biệt Nguyễn Đình Chiểu Đà Nẵng.Việc thực hiện chính sách cho trẻ khuyết tật tại trường phổ thông chuyên biệt Nguyễn Đình Chiểu Đà Nẵng.Việc thực hiện chính sách cho trẻ khuyết tật tại trường phổ thông chuyên biệt Nguyễn Đình Chiểu Đà Nẵng.Việc thực hiện chính sách cho trẻ khuyết tật tại trường phổ thông chuyên biệt Nguyễn Đình Chiểu Đà Nẵng.Việc thực hiện chính sách cho trẻ khuyết tật tại trường phổ thông chuyên biệt Nguyễn Đình Chiểu Đà Nẵng.Việc thực hiện chính sách cho trẻ khuyết tật tại trường phổ thông chuyên biệt Nguyễn Đình Chiểu Đà Nẵng.Việc thực hiện chính sách cho trẻ khuyết tật tại trường phổ thông chuyên biệt Nguyễn Đình Chiểu Đà Nẵng.Việc thực hiện chính sách cho trẻ khuyết tật tại trường phổ thông chuyên biệt Nguyễn Đình Chiểu Đà Nẵng.Việc thực hiện chính sách cho trẻ khuyết tật tại trường phổ thông chuyên biệt Nguyễn Đình Chiểu Đà Nẵng.Việc thực hiện chính sách cho trẻ khuyết tật tại trường phổ thông chuyên biệt Nguyễn Đình Chiểu Đà Nẵng.Việc thực hiện chính sách cho trẻ khuyết tật tại trường phổ thông chuyên biệt Nguyễn Đình Chiểu Đà Nẵng.Việc thực hiện chính sách cho trẻ khuyết tật tại trường phổ thông chuyên biệt Nguyễn Đình Chiểu Đà Nẵng.Việc thực hiện chính sách cho trẻ khuyết tật tại trường phổ thông chuyên biệt Nguyễn Đình Chiểu Đà Nẵng.Việc thực hiện chính sách cho trẻ khuyết tật tại trường phổ thông chuyên biệt Nguyễn Đình Chiểu Đà Nẵng.Việc thực hiện chính sách cho trẻ khuyết tật tại trường phổ thông chuyên biệt Nguyễn Đình Chiểu Đà Nẵng.Việc thực hiện chính sách cho trẻ khuyết tật tại trường phổ thông chuyên biệt Nguyễn Đình Chiểu Đà Nẵng.Việc thực hiện chính sách cho trẻ khuyết tật tại trường phổ thông chuyên biệt Nguyễn Đình Chiểu Đà Nẵng.Việc thực hiện chính sách cho trẻ khuyết tật tại trường phổ thông chuyên biệt Nguyễn Đình Chiểu Đà Nẵng.Việc thực hiện chính sách cho trẻ khuyết tật tại trường phổ thông chuyên biệt Nguyễn Đình Chiểu Đà Nẵng.Việc thực hiện chính sách cho trẻ khuyết tật tại trường phổ thông chuyên biệt Nguyễn Đình Chiểu Đà Nẵng.Việc thực hiện chính sách cho trẻ khuyết tật tại trường phổ thông chuyên biệt Nguyễn Đình Chiểu Đà Nẵng.Việc thực hiện chính sách cho trẻ khuyết tật tại trường phổ thông chuyên biệt Nguyễn Đình Chiểu Đà Nẵng.Việc thực hiện chính sách cho trẻ khuyết tật tại trường phổ thông chuyên biệt Nguyễn Đình Chiểu Đà Nẵng.Việc thực hiện chính sách cho trẻ khuyết tật tại trường phổ thông chuyên biệt Nguyễn Đình Chiểu Đà Nẵng.Việc thực hiện chính sách cho trẻ khuyết tật tại trường phổ thông chuyên biệt Nguyễn Đình Chiểu Đà Nẵng.Việc thực hiện chính sách cho trẻ khuyết tật tại trường phổ thông chuyên biệt Nguyễn Đình Chiểu Đà Nẵng.Việc thực hiện chính sách cho trẻ khuyết tật tại trường phổ thông chuyên biệt Nguyễn Đình Chiểu Đà Nẵng.Việc thực hiện chính sách cho trẻ khuyết tật tại trường phổ thông chuyên biệt Nguyễn Đình Chiểu Đà Nẵng.Việc thực hiện chính sách cho trẻ khuyết tật tại trường phổ thông chuyên biệt Nguyễn Đình Chiểu Đà Nẵng.Việc thực hiện chính sách cho trẻ khuyết tật tại trường phổ thông chuyên biệt Nguyễn Đình Chiểu Đà Nẵng.Việc thực hiện chính sách cho trẻ khuyết tật tại trường phổ thông chuyên biệt Nguyễn Đình Chiểu Đà Nẵng.

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Trong thời gian vừa qua với yêu cầu của môn “Phương pháp nghiên cứu khoa học trong Công tác xã hội” nhóm em gồm Phan Thanh Tùng, Trần Văn Mạnh, Alang An , Huỳnh Thị Hiếu đã tiến hành nghiên cứu về việc thực hiện chính sách dành cho trẻ khiếm thị tại trường PTCB Nguyễn Đình Chiểu tại thành phố Đà Nẵng Thời gian kéo dài sáu tuần, từ ngày 14/10/2016 đến

26/11/2016 Tất nhiên, không ai có thể tồn tại mà chỉ có một mình, càng không

ai có thể làm tốt, làm thành công một việc gì đó mà không cần tới bất cứ sự giúp

đỡ của ai, nhất là lại đầu tiên nữa.Bản thân em cũng không ngoại lệ trong quá trình nghiên cứu, khảo sát Bên cạnh sự nỗ lực, cố gắng của bản thân và các thành viên trong nhóm, em đã nhận được sự giúp đỡ, động viên của gia đình, bạn bè và thầy cô

Để hoàn thành bài nghiên cứu này, trước hết em xin gởi lời cảm ơn chân thành đến các cán bộ, các Thầy cô giáo, và các em học sinh khiếm thị ở Trường

Đồng thời, em cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến cô Nguyễn Hằng Phương – giảng viên môn ” Phương pháp nghiên cứu khoa học trong Công tác

xã hội” đã ủng hộ, động viên, tháo gỡ những thắc mắc, giúp đỡ cũng như tạo những điều kiện tốt nhất để em hoàn thành tốt bài báo cáo này

Vì thời gian và kinh nghiệm còn hạn chế nên trong quá trình tiến hành nghiên cứu không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được những được những ý kiến đóng góp của thầy cô

Trang 2

A Phần mở đầu:

1 Lý do chọn đề tài:

Trẻ em là hạnh phúc của gia đình, là tương lai của đất nước.“Trẻ em hôm nay, thế giới ngày mai” Đó là khẩu hiệu mà các quốc gia và các cộng đồng quốc tế hướng tới nhằm mục đích chăm sóc, bảo vệ và phát triển trong tương laicủa mỗi quốc gia và nhân loại Như chúng ta cũng đã biết, sinh thời Chủ Tịch

Hồ Chí Minh, luôn dành cho các cháu thiếu niên, nhi đồng tình yêu thương và quan tâm nhắc nhở và giao nhiệm vụ bảo vệ, chăm sóc trẻ em.Thế nhưng,nhiều trẻ khi sinh ra phải chịu những thiệt thòi khi mang trong mình những dị tật bẩm sinh vĩnh viễn, không nghe được những âm thanh của cuộc sống, không được ríu rít trò chuyện với những bạn cùng trang lứa hay không được nhìn thấy ánh sáng của cuộc đời và cơ thể phát triển không giống các bạn,trí tuệ của các em không như người ta Đã vậy, các em còn phải đón nhận những cái nhìn không mấy thiện cảm từ người đời, có trường hợp các em bị bỏ rơi, bị xa lánh, miệt thị, không được học chung với các bạn bình thường, vốn đã thiệt thòi nay càng thiệt thòi hơn Điều này đã làm ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của đất nước trên mọi phương diện

Tuy vậy, trong những năm gần đây, nhận thức của mỗi người cũng dần đượcthay đổi theo chiều hướng tích cực hơn, mọi người có cái nhìn đồng cảm và yêuthương hơn với các trẻ bị khuyết tật, các tổ chức từ thiện cũng nhiều hơn, Và đặc biệt là giáo dục trẻ em khuyết tật được xã hội quan tâm hơn Ở Việt Nam,ngày 22 tháng 5 năm 2006, Bộ GD&ĐT đã ban hành Quyết định số 23/2006/QĐ-BGDĐT quy định về GDHN cho người tàn tật,khuyết tật Tiếp theo là một loạt các văn bản pháp luật quy định về những vấn đề liên quan đếnGDHN cho trẻ khuyết tật như: Thông tư số 39/2009/TT-BGDĐT quy định

về giáo dục hoà nhập cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn; kế hoạch giáo dục trẻ khuyết tật giai đoạn 2007- 2010 và tầm nhìn 2015 Mục tiêu của kế hoạch là đếnnăm 2015 hầu hết trẻ khuyết tật Việt Nam có cơ hội bình đẳng trong tiếp cận

Trang 3

một nền giáo dục có chất lượng và được trợ giúp để phát triển tối đa tiềm năng, tham gia và đóng góp tích cực cho xã hội Đảng và Nhà nước ta luôn khẳng định tất cả trẻ em, trong đó có trẻ em khuyết tật đều được hưởng giáo dục, được tạo điều kiện tham gia đầy đủ và phù hợp trong môi trường giáo dục

Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển của giáo dục nói chung, giáo dục khuyết tật đã đạt được những thành tựu quan trọng về nhiều mặt Việc giáo dục người khuyết tật nói chung và sự phát triển ngành giáo dục đặc biệt nói riêng đang được các cơ quan, tổ chức trong và ngoài nước chú trọngphát triển Nhiều trường Đại học, Cao đẳng bắt đầu mở các khóa đào tạo chính quy và không chính quy chuyên ngành Giáo dục đặc biệt để đáp ứng về đội ngũ giáo viên cho các trường chuyên biệt và trường hoà nhập Đến nay, hệ thống quản lý giáo dục trẻ khuyết tật được hình thành ở 64 tỉnh, thành phố và bắt đầu đi vào hoạt động Mạng lưới các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản

lý, giáo viên cho giáo dục trẻ khuyết tật được hình thành và đang phát triển Các chương trình giáo dục trẻ khuyết tật được xây dựng và triển khai thực hiện Phương thức giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật phù hợp hoàn cảnh nước ta đang ngày càng được áp dụng rộng rãi Số trẻ khuyết tật đi học ngày càng tăng

và đến nay đã có hơn 269.000 trẻ khuyết tật được đi học trong các trường, lớp hòa nhập và 7.000 trẻ trong các trường chuyên biệt trên toàn quốc

Trường Phổ thông chuyên biệt Nguyễn Đình Chiểu là ngôi trường đầu tiên

và duy nhất tại Tp Đà Nẵng có chức năng nuôi dạy trẻ em khuyết tật

2 Mục tiêu:

- Nghiên cứu những lý thuyết có liên quan đến lĩnh vực người khuyết tật, người khiếm thị, các chính sách xã hội

Trang 4

- Tìm hiểu thực trạng về việc áp dụng những chính sách xã hội hỗ trợ cho các

em khiếm thị tại trường PTCB Nguyễn Đình Chiểu Từ đó đưa ra những giải pháp, những đề xuất tốt hơn cho việc áp dụng những chính sách đó

Trang 5

- Tổng kết số liệu, nhập số liệu, xử lý số liệu

5.Đối tượng nghiên cứu:

“ Nghiên cứu việc thực hiện chính sách dành cho trẻ em khiếm thị tại

Trường Phổ Thông Chuyên Biệt Nguyễn Đình Chiểu”

6 Phạm vi nghiên cứu:

6.1 Địa bàn nghiên cứu:

Trường phổ thông chuyên biệt Nguyễn Đình Chiểu

7 Các phương pháp và kỹ thuật nghiên cứu:

7.1 Phương pháp nghiên cứu:

Phương pháp nghiên cứu chính được sử dụng là phương pháp nghiên cứu định lưỡng với kỹ thuật thu thập thông tin là khảo sát bằng bảng hỏi Bên cạnh

đó, đề tài còn kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính với kỹ thuật thu thập thông tin là thông qua phỏng vấn sâu trẻ khiếm thị, phụ huynh trẻ khiếm thị, cô giáo tại trường PTCB Nguyễn Đình Chiểu:

-Tổng quan tài liệu

-Xây dựng bảng hỏi

-Phương pháp định lượng

Trang 6

-Phương pháp định tính

-Kỹ thuật thu thập thông tin

-Kỹ thuật xử lý thông tin

7.2.1 Kỹ thuật nghiên cứu:

7.2.1.1 Kỹ thuật thu nhập thông tin:

Bảng hỏi: Để thu thập thông tin định lượng, nghiên cứu sẽ sử dụng kỹ thuật khảo sát bằng bảng hỏi được xây dựng với số lượng mẫu là 45 học sinh khiếm thị trong toàn bộ học sinh khiếm thị (65 – 70 học sinh) đang được nuôi dạy trường Phổ thông chuyên biệt Nguyễn Đình Chiểu

Phỏng vấn sâu: Để thu thập thông tin định tính với cấu trúc câu hỏi đã được phác thảo trước theo các tiêu chí và chủ đề liên quan đến các chính sách xã hội

mà đối tượng đã và đang được thừa hưởng

7.2.1 2Kỹ năng xử lý thông tin:

Thông tin tư liệu: tổng quan tài liệu, một số khái niệm, các lí thuyết ứngdụng

Thông tin định tính: phân loại thông tin, gỡ băng phỏng vấn, các bảng biểu quan sát

Thông tin định lượng: tổng hợp số liệu từ bảng hỏi

8 Giả thuyết:

Hầu hết các trẻ em khiếm thị ở Trường PTCB Nguyễn Đình Chiểu đều được hưởng chính sách

Trang 7

Các số liệu thống kê về người khiếm thị trên thế giới:

Báo cáo của Liên hợp quốc về người khuyết tật (2002) chỉ ra rằng

người khuyết tật chiếm trên 10% dân số thế giới, cuộc sống của họ đa

phần gặp khó khăn cả về kinh tế và tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản

Công ước của Liên hợp quốc về quyền của người khuyết tật (2006)

cũng đã xác định được những quyền cơ bản của người khuyết tật,

trong đó cũng đã nhấn mạnh đến các quyền về chăm sóc sức khỏe,

học tập, việc làm, bảo đảm thu nhập và an sinh xã hội; đặc biệt công

ước cũng nhấn mạnh đến nguyên tắc chống phân biệt đối xử, bảo vệ

phụ nữ và trẻ em khuyết tật Việt Nam cũng đã ký kết tham gia thực

hiện công ước

Báo cáo của cố vấn quốc hội Mỹ về người khuyết tật (2013) cho

rằng người khuyết tật ở Mỹ chiếm khoảng 15% dân số nước Mỹ; bên

cạnh những chính sách trợ giúp của nhà nước cho người khuyết tật về

chăm sóc sức khỏe, tạo việc làm họ cũng gặp rất nhiều rào cản tiếp

cận các dịch vụ xã hội như: vui chơi giải trí, việc làm

Hiện nay hầu hết các quốc gia đã nghiên cứu và ban hành chính sách

trợ giúp người khuyết tật, dựa vào lý thuyết vòng đời từ khi con người

sinh ra còn là trẻ em, đến khi trưởng thành và trở thành người già,

trong quá trình ấy một bộ phận người dân không may mắn rơi vào tình

trạng khuyết tật Với quan điểm các quốc gia thành viên đã tham gia

Trang 8

phê duyệt công ước của liên hợp quốc về quyền của người khuyết tật

phải có trách nhiệm bảo đảm an sinh xã hội cho người khuyết tật Nhờ

có hệ thống chính sách an sinh xã hội cho người khuyết tật mà cuộc

sống của đại đa số người khuyết tật được ổn định và người khuyết tật

có cơ hội phát triển và hoà nhập cộng đồng

Báo cáo dự thảo Kế hoạch Quốc gia phòng chống mù lòa giai đoạn

2014 – 2019 của Ban chỉ đạo Quốc gia phòng chống mù lòa (Bộ Y tế)

mới vừa được công bố cho thấy: Hiện trên thế giới có khoảng 314

triệu người mù và thị lực thấp (trong đó ước khoảng 45 triệu người

mù, những người trên 50 tuổi chiếm tỷ lệ 80%) Cứ 5 giây, thế giới có

1 người bị mù, cứ 1 phút có thêm 1 trẻ bị mù, 90% người mù sống ở

các nước nghèo và đang phát triển với các điều kiện tiếp cận dịch vụ y

tế khó khăn (11,6 triệu người ở khu vực Đông Nam Á, 9,3 triệu người

ở khu vực Tây Thái Bình Dương, 6,8 triệu người ở Châu Phi), 1,4

triệu trẻ em dưới 15 tuổi bị mù

2.1.Tổng quan tài liệu ở Việt Nam:

2.1.1 Những nghiên cứu về người Khiếm thị:

Cuốn sách “Giúp đỡ trẻ em mù” của tác giả Sandy Niemann –Namita Jacob

do dịch giả Bùi Đức Thắng dịch và được nhà xuất bản giáo dục Việt Nam ấn hành là một trong những cuốn sách hữu ích đối với những bậc phụ huynh có con là người khiếm thị Cuốn sách này nói về sự hỗ trợ trẻ bị khuyết tật thị giác

từ sơ sinh đến năm tuổi Giúp những người chăm sóc trẻ như: cha mẹ, các thành viên trong gia đình và các nhân viên y tế thấu hiểu về khuyết tật, về cách giúp trẻ học tập và phát triển bằng cách sử dụng những hoạt động phát triển trí tuệ thích hợp Những nội dung chính của cuốn sách gồm:

- Đánh giá mức độ khuyết tật thị giác của trẻ.

- Kích thích sự hoạt động của trẻ qua hoạt động học tập.

Trang 9

- Đương đầu với những thách thức tăng lên của trẻ bị khuyết tật

thị giác

- Làm việc với những thành viên khác trong cộng đồng để tăng

cường chăm sóc trẻ có khuyết tật thị giác

- Giúp trẻ trở thành một người năng động trong cộng đồng.

Cuốn sách gồm tám chương Trong bốn chương đầu cungcấp những thông tin nền tảng cho các bậc phụ huynh trong việcgiúp con mình bị khiếm thị.Các chương còn lại tập trung vàocác ví dụ giúp trẻ phát triển các kỹ năng và những thông tin đểcác chăm sóc viên có thể hỗ trợ lẫn nhau

Có thể nói điểm thành công nhất của cuốn sách là thấy đượcnhững hỗ trợ cho trẻ bị khiếm thị ở giai đoạn đầu là điều vôcùng cần thiết Những ví dụ trong cuốn sách tương đối cụ thể

và sát thực Tuy nhiên cuốn sách chỉ mới hạn chế trong phạm

vi hẹp từ sơ sinh đến năm tuổi và cuốn sách cũng chưa bàn sâuđến tầm quan trọng của những chính sách xã hội đối với sự pháttriển của trẻ khiếm thị Mặc dù vậy điểm tích cực là cuốn sách

đã có được những nghiên cứu đặc thù về người khiếm thị

 Các số liệu thống kê về người khuyết tật ở Việt nam:Việt Nam là đất nước chịu nhiều thiên tai và chiến tranh,dịch bệnh do đó có số lượng khá đông người khuyết tật

Năm 2009, Bộ lao động thương binh xã hội đã có báocáo tổng kết về 10 năm thực hiện pháp lệnh về người tàn tật.Trong báo cáo đã chỉ rõ về thực trạng người khuyết tật Theoước tính cả nước có khoảng 5,1 triệu người khuyết tật, chiếmkhoảng 6% dân số, trong đó có 1,1 triệu khuyết tật nặng, chiếm21,5% tổng số người khuyết tật Bao gồm 29% khuyết tật vận

Trang 10

động, 17% tâm thần, 14% tật thị giác, 9% tật thính giác, 7% tậtngôn ngữ, 7% trí tuệ và 17% các dạng tật khác Tỷ lệ nam làngười khuyết tật cao hơn nữ do các nguyên nhân của hậu quảchiến tranh, tai nạn lao động, tai nạn thương tích….Nguyênnhân gây khuyết tật có 36% bẩm sinh, 32% do bệnh tật, 26% dohậu quả chiến tranh và 6% do tai nạn lao động Đời sống vậtchất, tinh thần của người khuyết tật còn nhiều khó khăn Có tới80% người khuyết tật ở thành thị và 70% người khuyết tật ởnông thôn sống dựa vào gia đình, người thân và trợ cấp xã hội;32,5% thuộc diện nghèo (cao gấp hai lần so với tỷ lệ nghèochung cùng thời điểm); 24% ở nhà tạm.

Theo kết quả điều tra của bộ lao động thương binh xã hội( năm 2002), ước tính Việt Nam có khoảng 900.000 người mù

và kém mắt, trong đó khoảng gần 700.000 người mù chiếm1,2% dân số cả nước Số liệu điều tra cho thấy các tật liên quanđến thị giác chiếm 15%, chỉ xếp sau các tật vận động 35%.Người mù ở Việt Nam phân bố không đồng đều giữa các khuvực Ở Miền Tây Nam Bộ có số người mù đông nhất cả nước.Cũng theo thống kê này, hiện có khoảng 9% là trẻ em mù, 49%người mù trong độ tuổi lao động và 42% người mù già Nhưvậy người mù già ở Việt Nam có số liệu đông đảo hơn cả Sốngười mù ở các thành thị có trình độ văn hóa cao hơn các vùngnông thôn Theo các số liệu điều tra gần như trẻ em mù đi họcmuộn hơn so với độ tuổi quy định của nhà nước Theo một sốtài liệu thì có khoảng 90% người mù tập trung ở các nướcnghèo nhất trong đó có Việt Nam Phần lớn người mù ở ViệtNam rất hạn chế về vấn đề việc làm, chủ yếu tập trung vào các

Trang 11

nghề làm tăm tre, chổi đót, tẩm quất-mát sa… trong đó nghề

tẩm quất-mát sa chiếm số đông hơn cả

Theo báo cáo của hội người mù Việt Nam (năm 2013),50/63 tỉnh thành trong cả nước có hội người mù Hiện nay, Hội

quản lí 66.443 hội viên

2.1.2.Những nghiên cứu về các chính sách cho người khiếm thị ở Việt Nam:

Năm 2010, Nguyễn Ngọc Toản có đề tài nghiên cứu về

“Chính sách trợ giúp xã hội thường xuyên ở cộng đồng Việt

Nam” Năm 2012, Nguyễn Hải Hữu chủ biên cuốn “Giáo trình

nhập môn An sinh xã hội” , tác giả cũng tiến hành nghiên cứu

về “Thực trạng TGXH và ưu đãi xã hội ở nước ta năm 2001 –

2007 và khuyến nghị tới năm 2015” Năm 2013, Ban điều phối

các hoạt động hỗ trợ Người khuyết tật tại Việt Nam đã có báo

cáo năm 2013 về hoạt động trợ giúp người khuyết tật tại Việt

Nam Năm 2014, Nguyễn Thị Hà biên soạn tập bài giảng “Công

tác xã hội với Người khuyết tật”

1.3 Cách tiếp cận và lý thuyết ứng dụng:

1.3.1Cách tiếp cận:

Bên cạnh việc gặp gỡ, trao đổi trực tiếp với các giáo viên đứng lớp và nhân viên cơ sở, nhóm còn tiếp xúc và trao đổi với người thân của trẻ và cá nhân trẻ Ngoài ra, nhóm còn tham khảo ý kiến của những người có quan tâm đến lĩnh vực này, tìm hiểu thông tin qua một số tài liệu tham khảo và internet

1.4.Các lý thuyết ứng dụng:

1.4.1.Thuyết nhu cầu của Maslow

Maslow đã xây dựng học thuyết “nhu cầu” vào những năm 50 của thế kỷ

XX nhằm giải thích sự phát triển của con người trong sự lành mạnh cả về vật

Trang 12

chất lẫn tinh thần Ông đã xây dựng hệ thống nhu cầu của con người như lànhững bậc thang từ thấp lên cao Các nhu cầu sẽ tùy vào mức độ quan trọng màđược sắp xếp theo những thứ bật Và nếu một trong những nhu cầu cấp thấpkhông được đáp ứng thì sự phát triển sẽ có sự lệch lạc Maslow đã chia hệ thốngnhu cầu theo trình tự như sau:

Nhu cầu về vật chất: Đây được xem là nhu cầu cơ bản nhất, quan trọng nhấtliên quan trực tiếp tới sự sinh tồn của mỗi con người Nhu cầu về vật chất baogồm: đồ ăn, nước uống, quần áo, nhà ở, phương tiện đi lại… Những nhu cầunày không thể thiếu với bất kỳ ai Nó càng trở nên quan trọng đối với nhữngđứa trẻ khiếm khuyết một phần cơ thể, bởi các em là người phụ thuộc rất nhiềuvào người lớn

Nhu cầu về an ninh và sự an toàn: Đây là nhu cầu tâm sinh lý khá phổ biếncủa mỗi con người Nó đảm bảo cho con người một môi trường không nguyhiểm có lợi cho sự phát triển lành mạnh và lâu dài Các mặt an toàn bao gồm:

an toàn sinh mệnh, an toàn lao động,an toàn môi trường, an toàn kinh tế, an toànnghề nghiệp, an toàn ở và đi lại, an toàn sức khỏe và an toàn tâm lý Nhu cầu antoàn thể hiện ở tính chặt chẽ của pháp luật và những quy định Nếu không được

an toàn con người sẽ không thực hiện được các nhu cầu khác

Nhu cầu được thừa nhận: Bản chất con người là luôn tìm kiếm tình bạn, sựthừa nhận và tình yêu thương từ người khác Nhu cầu này bao gồm các mặt như

sự thân cận, gần gũi, sự khích lệ… Nói chung nhu cầu này tương đối phongphú, đa dạng, kỳ diệu và cũng rất phức tạp

Nhu cầu về sự tự trọng: Tự trọng được xem là sự quan tâm đánh giá đúngmức về nhân phẩm của một người Nhu cầu về tự trọng gồm lòng tự trọng vàđược người khác tôn trọng

Nhu cầu về phát triển cá nhân: Nhu cầu cho sự trưởng thành cá nhân này cóthể được hiểu là sự tiếp cận với hệ thống giáo dục, bao gồm cả việc học ở nhà,

Trang 13

đào tạo kỹ năng nghề nghiệp, chơi thể thao, trải nghiệm….Đó là tất cả những gì

có thể đem đến cơ hội và sự phát triển toàn diện cho con người Nhu cầu nàyđược Maslow gọi là “Nhu cầu muốn thể hiện toàn bộ tiềm lực của con người”

Áp dụng thuyết “Nhu cầu” của Maslow vào nghiên cứu, chúng tôi thấy hơnlúc nào hết những nhu cầu này càng trở nên rất quan trọng và bức thiết vớinhững trẻ khiếm thị Các bậc thang trong Thuyết nhu cầu đều tương ứng với trẻkhiếm thị về mọi mặt Đáp ứng được những nhu cầu này sẽ giúp các em có điềukiện được lao động, sinh hoạt, được học tập và tham ra các hoạt động xã hội đểcác em phát triển toàn diện bản thân trong sự bình đẳng từ đó tạo cho các emmột nền tảng tốt với đầy đủ những cơ hội

1.5.1Thuyết hệ thống cảm xúc gia đình:

Từ những năm 1960 khi mới bắt đầu xuất hiện, học thuyết hệ thống cảm xúcgia đình của Murray Bowen đề xướng đã trở nên rất hữu dụng đặc biệt trongviệc đánh giá và trị liệu gia đình Học thuyết này đã cho một khung phân tíchtoàn diện để hiểu được các mối liên kết tình cảm gia đình tác động như thế nàođến mỗi cá nhân trong gia đình Học thuyết này gồm các nội dung chính nhưsau:

Đa thế hệ: Cá tính của con người và cách ứng xử của họ trong gia đình chịuảnh hưởng từ nhiều thế hệ, không những thế các mối quan hệ với đại gia đình

có thể cũng quan trọng cho sự phát triển cá tính của con người như các mốiquan hệ với gia đình hạt nhân

Sự tách rời của cá nhân: Cá nhân lành mạnh hay dễ thích nghi là do sự táchrời cá nhân quyết định Điều này mang hai ý nghĩa, sự tách rời cả về tâm lý lẫnthể lý Qua quá trình trưởng thành, cá nhân lành mạnh sẽ dần dần tách khỏi giađình, ở riêng, có suy nghĩ, cảm xúc và cuộc sống riêng Sự phát triển lành mạnhnày không làm hại đến mối quan hệ tốt đẹp với gia đình gốc

Trang 14

Mối quan hệ ba chiều/ tam giác: Quan hệ thân thiết giữa hai người tronggia đình có thể trở nên căng thẳng, vì vậy cần có người thứ ba để được ổn định.Người thứ ba giữ vai trò trung gian hòa giải, cố vấn tâm lý, hay an ủi Quan hệ

ba chiều là lành mạnh, tuy nhiên trong một số trường hợp, nó có thể ảnh hưởngtai hại đến sự tách rời của cá nhân

Bồn chồn lo lắng trong hệ thống tâm lý gia đình: Là một cảm xúc khó chịunhưng lành mạnh có công dụng như một tín hiệu báo trước các mối đe dọa hayhiểm nguy Cảm giác này chỉ trở thành vấn nạn nếu nó cản trở khả năng giảiquyết sự việc của cá nhân

Cha mẹ phóng chiếu lên con cái: Đây là một trong những hình thức của “cơchế tự vệ” : quy kết những cảm nghĩ, tình cảm của mình cho người khác, gáncho người khác những ước muốn và những xung đột bất ổn mà chính mình có,

để khỏi phải đối diện với vấn đề của mình

Sự đồng hóa/ tan biến và cắt đứt tình cảm: Đây là tình trạng liên quan đếnhai hay nhiều người trong hệ thống tam giác mà trong đó một thành viên hi sinh

sự tách rời, trưởng thành của cá nhân để tạo ra sự quân bình cho hai người kia.Khi một người đặc biệt bị đồng hóa/ tan biến trong mối tương quan với mộtngười khác thì người này sẽ có phản ứng mạnh mẽ với người kia

Mặt khác Bowen còn cho rằng trong gia đình hạt nhân, thứ tự anh chị em

ai sinh trước, ai sinh sau cũng có thể nói lên phần nào đó sự phát triển nhâncách của trẻ Các vấn đề khác cũng cần quan tâm như giới tính của anh chị em,khoảng cách giữa từng người

Đối với trẻ khiếm thị, do bị khiếm khuyết một phần cơ thể nên ít nhiềucác em có những cảm xúc và suy nghĩ tiêu cực Do vậy, việc thay đổi hành vi,nhận thức của các em có liên quan mật thiết tới sự tương tác của các em trongmôi trường gia đình và xã hội mà các em đang sống Bên cạnh đó, mối quan hệ

và tình cảm giữa các thành viên trong gia đình tác động rất lớn các em Nếu

Trang 15

quan hệ trong gia đình tốt thì sự quan tâm động viên từ gia đình sẽ giúp các emthoải mái hơn và suy nghĩ tích cực hơn và ngược lại Do đó, chúng tôi muốn sửdụng thyết này để tìm hiểu thái độ của gia đình có con, em là trẻ khiếm thị trongviệc hỗ trợ con trước khi học tập hòa nhập.

1.6.1Thuyết nhận thức – hành vi:

Sơ lược về Thuyết hành vi: S -> R -> B (S là tác nhân kích thích, R là phản ứng, B là hành vi) Thuyết cho rằng con người có phản ứng do có sự thay đổi của môi trường để thích nghi Như vậy, khi có 1 S sẽ xuất hiện nhiều R của con người, nhưng dần dần sẽ có 1 R có xu hướng lặp đi lặp lại do chúng ta đượchọc hay được củng cố khi kết quả của phản ứng đó mang lại điều gì chúng ta mong đợi Như vậy theo thuyết này thì hành vi con người là do chúng ta tự học

mà có và môi trường là yếu tố quyết định hành vi (Do trời mưa, do tắc đường nên nghỉ học…) Các mô hình trị liệu hành vi vì thế mà nhiều khi được sử dụng một cách sai lầm như phương pháp thưởng phạt Phương pháp này gây cho đối tượng cảm giác bị áp đặt

Thuyết nhận thức-hành vi:

- Thuyết trị liệu nhận thức – hành vi hay còn gọi là thuyết trị liệu nhận thức (behavioral cognitive therapy) bởi nền tảng của nó là các ý tưởng hành vi hoặc là trị liệu nhận thức xã hội do sự liên kết của nó với lý thuyết học hỏi xã hội

- Nội dung của thuyết: thuyết này cho rằng: chính tư duy quyết định phảnứng chứ không phải do tác nhân kích thích quyết định Sở dĩ chúng ta có những hành vi hay tình cảm lệch chuẩn vì chúng ta có những suy nghĩ không phù hợp

Do đó để làm thay đổi những hành vi lệch chuẩn chúng ta cần phải thay đổi chính những suy nghĩ không thích nghi

- Mô hình: S -> C -> R -> B

Trong đó: S là tác nhân kích thích, C là nhận thức, R là phản ứng, B là kết quả hành vi

Giải thích mô hình: Theo sơ đồ thì S không phải là nguyên nhân trực tiếp của hành vi mà thay vào đó chính nhận thức C về tác nhân kích thích và về kết quả hành vi mới dẫn đến phản ứng R

- Quan điểm về nhận thức và hành vi: 2 quan điểm

Trang 16

+ Theo các nhà lý thuyết gia nhận thức- hành vi thì các vấn đề nhân cách hành vi của con người được tạo tác bởi những suy nghĩ sai lệch trong mối quan

hệ tương tác với môi trường bên ngoài (Aron T Beck và David Burns có lý thuyết về tư duy méo mó) Con người nhận thức lầm và gán nhãn nhầm cả từ tâm trạng ở trong ra đến hành vi bên ngoài, do đó gây nên những niềm tin, hình tượng, đối thoại nội tâm tiêu cực Suy nghĩ không thích nghi tốt đưa đến các hành vi của một cái tôi thất bại

+ Hầu hết hành vi là do con người học tập (trừ những hành vi bẩm sinh), đều bắt nguồn từ những tương tác với thế giới bên ngoài, do đó con người có thể học tập các hành vi mới, học hỏi để tập trung nghĩ về việc nâng cao cái tôi, điều này sẽ sản sinh các hành vi, thái độ thích nghi và củng cố nhận thức

=> Như vậy, lý thuyết này cho ta thấy rằng cảm xúc, hành vi của con người không phải được tạo ra bởi môi trường, hoàn cảnh mà bởi cách nhìn nhậnvấn đề Con người học tập bằng cách quan sát, ghi nhớ và được thực hiện bằng suy nghĩ và quan niệm của mỗi người về những gì họ đã trải nghiệm

Như vậy, thuyết này mang tính nhân văn cao cả và đúng đắn khi đã đặt đúng trọng tâm vai trò của chủ thể con người trong hành vi của họ (khác với thuyết hành vi coi trọng yếu tố tác nhân kích thích; thuyết học tập xã hội coi trọng yếu tố thói quen hay học tập)

1.7 Các khái niệm:

1.7.1.Chính sách xã hội là gì?:

Chính sách xã hội là một hệ thống những quan điểm, chủ trương, phương hướng, biện pháp của nhà nước và các tổ chức chính trị-xã hội khác được chế hóa để giải quyết những vấn đề xã hội mà trước hết là những vấn đề xã hội gay cấn nhằm bảo đảm sự an toàn và phát triển xã hội

Chính sách xã hội là chính sách đối với con người, tìm cách tác động vào các hệ thống quan hệ xã hội ( quan hệ giai cấp, các tầng lớp xã hội, quan hệ các nhóm xã hội khác nhau ) tác động vào hoàn cảnh sống của con người và của cácnhóm xã hội ( bao gồm điều kiện lao động và điều kiện sinh hoạt ) nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội, đảm bảo và thiết lập được công bằng xã hội trong điều kiện xã hội nhất định

Các đặc trưng của chính sách xã hội

Trang 17

Chính sách xã hội khác với chính sách khác như : chính sách kinh tế, chính trị, văn hóa, tư tưởng sự khác biệt này bắt nguồn từ khía cạnh xã hội, tính chất xã hội của nó Theo đó ta thấy chính sách xã hội có những đạc trưng

Chính sách xã hội có tính trách nhiệm xã hội cao, bao giờ cũng quan tâm đến số phận của những con người cụ thể, quan tâm đến những cá nhânsống trong những điều kiện thiệt thòi, khó khăn so với mặt bằng chung xã hội lúc bấy giờ Tạo điều kiện cho những cá nhân phát huy những khả năng vốn có của mình vươn lên hòa nhập xã hội

Chính sách xã hội để thực hiện đúng mục tiêu, đối tượng bao giờ cũng có cơ chế hoạt động, bộ máy nhân sự, chương trình dự án và kinh phí hoạt động riêng của nó

1.7.2.Trẻ em là gì?:

Công ước Quốc tế xác định trẻ em là người dưới 18 tuổi, trừ khi luật pháp

ở các nước cụ thể quy định tuổi thành niên

Theo Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em của Việt Nam: trẻ em là công dân dưới 16 tuổi; người chưa thanh niên là người dưới 18 tuổi

1.7.3.Khuyết tật là gì?:

1.7.3.1.Khái niệm:

Theo Công ước về Quyền của người KT năm 2006: “Người KT bao gồm những người có những khiếm khuyết lâu dài về thể chất, trí tuệ, thần kinh hoặc

Trang 18

giác quan mà khi tương tác với các rào cản khác nhau có thể cản trở sự tham giađầy đủ và hiệu quả của họ trong xã hội trên một nền tảng công bằng như những người khác trong xã hội”

Theo Luật Người khuyết tật Việt Nam ban hành ngày 17/06/2010:

“Người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ

thể hoặc chức năng làm suy giảm về thể chất, thần kinh, trí tuệ, giác quan

trong một thời gian dài được biểu hiện dưới các dạng khuyết tật và do các rào cản xã hội, thiếu các điều kiện hỗ trợ phù hợp dẫn tới bị cản trở sự tham gia bình đẳng vào hoạt động xã hội”

1.7.3.2.Phân loại:

Dựa vào những tiêu chí khác nhau các nhà khoa học đã đưa ra nhiều

cách phân loại khuyết tật khác nhau Theo tài liệu của UNICEF – 2004 , khuyết tật được phân chia thành các dạng sau:

Mất cảm giác (bệnh hủi, bệnh phong)

Hiện nay, ở Việt Nam thường chia thành các dạng khuyết tật như sau:

Trang 19

1.7.4.Khiếm thị là gì?:

1.7.4.1.Khái niệm:

Khiếm thị hay còn gọi là triệu chứng mất khả năng cảm nhận thị

giác một phần hoặc hoàn toàn (mù, đui) Người khiếm thị là người sau khi được

điều trị hoặc điều chỉnh khúc xạ mà thị lực bên mắt tốt vẫn còn từ dưới 3/10 đếntrên mức không nhận thức được sáng tối, và bệnh nhân vẫn còn khả năng tận dụng thị lực này để lên kế hoạch và thực thi các hoạt động hàng ngày Riêngmắtngười bị mù hoàn toàn không có khả năng nhận thức sáng tối, không thấy được những gì xung quanh Chứng mù mắt có thể do rối loạn bẩm sinh, sinh lý hay thần kinh

Người mù: là người bị tổn thương thị giác, không còn nhìn thấy ánh sáng đối với cả hai mắt (thị lực bằng không) Đó là những người mù hoàn toàn hay còn gọi là mù tuyệt đối

Khiếm thị: ở trong nghiên cứu này, tôi tạm thời sử dụng thuật ngữ khiếm thị để chỉ tình trạng bị khiếm khuyết thị giác ở các em từ mức độ mù hoàn toàn (không nhìn thấy gì) đến mức độ còn nhìn được lờ mờ, tuy nhiên không đủ khả năng đọc được các chữ cái

1.7.4.2.Phân loại khiếm thị

Phân loại về người mù (người khiếm thị): Tuỳ thuộc vào tiêu chí mà có nhiều cách phân loại người mù: Nếu dựa vào nguyên nhân gây ra mù thì có mù bẩm sinh do di truyền; mù do bệnh tật (có thể nhiều loại như sởi, đậu mùa, thiênđầu thống, đục thuỷ tinh thể…); mù do tai nạn lao động; do chiến đấu Cách phân loại theo tuổi bị mù là một cách phân loại được chú ý Theo đó, người ta

Trang 20

phân ra theo 3 mốc tuổi: thứ nhất là bị mù trước 6 tuổi; thứ hai là bị mù sau 6 tuổi đến hết tuổi trung niên hay tuổi lao động (60 tuổi ở nam và 55 tuổi ở nữ);

và giai đoạn cuối là bị mù khi đã già

Người bị mù trong vòng 6 năm đầu đời là những người không hề được thấy ánh sáng, hoặc có thì cũng còn quá bé để có thể nhớ lại những hình ảnh màmắt đã thấy Những người mù này là những người mù tiêu chuẩn, họ không tận dụng được gì được ở ánh sáng, ở mắt nhìn Hoạt động của các giác quan, của tư duy, trí tuệ hoàn toạn dựa vào các giác quan khác Nghiên cứu người mù phải tập trung ở loại này

Người bị mù sau 6 tuổi đến tuổi trung niên: là những người có ít nhiều thuận lợi nhận biết được hình ảnh, rèn luyện được trí lực trong thời gian sáng mắt Càng bị mù muộn thì họ một mặt có thời gian sáng mắt càng lớn, do

đó có được nhiều ấn tượng cuộc sống, giúp cho họ trong quá trình tư duy, nhận thức, mặt khác thì khả năng thích ứng với cuộc sống trong điều kiện mới sẽ giảm sút vì càng về già thì các giác quan càng kém tinh tế, khó học tập Ngược lại, càng bị mù sớm thì một mặt họ có ít thời gian sáng mắt hơn do vậy mà kinh nghiệm cuộc sống có thể ít hơn nhưng việc rèn luyện khả năng thích ứng với hoàn cảnh mới lại dễ hơn, thuận lợi hơn

Người bị mù trong tuổi già (tuổi sau lao động): đối với những người này,một mặt khả năng thích ứng với hoàn cảnh mới kém hơn rất nhiều, mặt khác họ cũng có ít nhu cầu hơn, hoặc không còn bức thiết

Mỗi loại mù cần có những biện pháp giúp đỡ phù hợp, đặc biệt là người

mù trong 6 năm đầu đời

1.7.4.3.Những hạn chế và khả năng của người khiếm thị:

- Hạn chế:

Theo nghiên cứu thì người bình thường lượng tiếp nhận thông tin qua cácgiác quan như sau: thị giác 80%, thính giác 15 %, xúc giác 4%, khứu giác và vị

Trang 21

giác 1% Với con mắt, người ta có một lợi thế vô cùng lớn trong việc tiếp nhận thông tin Với đôi mắt, người ta có thể nhìn gần, nhìn xa, nhìn rộng hay nhìn tậptrung, nhìn tổng thể hay nhìn vào từng chi tiết như màu sắc sáng tối, đậm nhạt, hình dáng to nhỏ, sần sùi hay nhẵn, kích thức rộng hẹp, có thể thông qua mắt để biểu đạt trạng thái tình cảm như một phương tiện giao tiếp, hay nhận biết các trạng thái tình cảm, cử chỉ, hành động từ người khác Hơn nữa trong thời đại bùng nổ của khoa học công nghệ và thông tin người ta đã sáng chế ra nhiều máymóc, thiết bị giúp cho khả năng của mắt tăng gấp bội như máy tính, máy hiển

vi, kính thiên văn, máy ảnh, ti vi, internet, hoặc lượng sách, báo, truyền hình có mặt ở mọi nơi với đa dạng số lượng, và chủng loại thông tin Như vậy đối với người mù thì chỉ có thể tiếp nhận thông tin qua 4 giác quan còn lại, chủ yếu vào thính giác và xúc giác Khi bị mù mắt thì lượng thông tin tiếp nhận do các giác quan còn lại có thể tăng lên song không đáng kể Ở đây, nếu lượng thông tin và cảm xúc được tiếp nhận nhiều, chất lượng tốt thì sẽ giúp cho họ nhận thức và hành động tốt và ngược lại Do đó, cơ sở tiếp nhận thông tin đối với họ rất quan trọng Đặc biệt đối với trẻ em, trong giai đoạn hình thành và hoàn thiện nhân cách, tiếp nhận các kinh nghiệm và tri thức để có thể bước vào đảm nhiệm các vai trò xã hội thì có thể thấy rằng thông tin cực kỳ quan trọng và bị mù là một khiếm khuyết vô cùng lớn, ảnh hưởng nghiêm trọng tới sự hình thành nhân cáchcủa các em sau này Do đó, vấn đề tăng cường khả năng thu nhận thông tin cho các em là vấn đề bức thiết, quan hệ tới những cá nhân trưởng thành trong tương lai

mù có thể tiếp nhận được chính xác các thông tin về hình dáng, kích thước, độ mịn, độ bong, trọng lượng, nhiệt độ…Người mù cũng có thể đoán biết hình dáng, thể trạng một người chỉ bằng cách sờ mó vào bàn tay, cùi tay của họ Đặc biệt hiện nay người mù có thể học văn hoá thông qua chữ nổi Braile Thính giáccũng là giác quan quan trọng đối với người mù Với thính giác người mù có thể tiếp nhận thông tin qua các âm thanh, nhận biết và giao tiếp với người xung quanh qua giọng nói, qua tiếng động Với thính giác, người mù cũng có thể học

âm nhạc và trở thành những người chơi đàn thành thạo

Trang 22

1.7.4.4.Đặc điểm của trẻ khiếm thị:

1.7.4.4.a Đặc điểm tâm lý của trẻ khiếm thị:

* Giao tiếp và tình cảm xã hội:

- Việc giao tiếp phụ thuộc rất nhiều vào giao tiếp bằng mắt (90% lượng thông tin thu nhận của người bình thường là thông qua thị giác) Khiếm thị ảnh hưởng rất lớn đến quá trình phát triển ngôn ngữ cũng như giao tiếp của trẻ

- Giảm hoặc giảm đáng kể khả năng tư duy trừu tượng, lượng thông tin tiếp nhận rời rạc, đơn điệu và nghèo nàn

- Lời nói mang nặng tính hình thức, khó diễn đạt ý nghĩa của câu nói

- Mất hoặc giảm khả năng bắt chước những cử động, biểu hiện của nét mặt cũng như khả năng biểu đạt bằng cử chỉ, điệu bộ, nét mặt Kết quả tất yếu làtrẻ khiếm thị, đặc biệt là trẻ mù không biết kết hợp ngôn ngữ nói với ngôn ngữ

cử chỉ điệu bộ

- Khó định hướng trong giao tiếp, khó tham gia vào các hoạt động giao tiếp nhất là những hoạt động đòi hỏi phải có sự định hướng, di chuyển trong không gian

- Bị động trong giao tiếp, không xác định được khoảng cách, số lượng người nghe trong không gian giao tiếp

- Xuất hiện tâm lý mặc cảm, tự ti, ngại giao tiếp

* Đặc điểm nhận thức cảm tính:

Hoạt động nhận thức cảm tính là hình thức khởi đầu trong sự phát triển hoạt động nhận thức của con người Cảm giác là quá trình tâm lý phản ánh từng thuộc tính riêng lẻ của sự vật và hiện tượng khi trực tiếp tác động vào giác quan của ta Ví dụ: Đặt vào tay trẻ mù một vật lạ, trẻ rất khó trả lời đúng đó là vật gì Nhưng nếu hỏi: Em cảm thấy vật đó thế nào? (cứng, mềm, nhẵn, nóng, lạnh, nặng, nhẹ ) Nếu trẻ trả lời được tức là trẻ có cảm giác Trẻ mù hoàn toàn còn có những cảm giác:

- Cảm giác nghe

- Cảm giác sờ

Trang 23

* Đặc điểm cảm giác xúc giác của trẻ khiếm thị:

- Cảm giác xúc giác là tổng hợp của nhiều loại cảm giác gồm: cảm giác

áp lực, cảm giác nhiệt, cảm giác đau, cảm giác sờ Có hai loại cảm giác xúc giác: cảm giác xúc giác tuyệt đối và cảm giác xúc giác phân biệt: Ngưỡng cảm giác tuyệt đối là khả năng nhận rõ một điểm của vật tác động vào bề mặt của da

Đo cảm giác tuyệt đối bằng giác kế (bộ lông nhỏ), xác định được diện tích của một điểm tác động lên từng bộ phận của cơ thể người (khả năng cảm nhận được một điểm) tính theo miligam/ milimét vuông: đầu lưỡi 2, đầu ngón tay trỏ 2.2, môi 5, bụng 26, thắt lưng 48, gan bàn chân 250 Ngưỡng cảm giác phân biệt: là khả năng nhận biết hai điểm gần nhau đang kích thích trên da Nếu tính khoảng cách giữa hai điểm theo đơn vị milimét thì ngưỡng cảm giác phân biệt các vùng trên cơ thể như sau: môi 4,5, cổ 54,2, đùi và lưng 67,4 Khoảng cách tối thiểu giữa các chấm nổi trong ô ký hiệu Braille chỉ bằng 2,5 mm (ngưỡng xúc giác phân biệt ở đầu ngón tay trỏ của người bình thường là 2,2 mm và ở người mù được rèn luyện tốt là 1,2 mm) Nhờ vậy, tay của người mù sờ đọc chữ Braille không gặp khó khăn về nguyên tắc Đó cũng chính là cơ sở khoa học của hệ thống ký hiệu Braille

* Đặc điểm thính giác của trẻ khiếm thị:

Cùng với cảm giác xúc giác, cảm giác thính giác là một trong những cảm giác quan trọng giúp trẻ mù giao tiếp, định hướng trong các hoạt động: học tập, lao động và sinh hoạt cuộc sống Tai người hơn hẳn tai động vật ở chỗ hiểu được ngôn ngữ, cảm thụ được phẩm chất của âm thanh như cường độ, trường độ

và nhịp điệu Âm thanh phản ánh nhiều thông tin:

- Vật nào phát ra âm thanh

- Khoảng cách và vị trí không gian của vật phát ra âm thanh đối với người nghe, các vật xung quanh

Trang 24

- Vật phát ra âm thanh tĩnh tại hay chuyển động? chuyển động theo hướng nào? (an toàn hay nguy hiểm; sôi động hay yên tĩnh ).

- Nhờ âm thanh giọng nói của đối tượng đang giao tiếp, trẻ mù có thể biết được trạng thái tâm lý của họ Ngưỡng cảm giác thính giác của trẻ khiếm thị Độ nhạy cảm âm thanh của mọi người đều phát triển theo quy luật như nhau, tuy nhiên, khi bị mù buộc họ phải thường xuyên lắng nghe đủ mọi âm thanh, nên độ nhạy cảm giác nghe của họ tốt Nói như vậy, không có nghĩa là mọi người mù đều có độ nhạy âm thanh tốt hơn người sáng mắt Khoa học và thực tiễn đã chứng minh được rằng: muốn có độ nhạy của thính giác cần phải được rèn luyện thường xuyên Âm nhạc là một công cụ rèn luyện thính giác rất tốt cho trẻ mù c) Đặc điểm các loại cảm giác khác của trẻ mù Cảm giác cơ khớp vận động Là cảm giác nhận biết tín hiệu từ các cơ quan vận động của cơ thể Với người sáng mắt, cảm giác cơ khớp vận động ít có ý nghĩa

- Với người mù, nhờ có cảm giác này trong khi di chuyển họ điều chỉnh bước đi chính xác hơn, nhận biết nhiều dấu hiệu không gian, khoảng cách, phương hướng, tốc độ của vật thể Cảm giác rung là cảm giác phản ánh sự dao động của môi trường không khí Loại cảm giác này ở người bình thường ít có ý nghĩa thiết thực trừ một số ít người làm nghề lái máy bay, lái ô tô, lái xe gắn máy nhờ nó có thể biết được tình trạng hoạt động của máy móc

- Với người mù nhờ cảm giác rung, họ đoán được vật cản, độ lớn, khoảng trống sắp đi tới Cảm giác mùi, vị Cảm giác mùi, vị phản ánh tính chất hoá học của vật chất Khi vật chất đó tan trong không khí (hiện tượng thăng hoa), tác động vào cơ quan thụ cảm là mũi (mùi); Khi vật chất đó được cơ quan thụ cảm là lưỡi tiếp nhận (vị); Thông qua mùi, vị người mù dễ xác định được đối tượng: nhà ăn hay nhà vệ sinh; Người mù cảm nhận người quen có thể qua mùi mồ hôi Cảm giác thăng bằng Là cảm giác phản ánh sự cảm nhận vị trí của

cơ thể trong không gian; Bộ máy nhạy cảm thăng bằng là bộ phận tiền đình nằm

ở tai trong Thực nghiệm cho thấy: trong điều kiện như nhau, nếu người sáng mắt nhắm lại thì người mù có độ nhạy cảm thăng bằng và định hướng không gian tốt hơn

* Đặc điểm tri giác của trẻ khiếm thị:

Tri giác là một quá trình tâm lý phản ánh một cách trọn vẹn thuộc tính của sự vật và hiện tượng khi chúng tác động trực tiếp vào các giác quan của ta Không phải chỉ có một cơ quan mà có cả hệ cơ quan phân tích tham gia vào quátrình tri giác Tuỳ theo đối tượng và nhiệm vụ tri giác mà xác định giác quan

Trang 25

nào giữ vai trò chính Nếu nghe giảng văn thì thính giác giữ vai trò chủ yếu, nếuxem tranh vẽ thì mắt giữ vai trò chính Hình ảnh xuất hiện trên vỏ não do tri giác sờ đem lại tuy bị hạn chế hơn so với tri giác nhìn nhưng cũng giúp cho trẻ

mù nhận biết hình ảnh một cách trung thực Giữa mắt và tay có thể phản ánh những dấu hiệu giống nhau (hình dạng, độ lớn, phương hướng, khoảng cách, thực thể, chuyển động hay đứng yên), và những dấu hiệu khác nhau

- Nhận biết màu sắc ánh sáng, bóng tối thì mắt mới phản ánh đầy đủ trọnvẹn;

- Nhận biết về áp lực, trọng lượng, nhiệt độ thì tay phản ánh tốt hơn Thực nghiệm cho thấy: hiệu quả tri giác sờ chỉ được phát huy khi trẻ bị mù hoàntoàn Đó là điều lý giải vì sao người sáng mắt khi bị bịt mắt để sờ đọc và viết chữ nổi không hiệu quả như người mù

1.7.4.4.b Đặc điểm nhận thức lý tính của trẻ khiếm thị:

* Đặc điểm tư duy của trẻ khiếm thị:

- Tư duy là một quá trình tâm lý phản ánh những thuộc tính bản chất, nhưng mối liên hệ bên trong, có tính quy luật của sự vật, hiện tượng trong hiện thực khách quan mà trước đó ta chưa biết

- Ngôn ngữ giữ vai trò đặc biệt trong quá trình tư duy ở trẻ mù, chức năng cơ bản của ngôn ngữ không bị rối loạn Do đó tư duy của trẻ vẫn đủ điều kiện phát triển Tuy nhiên, những thao tác tư duy diễn ra phức tạp và khó khăn:

- Quá trình phân tích, tổng hợp dựa trên kết quả của quá trình nhận thức cảm tính (cảm giác, tri giác) Ở trẻ mù, nhận thức cảm tính lại bị khiếm khuyết, không đầy đủ, do đó, ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả tư duy (phân tích, tổng hợp);

- Quá trình so sánh thường dựa vào kết quả phân tích, tổng hợp, để tìm ranhững dấu hiệu giống và khác nhau giữa các sự vật và hiện tượng Trẻ mù khó

tự tìm ra những dấu hiệu bản chất để khái quát hoá và phân loại theo một hệ thống xác định Đôi khi các em chỉ dựa vào một dấu hiệu đơn lẻ để khái quát thành một nhóm chung Nhờ có khả năng bù trừ chức năng của các giác quan nên khả năng nhận thức của trẻ không bị ảnh hưởng nhiều, vì thế tư duy của trẻ

mù vẫn có thể phát triển bình thường

* Đặc điểm biểu tượng và tưởng tượng của trẻ khiếm thị:

Trang 26

Biểu tượng là những hình ảnh được lưu giữ lại, nhờ kết quả tri giác sự vật và hiện tượng trước đó Đó là những hình ảnh xuất hiện trên não bộ không phải do các sự vật đang trực tiếp tác động lên cơ quan cảm giác mà chỉ là hình ảnh của trí nhớ Do những hạn chế của quá trình tiếp nhận thông tin của trẻ khiếm thị, biểu tượng của trẻ khiếm thị có những đặc điểm sau:

- Khuyết lệch, nghèo nàn;

-Hình ảnh bị đứt đoạn;

- Mức độ khái quát thấp Tưởng tượng là một quá trình tâm lý phản ánh những cái chưa từng có trong kinh nghiệm của cá nhân, là quá trình xây dựng những hình ảnh mới trên cơ sở những biểu tượng đã có Tưởng tượng được xây dựng trên cơ sở của biểu tượng Khi biểu tượng bị nghèo nàn, khuyết lệch, lờ

mờ, đứt đoạn, chắp vá thì chắc chắn sẽ ảnh hưởng tới khả năng phát triển của tưởng tượng, tức là hạn chế khả năng tái tạo, sáng tạo Tưởng tượng của trẻ mù

có đặc điểm:

- Hạn chế khả năng tái tạo, sáng tạo.hình ảnh mới (đôi khi đánh giá không đúng sự thật hoặc cường điệu hoá);

- Trí tưởng tượng nghèo;

Ví dụ 1: Trẻ mù bẩm sinh, chưa được nhìn trực tiếp đám mây thì khó tưởng tượng ra hình ảnh: một lùm cây xanh in trên nền trời xanh biếc, có đám mây trắng ngần Ví dụ 2: Trẻ mù bẩm sinh, trong giấc mơ của họ không bao giờ

có hình ảnh màu sắc Trẻ mù ở độ tuổi trưởng thành, vẫn có nhiều cơ hội phát triển tưởng tượng

* Ngôn ngữ:

Trong giao tiếp, con người sử dụng ngôn ngữ (tiếng nói, chữ viết) để biểu đạt tư tưởng, ý nghĩ, tình cảm, ý muốn của mình Ngôn ngữ giữ vai trò quan trọng đối với tất cả mọi người Nó không chỉ là phương tiện giao tiếp mà còn có chức năng khái quát hoá và trừu tượng hoá, là điều kiện không thể thiếu được nhằm phát triển tư duy Ngôn ngữ là cái vỏ của tư duy Với người mù, ngôn ngữ còn có thêm chức năng bù trừ những khiếm khuyết trong hoạt động nhận thức

Trang 27

CHƯƠNG II: TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN

CỨU 1.Tổ chức nghiên cứu

1.1 Chọn nhóm, chọn đề tài

Lớp 14 CTXH của chúng em đang theo học môn “ Phương pháp nghiên cứu trong Công tác xã hội” do Cô Nguyễn Hằng Phương giảng dạy

Để đáp ứng yêu cầu của môn học, của giảng viên là tiến hành nghiên một

đề tài , nhóm chúng em gồm Huỳnh Thị Hiếu, Alang An, Phan Thanh Tùng, Trần Văn Mạnh sau một thời gian họp nhóm, bàn bạc đã thống nhất ý kiến là sẽchọn đề tài là nghiên cứu về việc thực hiện các chính sách dành cho trẻ khiếm thị tại Trường PTCB Nguyễn Đinh Chiểu , phường Hòa Minh, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng Nhóm em chọn đề tài này vì :

Trẻ em là tương lai của đất nước,là những mầm xanh hi vọng của Tổ quốc là thế hệ sẽ giúp đất nước ngày càng phát triển vững mạnh hơn, tươi đẹp hơn.Nếu giáo dục, chăm sóc trẻ em tốt thì sẽ ngày càng có nhiều nhân tài sẵn sàng cống hiến, phục vụ cho đất nước mình

Trẻ em là những đối tượng yếu thế, là những điều quý báu của dân tộc đáng được quan tâm, yêu thương, chăm sóc, nâng niu, giáo dục Và trẻ em khuyết tật lại càng đáng được cả xã hội quan tâm hơn vì vốn dĩ các em đã phải gánh chịu rất nhiều thiệt thòi từ khi mới sinh ra, các em không được vui đùa cùng các bạn đồng trang lứa, không được nghe thấy âm thanh, không nhìn thấy ánh sáng của cuộc đời, không đi trên chính đôi chân của mình đươc, các em xứng đáng được bù đắp, được chở che bởi tình yêu thương của tất cả mọi người

Trang 28

Vấn đề này chưa được nhiều sách , nhiều bài báo hay các phương tiện truyền thông đề cập đến Cũng rất ít người đã từng nghiên cứu vấn đề này, chỉ mới dừng lại ở nghiên cứu chung về trẻ em khuyết tật, về giáo dục hòa nhập cộng đồng, về việc trẻ em khuyết tật được đến trường, Nhận ra tính cấp thiết của vấn đề, nên nhóm chúng em đặc biệt quan tâm đến vấn đề này và nhất là trẻ

em khiếm thị Hiện tại ở Đà Nẵng đã xây dựng một trường THPT Chuyên biệt Nguyễn Đình Chiểu ở đây tập trung hầu như tất cả các trẻ em bị khuyết tật để các em được học tập, vui chơi, được chăm sóc,

2.1.Tiến hành nghiên cứu

2.1.1 Xây dựng bảng hỏi

Sau khi đã thống nhất được đề tài , nhóm chúng em bắt đầu vào quá trình nghiên cứu Theo yêu cầu của Cô, các nhóm tìm những tài liệu liên quan đến đề tài để làm phần Tổng quan tài liệu Nhóm trưởng nhóm em phân công cho tất cảcác nhóm viên về tích cực tìm tài liệu Các bạn tìm tài liệu và gởi qua cho bạn nhóm trưởng , tổng hợp lại và gởi cho Cô để Cô xem, nhận xét, và đóng góp ý kiến để nhóm chỉnh sửa, bổ sung

Xuất phát từ thực tế và mục đích nghiên cứu, nhóm chúng em tiến hành xây dựng bảng hỏi:

Chúng em xây dựng bảng hỏi dựa trên những nội dung như : Mức độ, biểu hiện, ảnh hưởng

Trong phần Biểu hiện có các phần S là những câu hỏi về sinh lý

N là những câu hỏi về nhận thức

C là những câu hỏi về cảm xúc

H là những câu hỏi về hành vi

Trang 29

Trong phần Ảnh hưởng có các mục về học tập, về hoạt động thường ngày , về sức khỏe.

Và cuối cùng là phần Đề xuất để các em có thể trình bày những mong muốn của mình

Xây dựng xong bảng hỏi, đại diện nhóm gởi cho giảng viên hướng dẫn ,

Cô nhận xét và nhóm chỉnh sửa, bổ sung

12.3.Tiến hành khảo sát

Sau khi hoàn chỉnh Bảng hỏi , nhóm em bắt đầu đi khảo sát

Ngày đầu tiên đến Trường , nhóm chúng em đã không thể gặp được các em vì chưa xin được giấy giới thiệu từ Khoa nên Cô Hiệu Trưởng không cho gặp các em

Lần thứ 2, có được giấy giới thiệu, nhóm chúng em lên lại trường, khảo sát được 15 em, vì các em khác đi học chưa về

Lần thứ 3, khảo sát được 20 em

Lần thứ 4, khảo sát được 10 em

Tổng số phiếu mà nhóm khảo sát là 45 phiếu

Nhóm chúng em còn tiến hành điều tra qua cách hỏi các giáo viên trong trường, các phụ huynh của các em

Sau khi việc điều tra kết thúc, chúng em tiến hành xử lý số liệu

Trang 30

1.2.5 Viết bài

Khi có kết quả xử lý số liệu, chúng em tiến hành viết bài

Bài làm của chúng em gồm : 2 phần là Mở đầu và Nội dung

Trong phần Nội dung có 4 chương

Chương I : Cơ sở lý luận

Chương II : Tổ chức nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu

Chương III : Kết quả nghiên cứu, kết luận, kiến nghị

2 Phương pháp nghiên cứu và kĩ thuật nghiên cứu.

2.1.Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu chính được sử dụng là phương pháp nghiên cứuđịnh lưỡng với kỹ thuật thu thập thông tin là khảo sát bằng bảng hỏi Bên cạnh

đó, đề tài còn kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính với kỹ thuật thu thậpthông tin là thông qua phỏng vấn sâu trẻ khiếm thị, phụ huynh trẻ khiếm thị, côgiáo tại Trường PTCB Nguyễn Đình Chiểu

2.1.1.Phương pháp nghiên cứu định lượng

Phương pháp nghiên cứu định lượng là phương pháp sử dụng những kỹ thuậtnghiên cứu để thu thập dữ liệu định lượng - thông tin có biểu hiện bằng các con

số và bất cứ gì có thể đo lường được Với phương pháp này, chúng tôi muốnlượng hóa các chế độ,chính sách mà các trẻ em khiếm thị học tại trường PTCBNguyễn Đình Chiểu được hưởng Từ những thực trạng này, sẽ đề xuất một sốbiện pháp để cho trẻ khiếm thị đi học hòa nhập tại các trường phổ thông khácnữa cũng được tạo những điều kiện tốt nhất để có thể yên tâm học hành Phương pháp nghiên cứu định lượng chính được sử dụng là phương pháp khảosát bằng bảng hỏi

Trang 31

2.1.2.Phương pháp nghiên cứu định tính

Đây là phương pháp sử dụng những kỹ thuật nghiên cứu đề thu thập dữ liệu,thông tin có tính đặc trưng, chi tiết về những chính sách, chế độ mà trẻ emkhiếm thị tại Trường CNPT Nguyễn Đình Chiểu được hưởng Bên cạnh đó,phương pháp nghiên cứu định tính cũng được sử dụng đối với học sinh khiếmthị Phương pháp nghiên cứu định tính được sử dụng là phương pháp phỏng vấnsâu, quan sát

2.2 Kỹ thuật nghiên cứu.

2.2.1 Kỹ thuật thu thập thông tin:

Bảng hỏi: Để thu thập thông tin định lượng, nghiên cứu sẽ sử dụng kỹthuật khảo sát bằng bảng hỏi được xây dựng với số lượng mẫu là 45 học sinhkhiếm thị đang được nuôi dạy tại Trường PTCB Nguyễn Đình Chiểu

Phỏng vấn sâu: Để thu thập thông tin định tính với cấu trúc câu hỏi đãđược phác thảo trước theo các tiêu chí và chủ đề liên quan đến các biện pháp hỗtrợ trẻ khiếm thị trước khi đi học hòa nhập

Quan sát: Được thực hiện khi ghi nhận mức độ thành thạo của học sinhkhiếm thị khi thực hiện các thao tác sinh hoạt hàng ngày, kỹ năng định hướng dichuyển, kỹ năng học tập trên lớp, kỹ năng học tập tại nhà của học sinh khiếmthị

2.2.2 Kỹ thuật xử lí thông tin:

Thông tin tư liệu: tổng quan tài liệu, một số khái niệm, các lí thuyết ứngdụng

Thông tin định tính: phân loại thông tin, gỡ băng phỏng vấn, các bảngbiểu quan sát

Thông tin định lượng: tổng hợp số liệu từ bảng hỏi

Trang 32

CHƯƠNG III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

I Tổng quan về địa bàn nghiên cứu

1 Bối cảnh văn hóa, xã hội của quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng

Về vị trí địa lí: Quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng được thành lập theoNghị định số 07/CP ngày 23/01/1997 của Chính phủ, trên cơ sở 3 xã Hòa Hiệp,

dân số 100.050 người (Năm 2008) Về đơn vị hành chính, quận Liên Chiểu có 5phường: Hoà Minh, Hòa Khánh Nam, Hoà Khánh Bắc, Hoà Hiệp Nam, HòaHiệp Bắc

Nằm ở phía Tây Bắc thành phố Đà Nẵng, phía Đông giáp vịnh Đà Nẵng, phíaNam giáp quận Cẩm Lệ, Thanh Khê; phía Tây giáp huyện Hòa Vang, phía Bắcgiáp tỉnh Thừa Thiên - Huế qua đèo Hải Vân- nơi được mệnh danh là "Thiên hạ

Đệ nhất hùng quan"

Là một quận công nghiệp trẻ, phân bố dọc theo quốc lộ 1A và có đường sắtBắc Nam đi qua, Liên Chiểu có ưu thế về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, thuậnlợi phát triển giao thông vận tải, du lịch và là nơi tập trung 2 khu công nghiệplớn của thành phố Đà Nẵng Vị trí địa lý trên là điều kiện đặc biệt thuận lợi choviệc giao lưu với các tỉnh và khu vực xung quanh, trong nước và quốc tế

Liên Chiểu có bờ biển dài 26 km, với nhiều bãi tắm tự nhiên đẹp như Nam Ô,Xuân Thiều, Bắc Ninh, bờ biển uốn lượn chạy vòng cung ôm dọc theo tuyếnđường Nguyễn Tất Thành - một trong những con đường đẹp nhất của thành phố,thuận lợi cho khai thác và phát triển du lịch Ngoài ra còn có tiềm năng pháttriển ngành nuôi trồng và đánh bắt hải sản

Quận còn có lợi thế về tài nguyên rừng, trong đó rừng đặc dụng Hải Vân,diện tích 3418,7 ha Nơi có đường hầm đèo Hải Vân, một trong những đườnghầm dài nhất Đông Nam Á xuyên qua lòng núi Rừng ở đây phong phú các loạitài nguyên động thực vật, là tiềm năng để phát triển du lịch sinh thái, nghỉdưỡng lý tưởng được hình thành bởi quần thể sinh thái như sông Cu - Đê, LàngVân, đường hầm đèo Hải Vân và thắng cảnh thiên nhiên Nam Ô

Kết cấu hạ tầng của quận đang ngày càng hoàn thiện, công tác chỉnh trang,

đô thị hoá diễn ra nhanh, nhiều dự án lớn của Thành phố và Trung ương đã vàđang triển khai trên địa bàn làm cho công tác quy hoạch, chỉnh trang đô thị

Ngày đăng: 29/08/2017, 21:53

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Bảng   thể hiện mức độ  hài lòng của trẻ  khiếm thị về các  chế độ chăm sóc  sức khỏe: - Việc thực hiện chính sách cho trẻ khuyết tật tại trường phổ thông chuyên biệt Nguyễn Đình Chiểu Đà Nẵng.
Bảng 1 Bảng thể hiện mức độ hài lòng của trẻ khiếm thị về các chế độ chăm sóc sức khỏe: (Trang 37)
Bảng chữ nổi Braille - Việc thực hiện chính sách cho trẻ khuyết tật tại trường phổ thông chuyên biệt Nguyễn Đình Chiểu Đà Nẵng.
Bảng ch ữ nổi Braille (Trang 39)
Bảng 5: Bảng thể hiện mức độ ảnh ảnh hưởng của chính sách đối với vấn đề  học tập của trẻ em khiếm thị Trường CBPT Nguyễn Đình Chiểu. - Việc thực hiện chính sách cho trẻ khuyết tật tại trường phổ thông chuyên biệt Nguyễn Đình Chiểu Đà Nẵng.
Bảng 5 Bảng thể hiện mức độ ảnh ảnh hưởng của chính sách đối với vấn đề học tập của trẻ em khiếm thị Trường CBPT Nguyễn Đình Chiểu (Trang 40)
Bảng 6: Bảng  thể hiện mức độ ảnh hưởng  của trẻ em khiếm thị ở trường PTCB Nguyễn Đình Chiểu về các hoạt động thường ngày. - Việc thực hiện chính sách cho trẻ khuyết tật tại trường phổ thông chuyên biệt Nguyễn Đình Chiểu Đà Nẵng.
Bảng 6 Bảng thể hiện mức độ ảnh hưởng của trẻ em khiếm thị ở trường PTCB Nguyễn Đình Chiểu về các hoạt động thường ngày (Trang 41)
Bảng 7: Bảng  thể hiện mức độ ảnh hưởng của việc bị khiếm thị của trẻ khiếm  thị ở Trường PTCB Nguyễn Đình Chiểu đối với vấn đề sức khỏe. - Việc thực hiện chính sách cho trẻ khuyết tật tại trường phổ thông chuyên biệt Nguyễn Đình Chiểu Đà Nẵng.
Bảng 7 Bảng thể hiện mức độ ảnh hưởng của việc bị khiếm thị của trẻ khiếm thị ở Trường PTCB Nguyễn Đình Chiểu đối với vấn đề sức khỏe (Trang 42)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w