1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình theo pháp luật hình sự việt nam, vương quốc thụy điển và liên bang nga

98 302 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 1,42 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo cách tiếp cận này còn có các sách tham khảo như: Nguyễn Ngọc Điệp 2000, Tìm hiểu các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình và các tội phạm đối với người chưa thành niên Biên soạ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

DƢ Lấ DUNG

Các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình theo pháp luật hình sự Việt Nam, V-ơng quốc Thụy Điển

và Liên bang Nga

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2016

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

DƯ Lấ DUNG

Các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình theo pháp luật hình sự Việt Nam, V-ơng quốc Thụy Điển

và Liên bang Nga

Chuyờn ngành: Luật hỡnh sự và tố tụng hỡnh sự

Mó số: 60 38 01 04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cỏn bộ hướng dẫn khoa học: TS CHU THỊ TRANG VÂN

HÀ NỘI - 2016

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Dƣ Lê Dung

Trang 4

CHẾ ĐỘ HÔN NHÂN GIA ĐÌNH 8 1.1 Khái niệm chế độ hôn nhân gia đình và các tội xâm phạm chế

độ hôn nhân và gia đình theo luật hình sự Việt Nam 8 1.2 Cơ sở của việc quy định các tội xâm phạm chế độ hôn nhân

và gia đình trong luật hình sự 11 1.3 Khái lược sự hình thành và phát triển những quy định về các

tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình trong Luật hình

sự Việt Nam 14

1.3.1 Giai đoạn từ thời kỳ nhà Lý cho đến trước Cách mạng tháng Tám

năm 1945 141.3.2 Giai đoạn từ khi Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công

cho đến trước khi Bộ luật hình sự 1985 ra đời 161.3.3 Giai đoạn từ khi Bộ luật hình sự 1985 ra đời cho đến trước khi

ban hành Bộ luật hình sự 1999 221.3.4 Giai đoạn sau khi ban hành Bộ luật hình sự 1999 241.3.5 Các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình theo Bộ luật hình

sự (sửa đổi) năm 2015 29

Chương 2: CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT

NAM HIỆN HÀNH VỀ CÁC TỘI XÂM PHẠM CHẾ ĐỘ HÔN NHÂN GIA ĐÌNH VÀ THỰC TIỄN XÉT XỬ 32

Trang 5

2.1 Quy định của Bộ luật hình sự 1999 về các tội xâm phạm chế

độ hôn nhân gia đình 32

2.1.1 Phân loại các tội xâm phạm chế độ hôn nhân gia đinh trong Bộ

luật hình sự 1999 322.1.2 Dấu hiệu pháp lý 342.1.3 Các hình thức trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm chế

độ hôn nhân gia đình 37

2.2 Các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình theo Bộ luật

hình sự (sửa đổi) năm 2015 41 2.3 Thực tiễn xét xử các tội xâm phạm chế độ hôn nhân gia đình

và các hình phạt được áp dụng 44

2.3.1 Thực tiễn xét xử các tội xâm phạm chế độ hôn nhân gia đình 442.3.2 Các hình phạt được áp dụng đối với các tội xâm phạm chế độ

hôn nhân và gia đình 47

2.4 Những tồn tại, hạn chế, các nguyên nhân cơ bản làm giảm

hiệu quả áp dụng pháp luật hình sự về các tội xâm phạm chế

độ hôn nhân và gia đình 47

2.4.1 Những tồn tại, hạn chế 472.4.2 Các nguyên nhân cơ bản 49

Chương 3: QUY ĐỊNH CỦA LUẬT HÌNH SỰ VƯƠNG QUỐC THỤY

ĐIỂN VÀ LIÊN BANG NGA VỀ CÁC TỘI XÂM PHẠM CHẾ

ĐỘ HÔN NHÂN GIA ĐÌNH VÀ KINH NGHIỆM ĐỂ TIẾP TỤC HOÀN THIỆN BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 51 3.1 Quy định của Luật hình sự Vương quốc Thụy Điển về các tội

xâm phạm chế độ hôn nhân gia đình 51

3.1.1 Sơ lược về Vương quốc Thụy Điển 513.1.2 Luật hình sự Vương quốc Thụy Điển về các tội xâm phạm chế

độ hôn nhân gia đình 53

Trang 6

3.2 Quy định của Luật hình sự Liên bang Nga về các tội xâm

phạm chế độ hôn nhân gia đình 56

3.2.1 Sơ lược về Liên bang Nga 563.2.2 Luật hình sự Liên bang Nga về các tội xâm phạm chế độ hôn

nhân gia đình 58

3.3 Hoàn thiện Bộ luật Hình sự Việt Nam về các tội xâm phạm

chế độ hôn nhân gia đình 63

3.3.1 Những yêu cầu của việc tiếp tục hoàn thiện pháp luật hình sự về

các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình 633.3.2 Nội dung hoàn thiện pháp luật hình sự về các tội xâm phạm chế

độ hôn nhân gia đình 66

3.4 Biện pháp bảo đảm việc thực thi pháp luật hình sự về các tội

xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình 68

3.4.1 Nâng cao hiệu quả hoạt động của Cơ quan Công an, Viện kiểm

sát, Tòa án về các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình 683.4.2 Biện pháp tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật hôn nhân

và gia đình, những quy định của pháp luật hình sự về các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình 743.4.3 Biện pháp về tăng cường sự phối hợp giữa Công an, Viện kiểm

sát, Tòa án với các tổ chức, đoàn thể có liên quan trong đấu tranh phòng, chống các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình 783.4.4 Tăng cường hợp tác quốc tế trong đấu tranh phòng, chống các tội

xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình 82

KẾT LUẬN 85 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 87

Trang 7

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BLHS: Bộ luật hình sự CTTP: Cấu thành tội phạm HN&GĐ: Hôn nhân và gia đình TAND: Tòa án nhân dân TANDTC: Tòa án nhân dân tối cao TNHS: Trách nhiệm hình sự VKS: Viện Kiểm sát

VKS: Viện kiểm sát XHCN: Xã hội chủ nghĩa

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ

Số hiệu Tên bảng, biểu đồ Trang

Bảng 2.1 Số liệu xét xử hình sự sơ thẩm về các tội xâm phạm

Trang 9

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Gia đình là tế bào của xã hội, là cái nôi nuôi dưỡng con người, là môi trường quan trọng hình thành và giáo dục nhân cách, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa (XHCN) Gia đình tốt, thì xã hội mới tốt, xã hội tốt thì gia đình càng tốt

Nhận thức được tầm quan trọng của gia đình trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, ngay sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, Nhà nước

ta đã thiết lập chế độ hôn nhân gia đình mới tiến bộ, thay thế cho chế độ hôn nhân gia đình phong kiến, lạc hậu Quyết tâm xây dựng chế độ hôn nhân và gia đình (HN&GĐ) mới của Đảng và Nhà nước ta được thể hiện rất rõ trong các Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980 và Điều 64, Hiến pháp năm 1992 đã ghi nhận: Gia đình là tế bào của xã hội Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình Hôn nhân theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng Cha mẹ có trách nhiệm nuôi dạy con cái thành những công dân tốt Con cháu có bổn phận kính trọng và chăm sóc ông bà, cha mẹ Nhà nước và xã hội không thừa nhận việc phân biệt đối xử với các con Để đảm bảo thực hiện đúng đắn, đầy đủ chế độ HN&GĐ mới tiến bộ và tuân thủ triệt để Hiến pháp, Bộ luật hình sự (BLHS) năm 1985, cũng như BLHS năm 1999 đều đã quy định cụ thể các tội xâm phạm chế độ HN&GĐ, góp phần ngăn chặn, hạn chế và từng bước xóa bỏ những tàn tích của chế độ HN&GĐ phong kiến, lạc hậu

Trong những năm gần đây, tình hình tội phạm có chiều hướng gia tăng, diễn biến phức tạp; tình trạng suy thoái về chính trị, đạo đức, lối sống, kể cả trong lĩnh vực HN&GĐ Đáng chú ý, các tội xâm phạm chế độ HN&GĐ không có xu hướng gia tăng, nhưng tính chất và mức độ ngày càng nghiêm trọng, gây dư luận xấu trong xã hội

Trang 10

2

Thực tiễn đấu tranh phòng, chống các tội xâm phạm chế độ và hôn nhân gia đình cho thấy, mặc dù đây là các tội phạm mà tính chất nguy hiểm cho xã hội không cao, nhưng có ảnh hưởng rất lớn đến đời sống gia đình; trên thực tế, các tội phạm này xảy ra rất nhiều, song việc xử lý bằng các chế tài hình sự còn rất hạn chế Thực tiễn áp dụng các tội xâm phạm chế độ HN&GĐ cũng đã đặt ra nhiều vấn đề vướng mắc, đòi hỏi khoa học luật hình sự phải nghiên cứu, giải quyết để làm sáng tỏ về mặt lý luận như: khái niệm các tội xâm phạm chế độ HN&GĐ, ý nghĩa của việc quy định các tội phạm này trong pháp luật hình sự Trong khi đó, xung quanh những vấn đề này, vẫn còn rất nhiều ý kiến khác nhau, thậm chí trái ngược nhau

Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài "Các tội xâm phạm chế độ hôn nhân gia đình theo pháp luật hình sự Việt Nam, Vương quốc Thụy Điển và Liên bang Nga", mang tính cấp thiết, không những về lý luận, mà còn là đòi hỏi

của thực tiễn hiện nay

2 Tình hình nghiên cứu

Tiếp cận một cách khái quát để làm rõ đặc điểm pháp lý và hình phạt đối với tất cả các tội phạm trực tiếp xâm hại chế độ hôn nhân và gia đình theo

luật hình sự Việt Nam có các giáo trình sau: Lê Cảm (Chủ biên) (2003), Giáo

trình Luật hình sự Việt Nam (Phần các tội phạm), NXB Đại học quốc gia Hà

Nội; Trường Đại học Luật Hà Nội (2000), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam, NXB Công an nhân dân; Nguyễn Văn Huyên (chủ biên) (2011), Giáo trình

Luật hình sự Việt Nam, NXB tư pháp; Đỗ Đình Hòa (chủ biên) (2011), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần các tội phạm), NXB Công an nhân dân

(Giáo trình của Tổng cục Xây dựng lực lượng Công an nhân dân); Phạm Văn

Beo (2012), Luật hình sự Việt Nam, Quyển 2 (Phần các tội phạm), NXB

Chính trị Quốc gia Bên cạnh đó còn có một số cuốn bình luận khoa học như:

Trần Minh Hưởng (chủ biên) (2014), Bình luận khoa học Bộ luật hình sự (Đã

Trang 11

3

được sửa đổi, bổ sung), NXB Hồng Đức; Đinh Văn Quế (2004), Bình luận khoa học Bộ luật hình sự (Phần các tội phạm), Tập III – Các tội xâm phạm quyền tự do, dân của của công dân; xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình,

NXB Thành phố Hồ Chí Minh Theo cách tiếp cận này còn có các sách tham

khảo như: Nguyễn Ngọc Điệp (2000), Tìm hiểu các tội xâm phạm chế độ hôn

nhân và gia đình và các tội phạm đối với người chưa thành niên (Biên soạn

theo Bộ luật hình sự 1999 và những tài liệu mới nhất), NXB Phụ nữ; Nguyễn

Vũ Tiến, Đỗ Đức Hồng Hà, Nguyễn Thị Ngọc Hoa (2011), Hỏi đáp về các tội

xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình, NXB Chính trị quốc gia-Sự thật

Ngoài ra còn một số bài báo khoa học cũng nghiên cứu tổng hợp về tất cả các

tội phạm này như: Trịnh Tiến Việt (2003), "Một số vấn đề cần lưu ý khi áp

dụng các quy định tại Chương Các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình trong Bộ luật hình sự năm 1999", Tạp chí Khoa học pháp lý Trường Đại học

Luật Thành phố Hồ Chí Minh, số 1/2003; Đỗ Đức Hồng Hà (2010), "Hoàn

thiện quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999 về Các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình", Tạp chí Nghề luật số 3/2010

Không nghiên cứu chung các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình mà nghiên cứu một cách đơn lẻ từng tội phạm một gồm có một số bài báo của các tác giả như: Trịnh Tiến Việt (2002), "Tội ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con cháu, người có công nuôi dưỡng mình trong

Bộ luật hình sự năm 1999", Tạp chí Kiểm sát số 9/2002; Trịnh Tiến Việt

(2002), "Tội từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng trong Bộ luật hình sự

năm 1999", Tạp chí Kiểm sát số 4/2002; Nguyễn Thị Lan, “Hành vi vi phạm

chế độ một vợ một chồng dưới khía cạnh xã hội-pháp lý và những vấn đề đặt

ra”, Tạp chí Khoa học – Chuyên san Luật học, số 1/2015; Nguyễn Thị Lan,

“Bàn về tội phạm loạn luân trong pháp luật hình sự Việt Nam”, Tạp chí Khoa

học – Chuyên san Luật học, số 4/2015

Trang 12

4

Các công trình nghiên cứu trên cũng đã cung cấp cho bạn đọc những kiến thức căn bản về Các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình Tuy nhiên, mới chỉ nghiên cứu ở từng khía cạnh của vấn đề, mà chưa đi sâu nghiên cứu tổng thể từ lịch sử, lý luận cho đến thực tiễn và hoàn thiện Chính

vì vậy, tác giả mạnh dạn nghiên cứu về Các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình trong Bộ luật Hình sự năm 1999

3 Mục đích, nhiệm vụ, đối tƣợng, phạm vi và thời gian nghiên cứu của luận văn

3.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận văn là làm sáng tỏ nhận thức – khoa học

về lịch sử hình thành và phát triển, những vấn đề lý luận và thực tiễn về Các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình trong Bộ luật Hình sự Việt Nam,

Bộ luật Hình sự Liên bang Nga và Vương quốc Thụy Điển Trên cơ sở đó đưa

ra những giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về Các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình, góp phần vào chính sách đấu tranh phòng ngừa

và chống tội phạm nói chung

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Với mục đích nêu trên, luận văn có nhiệm vụ nghiên cứu như sau: Về mặt lý luận: Nghiên cứu làm rõ lịch sử hình thành và phát triển của các quy phạm pháp luật hình sự về Các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình trong suốt quá trình hình thành và phát triển của Luật hình sự Việt Nam Trên

cơ sở đó, có sự đối chiếu, so sánh với các quy định tương ứng trong Bộ luật hình sự của Liên bang Nga và Vương quốc Thụy Điển

Về mặt thực tiễn: Nghiên cứu thực tiễn xét xử các tội và chỉ ra những tổn tại, hạn chế, để từ đó chỉ ra được các nguyên nhân cơ bản trong việc áp dụng pháp luật Trên cơ sở, đề ra phương hướng và các giải pháp hoàn thiện pháp luật về Các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình, tăng cường hiệu quả đấu tranh phòng ngừa và chống các tội phạm thuộc nhóm này

Trang 13

5

3.3 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là các quy phạm pháp luật tương ứng với Các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình trong lịch sử lập pháp qua các thời kỳ lịch sử; những quy định của pháp luật hình sự một số nước trên thế giới có điểm tương đồng với Các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình trong Bộ luật Hình sự Việt Nam Ngoài ra, trên cơ sở nghiên cứu số liệu của thực tiễn xét xử của Các tội này từ năm 2005 – 2014 trên toàn quốc

3.4 Phạm vi và thời gian nghiên cứu của luận văn

Phạm vi nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu những vấn đề về lịch sử lập pháp, lý luận và thực tiễn về Các tội phạm xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình trong Bộ luật hình sự năm 1999 và các văn bản hướng dẫn dưới góc độ luật hình sự ngoài ra còn tham khảo dự thảo Bộ luật Hình sự Việt Nam năm

2015 Đồng thời đề cập đến những quy định của pháp luật có liên quan, hỗ trợ cho quá trình giải quyết nhiệm vụ và đối tượng nghiên cứu trên

Thời gian nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu thực tiễn xét xử, áp dụng pháp luật hình sự về Các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình trong Bộ

luật Hình sự năm 1999 giai đoạn 2005-2014

4 Cơ sở lý luận và các phương pháp nghiên cứu

Cơ sở phương pháp luận của luận văn là Chủ nghĩa Mác – Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh cũng như những chính sách quan điểm của Đảng và Nhà nước ta trong công cuộc đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm nói chung, các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình nói chung

Luận văn trên cơ sở kế thừa những thành tựu của các chuyên ngành khoa học pháp lý khác như: Lý luận chung về Nhà nước và pháp luật, Lịch sử Nhà nước và pháp luật, tội phạm học, xã hội học, triết học, những luận điểm khoa học trong các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học luật hình sự được đăng trên sách báo tạp chí chuyên ngành, sách chuyên khảo

Trang 14

6

Luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu như: phân tích, so sánh, thống kê, tổng hợp

5 Những đóng góp mới về mặt khoa học của luận văn

Đây là đề tài khoa học đầu tiên trong khoa học luật hình sự Việt Nam nghiên cứu một cách có hệ thống và đồng bộ những vấn đề lý luận và thực tiễn về Các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình trong Bộ luật hình sự năm 1999 và dự thảo Bộ luật hình sự năm 2015

Điểm mới của luận văn bao gồm:

- Hệ thống, làm rõ lịch sử hình thành và phát triển những quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về Các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình;

- Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình; Đối chiếu, so sánh với các quy định có tính tương đồng trong Bộ luật hình sự của một số nước trên thế giới

- Đề ra các kiến nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về Các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình trong Bộ luật hình sự năm 1999, nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm trong lĩnh vực này, góp phần nâng cao hiệu quả triển khai chính sách pháp luật hình sự nói chung

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Về mặt lý luận: Đây là công trình nghiên cứu một cách có hệ thống và toàn diện những vấn đề lý luận về lịch sử hình thành và phát triển, khái niệm, các dấu hiệu pháp lý đặc trưng của tội, các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình, góp phần vào quá trình nhận thức khoa học, triển khai tốt chính sách hình sự trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình

Về mặt thực tiễn: Trên cơ sở có cái nhìn tổng quan về lịch sử của vấn

đề và so sánh với các tội phạm có điểm tương đồng với Các tội xâm phạm chế

độ hôn nhân và gia đình trong Bộ luật hình sự một số nước trên thế giới Với nhiệm vụ nghiên cứu thực tiễn áp dụng pháp luật, từ đó đề xuất hướng nâng

Trang 15

7

cao hiệu quả của công tác đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình nói riêng, tội phạm nói chung, củng cố và duy trì pháp chế xã hội chủ nghĩa

7 Bố cục của luận văn

Luận văn ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn được chia làm ba chương với kết cấu như sau:

Chương 1 Một số vấn đề lí luận về các tội xâm phạm chế độ hôn nhân

gia đình

Chương 2 Quy định của pháp luật Hình sự Việt Nam hiện hành về các

tội xâm phạm chế độ hôn nhân gia đình và thực tiễn xét xử

Chương 3 Quy định của Luật Hình sự Vương quốc Thụy Điển và Liên

bang Nga về các tội xâm phạm chế độ hôn nhân gia đình và kinh nghiệm để tiếp tục hoàn thiện Bộ luật Hình sự Việt Nam

Trang 16

8

Chương 1

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÁC TỘI XÂM PHẠM

CHẾ ĐỘ HÔN NHÂN GIA ĐÌNH

1.1 Khái niệm chế độ hôn nhân gia đình và các tội xâm phạm chế

độ hôn nhân và gia đình theo luật hình sự Việt Nam

Gia đình không chỉ là “tế bào” tự nhiên mà còn là một đơn vị kinh tế của xã hội Không có gia đình tạo ra con người để xây dựng xã hội thì xã hội cũng không thể tồn tại và phát triển được Gia đình không chỉ giữ vai trò nền tảng, tế bào của xã hội, mà còn là môi trường quan trọng, trực tiếp giáo dục nếp sống, hình thành nên nhân cách con người Gia đình giữ vai trò đặc biệt quan trọng đối với số lượng, chất lượng dân số và cơ cấu dân cư của quốc gia Vai trò của gia đình không chỉ dừng lại ở việc duy trì nòi giống, mà quan trọng hơn, gia đình phải trở thành môi trường tốt, đầu tiên để giáo dục nếp sống, hình thành nhân cách con người Vì thế, việc xây dựng một hệ thống pháp luật để bảo vệ mối quan hệ hôn nhân – gia đình trước khả năng bị xâm phạm bởi các tội phạm là vô cùng quan trọng

Trước hết, ta cần hiểu thế nào là Hôn nhân và gia đình - đó là những hiện tượng xã hội luôn được các nhà triết học, đạo đức học, xã hội học, luật học và sử học quan tâm nghiên cứu Hôn nhân là cơ sở của gia đình, gia đình

là tế bào của xã hội mà trong đó là sự kết hợp hài hòa, chặt chẽ lợi ích của mỗi công dân, Nhà nước và xã hội

C.Mác và Ph Ăngghen đã chứng minh một cách khoa học rằng, Hôn nhân

và gia đình là những phạm trù phát triển theo dòng lịch sử, giữa chế độ kinh tế - xã hội và tổ chức gia đình có mối liên quan trực tiếp, chặt chẽ [20, tr 41-42]

Hôn nhân là hiện tượng xã hội - là sự liên kết giữa người đàn ông và

người phụ nữ Sự liên kết đó phát sinh và hình thành do việc kết hôn và được

Trang 17

ra giống nòi là nhờ sinh đẻ, nói cách khác, tồn tại hai mối quan hệ: mối quan

hệ tự nhiên và mối quan hệ xã hội Quan hệ hôn nhân là quan hệ xã hội được xác định bởi các quan hệ sản xuất đang thống trị, vì vậy, tính chất của nó có thể thay đổi, phụ thuộc vào quan hệ sản xuất đang thống trị đó

Trong mỗi giai đoạn phát triển của lịch sử, giai cấp thống trị đều điều chỉnh các quan hệ hôn nhân bằng pháp luật cho phù hợp với ý chí, nguyện vọng của mình, phục vụ lợi ích của giai cấp mình Xã hội chiếm hữu nô lệ có chế độ hôn nhân chiếm hữu nô lệ; xã hội phong kiến có chế độ hôn nhân phong kiến; xã hội tư bản có chế độ hôn nhân tư sản, còn xã hội xã hội chủ nghĩa (XHCN) có chế độ hôn nhân XHCN Trong những xã hội bóc lột, những người thuộc giai cấp bị bóc lột thường khó có thể có quan hệ hôn nhân với những người thuộc giai cấp thống trị

Dưới chế độ XHCN, hôn nhân thực sự mang tính chất bình đẳng, tự nguyện, tiến bộ, đó không phải là hợp đồng, mà là sự liên kết bền vững giữa người đàn ông và người phụ nữ, trên cơ sở yêu thương, quý trọng lẫn nhau, bảo đảm thỏa mãn nhu cầu vật chất và tinh thần của đôi bên, cũng như thỏa mãn nhu cầu sinh đẻ và giáo dục con cái

Từ sự phân tích ở trên, có thể khái quát rằng: hôn nhân là sự liên kết

giữa một người đàn ông và một người phụ nữ trên cơ sở nguyên tắc bình đẳng, tự nguyện theo quy định của pháp luật nhằm chung sống với nhau suốt đời và xây dựng gia đình ấm no, hạnh phúc

Khái niệm gia đình rộng hơn khái niệm hôn nhân Nếu như hôn nhân là

Trang 18

10

sự liên kết giữa một người đàn ông và một người phụ nữ, thì gia đình là sự liên kết của nhiều người có quan hệ với nhau do hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng Gia đình là sản phẩm của xã hội, đã phát sinh và phát triển cùng với sự phát triển của xã hội Các điều kiện kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn phát triển nhất định là nhân tố quyết định tính chất và kết cấu của gia đình Do vậy, gia đình là hình ảnh thu hẹp của xã hội, là tế bào của xã hội Trong mỗi hình thái kinh tế - xã hội, gia đình mang tính chất và kết cấu phù hợp với hình thái đó Gia đình XHCN khác về chất so với các kiểu gia đình của các chế độ xã hội trước đó Dưới chế độ XHCN, quan hệ bình đẳng giữa

vợ và chồng trong gia đình, phản ánh mối quan hệ bình đẳng giữa nam và nữ trong xã hội

Như vậy gia đình là sự liên kết của nhiều người dựa trên cơ sở hôn

nhân, huyết thống, nuôi dưỡng, trong đó mọi người cùng quan tâm giúp đỡ lẫn nhau về vật chất và tinh thần, xây dựng gia đình, nuôi dạy thế hệ trẻ dưới

sự giúp đỡ của Nhà nước và xã hội

Theo đó có thể hiểu Chế độ hôn nhân và gia đình là tập hợp các quy tắc

ứng xử bắt buộc hoặc được thừa nhận chung mà theo đó, sự tự do hay hạn chế quyền của mỗi thành viên xã hội trong các quan hệ HNGĐ phụ thuộc vào nguyên tắc cai trị xã hội của nhà nước và quy luật tự nhiên

Tuy nhiên trong xã hội ngày nay những hành vi xâm phạm đến mối quan hệ hôn nhân, quan hệ gia đình vẫn diễn ra Bao gồm các hành vi cản trở hôn nhân hoặc cưỡng ép kết hôn xâm phạm đến quyền kết hôn, ly hôn của người khác, các hành vi ngoại tình xâm phạm đến chế độ một vợ một chồng tiến bộ; hành vi tổ chức tảo hôn, tảo hôn gây ảnh hưởng đến sự phát triển hoàn thiện của giống nòi; hành vi giao cấu với người cùng dòng máu về trực

hệ, với anh, chị em cùng huyết thống là hành vi vi phạm đạo đức bị xã hội lên

án kịch liệt, nó ảnh hưởng xấu đến nhận thức của những thế hệ đi sau, đến

Trang 19

11

thuần phong mỹ tục của dân tộc, ảnh hưởng đến sự phát triển lành mạnh của giống nòi Bên cạnh đó, có những hành vi cũng đáng lên án và cần có một hình thức xử lý nghiêm khắc khi con ngược đãi bố mẹ, cháu ngược đãi ông

bà, người có công nuôi dưỡng mình khôn lớn và ngược lại; từ chối hoặc trốn tránh việc cấp dưỡng đối với người mà mình có nghĩa vụ cấp dưỡng Nền tảng duy trì gia đình là sự yêu thương, chăm sóc, quan tâm đến nhau của từng thành viên, ngoài việc xâm hại đến mối quan hệ tốt đẹp vốn có của gia đình, biểu hiện của nhân cách xấu, nó còn xâm hại đến danh dự, nhân phẩm, sức khỏe, thậm chí là tính mạng của người bị xâm hại Chế độ hôn nhân và gia đình được bảo vệ bằng các thiết chế xã hội, bằng các biện pháp đạo đức và bằng cả các biện pháp pháp luật Trước tiên là bằng các thiết chế pháp luật hành chính, sau đó khi hành vi nguy hiểm đáng kể cho xã hội thì phải có biện pháp nghiêm khắc nhất, đủ sức răn đe và phòng ngừa tội phạm chung

Có thể thấy các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình là những

hành vi nguy hiểm cho xã hội được Luật Hình sự quy định, do người từ đủ độ tuổi nhất định, có năng lực trách nhiệm hình sự, cố ý thực hiện, xâm hại tới các quan hệ xã hội trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình

1.2 Cơ sở của việc quy định các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình trong luật hình sự

Để định hướng phát triển và bảo vệ chế độ hôn nhân gia đình bằng pháp luật hình sự, Nhà nước cần thực hiện các hoạt động sáng tạo pháp luật hình sự Đó chính là hoạt động tội phạm hóa và phi tội phạm hóa của các nhà làm luật trên cơ sở những căn cứ sau:

 Căn cứ về mặt pháp lý

- Hành vi xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình phải là những hành

động hoặc không hành động có tính nguy hiểm đáng kể cho xã hội

Trang 20

12

- Tội phạm hóa hành vi xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình chỉ thật

sự cần thiết và đúng đắn nếu bản chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi đó bộc

lộ rõ nhất và đầy đủ nhất khi được xem xét là đã xâm hại trực tiếp đến quan hệ

xã hội về HNGĐ Tức là khi đánh giá hành vi đó với bản chất nguy hiểm cao nhất thì phải thấy nó đang trực tiếp phá vỡ các quy tắc xử sự bắt buộc

- Việc tội phạm hóa hành vi xâm phạm chế độ HNGĐ không được trái

hoặc gây chồng chéo với các quy định pháp luật thuộc nhiều ngành luật khác nhau trong hệ thống pháp luật quốc gia

 Căn cứ về mặt tội phạm học

Những hành vi bị tội phạm hóa bắt buộc phải là những hành vi tương đối phổ biến, điển hình hơn và hay lặp đi lặp lại nhiều hơn so với những hành

vi trái xã hội khác đang tồn tại trong giai đoạn hiện nay

Động thái hay diễn biến của những hành vi xâm hại chế độ HNGĐ xảy

ra trong thực tiễn với số lượng tăng hay giảm đáng kể so với các tội phạm khác, tần suất lặp lại nhiều hay ít sẽ là một trong những căn cứ để áp dụng chính sách hình sự

Nguyên nhân và các điều kiện làm phát sinh hoặc giảm đi đáng kể số lượng hay quy mô thực hiện tội phạm cũng có thể là một trong những căn cứ giúp Nhà nước lựa chọn đúng đắn biện pháp đấu tranh chống lại những vi phạm xâm hại chế độ HNGĐ

Đặc điểm về nhân thân của chủ thể cũng là một căn cứ quan trọng để đánh giá tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội, đồng thời đây là một căn

cứ xác định giới hạn trừng trị của pháp luật hình sự đối với hành vi xâm hại chế độ HNGĐ

 Căn cứ về tâm lý-đạo đức

Trong số các hành vi xâm phạm chế độ HNGĐ, chỉ những hành vi bị lên án và phản ứng gay gắt nhất của xã hội về mặt đạo đức thì mới cần thiết

Trang 21

 Căn cứ về kinh tế-xã hội

Việc tội phạm hóa, phi tội phạm hóa đối với những hành vi xâm phạm chế độ HNGĐ cần phải phù hợp với cơ sở hạ tầng chính là các quy luật phát triển khách quan trong đời sống vật chất và tinh thần của xã hội đồng thời phải tương xứng với các tiến bộ của khoa học, kỹ thuật và công nghệ

Khi tội phạm hóa hoặc phi tội phạm hóa một hành vi xâm phạm chế độ HNGĐ, quốc gia buộc phải cân nhắc tính phù hợp với những nguyên tắc và các quy phạm đã kí hoặc đã được thừa nhận chung trong pháp luật quốc tế để tiếp thu có chọn lọc các giá trị tiến bộ của luật hình sự nước ngoài, đáp ứng đòi hỏi của yêu cầu hội nhập quốc tế

 Căn cứ về văn hóa-truyền thống

Sự đánh giá về tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi

vi phạm chế độ HNGĐ sẽ khác nhau giữa từng vùng lãnh thổ có nền văn hóa khác biệt Chính vì vậy, để tội phạm hóa hay phi tội phạm hóa thì văn hóa-truyền thống là yếu tố quan trọng trong việc xác định biện pháp đấu tranh với những hành vi vi phạm chế độ HNGĐ

Ví dụ, với một quốc gia tiếp thu nền văn hóa phương Đông như Việt Nam, việc một cá nhân đến tuổi trưởng thành phải có nghĩa vụ và trách nhiệm với cha mẹ già, con cái là bắt buộc, vì thế tội trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng

và Tội ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình được quy định chi tiết và cụ thể với mức phạt tối đa

Trang 22

14

lên tới 3 năm tù giam, tuy nhiên với các quốc gia tiếp thu nền văn hóa phương Tây như Liên bang Nga hay Thụy Điển thì vấn đề này lại không được đề cập tới, do các quốc gia này có nền văn hóa đề cao tính độc lập tự chủ của con người, hệ thống an sinh xã hội được áp dung từ khi sinh ra đến khi chết đi

1.3 Khái lƣợc sự hình thành và phát triển những quy định về các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình trong Luật hình sự Việt Nam

1.3.1 Giai đoạn từ thời kỳ nhà Lý cho đến trước Cách mạng tháng Tám năm 1945

Hôn nhân là một vấn đề hệ trọng đối với mỗi con người, gia đình lại là nền tảng của xã hội Vì vậy, ngay từ thời phong kiến, HN&GĐ luôn được Nhà nước rất quan tâm điều chỉnh bằng pháp luật

Trong Bộ luật thành văn đầu tiên của Nhà nước ta - Bộ Hình thư, được ban hành năm 1042 dưới thời Lý Thái Tông, vấn đề HN&GĐ chiếm một vị trí quan trọng và được quy định trong nhiều điều luật Nét đặc trưng chủ yếu của các quy định này là quyền uy tập trung trong tay người chồng, và mọi thành viên có bổn phận phục tùng; người chồng được phép bỏ vợ trong trường hợp người vợ phạm một trong các tội "thất xuất", còn người vợ sẽ bị trừng phạt nghiêm khắc nếu ruồng bỏ chồng; con cái không làm tròn đạo hiếu sẽ bị trừng phạt Trách nhiệm giáo dục con cái tuân theo đạo lý thuộc về cha mẹ, nếu lơ

là trách nhiệm thì chính cha mẹ cũng bị trừng phạt

Trong Quốc triều hình luật (Bộ luật Hồng Đức) - Bộ luật chính thống của Triều đại nhà Lê, mười tội ác (thập ác) đã được quy định tại Điều 3, trong

đó có tới bốn tội liên quan đến HN&GĐ, đó là các tội:

4 Ác nghịch, là đánh và mưu giết ông bà, cha mẹ, bác chú, thím, cô, anh, chị em, ông bà ngoại, ông bà cha mẹ chồng

7 Bất hiếu, là tố cáo, rủa mắng ông bà, cha mẹ, trái lời cha

mẹ dạy bảo, nuôi nấng thiếu thốn, có tang cha mẹ mà lấy vợ, lấy

Trang 23

15

chồng, vui chơi ăn mặc như thường; nghe thấy tang ông bà, cha mẹ

mà không cử ai (tang lễ); nói dối là ông bà, cha mẹ chết

8 Bất mục, là giết hay đem bán những người trong họ phải

để tang 3 tháng trở lên, đánh đập hoặc tố cáo chồng, cùng những họ hàng từ tiểu công trở lên

9 Bất nghĩa, là giết quan bản phủ và các quan đương chức tại nhiệm, giết thầy học; nghe thấy tin chồng chết mà không cử ai, lại

vui chơi ăn mặc như thường, cùng là tái giá [43, tr.36-37]

Ngoài ra, trong Quốc triều hình luật có một chương Hộ hôn gồm 58 điều luật, trong đó có một số điều quy định những trường hợp bị cấm kết hôn, nếu vi phạm sẽ phải chịu hình phạt, đó là là các trường hợp: đang có tang cha

mẹ hoặc tang chồng mà lại lấy chồng hoặc cưới vợ, khi ông bà, cha mẹ bị

giam cầm tù tội mà lấy vợ, lấy chồng Ví dụ: Điều 317 quy định: "Người nào

đang có tang cha mẹ hoặc tang chồng mà lại lấy chồng hoặc cưới vợ thì xử tội đồ, người khác biết mà vẫn cứ kết hôn thì xử biếm ba tư và đôi vợ chồng mới cưới phải chia lìa" [43, tr.122] Bộ luật này còn có một số quy định là hiện

thân tư tưởng phong kiến coi thường phụ nữ làm nghề hát xướng như quy định

tại Điều 323: "Các quan và thuộc lại lấy đàn bà con gái hát xướng làm vợ cả,

vợ lẽ, đều xử phạt 70 trượng, biếm ba tư; con cháu các quan viên mà lấy những phụ nữ nói trên, thì xử phạt 60 trượng; về đều phải ly dị" [43, tr.123]

Dưới thời thực dân Pháp xâm lược nước ta, Việt Nam vẫn là một nước thuộc địa nửa phong kiến, chính quyền thực dân và giai cấp địa chủ phong kiến vẫn duy trì chế độ hôn nhân phong kiến đã tồn tại từ nhiều thế kỷ, thừa nhận sự cưỡng ép kết hôn của cha mẹ đối với con cái, bảo vệ chế độ nhiều vợ (đa thê), duy trì quan hệ bất bình đẳng giữa nam và nữ trong gia đình Điều thứ 128 Luật hình An Nam thi hành ở Bắc Kỳ quy định:

Trang 24

16

Người vợ hay vợ lẽ hiện đương có chồng mà phạm tội thông gian, xét ra quả thực, phải phạt giam từ ba tháng đến hai năm và phạt bạc từ bốn mươi đồng đến bốn trăm đồng, người gian phu bị

phạt cũng thế [38, tr.21]

Điều thứ 135 của Bộ luật cũng quy định:

Người vợ hay vợ lẽ hiện đương có chồng, chưa tuyên cáo sự

ly hôn, mà đi lấy chồng khác, phải phạt giam từ một năm đến năm năm và phạt bạc từ năm đồng đến hai trăm đồng

Người có vợ chưa tuyên cáo sự tiêu hôn mà đi lấy vợ khác, phải phạt giam từ ba tháng đến một năm và phạt bạc từ hai đồng

hành vi ngoại tình không coi là tội phạm [31, tr.202]

1.3.2 Giai đoạn từ khi Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công cho đến trước khi Bộ luật hình sự 1985 ra đời

Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vừa ra đời đã phải đối mặt với muôn vàn khó khăn, thử thách Quân đội các nước Đồng Minh dưới danh nghĩa giải giáp quân Nhật đã lũ lượt kéo vào nước ta

Từ vĩ tuyến 16 trở ra bắc, gần 20 vạn quân Trung Hoa Dân quốc kéo vào đóng ở Hà Nội và hầu hết các tỉnh Theo sau chúng là tay sai thuộc các tổ chức phản động như Việt Nam Quốc dân đảng (Việt Quốc), Việt Nam Cách mạng đồng minh hội (Việt Cách) về nước hòng cướp chính quyền của ta Từ

vĩ tuyến 16 trở vào Nam, quân Anh tạo điều kiện cho thực dân Pháp quay trở lại xâm lược Lợi dụng tình hình đó, bọn phản động trong nước ngóc đầu dậy, làm tay sai cho Pháp chống phá cách mạng

Trang 25

17

Ngoài ra, trên cả nước ta, còn 6 vạn quân Nhật chờ giải giáp Một bộ phận quân Nhật theo lệnh quân Anh đánh lại lực lượng vũ trang của ta, tạo điều kiện cho quân Pháp mở rộng phạm vi chiếm đóng

Trong khi đó, chính quyền cách mạng vừa mới thành lập, chưa được củng cố, lực lượng vũ trang còn non yếu Nền kinh tế nông nghiệp nước ta vốn đã lạc hâu, lại bị chiến tranh tàn phá nặng nề; hậu quả của nạn đói cuối năm 1944-đầu năm 1945 chưa khắc phục được Tiếp đó là nạn lụt lớn, làm vỡ

đê ở chín tỉnh Bắc Bộ, rồi hạn hán kéo dài, khiến cho nửa tổng số ruộng đất không canh tác được Nhiều xí nghiệp còn nằm trong tay tư bản Pháp Các cơ

sở công nghiệp của ta chưa kịp phục hồi sản xuất Hàng hóa khan hiếm, giá cả tăng vọt, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn

Ngân sách Nhà nước lúc này hầu như trống rỗng, kho bạc Nhà nước chỉ

có hơn 1,2 triệu đồng Chính quyền cách mạng chưa quản lí được Ngân hàng Đông Dương Trong lúc đó, quân Trung Hoa Dân quốc lại tung ra thị trường các loại tiền Trung Quốc đã mất giá, làm cho nền tài chính nước ta thêm rối loạn

Tàn dư văn hóa lạc hậu của chế độ thực dân, phong kiến để lại hết sức nặng nề, hơn 90% dân số không biết chữ

Trong tình hình đó, nhân dân ta phải thực hiện ba nhiệm vụ lớn, đó là

diệt giặc đói, diệt giặc dốt và diệt giặc ngoại xâm và "Đảng ta xác định giữ

vững chính quyền là nhiệm vụ hàng đầu" [9, tr.468] Vì vậy, từ khi Cách

mạng tháng Tám thành công cho đến năm 1954 là thời điểm ký Hiệp định Giơnevơ, Quốc hội ta là Quốc hội kháng chiến, Chính phủ ta là Chính phủ kháng chiến, pháp luật ta cũng là pháp luật kháng chiến Trong hoàn cảnh khó khăn đó, Nhà nước ta vẫn rất quan tâm xây dựng chế độ HN&GĐ mới tiến

bộ, từng bước xóa bỏ những quy định khắt khe của chế độ thực dân, phong kiến đối với phụ nữ (Sắc lệnh số 97/SL ngày 12-05-1950) Tuy nhiên, do phải tập trung quy định các tội phạm liên quan đến sự an nguy của chính quyền

Trang 26

18

nhân dân như các tội phản bội Tổ quốc, tội gián điệp, tội hối lộ, tham ô , cho nên, trong giai đoạn này, Nhà nước ta chưa có quy định về các tội xâm phạm chế độ HN&GĐ

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Hiệp định Giơnevơ được ký kết, miền Bắc hoàn toàn được giải phóng, miền Nam tạm thời bị đế quốc Mỹ và bọn tay sai thống trị Từ khi Luật HN&GĐ được ban hành năm 1959, đời sống HN&GĐ đã có những chuyển biến đáng kể Tuy nhiên, những hành vi vi phạm pháp luật HN&GĐ vẫn xảy ra phổ biến ở mức độ nghiêm trọng, Trước tình hình đó, Tòa án nhân dân tối cao đã có Thông tư số 332-NCPL ngày 04-04-1966 hướng dẫn về xử lý hình sự đối với 8 hành vi vi phạm nghiêm trọng pháp luật HN&GĐ, đó là các hành vi: tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, cản trở hôn nhân tự do và tiến bộ, yêu sách của cải trong việc cưới hỏi, lấy nhiều vợ - lấy

vợ lẽ, thông gian, đánh đập hoặc ngược đãi vợ, đánh đập hoặc ngược đãi con, ngược đãi bố mẹ Đây là văn bản pháp lý đầu tiên hướng dẫn xử lý hình sự đối với các hành vi vi phạm nghiêm trọng pháp luật HN&GĐ kể từ khi Cách mạng tháng Tám thành công Thông tư số 332-NCPL ngày 04-04-1966 đã đề cập về từng hành vi vi phạm như sau:

Thứ nhất, đối với hành vi tảo hôn, Thông tư nêu rõ:

Đối với nạn tảo hôn chủ yếu là giáo dục; cá biệt, nếu có tình

tiết nghiêm trọng như: đã được chính quyền, đoàn thể giải thích,

thuyết phục, ngăn cản mà vẫn cố ý vi phạm; hoặc đã gây ảnh hưởng chính trị xấu thì có thể phạt cảnh cáo hoặc phạt tù treo hay tù

giam Đối tượng xử phạt có thể là cha mẹ của đôi trai gái, người có trách nhiệm nuôi dưỡng (nếu trai hoặc gái chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự), hoặc cả đôi bên trai gái (nếu họ đã đến tuổi chịu TNHS: 15 tuổi) [33, tr.465]

Trang 27

19

Thứ hai, đối với hành vi cưỡng ép kết hôn, Thông tư nêu rõ:

Đối với hành động cưỡng ép kết hôn, vi phạm quyền tự do kết hôn, chủ yếu là giáo dục, cá biệt, nếu có tình tiết nghiêm trọng,

có thể phạt cảnh cáo, tù treo hay tù giam

Tình tiết nghiêm trọng ở đây là: có kèm theo tảo hôn; đã được chính quyền, đoàn thể giải thích, thuyết phục, ngăn cản mà vẫn cố ý vi phạm; có kèm theo đánh đập tàn nhẫn; đã gây ảnh hưởng chính trị xấu; rõ ràng là nạn nhân vì bị cưỡng ép kết hôn mà

sự sát [33, tr.467]

Thứ ba, đối với hành vi cản trở hôn nhân tiến bộ, Thông tư hướng dẫn:

Đối với hành động cản trở hôn nhân tự do, tiến bộ, chủ yếu là giáo dục, cá biệt nếu có tình tiết nghiêm trọng có thể phạt cảnh cáo,

tù treo, hay tù giam nếu rõ ràng là nạn nhân vì bị cản trở hôn nhân

tự do và tiến bộ mà tự sát, cần phạt tù giam

Tình tiết nghiêm trọng ở đây là: có kèm theo cưỡng ép kết hôn; đã được chính quyền, đoàn thể giải thích, thuyết phục, ngăn cản mà vẫn cố ý vi phạm; có kèm theo lăng nhục thậm tệ, nhục hình

tần nhẫn; đã gây ảnh hưởng chính trị xấu [33, tr.468]

Thứ tư, đối với hành vi yêu sách của cải trong việc cưới hỏi, tức là sự đòi

hỏi về tiền, vàng, quần áo, gạo, thịt, rượu trong việc cưới hỏi của nhà gái đối với nhà trai với ý nghĩa là điều kiện để được kết hôn, Thông tư hướng dẫn:

Về mặt hình sự, nếu việc yêu sách của cải trong việc cưới hỏi gắn liền với tảo hôn, hoặc cưỡng ép kết hôn, hoặc cản trở hôn nhân

tự do và tiến bộ thì cần chú ý kết hợp xem xét, đánh giá trong những trường hợp phải xử lý nạn tảo hôn, cưỡng ép kết hôn hoặc cản trở hôn nhân tự do và tiến bộ [33, tr.469]

Thứ năm, đối với hành vi lấy nhiều vợ - lấy vợ lẽ, Thông tư hướng dẫn:

Trang 28

20

Đối với người lấy nhiều vợ, lấy vợ lẽ (từ sau ngày ban hành Luật HN&GĐ) chủ yếu vẫn là giáo dục, phê bình, để ngăn ngừa và chấm dứt Cá biệt, nếu có tình tiết nghiêm trọng thì có thể bị xử phạt cảnh cáo hoặc tù treo hay tù giam về tội "lấy nhiều vợ" (hoặc tội lấy vợ lẽ) Nếu bị cáo đã bị xử phạt cảnh cáo hoặc tù treo mà vẫn không chịu cắt đứt với người vợ lẽ thì phải phạt tù giam

Tình tiết nghiêm trọng ở đây có thể là: đã được giáo dục, giải thích mà vẫn cố tình vi phạm; đã được Tòa án tuyên bố cuộc kết hôn là bất hợp pháp mà vẫn tiếp tục duy trì quan hệ vợ chồng; hành

vi có tính chất lừa dối cơ quan, đoàn thể, lừa dối vợ trước hoặc vợ

sau; gây ảnh hưởng, tác hại xấu, dư luận phản đối [33, tr.470]

Thứ sáu, đối với hành vi thông gian, tức là hành vi quan hệ tình dục bất

chính giữa một bên đang có vợ hoặc có chồng với người khác (dù là người này đã có hoặc chưa có vợ, có chồng)

Trong tình hình xã hội miền Bắc nước ta lúc đó, không thể coi thông gian là một khuyết điểm về sinh hoạt cá nhân, mà khi có những tình tiết nghiêm trọng nhất định phải coi thông gian là một tội phạm đã xâm phạm đến quan hệ HN&GĐ được pháp luật bảo vệ, đến thuần phong mỹ tục và đến trật

tự xã hội

Đường lối xử lý đối với tội thông gian là: biện pháp ngăn chặn tệ nạn này chủ yếu vẫn giáo dục Các cơ quan, đoàn thể cần tăng cường công tác giáo dục quần chúng về đạo đức, xã hội mới, chống những tư tưởng và nếp sống sa đọa, đồi bại, trụy lạc do xã hội cũ để lại

Trong một số ít trường hợp cần thiết, có thể dùng biện pháp tư pháp để làm chỗ dựa cho công tác giáo dục nói trên Những trường hợp cần thiết đó là:

- Thông gian với vợ bộ đội, vợ cán bộ và vợ những người vì nhiệm vụ công tác mà phải thoát ly gia đình, tại những địa phương

Trang 29

sự phản đối của gia đình người chồng, của người vợ, của kẻ ngoại tình và bị quần chúng công phẫn đòi hỏi phải trừng phạt

- Do thông gian mà dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng như gây ra án mạng, tham ô lớn, đào ngũ, đào nhiệm hoặc những hành

động phạm pháp nghiêm trọng khác [33, tr.471]

Thứ bảy, đối với hành vi đánh đập hoặc ngược đãi vợ, tức là những hành

động của người chồng không đối xử bình đẳng, dân chủ với người vợ, xâm hại đến sức khỏe, nhân cách, quyền tự do của người vợ, Thông tư hướng dẫn:

Biện pháp chủ yếu vẫn là giáo dục thường xuyên quan điểm bình đẳng

và dân chủ trong quan hệ vợ chồng nhưng cần xử lý về hình sự để hỗ trợ cho công tác giáo dục trong một số trường hợp cần thiết như:

- Đối với những hành động đánh đập nghiêm trọng như làm chết người, gây thương tích nặng hoặc thương tật lâu ngày, dẫn đến

tự sát, do bọn can phạm bản chất hung bạo, đánh đập một cách hung ác hoặc dùng thủ đoạn thâm độc gây ra, cần phải nghiêm trị tùy tình tiết cụ thể

- Đối với những hành động ngược đãi chưa gây tác hại nghiêm trọng của những người chậm tiến thì chủ yếu là giáo dục, hoặc cảnh cáo Trường hợp có tác hại nhất định và có bị quần chúng căm phẫn, có thể xử phạt cảnh cáo hoặc án treo hay tù giam khi thấy thật cần thiết [30, tr.473]

Trang 30

22

Thứ tám, đối với hành vi đánh đập, ngược đãi con, ngược đãi bố mẹ,

Thông tư hướng dẫn:

Tập quán lâu đời của nhân dân ta, luật pháp của Nhà nước chúng ta đòi hỏi con cái phải "kính yêu, săn sóc, nuôi dưỡng cha mẹ" Tuy nhiên, thỉnh thoảng còn xảy ra trường hợp con cái ngược đãi, hắt hủi, không nuôi dưỡng bố mẹ già yếu; đôi khi thái độ đối

xử vô đạo đức của con cái đã làm cho bố mẹ tự sát Trong những trường hợp nghiêm trọng trên, cần đưa ra xét xử điển hình một vài

vụ để giáo dục chung, đồng thời bắt con cái phải nuôi dưỡng bố mẹ già yếu [33, tr.474]

Nghiên cứu những quy định trên cho thấy, Thông tư số 332-NCPL ngày 04-04-1966 của Tòa án nhân dân tối cao đã quán triệt tốt phương châm, đường lối chung đối với việc xử lý về hình sự các hành vi vi phạm nghiêm trọng pháp luật HN&GĐ là: kiên trì giáo dục, thuyết phục tuân thủ pháp luật

là chủ yếu, kết hợp biện pháp trừng trị đối với những trường hợp vi phạm nghiêm trọng pháp luật HN&GĐ

1.3.3 Giai đoạn từ khi Bộ luật hình sự 1985 ra đời cho đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự 1999

Trong quá trình thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ IV, V của Đảng, nhân dân ta đã giành được những thành tựu quan trọng trên một số lĩnh vực, cải biến được một phần cơ cấu của nền kinh tế - xã hội, tạo ra những cơ sở đầu tiên cho sự phát triển mới

Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đó, chúng ta đã gặp phải nhiều khó khăn và khuyết điểm như chủ quan duy ý chí, duy trì quá lâu mô hình kinh tế quan liêu, bao cấp nên không thực hiện được mục tiêu đã đề ra là ổn định một cách cơ bản tình hình kinh tế - xã hội và đời sống nhân dân Mặt khác, các văn bản quy phạm pháp luật hình sự đơn hành không thể hiện được toàn diện, đầy

Trang 31

23

đủ chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước ta Vì vậy, việc ban hành BLHS

là vấn đề có tính tất yếu khách quan và cấp thiết, có ý nghĩa góp phần thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN Đáp ứng yêu cầu đó, ngày 27-6-1985, tại kỳ họp thứ 9, Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam khóa VII, đã thông qua BLHS, có hiệu lực thi hành từ ngày 1-1-1986 (sau đây gọi tắt là BLHS 1985)

BLHS 1985 đã kế thừa và phát triển những thành tựu của luật hình sự Việt Nam, nhất là từ Cách mạng tháng Tám, tổng kết kinh nghiệm đấu tranh phòng, chống tội phạm trong thời gian trước năm 1985 và dự báo được tình hình tội phạm trong thời gian tới

Trong Bộ luật này, đã chính thức ghi nhận về mặt pháp lý các tội phạm xâm phạm chế độ hôn nhân gia đình nhằm vào những biểu hiện nghiêm trọng nhất của các tàn tích của chế độ hôn nhân nhân gia đình phong kiến, lạc hậu như: cưỡng ép kết hôn, cản trở hôn nhân tự nguyện tiến bộ, vi phạm chế độ một vợ một chồng, tổ chức tảo hôn, loạn luân, ngược đãi nghiêm trọng hoặc hành hạ cha mẹ, vợ chồng, con cái Với quan niệm rằng, gia đình là thiết chế

xã hội có trách nhiệm đầu tiên trong việc bảo vệ quyền lợi của con cái, nhất là con chưa thành niên và việc đó quan hệ mật thiết với việc bảo đảm hạnh phúc gia đình, nhà làm luật đã quy định các tội xâm phạm chế độ hôn nhân gia đình

và các tội phạm đối với người chưa thành niên vào Chương V của BLHS

1985, từ Điều 143 đến Điều 149 và Điều 150 quy định hình phạt bổ sung

BLHS 1985 đã quy định tội cưỡng ép kết hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ (Điều 143), tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng (Điều 144), tội tổ chức tảo hôn, tội tảo hôn (Điều 145), tội loạn luân (Điều 146), tội ngược đãi nghiêm trọng hoặc hành hạ cha mẹ, vợ chồng, con cái (Điều 147)

Tư tưởng chỉ đạo trong việc xây dựng các quy định về các tội xâm phạm chế

độ HN&GĐ trong Bộ luật là: kiên trì giáo dục và thuyết phục tuân thủ pháp

Trang 32

24

luật, kết hợp biện pháp giáo dục với biện pháp trừng trị đối với những trường hợp vi phạm nghiêm trọng Căn cứ vào khách thể bị xâm phạm, có thể chia các tội phạm này thành hai nhóm trong đó nhóm các tội xâm phạm chế độ hôn nhân bao gồm: tội cưỡng ép kết hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng, tội tổ chức tảo hôn, tội tảo hôn, tội loạn luân và nhóm các tội xâm phạm chế độ gia đình bao gồm: tội ngược đãi nghiêm trọng hoặc hành hạ cha mẹ, vợ chồng, con cái

Việc BLHS 1985 quy định các tội xâm phạm chế độ HN&GĐ đánh dấu

sự trưởng thành về kỹ thuật lập pháp hình sự của nước ta

Nghiên cứu những quy định về các tội xâm phạm chế độ HN&GĐ trong BLHS 1985, cho thấy đặc điểm chung của các tội phạm thuộc nhóm tội này như sau:

Thứ nhất, các hành vi khách quan cấu thành các tội xâm phạm chế độ

HN&GĐ thường phải có các tình tiết nghiêm trọng như dùng các thủ đoạn thô bạo, xảo quyệt như hành hạ, ngược đãi, uy hiếp tinh thần, yêu sách bằng của cải

Thứ hai, đối tượng được bảo vệ chủ yếu là người cao tuổi, phụ nữ và

con cái mà quyền lợi của họ bị các hành vi ảnh hưởng của tàn dư tư tưởng phong kiến trọng nam, khinh nữ và gia trưởng xâm phạm

Thứ ba, mức hình phạt được quy định đối với các tội này không cao:

mức hình phạt tối đa đối với hầu hết các tội phạm này là ba năm tù, duy nhất tội loạn luân có mức hình phạt cao nhất là năm năm tù Như vậy, theo quy định tại khoản 2 Điều 8 BLHS 1985, nhóm các tội xâm phạm chế độ HN&GĐ

đều được coi là những tội phạm ít nghiêm trọng

1.3.4 Giai đoạn sau khi ban hành Bộ luật hình sự 1999

Từ sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng, sự nghiệp đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo đã giành được những thành tựu quan

Trang 33

Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực, nhất là trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, việc sửa đổi toàn diện BLHS 1985 là một đòi hỏi khách quan của hoạt động lập pháp hình sự Để phục vụ được yêu cầu đề ra, ngày 21-12-1999, Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam khóa X tại kỳ họp thứ 6, đã thông qua BLHS (sau đây gọi tắt là BLHS 1999), thay thế cho BLHS 1985 BLHS 1999 có hiệu lực thi hành

từ ngày 1-7-2000

Về các tội xâm phạm chế độ HN&GĐ, BLHS 1999 có những điểm mới

cơ bản như sau:

Thứ nhất, Chương XV của BLHS 1999 quy định về các tội xâm phạm

chế độ hôn nhân gia đình được xây dựng trên cơ sở sửa đổi, bổ sung Chương V của BLHS 1985 quy định các tội xâm phạm chế độ hôn nhân gia đình và các tội phạm đối với người chưa thành niên Điểm mới đầu tiên là BLHS 1999, đã

có điều chỉnh phạm vi của chương này theo hướng thu hẹp lại chỉ còn các tội xâm phạm chế độ HN&GĐ còn các tội phạm đối với người chưa thành niên, đặc biệt là trẻ em được điều chuyển sang các chương thích hợp khác

Như vậy, Chương XV của BLHS 1999 quy định các tội xâm phạm chế

độ hôn nhân gia đình chỉ còn lại gồm 7 điều (từ Điều 146 đến Điều 152)

Thứ hai, trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn đấu tranh phòng và chống

Trang 34

26

tội phạm, BLHS mới đã bổ sung thêm hai tội danh mới, đó là tội đăng ký kết hôn trái pháp luật (Điều 149) và tội từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng (Điều 152)

Trong chương này có một tội duy nhất vẫn được giữ nguyên như quy định của BLHS 1985 Đó là tội loạn luân (Điều 150)

Thứ ba, BLHS 1999 đã bổ sung, sửa đổi cấu thành tội phạm (CTTP)

của một số tội phạm theo hướng hạn chế bớt khả năng xử lý hình sự đối với các tội này Trong lĩnh vực này, chủ yếu là áp dụng các biện pháp giáo dục, thuyết phục và hành chính để giải quyết Chỉ xử lý hình sự trong những trường hợp thật cần thiết khi các biện pháp giáo dục, phòng ngừa, hành chính

tỏ ra không có hiệu quả

Thứ tư, về tội cưỡng ép kết hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến

bộ được quy định tại Điều 146

Về cơ bản, tội này vẫn được giữ nguyên cấu trúc và hình phạt như quy định tại Điều 143 BLHS 1985, nhưng có hai điểm mới là:

- Được bổ sung thêm một dấu hiệu định tội là "đã xử phạt hành chính

về hành vi này mà còn vi phạm" nhằm thu hẹp phạm vi xử lý về hình sự đối với tội phạm này Điều đó cũng phù hợp với thực tiễn đấu tranh chống loại tội phạm này

- Mức tối đa của hình phạt cải tạo không giam giữ đối với tội này tăng từ 1 năm theo quy định trước đây lên 3 năm theo quy định tại Điều 146 BLHS 1999

Thứ năm, về tội vi phạm chế độ một vợ một chồng được quy định tại

Trang 35

27

chịu TNHS về tội này Trên thực tế, không ít trường hợp người chưa có vợ, chưa có chồng lại kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có vợ, có chồng Đây cũng là hành vi nguy hiểm xâm phạm chế độ một vợ, một chồng, phá hoại hạnh phúc gia đình của người khác mà chưa bị pháp luật trừng trị

Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn nói trên, BLHS 1999 quy định xử lý về hình sự cả trường hợp người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ

- Bổ sung thêm hai dấu hiệu định tội mới nhằm hạn chế khả năng xử lý

về hình sự đối với tội này Đó là:

- Gây hậu quả nghiêm trọng;

- Đã bị xử phạt hình chính về hành vi này mà còn vi phạm

Thứ sáu, về tội tổ chức tảo hôn, tội tảo hôn được quy định tại Điều 148

BLHS 1999

Về cơ bản, những quy định về tội phạm này vẫn được giữ nguyên như

trước đây, nhưng có bổ sung thêm một dấu hiệu định tội là: "Đã bị xử phạt

hành chính mà còn vi phạm" nhằm hạn chế phạm vi xử lý về hình sự

Về hình phạt: mức cải tạo không giam giữ được tăng từ 1 năm lên 2 năm

Thứ bảy, về tội đăng ký kết hôn trái pháp luật được quy định tại Điều

149 BLHS 1999

Đây là một tội phạm mới được bổ sung vào BLHS 1999 để ngăn ngừa

và trừng trị những hành vi của người có trách nhiệm trong việc đăng ký kết hôn đã biết rõ là người xin đăng ký không đủ điều kiện kết hôn mà vẫn đăng

ký cho người đó Tinh thần chung là chỉ xử lý về hình sự khi đã áp dụng các biện pháp hành chính, kỷ luật mà người vi phạm vẫn không chịu sửa chữa lỗi lầm của mình, tiếp tục vi phạm

Trang 36

28

Thứ tám, về tội ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con

cháu, người có công nuôi dưỡng mình được quy định tại Điều 151 BLHS 1999

Tội phạm này cơ bản vẫn được giữ như quy định trước đây, nhưng có một số điểm bổ sung Qua nghiên cứu tình hình thực tiễn thấy rằng trong xã hội ta còn xảy ra những trường hợp hành hạ, ngược đãi không chỉ giữa cha

mẹ, vợ chồng, con cái mà cả giữa những người thân thích khác trong gia đình như giữa cháu với ông bà, giữa cháu với cô, chú, bác, cậu, dì, thậm chí hành hạ, ngược đãi ngay cả với người đã từng có công nuôi dưỡng mình khôn lớn Đây là những hành vi vi phạm nghiêm trọng pháp luật, xúc phạm thô bạo đến đạo đức xã hội, đến thuần phong mỹ tục và truyền thống đạo lý gia đình Việt Nam Tuy nhiên, pháp luật hình sự mới chỉ trừng trị hành vi của những người là cha mẹ, vợ chồng, con cái Còn hành vi của những người khác trong gia đình như đã nêu trên thì có thể bị xử lý theo quy định tại Điều

111 BLHS 1985 về tội hành hạ người khác Đây là điều không hợp lý, vì cũng là một loại hành vi phạm tội (hành hạ, ngược đãi) do cùng một loại chủ thể thực hiện (những người thân thích trong gia đình) xâm phạm cùng một loại đối tượng (những người thân thích khác trong gia đình) nhưng lại bị xử

lý ở các điều luật khác nhau Vì thế, BLHS 1999 đã có những sửa đổi, bổ sung phù hợp như sau:

- Bổ sung thêm đối tượng bị ngược đãi, hành hạ là: ông bà, cháu và người có công nuôi dưỡng người phạm tội nhằm mở rộng phạm vi đối tượng phải áp dụng theo quy định của điều luật này

- Bổ sung thêm dấu hiệu định tội là: gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã

bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm nhằm thu hẹp việc xử

lý về hình sự đối với hành vi này

- Về hình phạt: mức cải tạo không giam giữ được tăng từ 1 năm lên 3 năm

Thứ chín, về tội từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng được quy

định tại Điều 152 BLHS 1999

Trang 37

29

Đây là một tội phạm mới được bổ sung vào BLHS 1999 nhằm trừng trị những người có nghĩa vụ cấp dưỡng theo pháp luật mà cố tình không thực hiện nghĩa vụ đó mặc dù mình có khả năng thực tế để thực hiện nghĩa vụ đó, đã bị

xử lý hành chính hoặc làm cho người được cấp dưỡng lâm vào tình trạng nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe hoặc những hậu quả nghiêm trọng khác

1.3.5 Các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình theo Bộ luật hình sự (sửa đổi) năm 2015

Tính đến thời điểm hiện tại ở Việt Nam đang có 2 BLHS là BLHS 1999

và 2015 Bởi theo dự kiến BLHS 2015 sẽ có hiệu lực kể từ ngày 1/7/2016 tuy nhiên vì một số sai sót được thứ trưởng Đinh Trung Tụng đưa ra Sáng 30.6, tại buổi họp báo công bố Lệnh của Chủ tịch nước về việc công bố Nghị quyết của Quốc hội lùi thời hiệu thi hành của Bộ luật hình sự năm 2015 và một số luật có liên quan bao gồm:

Thứ nhất, những quy định chung của Bộ LHS năm 2015 có mâu thuẫn với nhau và mâu thuẫn với quy định ở phần các tội phạm Ví dụ Khoản 2 Điều 14 quy định về chuẩn bị phạm tội liệt kê thiếu Điều 207 về tội Làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả Trong khi Điều 207 có quy định chính sách

xử lý đối với hành vi chuẩn bị phạm tội này

Thứ hai, một số quy định bỏ lọt hoặc trùng định lượng, ví dụ Điểm h Khoản 2 và Điểm c khoản 3 Điều 249 tội Tàng trữ trái phép chất ma túy trùng mức định lượng về lá, rễ, thân, cành, hoa, quả của cây cần sa hoặc lá cây côla

có khối lượng từ 25kg đến dưới 75 kg

Dạng sai sót thứ ba là trong một số điều luật có quy định hai cấu thành định tội đối với cùng một tội danh dẫn tới không thống nhất về kỹ thuật lập pháp Ví dụ Khoản 1 và Khoản 4 của Điều 261 tội Cản trở giao thông đường

bộ đều có quy định về cấu thành định tội của tội này

Thứ tư là việc sắp xếp vị trí các khung hình phạt trong một số điều luật

Trang 38

30

phần tội phạm không có sự nối tiếp về mức độ nghiêm khắc của hình phạt, phần nào gây khó khăn cho việc áp dụng, nhất là vấn đề quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt Ví dụ Điều 261 tội Cản trở giao thông đường bộ quy định mức độ nghiêm khắc tăng dần từ Khoản 1 đến Khoản 3 nhưng hình phạt quy định tại Khoản 4 và Khoản 5 của Điều này đã không có sự nối tiếp về sự nghiêm khắc, mà quy định khung hình phạt nhẹ hơn khung hình phạt tại Khoản 1

Dạng sai sót thứ năm, tại một số điều tại Bộ LHS năm 2015 chỉ có quy định về viện dẫn tới các điều luật khác trong Bộ luật nhưng việc vận dẫn lại không chính xác Ví dụ Điểm o Khoản 2 Điều 251 tội Mua bán trái phép chất

ma túy quy định về tổng khối lượng các chất ma túy có viện dẫn các Điểm từ

a đến n của Khoản 2 là không chính xác vì các Điểm từ a đến Điểm e Khoản 2 của Điều 251 không quy định về khối lượng chất ma túy, trường hợp này phải viện dẫn từ Điểm g đến n là đủ

Việc phân tích chi tiết về 2 Bộ luật này sẽ được đưa ra trong Chương 2 Tuy nhiên nhìn nhận cơ bản dự thảo Bộ luật hình sự năm 2015 có một số

điểm đáng lưu ý về mặt nội dung so với BLHS 1999 như sau: Tiếp tục bảo vệ

khách thể loại về HNGĐ trong một chương riêng biệt, một số tội phạm mới được bổ sung và một số tội phạm trực tiếp xâm hại khách thể khác được chuyển về đúng vị trí phù hợp trong Phần các tội phạm của BLHS Trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm chế độ HNGĐ được phân hóa với một số tội danh đã được bổ sung các dấu hiệu định khung tăng nặng

 Từ những điều đã phân tích ở trên, có thể thấy, quan hệ hôn nhân

gia đình giữ một vai trò quan trọng trong tổng hòa các mỗi quan hệ xã hội Vì thế việc đưa ra một hệ thống quy phạm pháp luật quy định về loại tội phạm xâm hại quan hệ này là cần thiết Tuy nhiên để xác định mức độ nguy hiểm của từng tội phạm cụ thể thì cần xét tới các căn cứ pháp lý, căn cứ tội phạm

Trang 39

31

học, căn cứ tâm lý – đạo đức, kinh tế xã hội và Căn cứ về văn hóa-truyền thống Vì mỗi quốc gia có những tiêu chuẩn pháp lý, tội phạm học, các chuẩn mực đạo đức, mức độ phát triển kinh tế xã hội và nền văn hóa truyền thống khác nhau, nên pháp luật hình sự mỗi quốc gia sẽ có sự đánh giá khác nhau

về loại tội phạm này, để đưa ra các biện pháp trừng phạt phù hợp Việc áp dụng các căn cứ này trong bộ luật hình sự Việt Nam, của Vương quốc Thụy Điển, Liên bang Nga như thế nào phân tích ở Chương 2 và Chương 3

Trang 40

32

Chương 2

CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

HIỆN HÀNH VỀ CÁC TỘI XÂM PHẠM CHẾ ĐỘ HÔN NHÂN GIA ĐÌNH VÀ THỰC TIỄN XÉT XỬ

2.1 Quy định của Bộ luật hình sự 1999 về các tội xâm phạm chế độ hôn nhân gia đình

2.1.1 Phân loại các tội xâm phạm chế độ hôn nhân gia đinh trong

Bộ luật hình sự 1999

 Phân loại dựa vào tiêu chí về khách thể của tội phạm

Khách thể của loại tội phạm này chính là quan hệ xã hội trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình bị tội phạm xâm hại Theo như tên gọi, ta có thể chia các tội xâm phạm chế độ hôn nhân gia đình ra thành 2 loại:

- Các tội phạm xâm hại quan hệ hôn nhân bao gồm những hành vi

nguy hiểm cho xã hội xâm hại trực tiếp tới những quan hệ xã hội về kết hôn,

ly hôn hoặc nghĩa vụ vợ chồng (tội cưỡng ép kết hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ (Điều 146); tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng (Điều 147); tội tổ chức tảo hôn, tội tảo hôn (Điều 148); và tội đăng ký kết hôn trái pháp luật (Điều 149).);

- Các tội xâm phạm quan hệ gia đình bao gồm những hành vi nguy

hiểm cho xã hội xâm hại trực tiếp tới những quan hệ về huyết thống cũng như quyền và nghĩa vụ của các thành viên trong gia đình (tội loạn luân (Điều 150); tội ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình (Điều 151); và tội từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng (Điều 152))

 Phân loại dựa vào tiêu chí về hành vi khách quan:

Tính chất của hành vi khách quan bao gồm tính chất bạo lực hoặc

Ngày đăng: 29/08/2017, 21:04

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1.   Số liệu xét xử hình sự sơ thẩm về các tội xâm phạm - Các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình theo pháp luật hình sự việt nam, vương quốc thụy điển và liên bang nga
Bảng 2.1. Số liệu xét xử hình sự sơ thẩm về các tội xâm phạm (Trang 8)
Bảng 2.1. Số liệu xét xử hình sự sơ thẩm về các tội xâm phạm chế độ - Các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình theo pháp luật hình sự việt nam, vương quốc thụy điển và liên bang nga
Bảng 2.1. Số liệu xét xử hình sự sơ thẩm về các tội xâm phạm chế độ (Trang 52)
Bảng 2.2: Tỷ lệ giữa tổng số vụ án HNGĐ đã xét xử sơ thẩm trên tổng số - Các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình theo pháp luật hình sự việt nam, vương quốc thụy điển và liên bang nga
Bảng 2.2 Tỷ lệ giữa tổng số vụ án HNGĐ đã xét xử sơ thẩm trên tổng số (Trang 53)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w